Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more ➡
Download
Standard view
Full view
of .
Add note
Save to My Library
Sync to mobile
Look up keyword
Like this
1Activity
×
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
GLUCOZO VÀ SỰ CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT

GLUCOZO VÀ SỰ CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT

Ratings: (0)|Views: 447|Likes:
Published by tapdoanpl

More info:

Published by: tapdoanpl on Aug 30, 2012
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, DOC, TXT or read online from Scribd
See More
See less

08/30/2012

pdf

text

original

 
GLUCOZO VÀ SỰ CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT.
a/. Thành phần cấu tạo gluxit
Gluxitđược cấu tạo từ các nguyên tố C, H, O theo tỉ lệ 1C : 2H : 1O , gồm gluxit đơn giảnvà gluxit phức tạp. Gluxit đơn giản như glucoza, fructoza, galactoza…, có công thứcC6H12O6. Gluxit phức tạp như disaccarit, trisaccarit…, có công thức (C6H12O6)n. Ở độngvật, gluxit được dự trữ dưới dạng glycogen ở gan và cơ. Còn ở thực vật, gluxit được tích lũydưới dạng xelulozơ và tinh bột.
b/. Vai trò của gluxit trong cơ thể 
-
Là nguồn cung cấp năng lượng
chủ yếu của cơ thể. Khi ôxi hóa 1gam gluxit giải phóng4,1 KCal.-
Là thành phần cấu tạo của máu
. Hàm lượng glucoza trong máu từ 80 -120mg%. Khilượng glucozơ trong máu giảm xuống bao giờ cũng đi kèm với các triệu chứng suy nhượcvề thể lực, giảm thân nhiệt và cảm giác mệt mỏi. Nếu lượng glucozơ trong máu giảm dướimức 40 mg% thì cơ thể bị co giật, hôn mê và mất ý thức. Ngược lại, nếu lượng glucozơtrong máu tăng từ 150 -180 mg% thì thận không tái hấp thụ được toàn bộ đường, sẽ bịtiểu đường.-
Là thành phần cấu tạo tế bào
dưới dạng polysaccarit, hoặc kết hợp với protein như glucoprotein, với lipit như glucolipit.-
Là thành phần cấu tạo của axit nucleic 
như đường C5H10O5 trong ARN,đường C5H10O4trong ADN.Gluxít có nhiều trong các loại ngũ cốc như tinh bột gao, khoai, sắn; trong các loại trái cây ,trong mía, kẹo mạch nha, sữa, gan động vật
c/. Chuyển hóa gluxit trong cơ thể
c.1. Tổng hợp glucoza và dự trữ glycogen.
 Glucoza là sản phẩm của quá trình tiêu hóa, được hấp thu vào trong máu đi đến gan. Ở gan dưới tác dụng của insulin, một phần glucoza được chuyển thành glycogen dự trữ.Lượng glucoza còn lại phần lớn sẽ được chuyển đến các mô để tổng hợp thành glycogen dự trữ, nhất là ở cơ vân. Một lượng nhỏ glucoza được để lại trong huyết tương.Glucoza đến tế bào gan, dưới tác dụng của các enzim hexokinaza và glucokinaza, bị biếnđổi thành glucoza -6 photphat, rồi tiếp tục được biến đổi thành glycogen nhờ enzimglycogensynteraza.Khi hàm lượng glucoza trong máu giảm xuống thấp thì glycogen dự trữ trong gan sẽ đượcphân giải thành glucoza.Khi cơ thể cần một lượng lớn glucoza cho các phản ứng của cơ vân thì dưới tác động củaphotphorylaza, glycogen trong gan sẽ được chuyển hóa thành glucoza - photphat glucoza +photphat.Khi cơ thể cần glucoza mà lượng glycogen trong gan thấp hoặc khi cơ thể cần glucoza khẩncấp thì gan sản xuất glucoza từ protein và lipit qua các quá trình chuyển hóa để tạo sảnphẩm trung gian là axit pyruvic rồi thành glucoza.Lượng glycogen dự trữ trong gan có thể lên tới 200 – 300 g. Nếu thức ăn ăn nhiềupolisaccarit hoặc disaccarit thì glucoza vẫn vào trong máu một cách từ từ do sự tiêu hoádiễn ra chậm và gan vẫn đủ thì giờ để biến đổi glucoza thừa thành glycogen dự trữ.Nhưng nếu cho một lượng gluxit dễ tiêu hoá quá lớn vào cùng một lúc (chẳng hạn trên 150g đến 200 g đường một ngày) hoặc tiêm nhiều glucoza vào trong máu thì lượng glucozơ
 
trong máu sẽ quá mức, gan không kịp biến đổi hết glucoza thành glycogen, khi lượngglucoza trong máu lên tới 0,15 đến 0,18% thì phần glucoza thừa sẽ bị thận thải ra ngoài(chứng đái đường do “ăn uống” nhất thời và vô hại).Trái lại nếu chứng “đái đường” do gan mất khả năng chuyển glucozơ thành glycogen hoặcdo thận không có khả năng hấp thu trở lại glucozơ trong nước tiểu là một triệu chứng bệnhlý.
c.2. Phân giải glucoza
Quá trình phân giải gluxit trong cơ thể được thực hiện theo 2 giai đọan- Giai đoạn yếm khí (còn gọi là chặng đường phân) : phân giải glucoza thành axit pyruvic,đôi khi thành axit lactic, giải phóng 1/10 năng lượng giữ trữ - Giai đoạn hiếu khí : chuyển axit pyruvic thành CO2 và H2O trong chu trình Krebs. Mộtphân tử glucoza sau một vòng chu trình Krebs giải phóng được 36 ATP, mỗi ATP khoảng 10KCal/mol.Nếu thiếu O2 thì giai đoạn này không thể thực hiện được và chất tạo ra sẽ là axit lactic
c.3. Điều hòa chuyển hóa gluxit
Quá trình chuyển hóa gluxit cũng chính là quá trình điều hòa lượng gluxit trong máu, haycòn gọi là đường huyết,. Quá trình đó được điều hòa bởi cơ chế thần kinh và cơ chế thểdịchTrung khu điều hòa đường huyết nằm ở hành tủy. Khi trung khu này bị kích thích, xungđộng thần kinh truyền đến gan, làm tăng chuyển hóa glycogen thành glucoza, làm tăngđường huyết. Đồng thời xung động từ hành tủy cũng truyền đến miền tủy của tuyến trênthận, gây tiết adrenalin, adrenalin theo máu đến gan, làm tăng quá trình chuyển hóaglycogen thành glucoza.Hoocmon glucocorticoit làm giảm mức sử dụng glucoza trong mô, làm tăng quá trình tổnghợp glucoza mới nên làm tăng đường trong máu.Hoocmon glucagon của tuyến tụy có tác dụng tăng đường huyết.Hoocmon ACTH, STH và thyroxin cũng tham gia vào quá trình chuyển hóa gluxit.Hoocmon insulun làm tăng tính thấm của màng tế bào đối với glucoza, làm hoạt hóaenzym hexokinaza, làm tăng quá trình oxy hóa gluxit trong tế bào, làm giảm đường huyết.
8.2.2. Chuyển hóa lipit
 
a/.Thành phần cấu tạo lipit
Lipit là chất hưu cơ được cấu tạo từ các nguyên tố C, H, O nhưng với tỉ lệ oxy ít hơn so vớigluxit. Lipit gồm lipit đơn giản và lipit phức tạp. Lipit đơn giản như glyxerin, axit béo,triglyxerit gồm 1 phân tử glyxerinvà 3 phân tử axit béo. Lipit phức tạp như photpholipit,colesterol, steroit…
b/.Vai trò của lipit trong cơ thể 
- Lipit được dùng làm nguyên liệu kiến tạo, xây dựng tế bào chất và màng tế bào. Đặc biệttrong thành phần của mô thần kinh có rất nhiều.- Lipit là cung cấp năng lượng cho cơ thể: 1g lipit bị oxy hóa cung cấp 9,3 KCal- Là nguồn cung cấp các axit béo cho cơ thể.- Là dung môi hòa tan các vitamin tan trong chất béo như A, D, E, K.- Mô mỡ bao quanh cơ quan và dưới da có vai trò bảo vệ và cách nhiệtNhu cầu mỗi ngày một người trưởng thành cần khoảng 100 gam lipit. Khi lao động nặng thì
 
nhu cầu lipit cao hơn. Lipit trong cơ thể được dữ trữ trong các lớp mô mỡ.
c/. Chuyển hóa lipit trong cơ thể 
c.1. Tổng hợp lipit trong cơ thể 
 - Sản phẩm tiêu hóa lipit là glyxerin và axit béo, khi đến biểu mô màng nhầy của ruột đượctổng hợp thành lipit trung tính được hấp thụ vào máu và bạch huyết, sau đó được sử dụnghoặc chuyển tới các kho dự trữ dưới da, xoang bụng, quanh nội tạng và trong các mô liênkết của cơ.- Cơ thể có thể tổng hợp lipit từ gluxit và protein qua các khâu trao đổi trung gian, tùythuộc vào tỷ lệ các chất chứa trong thức ăn có nitơ và không có nitơ.
c.2. Sự phân giải lipit trong cơ thể 
 Sự phân giải lipit, trước hết được diễn ra ở gan, tạo thành glyxerin và axít béo rồi lại đượcmáu đưa đến các cơ quan sử dụng. Tại đây một phần gylxerin được ôxihóa thành CO2,H2O và năng lượng, còn phần khác được chuyển thành glycozen dự trữ. Các axit béo thìđược phân giải theo con đường beta oxy hóa thành axit lactic, rồi thành axetyl-CoA , vàochu trình Krebs và giải phóng năng lượng.
c.3. Điều hòa chuyển hóa lipit 
Sự chuyển hóa lipit chịu ảnh hưởng của thần kinh, nội tiết, chức năng của gan và liên quanđến chuyển hóa gluxit.Trung khu điều hòa chuyển hóa lipit nằm ở vùng dưới đồiHoocmon của tuyến yên, tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến trên thận, tuyến sinh dục…có tácdụng chuyển hóa lipit. Khi insulin nhiều trong máu, quá trình chuyển hóa gluxit thành lipitdự trữ tăng cường và ngược lại khi insulin trong máu giảm thì lipit dự trữ sẽ được huy độngđể tạo ra năng lượng.Gan là nơi phân giải và tổng hợp các axit béo, photpholipit, colesterol. Một số bệnh có thểgây rối loạn chuyển hóa lipit trong gan như giang mai, sốt rét, nghiện rượu dẫn đến xơgan, nhiễm độc các chất photpho…Quá trình chuyển hóa lipit cũng có thể rối loạn do trongthức ăn có nhiều mỡ, nhiều cholesterol, biotin, thiamin…, hoặc do thiếu gluxit hay khôngđủ các axit béo cần thiết.
8.2.3. Chuyển hóa protein
 
a/.Thành phần cấu tạo protein
Protein là hợp chất hữu cơ phức tạp, kích thước lớn, được cấu tạo từ các nguyên tố C, H, O,N và thường có cả S, P. Các phân tử Protein do các axit amin liên kết nhau bằng liên kếtpeptit. Mỗii ait amin có một nhóm chức amin (- NH2), một nhóm cacboxin (- COOH) vàmột gốc cacbua hyđro (R). Hiện nay có khoảng 20 axit amin khác nhau do có gốc R khácnhau. Các loại proein khác nhau về số lượng, thành phần và các sắp xếp các axit amin.Tùy thuộc vào cấu trúc của các axit amin mà có các protein cấu trúc bậc 1, 2 ,3 hay 4.Trong đó loại Protein cấu trúc bậc 3 có hoạt tính sinh học cao.
b/. Vai trò của protein trong cơ thể 
-
Protein có vai trò kiến tạo vì là thành phần kiến tạo tế bào, cấu trúc của enzim, hoocmon,

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->