Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
2Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Chính sách vô hiệu h óa

Chính sách vô hiệu h óa

Ratings: (0)|Views: 252 |Likes:
Published by hongminh54

More info:

Published by: hongminh54 on Nov 29, 2012
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/29/2013

pdf

text

original

 
1
Chính sách vô hiệu hóa, chính sách tiền tệ và hội nhập tài chính toàn cầu
 
Tóm tắt (Abstract)
 
Bài viết này nghiên cứu mô hình biến đổi và tính hiệu quả của sự vô hiệu hóa trong các thịtrường mới nổi khi các nước đó tự do hóa thị trường và hội nhập với nền kinh tế thế giới.Thông qua các quốc gia và các thời kỳ, chúng tôi ước lượng xu hướng biên để vô hiệu hóasự tích lũy của tài sản nước ngoài có được từ dòng thu của cán cân thanh toán ròng. Chúngtôi phát hiện ra quy mô của sự vô hiệu hóa dòng thu dự trữ ngoại hối tăng lên trong nhữngnăm gần đây với các mức độ khác nhau ở Châu Á cũng như ở các nước Châu Mỹ Latinh, phù hợp với sự lo lắng ngày càng lớn về ảnh hưởng của lạm phát tiềm ẩn tới các dòng thudự trữ. Chúng tôi cũng nhận ra rằng sự vô hiệu hóa phụ thuộc vào các thành phần của dòngthu từ cán cân thanh toán.
 
1. Giới thiệu (Introdution)
 
1.1. Lý do hình thành đề tài
 
Trong những năm cuối 1980 và đầu những năm 1990, các thị trường mới nổi đi theosự tự do hóa và mở cửa tài chính. Với sự cố gắng duy trì sự ổn định về tỷ giá hối đoái vàchính sách tiền tệ độc lập ở một mức độ nào đó, nhưng một số nước vẫn phải trải qua vàicuộc khủng hoảng tài chính. Sau hậu quả của các cuộc khủng hoảng này, các thị trường mớinổi đã áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn nhưng vẫn còn chịu sự quản lý, songsong với việc tiếp tục hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ trong nước ở một mức độ nào đó.Sự tích lũy dự trữ ngoại hối đã trở thành một thành phần quan trọng trong việc tăng cườngtính ổn định của mô hình mới này. Sự quan tâm về chi phí của việc duy trì ổn định tiền tệvới chính sách hỗn hợp mới này cho thấy sự cần thiết cần phải tích lũy dự trữ ngoại hối vớiviệc vô hiệu hóa ngày càng gia tăng. Mối e ngại về chi phí cơ hội của việc tích lũy dự trữ vàsự bóp méo chi phí tài chính công của việc vô hiệu hóa đã làm phát sinh nhiều câu hỏi về
 
2
khả năng tồn tại lâu dài của chính sách hỗn hợp mới này, đặc biệt là hiệu quả của sự vô hiệu
hóa.
1.2. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu trong báo cáo
 
Tr
ong bài viết này, chúng tôi tập trung quan tâm về quy mô của sự vô hiệu hóa bằngcách ước lượng xu hướng biên để vô hiệu hóa sự tích lũy tài sản nước ngoài qua các thời kỳthông qua các quốc gia được chọn ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh. Kết quả của chúng tôi đ
ã
khẳng định rằng sự tích lũy ngày càng nhiều của dự trữ ngoại hối trong những năm gần đâycó liên quan tới sự vô hiệu hóa ngày càng mạnh mẽ thông qua các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh. Đặc biệt chúng tôi đã chỉ ra rằng có một sự gia tăng
 
đáng kểcủa hệ số vô hiệu hóa trong những năm gần đây. Vì vậy các chính sách tích lũy dự trữ ngoạihối và vô hiệu hóa, tác động của lạm phát tiềm ẩn đã bổ trợ cho nhau trong những năm gầnđây. Thêm vào đó chúng tôi nhận ra rằng sự vô hiệu hóa dòng vốn đầu
 
tư trực tiếp nướcngoài (FDI) ít hơn thặng dư tài khoản vãng lai và các dòng vốn không phải FDI, đã đặt ramối nghi ngại sự bất ổn tiền tệ phụ thuộc vào các thành phần trong dòng thu của cán cân
thanh toán.
 
Chúng tôi cũng tranh luận về lợi ích và chi phí của sự vô hiệu hóa. Đối với nhiềuquốc gia, chi phí phát sinh của việc vô hiệu hóa ít hơn các lợi ích có được từ việc ổn địnhtiền tệ và tích lũy dự trữ.Tuy nhiên, chúng tôi đưa ra bằng chứng chứng tỏ rằng lợi ích cóliên quan đến Trung Quốc và các nước khác đã giảm trong những quý gần đây. Điều nàyngụ ý về những hạn chế của việc duy trì cấu trúc chính sách mới trong thời gian gần.
 
Cuối cùng chúng tôi phác thảo một mẫu (được trình bày trong phần phụ lục) giảithích khả năng vô hiệu hóa phụ thuộc vào khả năng thay thế không hoàn toàn của các tàisản trên thế giới, nơi mà chi phí thương mại của các tài sản này biến đổi một cách hệ thốngthông qua các tác nhân (bởi vì các ảnh hưởng của sự cân bằng hợp lý) và thông qua các lớptài sản (bởi vì tính chất thanh khoản và rủi ro khác nhau).
2. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây (literature review)
 2.1.
Bộ ba bất khả thi
 
 
3
Một
 
 bài học
 
lớn
 
của
 
thập kỷ
 
vừa qua là các
 
rủi ro của sự kết hợp giữa hội nhập tài
chính
quốc tế
 
với
 
chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Mỗ
i
cuộc khủng hoảng tài chính quốc tếtrọng yếu giữa các thị trường liên quan với nhau
 
từ năm 1994, Mexico
 
vào năm 1994, Thái
Lan, Indonesia,
Hàn Quốc
 
vào năm 1997, Nga
 
và Brazil vào năm
1998,Argentina và
Thổ Nhĩ Kỳ
 
vào năm 2000,
 
đều có
 
sự liên quan đế
n
chế độ tỷ giá hối đoái
 
cốđịnh. Đồng thời,
 
các quốc gia không
chế độ tỷ giá cố định, trong đó Israel, Mexico,
Nam Phi vào
năm 1998,
 
đã tránh được các cuộc khủng hoảng
 
cùng loại đã ảnh hưởng đếncác thị trường mới nổi có chế độ tỷ giá cố định. Kết quả là, nhiều thị trường mớinổi
 
đã
thông qua chính sách
tỷ giá
 
hối đoái
 
có quản lý,
 
trong khi vẫn
 
cố gắng
duytrì
một
 
mức độ
 
kiểm soát
 
tiền tệ
 
trong nước
cùng
với
 
tăng cường
 
hội nhập
tài chính.
Họ
 
đã
 
thực hiện
 
điều này
 
với
 
một chính sách kết hợp tích lũy dự trữ lớn và vô hiệu hoá.
 
Việc áp dụng khuôn khổ lý thuyết bộ ba bất khả thi hữu ích trong việc giải thích sựthay đổi cấu trúc chính sách tiền tệ bởi các nước đang phát triển. Lý thuyết bộ ba bất khả thinói rằng một
 
quốc gia
 
đồng thời
 
có thể
 
chọn
 
 bất kỳ hai,
 
nhưng không phải
 
tất cả, trong
ba
mục tiêu
 
sau đây:
 
độc lập
 
tiền tệ,
 
ổn định
 
tỷ giá,
hội nhập tài chính (x
em Obstfeld etal., 2005,
để thảo luận thêm
tham khảo
 
về lý thuyết bộ ba bất khả thi).
 
Với
 
thị trường
 
vốn
 
đóng cửa,
 
một
 
quốc gia
 
có thể
 
có quyền kiểm soát
chính sách
tiền tệ
tỷ giá hối đoái cố định,
 
nhưng
không
hội nhập
 
tài chính. Đây là
 
sự lựa chọn chính
sách
ưa thích
 
của
 
hầu hết các
 
nước đang
 
 phát triển
 
vào giữa đến
 
cuối thập niên 1980,
khi
họ
duy trì
một
 
sự kết hợp
 
giữa ổn định
 
tỷ giá
độc lập tiền tệ,
 
với các
 
tài khoản
 
vốn
 
gầnnhư
 
đóng cửa.
 
Trong những
 
năm cuối 1980 và
 
đầu
 
những năm 1990
 
các nước
 
như
Mexico, Hàn
Quốc,
một số
 
nền kinh tế
khác
ở châu Á,
 
đi theo con đường phát triển
 
tự do hóa
tàichính
và mở cửa. Tuy nhiên,
khi
họ
 
mở 
 
cửa tài chính,
 
họ thấy
 
rằng
 
các mục tiêu
 
của
 
hộinhập
 
tài chính lớn hơn,
 
ổn định
 
tỷ giá và
 
độc lập
 
tiền tệ
 
đã đồng thời
 
không thể đạt được.
Các
mục tiêu
chính sách
không phù hợp đã dẫn đến
 
các cuộc khủng hoảng
tài chính nghiêm
trọng,
 
tại
Mexico
trong thời gian
1994-1995 và
ở Đông
Á
trong thời gian 1997
-1998.

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->