Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Look up keyword
Like this
2Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Tìm hiểu cách nói phủ định trong "Quốc Âm Thi Tập" của nguyễn Trãi

Tìm hiểu cách nói phủ định trong "Quốc Âm Thi Tập" của nguyễn Trãi

Ratings: (0)|Views: 35 |Likes:
Published by Doan Xuan Kien
Quốc Âm Thi Tập (Colledted Poems written in national language) is now considered the oldest literary text written in demotic scripts by a Vietnamese writer that survives the time. Although edited and published late in the XIXth century, the text still reflects some of the features of the Vietnamese language in the XVth century when Nguyen Trai lived and wrote his poems.
Grammatically the Vietnamese still express the negation the same ways as in five centuries ago albeit the changes of negative words. By examining the ways of expressions of negation in Quốc Âm Thi Tập, we have found various means of expressions that undoubtedly indicates the literary capabilities of our language in early days. This research examines in detail how the Vietnamese in Nguyen Trai’s era expressed the negation. The result of our observations is that the category of negation in Quốc Âm Thi Tập can be found in two different forms of negative expressions, according to the semantic features annotated within each utterance: the first category of negative predicatives is genuinely grammatical, which used the negative words chăng/chẳng, mựa chớ, khôn, chửa/chưa; and the other is considered as a stylistic negation, which involved the negative words such as nào, kẻo, khỏi, chi/gì, ai, đâu, mấy, há lọ, nỡ, sá. It is also noticeable that the negative words could be manipulated for the purpose of confirming a negation or an affirmation.
Quốc Âm Thi Tập (Colledted Poems written in national language) is now considered the oldest literary text written in demotic scripts by a Vietnamese writer that survives the time. Although edited and published late in the XIXth century, the text still reflects some of the features of the Vietnamese language in the XVth century when Nguyen Trai lived and wrote his poems.
Grammatically the Vietnamese still express the negation the same ways as in five centuries ago albeit the changes of negative words. By examining the ways of expressions of negation in Quốc Âm Thi Tập, we have found various means of expressions that undoubtedly indicates the literary capabilities of our language in early days. This research examines in detail how the Vietnamese in Nguyen Trai’s era expressed the negation. The result of our observations is that the category of negation in Quốc Âm Thi Tập can be found in two different forms of negative expressions, according to the semantic features annotated within each utterance: the first category of negative predicatives is genuinely grammatical, which used the negative words chăng/chẳng, mựa chớ, khôn, chửa/chưa; and the other is considered as a stylistic negation, which involved the negative words such as nào, kẻo, khỏi, chi/gì, ai, đâu, mấy, há lọ, nỡ, sá. It is also noticeable that the negative words could be manipulated for the purpose of confirming a negation or an affirmation.

More info:

Published by: Doan Xuan Kien on Jan 28, 2013
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

11/24/2013

pdf

text

original

 
 
TÌM HIỂU CÁCH NÓI PHỦ ĐỊNH
 TRONG
“QUỐC ÂM THI TẬP” CỦA NGUYỄN TRÃI
 
 Đoàn Xuân Kiên
 
Abstract:
Quốc Âm Thi Tập
(
Colledted Poems written in national language
)
is now considered theoldest literary text written in demotic scripts by a Vietnamese writer that survives thetime. Although edited and published late in the XIX 
th
century, the text still reflects some of the features of the Vietnamese language in the XV 
th
century when Nguyen Trai lived and wrote his poems.Grammatically the Vietnamese still express the negation the same ways as in fivecenturies ago albeit the changes of negative words. By examining the ways of expressionsof negation in
Qu
ốc Âm Thi Tập
,
we have found various means of expressions that undoubtedly indicates the literary capabilities of our language in early days. Thisresearch examines in detail how the Vietnamese in Nguyen Trai
’s era
expressed thenegation. The result of our observations is that the category of negation in
Quốc Âm ThiTập
can be found in two different forms of negative expressions, according to thesemantic features annotated within each utterance: the first category of negative predicatives is genuinely grammatical, which used the negative words
ch
ă
ng/ch
ng, m
ựa
 ch
ớ 
, khôn, ch
ửa
 /ch
ư
a;
and the other is considered as a stylistic negation, which involved the negative words such as
nào, k
o, kh
i, chi/gì, ai,
đâ
u, m
y, há l
, n
ỡ 
, sá
. It is alsonoticeable that the negative words could be manipulated for the purpose of confirming anegation or an affirmation.
1
Trong tình trạng thư tịch cũ hiện nay,
Quốc Âm Thi Tập
 
(QÂTT) là một tác phẩm lớn viết bằng quốc văn của văn học thành văn những thời kì đầu mà ta còn may mắn giữ được.Lai lịch tác phẩm khá phức tạp. Văn bản hiện hành chỉ là những bài tập hợp lại non bamươi năm sau khi Nguyễn Trãi bị án tru di. Bản khắc in lần đầu tiên là do Trần KhắcKiệm thu thập từ năm 1467 đến năm 1480. Về sau, loạn lạc mấy trăm
 
năm liền, bộ sách
Ức Trai Di Tập
 
(trong đó quyển 7 là
Quốc Âm Thi Tập
) bị thất truyền. Mãi đến đời vuaMinh Mạng, Tự Đức đời nhà Nguyễn, các nhà nho Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá Cung, Ngô Thế Vinh cùng chung sức sưu tập lại và đem khắc in năm 1868. Thời điểm hai lần
 
sưu tập và khắc in cách nhau 400 năm hẳn là có ý nghĩa về mặt văn bản học. Thật vậy,ngoài 20 bài trùng hợp với
 Bạch Vân Quốc Ngữ Thi
 
của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngườinghiên cứu dễ dàng nhận ra một số bài có cách hành văn, cách dùng từ, cả đến cách cấutứ nữa, có vẻ mới, chứng tỏ rằng nếu không vì nhầm lẫn của người sưu tập thì có thể làcó tình trạng: ý thơ là của Nguyễn Trãi nhưng lời văn thì đã bị người đời sau sửa đổi đi
1
.
Tuy vậy, ở một chừng mực nào đó, QÂTT là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử tiếngViệt, vì qua nó ta có thể nhận dạng ít nhiều tình trạng tiếng Việt
-
ít nữa cũng là tiếngViệt văn học
-
ở thế kỉ XV.
 
Về mặt ngôn ngữ, có thể ghi nhận điều này: cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt văn học trongQÂTT không xa với tiếng Việt văn học những thời kì sau này, nhất là về mặt cú pháp (trật tự các thành phần câu, cấu trúc cụm từ). Ngày nay chúng ta vẫn có thể hiểu được lờithơ trong QÂTT chứ không phải qua một lần phiên chuyển trung gian. Nói thế không phải là khẳng định trong tập thơ không có những câu nói “lạ tai”, chẳng hạn:
 1
Chăng 
 
đã khôn ngay khéo đầy
(bài 25)2
Đường thế
nào
nơi
chẳng 
 
thấp cao
(b. 47)
Tuy thế, xét về cú pháp, câu 1 là câu khuyến lệnh với một thành phần vị ngữ; câu 2 là câutường thuật có đủ hai thành phần chủ ngữ (
nào nơi
) và vị ngữ (
chẳng thấp cao
), ở đầucâu có thành phần khởi ngữ (
đường thế 
). Hai câu này đều có cấu trúc quen thuộc củatiếng Việt. Những câu thơ gọi là khó hiểu như trên chẳng phải do cấu trúc xa lạ mà phầnlớn là ở lối dùng từ cổ của thời Nguyễn Trãi; thảng hoặc mới có trường hợp đảo vị trí cáctừ trong câu (như tiếng nào trong câu 2, đáng lẽ ở vị trí sau từ nơi ). Có nhiều cách nóiquen thuộc ở thời Nguyễn Trãi nhưng trở nên không phổ biến ở thời đại chúng ta nữa; cónhững từ dùng thông thường thời trung cổ nhưng đến bây giờ thì hoặc đã rơi mất nghĩacũ, hoặc đã thay đổi cách tổ hợp (
âu, nghèo, lệ, miều
 
nay chỉ còn dùng làm thành tố củatừ ghép), thậm chí có khi không còn dùng nữa (
mựa, tua, cóc
...).
Trong bài này, chúng tôi bàn về một
 
 phong cách riêng của tiếng Việt văn học ở thế kỉXV: tìm hiểu cách nói phủ định trong tập thơ QÂTT.
 
2
Để diễn đạt ý phủ định, QÂTT dùng nhiều cách nói khác nhau, tùy theo tính cách phủđịnh, tùy theo sắc thái tình cảm người nói trong mỗi ngữ cảnh khác nhau. Phủ định ngữ pháp được thể hiện qua lối dùng các phó từ phủ định
chăng/chẳng 
,
mựa
,
chớ 
,
khôn
,
chưa/chửa
. Bên cạnh đó cũng có lối phủ định tu từ, được thể hiện qua lối dùng các phó từ
nào
,
kẻo
,
khỏi
 ,
 
chi, đâu, ai, mấy, há, nỡ, lọ, sá
.
PHỦ ĐỊNH NGỮ 
PHÁP
Lối nói phủ định trong tiếng Việt được thể hiện qua phương tiện từ vựng. Các phó từ phủđịnh là những công cụ ngữ pháp chính. Khi phát biểu những câu nói phủ định, người nóihoàn toàn phủ nhận một sự kiện, một hành vi thái độ nào đó. QÂTT dùng khá nhiều phótừ phủ định:
t
rong trường hợp bình thường, không thể hiện sắc thái tình cảm nào đặc biệt,
 
QÂTT thường dùng từ phủ định
chăng 
 / 
chẳng 
; khi nói phủ định kèm theo ý khuyến lệnhthì dùng từ phủ định
mựa, chớ 
; phủ định một khả năng nào đó thì dùng từ
khô
n, chửa,chưa
. Ngoài ra còn một vài phó từ phủ định khác như
nào, kẻo, khỏi
 
cũng được dùng phổ biến trong tiếng Việt thời Nguyễn Trãi rồi.
 
Chăng
-
chẳng
Phổ biến nhất là lối nói phủ định với
Chăng/Chẳng 
. Theo bản phiên âm Đào Duy Anh thìtrong QÂTT lối
 
nói này xuất hiện 178 lần, gồm có 74 từ
chăng 
 
 
, 104 từ
chẳng 
 
. Tuy
vậy, trong số các tiếng viết với
 
có 13 tiếng đọc hẳn là
chẳng 
; ngược lại có thể nhậnra 14 tiếng viết bằng
 
n
hưng
có th
ể đọc là
chăng 
. Ngoài ra còn có thể nhặt ra 28 trườnghợp hai tiếng
chăng/chẳng 
 
có thể đổi lẫn nhau, tùy theo âm luật cho phép, ta đọc theogiọng bằng hay giọng trắc. Chẳng hạn:
 
Triều quan
chăng/chẳng 
 
 phải, ẩn
chăng/chẳng 
 
 phải (b. 1)
 
Thuyền mọn còn chèo,
chẳng/chăng 
 
khứng đỗ (b. 14)
 
Trần thế
chẳng/chăng 
 
cho bén mới hào
(b. 52)
Chăng/Chẳng 
 
thường đứng trước động từ và tính từ. Chỉ có một số ít trường hợp đứngtrước danh từ. Nhưng dù trong trường hợp nào đi nữa, ý nghĩa của
chăng/chẳng 
 
đều cónghĩa là “không”, mang tính phủ định dứt khoát. Về ý nghĩa và vị trí, hai từ này tươngđương với phó từ không trong tiếng Việt hiện đại.
1
 Nào đâu là
chẳng 
 
đất nhà quan (b. 17)
 2 Trì th
am nguyệt hiện
chăng 
buông (b. 28)3
Lời
chăng 
 
 phải vuỗn khôn nghe
(b. 44)
Trong cả ba câu, danh từ, động từ và tính từ đi sau
chăng/chẳng 
 
chỉ những sự vật, hànhđộng, trạng thái bị phủ định: “không phải đất nhà quan”, “không thả cá”, “không đúng”.
 
Từ
chăng/chẳng 
 
trong QÂTT chỉ là hai biến thể của một từ phủ định mà thôi. Nhưng chỉhai trăm năm sau đã có sự phân biệt ranh giới giữa hai từ này:
chăng 
 
dùng để hỏi trongcâu nghi vấn;
chẳng 
 
dùng để diễn ý “không có gì hết” “chả” trong câu phủ định
2
.
Bức thưcủa Bento Thiện viết năm 1659 có 36 từ
chẳng 
 
với nghĩa phủ định, và 4 từ
chăng 
 
dùng đểdiễn ý hoài nghi trong câu hỏi
3
:4 Song le
chẳng 
 
 biết là có ai gưởi cho đến thầy hay
chăng 
.5
Chẳng 
 biết là tôi có được gặp Thầy nữa
chăng 
.6
...tôi gưởi hai thư cho,
chẳng 
 
 biết là có đến cùng
chăng 
.7
Chẳng 
 
 biết có ai đến đấy
chăng 
 
mà gưởi
.
Cả bốn từ
chăng 
 
trong bức thư trên đều là tiếng cuối câu hỏi tự vấn, nhưng câu hỏi dướiđây rút ra từ một
tài li
u
in năm 1631 rõ ràng là một câu hỏi đối thoại
4
:8 Con gno muan bau tlom laom Hoalaom
chiam
?
(Con nhỏ muốn vào trong lòng H
oà Lan
chăng 
?)

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->