Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Look up keyword
Like this
0Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Tu Tuong HCM

Tu Tuong HCM

Ratings: (0)|Views: 1|Likes:
Published by Hoai Nguyen Quy
TTHCM
TTHCM

More info:

Categories:Types, School Work
Published by: Hoai Nguyen Quy on May 06, 2013
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/06/2013

pdf

text

original

 
 b. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy vấn đề dân tộc, giai cấp và cách mạng xã hội.Khái niệm dân tộc hiểu theo nghĩa khoa học là một hình thức cộng đồng người cao hơn tất cả các hìnhthức cộng đồng người trước đó. Dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, cónhà nước và các thể chế chính trị. Những cộng đồng người được coi là dân tộc có các đặc trưng chủ yếunhư sau. Thứ nhất là có sự cộng đồng về ngôn ngữ, thứ hai là có cộng đồng về lãnh thổ, thứ ba là cộngđồng về kinh tế, thứ tư là cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách. Hình thức cộng đồng dân tộc có vai tròto lớn đối với sự phát triển con người và xã hội. Dân tộc không chỉ là sản phẩm của sự phát triển về kinh tế,văn hóa xã hội mà còn là động lực, là cái nôi của mọi sự phát triển trong thời cận, hiện đại, từ sự tiến hóa bình thường cho đến cách mạng xã hội.Về vấn đề giai cấp, theo quan điểm của Lênin thì giai cấp là: “những tập đoàn to lớn gồm những ngườikhác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quanhệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận), đối với những tưliệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởngthụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người mà tậpđoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhautrong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”.Về mối quan hệ dân tộc, giai cấp, nhân loại trên quan điểm triết học Mác - Lê nin, chúng ta thấy rằng sựnghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức đòi hỏi phải nhậnthức đúng đắn mối quan hệ giai cấp-dân tộc-nhân loại.Giai cấp và dân tộc quan hệ mật thiết với nhau, song đó là những phạm trù chỉ các quan hệ xã hội khácnhau, mỗi nhân tố có vai trò lịch sử của nó. Giai cấp, dân tộc không thay thế lẫn nhau. Sẽ là sai lầm nếutách rời giai cấp và dân tộc hoặc đem quy mối quan hệ này vào mối quan hệ kia. Giai cấp và dân tộc sinh ravà mất đi không đồng thời. Nguyên nhân sâu xa của áp bức dân tộc chính là sự áp bức giai cấp, do đó cácnhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã kết luận rằng muốn xóa bỏ áp bức dân tộc trước hết phải xóa bỏ áp bức giai cấp, xóa bỏ triệt để vấn đề người bóc lột người.Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc vừa là sự kết hợp tinh hoa dân tộcvà trí tuệ thời đại, vừa thể hiện tinh thần độc lập dân tộc, tự chủ, sáng tạo của Người trong việc vận dụngnhững nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin vào hoàn cảnh Việt Nam và các nước phương Đông. Khiquán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy vấn đề dân tộc, giai cấp, nhân loại trong chương trình triếthọc ở bậc đại học cần chú ý mấy điểm then chốt.Thứ nhất: Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dân tộc nói chung. Khi chủnghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường, thực hiện sự áp bức chính trị, bóc lột về kinhtế, nô dịch về văn hóa đối các nước bị xâm chiếm thì vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc thuộc địa.Đây thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nướcngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thànhlập nhà nước dân tộc độc lập.Thứ hai: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạmcủa tất cả các dân tộc. Lịch sử Việt Nam là lịch sử không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đối vớimột người dân mất nước cái quý nhất trên đời là độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân. Hồ Chí Minh đãtừng nói rằng cái mà Người cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập, trênđường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyênngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp. Tiếp nhận những nhân tố có giá trị trong hai bảntuyên ngôn bất hủ ấy, Người đã khái quát nên chân lý hiển nhiên về quyền cơ bản của các dân tộc: Tất cảcác dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, quyềntự do.Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng đã được các đồng minh thắng trận longtrọng thừa nhận, thay mặt những người Việt Nam nam yêu nước, Hồ Chí Minh đã gửi đến hội nghị Véc xâymột bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Sau khi đã trở thành lãnh tụcó uy tín, đứng ra hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trongChánh cương vắn tắt cũng như trong lời kêu gọi sau khi thành lập Đảng do Hồ Chí Minh trực tiếp khởithảo, Người đã xác định mục tiêu chính trị của đảng là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến,làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, chủ trì hội nghị trung ương 8 của Đảng, viết thư kính cáo đồng bào, Người chỉ rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy"(3) . Người chỉ đạo thànhlập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng Minh, ra báo Việt Nam độc lập, thảo Mười chính sách của Việt Minh,trong đó mục tiêu đầu tiên là: "Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền". Hồ Chí Minh đã đúc kết ý chí đấu
 
tranh cho độc lập tự do của nhân dân ta trong một câu nói bất hủ: "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơncũng phải kiên quyết dành cho được độc lập".Cách mạng Tháng Tám thành công, Người thay mặt cho Chính phủ Lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độclập, long trọng khẳng định trước quốc dân đồng bào và trước thế giới: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tựdo và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cảtinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyển tự do, độc lập ấy"(4).Trong các bức thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và chính phủ các nước vào thời gian đó, Người đãtrịnh trọng tuyên bố rằng "nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôicũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổquốc và độc lập cho đất nước"(5).Kháng chiến toàn quốc bùng nổ thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc. Người ra lời kêugọi: "Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nôlệ"(6). Khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh leo thang miền Bắc, Hồ Chí Minh lại đưa ra chânlý bất hủ: "Không có gì quý hơn độc lập tự do"(7). Đây không những là tư tưởng lớn mà còn là lẽ sống, làhọc thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh. Đó là lý do chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng củasự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của Việt Nam, đồng thời cũng là nguồn động viên đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Vì vậy, Hồ Chí Minh không những được tôn vinh là anh hùng giải phóng dântộc của Việt Nam mà còn được tôn vinh là người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các dântộc thuộc địa trong thế kỷ XX.Thứ ba: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc luôn thể hiện nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn dântộc với giai cấp, độc lập dân tộc với CNXH, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế. Đối với Hồ ChíMinh, vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc được tiến hành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin,giành độc lập dân tộc để tiến lên xây dựng CNXH, mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp được đặt ra. Đây làmột vấn đề lý luận quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong thời đại cách mạng vô sản. Vấn đề dân tộcở thời đại nào cũng được nhận thức và giải quyết trên lập trường của một giai cấp nhất định. Trong thời đạingày nay, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhấn mạnh rằng chỉ đứng trên lập trường của giaicấp vô sản mới giải quyết được đúng đắn vấn đề dân tộc. Theo dõi quá trình hoạt động cách mạng của Chủtịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rằng Người từ một người yêu nước đang tìm đường cứu quốc, đến với chủnghĩa Mác - Lê nin đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc mình theo con đường của cách mạng vôsản, tức là đã tiếp thu lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê nin. Khi viết rằng:"Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộngsản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó… thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam"(8), tức là Hồ Chí Minh đã nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa dân tộc và giai cấp trong cáchmạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Hồ Chí Minh đã tiến hành đấu tranh phê phánquan điểm sai trái của một số Đảng Cộng sản Tây Âu trong cách nhìn nhận, đánh giá về vai trò, vị trí cũngnhư tương lai của cách mạng thuộc địa và đi đến luận điểm các dân tộc thuộc địa phải dựa vào sức củachính mình, đồng thời biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thếgiới để trước hết phải đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc, rồi từ thắng lợi của cách mạng giải phóngdân tộc tiến lên làm cách mạng XHCN và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp cách mạng vô sản toàn thếgiới. Như vậy có thể khẳng định ngay từ khi trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực sự kết hợpđúng đắn dân tộc với giai cấp, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xãhội.Thứ tư: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn củađất nước. Năm 1924, Bác đã viết rằng ở các nước thuộc địa chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đấtnước. Khái niệm chủ nghĩa dân tộc mà Bác dùng ở đây chính là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộcchân chính của nhân dân Việt Nam đã được đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là động lực tinh thầnvô giá trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc. Xuất phát từ vị trí của ngườidân thuộc địa mất nước, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao sức mạnh củachủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, coi đó là một động lực lớn mà những người cộng sản phải nắm lấy và phát huy, không để ngọn cờ dân tộc rơi vào tay giai cấp khác. Rõ ràng quán triệt tư tưởngHồ Chí Minh, chúng ta thấy rằng phải nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên lập trường của giai cấpvô sản kết hợp với chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế.Thứ năm: Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc cần nhận thức sâu sắc rằng đối với Người,độc lập dân tộc luôn gắn liền với CNXH. Ngay từ khi gặp được luận cương của Lê nin về vấn đề dân tộc vàthuộc địa và hình thành được đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế. Ngay từ những năm
 
20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã sớm thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộcvới sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản nên đã đi tới khẳng định: "cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể làsự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới"(9). Năm 1930, trong Chánh cương, sách lược vắn tắt, Hồ Chí Minh xác định cách mạng Việt Nam trải qua haigiai đoạn, làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đến năm 1960, Người khẳng định lại rõ hơn: "Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dântộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ". Thật vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đãlàm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng cho bướcchuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây là tưtưởng lớn thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử xã hội Việt Nam. Chỉ có hoàn thành cách mạnggiải phóng dân tộc mới có điều kiện tiến lên CNXH và chỉ có làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữvững những thành quả do sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại.Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phát huy tác dụngtrong giai đoạn Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (1945 – 1954) màcòn xuyên suốt quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 – 1975).Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là tổng hợp những quan điểm chiến lượccó ý nghĩa chỉ đạo lớn về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân trongtoàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.Như vậy tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một đóng góp củacách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Mác – lênin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đạihiện nay./.
Điều kiện lịch sử - xã hội và nguồn gốc xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh15:31'02/09/2003 (GMT+7)
PGS, TS. Lê Doãn Tá
1.
 
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mỗi khi Tổ quốc lâm nguy thìnon sông đất nước ta lại sản sinh ra những anh hùng dân tộc, đáp ứng yêu cầu của lịch sử,tiêu biểu cho sự phát triển của lịch sử. Trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê vàTây Sơn, biết bao anh hùng do lịch sử sản sinh ra đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta. Đến thời nhà Nguyễn, vua quan đồi bại, thối nát, đầu hàng, đất nước rơi vào tay thực dânPháp. Nhân dân ta kẻ trước ngã, người sau đứng dậy, mưu cầu giải phóng song chưa cóđường lối đúng nên cách mạng chưa thành công. Phan Bội Châu chủ trương cầu ngoạiviện, dùng bạo lực để khôi phục độc lập không thành. Phan Chu Trinh muốn "ỷ Pháp cầutiến bộ" khai thông dân trí, nâng cao dân khí để tính chuyện giải phóng lại cũng khôngthành. Người anh hùng Yên Thế - Hoàng Hoa Thám nổi dậy, dũng cảm trong đấu tranhchống Pháp, song "còn nặng cốt cách phong kiến", chưa có phương hướng chính xác,chưa có lối thoát rõ ràng. Cuộc nổi dậy thất bại. Con thuyền Việt Nam còn lênh đênh chưarõ bến bờ phải đi tới.
 
Chính lúc đó, Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) đã xuất hiện. Vượt lên những hạn chế của cácnhà yêu nước đương thời, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng tiên tiến nhấtcủa thời đại. Con đường cứu nước đúng đắn đã được tìm thấy. "Muốn cứu nước và giải phóngdân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".Con đường cứu nước ấy của Người đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cách mạng ViệtNam. Cách mạng Việt Nam từ đó tiến bước theo dòng thác tiến bộ của lịch sử. Sự áp bức, nôdịch các dân tộc của chủ nghĩa tư bản đế quốc nhất định sản sinh ra phong trào dân tộc, đấutranh để giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho dân tộc, cho Tổ quốc. Đó là một quy luậtcủa bản thân chủ nghĩa tư bản đế quốc. Cách mạng vô sản chủ trương giải phóng dân tộc khỏiách áp bức của chủ nghĩa thực dân đế quốc đồng thời với cuộc cách mạng giải phóng giai cấp

You're Reading a Free Preview

Download
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->