Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
1Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Thực-trạng-phat-triển-dịch-vụ-Logistics-ở-Việt-Nam-trong-những-năm-qua

Thực-trạng-phat-triển-dịch-vụ-Logistics-ở-Việt-Nam-trong-những-năm-qua

Ratings: (0)|Views: 18 |Likes:
Published by kunkonkunkon
Thực-trạng-phat-triển-dịch-vụ-Logistics-ở-Việt-Nam-trong-những-năm-qua
Thực-trạng-phat-triển-dịch-vụ-Logistics-ở-Việt-Nam-trong-những-năm-qua

More info:

Published by: kunkonkunkon on Jun 10, 2013
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOCX, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/12/2014

pdf

text

original

 
1.
 
Thực trạng phát triển dịch vụ Logistics ở Việt Nam trong những năm qua
 
1.1. Quy mô các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics
 
Quy mô doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics nhỏ, kinh doanh manh mún. Nguồn lợi hàng tỷ đô từ nguồn lợi kinh doanh này lại đang chảy vào túi các nđầu tư nước ngoài. Các Doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ có một phần rất nhỏ trongmiếng bánh khổng lồ và đang ngày càng phình to của thị trường dịch vụ logistics.Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhấttrong logistics là vận tải biển thì DN trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi cácDN nước ngoài. Điều này, đã thực sự là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khicó đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Năm2006 lượng hàng qua các cảng biển Việt Nam là 153 triệu tấn và tốc độ tăngtrưởng lên đến 19,4%. Đây thực sự một thị trường mơ ước mà các tập đoàn nướcngoài đang thèm muốn và tập trung kh
ai phá.
Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại Việt Nam nói chung còn nghèo nàn, qui mônhỏ, bố trí bất hợp lý. Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của VN bao gồm trên17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, cónhững chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển cóthể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược trang bị các thiết bịxếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container.Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) choviệc vận chuyển vào mùa cao điểm. Chỉ có
 
sân bay Tân Sơn Nhất là đón được cácmáy bay chở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế như Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý logistics thựchiện gom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm. Khả năng bảotrì và phát triển đường bộ còn thấp, dường không dược thiết kế để vận chuyểncontainer, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vận tải đường sắtkhông được vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa. Theo số liệu của Tổngcục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng
 
lượng hàng hoá lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt VN vẫn đang đồng thời sử dụng 2loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tải trọng thấp. Chuyến tàu nhanhnhất chạy tuyến Hà Nội
-
TP Hồ Chí Minh (1.630 km) hiện vẫn cần đến 32 tiếngđồng hồ. Và khá nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuốngcấp nghiêm trọng.
 
Quy mô doanh nghiệp còn thể hiện ở số nhân viên của công ty, nhiều doanh nghiệpchỉ có từ 3
-
5 nhân viên, kể cả người phụ trách. Doanh nghiệp chỉ đáp ứng đượcmột công việc đơn giản của một khách hàng. Cũng vì vốn và nhân lực ít nên việctổ chức bộ máy của các doanh nghiệp rất đơn giản, tính chuyên sâu của các doanhnghiệp trong logistics không có.
 
Đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa có văn phòng đại diện tạinước ngoài trong khi xu thế hiện nay là logistics toàn cầu. Hơn thế nữa, tính nghiệpđoàn của các doanh nghiệp logistics còn rất rời rạc, thiếu hợp tác hỗ trợ lẫn nhau,cạnh tranh không lành mạnh.Các doanh nghiệp tư nhân hiện đang chiếm khoảng 80% tổng số doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Các doanh nghiệp này có số vốn rất nhỏ, códoanh nghiệp chỉ đăng ký vốn kinh doanh từ 300
-
500 triệu đồng (tương đương
18.750-31.250 USD).
Trên thực tế, nếu muốn ký vận đơn vào Hoa Kỳ thì phải ký quỹ tới 150.000 USD. Nhiều doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa từng bộ phận đã hình thành cáccông ty cổ phần với cỡ vốn 5 tỷ đồng (khoảng 312.500 USD). Với quy vốn nhưvậy, các doanh nghiệp Việt Nam không thể đáp ứng được yêu cầu khi gia nhập thịtrường logistics thế giới.Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và mang tên dịch vụlogistics, nhưng doanh nghiệp dịch vụ logistics thực sự thì không nhiều. Nói mộtcách giản
 
đơn theo nghĩa đen thì những nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn góiDoor to Door cho hàng hóa xuất nhập khẩu là những người tích hợp hàng loạt cácdịch vụ vận tải giao nhận thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu thành một chuỗiliên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển Door to Door.
 
1.2. Cơ sở hạ tầng của các dịch vụ logistics tại Việt Nam
 
 
 
Với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế trong thời gian qua, nhu cầu giaolưu phân phối ngày càng trở nên cấp thiết và ngành logistic đã trở thành một ngành
công
nghiệp có tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất Việt Nam. Hệ thống cơ sở hạtầng giao thông của VN bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 kmđường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên chấtlượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹthuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoáquốc tế và cũng chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các máy bay chở hàngquốc tế. Một số “đường cao tốc” có thực hiện thu ph
í giao thông -
đó thực sự là cácđoạn đường tốt. Ngược lại, khá nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đang ở tìnhtrạng xuống cấp nghiêm trọng. Trong một số lĩnh vực công nghiệp, việc vậnchuyển bằng đường sắt và đường thuỷ đang chiếm ưu thế so với vận chuyển bằngđường bộ. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đườngsắt chiếm khoảng 15% tổng lượng hàng hoá lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt VNvẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tảitrọng thấp.
 
Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội
-
TP Hồ Chí Minh (1.630km) hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ.
1.2.1. Cảng biển Việt Nam
 
Các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận cácđội tàu nhỏ và chưa được trang bị các thiết
 
 bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếukinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container 
 
Hệ thống cảng biển còn hạn chế, chúng ta chưa có những cảng nước sâu, cảngtrung chuyển quốc tế để thu hút tàu biển có trọng tải lớn và hàng hóa trung chuyểngiữa các quốc gia vào cảng Việt Nam
 
Việt Nam có hơn 80 cảng biển với hơn 2.2 triệu mét vuông bến bãi và mộttriệu mét vuông bến cảng. Các cảng chính ở Việt Nam do Cục Hàng Hảiquản lý và bây giờ được chuyển giao cho Tổng Công Ty Hàng Hải Việt Nam. Cáccảng chính là cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẵng và cảng Sài Gòn, nhưng đều là cảngở cửa sông và cách biển khoảng 30 đến 90 km. Điều này rất bất lợi cho tàu lớn cậpcảng. Công suất bốc dỡ hàng năm gia tăng một cách đáng kể, cứ khoảng 5 năm lại

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->