thấy được cái toàn thể.- Đem lại cho con người một tư duy mềmdẻo, và linh hoạt.không nhìn thấy cái toàn thể.Đem lại cho con người một tưduy rõ ràng nhưng hết sức cứng nhắc.
2. Các hình thức của phép biện chứng và đặc điểm của nóa. Phép biện chứng cổ đại
là hình thức đầu tiên của phép biện chứng, Enghen gọi đây là phép biện chứng “ Ngây thơ, chất phác”. Các nhà biện chứng đã nhìn nhận thế giới một cáchtổng thể, thế giới đó luôn vận động, biến đổi, các yếu tố bộ phận của thế giới có sự liên hệ tácđộng qua lại với nhau từ đó học đã xây dựng lên được những quy định của thế giới nhưng còn rấtsơ khai, tức là chưa đi sâu vào giải quyết một cách tỉ mỉ cũng như chưa có sự luận giải nội dungquy luật.
b. Phép biện chưng duy tâm cổ điển Đức
là phép biện chứng lần đầu tiên trong lịch sửđược xây dựng một cách có hệ thống với hàng loạt những quy luật, phạm trù được luận giải khásâu sắc nhưng đây là phép biện chứng duy tâm, pháp biện chứng của ý niệm tuyệt đối.
c. Phép biện chứng duy vật được Mác – Enghen
xây dựng nên, là hình thức phát triểncao nhất của phép biện chứng, ở đây phép biện chứng được xây dựng trên lập trường thế giớiquan của CNDV. Từ đó khái quát lên một hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù đúng đắnvề thế giới, đồng thời có sự luận giải cực kỳ sâu sắc và được chứng minh bằng thành tựu của cácmôn khoa học cụ thể.
CHƯƠNG 2: VẬT CHẤT VÀ Ý THỨCI/ Vật chất và các phương thức tồn tại của vật chất1. Vật chấta. Các quan điểm về vật chất trong triết học trước Mác
- Duy vật cổ đại: thường đồng nhất với những dạng cụ thể của nó, tức là những sự vật, vậtthể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài. Đỉnh cao là quan niệm của Đêmôcrit,cho rằng toàn bộ vật chất được cấu tạo nên từ nguyên tử, đó là những hạt nhỏ bé, không thể phânchia được nữa.- Trong Triết học duy vật cận đại: lúc này do khoa học tự nhiên phát triển, các nhà khoa họcđã vận dụng các thành tựu khoa học và vẫn tiếp nối quan điểm vật chất được cấu tạo nên từnguyên tử, đó là những hạt nhỏ bé, không thể phân chia được nữa. Vật chất tồn tại dưới dạng cácvật thể, có vận động, nhưng chỉ là vận động cơ học, và các vật thể có khối lượng, không gian,thời gian là bất biến.
b. Định nghĩa về vật chất của Lênin
- Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa: Cuối TK 19, đầu TK 20, khoa học tự nhiên rất pháttriển, đặc biệt là trong lĩnh vực vật lý học có nhiều phát minh được ra đời, mà tiêu biểu là các phát minh sau:+ 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X.+ 1986, Beccơren phát hiện ra tính phóng xạ của nguyên tố Urani.+ 1897, Tomxon phát hiện ra electron.+ 1901, Kausman đột phá trong lĩnh vực vật lý lượng tử, và chứng minh khối lượng vật thể biến đổi theo vận tốc.+ 1905, Anhxtanh đưa ra thuyết tương đối hẹp, đến 1906, đưa ra thuyết tương dối rộng,trong đó, chứng minh không chỉ khối lượng mà cả không gian và thời gian đều biến đổi theo vậntốc.Những phát minh này làm đảo lộn quan niệm về vật chất, các nhà triết học không giảithích được nên đã rút ra những kết luận sai lầm, từ đó rơi vào cuộc khủng hoảng về thế giới qua,và đẫn đến trượt dần từ CNDV sang CNDT.- Nội dung định nghĩa: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quanđược đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh lại, và sựtồn tại của thực tại khách quan đó không phụ thuộc vào cảm giác.
Leave a Comment