Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
MPP1 - Niên khóa 2008-2009
Phân tích tài chính
Bài đọc thêm
Tóm tắt các nguyên tắc căn bản của kế toán
Nguyễn Tấn Bình
3
06-Jan-09
4.
Nguyên tắc hoạt động liên tục
(going-concern concept)
Về mặt kế toán, một công ty được giả định là tiếp tục hoạt động từ năm này qua năm khác trừ phi có những bằng chứng cụ thể về việc phá sản hay ngừng hoạt động. Những ghi chép
sổ sáchkế toán đều dựa vào giả định này.
5.
Nguyên tắc giá gốc
(cost concept)
C
òn gọi là nguyên tắc
chi phí
quá khứ hay lịch sử (historical cost concept). Theo nguyên tắc này,kế toán ghi chép giá trị tài sản theo giá gốc chứ không quan tâm tới giá thị trường của chúng. Tạisao như vậy? Vì việc xác định giá thị trường cho từng loại tài sản rất khó khăn. Mặt khác, tài sảncủa công ty sẽ được tiếp tục sử dụng cho các hoạt động của mình trong tương lai chứ không có ýđịnh bán đi hay thanh lý để giải thể (
nguyên tắc hoạt động liên tục
).Giá
thị trường của một tài sản cũng chỉ là ước đoán nên dễ chủ quan
, v
ì thực tế, nó khôngđược thực sự mang ra thị trường để bán. Nếu công ty mua một ngôi nhà để làm văn phòng giá
5
tỉ đồng
thì giá trị ngôi nhà được ghi trên sổ sách là
5
tỉ đồng. Giá thị trường ngôi nhà sau 1 nămdự đoán lên gấp đôi, 6 tháng sau nữa do tình hình qui hoạch nào đó giá chỉ còn 4 tỉ đồng. Kế toánkhông quan tâm đến việc thay đổi giá cả thị trường đó. Trừ khi ngôi nhà được đem đi bán thựcsự hoặc
mang đi góp vốn, giá ngôi nhà trên sổ sách kế toán vẫn là
5
tỉ đồng.
V
ì vậy, giá trị sổ
sách (BV:
book value) của tài sản khác với giá trị thị trường (
MV:
market value) của tài sản đó
.6.
Nguyên tắc thận trọng
(conservatism concept)
Còn gọi là “nguyên tắc
bảo thủ”. Theo nguyên tắc này, kế toán sẽ công nhận một khoản “lỗ” haygiảm vốn ngay khi nó được nghĩ rằng có thể xảy ra
(possible) nhưng chỉ công nhận một khoản“lãi” hay tăng vốn khi nó đã trở thành chắc chắn
(certain).7.
Nguyên tắc trọng yếu
(materiality concept)
Theo nguyên tắc này, kế toán chỉ theo dõi và công khai (
disclose
) những việc được xem là quantrọng (
important matters
) và sẳn sàng bỏ qua, không quan tâm đến (
disregard
) những sự việcđược coi là không quan trọng (
unimportant matters
).Ví d
ụ công ty xuất kho một công cụ lao động để sử dụng ở phân xưởng sản xuất trị giá 50ngàn đồng, kế toán sẽ ghi nhận
ngay
chi phí sản xuất vào thời điểm xuất kho. Mỗi ngày sử dụng,công cụ bị hao mòn đi một phần nhưng kế toán sẽ không theo dõi và ghi sổ. Trong thực tế việctheo dõi, đánh giá phần hao mòn đó là việc không thể. Cho rằng đó là việc “vụn vặt” (
trivial
),
không trọng yếu và kế toán bỏ qua. Nhưng nếu một tài sản cố định hay một lô hàng phát hiện làkhông còn giá trị, không thể sử dụng được nữa kế toán sẽ công khai vấn đề quan trọng này.
Tuy nhiên
, đối với một công cụ lao động có giá trị lớn và có thể sử dụng trong nhiều thờikỳ, để tránh biến động chi phí và ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo giữa các thời kỳ, giá trị côngcụ lao động đó sẽ được
“phân bổ” cho nhiều kỳ
1
.
1
Kỳ kinh doanh hay kỳ kế toán là một giai đoạn thời gian của một báo cáo thu nhập
(Income statement)
. Đó có thểlà tháng, quý, 6 tháng hay thường là một năm.