phải thông dụng, giản dị khiến cho mọi người dễ dàng chấp nhận, hàng phải có giá trị đểmọi người ưa chuộng, có thể giữ được lâu ngày. Như trong thời cổ đại của Trung Quốc đãtừng dùng lúc thì da, vỏ trai, châu ngọc, vàng, bạc, gạo, vải làm tiền tệ. Ở Hy Lạp, La Mãđã từng dùng súc vật, đồng … để làm tiền tệ. Ở Tây Tạng, Mông Cổ, Inđô nêxia đã từngdùng chè làm tiền tệ. Ở Bắc Mỹ có nơi dùng thuốc lá, có nơi dùng ngô làm tiền tệ. Cácvương quốc miền Tây Châu Phi thì dùng ốc tiền và vàng… Hoá tệ là hình thái đầu tiêncủa tiền tệ và tính đến ngày nay nó là hình thái tiền tệ được áp dụng trong một thời giankhá dài so với các hình thái tiền tệ khác.Theo đà phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, sự hình thành thị trường dântộc và thị trường thế giới đòi hỏi cần phải có một vật trung gian trao đổi cố định, cùngchất, do đó tiền tệ dân tộc và sau đó là tiền tệ thế giới xuất hiện.Khi đã có tiền “hàng hoá” làm trung gian trao đổi trong sản xuất và buôn bán, thươngmại phát triển mạnh và hoạt động kinh tế bành trướng rất mau chóng. Một cách tự phát,các nhà sản xuất vàkinh doanh bắt đầu nghĩ về những tiêu chuẩn tiện lợi mà tiền - với tưcách là vật trung gian cho trao đổi - nên có. Những tiêu chuẩn tiện lợi tối thiểu đó là:+ Loại tiền ấy phải có những giá trị thực tế.+ Phải dễ sử dụng trong tự nhiên.+ Dễ vận chuyển và không quá cồng kềnh.+ Có thể chia nhỏ đến bao nhiêu cũng được để phục vụ cho những giao dịch nhỏ.+ Tồn tại lâu dài và không hư hại.Với những tiêu chuẩn như vậy, rất nhiều loại hàng hoá trước đây là tiền giờ đã không cònthích hợp nữa. Nhìn chung, hoá tệ có rất nhiều bất tiện: chỉ được địa phương này côngnhận không lưu thông được ở địa phương khác; mau hư hỏng, khó phân chia thành nhữngđơn vị nhỏ hay lớn hơn.Vì những thuộc tính tự nhiên củ nó phù hợp nhất với việc phát huy tác dụng xã hội củatiền tệ, nên trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều thử thách thực tế, các hàng hoá khácdần dần bị đào thải, kim loại dần dần được chọn làm tiền tệ, thay cho các hàng hoá thôngthường khác
(kim tệ).
Bước quá độ từ các hàng hóa chuyển sang kim loại làm tiền tệ bắt đầu từ cuộc phân công lao động xã hội lớn lần thứ 2 được thực hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nôngnghiệp. Đầu tiên kim loại được sử dụng làm phương tiện trao đổi dưới dạng thỏi, sau đónó được đúc dưới dạng” tiền đúc” và được đưa vào sử dụng từ rất sớm như ở vùng TiểuÁ và Hy Lạp vào thế kỷ VII trước công nguyên, ở Trung Quốc vào cuối thế kỉ IV trướccông nguyên, ở Châu Âu vào thế kỉ thứ nhất trước công nguyên…Ban đầu các kim loạisắt kẽm, thiếc, đồng được sử dụng để đúc tiền. Kim loại, nhất là đồng, đã được sử dụnglàm tiền ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong một giai đoạn lịch sử rất dài. Thực thế,có lẽ đồng đã được sử dụng sớm nhất do các đồ đồng có niên đại khoảng năm 8.700 trướcChúa giáng sinh đã được tìm thấy nhiều nơi. Đồng cũng đã được ghi chép trong các tưliệu của một số nền văn minh cổ đại và nó có lịch sử sử dụng ít nhất là 10.000 năm trướccông nguyên. Hoa tai bằng đồng đã được các nhà khảo cổ tìm thấy ở miền Bắc Iraq, cóniên đại 8.700 năm trước công nguyên. Trong khi vàng, các dấu hiệu sớm nhất của việcsử dụng, chỉ vào khoảng 4.000 năm trước công nguyên mà thôi. Người ta còn tìm thấy đồvật bằng đồng và đồng thau ở các thành phố người Sumériens, ở thung-lũng sôngEuphrate, có niên-đại 3.000 năm trước công-nguyên và các đồ vật cổ đại của người Aicập bằng đồng và hợp kim của đồng với thiếc, cũng có niên đại tương tự. Trong một kimtự tháp ở Ai cập, một hệ thống hàng đồng đã được tìm thấy, có niên đại 5.000 năm trước2