Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
49Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Bai Tieu Luan Tien Te

Bai Tieu Luan Tien Te

Ratings: (0)|Views: 11,941 |Likes:
Published by kyonua

More info:

Published by: kyonua on Aug 21, 2009
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

04/03/2013

pdf

text

original

 
LỚP ĐH23NH13NHÓM 11BÀI TIỂU LUẬNMôn: TIỀN TỆ NGÂN HÀNGĐề tài: LỊCH SỬ TIỀN TỆI. Lịch sử hình thành và các hình thái tiền tệ:1. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ
Sự ra đời của tiền tệ là một quá trình phát triển xuất phát từ sự phát triển khôngngừng các hoạt động kinh tế dưới những hình thức khác nhau của sản xuất và trao đổi sản phẩm. Việc trao đổi sản phẩm xuất hiện ngay trong lòng xã hội cộng đồng nguyên thủy,vào giai đoạn cuối của chế độ cộng xã nguyên thủy.Khi cuộc phân công lao động xã hội lớn lần thứ nhất xuất hiện, chăn nuôi táchkhỏi trồng trọt, trình độ sản xuất phát triển, số lượng và chủng loại sản phẩm ngày càngnhiều hơn, tạo ra khả năng trao đổi ngày càng lớn hơn. Đi đôi với việc cải tiến công cụlao động và sự phát triển của 2 nghành trồng trọt và chăn nuôi, sản xuất cá nhân thay chosản xuất cộng đồng, chế độ sở hữu tư nhân ra đời dần dần thay thế chế độ sở hữu công xãvề tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Đến giai đoạn này trao đổi không còn mangtính ngẫu nhiên và cá biệt nữa mà có tính chất thường xuyên hơn, phức tạp hơn và mangtính quy luật hơn.Hình thức trao đổi ban đầu là trao đổi trực tiếp: hàng- hàng (H-H’). Giá trị củahàng hoá H không thể trực tiếp biểu hiện mà phải biểu hiện thông qua hàng hoá H’, H’ sẽlấy một số lượng (giá trị sử dụng) nhất định của bản thân nó để phản ánh giá trị của hànghoá H. Trong công thức này, hàng hoá H được biểu hiện giá trị bằng giá trị sử dụng bằnggiá trị sử dụng của hàng hoá khác nên mang hình thái giá trị tương đối và hàng hoá H’dùng giá trị sử dụng của nó để biểu hiện giá trị sử dụng của hàng hoá khác nên mang hìnhthái ngang giá như quả cân để đo trọng lượng, cây thước để đo chiều dài. Quan hệ traođổi sơ khai này đã đánh dấu một tiến lớn khi xã hội công xã thoát khỏi tình trạng tự cung-tự cấp.Điều kiện xảy ra trao đổi là phải có sự phù hợp về nhu cầu giữa những ngườitham gia trao đổi: phù hợp về thời gian, địa điểm, phù hợp về giá trị sử dụng của sản phẩm trao đổi nên khả năng thực hiện các quan hệ này rất hạn chế.Sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển, làm cho số lượng và chủngloại hàng hoá ngày càng nhiều và đa dạng. Do đó nhu cầu trao đổi ngày càng trở nên bứcthiết hơn. Vì vậy, trao đổi trực tiếp Hàng- Hàng không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phảiđược thay thế bằng hình thức hoàn thiện hơn: trao đổi gián tiếp thông qua một vật trunggian. Sự xuất hiện của vật trung gian trong trao đổi đã khắc phục những hạn chế của traođổi trực tiếp, góp phần đẩy nhanh quá trình trao đổi hàng hoá, tiết kiệm chi phí trao đổihàng hoá nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Vật được chấp nhận làm môi giới trung giantrong trao đổi và làm phương tiện thanh toán các khoản nợ, được xã hội đặt tên là TIỀNTỆ.Trong thời kì đầu, khi tiền tệ mới xuất hiện, ở những thời kì khác nhau, những địa phương khác nhau, dân tộc khác nhau có nhiều hàng hoá khác nhau kế tiếp đóng vai tròtiền tệ.Do sự thoả thuận của công chúng, mỗi địa phương dùng một thứ hàng làm trunggian trao đổi
(hoá tệ).
Thứ hàng hoá được chọn có khả năng đáp ứng các điều kiện, như1
 
 phải thông dụng, giản dị khiến cho mọi người dễ dàng chấp nhận, hàng phải có giá trị đểmọi người ưa chuộng, có thể giữ được lâu ngày. Như trong thời cổ đại của Trung Quốc đãtừng dùng lúc thì da, vỏ trai, châu ngọc, vàng, bạc, gạo, vải làm tiền tệ. Ở Hy Lạp, La Mãđã từng dùng súc vật, đồng … để làm tiền tệ. Ở Tây Tạng, Mông Cổ, Inđô nêxia đã từngdùng chè làm tiền tệ. Ở Bắc Mỹ có nơi dùng thuốc lá, có nơi dùng ngô làm tiền tệ. Cácvương quốc miền Tây Châu Phi thì dùng ốc tiền và vàng… Hoá tệ là hình thái đầu tiêncủa tiền tệ và tính đến ngày nay nó là hình thái tiền tệ được áp dụng trong một thời giankhá dài so với các hình thái tiền tệ khác.Theo đà phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, sự hình thành thị trường dântộc và thị trường thế giới đòi hỏi cần phải có một vật trung gian trao đổi cố định, cùngchất, do đó tiền tệ dân tộc và sau đó là tiền tệ thế giới xuất hiện.Khi đã có tiền “hàng hoá” làm trung gian trao đổi trong sản xuất và buôn bán, thươngmại phát triển mạnh và hoạt động kinh tế bành trướng rất mau chóng. Một cách tự phát,các nhà sản xuất vàkinh doanh bắt đầu nghĩ về những tiêu chuẩn tiện lợi mà tiền - với tưcách là vật trung gian cho trao đổi - nên có. Những tiêu chuẩn tiện lợi tối thiểu đó là:+ Loại tiền ấy phải có những giá trị thực tế.+ Phải dễ sử dụng trong tự nhiên.+ Dễ vận chuyển và không quá cồng kềnh.+ Có thể chia nhỏ đến bao nhiêu cũng được để phục vụ cho những giao dịch nhỏ.+ Tồn tại lâu dài và không hư hại.Với những tiêu chuẩn như vậy, rất nhiều loại hàng hoá trước đây là tiền giờ đã không cònthích hợp nữa. Nhìn chung, hoá tệ có rất nhiều bất tiện: chỉ được địa phương này côngnhận không lưu thông được ở địa phương khác; mau hư hỏng, khó phân chia thành nhữngđơn vị nhỏ hay lớn hơn.Vì những thuộc tính tự nhiên củ nó phù hợp nhất với việc phát huy tác dụng xã hội củatiền tệ, nên trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều thử thách thực tế, các hàng hoá khácdần dần bị đào thải, kim loại dần dần được chọn làm tiền tệ, thay cho các hàng hoá thôngthường khác
(kim tệ).
Bước quá độ từ các hàng hóa chuyển sang kim loại làm tiền tệ bắt đầu từ cuộc phân công lao động xã hội lớn lần thứ 2 được thực hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nôngnghiệp. Đầu tiên kim loại được sử dụng làm phương tiện trao đổi dưới dạng thỏi, sau đónó được đúc dưới dạng” tiền đúc” và được đưa vào sử dụng từ rất sớm như ở vùng TiểuÁ và Hy Lạp vào thế kỷ VII trước công nguyên, ở Trung Quốc vào cuối thế kỉ IV trướccông nguyên, ở Châu Âu vào thế kỉ thứ nhất trước công nguyên…Ban đầu các kim loạisắt kẽm, thiếc, đồng được sử dụng để đúc tiền. Kim loại, nhất là đồng, đã được sử dụnglàm tiền ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong một giai đoạn lịch sử rất dài. Thực thế,có lẽ đồng đã được sử dụng sớm nhất do các đồ đồng có niên đại khoảng năm 8.700 trướcChúa giáng sinh đã được tìm thấy nhiều nơi. Đồng cũng đã được ghi chép trong các tưliệu của một số nền văn minh cổ đại và nó có lịch sử sử dụng ít nhất là 10.000 năm trướccông nguyên. Hoa tai bằng đồng đã được các nhà khảo cổ tìm thấy ở miền Bắc Iraq, cóniên đại 8.700 năm trước công nguyên. Trong khi vàng, các dấu hiệu sớm nhất của việcsử dụng, chỉ vào khoảng 4.000 năm trước công nguyên mà thôi. Người ta còn tìm thấy đồvật bằng đồng và đồng thau ở các thành phố người Sumériens, ở thung-lũng sôngEuphrate, có niên-đại 3.000 năm trước công-nguyên và các đồ vật cổ đại của người Aicập bằng đồng và hợp kim của đồng với thiếc, cũng có niên đại tương tự. Trong một kimtự tháp ở Ai cập, một hệ thống hàng đồng đã được tìm thấy, có niên đại 5.000 năm trước2
 
công nguyên. Người Ai cập cũng đã phát hiện ra rằng: nếu thêm một lượng nhỏ thiếc vào,sẽ làm cho kim loại trở nên dễ đúc hơn. Vì thế, các hợp kim đồng thau đã được tìm thấy ở Ai cập, gần như là đồng thời cùng với đồng. Đối với sắt, người Sumériens và người Aicập, vào khoảng năm 4.000 trước công nguyên, cũng đã biết lấy từ các thiên thạch, đểchế tạo những vũ khí như mũi giáo, mũi tên hoặc các đồ vật trang sức. Khoảng năm1.500 trước Chúa giáng sinh, người Hittites, dân tộc Ấn Âu ở miền Trung Tiểu Á, đã xâmlược vùng Lưỡng Hà (Mésopotamie, Iraq ngày nay), khai thác các mỏ bạc, rồi đúc thànhnhững thỏi nhỏ, nặng khoảng 500 gam, làm tiền để trả lương cho lính. Ở Trung Hoa cổđại, việc sử dụng đồng, theo lịch sử ghi nhận, có nhiều đồ vật mang niên đại 2.000 nămtrước công nguyên. Vào khoảng 1.200 năm trước công nguyên, Trung Hoa đã sản xuấtđược những đồ đồng thau hoàn hảo. Dần dần những kim loại này bị đào thải, thay thế bằng các kim loại quý là vàng và bạc.Hai loại kim loại này có các chất lượng đáp ứng được nhiều nhất những gì màmột đồng tiền hàng hoá cần có . Chúng không bị phá huỷ, hoàn toàn đồng nhất về mặt vậtchất và kinh tế, đều có thể chia nhỏ được, chúng tương đối hiếm, dễ dàng nhận biết, lưugiữ thuyên chuyển. Từ đó, vàng và bạc đã loại dần các kim loại kém giá, dễ bị rỉ sét đểtrở thành tiền kim loại phổ biến trong khoảng thế kỉ 18-19.Kim loại chỉ được người bán chấp nhận sau khi đã cân và kiểm tra lại. Việc bắt buộc phải cân tiền với mỗi nghiệp vụ trao đổi là một phiền toái. Người ta đã tránh việcnày bằng cách in trên mỗi kim loại dòng chữ xác nhận trọng lượng của chúng. Vấn đề đặtra là làm thế nào để các bên tiến hành trao đổi này không tranh cãi về trọng lượng và chấtlượng của dòng chữ đó. Do vậy, việc in trên đồng tiền kim loại phải do những người cóuy tín thực hiện. Vao thời buổi ban đầu đó chính là các thương gia và các nhà ngân hàng.Tong thời kì đầu, tiền kim loại ở dạng tuỳ ý hoặc thành thỏi hoặc những chiếc vòng, vềsau những phát triển đã tiêu chuẩn hóa tiền tệ về trọng lượng chất lượng kim loại và nhãnmác. Những đồng xu mang những dấu hiệu về giá trị thao trọng lượng, và chất lượng củacác đồng xu đuợc quốc gia bảo hộ. Do đó, hệ thống tiền đúc( tiền xu) đã tạo điều kiệncho các giao dịch và giúp những nhà buôn tiết kiệm được thời gian cho việc nhận dạng,định lượng, và đánh giá chất lượng kim loại.Mặc dù tiền xu được đúc theo được đúc theo dấu hiệu riêng của từng quốc gia làm bằng chứng bảo đảm về nội dung và chất lượng kim loại, nhưng trong thực tế các quốcgia thường đúc những đồng xu hỗn hợp kim loại có giá trị thấp hơn. Các quốc gia ngàycàng thường xuyên giảm tỷ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồng xu làm cho cácđồng xu mất giá trị dần trong lưu thông.Kinh tế và các vấn đề xã hội khác càng phát triển, các câu hỏi và yêu cầu đặt racàng cao hơn, người ta bắt đầu tìm kiếm những phương tiện tiện lợi hơn để dùng làmtiền. Thêm nữa, xã hội ngày càng trở nên thiếu tài nguyên do dân số trở nên đông đúchơn,và vì mọi nguồn lực không phải là vô hạn, sự tiết kiệm các dạng như kim loại là rấtcần thiết. Đó là 1 trong số những lí do giúp tiền giấy ra đời và phát triển nhanh chóng từcuối những năm 1600 cho đến tận bây giờ.Có thể phân biệt 3 giai đoạn lớn trong lịch sử của đồng tiền kim loại:+ Giai đoạn chiếm ưu thế của vàng, trong đó kim loại này loại trừ tất cả các đốithủ cạnh tranh khác, nhất là bạc. Giai đoạn này kết thúc vào chiến tranh thế giới thứ nhất.+Giai đoạn suy giảm vai trò của vàng với tư cách là đồng tiền có giá trị nội tạilà giữa hai thế chiến3

Activity (49)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
Phuong Bich liked this
Nguyen Tuan liked this
Phù Du NeKy liked this
Bep Xau Xi liked this
Mỹ Duyên liked this
Mỹ Duyên liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->