Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
6Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền

Ratings: (0)|Views: 5,211|Likes:
Published by Wong Hoang

More info:

Categories:Types, Research, Law
Published by: Wong Hoang on Oct 20, 2009
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

01/13/2013

pdf

text

original

 
Đại diện theo ủy quyền:từ pháp luật nội dung đến tố tụng dânsự
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội khóa XI thông qua ngày15/6/2004 đã bổ sung và hoàn thiện thêm về chế định người đại diện của đươngsự, đặc biệt liên quan đến các quy định về người đại diện theo ủy quyền. Trong phạm vi bài viết dưới đây, tác giả trao đổi một số vấn đề xung quanh quy định vềủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền, những vướng mắc nảy sinh từviệc hiểu và áp dụng các quy định của BLTTDS về vấn đề này trong thực tiễn thụlý và giải quyết các tranh chấp dân sự. Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị góp phầnhoàn thiện về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dânsự
Việc tham gia của người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự 
Tương tự như trong pháp luật nội dung (Xem hộp 1), pháp luật tố tụng dân sự (từ Điều 73đến Điều 78 BLTTDS) phân chia người đại diện ra làm 2 loại là người đại diện theo pháp luật vàngười đại diện theo ủy quyền. Việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự nói chungvà người đại diện theo ủy quyền nói riêng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giảiquyết các vụ án dân sự, đặc biệt trong trường hợp đương sự không tự thực hiện các quyền vànghĩa vụ tố tụng của mình.
Hộp 1: Theo Bộ luật Dân sự (BLDS)
“Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và nđược đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản
” (Điều 151). Người đại diện theo ủy quyền là “
Cá nhân, người đạitheo pháp luật của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có thể ủy quyền cho người khác phù hợp với quy định của Bộ luật nàydanh mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự 
” (Điều 152). Điều 150 khoản 2 làm rõ hơn khái niệm hạn chế đối với người đạitheo ủy quyền “
 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không đượcngười đại diện theo ủy quyền
”. Như vậy, khi hai bên (bên ủy quyền và bên được ủy quyền) thiết lập một quan hệ ủy quyền đồngthiết lập một quan hệ hợp đồng với tính chất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiệnviệc nhân danh bên ủy quyền. Bên ủy quyền phải trả thù lao nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trong quan hquyền, người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện một số hành vi nhất định làm phát sinh hậu quả pháp lý liên quaquyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng hoặc lợi ích của người đã ủy quyền trong phạm vi ủy quyền. Vì vậy, xét về mặt bản pháp lý, quan hệ ủy quyền luôn tồn tại 2 quan hệ:1)
Quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền
. Trong quan hệ này người được uỷ quyền có nghĩa vụ phải thực hiệhành vi pháp lý trong phạm vi ủy quyền. Người được ủy quyền phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình mà không được ủy quycho người khác trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;2)
Quan hệ giữa người được ủy quyền với bên thứ ba của giao dịch
. Người được ủy quyền với tư cách của người đã ủy quyềnkết hoặc thực hiện các giao dịch dân sự với bên thứ ba. Người được ủy quyền có những quyền và nghĩa vụ nhất định với bên thứ bgiao dịch.
 
 Người đại diện theo ủy quyền được hiểu là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự ủy quyền của đương sự. Trong thực tiễn, rấtnhiều trường hợp đương sự thường không có kinh nghiệm tham gia tố tụng và thiếu sự hiểu biết pháp luật đầy đủ, vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho đương sự BLTTDS quy định đương sự có thểủy quyền cho Luật sư hoặc người khác (
trừ những trường hợp không được làm người đại diện
 
theo quy định tại Điều 75 BLTTDS 
) đại diện tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa mình trong mọi việc, ngoại trừ đối với việc ly hôn vì liên quan đến quan hệ tình cảm giữa cácđương sự (Điều 73 BLTTDS).Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể hoàn toàn bình đẳngvề địa vị pháp lý, có quyền tự định đoạt. Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa họ thìhọ có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu giải quyết các tranh chấp dân sự. Quyền hợp phápnày được ghi nhận tại Điều 161 BLTTDS: “
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặcthông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại tòaán có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
 Như vậy, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm hoặc có thể ủy quyền cho người đại diện khởi kiệnđể bảo vệ quyền lợi của mình. Quy định này cũng phù hợp với quy định của BLDS về hợp đồngủy quyền. Về nguyên tắc, việc ủy quyền của đương sự cho người đại diện phải được lập thànhvăn bản (Điều 586 BLDS), trong đó phải nêu rõ phạm vi ủy quyền. Hình thức ủy quyền là căn cứ pháp lý để xác định phạm vi ủy quyền, nghĩa vụ của người được ủy quyền, đồng thời xác địnhtrách nhiệm dân sự của người ủy quyền hoặc người được ủy quyền khi tham gia vào quan hệ tốtụng dân sự. Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện một phần hoặc toàn bộ các quyền vànghĩa vụ tố tụng của mình. Người đại diện theo ủy quyền được thực hiện các quyền và nghĩa vụtố tụng của đương sự trong phạm vi ủy quyền (Điều 74 BLTTDS).
Thực trạng áp dụng
Thực tiễn xét xử hiện nay đang gặp nhiều lúng túng trong việc hiểu và vận dụng quy định củaBLTTDS hướng dẫn về vấn đề này.
1. Xác định tính hợp pháp về hình thức của đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền đứng đơn khởi kiện
Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện, tại điểm 1 khoản 2 Điều 164 BLTTDS quy định:
“Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diệnhợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu ở phần cuối đơn”
.Tuy nhiên, trong trường hợp nguyên đơn do ở xa và vì nhiều lý do khác nhau không thể trựctiếp tham gia vụ kiện, do đó, nguyên đơn lập hợp đồng uỷ quyền cho người được uỷ quyền thay mặtmình giải quyết tranh chấp cả trong giai đoạn tiền tố tụng (
chẳng hạn như thay mặt người ủy quyềnhoà giải tại cấp cơ sở đối với những vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất…)
và trong quá trình tốtụng tại Tòa án. Nhiều trường hợp nguyên đơn lập hợp đồng uỷ quyền cho người đại diện hợp phápvới phạm vi ủy quyền được xác định cụ thể là
“Bên được ủy quyền được quyền nhân danh và thaymặt Bên ủy quyền làm đơn khởi kiện và tham gia tố tụng từ khi Tòa sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ áncho đến khi kết thúc quá trình tố tụng. Mọi ý kiến và quyết định của bên được ủy quyền là ý kiến,quyết định của bên ủy quyền”.
Vì vậy, người đại diện theo uỷ quyền làm đơn khởi kiện và ký têntrong đơn khởi kiện. Việc này có 2 quan điểm:1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải trực tiếp ký đơn mà không được thông qua ngườiđại diện theo ủy quyền mặc dù có hợp đồng ủy quyền hợp pháp với phạm vi ủy quyền bao gồm cả ủyquyền khởi kiện. Đơn khởi kiện phải thể hiện rõ nội dung vụ việc và những yêu cầu của người khởikiện đối với Tòa án, do đó, người khởi kiện là cá nhân phải trực tiếp ký tên vào đơn khởi kiện, nếu làngười đại diện của cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên vàđóng dấu ở phần cuối đơn. Đây là điều kiện bắt buộc về mặt hình thức của đơn khởi kiện mà điểm 1khoản 2 Điều 164 quy định.
 
2. Khi tồn tại hợp đồng ủy quyền hợp pháp, ý chí của người ủy quyền đã thể hiện rõ trongnội dung và phạm vi ủy quyền. Vì vậy, không nhất thiết buộc người khởi kiện phải trực tiếp viếtvà ký vào đơn mà căn cứ theo hợp đồng ủy quyền được xác lập giữa người ủy quyền và người đạidiện theo ủy quyền, người đại diện theo ủy quyền hoàn toàn có quyền viết và ký đơn.Về lý luận, đơn khởi kiện là cơ sở pháp lý để Tòa án xem xét thụ lý vụ án dân sự; cá nhân, cơ quan tổ chức có thể ủy quyền cho người đại diện khởi kiện để bảo vệ lợi ích của mình (Điều 161BLTTDS).Khi xác lập quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền sẽ thay mặt và đại diện cho người ủyquyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong phạm vi và nội dung ủy quyền, đồng thờichịu trách nhiệm về công việc ủy quyền. Vì vậy, không thể nói rằng nếu người đại diện ủy quyềnký vào đơn khởi kiện là không thể hiện ý chí và nguyện vọng của người khởi kiện. Mặt khác,nhiều trường hợp cơ quan, tổ chức làm hợp đồng ủy quyền cho Luật sư thay mặt cơ quan, tổ chứckhởi kiện và tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu bắt buộc
“đạidiện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu ở phần cuối đơn”
thì không thểthực hiện được (Luật sư không phải là chủ thể có đủ thẩm quyền để đóng con dấu của Bên ủyquyền - cơ quan, tổ chức đó). Mặt khác, Điều 161 quy định: “
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyềntự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởikiện)..
”. Bản thân quy định chung này đã trao quyền cho người đại diện hợp pháp khởi kiện vàngười đại diện hợp pháp được đặt trong thuật ngữ chung gọi là “
người khởi kiện
”. Bên cạnh đó, vềnội dung, điểm 1 khoản 2 Điều 164 không cấm người đại diện ủy quyền đứng tên trong đơn khởikiện.Vì vậy, để thống nhất trong việc áp dụng luật, Tòa án nhân dân tối cao cần sớm có hướngdẫn cụ thể về Điều 164 BLTTDS, trong đó, có việc xác định tính hợp pháp về hình thức của đơnkiện trong 2 trường hợp:
Một là:
Người khởi kiện là cá nhân phải điểm chỉ vào đơn; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiệnthì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn (
theođiểm 1 khoản 2 Điều 164 BLTTDS 
).Hai là
:
 Người đại diện ủy quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải ký tên vào phần cuối đơn. Kèm theo đơn khởi kiện, người đại diện ủy quyền phải xuất trình được hợp đồngủy quyền hợp pháp với phạm vi ủy quyền được xác định rõ bao gồm cả ủy quyền đứng đơn khởikiện.
2.
 
Về hình thức văn bản ủy quyền và việc xác định loại ủy quyền
Điều 586 BLDS có quy định:
“Hợp đồng ủy quyền phải lập thành văn bản; nếu có thỏathuận hoặc pháp luật có quy định, thì hợp đồng ủy quyền phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”
. Quy định này chưa rõ ủyquyền phải qua công chứng, chứng thực trong những trường hợp nào. Điều này liên quan đếnviệc chấp nhận hay không chấp nhận văn bản ủy quyền do các bên xuất trình tại Tòa.Thẩm quyền đại diện theo ủy quyền phụ thuộc vào
loại ủy quyền
:- ủy quyền một lần cho phép thực hiện đại diện để thực hiện một hành vi nhất định;- ủy quyền riêng biệt quy định thẩm quyền đại diện trong một thời gian nhất định, đối vớimột loại hành vi nhất định;

Activity (6)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
Dao Hai Yen liked this
Tiến Xabi liked this
Hiền Nguyễn liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->