• Embed Doc
  • Readcast
  • Collections
  • CommentGo Back
Download
 
M HIỂU VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH T
Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làmột vấn đề lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đây là một vấn đề được các nhà lãnh đạovà các nhà nghiên cứu rất quan tâm. Có nhiều quan điểm khác nhau, có những quanđiểm có thể đi đến kết luận thống nhất, song cũng có những quan điểm còn đang trong quá trình thảo luận chưa đi đến thống nhất. Kinh nghiệm thành công của quá trình chuyển đổi nền kinh tế trong thời gian qualà sự thay đổi tư duy và nhận thức về vai trò của Nhà nước trong công cuộc phát triểnđất nước. Chính vì vậy, sự thành công của giai đoạn phát triển tiếp theo sẽ lệ thuộcrất nhiều vào việc xác định lại một cách hợp lý vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý kinh tế.Nhằm cung cấp một số thông tin tổng hợp của các chuyên gia kinh tế trong nướclàm tài liệu tham khảo phục vụ các nhà lãnh đạo và những người quan tâm, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia biên soạn chuyên đề 
“TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG”.
 Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Chương I :
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾTHỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINHTẾ THỊ TRƯỜNG1. Sự lựa chon mô hình thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCHở Việt Nam
 Như mọi người đã biết, KTTT là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ vănminh của nhân loại. Từ trước tới nay, nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩatư bản (CNTB), là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển CNTB; CNTB đã biết lợidụng tối đa ưu thế của KTTT để phục vụ mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh,tìm kiếm lợi nhuận và - một cách khách quan - nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xãhội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, KTTT tư bản chủ nghĩa (TBCN) đã đạt tới giaiđoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.Tuy nhiên, KTTT TBCN không phải là vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực, nó còn cónhững mặt tiêu cực, có mặt từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân TBCNchi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn củaCNTB càng bọc lộ sâu sắc. CNTB tỏ ra bất lực trước các vấn đề xã hội, sự bất công và bất ổn xã hội, hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng bị khoét sâu.Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, CNTB còn ràng buộc các nước
1
 
kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ “trung tâm - ngoạivi”. Có thể nói, nền kinh tế TBCN toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một số ít nướclớn, một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nước nghèo, làm tăng thêm mâuthuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo. Nền KTTT TBCN hiện nay đang ngàycàng thể hiện xu hướng tự phủ định và “tự tiến hoá” để chuẩn bị sang hậu côngnghiệp. Đây là yếu tố khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốntiến lên, xã hội muốn tiến lên thì không thể dừng lại ở mô hình KTTT TBCN.Sau Cách mạng tháng Mười Nga thành công và sau Chiến tranh thế giới thứ II, LiênXô và một số nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu bước vào xây dựng kinh tế trêncơ sở xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu xô viết với mong muốn khắc phục những tồn tại của CNTB, xây dựng chế độ mới, phương thức sản xuất mới XHCNtốt đẹp hơn. Mặc dù sau hơn 70 năm xây dựng CNXH, mô hình CNXH kiểu xô viết đãđạt được một số thành tựu vĩ đại, nhưng có lẽ do nôn nóng muốn nhanh chóng xây dựngmột chế độ xã hội tốt đẹp hơn, cộng với sự yếu kém trong lãnh đạo, quản lý… đã khôngtôn trọng quy luật khách quan, xoá bỏ kinh tế thị trường cùng các quy luật hoạt động củanó nên mô hình trên đã thất bại.Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế kỹ thuật lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phánặng nề. Đi lên CNXH là mục tiêu, lý tưởng của những người cộng sản và nhân dânViệt Nam, là khát vọng thiêng liêng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nhưng đilên CNXH bằng cách nào là một câu hỏi lớn, không dễ tìm ra ngay câu trả lời. Suốtmột thời gian dài, Việt Nam cũng như nhiều nước khác đã áp dụng mô hình CNXHkiểu xô viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung cao độ và bao cấp. Mô hình này phùhợp với yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau, mô hình này đã bộc lộ những khuyết điểm. Trong khi đó, công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sailầm bắt nguồn từ bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, lối tư duy và hành động giảnđơn, nóng vội, không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về CNXH không đúngvới thực tế Việt Nam.Trên cơ sở nhận thức đúng hơn và đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi lênCNXH ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) đã đề ra đường lối đổimới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng CNXH.Đại hội đã đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng CNXHtrong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuấthàng hoá và thị trường, phê phán mạnh cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và khẳngđịnh chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tếnhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợiích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người; cónhững nhận thức mới về chính sách xã hội.Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3 năm 1989) phát triển thêm một bước, đưara quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lênCNXH, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâudài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH.Đến Đại hội VII (tháng 6 năm 1991), Đảng tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và
2
 
khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên CNXH của Việt Nam.Cương lĩnh năm 1991 của Đảng khẳng định: phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng (tháng 6 năm 1996) đưa ra một số kết luận mới rấtquan trọng: “Sản xuất hàng hoá không đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triểncủa nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựngCNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng”. Từ lúc đó đã nói đến nền kinh tế hànghoá, cơ chế thị trường, nhưng chưa dùng khái niệm “KTTT”. Đại hội IX của Đảng(tháng 4 năm 2001) chính thức dùng khái niệm “KTTT định hướng XHCN” là đườnglối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lênCNXH ở Việt Nam.Lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là sự gán ghépchủ quan giữa KTTT và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế khách quan củaKTTT trong thời đại ngày nay. Trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thờiđại, khái quát, đúc kết kinh nghiệm phát triển KTTT thế giới, đặc biệt là thực tế xâydựng CNXH ở Trung Quốc và Việt Nam, Đảng đưa ra chủ trương phát triển nềnKTTT định hướng XHCN thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp củaquan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độlên CNXH ở Việt Nam.
2. Sự hình thành khung thể chế KTTT định hướng CNXH
Trước hết chúng ta phải nắm bắt và hiểu rõ những ưu thế và khuyết tật cơ bản củanền KTTT:
Phân công lao động xã hội theo ngành và theo lãnh thổ và sự xuất hiện tư hữu về tưliệu sản xuất là hai điều kiện tiên quyết của nền KTTT. Nền KTTT có những ưu thế :- Tự động đáp ứng nhu cầu có thể thanh toán được của xã hội một cách linh hoạt vàhợp lý; phản ứng nhanh nhạy trước những thay đổi trong nhu cầu của xã hội và cácđiều kiện kinh tế trong nước và quốc tế. Điều này là thể hiện những bài học “nhậpmôn” của người sản xuất trong nền KTTT luôn luôn phải tìm hiểu nhu cầu xã hội đểsản xuất cái gì? Sản xuất cho ai?- Có khả năng huy động tối đa mọi tiềm năng của xã hội.- Tạo ra động lực mạnh thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao(và tất yếu có lợi nhuận nhiều) và “thị trường là chiến trường” với hình thức phá sảntạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém. Đây cũng lại là một bài học “nhậpmôn” của người sản xuất là: sản xuất thế nào?- Buộc các nhà doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sailầm trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên quy mô lớn.- Tạo động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng khoa học - công nghệ - kỹ thuật,nền kinh tế năng động và hiệu quả cao.Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có nhiều khuyết tật:- Động lực lợi nhuận cao tạo ra môi trường thuận lợi dẫn đến nguy cơ vi phạm pháp
3
of 00

Leave a Comment

You must be to leave a comment.
Submit
Characters: ...
You must be to leave a comment.
Submit
Characters: ...