Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
6Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Copy of Kinh tế học cổ điển

Copy of Kinh tế học cổ điển

Ratings: (0)|Views: 524 |Likes:
Published by anhquan11

More info:

Published by: anhquan11 on Jan 29, 2010
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

01/16/2013

pdf

text

original

 
Kinh tế học cổ điển
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới:menu,tìm kiếm Trường phái
Kinh tế học cổ điển
hay
Kinh tế chính trị cổ điển
là một trong những xu hướng tưtưởngkinh tếtiến bộ, đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử phát triển các luận thuyết kinh tế. Nhiềuquan điểm chủ đạo của trường phái này vẫn còn lưu giữ ý nghĩa đến tận ngày nay. Xu hướng tưtưởng của trường phái cổ điển bắt đầu xuất hiện từthế kỷ 17và phát triển mạnh mẽ vàothế kỷ 18  đến nửa cuốithế kỷ 19.
Những người sáng lập
 Người đại diện đầu tiên và được xem là ông tổ của kinh tế cổ điển làWilliam Petty(1623 – 1687),người Anh. Những công trình khoa học của ông chuyên về lĩnh vựcthuế,hải quanthống kê. Là người đượcK. Marxđánh giá cao qua các phát minhkhoa học kinh tế.  Những tên tuổi lớn của trường phái này gồmAdam Smith(1723-1790),David Ricardo(1772- 1823),Thomas Malthus(1766-1834),John Stuart Mill(1806-1873). Quan điểm về khoa học kinh tế của họ, giống như các nhà nghiên cứu trước đó, là khoa học về sự giàu có và cách thức nhân rộngcủa cải lên.
Phương pháp luận
Trường phái cổ điển đối lập vớichủ nghĩa trọng thươngtrên nhiều phương diện, trong đó sự khác biệt biểu hiện ở phương pháp luận và đối tượng nội dung các luận thuyết. Thực tiễn giai đoạn pháttriển kinh tế công xưởng lêncông nghiệp hóathể hiện sự trỗi dậy của lực lượngdoanh nghiệphoạt động trongsản xuấtcông nghiệp, đẩy hoạt động buôn bán và cho vay vào hàng thứ yếu. Với lý do đó đối tượng nội dung của nghiên cứu kinh tế học chuyển từ lĩnh vực giao thương sang lĩnh vực sảnxuất. Phương pháp nghiên cứu dựa trên việc đề xuất các định đề thu nhận từ các quy luật sản xuấtcó thể quan sát. Có thể nói, trường phái cổ điển biến kinh tế chính trị thành một môn khoa học thựcsự, nghiên cứu những vấn đề kinh tế về cạnh tranh tự do.Đóng góp quan trọng của trường phái là đặtphạm trùlao động – lực lượng khởi tạo nền kinh tế, và  phạm trùgiá trị kinh tế– sự biểu hiện củagiá trịchung, vào trung tâm của nghiên cứu kinh tế; đã đề ra ý tưởng tự do kinh tế; nhiều tác phẩm khoa học về các vấn đềgiá trị thặng dư,lợi nhuận,thuế, địa tôđược trình bày. Chính từ trường phái này đã sản sinh ra mônkhoa học kinh tế.
Những đặc điểm riêng biệt
1.
Không công nhận chính sách bảo hộ mậu dịchcủa nhà nước và chú trọng phân tích các vấnđề của lĩnh vựcsản xuấttrong sự tách biệt khỏi lĩnh vựcgiao thương; đề xuất và áp dụng các phương pháp nghiên cứu tiến bộ như phương phápnguyên nhân-hậu quả,suy diễn,quy nạp,logic trừu tượng. Tuy nhiên, việc đặt ra sự đối nghịch giữa hai lĩnh vực sản xuất và giao thương đã làm cho các nhà kinh tế học cổ điển đánh giá không đầy đủ những liên quanmật thiết giữa hai lĩnh vực đó, trong đó có ảnh hưởng của các yếu tố giao thương lên quátrình sản xuất.
2.
Dựa trên phương pháp phân tích nguyên nhân-hậu quả, tính toán các chỉ số kinh tế trung bình, các nhà “cổ điển” tìm cách làm sáng tỏ cơ cấu hình thànhgiá trịhàng hóa.Họ cho rằng giao động củagiá cảtrên thị trường không liên quan đến “bản chất tự nhiên” củatiền  và số lượng của chúng, mà liên quan đến cácchi phísản xuất, hay nói cách khác, đến sốlượnglao động bỏ ra.
3.
Phạm trùgiá trịvào thời đó được đánh giá là mấu chốt của phân tích kinh tế, là gốc rễ đểnảy mầm các phạm trù khác. Vấn đề giá trị hàm chứa các câu hỏi như sau: giá trị biểu hiện
 
giống như một hiện tượng và các dạng thức của nó thế nào? Cơ sở, nguồn gốc hay nguyênnhân nào của giá trị? Giá trị có đại lượng hay không và cách xác định đại lượng đó như thếnào? Cái gì có thể dùng để đo giá trị? Giá trị thực hiện chức năng nào trong lý thuyết kinhtế? Ngoài ra, việc đơn giản hóa phân tích và hệ thống hóa đã làm cho khoa học kinh tếhướng đến phát minh các quy luật mang tính cơ học, tương tự như trong vật lý học, nghĩa làkhông tính đến các yếu tốtâm lý,đạo đức,luật phápvà các yếu tố xã hội khác.
4.
Tăng trưởng kinh tế và phồn thịnh xã hội được cho là không phải dựa vào nguyên tắcxuấtsiêu, mà là sự năng động và cân bằng trạng thái nền kinh tế quốc gia. Trong vấn đề này cácnhà “cổ điển” không vận dụng các phương pháp phân tích toán học hay mô hình toán học đểcó thể chọn ra phương án tối ưu trong số các phương án về tình trạng kinh tế. Trường pháicổ điển cho rằng cân bằng trong kinh tế là có thể đạt được một cách tự động theoquy luậtthị trườngcủaJean-Baptiste Say
5.
Từ lâutiền tệđược cho là của con người tạo ra một cách chủ ý. Đến giai đoạn của trường phái cổ điển tiền tệ được cho là một dạng hàng hóa tách biệt từ trong thế giới hàng hóa, vàchúng không thể bị thay thế bởi những thỏa thuận giữa mọi người. Tuy nhiên, chức năngcủa tiền chỉ được đánh giá là phương tiện trao đổi mang tính kỹ thuật.
Các giai đoạn phát triển
Vấn đề xác định giai đoạn phát triển trường phái cổ điển được xem xét từ lâu. Thời điểm mở đầucủa trường phái này được chấp nhận theo quan điểm củaK. Marxvà dường như không gây tranhcãi trong giới nghiên cứu lịch sử kinh tế. Tuy nhiên thời điểm kết thúc của nó thì Marx chỉ hạn chế bằng những tác phẩm của A. Smith và D. Ricardo. Các luận thuyết của các nhà nghiên cứu tiếptheo không được Marx công nhận là thuộc về trường phái này, và Marx gọi đó làKinh tế chính trịtầm thường, mà những người đứng đầu của khuynh hướng này là Th. Malthus và J. B. Say. Quanđiểm trên của Marx không được hưởng ứng bởi các nhà nghiên cứu khác, ví dụ như J. K. Gelbreyt – giáo sư trường đại học tổng hợp Harvard. Ông cho rằng ý tưởng của Smith và Ricardo vẫn còntiếp tục phát triển đến tận giữa thế kỷ 19 với những tác phẩm nổi tiếng của J. S. Mill
. Ý kiến nàyđược các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng kinh tế Ben Celigmen, P. Samuelson và M. Blaug côngnhận. Dựa vào những đặc điểm chung, đúc kết từ các luận thuyết của các nhà nghiên cứu tiêu biểu,có thể xem cách phân chia giai đoạn phát triển của trường phái này như sau:
Giai đoạn 1: Từ cuốithế kỷ 17đầuthế kỷ 18, bắt đầu bằng những tác phẩm lý luận củaU. Petty– người Anh, vàP. Buagilber  – người Pháp, với những ý tưởng đối lập chủ nghĩa trọng thương. Đó là những người đầu tiên tìm cách giải thích nguồn gốc giá trị của hàng hóavà dịch vụ (bằng cách xác định lượng thời gian lao động và công lao động đã bỏ ra trongsản xuất). Họ đã khẳng định ý nghĩa tiên quyết của nguyên tắc tự do đối với hoạt động kinhtế trong chính lĩnh vực sản xuất vật chất.Tiếp theo đó là sự xuất hiệnchủ nghĩa trọng nông– một khuynh hướng thuộc về trường phái cổđiển mà đứng đầu làFrancois QuesnayAnne-Robert-Jacques Turgot– với những phê phán sâu sắc và đầy luận chứng đối vớichủ nghĩa trọng thương, kéo dài trong 1/3 khoảng giữa thế kỷ 18.Trong giai đoạn đầu tiên này chưa có nhà kinh tế học đại diện nào có được lý luận đầy đủ về pháttriển hiệu quả sản xuất trongcông nghiệpvà cả trongnông nghiệp.
Giai đoạn 2: kéo dài trong 1/3 khoảng cuối thế kỷ 18, là giai đoạn gắn liền với tên tuổi củanhà kinh tế học vĩ đạiAdam Smithvới tác phẩm “Sự giàu có của các dân tộc” (1776), đãđưa Kinh tế chính trị đến mức hoàn chỉnh của một môn khoa học. Những khái niệm “conngười kinh tế” và “bàn tay vô hình” đã thuyết phục được nhiều thế hệ nghiên cứu kinh tế.Đến tận những năm 30 của thế kỷ 20 nhiều nhà kinh tế học còn tin vào sự đúng đắn củaquan điểm
laisez faire
– không có can thiệp nhà nước vào tự do cạnh tranh. Những luậnthuyết của A. Smith đã trở thành cơ sở để xuất hiện các lý thuyết hiện đại vềhàng hóa,tiền tệ,tiền cônglao động,lợi nhuận,tư bản,lao độngsản xuất và các phạm trù khác.
 
Giai đoạn 3: trong nửa đầu thế kỷ 19, là giai đoạn chuyển bước từ sản xuất dạng côngxưởng lên dạng nhà máy với việc cơ khí hóa các công đoạn sản xuất, diễn ra đặc biệt ở cácnước phát triển như Anh và Pháp. Tiếp tục tư tưởng của Smith là các nghiên cứu của D.Ricardo, T. Malthus, N. Cenior, J.B. Say, F. Bastia
Giai đoạn 4: trong nửa cuối thế kỷ 19 – giai đoạn kết thúc của trường phái cổ điển vớinhững tác phẩm của J. C. Mill và K. Marx. Tuy trong giai đoạn này bắt đầu hình thànhkhuynh hướng tư tưởng mới mà sau này được gọi là trường pháitân cổ điển, nhưng các lýluận phổ biến của các nhà cổ điển vẫn còn ảnh hưởng rất lớn trong phạm vi nghiên cứu kinhtế thời gian này.
Các nguyên lý cơ bản
Con người chỉ được xem xét trên phương diện kinh tế với một nguyện vọng duy nhất:hướng đến lợi íchtư hữuđể nâng cao vị thế của mình.Đạo đức,văn hóa,truyền thống nhiều thứ khác không nằm trong tầm quan sát.
Mọi chủ thể tham gia vào quá trình kinh tế đều tự do vàcông bằngtrước pháp luật,kể cả trên phương diện khả năng tiên liệu trước các vấn đề kinh tế.
Mọi chủ thể kinh tế đều nhận được thông tin đầy đủ vềgiá cả,mức lợi nhuận, tiền công laođộng, giá thuê đất ở bất kỳthị trườngnào, ngay tại thời điểm hiện tại hay trong tương lai.
Thị trường đảm bảo ổn địnhtài nguyên: lao động và vốn có thể lập tức được đáp ứng tại nơicần chúng.
Độ đàn hồi của lượng lao động theo giá tiền lương là không dưới 1, nghĩa là tiền công laođộng tăng kéo theo tăng số lượng lao động; ngược lại, tiền công giảm thì lượng lao độngcũng giảm.
Mục đích duy nhất của nhà tư bản là tối đa lợi nhuận từ vốn.
Trên thị trường lao động tồn tại sự mềm dẻo tuyệt đối của tiền công lao động, nghĩa là giálao động chỉ được xác định bởicungcầucủathị trường lao động.
Yếu tố quan trọng làm tăng số lượng của cải là tích lũy tư bản.
Cạnh tranh phải là hoàn hảo, và nền kinh tế phải là hoàn toàn giải phóng khỏi sự can thiệpnhà nước, ở đó “ bàn tay vô hình” sẽ điều phốitài nguyênmột cách tối ưu.

Activity (6)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
Tiep Dinh liked this
thanh14011976 liked this
truongtx liked this
misaxuka2790 liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->