Có giải quyết được >< giữa nhân dân ta với bọn xl thì ta phải đk 1 lòng, phải trở thành1 sức mạnh hùng hậu thì mới chuyển biến ta từ yếu → mạnh và tiêu diệt được kẻ thù.- Phải coi trọng vai trò của nhân dân là 1 t
2
lớn trong ý thức dt của các nhà t
2
. Trongl.sử pt’ của dt ta, dưới các hình thức ≠, ông cha ta đều có những quan điểm tích cựctrong việc coi trọng vai trò của nhân dân. Đó là những t
2
của Lý Công Uẩn trong chiếudời đô: “Trên vâng mệnh trời, dưới thuận theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi”. Nguyễn Trãi nói: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Ông cũng nói: “Việcnhân nghĩa cốt ở yên dân”. Sự pt’ những t
2
đó đạt tới 1 trình độ cao hơn và mang sắcthái tính chất mới hơn ở thời đại HCM: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân k.tra. Dễ trămlần k
0
dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.Là những nhà y nước lớn, đứng trên đỉnh cao của pt y nước lúc bấy giờ. Họ nhậnthức được y/cầu phải cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh của dt nên đã vượt qua hạnchế g/c vốn có của mình. T
2
y nước VN khác biệt so với các t
2
y nước của các dt ≠. Nóđược đúc kết = xương máu và bằng trí tuệ trong trường kỳ l.sử của các cuộc đấu tranhcứu nước và giữ nước, dựng nước.- Ngay từ t.kỳ đầu dựng nước, những nhận thức về dt, dt đl đã được các nhà y nước,các nhà lãnh đạo thổi vào nhận thức của mỗi các nhân trong cộng đồng Việt. Từ đógiúp hình thành lòng y nước, sự tự do đl. Trong thời đại HCM, qua các cuộc đấu tranhgiữ nước như CM T8/1945, ĐBP, gp’ ht MN. Trong l.sử đã CM cho nhận thức về dt, dtđl và lý luận về 1 quốc gia có chủ quyền. Chúng ta ngày nay tuy k
0
còn c.tranh xlnhưng lại có sự xâm nhập về VH, k.tế. Bản thân mỗi người dân VN phải biết bảo vệnền VH của dt, sẵn sàng hy sinh vì sự đl của dt, k
0
để cho các thế lực thù địch, phảnđộng có cơ hội làm thay đổi nền VH từ bao đời của VN.
II)Những quan niệm về đạo làm người:
- T
2
về “đạo” làm người là 1 trong những v.đề mà các nhà t
2
VN đặc biệt quan tâm.Sự quan tâm đó được coi là cơ sở hành động c.trị, đối nhân xử thế. Trong 3 đạo truyềnthống: Nho, Phật, Lão – Trang thì sau t.kỳ Lý – trần, người ta hướng vào đạo Nhotrước hế. Nho giáo với các nguyên lý c.trị và đạo đức của nó đáp ứng được các y/cầuđương thời. Do đó kẻ sĩ đều chọn con đường Nho giáo và luôn đề cao “đạo” làm ngườicủa đạo Nho. Các nguyên lý có sẵn trong các tp’ kinh điển nhưng họ có sự lựa chọn vàgiải thích ≠. Các nhà nho y nước và thấm nhuần chủ nghĩa nhân đạo như Nguyễn trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn ĐÌnh Chiểu... thường phát huy những khái niệm nào đócủa nhà Nho có sức diễn giải được nội dung y nước thương dân, yêu thương con ngườivà tin ở năng lực con người.- Khi vào đời, các nhà t
2
Nho học đều khẳng định và lấy đạo Nho làm lý tưởng sốngcủa mình. Nhưng cuộc sống khiến họ k
0
thể kiên trì mình đạo Nho. Bởi khi bước rakhỏi l.vực c.trị, khi phải giải quyết các v.đề sống – chết, may – rủi, phúc – họa, nhữngv.đề gắn liền với c/sống đời thường mỗi người thì đạo Nho k
0
đáp ứng được. Và phậtgiáo lại có sức hấp dẫn riêng. Người ta tìm đến đạo Phật, lấy Phật giáo làm chỗ dựatinh thần. Và khi thất thế trên đường danh lợi, họ lại tìm đến đạo Lão – Trang để cóniềm an ủi và được tự do tự tại. Vì vậy trong quan niệm về “đạo”, ngoài đạo Nho ra còn bao hàm cả đạo Phật và Lão – Trang.- Khi TDP xl nước ta, “đạo” được coi như là quốc hồn, quốc túy, được biến thành biểu tượng của truyền thống y nước, thương nòi. Yêu “đạo” được xem như là y nước,vì đạo mà chiến đấu mà hy sinh để bảo vệ độc lập của tổ quốc.Nhưng vì “đạo” là t.giớiquan điểm cũ, k
0
giúp hiểu được xu thế của thời đại, k
0
hiểu rõ được kẻ thù của dt, k
0
chỉ ra được con đường hữu hiệu để cứu nước.Vì thế cần có 1 “đạo” khác ngang tầmthời đại. Đó là 1 trong những đk để CN Mác – Lênin du nhập vào VN. Dưới a/ság củaCN Mác – Lênin, quan niệm về “đạo”làm người trong l.sử triết học VN đã có đk chuyể