Read without ads and support Scribd by becoming a Scribd Premium Reader.
 
 
CHƯƠNG III:
 
KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ CÔNG CỤ DỤNG CỤ
 
I. KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU:1. Những vấn đề chung về vật liệu:
 
1.1 - Khái niệm:Nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động muangoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp để chế tạo ra sản phẩm.
 
Đối tượng lao động ở đây được hiểu là những vật mà lao động của conngười tác động vào nhằm biến đổi nó cho phù hợp nhu cầu của mình. VD:lốp xe được chế biến từ mủ cao su, mủ cao su (dạng chất lỏng) qua quátrình chế biến nhờ lao động của con người tác động vào tạo ra sản phẩmlà chiếc lốp xe.
 
1.2 - Đặc điểm:Chỉ tham gia một chu kỳ sản xuất nhất định và trong chu kỳ sản xuất đóvật liệu sẽ bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị biến đổi hình thái vật chất ban đầuđể cấu thành thực thể của sản phẩm. VD: xăng, dầu, nhớt, … bị tiêu haotoàn bộ;Về mặt giá trị: khi tham gia vào quá trình sản xuất thì giá trị của vật liệusẽ được chuyển toàn bộ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
 
1.3 – Nguyên tắc hạch toán:
 
 
Phải hạch toán chi tiết Nguyên liệu, vật liệu theo từng thứ, từng chủng loạiquy cách ở từng kho và ở từng địa điểm bảo quản sử dụng. Tuỳ thuộc vàođặc điểm hoạt động của mình, doanh nghiệp có thể áp dụng một trong 3phương pháp kế toán chi tiết NVL (ghi thẻ song song, sổ đối chiếu luânchuyển, sổ số dư)
 
 Trị giá vật liệu xuất, nhập, tồn phải đúng giá theo nguyên tắc giá thực tế.Kế toán có nhiệm vụ xác định giá thực tế vì ở những thời điểm khác nhautrong kỳ hạch toán giá có khác nhau.
 
Lựa chọn phương pháp kê khai hàng tồn kho phù hợp với yêu cầu quản lýcủa doanh nghiệp và đặc điểm của hàng tồn kho.
 
Cuối niên độ kế toán nếu giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồnkho thấp hơn giá trị ghi sổ kế toán thì DN được phép lập dự phòng giảmgiá hàng tồn kho để trình bày trên Báo cáo tài chính cuối năm.
 
1.4 - Phương pháp Kế toán hàng tồn kho: Theo quy định hiện nay DN chỉ sử dụng một trong hai phương pháp kếtoán hàng tồn kho : hoặc phương pháp kê khai thường xuyên, hoặcphương pháp kiểm kê định kỳ. Nội dung và đặc điểm của 2 phương phápnày như sau :
 
a. Phương pháp khai thường xuyên :
Là phương pháp theo dõi và phản ánh 1 cách thường xuyên, liên tục tìnhhình nhập xuất, tồn kho vật liệu, hàng hóa trên các loại sổ sách kế toánsau mỗi lần phát sinh các nghiệp vụ mua (nhập) hoặc xuất dùng.
 
Các tài khoản kế toán hàng tồn kho được dùng để phản ánh số hiện có,tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hóa. Vì vậy giá trị vật tư,hàng tồn kho trên sổ kế toán có thể được xác định ở bất kỳ thời điểm nàotrong kỳ kế toán theo công thức:
 
 
 
Cuối kỳ kế toán, so sánh giữa số liệu kiểm kê thực tế vật tư, hàng hoá tồnkho và số liệu, vật tư hàng hoá trên sổ kế toán, nếu có chênh lệch phảitìm nguyên nhân và có giải pháp xử lý kịp thời và phải điều chỉnh theo sốliệu kiểm kê thực tế.
 
Phương pháp này thường áp dụng cho các đơn vị sản xuất (công nghiệp,xây lắp...) và các đơn vị thương nghiệp kinh doanh các mặt hàng có giá trịlớn, hàng có kỹ thuật, chất lượng cao như xe hơi, radio, cassette, máy mócthiết bị...
 
b. Phương pháp kiểm kê định kỳ :
Là phương pháp kế toán căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế để phản ánhgiá trị tồn kho cuối kỳ vật tư, hàng hoá trên sổ kế toán và từ đó xác địnhđược giá trị của vật liệu, hàng hóa đã xuất trong kỳ theo công thức :  Trong kỳ kế toán chỉ theo dõi, tính toán và ghi chép về nghiệp vụ nhập vậtliệu, còn trị giá vật liệu xuất chỉ được xác định một lần vào cuối kỳ khi cókết quả kiểm kê vật liệu hiện còn cuối kỳ.
 
Search History:
Searching...
Result 00 of 00
00 results for result for
  • p.
  • Notes
    Load more