Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
42Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
INCOTERMS và những điều liên quan trong thực tế

INCOTERMS và những điều liên quan trong thực tế

Ratings: (0)|Views: 2,608 |Likes:
Published by vianh00610

More info:

Published by: vianh00610 on Mar 31, 2010
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

02/26/2013

pdf

text

original

 
INCOTERMS VÀ THỰC TIỄN HỢP ĐỒNG 
Incoterms chuẩn hóa thực tiễn hợp đồng bằng cách tạo điều kiện cho các bên·Sử dụng phần lớn từ ngữ quan trọng;·Thoả thuận cách hiểu thông dụng nhất đối với những từ ngữ quan trọng, và·Tránh hiểu lầm trong khi sử dụng những từ ngữ này.Tuy nhiên vẫn tồn tại những vấn đề do:·Thực tiễn thương mại thường không thống nhất·Các biến thể của một từ ngữ quan trọng cơ bản có thể không phù hợp hay không rõnghĩa hoàn toàn;·Incoterms không được chính xác hoàn toàn; và, hay·Các bên vô tình lựa chọn sai điều kiện.
Yêu cầu của việc giải thích các 
"  
từ ngữ quan trọng 
"  
Những từ viết tắt như FCA, FOB và CIF có thể được xem như là những "từ ngữ quantrọng", những từ này, khi được sử dụng, đã xác lập một số quyền và nghĩa vụ. Nhưngnhững từ ngữ quan trọng này không thể bị hiểu lầm trừ phi chúng được gán một nghĩacụ thể do nguyên tắc giải thích nào đó. Chỉ tuân theo cách giải thích không thể thiếuđược theo Incoterms. Trong trường hợp thiếu sự giải thích xác đáng, các thương gia cóthể gặp sự hiểu lầm lớn.Việc những từ ngữ quan trọng trong phần trình bày của Incoterms có thống nhất vớiviệc thực tiễn thương mại hay không có thể gây ra sự tranh cãi. Kể từ phiên bảnIncoterms đầu tiên năm 1936, mọi nỗ lực đã được thực thi để đảm bảo sự thống nhấtnày. Nhưng một số cách diễn đạt được sử dụng bởi các thương gia không đúng vớiIncoterms. Có một vài ví dụ: điều kiện CFR thường xuất hiện trong các trường hợpđồng mua bán là C&F. Trong một số trường hợp, CFR được ghi thành C+F. Một người,nói chung, có thể cho rằng các bên trong những trường hợp như thế này nhấn mạnhrằng viết tắt này có ý nghĩa giống như CFR, nhưng tốt hơn, vì mục đích rõ ràng, khi sửdụng điều kiện này nên viết theo các văn bản chính thức.Tuy nhiên, trong những trường hợp khác, các bên có thể lựa chọn một cách diễn đạtkhông thống nhất với bất kỳ điều kiện nào được trình bày trong Incoterms. Một ví dụ:FOB+I. ở đây rõ ràng là các bên cố ý cộng thêm nghĩa vụ mua bảo hiểm cho ngườibán. Nhưng không rõ ràng đây có phải là loại nghĩa vụ tương tự mà người ta có thể tìmthấy trong điều kiện CIF hay CIP không. Hậu quả là tranh chấp có thể phát sinh khi
 
thêm nghĩa vụ mua bảo hiểm cho người bán khi nó xuất hiện trong một điều kiện khác.Trong phần lời nói đầu của ấn phẩm Incoterms khác nhau luôn có thêm phần chú ýđược nhấn mạnh rằng, các thương nhân có thể giải thích một cách chính xác nếu cóthể được, họ muốn gì khi họ sử dụng một điều kiện khác hay thêm một điều kiện nàođó vào một điều kiện thương mại quốc tế.
Thực tiễn thông dụng nhất 
Rất không may là các thực tiễn thương mại lại không giống nhau ở mọi nơi trên thếgiới. Do đó, điều Incoterms có thể làm là không ngoài việc phản ánh thực tiễn thôngdụng nhất. Trong nhiều trường hợp, không thể đưa vào trong Incoterms những gì thựcsự xảy ra liên quan tới việc bốc hàng và dỡ hàng khỏi các phương tiện chuyên chở. Dùsao, như đã nói, trong Incoterms 2000 có nhiều cố gắng hơn để hỗ trợ người sử dụngIncoterms trong vấn đề này. Đặc biệt, theo điều kiện FCA khi hàng hóa được tiếp nhận,phần sửa đổi đã làm rõ nghĩa vụ của người bán phải bốc hàng lên phương tiện gomhàng của người mua, và nghĩa vụ của người mua phải dỡ hàng khi hàng được giao đểvận chuyển tiếp trên phương tiện đến của người bán.Tuy nhiên người ta không thể tìm thấy một thực tiễn thương mại thống nhất về mặt bốcdỡ hàng lên tàu theo điều kiện FOB và dỡ hàng khỏi tầu theo điều kiện CFR và CIF. Ởđây, loại hình tầu vận tải và phương tiện bốc dỡ hàng hóa ở mỗi cảng biển sẽ quyếtđịnh việc mở rộng nghĩa vụ của người bán theo điều kiện FOB và loại hợp đồng ngườibán phải chấp nhận vì lợi ích của người mua theo điều kiện CFR và CIF.Do đó, trướckhi hợp đồng mua bán được ký kết, các bên nên tìm hiểu một cách chắc chắn xem liệucó bất kỳ tập quán riêng biệt nào của cảng nơi hàng hóa được bốc lên theo điều kiệnFOB hay không, bởi vì những tập quán này rất khác nhau ở những cảng khác nhau vàcó thể gây bất ngờ cho bên không được báo trước. Ví dụ, nếu hàng hóa được bốc lênmột chiếc tầu ở cảng của nước người bán, và theo điều kiện FOB người mua phải chỉ định một chiếc tầu, anh ta nên xác định một cách chắc chắn việc phát sinh thêm nhữngchi phí nào có thể được kèm vào giá cước vận tải theo điều kiện FOB và liệu có thể cóthêm chi phí nào mà anh ta phải gánh chịu do việc bốc hàng lên tầu hay không. Điểm FOB truyền thống - là điểm mà rủi ro và chi phí sẽ chuyển từ người bán sangngười mua khi hàng hóa qua lan can tầu tại cảng bốc hàng - bị chỉ trích là không phảnánh những gì thực sự diễn ra tại các cảng biển. Tuy nhiên, kể từ những năm 1700,nhiều tập quán của cảng và các thực tiễn thương mại đã được phát triển xung quanhkhái niệm điểm FOB. Cho dù một cách diễn đạt khác có lẽ cũng phản ánh tốt hơn thựctiễn thương mại ngày nay, sự lầm lẫn khó có thể được ngăn chặn một cách hoàn toànnếu một khái niệm cơ bản như là điểm FOB truyền thống bị thay đổi. Vì những lý donhư thế, điểm FOB được quyết định giữ lại trong Incoterms 2000.Trong điều kiện EXW, thực tiễn thương mại khá thống nhất ở chỗ người bán hỗ trợngười mua những vấn đề liên quan tới bốc hàng lên phương tiện gom hàng của ngườimua, hoặc là mang hàng hóa ra bệ bốc dỡ hàng hay bốc hàng hóa lên phương tiện.Tuy nhiên, trong EXW, người bán không có nghĩa vụ phải hỗ trợ, anh ta chỉ có mỗi việc
 
phải đảm bảo hàng hóa sẵn sàng cho người mua. Nếu người mua muốn đảm bảo tăngnghĩa vụ của người bán, anh ta phải đồng ý với người bán tại thời điểm hợp đồng đượcký kết. Đôi khi điều này được thực hiện bằng cách thêm từ "loaded" (bốc hàng) sauđiều kiện EXW ("EXW loaded"). Tuy nhiên, phần thêm như vậy không rõ ràng liệu rủi rocủa người bán do mất mát hay tổn thất hàng hóa có bị tăng thêm hay không khi thêmcông việc bốc hàng. Các bên nên làm rõ liệu khi thêm từ "loaded" (bốc hàng) có nghĩalà "rủi ro bốc hàng thuộc về người mua" hay "rủi ro bốc hàng thuộc về người bán"("loaded at seller’s risk" và "loaded at buyer’s risk").Nếu muốn người bán gánh chịu rủi ro trong những công việc bốc hàng, các bên nênsoạn hợp đồng sử dụng điều kiện thương mại FCA, kể từ Incoterms 2000, điều kiệnFCA đã được làm rõ là người bán phải bốc hàng lên phương tiện vận tải do người muachỉ định. Việc lựa chọn điều kiện FCA thay thế việc thêm từ "bốc hàng" sau điều kiệnEXW có thể giúp cho các bên giải thích, một cách hoàn toàn xác đáng, điều kiệnthương mại, ngược lại bất kỳ phần tự ý bổ sung nào cũng có thể gây ra nguy hiểm chohọ. Tuy nhiên, khi sử dụng FCA thay thế EXW cũng có thể chuyển nghĩa vụ thông quanhàng hóa từ người mua sang người bán, điều mà các bên có thể hay không muốn.
Đóng hàng vào container 
Các tập quán buôn bán thường khó thay đổi, ngay cả khi lý do lựa chọn điều kiệnthương mại thay đổi và đòi hỏi phải có sự lựa chọn rất khác. Ví dụ, công việc bốc hànglên tầu thường ngày đã thay đổi. Kể từ cuối những năm 60, những khó khăn riêng đãnảy sinh trong thương mại vận chuyển bằng đường biển, nơi công ten nơ hóa (diễn rakhi hàng hóa được chuẩn bị và chứa trong những công ten nơ trước khi tầu đến) đãlàm cho điểm FOB truyền thống hầu như không còn thích hợp. Do đó các điều kiệnFOB, CFR và CIF được nhắc đi nhắc lại là chỉ sử dụng khi giao hàng hóa cho ngườivận tải bằng cách giao thẳng hàng lên tầu - đặc biệt là vượt qua lan can tầu - điều nàylà hoàn toàn không diễn ra khi hàng hóa được đóng vào công ten nơ.Khi hàng hóa được đóng vào công ten nơ, hàng hóa hoặc là được gom lại tại cơ sởcủa người bán (một thực tiễn chung khi hàng hóa được người bán đóng toàn bộ trongcông ten nơ thành nguyên công ten nơ, gọi là FCL - containers) hay được giao cho mộttrạm nhận hàng, nơi hàng hóa được đóng vào công ten nơ để vận chuyển lên tầu saunày lên thuyền trở công ten nơ (trường hợp bình thường khi hàng hóa không đồng nhấtkhông xếp đủ một công ten nơ, gọi là LCL - containers).Các bên có thể nghĩ rằng những khác biệt này không quan trọng lắm và tin rằng có thểtự giải quyết những vấn đề này trong bất kỳ trường hợp nào. Điều này đúng. Ngườibán nên lưu ý không nhận rủi ro sau khi đã chuyển hàng cho người vận tải mà ngườimua chỉ định. Điều này đặc biệt quan trọng khi người bán không có trách nhiệm đưa ralời hướng dẫn về việc bảo quản và coi sóc hàng hóa, ví dụ như khi người vận tải chỉ cónghĩa vụ nhận hướng dẫn từ đối tác ký hợp đồng là người mua.
Lợi ích được bảo hiểm trong điều kiện FOB

Activity (42)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
Abby Tran liked this
Hoang Tuan Minh liked this
Truong Ngan liked this
maithanh1489 liked this
maithanh1489 liked this
Ducba Van liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->