Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
34Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Bài giảng-Bai viet Diện Chẩn điều khiển liệu pháp

Bài giảng-Bai viet Diện Chẩn điều khiển liệu pháp

Ratings: (0)|Views: 2,567 |Likes:
Published by thoinguyenxuan

More info:

Published by: thoinguyenxuan on Sep 12, 2010
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/29/2013

pdf

text

original

 
Bài giảng Diện Chẩn điều khiển liệu pháp
 
Bài 1: MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ
VINA THERAPY
PHÉP CHỮA BỆNH THEO LỐI VIỆT NAM
 
Phải chăng các nước trên thế giới đang cókhuynh hướng tìm về những vấn đề mới lạ nóilên được bản sắc dân tộc mình. Phải chăng đó lànhững chỗ dựa vững chắc để cho một dân tộc cóthể tiến lên? Và đồng thời cũng nói lên sự hiệndiện của mình trong cộng đồng Thế giới.
Tại sao Trung Quốc thành lập những trung tâmchữa bệnh ở nƣớc ngoài với tên gọi làSINOTHERAPY. Tại sao Nhật Bản lại viết sách vềhƣớng dẫn SHIATSU (bấm huyệt) với tiêu đề là
LE MASSAGE JAPONNAIS (JAPANESE
MASSAGE) thì tại sao không thể và không có cáigọi là VINATHERAPY cho Việt Nam? Vẫn biết yhọc, khoa học là vốn quý của loài ngƣời, là tài sảnchung của nhân loại, là luôn luôn kế thừa và họchỏi lẫn nhau. Nhƣng tại sao các nƣớc nói trên (và
lẽ nhiều nƣớc khác mà chúng ta chƣa đƣợc biết) lại phải làm nhƣ trên? Phải chăng có gì độc đáohay vì tự hào dân tộc mà họ làm thế? Và nếu làm theo thì có gì sai, có gì xấu mà không
thấy
ta
hƣởng ứng? Hay vì tại chúng ta không có cái gì riêng biệt và độc đáo, cho nên chúng ta không thể nóiđƣợc nhƣ họ ? CENTER
 
Lịch sử nƣớc ta hiện nay cũng nhƣ trƣớc kia có nhiều nhân tài về y học với những tên tuổi mà có lẽkhông phải chỉ những ngƣời trong ngành Y mới biết nhƣ Tuệ Tĩnh, Nguyễn Đại Năng, Hải ThƣợngLãn Ông,…hay thời gian gần đây nhƣ BS Phạm Ngọc Thạch, BS Đặng Văn Ngữ, GS Tôn Thất Tùng,BS Phạm Bá Cƣ,..và nhiều vị khác. Nhƣng theo chúng tôi, bấy nhiêu vị đó chƣa phải là nhiều so vớimột dân tộc có hơn 60 triệu ngƣời và 4000 năm văn hiến. Dân tộc Việt Nam vốn
có óc quan sát tinh
tế, nhạy cảm và có năng khiếu về Y học, ngoài ra vì điều kiện địa lý và xã hội đặc biệt nên có nhiềubệnh tật xảy ra, do đó thầy thuốc Việt Nam có điều bkiện trở nên giỏi giang, có nhiều kinh nghiệm trịbệnh. Do đó, theo chúng tôi, chúng ta có điều kiện để có những sáng tạo độc đáo về Y học để tiến tớihình thành TRƢỜNG PHÁI Y HỌC VIỆT NAM nếu chúng ta DÁM TỰ TIN và có Ý HƢỚNG CÙNGQUYẾT TÂM XÂY DỰNG MỘT TRƢỜNG PHÁI Y HỌC MANG SẮC THÁI VIỆT NAM.
 
Y học là một tài sản chung của nhân loại, nhƣng trong cái chung bao giờ cũng có cái riêng. Và cáiđáng sợ nhất là THA HÓA
-
 ĐỒNG HÓA
-
VONG THÂN mà khởi đầu là sự NÓI THEO NGƢỜI, LÀMTHEO NGƢỜI, NGHĨ THEO NGƢỜI. Nói tóm lại, không có gì của riêng mình cả. Một điều nhƣ thếtheo tôi là đáng buồn, và nhất là không có gì để đóng góp vào nền văn minh, tiến bộ chung của nhânloại cả.
 
Trở lại vấn đề đặt ra lúc đầu, cái gọi chung là
VINATHERAPY
 
là gì? Nhƣ thế nào mới gọi là
VINATHERAPY
? Phải chăng những phƣơng pháp Y học cổ truyền đang sử dụng và thừa hƣởng
kh
ông phải là
VINATHERAPY
 
hay sao mà còn đề xƣớng cái mới? Tất nhiên, khi chúng tôi đề xƣớngnhƣ vậy là phải có lý do nào đó. Có lẽ chúng ta phải hết sức vô tƣ, khách quan để xem lại toàn bộ vốnliếng Y học của ta, từ sách vở kinh điển cho đến các phƣơng pháp chẩn đoán và điều trị lâm sàng, cóbao nhiêu phần trăm ngƣời (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp, Mỹ,..) và bao nhiêu là của mình (tứclà không tìm thấy ở bất kỳ dân tộc nào khác)? Hẳn ai cũng thấy rằng ta chịu ảnh hƣởng nặng nề củangƣời vô cùng, không chỉ 
 
ở lĩnh vực Y học hiện đại mà ngay cả lĩnh vực Y học dân tộc cổ truyền cũngvậy. Cho nên một lúc nào đó, chợt nghĩ lại hay có ngƣời ngoại quốc hỏi đâu là nền Y học mang nặngbản sắc độc đáo của dân tộc, cái gọi là riêng của Việt Nam thì quả là lúng túng khi trả lời (họa chăngchỉ có thuốc nam và một số thủ thuật trị bệnh có tính sáng tạo). Vì ta cũng có chung ông tổ Hippocratecủa Tây Y và Hoàng Đế, Thần Nông nhƣ Đông Y. Chƣa kể đến sách vở và cách làm cũng tƣơng tự
 
nhƣ cách làm của các Thầy thuuốc Đông và Tây Y. Phải chăng đó là thân phận bắt buộc của mộtnƣớc tiểu nhƣợc đứng cạnh một nƣớc khổng lồ về mọi phƣơng diện? Chúng tôi không nghĩ nhƣ thế.Một nƣớc dù nhỏ đến đâu vẫn có nét độc đáo của nó má các nƣớc khác lớn mạnh hơn cũng khôngthể nào có đƣợc. Đó chính là thế mạnh của nƣớc nhỏ đó vậy.
 
 Đến đây có lẽ các bạn đã hiểu: muốn thế giới gọi là
VINATHERAPY
 
thì phải nhƣ thế nào? Tôi nghĩ rằng dân tộc ta, trí thức ta nhất định sẽ tìm ra cái gọi là
VINATHERAPY
đúng nghĩa của nó. Vì rằngchúng ta có đủ điều kiện để làm việc đó, miễn là dám tin vào mình, dám nghĩ, dám làm và quyết tâmlàm;đồng thời lãnh đạo ngành phải hết sức quan tân giúp đỡ để nhân tài phát triển về số lƣợng cũngnhƣ chất lƣợng.
 
Theo nhận định trên về
VINATHERAPY
, chúng tôi thấy hiện nay nƣớc ta đã có thuốc Nam và một sốphƣơng pháp gọi là Y học Dân gian nhƣ cạo gió, chích lể (Ông Oắng) hay bấm huyệt (Bà Hùynh ThịLịch), đốt bấc, biêm khoa, chữa mẹo,…(có thể còn nhiều liệu pháp nữa mà chúng tôi chƣa biết đƣợc)là đích thực của dân tộc ta. Nhƣng phần lớn những liệu pháp vừa kể hiện nay chƣa đủ sức và tầm cỡđể phát triển ra các nƣớc khác vì thiếu tính hệ thống và lý luận ở trình độ cao. Chúng tôi muốn nói ởđây về một
VINATHERAPY
 
với tính cách nhƣ một trƣờng phái Y học độc đáoViệt Nam so với các
t
rƣờng phái khác của Thế giới (nhƣ Sinotherapy của Trung Quốc với các phƣơng pháp chữa bệnhđặc thù của họ nhƣ thuốc Bắc, Thái Cực Quyền, Châm cứu…tức là nó phải có tính hệ thống, tính lýluận mang sắc thái riêng của Việt Nam và ở trình độ cao tầm cở Thế giới và mang tính chất Quốc tế,chứ không phải chỉ là một số kinh nghiệm điều trị hay thủ thuật mang tính chất địa phƣơng khó ápdụng ở các nƣớc khác nhau mà không có hệ thống lý luận đồng bộ và xuyên suốt.
 
Với ý thức nhƣ vậy, trong giai đoạn 13 năm qua (1
980-
1993), chúng tôi đã cố gắng hoàn thành vàgiới thiệu phổ biến trong và ngoài nƣớc phƣơng pháp
DIỆN CHẨN
-
ĐIỀU
 
KHIỂN LIỆU PHÁP
, gọi tắt
DIỆN CHẨN
hay
FACY
 
(chữ viết tắt của
FACE DIAGNOSIS-CYBERNETIC THERAPY
) cũng nhƣphƣơng pháp Am Dƣơng Khí Công (là một phƣơng pháp thở mới do tôi nghiên cứu sáng tạo từ năm1976 nhằm điều hòa hai khí Am Dƣơng trong cơ thể, vừa có tính chất dƣỡng sinh, vừa để phòng vàtrị một số bệnh do mất quân bình Am Dƣơng gây ra) và Am Thực Liệu Pháp (là một phƣơng phápchữa bệnh bằng cách ăn uống đúng phép).
 
Chúng tôi cho rng đã đn lúc Việt Nam phải đóng góp phn mình cho Th giới. Tôi nghĩ: Dân tộc tahoàn toàn có đủ khả năng và tiềm năng đó, nhất là ỡ lĩnh vực Y học và Khoa học. Làm đƣợc việc nàylà thể hiện rõ lòng yêu nƣớc của mỗi cá nhân chúng ta.
 
Bài 2 
:
Vài nét về lịch sử của môn Diện Chẩn
-
Điều khiển liệu pháp (Facy)
 
Bùi Quốc Châu ( 17 tháng 8 năm 1991)
 
Trong lịch sử Y học thế giới đã có một số phƣơng pháp tƣơng tự với Diện Chẩn
-
 Điều khiển liệu
pháp (Facy)
nếu xét qua về mặt hình thức
 
Vì nó dựa trên nguyên tắc phóng chiếu (Projection)
- trong khi FACY
 
dựa trên nguyên tắc Phản Chiếu(REFLECTION) là một hình thức tƣơng tự phóng chiếu nhƣng đa chiều (MULTI
-DIRECTION) trong
khi Phản Chiếu chỉ có một chiều trên một mặt phẳng duy nhất. Phản Chiếu (reflection) có thể gọii làPhản Chiếu nhiều chiều và đa hệ (multisystem). do đó nó cũng khác phàn xạ cổ điển là phản xạ đơnhệ.
 
Các phƣơng pháp đó là Vọng chẩn của Đông Y cổ truyền (Medecine Traditionnelle Orientale). Nhãnchẩn (L’Iriscopie) của Ignas Peczely (1880), phƣơng pháp kích thích vùng bên trong mũi để trị bệnh(Réflexothérapie endonassale) của Bonnier (1930), cũng nhƣ của Asuero (1931), Diện châm(Faciopuncture), T châm (Nasopuncture) của Trung Y (Médecine Chinoise), Nhĩ châm(Ariculothérapie) của P.Nogier, Thủ châm (Manophuncture) và túc châm (Podopuncture). Mỗi phƣơngpháp trên đều có hình chiếu hoặc những điểm tƣơng ứng với các bộ phận trên cơ thể, dùng để chẩnđoán hay trị bệnh.
 
Tuy nhiên DC-
 ĐKLP (Gọi tắt là Diện
 
Chẩn hay FACY mà ở Pháp hiện nay gọi tắt là Phản xạ học vùngmặt (Réflexologie faciale) hoàn toàn không phải là Vọng chẩn hay Diện chẩn của Trung Y vừa nêu
 
trên. Trƣớc hết vì đây là một phƣơng pháp do ngƣời Việt Nam tìm ra và xây dựng (ông Bùi Quốc
Châu)
chỉ cách đấy 13 năm (từ đầu năm 1980 tại TPHCM). Kế đến vì nó không bắt nguồn hay thừakế từ Vọng chẩn, Diện châm hay T châm của Trung Y cũng nhƣ châm cứu nói chung mà trái lại nócó xuất phát điểm từ những kinh nghiệm dân gian Việt Nam, từ nền văn hóa triết học đông phƣơng,trong đó có ngôn ngữ Việt Nam, văn chƣơng bình dân Việt Nam đƣợc thể hiện qua ca dao, tục ngữphƣơng ngôn và những câu nói dung tục (vulgaire) trong dân gian.
 
Thật vậy, chính từ những phát xuất kể trên mà phƣơng pháp DIỆN CHẨN (FACY)
 
đƣợc hình thành.Việt Nam 4000 năm văn hiến, với những kinh nghiệm dân gian phong phú thuộc nhiều lĩnh vực, đƣợcthể hiện dƣới dạng văn chƣơng bình dân nhƣ ca dao, tục ngữ, những câu chuyện tiếu lâm hoặc trongvăn chƣơng bác học, ngôn ngữ học. Ngoài ra nó
 
còn đƣợc thể hiện dƣới dạng kinh nghiệm của quầnchúng trên một số lĩnh vực nào đó,
trong đó Y học Dân gian
.
Ví dụ:
 
Từ nhỏ tôi đã thấy ngƣời ta ―bắtgió‖ hoặc dán hai lát gừng ở hai bên thái dƣơng cho những ngƣời bị nhức đầu ,‖cạo gió‖ cho nhữngngƣời bị cảm, dán đuôi lá trầu vào Ấn đƣờng (giữa hai đầu chân mày) cho em bé bị nấc cụt, giật tócmai cho ngƣời bị xỉu tỉnh dậy (hoặc tạt nƣớc lạnh vô mặt họ)… Khi lớn lên, tôi cũng thƣờng nghehoặc đọc thấy những câu tục ngữ nhƣ ―Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo cỗ lòng mớingon‖, hay là ―Trông mặt biết ngƣời‖ hoặc dung tục hơn ―Mồm sao ngao vậy‖, ―Đa mi tất đa mao‖(Chính những câu chuyện này là cơ sở để tôi khám phá và xây dựng nên đồ hình phản chiếu bộ phậnsinh khoa). Tôi cũng đƣợc biết trong dân chúng có ngƣời chỉ cần nhìn vào nốt ruồi hay tàn nhang trênmặt của một ngƣời đó,họ cũng có thể đoán biết đƣợc ngƣời kia có một nốt ruồi hay tàn nhang ở chổnào trong cơ thể. Ngoài ra còn có những ngƣời có tài xem tƣớng mặt (
Diện, tướng 
) có thể nhìn mặtmột ngƣời mà đoán biết đƣợc vận hạn tốt xấu hay bệnh tật sắp xảy ra. Đôi khi họ chỉ cần nhìn vào
Ngọa
 
tàm 
 
(Mí mắt dƣới) mà đoán biết đƣợc tình trạng con cái của ngƣời khác. Điều này đã giúp đỡtôi rất nhiều trong việc tìm ra và xây dựng Đồ hình buồng trứng (noãn sào) trên mặt một cách nhanhchóng và chính xác. Đối với tôi, những điều kể trên vô cùng quý báu. Nó chính là Chất xám của quầnchúng. Ông cha ta truyềnlại từ đời này sang đời khác
mà tôi chỉ là người biết kế thừa và khai thác vậndụng được TÚI KHÔN MUÔN ĐỜI này để xây dựng được phương pháp DIỆN CHẨN (FACY)
ngày
nay có ích lợi cho nhiều ngƣời, cho nên tôi rất trân trọng và yêu mến TÖI KHÔN đó.
 
Sau này, tôi có nghiên cứu thêm về Tây Y thì đƣợc biết thêm nhiều điều rất hay, phù hợp với kinhnghiệm dân gian và tƣớng học. Thí dụ nhƣ: Hai quầng mắt thâm ở các phụ nữ có vấn đề ở buồngtrứng, hai má đỏ ở bệnh nhân lao phổi, bệnh yếu sinh lý thƣờng gặp ở ngƣời bị viêm mũi dịứng,….Nhà bác học nổi tiếng ngƣời Pháp, Alexis Carrel cũng giúp tôi rất nhiều khi ông viết trong tácphẩm của ông: ―L’homme, cet inconnu‖…và ―Chaque homme porte sur sa face la description de soncorps et son âme‖. Phải chăng Đông Tây đã găp nhau ở chỗ này?‖
 
Những đềiu vừa kể trên đã gơi ý cho tôi suynghĩ nhiều về vai trò quan trọng của bộ mắt cũng nhƣ sựliên quan giữa bộ mặt và cơ thể con ngƣời. Rồi nhờ những kiến thức Đông Y.Châm cứu (trong đóphải kể đến công trình của các cụ Tuệ Tĩnh, Hải Thƣợng Lãn Ông, Nguyễn Đại Năng) và Tây y, tôiđƣợc biết một cách rõ ràng và khoa học hơn những mối liên hệ bộ mặt và cơ thể, nhƣng phải thật tìnhmà nói, chính nhờ Đồ hìnhbào thai lộn ngƣợc trên loa tai của Nhĩ châm mà tôi áp dụng lúc bấy giờ đãgợi ý cho tôi cố gắng tìm ra đồ hình tƣơng tự nhƣ thế ở trên mặt (Về điều này, tôi phải đặc biệt cảmơn bác sỹ
P.NOGIER)
 
Từ đó với niềm tin tƣởng và quyết tâm, cộng với môi trƣờng rất tốt cho việc nghiên cứu(nơi tôi đanglàm việc lúc bấy giờ là Trung tâm cai nghiện Ma Túy ở Bình Triệu (Thủ Đức) nay gọi là Trƣờng Xâydựng lao động Thanh Niên mới, nơi thƣờng xuyên có hàng ngàn bệnh nhân nghiện ma túy với đủ loạibệnh tật) đã giúp tôi có dịp quan sát các dấu vết bất thƣờng trên gƣơng mặt của họ cũng nhƣ có điềukiện châm từng mũi kim trên các huyệt ở MẶT với từng bộ phận của cơ thể, đồng thời để xác minhcho các giả thiết của mình về sau này.
 
Với sự say mê, kiên trì và làm việc nghiêm túc qua thời gian dần dà tôi phát hiện ra những mối quanhệ giữa những điểm trên MẶT và các khu vực với toàn thân. Nhƣng có lẽ điều đặc biệt nói đến đây là
tôi nghiên cứu khám phá ra những bí ẩn của BỘ MẮT theo hướng khác với các tác giả có những công trình tương tự trước đây (Nhĩ châm, Đầu châm, Thủ châm,Túc châm).
 

Activity (34)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
md_corona62 liked this
Cold Wind liked this
Cold Wind liked this
Cold Wind liked this
Minh Thảo liked this
Tung Tăng liked this
Thanh nga liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->