Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
18Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Ratings: (0)|Views: 3,677 |Likes:
Published by Keolac Minh Hai
các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và vai trò của chúng với tăng trưởng kinh tế.
các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và vai trò của chúng với tăng trưởng kinh tế.

More info:

Published by: Keolac Minh Hai on Nov 28, 2010
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/04/2013

pdf

text

original

 
 Phần 1:“Mục tiêu” 
tăng trưởng kinh tế :
Tăng trưởng Kinh Tế là một mục tiêu quan trọng . Tăng trưởng Kinh Tế cao , tăng năng suất laođộng , nâng cao mức sống , khả năng phát triển ở nước ngoài , sự ổn định chi phí và giá cả là cácmục tiêu kinh tế của chính phủ các nước , là mục tiêu chính sách của mỗi quốc gia.-Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện phúc lợi xã hộiTăng trưởng kinh tế cực kỳ quan trọng bởi vì điều quan trọng cuối cùng của nền kinh tếchung quy lại chính là khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người. Nền kinh tế “thành công”nhất: là nền kinh tế đem đến cho người dân của mình mức phúc lợi cao nhất hay là nền kinh tếcải thiện (làm tăng) phúc lợi ở tốc độnhanh nhất; nhưng không thể phủ định một điều rằng sựthành công của một nền kinh tế bằng cách này hay cách khác có quan hệ trực tiếp đến phúc lợicon người. Dĩ nhiên, Adam Smith đã chỉ ra điều này ngay từ năm 1776 với việc xuất bản quyển
Của cải của các Quốc gia
.12 Ông ta khẳng định rằng của cải của một quốc gia được xác địnhkhông phải bằng lượng vàng trong ngân khố quốc gia, quy mô của hải quân và lục quân, hoặc sựthành công của một số ngành công nghiệp của đất nước mà được xác định bằng lượnghàng hóa và dịch vụ mà toàn bộ dân số của quốc gia đó có thể có được. Nói cách khác,“của cải của một quốc gia” là mức sống mà các cá nhân sinh sống tại nước đó được thụhưởng. Nền kinh tế vận hành tốt nhất là nền kinh tế cung cấp mức phúc lợi lớn nhất chonhiều người nhất. Tăng trưởng kinh tế chỉ có ý nghĩa với tư cách là một khái niệm mô tảsự thịnh vượng của các cá nhân. _ Tăng trưởng KT tạo điều kiện nâng cao mức sống và đẩy mạnh an ninh quốc gia.Tăng trưởngkinh tế hàm ý là tăng tổng sản phẩm quốc dân thực tế (GNP thực tế ). Tổng sản phẩm quốc dânlà thước đo cơ bản hoạt động của nên KT. _ Kích thích kinh doanh táo bạo , khuyến khích sự đổi mới và mang lại sự khích lệ thường xuyênđối với hiệu quả kỹ thuật và quản lý _ Nền Kinh Tế đang tăng trưởng tạo thuận lợi cho tính năng động về mặt Kinh Tế và Xã Hội;tính năng động về mặt kinh tế bởi vì những thay đổi trong mô hình công nghiệp có thể dẫn diễnra thông qua nguồn nhân lực mới của lực lượng lao động và dòng đầu tư mới; tính năng động vềmặt Xã hội bởi vì sự mở rộng quy mô kinh tế sẽ tăng cường cơ hội cho các thành viên dám nghĩ dám làm và sang tạo trong cộng đồng. _Sự tăng trưởng tạo nguồn vốn cho cộng đồng _Làm giảm tỷ lệ thất nghiệp : khi một nền KT có tỷ lệ tăng trưởng cao thì 1 trong những nguyênnhân qua trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Như vậy, tăng trưởng nhanh thì thấtnghiệp có xu hướng giảm đi
 VD:Mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2008 do Quốc hội đề ra từ kỳ họp cuối năm trước là8,5- 9%, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phấn đấu đạt trên 9%. Chỉ số tăng trưởngGDP hiện nay rất thấp, chỉ còn 6,7% mặc dù tốc độ tăng trưởng của Việt Nam năm2007 cao nhất trong 10 năm qua. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế quý 1/2008 đãchậm lại so với tốc độ của quý 1/2007.
 
Trong mười năm gần đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá nhanh và tương đối ổn định. Tốc độtăng GDP hằng năm đạt 7,2% trong giai đoạn 2001 – 2010. GDP bình quân đầu người năm 2010ước tính khoảng 1.200 USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2000. Với mức này, Việt Nam chuyển vịtrí từ nhóm nuớc nghèo nhất sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp. Tuy nhiên cùngvới mức tăng trưởng cao là hàng loat những vấn đề khác đi kèm:
Lạm phát tăng cao:Lạm phát vượt qua mức tối đa cho phép 9% và lạm phát năm 2008tình đến nay là 22,3%. Lạm phát năm 2007 đã ở mức hai chữ số (12,63%), 3 tháng 2008tiếp tục lồng lên đến mức 9,19%, cao gấp ba lần cùng kỳ và bằng gần ba phần tư mức cảnăm 2007, đã vượt qua mức theo mục tiêu đã đề ra cho cả năm 2008; nhập siêu gia tăngcả về kim ngạch tuyệt đối (3.366 triệu USD so với 1.933 triệu USD), cả về tỷ lệ nhập siêuso với xuất khẩu (56,5% so với 18,2%)...
Đồng tiền mất giá:+Kể từ tháng 3/2008, tiền đồng đã giảm 23,3% so với USD. Trong năm 2010, Ngân hàng Nhànước đã 3 lần hạ giá tiền đồng, lần gần nhất là 18/08/2010 (2,1%).+Tỷ giá USD/VND chính thức đã luôn ở mức kịch trần từ đó đến nay. Trong khi đó, tỷ giágiao dịch USD/VND ngoài chợ đen đã vượt mức 20.000 đ/VND. SBV vẫn đang chịu áp lực lớntừ phía thị trường trong việc điều chỉnh giá tiền đồng.Trên thực tế, tiền đồng đã liên tục bị mất giá trong những năm gần đây: 9,27% năm 2008,5,70% năm 2009 và 5,51% năm 2010 (tính từ đầu năm đến nay).
è
Điều đó cho thấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng. Nếu một quốc gia có mụctiêu tăng trưởng phù hợp thì sẽ tăng trưởng bền vững và có thể hạn chế được những rủi ro haynhững mặt trái của tăng trưởng kinh tế. Còn nếu như đặt mục tiêu quá cao hoặc không phù hợpvới tình hình kinh tế của mình thì rất dễ dẫn tới nguy cơ bị suy thoái và tụt hậu.Vào những năm 1970, mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã bị chỉ trích. Sự chỉ trích có 2 cơ sở chủyếu. Thứ nhất, người ta nói rằng tăng trưởng kinh tế lien tục sẽ khiens cho tình trạng ô nhiễmmôi tường ngày càng trầm trọng và sụ phá hủy môi trường sinh thái khoog thể sửa chữa được.Thứ 2, người ta cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến sự suy yếu của “ các nguồn lực kinh tếkhông thể tái tạo”. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đến nay, do tiến bộ công nghệ đã chứngtỏ rằng sự lo ngại trên là không cần thiết vì con người hoàn toàn có thể khắc phục những điều đó.
 Phần 2:“Vai trò” 
của năng suất đối với tăng trưởng Kinh Tế
:
1. Năng suất – Lịch sử phát triển
Vào năm 1776, nhà kinh tế học người Anh Adam Smith, trong cuốn sách “Sự thịnh vượng củamột quốc gia” đã cho rằng cải tiến năng suất có thể đạt được thông qua “Sự phân chia laođộng”, bằng việc chuyên môn hoá công nhân, mỗi người làm một công việc khác nhau vớicác chức năng khác nhau trong một đầu mối công việc tổng thể sẽ đem lại hiệu quả hơn làviệc để một người làm toàn bộ các công đoạn từ đầu đến cuối. Adam Smith nhận thấy rằngcách này có thể khiến cho người công nhân trở nên thành thạo hơn trong công việc củamình, dẫn đến hiệu quả làm việc cao hơn. Lợi nhuận có được từ việc thay đổi những côngđoạn trong hệ thống dây chuyền đã được thể hiện rõ ràng trên thực tế bằng sự cải tiến dây
 
chuyền sản suất của Henry Ford. Đây có thể coi là những đóng góp tiên phong trong nhậnthức về năng suất.Đầu thế kỷ 19, Charles Babbage đã phát triển và ứng dụng nhiều triết lý và định đề củaAdam Smith. Ông cho rằng tổng chi phí cho một sản phẩm có thể được giảm xuống bằngviệc thuê mướn lao động với các chuyên môn khác nhau và trả tiền công cho họ theo taynghề của từng người. Căn cứ vào đó người ta có thể nhận thấy mối quan hệ cơ bản giữanăng suất và chi phí. Vào đầu thế kỷ 20, Fredick Winslow Taylor đã nghiên cứu các hoạtđộng hệ thống ở mức độ vi mô: công việc của người công nhân dưới các phân xưởng sảnxuất, những phương pháp được ứng dụng và cách trả công dựa trên năng suất. Ông phânbiệt giữa trách nhiệm của người quản lý với trách nhiệm của người công nhân, đồng thờithừa nhận việc nuôi dưỡng tinh thần cộng tác giữa nhà quản lý và người lao động sẽ tácđộng tới năng suất. Taylor cho rằng nhà quản lý phải có trách nhiệm hoạch định, định hướngvà tổ chức sắp xếp công việc, người công nhân có nhiệm vụ thực hiện những công việc đượcchỉ định, từ đó ông đề xuất ra môn “Khoa học Quản lý” và ứng dụng các phương pháp khoahọc vào những hoạt động trong khu vực sản xuất và quá trình quản lý dựa trên việc quansát, cải tiến các phương pháp làm việc, phân tích và đo lường kết quả công việc, có nhữngchế độ khen thưởng thích hợp.Những người theo quan điểm triết lý của Taylor đã phát triển và củng cố thêm tư tưởng củaông. Henry Lawrance Gantt, người xây dựng lên “Biểu đồ Gantt” nổi tiếng, đã thiên về việckhen thưởng hơn là tiền công để thúc đẩy tinh thần làm việc. Vào những năm 1930, EltonMayo và các cộng sự của mình đã tiến hành nghiên cứu ở một nhà máy sản xuất thuộc côngty Điện Tây Đức, kết quả là sự nhận biết yếu tố hành vi tác động lớn tới năng suất và nhữngnhân tố xã hội, tâm lý dẫn đến những thay đổi trong thái độ quản lý: tôn trọng hoạt độnghoạch định công việc và huy động nguồn nhân lực.Cùng với sự ra đời của sản xuất hàng loạt vào cuối những năm 1940, định hướng vào ngườitiêu dùng được hiểu như sự thoả mãn của khách hàng và khả năng sẵn sàng đáp ứng cácyêu cầu ngày càng đa dạng. Chính điều này đã cải thiện mức sống và phát triển nền kinh tếcủa các quốc gia. Để cạnh tranh, các doanh nghiệp không ngừng đổi mới sản phẩm và quátrình, qua đó đem lại cho người tiêu dùng sự đa dạng hơn về chủng loại của hàng hoá vớichất lượng cao hơn ở mức giá thấp hơn, từ đó, dẫn tới một xu hướng cải tiến năng suất vàchất lượng. Trong những giai đoạn đầu, năng suất và chất lượng được xem như những hoạtđộng cơ bản nhằm xây dựng và củng cố hoạt động sản xuất. Ngày nay năng suất và chấtlượng được hiểu như những yếu tố quan trọng luôn song hành và gắn kết với nhau.Cùng với sự phát triển của điện tử và máy tính, người ta có thể thấy được những tiến bộđáng kể trong việc nâng cao năng suất các hoạt động sản xuất và quá trình ra quyết định.Rô-bốt và máy vi tính đã làm thay đổi viễn cảnh và thực tế của hoạt động quản lý trongnhiều lĩnh vực khác nhau. Máy tính kiểm soát các thiết bị trong công nghiệp đã giúp các tậpđoàn trở nên linh hoạt hơn khi cho ra đời những sản phẩm mới. Những đổi mới này đã đónggóp không ngừng trong lĩnh vực chất lượng và năng suất, tận dụng rối đa nguồn lực về conngười, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị và các nguồn lực khác.
2. Khái niệm năng suất
 Theo khái niệm năng suất cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệusuất sử dụng các nguồn lực. Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong một bối cảnh kinh tế cụthể, nên trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọngnhất. Ở giai đoạn này, người ta thường hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động.Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũngđược xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của nótrong doanh nghiệp. Quan điểm này đã thúc đẩy việc phát triển các kỹ thuật nhằm giảm bớt

Activity (18)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
Minh Nguyen liked this
Nguyen Thanh Tam liked this
Vy Nguyen liked this
Neo Nguyen liked this
Nai Truong liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->