/  28
 
BÀN THÊM VỀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAMTS. Nguyễn Thị HườngTrong những năm gần đây, nhất là từ năm 2007 đến nay, khi lạm phátở nước ta tăng đột biến, đã có rất nhiều bài viết đề cập vấn đề này. Về cơ  bản, với nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau, các tác giả đã phântích tương đối đầy đủ nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam. Trong bàiviết này, chúng tôi chỉ muốn bổ sung thêm và nhấn mạnh hơn một số nguyênnhân cần đặc biệt lưu ý trong điều kiện của nước ta hiện nay.
Một là,
sự tăng lên liên tục của tổng cung và tổng cầu trong dài hạntạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời đã kéo theo sự tăng lênkhông ngừng trong mức giá. Mặt khác, do năng lực sản xuất (tổng cung)tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của tổng cầu nên đã đẩy mức giá tăng caohơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng kinh tế .Có thể thể hiện xu hướng này bằng Biểu đồ 1.Biểu đồ 1
 
PP
2
P
3
P
1
Nùm 1996
 
Nùm 2007
 
GDP
 
AS
 
AS
 
E
1
E
3
E
2
AS
 
AD
2
AD
1
Dõch chuyïí n cuãa töí ng cung vtöí ng cêìu trong daâi haån
 
Trong dài hạn, đường tổng cung dịch chuyển sang phải khi năng lựcsản xuất tăng lên nhờ các yếu tố nguồn lực đầu vào tăng. Ở Việt Nam, cácnguồn lực này tăng rất nhanh, đặc biệt là nguồn vốn (năm 1996 mới chỉ đạt76,450 nghìn tỷ đồng, đến năm 2006, đã tăng lên đến 398,900 nghìn tỷ đồng(tăng hơn 5 lần) và lao động (năm 1996, số lao động thường xuyên có việclàm là 33,978 triệu người, đến năm 2006, đạt 42,542 triệu người), nhữngnăm gần đây, mỗi năm tăng thêm 1,5 triệu việc làm. Đường tổng cầu cũngdịch chuyển sang phải qua các năm vì: tiêu dùng hộ gia đình (C) tăng (năm1996 là 202,509 nghìn tỷ đồng; năm 2006, đạt 679,706 nghìn tỷ đồng; năm
 
2007, đạt 726,1 nghìn tỉ đồng, tăng hơn 3 lần); đầu tư (I) tăng nhanh (như đãđề cập ở trên), chi tiêu chính phủ (G) tăng với tốc độ rất cao (từ 22,722nghìn tỷ đồng năm 1996 lên 319,110 nghìn tỷ đồng năm 2006 và 368.340nghìn tỉ đồng vào năm 2007, tăng hơn 13 lần) (Tác giả tính toán dựa vào sốliệu thống kê), xuất khẩu ròng (NX) mức độ thâm hụt trong một số năm gầnđây có tăng nhưng chưa tác động đáng kể đến việc làm giảm tổng cầu của cảnền kinh tế. Như vậy, xét theo quy luật của nền kinh tế thị trường thì lạm phát của những năm gần đây tăng cao có nguyên nhân tất yếu là do tích luỹmức giá từ quá trình tăng trưởng liên tục trong nhiều năm qua.Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là, do năng lực sản xuất của nước tatăng chậm hơn tốc độ tăng của tổng cầu (hay nói cách khác là cung thay đổikhông kịp so với cầu) đã đẩy mức giá tăng nhanh hơn đáng kể so với tốc độtăng trưởng của nền kinh tế.Điều này được thể hiện trên biểu đồ đã nêu: Nếu năng lực sản xuấtcủa nước ta tăng nhanh hơn mức tăng thực tế trong những năm qua thìđường tổng cung AS1 (tổng cung thực tế của năm 1996) chuyển dịch mạnhhơn sang bên phải tới vị trí AS3 (giả sử đó là năm 2007) thay vì vị trí AS2(thực tế của năm 2007). Tại điểm cân bằng E3 (giao điểm AD2 cắt AS3) vớimức giá P3 < P2 mức giá thực tế của nước ta năm 2007.Điều đặt ra là, nhân tố nào quyết định năng lực sản xuất của nền kinhtế? Các mô hình định lượng đều đã đưa ra kết luận, trong dài hạn, năng lựcsản xuất do các yếu tố nguồn lực đầu vào là vốn, lao động, tài nguyên thiênnhiên và công nghệ quy định, trong đó công nghệ đóng vai trò quyết địnhnhất.Vận dụng lý thuyết trên rất phù hợp cho việc lý giải nền kinh tế nướcta trong thời gian qua: do công nghệ sản xuất của Việt Nam xuất phát từtrình độ thấp và rất chậm được cải thiện, hầu hết công nghệ sản xuất của cácdoanh nghiệp hiện nay ở mức trung bình và lạc hậu so với khu vực và thếgiới (chỉ có khoảng 20% đạt trình độ tiên tiến) nên năng lực sản xuất củachúng ta còn rất hạn chế, đặc biệt là các ngành sản xuất cung cấp sản phẩmtrung gian cho nền kinh tế. Điều này đã dẫn đến tổng cung thiếu hụt đáng kểso với tổng cầu và đã đẩy mức giá lên cao hơn hơn đáng kể so với tốc độtăng của nền kinh tế. Như vậy, lạm phát của nước ta trong thời gian gần đây tăng đột biếnkhông chỉ là hệ quả tích luỹ của quá tăng trưởng dài hạn mà còn là kết quảcủa năng lực sản xuất yếu kém do tích tụ của trình độ công nghệ thấp vàchậm được cải thiện trong nhiều năm qua.
 Hai là,
do nhu cầu nhập khẩu lớn và ngày càng tăng trong khi giá cảcác mặt hàng ngày tăng nhanh nên nước ta đã nhập khẩu cả tỷ lệ lạm phát từcác nước khác, đặc biệt là từ Trung Quốc.
 
 Năng lực sản xuất tăng chậm hơn so với nhu cầu, đặc biệt là nhu cầu về cácđầu vào của sản xuất như thép, xăng dầu, phân bón, nguyên liệu phụ kiệncủa nhiều ngành, nên chúng ta đã phải nhập khẩu rất lớn và với tốc độ ngàycàng cao (trung bình trong thời gian dài, đạt trên 20%/năm và 3 tháng đầunăm 2008, tăng trên 40% so với đầu năm 2007), thâm hụt cán cân thươngmại tăng nhanh (3 tháng đầu năm 2008, nhập siêu lên tới trên 7 tỷ USD, caogần 1,4 lần so với cả năm 2005). Với mức giá của hầu hết các mặt hàngnhập khẩu, trong mấy năm gần đây, đã tăng đột biến nên đã gây tác động rấtlớn đến việc tăng lên trong mặt bằng giá cả ở Việt Nam. Đặc biệt, nước tanhập khẩu hàng hoá từ thị trường Trung Quốc với một tỷ trọng đáng kể,trong khi nước này cũng đang trong tình trạng lạm phát cao, dẫn đến Việt Nam đã nhập khẩu thêm cả lạm phát của Trung Quốc.Từ thực tế trên cho thấy, với tốc độ mở cửa nền kinh tế như Việt Nam,nếu sản xuất trong nước tiếp tục phụ thuộc lớn vào nhập khẩu thì khả năngkiềm chế lạm phát sẽ hết sức khó khăn trước những biến động bất thườngtrên thị trường thế giới.
 Ba là,
do những bất cập trong điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gianqua không chỉ làm giảm hiệu quả của chính sách cắt giảm lạm phát mà cònkích thích kỳ vọng lạm phát cao trong dân chúng.Do thiếu sự phối hợp chặt chẽ và thiếu ăn khớp giữa chính sách tiền tệvà chính sách tài khoá đã làm suy giảm đáng kể hiệu quả kiềm chế lạm phátở nước ta. Điều này đã được nhiều bài viết đã đưa ra, chúng tôi đồng tìnhvới những phân tích đã có. Vấn đề cần phải đề cập thêm ở đây là, cách công bố và thực thi nhiều chính sách trong thời gian qua, đã có tác động kíchthích kỳ vọng lạm phát cao. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếudẫn đến xu hướng “hình thành một mặt bằng giá mới ở Việt Nam”. Tiêu biểucho tác động trên có thể kể đến chính sách tiền lương. Quan sát thực tế ở nước ta trong thời gian qua đều cho thấy: khi có nguồn tin Nhà nước sẽ điềuchỉnh tiền lương tối thiểu thì chỉ sau một thời gian rất ngắn, hầu hết giá cảhàng hoá đều tăng lên: người tiêu dùng sợ giá cả tăng nên tăng mức muahàng hoá, làm tăng thêm mất cân đối cung cầu trên thị trường, nhiều doanhnghiệp lợi dụng thực tế này, cộng thêm việc suy tính khả năng tăng giá cácđầu vào có thể xẩy ra, đã tăng giá bán ra. Đặc biệt, ở nước ta khi nhận thứccòn hạn chế, tâm lý đám đông rất phổ biến nên đã kích thích mạnh mẽ đếnthị trường và giá cả trong nền kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng,nếu như tác động của các chính sách của Nhà nước lên các chỉ số khác có độtrễ nhất định thì đối với lạm phát, phản ứng về tâm lý tăng nhanh hơn rấtnhiều.Việc điều chỉnh tiền lương danh nghĩa để góp phần cải thiện (hoặc chíít là không làm suy giảm) mức sống của người lao động là chính sách cần

Share & Embed

More from this user

Add a Comment

Characters: ...

Vu Nam Hoangleft a comment

tài sản có ngoại tệ ròng

huongmi9661678540left a comment

efblyigevibh

thank_left a comment

sao jay minh rat muon doc tai lieu nay. hic