Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Look up keyword
Like this
2Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
TMDT_B2C_B2B

TMDT_B2C_B2B

Ratings:

4.33

(3)
|Views: 709|Likes:
Published by api-3699582

More info:

Published by: api-3699582 on Oct 14, 2008
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/09/2014

pdf

text

original

 
Bàn luận sâu hơn khái niệm và mô hình kinh doanh thương mại điện tử B2C và B2B
Trần Hoài NamTrường Đại học Thương mại 
Tóm tắt
TMĐT là sự thay đổi lớn lao nhất đối với hoạt động kinh doanh nói riêng và nền kinh tế nói chung.Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh chóng này chỉ diễn ra trong 5-6 năm đầu tiên khi TMĐT mới xuấthiện. Cuộc khủng hoảng của TMĐT năm 2000-2001 trên thế giới có nhiều nguyên nhân, mà mộttrong các nguyên nhân quan trọng nhất là việc chưa hiểu rõ ý nghĩa của các thuật ngữ, cũng nhưcác mô hình kinh doanh chủ yếu trong TMĐT B2C và B2B. Bài viết này tập trung thảo luận và sosánh nội dung của 2 thuật ngữ rất cơ bản, hiện được sử dụng phổ biến song cũng dễ nhầm lẫn củaTMĐT: thuật ngữ “B2C - TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng” và “B2B - TMĐT giữadoanh nghiệp và doanh nghiệp” nhằm phân biệt và đưa ra sự khác nhau giữa loại giao dịch nàycũng như phân tích các mô hình kinh doanh chủ yếu trong TMĐT B2C và B2B.
Giới thiệu
 Nhân loại đang chứng kiến một cuộc cách mạng trong xã hội và đặc biệt là trong lĩnh vực thươngmại bởi sự bùng nổ trong lĩnh vực CNTT và kết quả là sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng củathương mại điện tử (TMĐT). Các giao dịch trên cơ sở các hoạt động thương mại như thu thậpthông tin, mua sắm, mua bán hàng hoá, môi giới, ngân hàng, kế toán, kiểm toán, đấu giá, tài chínhtín dụng, thương thảo, cộng tác, marketing, cung ứng, hợp tác, đào tạo, hội họp, lập kế hoạch, sảnxuất, phân phối, dịch vụ, bán lẻ… đang diễn ra những thay đổi nhanh chóng bởi việc ứng dụng cácCNTT mới. Và trong thời gian tới, cách thức tiến hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày củachúng ta sẽ tiếp tục thay đổi. Tất cả các doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ, đều phải đối mặt với nhữngthách thức tất yếu do sự phát triển vượt bậc của công nghệ mang lại.Đứng trước xu thế này, các nhà lãnh đạo của các tập đoàn lớn đều sớm nhận thức rằng TMĐT là sựthay đổi lớn lao nhất đối với hoạt động kinh doanh nói riêng và nền kinh tế nói chung kể từ sauCuộc cách mạng Công nghiệp (Herman, 1999). Bắt đầu xuất hiện từ năm 1995, TMĐT đã tăngtrưởng nhanh chóng với tốc độ trung bình hơn 100%/1 năm và trở thành nhân tố quan trọng hìnhthành nên thị trường điện tử số hoá. Năm 2006, theo dự đoán của các nhà phân tích, người tiêudùng trên thế giới sẽ chi khoảng 250 tỉ USD và các doanh nghiệp chi khoảng 5.4 nghìn tỉ USD đểthực hiện các giao dịch trực tuyến (Dykema, 2000; Jupiter Media Metrix, 2001).Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là, việc tăng trưởng nhanh chóng này chỉ diễn ra trong 5-6 năm đầutiên khi TMĐT mới xuất hiện. Cuộc khủng hoảng năm 2000-2001 của TMĐT trên thế giới kéo1
 
theo sự sụp đổ hàng loạt của các công ty Dot-Com khiến cả thế giới, đặc biệt là các chuyên gia, cácnhà kinh doanh TMĐT phải nhận thức và xem lại các kế hoạch kinh doanh điện tử của mình. Vàothời điểm đó, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành của IBM, ông Louis Gerstner, Jr. đã nhậnđịnh trong báo cáo thường niên năm 2000 của ông trước các cổ đông rằng: “Sự sụp đổ của cáccông ty dot-com không phải là sự thất bại của kinh doanh điện tử. Đó là việc thu hẹp con đườngđến với kinh doanh điện tử.” Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của các công ty này, songtheo các chuyên gia, một trong những lý do cơ bản đó là việc chưa hiểu rõ ý nghĩa của các thuậtngữ được sử dụng trong lĩnh vực TMĐT. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung thảoluận và so sánh nội dung của 2 thuật ngữ rất cơ bản, hiện được sử dụng phổ biến song cũng dễnhầm lẫn của TMĐT: thuật ngữ “B2C - TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng” và “B2B -TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp” nhằm phân biệt và đưa ra sự khác nhau giữa loại giaodịch này cũng như phân tích các mô hình kinh doanh chủ yếu trong TMĐT B2C và B2B. Điều nàyhy vọng sẽ giúp các doanh nghiệp liên quan đến TMĐT thoả mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn.
Định nghĩa TMĐT B2C và B2B
Theo nhận xét của nhiều nhà kinh tế, TMĐT là sự mô phỏng của thương mại truyền thống. Cácloại hình TMĐT là rất đa dạng và có nhiều cách khác nhau để phân loại các loại hình này. Tuynhiên, trong hầu hết các tài liệu, TMĐT thường được xem xét qua 2 thuật ngữ:
TMĐT giữa cácdoanh nghiệp
(doanh nghiệp với doanh nghiệp), xuất phát từ thuật ngữ “business-to-business”, viếttắt là B-to-B hay B2B (theo cách đọc đồng âm trong tiếng Anh) và
TMĐT giữa doanh nghiệp vớingười tiêu dùng 
xuất phát từ thuật ngữ “business-to-customer”, viết tắt là B-to-C hay B2C. Cách phân loại này xuất phát từ tính chất tự nhiên của quan hệ thị trường – ai bán cho ai. Từ quan điểm phân loại này, thuật ngữ TMĐT giữa các doanh nghiệp (B2B e-commerce) được định nghĩa là sựtrao đổi hàng hoá, dịch vụ hoặc thông tin giữa các tổ chức qua Internet. Các website B2B được phân thành các loại sau: các website của doanh nghiệp, các website trao đổi, mua sắm và cung ứngsản phẩm, các website tìm kiếm chuyên biệt và các website tổ chức các tiêu chuẩn thương mại công nghiệp.Thuật ngữ TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C e-commerce) được định nghĩa làviệc trao đổi sản phẩm, dịch vụ hoặc thông tin giữa các tổ chức (doanh nghiệp) và người tiêu dùngqua Internet (Cisco iQ, 2001). Như vậy, hiểu theo cách chung nhất, sự khác nhau cơ bản giữa hailoại hình TMĐT B2B và B2C đó là một loại giao dịch diễn ra với các tổ chức (doanh nghiệp) vàmột loại giao dịch diễn ra với người tiêu dùng. Tuy nhiên, định nghĩa này chưa thật thoả đáng khicần phân biệt chính xác hai loại hình giao dịch này trong trường hợp giao dịch diễn ra với các2
 
doanh nghiệp, nhưng chính các doanh nghiệp này lại đóng vai trò người tiêu dùng (vì mục đíchmua là để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của bản thân tổ chức), song họ không phải là người tiêudùng mà là các tổ chức.Do vậy, để có thể hiểu chính xác hơn về các thuật ngữ này, cần định nghĩa các thuật ngữ thứ cấp(chi tiết hơn) thuật ngữ đang sử dụng. Với cách đặt vấn đề như vậy, năm 1982, Blair đã định nghĩangười tiêu dùng (customer) là một cá nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ; Và một doanh nghiệp(business) là một cá nhân hay một công ty mua bán hàng hoá vì mục tiêu lợi nhuận. Trong nhiều tàiliệu tiếng Anh cũng như tiếng Việt, đối tượng phục vụ của một tổ chức kinh doanh đều được gọichung bằng một thuật ngữ “khách hàng” (bao gồm cả lĩnh vực kinh doanh dịch vụ như tư vấn, phápluật...); nhưng thuật ngữ người tiêu dùng (customer hay patron), theo định nghĩa của Reader’sDigest (2001) được hiểu là một cá nhân mua sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng cánhân. Theo cách định nghĩa này, nếu sử dụng thuật ngữ người tiêu dùng (consumer) có nghĩa là sản phẩm và dịch vụ mà khách hàng mua về không thể đóng vai trò là yếu tố của quá trình sản xuất đểsản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ khác phục vụ cho mục đích tiêu dùng trong tương lai.Thuật ngữ “
TMĐT giữa các doanh nghiệp
” (hay TMĐT doanh nghiệp với doanh nghiệp) là việcsử dụng các CNTT nói chung, công nghệ trên cơ sở Web nói riêng để mua, bán hoặc trao đổi thôngtin giữa hai hay nhiều doanh nghiệp. Giao dịch B2B có thể diễn ra trực tiếp giữa các doanh nghiệphoặc thông qua một đối tác thứ ba (hay một trung gian giao dịch) đóng vai trò cầu nối giữa ngườimua và người bán, đồng thời tạo điều kiện để giao dịch giữa họ diễn ra thuận lợi hơn (IBM,2001a).Tập đoàn Gartner định nghĩa TMĐT giữa các doanh nghiệp là việc bán hàng hoá và dịch vụ màtoàn bộ quá trình giao dịch này được hoàn tất qua Internet. Các giao dịch này bao gồm trao đổi dữliệu điện tử trên Internet, các giao dịch diễn ra trên thị trường điện tử, các giao dịch trên mạngngoại bộ và các hoạt động bên bán, nhưng không bao gồm các hoạt động trên các mạng dùng riêng(proprietary networks).Một nhầm lẫm khá phổ biến trong việc sử dụng hai thuật ngữ này, do thói quen sử dụng từ cấu tạo bằng cách viết tắt các chữ cái đầu, chữ “C” trong B2C thường được hiểu là chữ viết tắt của từ“customer” hay khách hàng. Để tránh sự nhầm lẫn này và để thấy rõ sự khác nhau giữa B2C vàB2B, khi mà chữ “B” thứ hai trong B2B cũng có thể là khách hàng, cần phải hiểu B2C là viết tắtcủa “business to (end) customer”, tức là khách hàng cuối cùng, và hành vi “tiêu dùng cuối cùng”nghĩa là các hàng hoá và dịch vụ được mua về không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ranhững hàng hoá và dịch vụ khác.3

Activity (2)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 thousand reads
1 hundred reads

You're Reading a Free Preview

Download
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->