Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
4Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
TAILIEUCHUAN

TAILIEUCHUAN

Ratings: (0)|Views: 200 |Likes:
Published by Trịnh Hà

More info:

Published by: Trịnh Hà on Oct 15, 2011
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/28/2014

pdf

text

original

 
CÁC NHÀ VĂN NÓI VỀ TÁC PHẨM CỦA MÌNH NHÂN VẬT A PHỦ Thứ hai, 10 Tháng 9 2007 21:35Bấy giờ đương Tết cả của người Mông trên núi. Tết không một ngày mà hàng tháng. Gặthái đã xong, trời rét, lại đợi mưa để làm mùa, thế là nghỉ ngơi, ăn chơi. Từng nhà làmtết, hôm nay cả xóm chén ở nhà này, mai nhà khác mổ lợn, tiết canh cả chậu xắn từngmiếng cứ linh đình, ăn tết lần lượt mỗi nhà một hôm cho đến hết mọi nhà. Rộn rã khắpnúi, trai gái ném pa pao – một kiểu bóng chuyền thô sơ...Câu chuyện kể lại bây giờ đã ngót năm mươi năm về trước. Mùa thu 1952,trong chiến dịch Tây Bắc, khi Nghĩa Lộ đã được giải phóng, tôi lên các khu du kích ở huyện Văn Chấn là vùng trạm Tấu, sang huyện Phù Yên là Bản Thái, khu du kích ngườiMông. Người Mông, người Dao trên dãy núi bí danh là 99 (do viết tắt bến Pắc Lừm, Pắc Ngà, hai chữ P giống con số 9) chỗ ấy bí mật qua sông Đà sang Sơn La.Bấy giờ đương Tết cả của người Mông trên núi. Tết không một ngày mà hàngtháng. Gặt hái đã xong, trời rét, lại đợi mưa để làm mùa, thế là nghỉ ngơi, ăn chơi. Từngnhà làm tết, hôm nay cả xóm chén ở nhà này, mai nhà khác mổ lợn, tiết canh cả chậuxắn từng miếng cứ linh đình, ăn tết lần lượt mỗi nhà một hôm cho đến hết mọi nhà. Rộnrã khắp núi, trai gái ném pa pao – một kiểu bóng chuyền thô sơ. Trẻ em đánh quay, conquay gỗ to bằng cái bát. Hay là đuổi bắt chim sẻ, chim sâu, con chim nhỏ bay trên bạtngàn núi đá chỉ một lúc đã mỏi cánh ngã lăn xuống, chỉ việc nhặt về nướng ăn.Ở trạm Tấu, tôi gặp A Phủ cùng vợ sắp về ăn tết bên Tà Sùa ở Phù Yên. (TiếngMông nói lơ lớ Phử tôi viết là Phủ cho dễ đọc). Tiếng Mông nhiều chữ gốc Hán. Contrai thường tên là Páo (do chữ Bảo), co gái là Mỵ hoặc Mỷ (do chữ Mỹ). Tôi đươngmuốn sang Phù Yên rồi vào các khu du kích Sơn La lên Điện Biên trên Lai Châu. Thế làtôi cùng sang Phù Yên với vợ chồng A Phủ.Từ trạm Tấu đi Tà Sùa đường núi chỉ một hai ngày. Chúng tôi đã đi lâu cả hai phiên chợ. Vì gặp nhiều nhà nương, đến nhà nương nào có người cũng nán lại ăn tết.Làng kháng chiến trên núi, cai đồn Pháp hay lùng lên đốt phá. Cho nên mỗi nhà đều làmnương bí mật trong rừng sâu. Những cái nhà nương một gian vững chãi xinh xắn, nhonhỏ như cái nhà của trẻ con chơi. Những chân cột ngoàm nâng sàn đứng con – con hổ,con gấu không trèo lên được. áp mái, kho đựng ngô. Ngoài nương trước mặt các thức ănhàng ngày. Rau cải, đậu răng ngựa, bụi chuối. Cây ớt, búi gừng, cụm hành, hẹ, lá sả…Săn con chuột, con nhím đã có bẫy, nỏ. Thịt khô phơi xếp trên sàn bếp, hiếm muối, thịtướp rễ chanh đậm mà chát. Những cái nhà nương, lều nương này đều có ở suốt truyện
Vợ chồng A Phủ.
Năm1970 tôi có dịp đi lâu vùng Luang Prabang – bên Thượng Lào, những cái nhà nươngquyến luyến tôi vẫn thấy nhiều trong tiểu thuyết
 Họ Giàng ở Phìn Sa
.A Phủ không phải là sự tích một người thật việc thật. Tất cả tai nghe mắt thấy vànhững trải biết của tôi từ những sự thật ấy tổng hợp vào sáng tạo. Dọc đường A Phủ đãkể những gian truân của vợ chồng anh và mọi sinh hoạt, khó khăn ở khu du kích đã baonăm. Tôi đã đến dự một đêm xử người bẻ trộm ngô, hệt như đám xử kiện khủng khiếpđã miêu tả trong truyện và trong phim
Vợ chồng A Phủ
mà nhà văn Kim Lân đã đóng vai pụ pạng (thằng mõ) rất xuất sắc. Chỉ có điều là người đứng ra xử kẻ trộm ngô không
 
 phải là thống lý Pá Tra mà là cán bộ ta. Mới giải phóng, địa phương có chủ trương giữmọi phong tục tập quán không phân biệt là tốt hay là lạc hậu, dã man. Người cán bộ kết nghĩa anh em với A Phủ là những hoạt động thật của cán bộđịch hậu Chi Mai, cán bộ phụ trách khu du kích Phù Yên. Chi Mai quê ở Hà Đông đãxung phong công tác Tây Bắc. Và phần nào trong tinh thần người cán bộ hậu địch có cảtôi. Tôi đi với Chi Mai, nhiều xóm muốn giữ tôi lại làm thày giáo. Trong bữa rượu,người ta hay đọ cánh tay, nếu dài bằng nhau mà lại bằng tuổi thì nhất định chúng tôi phải kết làm anh em. Phong tục “ăn sùng” này gốc của người Tày, người Thái, một nếpsống vui và có ý nghĩa, nhiều dân tộc khác đã bắt chước.Câu chuyện A Phủ kể, tôi đã ngẫm nghĩ mọi mặt tư tưởng, tình cảm của đối tượngvà của tội, tất cả đã sáng tạo nên Vợ chồng A Phủ mà các bạn đã đọc. Có một quangcảnh khác là khu du kích trạm Tấu và bên bản Thái đều ở sâu trong rừng không trôngđược xuống núi như trong truyện kể. Cũng chuyến đi ấy, tôi đã sang nhà lão du kíchTriệu Văn Khìn người Dao, ở mường Cơi. Đồn Tây dưới cánh đồng đã đánh lên núi,mấy lần bị bố con ông Khìn lăn đá xuống, chết mấy đứa, không dám lên nữa. Ở chỗnương nhà ông Khìn trông xuống thung lũng, đồn mường Cơi rõ mồn một. Hôm ấy uốngrượu ủ bột báng nhắm thịt phượng hoàng đất ông Khìn vừa đi bắn được, tôi nhìn xuốngvà quyết định đưa cái động trông thấy ở mường Cơi sang cánh đồng dưới chân núi nhànương của vợ chồng A Phủ.Câu chuyện này nếu không nói bạn đọc có thể khó hiểu. Truyện Vợ chồng A Phủ,những lần in đầu – năm 1954, có nhân vật thống lý Chống Lầu. Các lần in sau và bâygiờ, tôi đổi tên là thống lý Pá Tra. Tại sao vậy? Chống Lầu là tên ông thống lý ở HángChu, tôi đã nhiều lần đến chơi, ông thết khách thịt ngựa không muối. Tên ông ChốngLầu cũng điển hình tên con người ở tầng lớp trên. Ông không biết chữ, lại ở khu du kíchhẻo lánh thế này, ông biết đâu tôi mượn tên ông. Năm 1954 miền Bắc giải phóng, ông Chống Lầu được cử ra làm phó chủ tịch khutự trị Tây Bắc, cơ quan ở thủ phủ Sơn La. Anh Hoàng Nó bấy giờ là bí thư tỉnh ủy SơnLa đã nhắn tôi viết hỏng rồi. Nếu đứa nào xấu mách ông Chống Lầu là thằng nhà báonăm ấy đã viết sách bảo Mo Chống Lầu là phản động thì nguy quá. Các buổi phát thanhtiếng Mường ở Sơn Dương đọc
Vợ chồng A Phủ
đều phải bỏ.Một lần đi huyện Than Uyên, tôi mượn quyển sổ ghi tên các người tù đương bịgiam ở đây. Tôi nhặt ra tên một người tù là Pá Tra. Tôi đổi là thống lý Pá Tra từ ngàyấy, chắc không lo trùng tênTRÒ CHUYỆN VI THƠ "TRÀNG GIANG" Thứ ba, 04 Tháng 9 2007 21:39Một chiều thu 1939, tôi đi dạo trên bờ sông Cái (sông Hồng), bằng xe đạp, có đoạn dắtxe đi bộ, thấy buổi chiều trên đê và trên sông đẹp quá: Nắng chiều đã nhạt, mây đùn phíanúi xa và man mác một nỗi buồn khó tả, nửa như gần gũi, nửa như xa vời quạnh hiu... Nhà thơ 
HUY CẬN
Một chiều thu 1939, tôi đi dạo trên bờ sông Cái (sông Hồng), bằng xe đạp, cóđoạn dắt xe đi bộ, thấy buổi chiều trên đê và trên sông đẹp quá: Nắng chiều đã nhạt, mâyđùn phía núi xa và man mác một nỗi buồn khó tả, nửa như gần gũi, nửa như xa vờiquạnh hiu. Tôi dừng ở quãng bến Chèm (bây giờ là chân cầu Thăng Long) và vang lêntrong tâm tưởng mấy câu lục bát:
 
Tràng Giang sóng gợn mênh mông Thuyền trôi xuôi mái, nước song song buồnRêu trôi luồng lại nối luồng Về đâu bèo dạt, mây lồng núi xa
Tôi còn định làm tiếp bài thơ bằng lục bát và đặt tên bài là
Chiều trên sông...
 Nhưng đạp xe về nhà (ở số 40 Hàng Than) lại vang trong đầu nhạc điệu của thơ  bảy chữ, âm hưởng Đường luật như quyến rũ tai tôi, cổ họng tôi và tôi liền chuyển mấycâu đầu sang thể bảy âm, bắt được ngay hai câu đầu:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpCon thuyền xuôi mái nước song song 
Hai câu đầu này sẽ đứng vững nguyên cho đến bản thảo cuối cùngRồi tôi viết tiếp. câu thứ 3 không khó, nhưng đến câu thứ 4 thì
thôi xaoMột chiếc bèo đơn lạc giữa dòng...Một cánh bèo đơn lạc giữa dòng...Củi một cành trôi lạc mấy dòng...
Sau cùng đến bản thảo thứ 14 mới bật ra
Củi một cành trôi khô lạc mấy dòng 
vừa tự nhiên vừa hàm ý sâu (đã chết
khô
rồi mà còn
lạc
mấy dòng). Chữ
khô
hơn hẳnchữ
đơn
, vì cái ý cô đơn sẽ toát lên từ toàn bài.Đoạn 2 cũng phải tìm, nhưng có sẵn cảnh trước mắt: Các cồn nhỏ giữa sông... gióhiu hiu... và lại có trong tâm trí 2 câu của Chinh phụ ngâm,
 Non Kỳ lặng lẽ trăng treo Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gờ 
Cho nên tôi viết ngay được câu
 Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
nhờ bà Đoàn Thị Điểm... gàcho... nửa câuĐoạn thứ tư thì tôi học được chữ đùn trong bài
Thu hứng 
của Đỗ Phủ (bản dịchcủa Nguyễn Công Trứ)
Mặt đất mây đùn cửa ải xa
. Và tôi viết
 Lớp lớp mây cao đùn núibạc
. Cả khổ thơ thứ tư thì tôi
buồn hơnThôi Hiệu
nên mới hạ 2 câu 
 Lòng quê dờn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Nhớ câu
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
cốt để nói mình buồn hơn, cần gì phải có khói, sóng mới nhớ nhà.Bài thơ không phải tả cảnh mà tả tâm hồn, trạng thái tâm hồn, hay nói đúnghơn là mượn cảnh để nói lòng mình, hồn mình.... Nói đúng hơn nữa là: Hồn đã nhập vàocảnh cho nến nói đến cảnh là nói đến hồn vậy.Một gợi ý với người đọc: Cũng là cảnh trời nước mà sao trười nước trongTràng Giang thì vắng lạnh thế, xa vắng thế buồn thê lương thế. Mà trời trong bài
 Đoànthuyền đánh cá
(mênh mông hơn vì là biển) mà không vắng lặng, mà lại vui, lại xôn xaomột niềm hào hứng như con người đã làm chủ đất trời
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Cho hay văn thơ là con người, là trạng thái hồn NHỚ VỀ TÂY TIẾN Thứ sáu, 30 Tháng 11 2007 17:38Đối với tôi, những ngày Tây Tiến không hẳn là những ngày in kỷ niện sâu sắc hơn cả.

Activity (4)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 thousand reads
1 hundred reads
Hjeu Pacotiel liked this
Hjeu Pacotiel liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->