Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more ➡
Download
Standard view
Full view
of .
Add note
Save to My Library
Sync to mobile
Look up keyword or section
Like this
23Activity
×
P. 1
Bg LuatDC

Bg LuatDC

Ratings:

4.5

(4)
|Views: 18,447|Likes:
Published by api-3800741

More info:

Published by: api-3800741 on Oct 17, 2008
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, DOC, TXT or read online from Scribd
See More
See less

03/18/2014

pdf

text

original

 
 Pháp luật Kinh tế 
CHƯƠNG IĐẠI CƯƠNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
I. ĐẠI CƯƠNG VỀ NHÀ NƯỚC1. Nguồn gốc và sự ra đời của Nhà nước
 Nhà nước là một hiện tượng xã hội phức tạp. Muốn hiểu rõ và đầy đủ, kháiniệm, bản chất của Nhà nước, cần phải làm sáng tỏ nguồn gốc, sự ra đời của Nhànước. Có nhiều quan điểm giải thích khác nhau về vấn đề này.Các nhà tư tưởng theo thuyết thần học cho rằng, Thượng đế là người sắp đặt trậttự xã hội. Nhà nước cũng do Thượng đế tạo ra để bảo vệ trật tự chung; Nhà nước làlực lượng siêu nhiên, và đương nhiên quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và sự phụctùng quyền lực ấy là tất yếu. Những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng lại chứngminh rằng, Nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức phát triển tựnhiên của con người. Nhà nước tồn tại trong mọi xã hội, và quyền lực nhà nước, về bản chất, cũng giống như quyền gia trưởng của người đứng đầu gia đình vậy. Nhằm chống lại sự chuyên quyền độc đoán của Nhà nước phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng cho giai cấp tư sản trong việc tham gia nắm quyền lực nhà nước, đa số họcgiả tư sản đều tán thành quan điểm Nhà nước là sản phẩm của “khế ước xã hội” đượcký kết trước hết bởi những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có Nhànước; vì vậy, Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thànhviên đều có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ và vì lợi ích của họ. Khi nhà nước trở nên chuyên quyền, độc đoán, không bảo vệ được lợi ích của người dân thì khế ướchết hiệu lực và xã hội phải ký kết một khế ước mới để thành lập ra nhà nước mới tiến bộ hơn. Những quan điểm trên đều kết luận Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển táchrời những điều kiện vật chất của xã hội, tách rời với những cơ sở kinh tế. Họ cho rằng Nhà nước là một thiết chế phải có của mọi hình thái xã hội, một lực lượng cần thiếtcho phép xã hội tồn tại, một trọng tài công minh từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, đứngtrên xã hội để giải quyết các tranh chấp, duy trì xã hội trong tình trạng ổn định và phồn vinh. Theo những quan điểm đó, Nhà nước nước không thuộc một giai cấp nào, Nhà nước là của chung mọi người trong xã hội, là một phạm trù vĩnh cửu và bất biến.Khi nghiên cứu nguồn gốc, sự ra đời của Nhà nước, các nhà kinh điển chủ nghĩaMác có một quan điểm khác, rằng Nhà nước là sản phẩm của mâu thuẫn giai cấp vàđấu tranh giai cấp không thể điều hòa; Nhà nước không phải là một phạm trù vĩnhcửu, bất biến mà là một phạm trù lịch sử, có phát sinh, phát triển và cũng sẽ tiêuvong; Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định và cũngsẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó không còn nữa. Nghiên cứu nguồn gốc của Nhà nước, chủ nghĩa Mác xuất phát từ việc xem xét cáccơ sở kinh tế-xã hội, cách tổ chức xã hội, các quy tắc xử sự chung đã xuất hiện trongxã hội như thế nào, bắt đầu từ hình thái kinh tế-xã hội Cộng sản nguyên thủy.1
 
 Pháp luật Kinh tế 
1.1. Chế độ cộng sản nguyên thủy - Tổ chức Thị tộc, Bào tộc, Bộ lạc
Chế độ cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế-xã hội xuất hiện đầu tiên tronglịch sử loài người. Trong xã hội này không có giai cấp, không có Nhà nước và cũngkhông có Pháp luật, nhưng trong lòng nó chứa đựng những nhân tố làm nẩy sinh Nhànước và Pháp luật.Cơ sở kinh tế đặc trưng cho xã hội Cộng sản nguyên thủy là chế độ công hữu vềtư liệu sản xuất và năng suất lao động ở mức rất thấp. Tương ứng với chế độ kinh tếấy, xã hội được hình thành bằng các “bầy người nguyên thủy”. Trước tiên, họ xuấthiện từng nhóm nhỏ, gồm những người du mục cùng nhau kiếm ăn và tự bảo vệ, domột thủ lĩnh cầm đầu, dần dần xã hội loài người tiến đến một hình thức bền vữnghơn, đó là Công xã Thị tộc. Việc sản xuất tập thể và phân phối tập thể yêu cầu phảithiết lập một chế độ sở hữu công cộng của Công xã về đất đai, gia súc,...
Thị tộc
là hình thức tổ chức xã hội đầu tiên, là đặc thù của chế độ Cộng sảnnguyên thủy phát triển, được hình thành theo huyết thống và lao động tập thể cùngvới tài sản chung. Quan hệ huyết thống là khả năng duy nhất để tập hợp các thànhviên vào một tập thể sản xuất, có sự đoàn tụ chặt chẽ, có kỷ luật tự giác. Việc quản lýxã hội do một Tù trưởng đảm nhiệm, thường là một già làng, là người có uy tín do tấtcả thành viên của Thị tộc bầu lên. Khi có xung đột giữa các Thị tộc khác nhau, mộtThủ lĩnh quân sự được bầu ra để chỉ huy việc chiến đấu và tự vệ. Tù trưởng và Thủlĩnh quân sự cùng lao động như mọi thành viên khác của Thị tộc. Họ có thể bị bãimiễn. Quyền lực của họ cũng có tính cưỡng bức, nhưng hoàn toàn dựa trên uy tín vàsự ủng hộ của các thành viên trong Thị tộc. Ở xã hội này không có một bộ máycưỡng chế riêng. Những công việc quan trọng đều do Hội Nghị Toàn Thể Thành viêncủa Thị tộc quyết định, còn việc thi hành thì do Tù trưởng đảm nhiệm
.
Thị tộc cũng cần đến quyền lực để duy trì trật tự, quyết định sự tồn vong của xãhội. Thị tộc cũng cần một hệ thống tổ chức để thực hiện quyền lực. Hệ thống đó rấtđơn giản, bao gồm:-Hội đồng Thị tộc: Hội đồng Thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của Thị tộc, bao gồm tất cả thành viên đã trưởng thành của Thị tộc, bàn bạc, ra quyết định tập thểvề những vấn đề liên quan đến Thị tộc. Quyết định của Hội đồng Thị tộc thể hiện ýchí của toàn bộ thành viên, nên về cơ bản, được mọi thành viên của Thị tộc tự giácthực hiện. Trường hợp có một thành viên nào đó không tự giác chấp hành, phải chịuquyết định cưỡng chế của tập thể Thị tộc.-Tù trưởng:
 
là người đứng đầu Thị tộc do Hội Nghị Toàn Thể bầu ra trong sốngười cao tuổi. Tù trưởng không có đặc quyền so với thành viên khác, nhưng cóquyền lực rất lớn, bởi uy tín và sự ủng hộ của mọi thành viên trong Thị tộc.Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy quyền lực đã tồn tại, có hiệu lực thực tế rấtcao, tính cưỡng chế mạnh, nhưng đó là quyền lực xã hội. Quyền lực ấy có đặc điểm:
Không tách rời khỏi xã hội, hòa nhập và thuộc về xã hội, do toàn thể thành viên xãhội tổ chức ra;
Phục vụ lợi ích cả cộng đồng;2
 
 Pháp luật Kinh tế 
Không có bộ máy cưỡng chế riêng để thực hiện sự cưỡng chế.
Bào tộc
là tổ chức cao hơn Thị tộc, do một số Thị tộc có quan hệ hôn nhân vớinhau hợp thành. Bào tộc hình thành vào giai đoạn xã hội có một trình độ phát triểnnhất định. Bào tộc là một liên minh bao gồm nhiều Thị tộc hợp lại. Tổ chức quyềnlực cũng tương tự như trong Thị tộc nhưng mức độ tập trung cao hơn. Hội Đồng BàoTộc bao gồm các Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự của các Thị tộc. Hội đồng quyếtđịnh những vấn đề quan trọng của Bào Tộc.
Bộ lạc
hình thành ở giai đoạn phát triển cao và là hình thức tổ chức cuối cùngcủa xã hội Cộng sản nguyên thủy. Bộ lạc bao gồm nhiều Bào tộc liên minh lại. Tổchức quyền lực cũng tương tự như trong Thị tộc và Bào tộc nhưng ở mức độ tậptrung cao hơn. Dù vậy, quyền lực vẫn mang tính xã hội, phục vụ lợi ích chung củamọi thành viên trong Bộ lạc.
1.2. Sự tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy và sự xuất hiện Nhà nước
Xã hội Cộng sản nguyên thủy có tổ chức Thị tộc, Bào tộc hay Bộ lạc, và đã xuấthiện quyền lực xã hội, nhưng các tổ chức ấy chưa phải là Nhà nước, song đã có mầmmống, tiền đề làm nẩy sinh những cơ sở vật chất cho sự ra đời của Nhà nước. Nhữngnguyên nhân làm cho chế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã cũng đồng thời là nguyênnhân làm xuất hiện Nhà nước.Trong quá trình lao động, con người rút được kinh nghiệm cải tiến công cụ sảnxuất, đặc biệt sự xuất hiện các công cụ bằng kim loại, năng xuất lao động tăng nhanhvà lực lượng sản xuất có một bước tiến nhảy vọt, khiến cho hoạt động kinh tế ngàycàng đa dạng, phong phú, đòi hỏi có sự phân công lao động theo chuyên môn hóa. Ởvào thời kỳ cuối của chế độ Cộng sản nguyên thủy đã lần lượt xảy ra ba lần phâncông lao động lớn:
Lần phân công lao động thứ nhất ngành chăn nuôi tách khỏi ngành trồng trọt;
Lần phân công lao động thứ hai, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp;
Lần phân công thứ ba thương nghiệp ra đời.Sau mỗi lần phân công lao động, xã hội có những bước tiến mới, thúc đẩy quátrình tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy. Sau lần phân công lao động đầu tiên,chế độ tư hữu đã xuất hiện, xã hội đã có sự phân chia thành kẻ giàu, người nghèo.Chế độ tư hữu làm xuất hiện chế độ hôn nhân từ quần hôn đến chế độ một vợ mộtchồng, là điều kiện để các gia đình nhỏ được hình thành và trở thành những đơn vịkinh tế độc lập, tự quyết định sản xuất và định đoạt sản phẩm do kết quả sản xuất củamình tạo ra. Gia đình xuất hiện đe dọa đời sống cộng đồng thị tộc. Trong quá trìnhlao động, nhờ tích lũy được kinh nghiệm, có cơ hội, một số người trở lên giàu có,trong lúc một số khác lại rất nghèo khó.Cùng với hiện tượng phân hóa trên, các Tù trưởng, Thủ lĩnh quân sự lợi dụngquyền lực của Thị tộc trước đây giao cho để phục vụ lợi ích riêng và trở thành giaicấp bóc lột. Trong lúc đó một bộ phận khác là đa số dân cư không còn tư liệu sảnxuất, lâm vào tình cảnh khốn khổ, cùng với tù binh chiến tranh hợp thành một giaicấp - giai cấp nô lệ bị bóc lột. Quyền lợi hai bộ phận dân cư này, hai giai cấp, một3

Activity (23)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
Quang Anh Lê liked this
Phuong Huynh liked this
Huynh Thien Liem liked this
nguyenquoc1 liked this
nguyenquoc1 liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->