Welcome to Scribd. Sign in or start your free trial to enjoy unlimited e-books, audiobooks & documents.Find out more
Download
Standard view
Full view
of .
Look up keyword
Like this
24Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
LuẬn Can Chi NgŨ hÀnh nẠp Âm

LuẬn Can Chi NgŨ hÀnh nẠp Âm

Ratings: (0)|Views: 5,999|Likes:
Published by api-3698446

More info:

Published by: api-3698446 on Oct 18, 2008
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/09/2014

pdf

text

original

 
LUẬN CAN CHI NGŨ HÀNH NẠP ÂMThiết tưởng người Việt Nam hầu như ai cũng biết Hành tuổi của năm Mệnh mình sinh.Thế nhưng số người biết được 12 con vật, Can Chi và Nạp Âm (tức Hành Mệnh) củatuổi mình do đâu mà có thì, toàn nước Việt Nam (luôn cả những nhà chuyên mônnghiên cứu bói toán) có thể đếm được trên đầu ngón tay hoặc ít hơn.Tại sao vậy?Điều nầy cũng không trách được vì những sách vỡ quý báu của nước ta đã bị ngườiTàu mang đốt sạch còn đâu. Đến như cụ Lê Quý Đôn là người tài ba lỗi lạc và cũng làmột trong những vị Tổ của môn Tử Vi ở nước ta mà còn truy nguyên chưa được lựa hậu thế. Mặt khác, cũng có thể là người Việt Nam cho rằng việc ấy không quan trọngchăng?! Thiển nghĩ, biết được căn nguyên của Can Chi và Hành Mệnh xuất phát từ đâu cũng là việc chẳng phải hoàn toàn vô bổ, nên nhân dịp Tết Không Kiếp Minh Tâmxin chia xẻ để quý vị độc giả tham khảo vậy.Bắt đầu, xin tuần tự giải thích như sau:Sách Chu Lễ nói về: “danh hiệu của 10 Nhật, danh hiệu của 12 Thời, danh hiệu của 12Nguyệt, danh hiệu của 12 Tuế, danh hiệu của 28 Tinh Tú” mà về sau Trịnh Huyền giảithích rằng: “Nhật bảo rằng từ Giáp đến Quý; Thời bảo rằng từ Tí đến Hợi; tháng bảorằng từ Châu đến Đồ; Tuế bảo rằng từ Nhiếp Đề Cách đến Xích Phấn Nhược; Tinh Túbảo rằng từ Giác đến Chẩn”. Thời xưa người ta dùng đó để mà ghi chép năm thángngày giờ thành lịch.Sách Nhĩ Nhã giải thích rộng thêm rằng: “Nguyệt Dương (biệt danh của lịch xưa dùng10 Can để ghi chép tháng), nguyệt tại Giáp gọi là Tất, tại Ất gọi là Quất, tại Bính gọi Tu, tại Đinh gọi là Ngữ, tại Mậu gọi là Lệ, tại Kỷ gọi là Tắc (quy tắc), tại Canh gọi Trất,tại Tân gọi là Tắc (bít, lấp), tại Nhâm gọi là Chung, tại Quý gọi là Cực. Nguyệt Danh(biệt danh để ghi chép tháng trong nông lịch—vụ mùa) tháng Giêng là Châu, tháng Hailà Như, tháng Ba là Mị, tháng Tư là Trừ, tháng năm là Niết, tháng Sáu là Thả, thángBảy là Tương, tháng Tám là Tráng, tháng Chín là Nguyên tháng Mười là Dương, thángMười Một là Cô, tháng Chạp là Đồ. Tuế Dương (biệt danh của lịch xưa lấy 10 Can đểghi chép năm) Thái Tuế tại Giáp gọi là Phùng Át, tại Ất gọi là Chiêu Mông, tại Bính gọilà Nhu Triệu, tại Đinh gọi là Cường Ngữ, tại Mậu gọi là Trước Ung, tại Kỷ gọi là ĐồDuy, tại Canh gọi là Thương Chương, tại Tân gọi là Trùng Quang, tại Nhâm gọi làHuyền, tại Quý gọi là Chiêu Dương. Tuế Danh (biệt danh của lịch xưa lấy 12 Địa Chiphối với Thái Tuế để ghi năm) Thái Tuế tại Dần gọi là Nhiếp Đề Cách, tại Mão gọi làĐơn Át, tại Thìn gọi là Chấp Từ, tại Tỵ gọi là Đại Hoang Lạc, tại Ngọ gọi là Đơn ƯuTường, tại Mùi gọi là Hiệp Hiệp, tại Thân gọi là Quân Than, tại Dậu gọi là Tác Ngạc,tại Tuất gọi là Yên Mậu, tại Hợi gọi là Đại Uyên Hiến, tại Tí gọi là Khốn Đôn, tại Sửugọi là Xích Phấn Nhược”.Sách Thái Ung “Độc Đoán” nói rằng: “Can là cán (thân) vậy, tên nó có mười ấy là GiápẤt Bính Đinh Mậu Kỹ Canh Tân Nhâm Quý. Chi là cành nhánh vậy, tên nó có mườihai ấy là Tí Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi”.Sách Lễ Ký “Nguyệt Lệnh” nói rằng: “Tháng Xuân lấy Giáp Ất làm đại biểu; tháng Hạlấy Bính Đinh; tháng Tứ Quý (3,6,9,12) lấy Mậu Kỷ làm đại biểu; còn tháng Thu lấyCanh Tân; tháng Đông thì lấy Nhâm Quý”.Sách Sử Ký “Luật Thư” nói rằng: “Thất chính 28 xá luật lịch trời vì thế thông khí củangũ hành bát chính, trời vì thế thành thục vạn vật. Xá nầy chỗ của nhật nguyệt trú. Xánầy là khí thư dãn ra”.
1
 
Chỗ mà sách Sử Ký gọi Bát Chính là khí của tám Tiết đem ứng với gió của támphương. Gió của tám phương là: Bất Chu Phong, Quảng Mạc Phong, Điều Phong,Minh Thứ Phong, Thanh Minh Phong, Cảnh Phong, Lương Phong, và Xương HạpPhong.- Điều Phong đóng ở Đông Bắc, chủ xuất ra vạn vật, hướng về Nam đến ở Tú Cơ. Ở mười hai luật là Thái Thốc, ở thời lệnh là tháng Giêng, ở mười hai chi là Dần. Vạn vậttranh nhau nẫy mầm. Lại hướng Nam đến ở Vĩ, ở Phòng. Vạn vật sinh sớm nay đã đếnkỳ có hoa như vậy có thể xem thấy được.- Minh Thứ Phong đóng ở phương Đông. Ở mười hai luật là Giáp Chung, ở thời lệnh làtháng Hai, ở mười Can là Giáp Ất, ở mười hai chi là Mão. Thời đó vạn vật xuất ra hếttận, mười phần sum sê tươi tốt. Minh Thứ Phong hướng Nam đến ở Tú Đê, lại đến ở TúCang, Tú Giác. Ở mười hai luật là Cô Tẩy, ở thời lệnh là tháng Ba, ở mười hai Chi làThìn. Thời đó vạn vật bỏ cũ, theo mới, tươi sáng, cao vút, rắn rỏi.- Thanh Minh Phong đóng ở góc Đông Nam, thúc đẩy vạn vật hướng Tây phát triển.Đầu tiên đến ở Chẩn của phương Tây, lại đến ở Dực. Ở mười hai luật là Trọng Lữ,mười hai Chi là Tỵ. Thời đó vạn vật vượng thịnh, lớn mạnh, Dương khí phát triển đạtđến cực điểm. Thanh Minh Phong lại hướng Tây đến ở bảy sao của tú Tinh, Liễu. Ở mười hai luật là Nhuy Tân, ở thời lệnh là tháng Năm. Thời đó vạn vật từ thịnh chuyểnthành suy, Dương khí trú xuống bên dưới.- Cảnh Phong đóng ở Phương Nam. Ở mười hai Chi là Ngọ, Mười Can là Bính Đinh.Âm Dương giao nhau, Dương khí giáng xuống, Âm khí thăng lên, vạn vật sắp thànhthục.- Lương Phong đóng ở góc Tây Nam, chủ về đất. Ở mười hai luật là Lâm Chung, ở mười hai Chi là Mùi. Thời đó vạn vật thành thục, giàu có, vị ngon. Hướng Bắc tiến đếnPhạt, lại đến ở Sâm. Ở mười hai luật là Di Tắc, ở thời lệnh là tháng Bảy, ở mười hai Chilà Thân. Thời đó, Âm khí dần dần thịnh, mở đầu. Thân là giặc của vạn vật, lại lớnmạnh đến Trọc, kế đến ở Lưu. Ở thời lệnh là tháng Tám, mười hai luật là Nam Lữ,mười hai Chi là Dậu. Thời đó vạn vật đều tiếp xúc với đất chết, Dương khí càng suy,mở đầu phục tàng.- Xương Hạp Phong đóng ở phương Tây. Ở mười Can là Canh Tân. Hướng Bắc đến ở Vị, lại đến ở Lâu, đạt tới Khuê. Ở mười hai luật là Vô Sạ, ở thời lệnh là tháng Chín, ở mười hai Chi là Tuất. Thời đó vạn vật tận diệt, thu tàng nhập vào khố, Âm khí vượngthịnh, Dương khí không dư. Nhưng vạn vật theo Dương đến hết, lại thuận theo âm màkhởi, không hết hẳn, không dừng hẳn, không đứng lại.- Bất Chu Phong đóng ở Tây Bắc chủ sát sinh, nhưng hướng về phương Đông hành tiếnthì chủ mở đầu sinh khí. Nó hướng Đông đến ở Tú Thất lại đến ở Tú Nguy (chủ đổ nát).Ở mười hai luật là Ứng Chung. Ở thời lệnh là tháng Mười. Ở mười hai con là Hợi. Thờiđó Dương khí đã bắt đầu sinh nhưng lại là mười phần còn nhỏ yếu, không kham nổidùng vào việc, vì vậy nên vẫn còn phục tàng ở dưới.- Quảng Mạc Phong đóng ở phương Bắc, hướng Đông đến ở Hư, lại đến ở sao Vụ Nữ. Ở mười hai luật là Hoàng Chung, ở thời lệnh là tháng Mười Một, ở mười hai Chi là Tí, ở mười Can là Nhâm Quý. Thời đó Dương khí lớn lên, vạn vật nhận sự nuôi dưỡng ở dưới giống như tháng Mười hoài thai, giáng sinh cũng có thể phán đoán được. QuảngMạc Phong lại hướng Đông đến ở Khiên Ngưu lại đến ở Kiến. Ở thời lệnh là thángChạp, ở mười hai luật là Đại Lữ, ở mười hai Chi là Sửu. Thời đó vạn vật đã tự dưỡngthành hình, nhưng vẫn còn chưa phá đất mà xuất ra.Trên đây là nghĩa lý và nguyên lý mà người ta cho rằng mười Thiên Can và mười haiĐịa Chi từ đó lưu hành. Còn mười hai con vật tượng của Tí là chuột, Sửu là trâu, Dầnlà cọp, Mão là mèo, Thìn là rồng, Tỵ là rắn, Ngọ là Ngựa, Mùi là Dê, Thân là khỉ, Dậulà gà, Tuất là chó, Hợi là heo, thì được giải thích như sau.
2
 
“Tinh Lịch Khảo Nguyên” nói rằng:- Thuyết nói về 12 con vật Cầm Tinh đã có từ rất lâu rồi, không rõ từ đâu lại (sự thậtđến từ Tây Vực). Theo từ sự lưu truyền chép lại ở Tí sử khảo xét vễ văn hiến, thì từ thờiXuân Thu Chiến Quốc đã có thuyết nầy. Cho đến 28 tú phối với cầm tượng thì là từ Nguyên Minh về sau mới có việc đó. Quan sát về việc chọn “tượng” đó, chẳng qua lànhân 12 con vật cầm tinh mà khuếch rộng ra thôi. Tại sao mà biết được? Phép nầy lấyTí Ngọ Mão Dậu làm bốn trọng cung, mỗi cung quản ba tú, được 12 tú.Như cung Tí là 3 tú Nữ Hư Nguy, tú Hư đóng ở giữa vì vậy lấy chuột làm tượng củamình. Nữ là bức (con dơi), Nguy là yến thì chọn nó tựa giống chuột đem phối vào.Cung Mão là Đê Phòng Tâm, Đê là lạc (con chồn), Tâm là hồ (cáo), Phong ở giữa là thỏnên lấy thỏ làm tượng của mình (nhưng Việt Nam để mèo vì gần cọp vậy).Cung Ngọ là Liễu Trinh Trương. Liễu là chương (con hoẵng), Trương là lộc (hươu),Trinh ở giữa là ngựa nên lấy ngựa làm tượng của mình.Cung Dậu là Vị Mão Tất. Vị là con trĩ, Tất là con quạ, Mão ở giữa là con gà nên lấy gàlàm tượng của mình.Qua đến 8 cung Dần Thân Tỵ Hợi, Thìn Tuất Sửu Mùi thì mỗi cung quản 2 tú, mà lấytú ở gần cung giữa làm chủ, đóng ở bên thì chọn loài nào tương tự phối vào.Như cung Thìn, Cang gần giữa cung vì vậy lấy rồng làm tượng của mình. Giác đóng ở bên nó thì chọn Giao (thuồng luồng) là loại rồng đem phối vào.Cung Dần, vĩ ở gần giữa cung vì vậy lấy hổ làm tượng của mình. Cơ đóng ở bên nó thìchọn con báo là loài của hổ đem phối vào.Cung Sửu, Ngưu ở gần giữa cung vì vậy lấy trâu làm tượng của mình. Đẩu ở bên nó thìchọn Hải là loại của trâu đem phối vào.Cung Hợi, Thất ở gần giữa cung vì vậy lấy lợn làm tượng của mình, Bích đóng ở bên nóthì chọn Dữ là loài của lợn đem phối vào.Cung Tuất, Lâu ở gần giữa cung vì vậy lấy cẩu làm tượng của mình, Khuê ở bên nó thìchọn lang (chó sói) là loài của chó đem phối vào.Cung Thân, Chủy ở gần giữa cung vì vậy lấy hầu (con khỉ) làm tượng của mình, Sâmđóng ở bên nó thì chọn viên (con vượng) là loài của khỉ đem phối vào.Cung Mùi, Quỷ ở gần giữa cung vì vậy lấy dê làm tượng của mình, Tỉnh đóng ở gầnbên nó thì chọn ngạn là loại của dê đem phối vào.Cung Tị, Dực ở gần giữa cung vì vậy lấy xà (rắn) làm tượng của mình, Chẩn đóng ở bên nó thì chọn dẫn (con giun đất) là loài của rắn đem phối vào vậy”.Theo “Tinh Lịch Khảo Nguyên” thì thuyết 12 con vật tượng trưng cho 12 Địa Chi (tuổi)thật là hết sức sáng tỏ vậy! Tuy nhiên, đây chỉ là bước thứ hai, vì vẫn chưa giải quyếtđược Nạp Âm của tuổi, tức là Ngũ Hành của 60 hoa Giáp. Tỷ như Giáp Tí là Hải TrungKim, vì sao Giáp là Mộc mà hợp với Tí là Thủy lại trở thành Hải Trung Kim?!Nạp Âm là gì mà người Việt Nam ta xưa nay vẫn xem là điều huyền bí không thể giảithích vậy nhỉ? Nạp Âm theo như đại đa số cho rằng một Thiên Can mang một Hành,một Địa Chi mang một hành, nhưng hai cái hợp lại thì trở thành một Hành khác. Thếnhưng hầu như từ xưa đến nay không có sách Việt Nam nào dám nhắc tới nguyên lýcủa sự hình thành Nạp Âm cả. Trong "Vân Đài Loại Ngữ" cụ Lê Quý Đôn cũng chỉ dẫnđược sách "Thụy Quế Đường Hạ Lục" là hết. May thay, trong “Hiệp Kỷ Biện PhươngThư” lại thấy tra xét căn nguyên của Nạp Âm rõ ràng mạch lạc làm sao. Nay xin chéplại nguyên văn để đọc giả cùng khảo cứu vậy.Thẩm Quát nói: “Nạp Âm lục thập Giáp Tí, rất ít người biết nguyên lý của nó. Sự thựclà phép của 60 luật lữ cung nhằm làm cung pháp. Một luật hàm 5 âm, 12 luật tức nạp60 âm. Phàm Dương ‘Khí’ bắt đầu ở phương Đông mà đi về bên phải, Âm ‘Khí’ khởi từ phương Tây mà đi về bên trái, Âm Dương đan xen nhau mà sinh biến hóa. Chỗ gọi là
3

Activity (24)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
Khoi Le liked this
vhkhoi liked this
DucVan liked this
pt600 liked this
thanhhoabinh85 liked this
thanhhoabinh85 liked this
thanhhoabinh85 liked this

You're Reading a Free Preview

Download
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->