Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
2Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Champa Trong Ky Nguyen Thuong Mai Som

Champa Trong Ky Nguyen Thuong Mai Som

Ratings: (0)|Views: 284 |Likes:
Published by Alex Giang
Mandala Champa trong kỷ nguyên thương mại sớm (900-1300)
Mandala Champa trong kỷ nguyên thương mại sớm (900-1300)

More info:

Categories:Types, Research, History
Published by: Alex Giang on Nov 27, 2011
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

12/09/2013

pdf

text

original

 
KỶ NGUYÊN THƯƠNG MẠI SỚM Ở ĐÔNG NAM Á (900-1300 CE):NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP MANDALA CHAMPA
1
Đỗ Trường GiangViện Nghiên cứu Đông Nam Á – (ISEAS-VASS)Và National University of Singapore (NUS)
 Kỷ nguyên thương mại sớm
ở Đông Nam Á (900-1300 CE)
Giới nghiên cứu
 
đã khá quen thuộc với luận điểm về một “thời đại thương mại”được đề xuất bởi giáo sư nổi tiếng Anthony Reid để nói về lịch sử khu vực Đông Nam Átrong thời kỳ từ 1400 đến 1680.
2
 Theo A.Reid, khoảng năm 1400 sự phát triển kinh tế ở Đông Nam Á đã được thúc đẩy bởi nhu cầu về gia vị, hồ tiêu và các sản phẩm khác từvùng quần đảo. Ông cho rằng, trong suốt thời kỳ này, các cá nhân và các nhà nước ở Đông Nam Á “đã có thể hưởng lợi lớn từ thương mại quốc tế thông qua việc thích ứng trướcnhững nhu cầu đang thay đổi”.
3
Thời gian gần đây, Geoff Wade đã sử dụng thuật ngữ
kỷnguyên thương mại sớm
(an early age of commerce) để diễn tả một bối cảnh chung mangtính phổ quát của lịch sử khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ năm 900 đến 1300. Geoff 
1
 
 Những ý tưởng cơ bản của bài viết đã được trình y lần đầu tiên tại TWENTIETH ANNUAL WORLDHISTORY ASSOCIATION CONFERENCE, tổ chức tại GLOBAL HISTORY CENTER, CAPITAL NORMALUNIVERSITY, Beijing, China, 7-10 July 2011. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Đại học Osaka (OsakaUniversity) đã đài thọ mọi kinh phí để tác giả có cơ hội góp mặt tại Hội thảo và trình bày báo cáo của mình.
Trongquá trình hoàn thiện bài viết, tác giả đã nhận được những ý kiến đóng góp và những ý tưởng quan trọngcủa GS Momoki Shiro, GS Bruce Lockhart, TS Geoff Wade, TS Masaki Mukai và hai nhà nghiên cứuMohamed Effendy và Morragotwong Phumplab. Nhân đây, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn của mìnhđối với những ý kiến đóng góp quý báu ấy. Bài viết đã được đăng trong sách:
 Người Việt với biển,
doPGS.TS Nguyễn Văn Kim chủ biên, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2011.
2
Anthony Reid,
Southeast Asia in the Age of Commerce, 1450-1680: The Lands Below the Winds
. New Haven: YaleUniversity Press, 1993; và
Southeast Asia in the age of commerce: 1450-1680: Expansion and crisis
. New Haven:Yale University Press, 1993. Anthony Reid cho rằng kỷ nguyên thương mại có nguồn gốc từ những thay đổi đã diễnra trong suốt thế kỷ XV. Sự bùng nổ của thương mại và sự nổi lên của các cảng thị như là những trung tâm thươngmại đã thúc đẩy những thay đổi về mặt chính trị, xã hội và kinh tế đánh dấu kỷ nguyên thương mại trong khu vực,kéo dài từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII. Sự bùng nổ của hải thương dẫn đến sự trỗi dậy của thuyền mành Đông NamÁ cũng như là những kỹ thuật hàng hải mới… Một số biểu hiện về mặt xã hội khác của kỷ nguyên thương mại còn bao gồm một cuộc cách mạng về tôn giáo, với sự thâm nhập của Hồi giáo và Thiên chúa giáo vào khu vực, một cuộccách mạng về quân sự với các kỹ thuật chiến tranh mới hỗ trợ cho sức mạnh của các thể chế mới.
3
Anthony Reid, “An ‘age of commerce’ in Southeast Asian History”, in trong
 Modern Asian Studies
24, 1. GreatBritain, 1990, tr.30.
1
 
Wade cho rằng, trong suốt thời kỳ này, những sự thay đổi lớn lao về triều đại cũng như cácchính sách khuyến khích ngoại thương ở Trung Hoa, Nam Á và vùng Trung Đông (Tây Á)cũng như những phát triển nội tại của khu vực Đông Nam Á đã dẫn tới một môi trườngthuận lợi để thúc đẩy các hoạt động thương mại biển, và hệ quả là đã dẫn tới sự xuất hiệncủa các cảng thị ven biển mới và một số thay đổi về chính trị và xã hội ở các nước Đông Nam Á.
4
Trước đó, J.W.Christie cũng chia sẻ nhiều ý kiến tương đồng với G.Wade và đãđịnh danh thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII như là thời đại
bùng nổ thương mại Á Châu
(Boom of Asian maritime trade”.
 5
Theo G.Wade thì có ba nguyên nhân chính dẫn tới sự bùng nổ của các hoạt độnghải thương trên vùng biển của Đông Nam Á trong giai đoạn này, trong đó ông đặc biệtnhấn mạnh tới những biến chuyển lớn ở các trung tâm kinh tế lớn của khu vực châu Á, baogồm: (1) các chính sách khuyến thương (commercial-supported policies) và các tác độngcủa chúng ở Trung Quốc, (2) sự phát triển của mạng lưới thương nhân Arab trên khắp cácvùng biển của châu Á, và (3) sự mở rộng của cộng đồng thương nhân Tamil ở Đông NamÁ và Nam Trung Hoa.1). Sự thống nhất của Trung Hoa dưới triều đại Tống (960 A.D.) và các chínhsách được thực thi sau đó của các vương triều Tống đã có những tác động sâu sắc tới hệthống hải thương Á Châu. Triều đại Tống được thừa nhận rộng rãi như một trong nhữngvương triều thành công nhất của Trung Hoa trong việc thúc đẩy cũng như kiểm soát cáchoạt động hải thương. Geoff Wade cho rằng sự tồn tại của các triều đại bắc và nam Tốngtừ năm 960 đến 1279 đã “tạo nên một thời kỳ phát triển thương mại và công nghiệp mạnhmẽ ở Trung Hoa, lớn đến mức những thay đổi diễn ra trong giai đoạn này đã được xemnhư cuộc cách mạng kinh tế thời trung đại (medieval economic revolution)”.
6
Một số chínhsách đã được ban hành nhằm kiểm soát và thúc đẩy sự phát triển của các cảng thị miền Nam Trung Hoa, đặc biệt là cảng ở vùng Quảng Châu. Các vua nhà Tống cũng đã ban
4
Geoff Wade, “An early age of commerce in Southeast Asia, 900-1300 CE”, in trong
 Journal of Southeast AsianStudies,
40 (2), National University of Singapore, 2009.
5
Jan Wisseman Christie, “Javanese markets and the Asian sea trade boom of the Tenth to Thirteenth centuriesA.D.”, in trong
 Journal of the Social and Economic History of the Orient 
, 41, 3, 1998.
6
Geoff Wade, “An early age of commerce”,
tlđd,
tr.222.
2
 
hành các chính sách khuyến khích các thương nhân ngoại quốc đến và thực hiện công việctrao đổi buôn bán ở các cảng thị Nam Trung Hoa. Một ví dụ điển hình là năm 987, triềuđình Trung Hoa đã gửi bốn phái bộ ngoại giao với quốc thư của hoàng đế để khuyến khích“các thương nhân ngoại quốc vùng Nam Dương…đến và buôn bán tại các cảng thị namTrung Hoa”.
7
Triều đình nhà Tống cũng đã khuyến khích các nước láng giềng phương namgửi các phái bộ ngoại giao và triều cống tới Trung Hoa. Thông qua việc đó, triều đìnhTrung Hoa nhận được những nguồn thu lớn qua các hàng hóa cống phẩm được gửi tới,cũng như là khẳng định vị thế của Trung Hoa đối với các nước láng giềng (mà Trung Hoaluôn xem như là những phiên quốc hay các chư hầu nằm dưới sự bảo trợ của triều đình).Đồng thời, hệ thống triều cống cũng mang lại những lợi ích thiết thực và quan trọng chocác phái bộ triều cống của các nước cả về mặt chính trị và kinh tế. Trong một công trìnhđược công bố gần đây, nhà nghiên cứu Mukai Masaki cho rằng, đã có một
 sự bùng nổ 
(boom) các phái bộ triều cống đến từ các chính thể của vùng biển Nam Dương tới TrungHoa trong suốt thời kỳ nhà Tống.
 8
Theo đó thì,
 sự bùng nổ 
của các phái bộ triều cống nàyđã phản ánh “sự tái thiết lập của toàn thể mạng lưới hải thương”.
9
Masaki cũng chỉ ra rằngmột số lượng lớn các phái đoàn triều cống tới triều đình Trung Hoa đã được thực hiện bởicác thương nhân đến từ biển (sea-traders), đặc biệt là các phái bộ đến từ Dashi (các nướcArab và Ba Tư). Các nước và các thương nhân hải ngoại mong muốn dự nhập vào mạnglưới triều cống của Trung Hoa bởi vì các Hoàng đế Trung Hoa thường đáp lại với nhữngmón quà/món hàng với giá trị tương đương và thậm chí là cao hơn nhiều so với giá trị củacác món hàng triều cống. Hơn nữa, dự nhập vào mạng lưới triều cống này cũng mang lạinhững cơ hội cho các thương nhân ngoại quốc cơ hội để thực hiện việc trao đổi buôn bánvà thu thập hàng hóa nội địa của Trung Quốc với mức giá thấp và không phải nộp thuế.
7
Paul Wheatley, “Geographical notes on some commodities involved in Sung maritime trade”, in trong
 Journal of the Malayan
, Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society, 32, 2. Kuala Lumpur, 1959, tr. 393.
8
Mukai Masaki, “Contacts between empires and entrepots and the role of supra-regional network: Song-Yuan-Mingtransition of the Maritime Asia, 960-1405”, trình bày tại
The First Congress of the Asian Association of World  Historians,
Osaka, 2009,
 
tr.2.
9
Mukai Masaki, “Contacts between empires and entrepots”,
tlđd 
.
3

Activity (2)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 thousand reads
1 hundred reads

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->