Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Look up keyword
Like this
9Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Một số lý thuyết về FDI

Một số lý thuyết về FDI

Ratings: (0)|Views: 1,445 |Likes:
Published by Phiêu Lãng

More info:

Published by: Phiêu Lãng on Jan 03, 2012
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

01/14/2015

pdf

text

original

 
 
Một số lý thuyết về FDI
Các lý thuyết về đầu tư quốc tế tìm cách lý giải xem khi nào nên tiến hành FDI. Đểgiúpviệc tìm hiểu lý thuyết về FDI có thể dựa vào các câu trả lời cho các câuhỏitruyền thống : 5W và 1Hwho– Ai là nhà đầu tư? Một doanh nghiệp mới hay một MNE đã được thành lập?insider or outsider?What – Loại hình đầu tư gì? Greenfield hay brownfield? mua lại và sáp nhập? đầutư lầnđầu hay đầu tư bổ sung?Why – Tại sao đầu tư ra nước ngoài? Doanh nghiệp muốn thu đượcnhiu linhuận hơn bằng cách tăng doanh thu hoặc giảm chi phí.Where – Tiến hành đầu tư ở đâu? Lựa chọn địa điểm đầu tư – lựa chọn này bị ảnhhưởng bởi các yếu tố kinh tế, xã hội/văn hóa và chính trị.When – Khi nào doanh nghiệp chọn cách đầu tư ra nước ngoài? Thời điểmquyếtđịnh xâm nhập thị trường nước ngoài bị ảnh hưởng bởi tuổi của sản phẩm, tínhđaquốc gia của doanh nghiệp.How – Doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài như thế nào? Cách nào được lựachọnđể xâm nhập vào thị trường nước ngoài? Lựa chọn bao gồm xuất khẩu, cấplicense,franchising, FDI.a.
Các học thuyết vĩ mô
Lý thuyết về lợi ích của đầu tư nước ngoài của Mac Dougall:Với giả thiết:- Có 2 quốc gia, 1 nước phát triển và 1 nước đang phát triển- Chỉ có hoạtđộng đầu tư của hai quốc gia trên, không có sự tham gia của nước thứ3- Sản lượng cận biên của hoạt động đầu tư giảm dần khi vốn đầu tư tăng
b. Các học thuyết vi mô
Nếu như các học thuyết vĩ mô đứng trên góc độ quốc gia để xem xét lý thuyết FDIthìcác học thuyết vi mô lại đứng trên góc độ các doanh nghiệp hoặc cácngànhkinh doanh.
b1. Học thuyết về lợi thế độc quyền (Stephen Hymer - Mỹ)
Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư có một số bất lợi như: khoảng cách địalýlàm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực (chuyển giao công nghệ), thiếu
 
hiểu biết về mội trường xa lạ làm tăng chi phí thông tin, thiết lập mối quan hệkháchhàng mới và hệ thống cung cấp mới cũng mất nhiều chi phí so với các công ty bnđịa. Tuy vậy họ vẫn nên tiến hành FDI khi họ những
 
li thế đc quyn(monogoly rights), họ sẽ giảm được chi phí kinh doanhvà tăng doanh thu so vớicác công ty bản địa. Các lợi thế độc quyền đó có thể làcông nghệ (tech innovation)hay nhãn hiệu. Ví dụ nói đến Cocacola là người ta nghĩ ngay
 
đến “nước uống ga cómùi quế” hay nhãn hiệu Heineken nổi tiếng với những mẩu quảngcáo rất hấp dẫn(ở Thuỵ Sỹ có một căn hầm bí mật…).
b3. Học thuyết nội bộ hoá (Internalization)
 
Theo học thuyết này, FDI tăng khi giao dịch bên trong công ty (InternalTransaction) tt hơn giao dch bên ngoài công ty (MarketTransaction), IT tốt hơnMT khi thị trường không hoàn hảo: không hoàn hảo tựnhiên (khoảng cách giữacác quốc gia làm tăng chi phí vận tảI), không hoànhảo mang tính cơ cấu (rào cảnthương mại như các tiêu chuẩn về sản phẩm, về môItrường; các yêu cầu liên quanđến quyền sở hữu trí tuệ (là một sản phẩm vô hìnhmang tính thông tin nên dễ bịchia sẻ, khó bảo hộ và dễ bị đánh cắp…), côngnghệ (cáI không tồn tại như mộtthực thể, không có giá, không chứng minh được, quýkhi nó mới..). Khi thị trưngkhông hoàn hảo như vậy, người ta phảI tạo rathị trường bằng cách tạo ra InternalMarket, sử dụng tài sản trong nội bộ côngty mẹ – con, con – con. Ví dụ, nếu cóvấn đề liên quan đến việc mua các sản phẩm
 
dầu lửa trên thị trường thi một doanhnghiệp có thể quyết định mua một nhà máy lọc dầu.Lợi ích của việc nội bộ hoá làtránh được độ trễ về thời gian, việc mặc cả khi mua bán và tình trạng thiếu thốnngười mua. Ví dụ, một doanh nghiệp thép có thể phải đối
 
mt vi tình trng thiếu nguyên liệu cung cấp và chi pgiao dịch cao khi phải mua quặng sắt từ nướcngoài, đặc biệt khi doanh nghiệp này phảimua hàng một châu lục khác. Tuynhiên, khi doanh nghiệp này mua lại
 
một công ty khai mỏ nước ngoài, tức là tiếnhành việc nội bộ hoá bao gồm cảviệc mua luôn quặng sắt và chi phí vận chuyển,nó sẽ loại bỏ được tình trạng thiếuthốn nguyên liệu. Nội bộ hoá phảI có những lợiích lớn hơn chí phí phát sinh khi
 
thành lập mạng lưới công ty mẹ con thì mớiđưc sdng. Tuy nhiên lýthuyết này không giải tch lợi ích của nội bộ hoá là gì(là lợi thế độc quyền), rấtchung chung, không đưa ra được các bằng chứng cụthể rất kkiểm chứng.
 
b4. Lý thuyết chiết trung – Eclectic (Dunning - Đại học Needs Anh – học giả nổi tiếng nhất về FDI trên thế giới)
Học thuyết này kế thừa tất cả những ưu điểm của các học thuyết khác về FDI. Một công
 
ty có lợi thế tiến hành FDI khi có OLI – Ownership Advantages, LocationAdvantage (hay
lợi thế riêng của đất nước – country specific advantages- CSA)
,Internalization IncentivesMột mô hình được xây dựng khá công phu của Dunning (1977, 1980,1981a,1981b, 1986, 1988a, 1988b, 1993), tổng hợp các yếu tố chính của nhiều côngtrình khác nhau lý giải về FDI, và đề xuất rằng có3 điều kiệnc
 
ần thiếtđểmộtdoanh nghiệp có động cơ tiến hànhđầu tư trực tiếp. Cách tiếp cận này được biết đếndưới tên mô hình “OLI”:
lợi thế về sở hữu, lợi thế địa điểm và lợi thế nội bộ hoá
 
. Lợi thếvề sở hữu của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một qui trình sản xuất mà
 
có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp khác không thể tiếp cận,ví dụ như bằng sáng chế hoặc kế hoạch hành động (blueprint).Đó cũng có thể là một sốtài sản vô hình hoặc các khả năng đặc biệt như công nghệ và thông tin, kỹ năng quảnlý, marketing, hệ thống tổ chức và khả năng tiếp cậncác thị trường hàng tiêudùng cuối cùng hoặc các hàng hoá trung gian hoặc nguồn nguyên liệu thô, hoặckhả năng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp. Dù tồn tại dưới hình thức nào, lợi thế về quyềnsở hữu đem lại quyền lực nhất định trên thị trường hoặc lợi thế về chi phí đủ để doanh nghiệp bù lại những bất lợi khi kinh doanh ở nước ngoài. Mặc dù các lợi thế về quyền sở hữumang đặc tng riêng củamỗi doanh nghiệp, chúng liên hệ mật thiết đến cácng lực về ng nghệ sáng tạo và đến trình độ phát triển kinh tế của các nước chđầu tư.
 
Thêm vào đó, thị trường nước ngoài phải có lợi thế địa điểmgiúp các doanhnghiệp có lợi khi tiến hành sản xuất ở nước ngoài thay vì sản xuất ở nước mình rồi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài.Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các yếu tố về
nguồn lực
 
, mà còn có cả các
 yếu tố kinh tế và xã
 
hội 
 
, như
dung lượng
 
 
cơ cấu thị trường
 
, khả năng tăng trưởng của thị trườngvà trình độ phát triển, môi trường văn hoá, pháp luật, chính trị và thể chế, vàcác qui định và các chính sách của chính phủ.Cuối cùng, MNE  phải có lợi thế nội bộ hoá. Nếu một doanh nghiệp sở hữu một sản phẩm hoặc một qui trình sản xuấtvà nếu việc sản xuất sản phẩm ở nước ngoài có lợi hơn xuất khẩu hay cho thuê, thìcũng chưa chắc doanh nghiệp đã xây dựng một chi nhánh ở nước ngoài. Một trong
 
những cách lựa chọn khác cấp license cho một doanh nghiệp ớc ngi để hsản xuất sản phẩm hoặc sử dụng qui tnh sản xuất. Tuy nhiên, do khó thể tiếnhành trao đổi các tài sản vô hình này trên thị trường, sản phẩm hoặc quy trình
 
sản xuất sẽ được khai thác trong nội bộ doanh nghiệp n là đem trao đổi tn thịtrường. Đây chính là một lợi thế nội bộ hoá. ch giải của nh OLI rấtdễ hiểu. Tại bất cứ thời điểm nào, các doanh nghiệp của một ớc, so vớicác doanh nghiệp của các nước khác,
 
càng nắm giữ nhiều các lợi thế về quyền sở hữu, thì họ càng có động cơ mạnh để sử dụng cng trong nội bộ hơn phổ biến ra bên ngoài, họ càng tìm được nhiều lợi ích khi sử dụng chúng ở một nước kc t
 
họ ng động để phát triển sản xuất ớc ngoài. Nhng thay đi về vtrícủa dòng FDI vào hoặc ra của một nước thểđược giải tch bởi nhữngthay đổi về lợi thế địa điểm so với các nước khác, vànhững thay đổi trong
 
chứng mực mà doanh nghiệp thấy các tài sản này nếu được sử dụng trong nội bộsẽ tốt hơn so với khi đem bán trên thị trường (Dunning 1993). Cho đến nay mô hìnhOLI của Dunning có thể coi là cách lý giải đầy đủ và nhiều tham vọng nhất vềFDI.
b5. Lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm (International product life cycle- IPLC) của Raymond Vernon
 
Lý thuyết này được S. Hirsch đưa ra trước tiên và sau đó được R.Vernon pt triển một ch hệ thống từ năm 1966.Lý thuyết này giải cả đầutư quốc tế lẫn thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tếlà một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm. Lý thuyết này cho thấy vai tròcủacác phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách phântích quá trình quốc tế hoá sản xuất theo các giai đoạn nối tiếp nhau. Ưu điểm củalýthuyết này là đưa vào được nhiều yếu tố cho phép lý giải sự thay đổi theongànhhoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp của các nước tiên phong vềcông nghệ, trước tiên là đến các nước "bắt chước sớm", sau là đếncác nước "bắtchước muộn".Hai ý tưởng làm căn cứ xuất phát của lý thuyết này rất đơngiản, đó là:Mỗi sản phẩm có một vòng đời, từ khi xuất hiện cho đến khi bị đào thải; vòng
 
đờinày dài hay ngắn tuỳ vào từng sản phẩm.Các nước công nghiệp phát triển thườngnắm giữ những công nghđộc quyền dohọ khống chế khâu nghn cứu và triển khaido lợi thế về quy mô.Theo thuyết này, ban đầu phần lớn các sản phẩm
 
mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác. Nhưng khi sản phẩm mới đãđược chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sảnxuất bắt đầu được tiến hànhở các nước khác. Kết quả rất có thể là sản phẩm sau

Activity (9)

You've already reviewed this. Edit your review.
ambeztran liked this
1 thousand reads
1 hundred reads
Bùi Thủy liked this
Pn Nguyen liked this
Tri Tinh Nguyen liked this
bookbooming2 liked this
Lanquyen Chau liked this

You're Reading a Free Preview

Download
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->