Welcome to Scribd, the world's digital library. Read, publish, and share books and documents. See more
Download
Standard view
Full view
of .
Save to My Library
Look up keyword
Like this
101Activity
0 of .
Results for:
No results containing your search query
P. 1
Chuyên đề về thuế

Chuyên đề về thuế

Ratings:

4.67

(3)
|Views: 26,394|Likes:
Published by Mr. Hành
Tổng quan về Thuế
Tổng quan về Thuế

More info:

Published by: Mr. Hành on Dec 18, 2008
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/09/2014

pdf

text

original

 
Chuyªn ®Ò 9
ThuÕ vµ qu¶n lý thuÕ n©ng cao
1. Những vấn đề chung về thuế
1.1. Nguồn gốc của thuế 
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một sựcần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thihành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Để có nguồn lực vậtchất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cải của xã hội. Việchuy động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay Nhà nước có thể thực hiện bằngnhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay,trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viêntrong xã hội được gọi là thuế.Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, song quan niệm vềthuế và việc sử dụng công cụ thuế mỗi thời một khác. Trong chế độ phong kiến và giaiđoạn đầu của nhà nước tư sản thuế đóng vai trò huy động nguồn lực tài chính tối thiểu đểnuôi sống bộ máy Nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho quốc phòng, an ninh. Saucuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1929 – 1933, vai trò của Nhà nước đã có sự thayđổi: Nhà nước cần can thiệp vào hoạt động kinh tế bằng cách lập ra các chương trình đầutư lớn và thực hiện tái phân phối tổng sản phẩm xã hội thông qua công cụ ngân sách nhànước. Lúc này, thuế được Nhà nước sử dụng như là một công cụ để điều chỉnh nền kinhtế. Cùng với việc mở rộng các chức năng của Nhà nước và sự phát triển các quan hệhàng hoá tiền tệ, các hình thức thuế ngày càng phong phú hơn, công tác quản lý thuếngày càng được hoàn thiện hơn và thuế đã trở thành một công cụ quan trọng, có hiệu quảcủa nhà nước để tác động đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Bàn về mối liên hệgiữa thuế và Nhà nước, Mác viết “
Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủđoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chitiêu của Nhà nước
1
”. Ang-ghen cũng đã viết:
“Để duy trì quyền lực công cộng, cần phảicó đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế m
á
2
”.Tóm lại, điểm qua quá trình phát triển của xã hội cho thấy: thuế và Nhà nước làhai phạm trù lịch sử gắn bó hữu cơ với nhau: Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế;ngược lại, thuế bảo đảm cơ sở vật chất cho sự hoạt động và phát triển của Nhà nước.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của thuế 
Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện.Theo các nhà kinh điển, “
Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bùlạ
i” và “
thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm củađất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhậpcủa người chịu thuế 
3
.
1
 
Mác-Ang-ghen tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1961, tập 2.
2
 
Ang-ghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1962.
3
 
Lê-nin toàn tập, tập 15.
1
 
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công
4
” đã đưa ra mộtkhái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế. Theo tác giả, “
Thuế là một khoảntrích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dânđóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêucủa Nhà nước
”. Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnhsửa và hoàn thiện như sau: “
Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xácđịnh, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua conđường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện cácchức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước
”.Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau:
Thuế làhình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằmhình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
.Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau:
thuế là khoản đóng  góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại
.Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau:
thuế là biện pháp đặcbiệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhànước
. Như vậy, đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chấtcủa thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau:-
Thứ nhất 
,
thuế là khoản trích nộp bằng tiền
: Về nguyên tắc, thuế là một khoảntrích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằnghiện vật đã tồn tại trước đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thựchiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường.-
Thứ hai
,
thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực
: Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc,được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống pháp luật thuế).Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn địnhhay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượngnộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡngchế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế.Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.
- Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định
: Thuế là khoản thu xác định củacác tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương. Trái ngược vớivay, thuế không được hoàn trả trực tiếp.
- Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trựctiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
:Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy nhiên,một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi
4
 
Gaston Jeze, “Finances Publiques”, 1934.
2
 
xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và saukhi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nàocho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nàocho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiệnnghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; họ cũng không có quyềnđòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do nàyhay lý do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toáncho các khoản chi trái với nguyên tắc này.Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thuế không cóđối khoản cụ thể. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quyđịnh gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầuchi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhànước.Khái niệm “chi tiêu của Nhà nước” ngày nay không thể hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ bao gồm các chi phí liên quan đến chức năng duy trì bộ máy của Nhà nước để thực hiệncác chức năng của Nhà nước, mà còn gồm các chi phí cho việc thực hiện các chức năngkinh tế-xã hội. Chính vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuế trên hai gócđộ: thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nướcvà thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội hay công cụquản lý vĩ mô nền kinh tế.
1.3. Chức năng của thuế 
Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện được 3 chứcnăng cơ bản, đó là: chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chitiêu của Nhà nước; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằngxã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
1.3.1. Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN 
Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền vớitổng số chi tiêu của của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho cáckhoản chi ngân sách. Nhưng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bù đắp duynhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn vay hoặc pháthành tiền tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên tổngsản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy động của Nhà nước để bùđắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ).
1.3.2. Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội
Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng; thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sựcông bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương đối và tuỳthuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phânchia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường. Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với mộtsố người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng, với một số người khác, lại bị coi là tuỳ tiện.
1.3.3. Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường 
3

Activity (101)

You've already reviewed this. Edit your review.
1 hundred reads
1 thousand reads
Crystal Nguyen added this note
Cảm ơn người upload bài viết này..Bài viết rất hữu ích
Minh Hoang Ngoc liked this
Bom Ngoc liked this
Huong Pham liked this
Ngoc Dung Phan liked this
Thúy Quỳnh liked this
Thúy Quỳnh liked this
Lazy GàGà liked this

You're Reading a Free Preview

Download
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->