Chuyện vui, chuyện lạ đó đây. by Dong A Sang by Dong A Sang - Read Online

Book Preview

Chuyện vui, chuyện lạ đó đây. - Dong A Sang

You've reached the end of this preview. Sign up to read more!
Page 1 of 1

ĐẦU

Sau một ngày vất vả, muốn có những giây phút an bình, tĩnh lặng, tìm thú vui tao nhã với nụ cười vui sống, bạn hãy chọn cuốn sách Chuyện vui, chuyện lạ đó đây.

Sách gồm gần 400 câu chuyện ngắn, súc tích, được phân loại, sắp xếp, có tính chất tương đối, nhằm thuyết minh 8 vấn đề :

1. Khi ta sinh ra Vũ trụ – Trái Đất đã có rồi, Vũ trụ rộng vô biên – Trái Đất rộng vô cùng.

2. Trong đó con người là chủ thể, thân thể con người vẫn có những khả năng vô hạn.

3. Quanh ta có nhiều sinh vật đáng yêu.

4. Trên địa cầu có bao nhiêu loài thực vật đáng quý.

5. Trung Hoa nói riêng, các nước trên thế giới nói chung, những người đi trước làm nên lịch sử nhưng cũng để cho đời sau những nghi án cần phải lí giải.

6. Người xưa cũng để lại nhiều công trình văn hóa nhưng trong đó vẫn còn nhiều bí ẩn.

7. Trên thế giới có bao nhiêu điều hay lạ cần phải khám phá.

8. Những con số và chữ nghĩa cũng có nhiều điều thú vị.

Khi mở cuốn sách, với những chuyện vui đây đó, những chuyện lạ đó đây, khiến quý bạn quên cả mệt nhọc. Khi gấp cuốn sách lại, sách để lại cho quý bạn điều bổ ích; có cái nhìn thân thiện khoáng đạt về thế giới chung quanh; cuối cùng đọng lại là nụ cười trên môi, quên mọi phiền não.

Vì thế, người ta xếp quyển sách này vào loại sách hài hước – u mặc (humorous).

Với những ưu điểm trên, chúng tôi tuyển chọn, dịch thuật để tặng quý bạn đọc xa gần.

Nếu sách còn sai sót, bạn hãy lượng thứ bằng một nụ cười độ lượng và hài hước !

Chương một :VŨ TRỤ VÀ QUẢ ĐẤT

1. THIÊN VĂN VÀ THẦN THOẠI

Khoa thiên văn học thường dùng tên các vị thần trong thần thoại Hy Lạp để đặt tên cho các hành tinh.

Sau đây là tên 8 hành tinh lớn, còn gọi là tên quốc tế :

Địa cầu : Gaia nữ thần đất.

Kim tinh : Aphrodite thần của tình yêu và sắc đẹp.

Mộc tinh : Zeus là vua của các vị thần.

Thủy tinh : Hermes thần của thương nghiệp, đường sá và truyền tin.

Thổ tinh : Cronus thần nông nghiệp.

Thiên vương tinh : Uranus thần của bầu trời.

Hải vương tinh : Poseidon thần biển.

Minh vương tinh : Pluto thần cai quản địa ngục.

2. MẶT TRỜI

Ca dao Việt Nam viết :

Thấy em như thấy Mặt Trời

Chói chang khó ngó, trao lời khó trao

Đó là ngôn ngữ của thơ ca, của người yêu nói với người yêu, còn theo ngôn ngữ của các nhà thiên văn : Mặt trời, còn gọi là Thái Dương, là một ngôi sao trung tâm của hệ Mặt Trời. Cũng như các ngôi sao khác, Mặt Trời bao gồm các hành tinh khác, các tiểu hành tinh, các thiên thạch, các sao chổi và bụi. Sau đây là những con số về Mặt Trời :

Mặt trời hình thành cách đây 5 tỉ năm (5 Ga).

Đường kính là 1 392. 10⁶ km, gấp 109 lần đường kính Trái Đất.

Diện tích bề mặt 6, 09. 10¹² km2, gấp 11900 lần diện tích Trái Đất.

Thể tích 1, 41.10¹⁸ km³, gấp 1.300.000 lần Trái Đất.

Khối lượng 1, 9801.10 ³⁰ kg, gấp 332,950 lần Trái Đất.

Tỉ trọng 1,408g/cm³.

Nhiệt độ khoảng 6000 ⁰ C.

Tuổi thọ ước tính 100 triệu năm.

Trái Đất cách Mặt Trời là 149 597 870 km.

Nếu chúng ta đi đến Mặt trời bằng vận tốc ánh sáng, mất khoảng 499 giây. Âu Âu Âu

3. THÓI TRỜI XANH

Đại thi hào Nguyễn Du viết :

Trời Xanh quen thói má hồng đánh ghen

Nguyễn Du đã thi vị hóa, nhân cách hóa khoảng trời xanh (thanh thiên hoặc thiên không) thành đấng Tạo hóa. Tạo hóa hay ghen ghét người đẹp và đôi khi làm cho người đẹp bị đày đọa ở chốn nhân gian không cất đầu lên nổi.

Dưới mắt các nhà khoa học, Tạo hóa hay bầu trời xanh cao từ 8.5 km đến 18 km. Nếu cao hơn 18 km, thì chỉ là một màu đen, do không khí loảng nên ánh sáng không phát sinh tán xạ.

Nói chung, ông Trời Xanh ở cao hơn chúng ta trung bình 10 km.

4. AI SINH RA CHỊ HẰNG ?

Chúng ta thường gọi Mặt Trăng là chị Hằng, vậy ai sinh ra chị Hằng ?

Có nhiều giả thuyết về sự hình thành Mặt Trăng nhưng người ta có thể quy về 4 giả thuyết :

Phân liệt :

Người ta cho rằng, Trái Đất khi được hình thành, tự chuyển động rất nhanh, một bộ phận của Trái Đất bắn ra ngoài (phân liệt), lâu dần hình thành Mặt Trăng.

Cầm tù :

Thuyết này cho rằng, Mặt Trăng vốn là một hành tinh nhỏ, bị sức hút của Trái Đất, Mặt Trăng thoát ra khỏi quỹ đạo của nó và nó trở thành vệ tinh của Trái Đất, nghĩa là bị Trái Đất cầm tù.

Đồng nguyên :

Thuyết này cho rằng, Trái Đất và Mặt Trăng là đều tinh vân của Mặt Trời, tức là cùng nguồn gốc (đồng nguyên). Trái Đất hình thành trước, hấp thu một số lượng sắt và kim thuộc rất lớn. Mặt Trăng hình thành sau, nên số lượng sắt và kim thuộc ít hơn.

Phi thuyền vũ trụ :

Thuyết này có vẻ thần bí, vì người ta cho rằng, Mặt Trăng là một thiên thể nhỏ trong vũ trụ, sau đó được người ngoài hành tinh cải tạo, đưa nó gần đến Trái Đất và nó yên tâm di chuyển trên quỹ đạo !

Thuyết mới:

Hơi khác bốn thuyết trên, thuyết này cho rằng, Mặt Trăng là hành tinh nhỏ của Mặt Trời, một hôm lang thang thế nào lại va chạm Trái Đất, vật chất của nó ngưng tụ lại và thành Mặt Trăng.

5. MẶT TRĂNG

Nhà thơ Tản Đà từng viết :

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi

Trần thế em nay chán nữa rồi

Cung Quảng có ai ngồi đó chữa

Cành đa xin chị nhấc lên chơi !

Đó là cái nhìn lãng mạn của nhà thơ, còn các nhà khoa học thì phải cân đo, đong đếm cẩn thận.

Mặt Trăng, tiếng La tinh gọi là Luna, để phân biệt với các vệ tinh tự nhiên khác, từ Luna liên quan đến các từ khác như seleno - , - selene.

Selene là một vị thần trong thần thoại Hi Lạp, tiếng Anh gọi là Moon, liên quan đến các từ khác như Monday (thứ hai), Month (tháng), Measure (đo lường).

Mặt Trăng là vệ tinh duy nhất của Trái Đất, là vệ tinh thứ năm trong Hệ Mặt Trời.

Đường kính Mặt Trăng là 3474 km, bằng ¼ đường kính Trái Đất.

Trọng lượng là 7.350.10 ²² kg

Mặt Trăng tự quay theo trục, chu kì của nó là 27 ngày, 7 giờ, 43 phút, 11 giây.

Mặt Trăng quay quỹ đạo, chu kì của nó là 27 ngày, 7 giờ, 43 phút, 11 giây.

Sóc vọng là vào ngày 29, lúc 12 giờ, 44 phút, 3 giây.

Tốc độ quay theo quỹ đạo là 100 km/ giây.

Nhiệt độ là dưới 180o C đến 127o C

Khoảng cách từ Trái đất đến Mặt Trăng là 384. 401 km.

6. TÊN GỌI TRĂNG TRONG THÁNG

Sóc : Hoàn toàn không thấy vầng trăng.

Tân nguyệt : Ngày mồng 2.

Huyền nguyệt : Thấy nửa trên vầng trăng, ngày mồng 7 – 8.

Mãn nguyệt : Thấy cả vầng trăng, ngày 15 – 16.

Huyền nguyệt : Ngày 23 – 24.

Tàn nguyệt : Ngày 27 – 28.

7. TẾT TRUNG THU

Nhiều nước ăn tết trung thu nhưng tên gọi khác nhau.

Thái Lan : Gọi là tiết Trăng mới (Tân nguyệt).

Nhật Bản : Gọi là tiết Trăng tròn (Nguyệt viên).

Triều Tiên : Gọi là tiết Đêm thu (Thu tịch).

Ấn Độ : Gọi là tiết Trăng sáng (Minh nguyệt).

Indonesia : Gọi là tiết Trăng lớn (Đại nguyệt).

8. VỢ CHỒNG NGƯU LANG – CHỨC NỮ

Theo thần thoại, Ngưu Lang và Chức Nữ là vợ chồng, không biết phạm tội gì ở thiên đình, bị Vương Mẫu lưu đày mỗi người mỗi ngả ở hai bên bờ sông Ngân hà (Thiên hà).

Hàng vào đêm mồng 7 tháng 7, âm lịch (thất tịch), nhờ đám quạ và chim khách (ô, thước) bắc

cầu, Ngưu Lang – Chức Nữ mới gặp nhau một lần. Những ngày này thường có mưa Ngâu và những

con chim quạ,chim khách, thường trọc đầu vì phải làm cây cầu tình yêu.

Theo các nhà thiên văn, sao Ngưu Lang thuộc cung Thiên Ưng, sao Chức Nũ thuộc cung Thiên Cầm. Thiên Ưng ở nghiêng về Đông Nam Ngân Hà, Chức Nữ nghiêng về Tây Bắc Ngân Hà.

Ngưu Lang cách Trái đất là 6 năm ánh sáng, Chức Nữ cách Trái đất 26. 5 năm ánh sáng.

Ngưu Lang muốn gặp Chức Nữ phải vượt qua dòng sông Ngân Hà, nếu mỗi ngày đi được 1000 km, thì phải mất 43 tỉ năm ?

Nếu thời hiện đại, Ngưu Lang muốn điện thoại cho Chức Nữ thì phải mất trên 30 năm mới nghe được tiếng nói của cô vợ hiền ?

Về thể tích thì Chức Nữ hơn Ngưu Lang đến 8 lần, về trọng lượng Chức Nữ nặng hơn Ngưu Lang đến 1,5 lần; nhiệt độ của Chức Nữ là 8.800 độ, Ngưu Lang là 2000 độ.

Giả sử bạn có người vợ ở quá xa, lại mập mạp, nóng nảy hơn bạn gấp bội, liệu bạn có chung tình như Ngưu Lang đối với Chức Nữ hay không ? Và có dám đi mỗi ngày 1000 km và đi ròng rã 43 tỉ năm ?

9. SAO CHỖI

Cách đây một ngàn năm người ta đã biết đến Sao Chỗi (Halley). Thế mà ngày nay, người ta vẫn chưa biết hết về Sao Chỗi ? Theo các nhà khoa học :

Một ngôi Sao Chỗi lớn, đầu có đường kính là 185 vạn km, gấp 145 đường kính của Trái Đất.

Một ngôi Sao Chỗi nhỏ, đầu có đường kính là 13 vạn km, gấp 10 đường kính của Trái Đất.

Đuôi Sao Chỗi dài từ 5000 km đến 2 tỉ km, có Sao Chỗi đuôi dài tới 3.5 tỉ km.

Theo các nhà khoa học, năm 1982 thì nhân loại mới biết được 1700 Sao Chỗi. Âu Âu

10. BẠN ĐẾM ĐƯỢC MẤY NGÔI SAO ?

Chúng ta thường nghe các cháu nhỏ hát đi hát lại :

Một ông sao sáng, hai ông sáng sao

Ba ông sao sáng, bốn ông sáng sao

Bạn có thể hát đến ngôi sao thứ mấy và bằng mắt thường sẽ đếm được bao nhiêu ngôi sao ?

Cách đây hai ngàn năm, các nhà thiên văn học đã dùng mắt thường để sắp xếp thành 6 tầng sao.

Theo thống kê, người ta đếm được như sau :

Tầng một : 20 ngôi sao.

Tầng hai : 46 ngôi sao.

Tầng ba : 134 ngôi sao.

Tầng bốn : 456 ngôi sao.

Tầng năm:1 476 ngôi sao.

Tầng sáu : 4 840 ngôi sao.

Tổng cọng : 6 974 ngôi sao.

Nếu kể thêm Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Mặt Trời, thì người ta thấy tổng cọng là 6.980 ngôi sao, gần bảy ngàn ngôi sao.

Nếu bạn chịu khó thì mới có thể đếm được khoảng 3.500 ngôi sao, vì chỉ nửa bầu trời. Nếu bạn muốn đếm hết gần 7 ngàn ngôi sao cùng một đêm, bạn phải tìm cách xuyên qua bên kia Trái Đất.

Ngày nay, thiên văn học thống kê sao ở dãi Ngân hà : 1.5 nhân 10¹¹ 1.500 ức ngôi sao.

11. NHỊ THẬP BÁT TÚ

Các nhà thiên văn học Trung Quốc, Ấn Độ chia các 28 vì sao (nhị thập bát tú) trên trời thành 4 nhóm, mỗi nhóm có 7 ngôi sao :

Đông (Thanh long) : Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ.

Nam (Chu tước) : Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẫn.

Bắc (Huyền vũ) : Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.

Tây (Bạch hổ) : Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm.

12. VŨ TRỤ RỘNG VÔ CÙNG

Muốn đo vũ trụ, các nhà thiên văn học phải dùng đơn vị giây ánh sáng, giờ ánh sáng, tuần ánh sáng, tháng ánh sáng và năm ánh sáng.

Giây ánh sáng (light second) là khoảng cách mà quang tử di chuyển một giây trong chân không, tương ứng với 299.792.458 m.

Ta có thể suy ra độ dài của các đơn vị khác :

Giờ ánh sáng (light hour), tương ứng với 1.079.252.848.800 m.

Tuần ánh sáng (light week), tương ứng với 181.314.487.598.400 m.

Tháng ánh sáng (light month), tương ứng với 777.062.051.136. 000 m.

Năm ánh sáng (light year), tương ứng với 9.460.730.472.580,8 km.

Người ta dùng năm ánh sáng để đo ngôi sao gần nhất có tên là Proxima Centauri với 4,22 năm ánh sáng; bề ngang Ngân Hà với 100.000 năm ánh sáng; vũ trụ con người đã quan sát được có bán kính khoảng 13,7 tỉ năm ánh sáng.

13. NHỮNG CON SỐ VỀ TRÁI ĐẤT

Bán kính : 6.371 km.

Bán kính xích đạo : 6.378 km.

Bán kính cực : 6.357 km.

Diện tích : 510. 500. 000 km²

Thể tích : 11.000 tỉ km³ .

Diện tích lục địa : 149. 500. 000 km².

Diện tích biển : 361 .000 .000 km².

Tự quay trên trục một vòng : 23 giờ, 56 phút, 4.1 giây.

Quay xoay quỹ đạo một vòng : 365 ngày, 6 giờ, 10 phút, 9.5 giây.

Trái đất nở ra : Mỗi năm khoảng 0.5 mm (đo theo đường kính).

14. TRỌNG LƯỢNG CỦA TRÁI ĐẤT

Năm 1798, các nhà khoa học Mĩ, dựa theo nguyên lí lực dẫn đã đo được trọng lượng của Trái đất là 5.97. 10 ²⁴ kg.

15. CHIỀU DÀI XÍCH ĐẠO

Như đã nói, nhà thơ Nguyên Sa viết :

Nếu em là mặt trời ở trên đường Xích đạo

Anh muôn đời sẽ làm kiếp hướng dương

Vậy quảng đường mà người tình của nhà thơ phải đi là bao nhiêu ?

Xích đạo bắt đầu ở vĩ tuyến Nam – Bắc vĩ độ (0 độ), dài 4.007.5 24 km.

16. TRÁI ĐẤT - KHÍ HẬU - LOÀI VẬT

Theo các nhà khoa học, cách đây 22.500 vạn năm, khí hậu trái đất thay đổi khiến cho 2/3 loài động vật sống trên đại dương, 3/ 4 loài động vật lưỡng thê và 2/ 3 loài bò sát trên mặt đất bị tuyệt diệt.

Sau đó, loài bò sát sinh sản rất mạnh, trong đó có hai loài nhiều nhất : Một loài có răng, sau này biến thành khủng long. Một loài có khổng (lỗ), là thỉ tổ của các loài động vật có vú hiện nay. Thời kì này dài khoảng 1 tỉ năm.

17. HAI MƯƠI BỐN TIẾT KHÍ

Quả Đất xoay quanh Mặt Trời, vị trí khác nhau, thì khí hậu khác nhau. Các nhà thiên văn học chia Hoàng đạo thành 360 độ, gọi ngày Xuân phân là 0 độ, cứ 15 độ là một tiết khí, ta có 24 tiết khí :

Lập Xuân (Spring begins)

Vũ thủy (The rain)

Kinh trập (Insects awaken)

Xuân phân (Vernal Equinox)

Thanh minh (Clear and Bright)

Cốc vũ (Grain rain)

Lập hạ (Summer begins) Âu

Tiểu mãn (Grain buds)

Mang chủng (Grain in ear) Âu

Hạ chí (Summer solstice)

Tiểu thử (Slight heat) Âu Âu

Đại thử (Great heat)

Lập thu (Autumn begins) Âu Âu

Xử thử (Stopping the heat) Âu

Bạch lộ (White dews) Âu Âu

Thu phân (Autumn Equinox)

Hàn lộ (Cold dews) Âu Âu

Sương giáng (Hoar frost falls)

Lập đông (Winter begins) Âu

Tiểu tuyết (Light snow)

Đại tuyết (Heavy snow) Âu Âu

Đông chí (Winter Solstice)

Tiểu hàn (Slight cold) Âu Âu

Đại hàn (Great cold)

18. DIỆN TÍCH NĂM CHÂU

Chúng ta thường nói năm châu bốn bể. Vậy châu nào lớn nhất, châu nào nhỏ nhất ?

Châu Á : Diện tích 44.000.000 km², là châu lớn nhất thế giới.

Châu Phi : Diện tích 30.200.000 km².

Châu Mĩ Latinh : Diện tích 20.700.000 km².

Châu Nam Cực : Gọi là đệ thất đại lục, diện tích 14.051.000 km².

Châu Âu : Diện tích 10.160.000 km².

Châu Đại Dương : Diện tích 8.970.000 km², là châu nhỏ nhất thế giới.

19. LIỆU TRÁI ĐẤT CÓ NUÔI NỔI LOÀI NGƯỜI ?

Liệu Trái Đất có nuôi đủ con người và những sinh vật ở trên Trái Đất ? Đó là câu hỏi quan trọng đối với các nhà sinh thái học, kinh tế học và ngay cả chúng ta khi quá lo xa.

Hiện nay, theo các nhà sinh thái học thống kê, khá lạc quan, là con người chỉ khai thác được 1% những gì Trái Đất đang có. Nhưng ước đoán, Trái Đất chỉ nuôi nổi tối đa 8 tỷ miệng ăn.

Tất nhiên, Trái Đất có nuôi nổi con người bao lâu đều tùy thuộc vào khoa học, kĩ thuật, khả năng khai thác, sự tiết kiệm và sự sinh sản của loài người.

20. TAM GIÁC MA QUỶ TRÊN ĐẠI TÂY DƯƠNG

Theo các nhà nghiên cứu, nhiều thế kỉ qua thuyền bè đi ngang vùng biển Bermuda, Đại Tây Dương, cách lục địa Bắc Mỹ 900km, hay gặp nạn.

Đến thế kỉ XX, nhiều máy bay đi qua tam giác này cũng đều rơi xuống biển, hàng ngàn nạn nhân đã làm mồi cho cá tôm, chọn đáy biển làm nấm mồ. Người ta gọi vùng này là vùng tam giác ma quỷ hoặc tam giác trăm mồ (bách mộ tam giác).

Nhiều nhà khoa học Mĩ, Pháp đã để tâm nghiên cứu và còn dùng vệ tinh để thăm dò, trinh sát nhưng cũng chưa có những kết luận khả quan.

Người ta chỉ biết rằng, ở vùng này rất sâu, phi cơ bay trên trời dùng những dụng cụ để đo đạc nhưng cũng không đo được; có những nước xoáy rất mạnh, cứ 3 giây, thì nước xoáy cuộn lên cao một lần.

Người ta giải thích, những dòn nước xoáy này do gió xoáy của địa cầu, địa chấn, do núi lửa, do sức hút của mặt trăng.

Nhưng xem ra chưa xác định nguyên nhân nào là chính.

21. BA PHẦN TƯ TRÁI ĐẤT

Ba phần tư diện tích Trái Đất là biển, nên một nhà thơ Việt Nam đã viết :

Trái Đất ba phần tư nước mắt

Đi như giọt lệ gữa không trung

Đại dương lớn nhất : Thái Bình Dương, tổng diện tích 16.627,6 km², chiếm 45,9% các hải dương trên thế giới. Độ sâu bình quân là 3. 939,54 m.

Biển lớn nhất : Nam Hải (Trung Quốc), diện tích 1502 200 km². Bờ biển dài 4 987. 9 km.

Vịnh lớn nhất : Vịnh Mexico, diện tích 82. 232,5 km²; dài 12. 265,407 km.

Vịnh dài nhất : Hunson Bay, dài 313,76 km.

Eo biển dài nhất : Sakhalin (Nga) dài 799,67km.

Hải dương sâu nhất : Marinna Island (Thái Bình Dương) 10898.648m.

Nước biển trong nhất: Weddell Sea, có thể thấy được độ sâu 80m.

22. NHỮNG KỈ LỤC CỦA BIỂN

Rộng nhất : Biển San hô.

Nhỏ nhất : Biển Phi Luật Tân.

Nước nhạt nhất : Biển Baltic (Baltic Sea), Bắc Aâu.

Nước mặn nhất : Hồng Hải, Phi châu.

Nóng nhất : Hồng Hải, Phi châu.

Lạnh nhất : Biển Weddell (Weddell Sea), Nam cực.

Có đại lục lớn nhất : Địa Trung Hải.

23. MÀU SẮC CỦA BIỂN

Hồng hải : Biển có một loại tảo màu hồng sinh sản nhanh, nước biển hồng.

Lục hải : Biển có một loại tảo màu lục, rất đẹp, màu nước biển xanh.

Hắc hải : Đáy biển tích tự bùn màu đen, mùi hôi.

Bạch hải : Ở Bắc cực, băng tuyết trắng xóa.

Hoàng hải : Sông Hoàng Hà đổ phù sa màu vàng ra Bột Hải và Đông Hải, nước có màu vàng.

24. KHO TÀNG ĐẠI DƯƠNG

Diện tích đại dương là 3,6 tỉ km², chiếm 70 % diện tích Trái đất. Người ta đã thống kê :

Vàng : 550 vạn tấn.Bạc : 4 tỉ tấn.

Đồng : 40 tỉ tấn.Sắt : 137 tỉ tấn.

Thiếc : 41 tỉ tấn.Kẽm : 70 tỉ tấn.

Nhôm (Aluminium) : 137 tỉ tấn.

26. T

25. TÌN 25.TÌNH YÊU VÀ VỊ MUỐI

Đối với các nghệ sĩ dân gian, trong tình yêu có vị cay (của gừng) có vị mặn (của muối) :

Tay bưng dĩa muối chấm gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau

Nhưng vị mặn của muối, của nước biển, do đâu mà có ?

Theo các nhà khoa học, tính mặn của biển đã có lịch sử gần một tỉ năm. Vị mặn của nước biển là do trong nước mưa có chứa CO2 hòa