ĐÁNH GIÁ CÔNG TY: RỦI RO KINH DOANH

I. Lời nói đầu: Một nhà phân tích tín dụng phải hiểu rõ: (công việc kinh doanh của công ty mà anh ta đang đánh giá) Vì sao? Lượng tín dụng mà yêu cầu nên phù hợp (với quy mô và tính chất của hoạt động kinh doanh) >>> Nếu công ty đang tăng trưởng thì sao? Nếu công ty suy thoái thì sao? Đánh giá triển vọng của công ty và sức mạnh nội tại của công ty Hiểu rõ kinh doanh để hiểu rõ tình hình tài chính. Ví dụ?

-

Rủi ro kinh doanh đối với tín dụng dài hạn lớn hơn tín dụng ngắn hạn >>> Nên phân tích rủi ro trong trung hạn (vì phân tích ngắn hạn không có giá trị thực tiễn trực tiếp. ví dụ: báo cáo tài chính) Vì vậy. ngân hàng cho vay (hay ngân hàng đang đầu tư) cần đánh giá triển vọng trong trung hạn của công ty trước khi đưa ra quyết định. II. Những yếu tố cần phân tích để đưa ra đánh giá về rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp: 1. Phân tích ngành: Là cơ sở để đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp đó. Thông tin cần xác định được: Cách tạo tiền của doanh nghiệp (Sản phẩm và dịch vụ mà nó cung cấp là gì? Thị trường tiêu thụ ở đâu? Và chính sách giá như thế nào?) Hiểu biết cơ bản về các đối thủ cạnh tranh chính. Đưa ra một số ý tưởng nhằm nâng cao thị phần.

Thông tin được lấy từ: Kết quả các cuộc khảo sát ngành được thực hiện bởi các công ty tư vấn đầu tư tài chính lớn hoặc các ấn phẩm kinh tế hàng đầu (Wall St. Journal, Dun & Bradstreet). Tập hợp các báo cáo thường niên của các công ty hàng đầu trong ngành. Báo chi, internet hoặc dựa vào các mối quan hệ.

-

Hiểu biết về ngành sẽ là một lợi thế đối với các nhà phân tích trong việc ra quyết định.

Chiến lược định vị: Khi được yêu cầu vay một khoản vay trung dài hạn. ai là người quyết định và uy tín của con người này.2.1. cạnh tranh với đối thủ bằng cách nào và phải làm như thế nào để thành công) . Người phân tích cần trả lời cho được câu hỏi ai là người có quyền cao nhất.) Độ sâu trong kinh nghiệm quản lý của công ty không phải là sự đảm bảo rằng công ty đó sẽ không có nợ xấu. người cho vay phải đặt ra câu hỏi liệu doanh nghiệp đó sẽ ở đâu trên thị trường của nó khi khoản vay đó đến hạn. vị trí chủ tịch và CEO đều được đảm nhiệm bởi cùng một người >>> có khả năng bị điều hành một cách độc đoán bởi 1 cá nhân (đây là người mà rủi ro tín dụng của người cho vay phụ thuộc) Tuy nhiên đây có thể là mấu chốt quan trọng cho sự thành công của công ty >>> nhiều công ty tư nhân. 4. Điều nầy đòi hỏi người cho vay phải đánh giá chiến lược định vị của doanh nghiệp đó trong trung và dài hạn 4. công ty gia đình vẫn hoạt động và phát triển mạnh mẽ theo thời gian. Đối với công ty lớn thì đây cũng là cơ sở để cấp tín dụng. Cần đưa ra phương hướng kinh doanh rõ ràng. Tuy nhiên cần lựa chọn các yếu tố khách quan hơn: (chứ ko phải cảm giác) (Ví dụ: Trình độ quản lý có thể được đánh giá trên cơ sở trình độ. Thiếu kinh nghiệm quản lý chính là một trong những hạn chế lớn của nhiều công ty khi xin cấp tin dụng. Chủ tịch hội đồng quản trị và CEO: Trong nhiều công ty. kinh nghiệm và sự ổn định của đội ngũ quản lý. (cố gắng để đạt được cái gì. nhưng nó tạo nên niềm tin cho nhà đầu tư vào triển vọng tương lai của công ty. Phương hướng kinh doanh: Cần có được một chiến lược tốt và thuyết phục ngân hàng lý do muốn vay tiền. (Uy tín = thành tích trong kinh doanh) Tính ổn định của đội ngũ quản lý cấp cao cũng có thể là một yếu tố đánh giá quan trọng - 3. Bộ máy quản lý của doanh nghiệp: Nhà quản lý doanh nghiệp có uy tín và kinh nghiệm có thể ký kết hợp đồng tín dụng mà không có bất kỳ một nền tảng vững chắc nào.

Trả lời 2 câu hỏi: Có thị trường tốt hay không? Có sản phẩm hay dịch vụ cạnh tranh? Giá hay chất lượng? Nên đi vào xem xét: Kích thước và sức mạnh của thị trường hiện có. Thời gian hoàn vốn và lợi nhuận tương lai của dự án thường là những chỉ tiêu quan trọng để ngân hàng thẩm định dòng tiền. Trong ngắn hạn. Thị trường và sản phẩm: Doanh thu và lời nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh chính là nguồn trả nợ và lãi vay của doanh nghiệp. Lưu chuyển tiền và lợi nhuận: Luồng tiền ra quá lớn so với các công ty khác >>> rủi ro trong xác định lợi nhuận cuối cùng >>> cần có những dòng tiền ra thấp nhất để tạo ra những dòng tiền vào cao nhất Những hoạt động kinh doanh có khả năng tạo tiền cao là những hoạt động kinh doanh yêu câu một khoản chi phí tương đối nhỏ. Dòng sản phẩm của công ty.2. dòng tiền là chỉ tiêu đánh giá quan trọng hơn lợi nhuận. Triển vọng mở rộng thị trường hay khả năng của một cuộc suy thoái. mức độ phụ thuộc của nó vào thị trường và khách hàng.3. o Xu hướng biến động của lợi nhuận: lợi nhuận có thể giảm nếu bị cạnh tranh hoặc do thị trường. . và phân đoạn trong thị trường. (vốn vay & vốn cổ phần) 4. Nhà phân tích còn chú ý đến: o Tỷ lệ lãi ròng trên doanh thu: càng lớn rủi ro càng thấp. và thời điểm các sản phẩm thay thế cần được phát triển.Cơ cấu vốn mong muốn là một trong những lý do mà CFO của các công ty lớn đưa ra để xin ngồn tài trợ từ ngân hàng. Chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường. o Tỷ lệ chi phí cố định trong cơ cấu chi phí: tỷ lệ cao thì càng dễ bị tổn thương tài chính trong suy thoái - 4. ngân hàng thường áp dung thêm một loại phí gọi là phí bảo hiểm. Doanh nghiệp tiềm năng mà không có một chiến lược phát triển >>> bị coi có rủi ro cao >>> đối với những công ty nhỏ.

4. Sự khác biệt về sản phẩm. Và khẳng định nên áp dụng một chiến lược cạnh tranh. Ví dụ: Psion. Phân khúc và tập trung. 4. Trình độ và khả năng đổi mới công nghệ: Những thay đổi về trình độ công nghệ trong ngành vừa tạo ra cơ hội vừa tạo ra rủi ro. Bên cạnh đó là sự xâm nhập thị trường của Microsoft đã đe dọa đến vị trí dẫn đầu của Psion tại Anh. Lợi thế cạnh tranh hiếm khi được duy trì lâu dài do đó doanh nghiệp phải tìm kiếm liên tục các thị trường cho các sản phẩm mới để duy trì doanh số bán hàng và lợi nhuận. 4. trong thực tế thị trường rất dễ bị tổn thương. hoặc vị thế nhà cung cấp dịch vụ đối với việc kinh doanh. tuy nhiên. một công ty sản xuất thiết bị cầm tay nổi tiếng ở Anh. 2 lợi thế cơ bản: Giá cả & chất lượng. Nhìn chung là sản xuất với chi phí thấp để cạnh tranh và tìm kiếm lợi nhuận cao nhất. Triển vọng mở rộng thị trường sẽ phụ thuộc vào triển vọng của nền kinh tế.1. Lợi thế cạnh tranh: Đánh giá rủi ro kinh doanh trung hạn = Đánh giá lợi thế cạnh tranh. Đánh giá đúng thời điểm đổi mới công nghệ phù thuộc vào kinh nghiệm và kỹ năng kinh doanh. Tất cả làm cho quyết định cho vay của ngân hàng đối với các công ty trong lĩnh vực này là cực kỳ khó khăn. Chiến lược chi phí thấp: Chiến lược: tạo ra lợi thế về giá với một chi phí thấp Chiến lược chi phí lãnh đạo là đạt được vị thế giá cả đối với người cung cấp hàng hóa. Lợi thế cạnh tranh là bất cứ điều gì mang lại lợi thế cho công ty trước đối thủ trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ.Rủi ro tiềm năm không thể đánh giá mà chỉ cần nhận diện. .5. Tiềm năng phát triển của thị trường này thoạt nhìn thì là rất lớn. Nguyên nhân là do tốc độ phát triển chóng mặt về công nghệ.4. Đổi mới công nghệ quá muộn hoặc quá sớm sẽ gia tăng chi phí. Ngoài ra còn có hình ảnh của sản phẩm. sự phân mảnh thị trường mạnh mẽ nơi thiếu một tiêu chuẩn rõ ràng về phần cứng cũng như phần mềm. Porter đã xác định ba chiến lược cạnh tranh mà một công ty có thể áp dụng: Chiến lược chi phí thấp.5.

- - 4.3. Chiến lược tập trung chất lượng. Phân khúc và tập trung: Mục đích: trung quan tâm vào 1 hoặc một vài phân khúc riêng biệt hoặc thị trường riêng 1 loại hàng hóa nào đó và không nên đáp ứng toàn bộ thị trường chỉ với 1 loại sản phẩm. Sự khác biệt về sản phẩm: Chiến lược: nâng cao chất lượng để bán với giá cao. 4. nó tạo ra 1 lợi thế đối với các đối thủ cạnh tranh hoặc có thể là đưa ra mức giá thấp hơn đáng kể so với đối thủ.4. Đối thủ cạnh tranh hiện có: Cường độ cạnh tranh thường được quyết định bởi các đặc điểm của ngành : Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành Tốc độ tăng trưởng của thị trường Chi phí cố định Chi phí bảo quản hoặc các sản phẩm khó bảo quản Chi phí chuyển đổi Mức độ khác biệt hóa sản phẩm .2. Phân khúc và tập trung có thể diễn ra theo 2 hướng: Chiến lược tập trung chi phí. Việc làm tăng chất lượng sản phẩm có thể được thực hiện thông qua 1 trong 3 con đường sau: Sản phẩm mang tính đột phá hoàn toàn khác với sản phẩm mới.6. Cải tiến sản phẩm về cơ bản không khác với đối thủ cạnh tranh của họ.5.6.1. Lực lượng cạnh tranh: 4.5. nhưng rõ ràng là chiếm ưu thế hơn trong việc đạt hiệu suất tốt hơn với một mức giá cạnh tranh. nhưng sức hấp dẫn của nó lại đến từ sự kết hợp hài hòa giữa chi phí và hiệu suất. Tối ưu cân bằng đối với khách hàng về chất lượng và giá cả. Một sản phẩm cạnh tranh có thế được phát triển với những lợi thế không rõ ràng so với đối thủ.

Theo nguyên tắc này. như trong các ngành công nghiệp dịch vụ và thị trường sản phẩm mới. => Các người cho vay nên thận trọng với các khoản vay trung hạn đối với các ngành công nghiệp dịch vụ có lợi nhuận cao. Sức mạnh người bán: Nhà cung cấp.6.- Cơ hội thị trường Rào cản rút lui thị trường Sự rút lui khỏi ngành Sáng lập viên của Boston Consulting Group (BCG) Bruce Henderson đã khái quát hóa hiện tượng này và đưa ra quy luật “Nguyên tắc Ba và Bốn” : Một thị trường ổn định sẽ không có quá ba đối thủ cạnh tranh đáng kể và đối thủ cạnh tranh mạnh nhất sẽ không có thị phần lớn quá bốn lần thị phần của đối thủ cạnh tranh nhỏ nhất. Khi mà rào cản gia nhập thị trường thấp. vị trí chiến lược của bất kỳ công ty nào đều là không rõ ràng. .Nếu có nhiều đối thủ cạnh tranh lớn. 4. nếu : • Nhiều nhà cung cấp cạnh tranh với nhau hay sản phẩm có tính tiêu chuẩn hóa cao.6.Những doanh nghiệp rút lui khỏi ngành sau cùng là những doanh nghiệp phải chịu thâm hụt ngân sách nếu họ cố theo đuổi sự tăng trưởng. • Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp rất quan trọng. ngành kinh doanh sẽ có các hiện tượng sau : . . nếu có lợi thế về quyền lực trong đàm phán có thể có những tác động quan trong vào ngành sản xuất. • Các sản phẩm hàng hóa thông thường.3. Nhà cung cấp được gọi là có lợi thế quyền lực. như việc ép giá nguyên nhiên vật liệu. .Nguyên tắc này không tính đến khả năng hai đối thủ cạnh tranh lớn nhất cùng bị thua lỗ. 4. đó là một công việc mang tính chiến lược. đó là các ngành mà rào cản gia nhập là rất thấp. • Các nhà cung cấp rất tập trung. nếu : • Nhà cung cấp đến từ các quốc gia bất ổn hoặc nhà cung cấp đang là mục tiêu tiềm năng của đối thủ cạnh tranh khác.Các doanh nghiệp tồn tại lại trong ngành là những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng của thị trường. Mối đe dọa của những người gia nhập mới: Việc thị trường phát triển sẽ thu hút những đối thủ cạnh tranh mới. sẽ có sự rút lui khỏi ngành.Việc xác định được yếu tố tạo nên cái gọi là “thị trường” là vô cùng quan trọng. • Người mua rất tập trung. Nhà cung cấp có quyền lực yếu.2. • Nguy cơ gia nhập theo chiều dọc về phía trước của người mua. ví dụ như tư vấn quảng cáo và thiết kế. . .

5. Đây là cấu trúc để đánh giá công ty theo mô hình SWOT: S W O T Strengths Weaknesses Opportunities Threats Ví dụ: III. Kết luận: .4. Sức mạnh người mua: Một cách tương tự. sản phẩm này đến sản phẩm khác để đạt được mục đích chi phí thấp.4.5. ngành công nghiệp cũng có thể bị chi phối bởi những người mua có quyền lực.6. Nhà bán buôn có thể ép doanh nghiệp nhằm đạt được những lợi ích như: • Mức giá mua thấp • Thời gian mua chịu lớn • Tín dụng thương mại lớn 4.6. Sự thay thế: Sự thay thế có thể là thay thế từ nhà cung cấp này đến nhà cung cấp khác. Đánh giá sức mạnh chiến lược: phân tích SWOT Để quyết định việc cho vay trong trung hạn thì có phải quyết định chính những vấn đề sau: o o o o o Có nên cho vay không? Nếu có thì cho vay bao nhiêu? Cho vay trong thời gian bao lâu? Lãi suất cho vay đòi hỏi là bao nhiêu? Nên có những ràng buộc gì cho việc cho vay? Những quyết định này phụ thuộc vào những người quyết định cho vay xem xét xem doanh nghiệp có triển vọng hợp lý để thành công ở thị trường trong tương lai hay không. !!! Tuy nhiên Nhà cung cấp ở trong vị thế có lợi hơn để giữ khách hàng hiện tại nếu việc thay đổi sản phẩm yêu cầu phải đào tạo lại trình độ của nhân viên.

Hiểu về việc kinh doanh của khách hàng là đặc biệt quan trọng đối với các nhà phân tích trong các ngân hàng. nhưng sự hiểu biết về rủi ro kinh doanh góp phần làm gia tăng độ tin cậy của sự đánh giá tình hình tài chính công ty của các chuyên gia và khả năng của mình để trả nợ các khoản nợ đến hạn. nhưng cũng nên sử dụng nhiều thông tin khách quan và thực tế như là các thông tin đã có sẵn. về điểm mạnh và điểm yếu. và tác động của ngành công nghiệp với thị trường. Quyết định tín dụng không phải chỉ dựa trên phân tích rủi ro kinh doanh. Công việc này dựa trên kinh nghiệm và phán đoán của nhà phân tích.Các nhà phân tích tín dụng cần thực hiện 1 sự đánh giá về công ty của khách hàng. . ngoài ra nó cũng có ý nghĩa đối với 1 số quyết định tín dụng.