H ÒA B Ì N H & H ẠN H PH ÚC

Tìm kiếm hòa bình luôn được chú trọng bởi những giải
pháp được vạch ra bằng nhiều nỗ lực, nhưng bản thân
con người thì quên điểm xuất phát kiến tạo nên tiến
trình hòa bình đó. Mỗi chúng ta là một điểm hòa bình và
cả cộng đồng xã hội có điểm chung ấy chính là mục đích
cần đạt tới. Giải pháp ấy thật sự không đâu xa mà chính
ngay bản thân mỗi người.
Tâm hòa thì thế giới mới hòa. Tâm từ hòa ở mỗi cá nhân
lan ra những người xung quanh, chính sự lan tỏa này
chứa được tâm niệm mong muốn mọi người được như
mình. Và ai cũng như vậy thì thế giới hòa bình sẽ đạt
được một cách chân chính.
Sống trong thế giới hận thù mà chúng ta không hận thù,
giữa những người hận thù mà ta không hận thù thì sẽ
được an lạc hạnh phúc. Đó là thông điệp của đức Phật
đã dạy cách đây hơn 2500 năm, nhưng vẫn mới và đầy
giá trị cho cả thế giới cần phải học, nghiên cứu và thực
hành theo.
Nhân dịp Phật đản, BBT kính chúc quý Tăng, Ni, Cư sĩ
luôn an lạc và như ý; nguyện cầu thế giới hòa bình,
nhân loại hạnh phúc.
Ban Biên Tập
Kính đề

TẬP SAN PHÁP LUÂN
TRAO ĐỔI KIẾN THỨC CƠ BẢN PHẬT HỌC

NĂM CANH DẦN - 2010

74
BAN BIÊN TẬP PHÁP LUÂN THỰC HIỆN

với sự đóng góp của nhiều tác giả

NỘI DUNG

CHUYÊN ĐỀ

03
Cảm niệm Phật đản PL.2554
■ HT. Thích Đức Chơn

22

PHẬT PHÁP CĂN BẢN: Bát
chánh đạo với năm giới quý báu
■ Thích Thái Hòa

28

GIỚI THIỆU KINH
Tu-lại khai ngộ vua Ba-tư-nặc
■ Thích Tâm Nhãn

33

GIẢNG LUẬN
Cư sĩ trộm nước uống
■ Thích Đạo Luận

41

LỊCH SỬ: Một vài đính chính
nhỏ về hành trạng Thiền sư Minh
Châu - Hương Hải
■ Ngô Quốc Trưởng

07
Hoa đạo mùa Phật đản
■ Trần Kiêm Đoàn

THƠ

14
Ông Phật Nhỏ
■ Tâm Minh

21 ● Dzạ Lữ Kiều
49 ● Tâm Nhiên
90 ● Hạnh Phương

NHẠC: Phật Ngọc
thơ: Hạnh Phương
nhạc: Vũ Ngọc Toản

46

TRUYỀN THÔNG

74

Ý KIẾN

Diện mạo phiến diện
của truyền thông Phật
giáo Việt Nam hiện đại
■ Minh Thạnh

Ca dao Phật đản
■ Phước Cường

50

77

TRIẾT HỌC

KHÔNG GIAN THƠ

Triết học Phật giáo
Hàn quốc
■ Tuệ Giác

NGỌC,
thơ Hạnh Phương
■ Mang Viên Long

59

81

VĂN HÓA

NỮ GIỚI

Mùa Phật đản ở xứ hoa
anh đào
■ Khải Tuệ

Vị trí nữ giới trong
Phật giáo
■ Viên Minh

63

92

TƯ TƯỞNG

Tính khoa học trong
duy thức
■ Pháp Hiền cư sĩ

TRUYỆN NGẮN

Những bông hoa
mùa Hạ
■ Lam Khê

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

PL.2554
CẢM NIỆM PHẬT ĐẢN

Hòa thượng Thích Đức Chơn tuyên đọc tại lễ đài Phật đản Quảng Hương Già Lam,
ngày 15 tháng Tư năm Canh Dần

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu-ni Phật
Kính bạch chư tôn Đại đức tăng,
Cùng chư thiện tín nam nữ,
Chính trong ngày hôm nay,
tùy theo giờ địa phương của mỗi
nước, toàn thể thế giới, mà đứng
đầu là Tổ chức Liên Hiệp quốc,
đang trọng thể cử hành Đại lễ
Phật đản, ghi dấu ước vọng thân
thiết của cả nhân loại về một thế
giới không hận thù, không bạo
lực, y trên những nguyên lý mà
đức Phật đã khai thị, về những
mối quan hệ ràng buộc trong
quan hệ tồn tại nhân sinh giữa
các cộng đồng dân tộc, giữa các
nền văn minh và tín ngưỡng dị
biệt. Những nguyên lý ấy cũng
đã từng là nền tảng để gầy dựng
nên những đất nước an lạc và

phú cường mà vinh quang còn
ghi dấu trong lịch sử, từ Đại đế
A dục của Ấn Độ, cho đến Thánh
Đức Thái tử của Nhật Bản.
Trong bối cảnh ấy, chúng ta
trong phạm vi hạn hẹp ở đây
cũng đồng cử hành Đại Lễ Phật
đản 2554, góp phần tâm nguyện
cùng với các cộng đồng dân
tộc trên thế giới ước nguyện về
một thế giới thanh bình và thịnh
vượng, trong đó có đất nước thân
yêu của chúng ta.
Vườn Lâm-tỳ-ni, nơi đã đón
nhận những bước chân Bồ-tát sơ
sinh trên những đóa sen vô nhiễm,
mọc lên từ bùn lầy ô trược; khu
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

3

Lễ Phật đản tại Quảng Hương Già Lam, 2010.

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

vườn ấy một thời phải bị chôn một thế giới thanh bình có thể
vùi trong quên lãng bởi bạo lực có. Hình ảnh đức Phật với ánh
và cuồng tín tôn giáo. Đó cũng là mắt từ bi và nụ cười an lạc dần
lúc mà toàn thể châu Á bị chìm dần tỏa sáng tại những đất nước
ngập trong bi thương khổ nhục hùng cường nhất mà một thời tự
dưới tham vọng bành trướng thế thị kiêu ngạo với nền văn minh
lực và thần quyền thống trị.
tôn giáo của mình, tin tưởng vào
Cho đến lúc lương tâm nhân sức mạnh đe dọa của vũ khí hủy
loại chợt bừng tỉnh trước bạo lực diệt hơn là đức tính bao dung căn
ngông cuồng, đức tin mù quáng, cứ trên quy luật vô thường và vô
khi mà thế giới kinh hoàng vì ngã.
xung đột tín ngưỡng và dân tộc
Ngày nay Phật tử, và cả những
dẫn đến những trận tàn sát thảm người không là Phật tử, có cơ
khốc, vườn Lâm-tỳ-ni bất chợt duyên để chiêm bái Lâm-tỳ-ni,
xuất hiện bởi sự khám phá bất để bồi hồi xúc động bằng cảm
ngờ của du khách, như là dấu thức u huyền, đâu đây còn phảng
hiệu đáp ứng cho khát vọng về phất bước chân nhẹ nhàng của vị
4

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

hoàng tử sơ sinh, bước đi không
hề làm dao động một ngọn cỏ,
nhưng đã làm rung động cả thế
giới.
Dù vậy, những ô nhiễm tùy
miên chìm sâu trong đáy biển
vọng tâm vẫn không ngừng
khuấy động tham chấp, hận thù,
khiến cho con người vừa mới
ngoi lên khỏi bóng tối để nhìn
thấy ánh sáng của bình minh
giác ngộ, phút chốc lại bị nhận
chìm sâu xuống vực thẳm điên
đảo tham sân.
Chỉ trong một năm qua, nhân
loại chứng kiến quá nhiều thảm
cảnh gây ra bởi thiên nhiên và
bởi chính con người. Thảm họa
đến tận những nơi được bảo vệ
an toàn nhất bằng những phương
tiện tối tân nhất. Thế gian này thật
sự không còn nơi nào an toàn để
cho con người tự mãn với những
thành tựu văn minh vật chất.
Trong môi trường hạn hẹp
của chúng ta ở đây thì những
vấn đề thế giới sôi bỏng như
vậy ở ngoài tầm tư duy. Song,
mỗi người chúng ta đều có nhận
thức rằng bản hoài xuất thế của
Phật là soi sáng con đường dẫn
đến an lạc cho thiên giới và nhân
giới. Những gì đức Phật giảng
dạy không ngoài mục đích chỉ

dẫn con đường đi đến an lạc cứu
cánh, bằng cách diệt trừ tham
lam ích kỷ, thù hận tàn độc,
cuồng tín bảo thủ, cho đến bứng
tận gốc rễ vô minh và hữu ái.
Thế nhưng, chúng là những tùy
miên bám chặt tâm, che mờ trí
của, nhiễm độc căn thức; như ao
nước đầu làng nơi mà người, vật,
trâu bò, gà vịt có thể đến xả rác,
phóng uế; chất bẩn tồn đọng lâu
ngày, ao nước trở thành độc hại.
Chúng ta như dân làng cạnh đó,
vì không còn nguồn nước nào
khác nên vẫn phải sử dụng nước
bẩn từ ao bẩn ấy. Muốn có nguồn
nước sạch, phải kiên nhẫn gạn
lọc, và gạn lọc có phương pháp.
Cũng vậy, chúng ta quy y
Phật, như người đi tìm nguồn
nước sạch để điều trị những
chứng bịnh kinh niên, nhưng
vì kém đa văn, giải đãi buông
lung, hoặc vì tâm tư bạc nhược,
không tự chế trước sức hấp dẫn
của ngũ dục, khiến cho đường đi
của mình tưởng là hướng theo
Thánh đạo mà thực tế càng lúc
càng xa dần nẻo chánh, cho đến
lúc làm nô lệ cho ác ma, phá hoại
chánh pháp, thậm chí không còn
tin tưởng luân hồi nghiệp báo,
tự do hành động theo sai khiến
của quyền lực u tối và tham vọng
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

5

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

thấp hèn của thế gian.
Đức Phật dạy bốn chúng
hòa hợp đồng tu cùng tôn thờ
một đấng Đạo Sư, cùng sống
hòa hiệp như nước với sữa thì ở
trong Phật pháp mới có sự tăng
ích an lạc, song do bởi đắm trước
quyền lợi vật chất, hoặc vì hư
danh, hoặc vì mưu cầu địa vị hão
huyền, huynh đệ trở thành đối
thủ tương tranh như những gian
thương cạnh tranh lợi nhuận trên
thương trường. Đây là tấn bi hài
kịch thường thấy trong mỗi đạo
tràng.
Chúng ta may mắn được thọ
thân người, lại đầy đủ phước
duyên để được nghe Phật pháp,
có điều kiện thuận tiện để học
và tu tập theo chánh pháp, nếu
không nhân cơ duyên may mắn
nghìn đời mới được một lần này
để tu tập, hành trì theo lời dạy
của Phật, quả thật là vô vàn đáng
tiếc. Một phen mất thân người,
muôn kiếp khó gặp lại.
Đức Phật cũng đã dạy rằng,
nếu thế giới này chỉ một mực là

an lạc, thuần lạc chứ không khổ,
thì chư Phật không cần phải xuất
hiện thế gian. Và nếu thế giới
này chỉ thuần là khổ, thì chư Phật
cũng không xuất hiện thế gian.
Thế giới có khổ nhưng đồng
thời cũng có lạc. Khổ hay lạc tùy
theo tâm tư ô nhiễm hay thanh
tịnh của mỗi chúng sinh, vì vậy
chư Phật xuất hiện để chỉ rõ con
đường nào dẫn đến khổ, và con
đường nào dẫn đến an lạc chân
chính. Muốn đi hay không, do tự
ý tự nguyện của mỗi chúng sinh.
Vậy, nay chúng ta đón mừng
Phật đản, cũng chính là lúc
chúng ta lắng đọng tâm tư cho
thanh tịnh, để ánh sáng giác ngộ
từ bước chân của Bồ-tát sơ sinh
bừng sáng, soi sáng bước đi của
chúng ta trong đêm dài tăm tối
đầy khổ lụy này.
Cầu nguyện bốn chúng đệ tử
dũng mãnh tinh tấn với niềm tin
bất động, cùng hòa hợp đồng học
đồng tu, vì lợi ích an lạc của bản
thân và của nhiều người, cho đến
của tất cả chúng sinh.

Nam-mô Lâm-tỳ-ni viên Vô ưu thọ hạ thị hiện đản sinh
BỔN SƯ THÍCH-CA NÂU-NI PHẬT

6

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

H

oa đạo mùa Phật đản

Em yêu mùa sen nở
Nhớ Gia đình Phật tử
Áo lam cài hoa sen
Thương bầy chim oanh vũ…
(Nhớ mấy mùa sen, Trần Thị
Diệu Phước, 1963)
Em Oanh vũ nữ với bài thơ
dài, “Nhớ mấy mùa sen”, đoạt
giải nhất trong cuộc thi viết
ngành Oanh của liên Gia đình
Phật tử Thừa Thiên Huế năm
1963, nay đã là bà nội, bà ngoại
ở lứa tuổi lục tuần. Đã 47 năm
rồi tôi chưa gặp lại em, nhưng
bài thơ xưa thì vẫn nhớ. Bài thơ
hồn nhiên và trong sáng đượm
màu Hoa đạo.
Cái đẹp hình tướng có thể tàn
phai, nhưng cái đẹp của tư tưởng

thì không phai tàn.
Năm nay…
“Mùa cherry, tôi đi tìm
cú…!”.
Nếu “cú” đây chẳng phải là
cú pháp, là văn chương tuyệt
cú mà chỉ là cú vọ, cú mèo, cú
tráu… thì không biết cái hồn văn
chương thiên cổ có bị phai tàn
chăng?
Nhưng dẫu sao thì đó vẫn là
sự thật.
Ở xứ Huê Kỳ cái gì cũng có,
nhưng lại thiếu một mùa sen
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

7

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

ngày Phật Đản.
Những năm qua, người Việt
ở Mỹ thường chú ý mùa cherry
trùng với mùa Phật Đản trên xứ
nầy. Cho nên có nhiều người cho
mùa cherry là mùa Quả Phật khi
mùa sen nở là mùa Hoa Phật.
Mùa Hoa Phật xứ Mẹ và mùa
Quả Phật xứ Người.
“Cherry” – tiếng Mỹ có nghĩa
là hoa anh đào; mà cũng là trái
mận đào. Người Việt ở nước
ngoài nói tới trái cherry thì ai
cũng biết nhưng nói đến trái
“mận đào” thì… hết biết luôn!
Quả mận đào nhỏ như trái bồ
quân nhưng có tới 5 màu: Trắng,
vàng, đỏ, tím và đen. Nghe nói
trái mận đào mang tinh thần hoa
đạo. Hoa đạo (Kado) là nghệ
thuật cắm hoa truyền thống của
Nhật Bản. Lịch sử Hoa đạo xuất
hiện từ khi các thiền sư Trung
Hoa đem đạo Phật vào đất Nhật
từ thế kỷ thứ 6. Mỗi đóa hoa
không có tự thể tánh. Hoa phải
có sự hợp duyên của thiên nhiên
mới thật là hoa: Một giọt sương
long lanh, một chút gió phơ phất,
một chú bướm vàng lãng đãng,
một đôi mắt ngắm tự tâm hồn…
thì hoa mới đẹp. Vì thế nghệ
thuật Hoa đạo là “hoa trong ta và
ta trong hoa” giữa khoảng trời
8

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

thu nhỏ.
Giống mận đào gần với Hoa
đạo vì cũng cần “hợp duyên”
như thế. Nghe nói nếu trồng một
cây thì thường không có trái; cô
đơn ái dục vô tâm khởi chăng
(?!). Nên những tài tử cây kiểng
thường ghép cả 3 loại mận đào
– vàng, đỏ, tím – vào một cây.
Mười năm trước, tôi trồng một
cây mận đào ghép như thế ở
vườn sau nhà. Chỉ 3 năm sau là
cây bắt đầu có trái. Những trái
mận đào nhỏ nhắn, mơn mởn
chín mọng đủ màu, trĩu quả như
những cành hoa. Vị ngọt, hương
hiền, pha chút chua chua điểm
làm duyên. Tôi thường hái lứa
mận đào đầu tiên cúng Phật mà
cứ mường tượng như những đóa
sen mùa Phật Đản trên quê mẹ
ngày xưa.
Năm nay, cây mận đào vườn
sau ấy đã cao vượt quá mái nhà.
Khu nhà mới Natomas nơi tôi ở,
nguyên được xây dựng trên một
cánh đồng trống bây giờ đã thành
một rừng cây xanh nho nhỏ.
Người Mỹ chỉ trồng loại cây có
hoa và cây xanh gây bóng mát
quanh nhà. Rất ít nhà chịu trồng
cây ăn quả vì dân xứ nầy thích
ăn cây quả bán ở tiệm, an toàn
về mặt vệ sinh hơn là ra vườn

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

hái trái. Nhà nào trồng cây quả,
thường để chín rụng đầy vườn,
lâu ngày thành rác bẩn.
Cuối mùa Xuân, chim chóc
bốn phương từ đâu tụ về. Mới
3 giờ sáng, chim đã bắt đầu ríu
rít gọi đàn. Cây mận đào nhà tôi,
nhánh nào cũng đầy trái, bỗng trở
thành kho lương thực tươi mát
cho bầy chim. Mỗi sáng sớm, ra
nhìn hột và quả mận đào chim ăn
rụng tả tơi trên thảm cỏ, lúc đầu
tôi cảm thấy tiêng tiếc, nhưng
bóng dáng đủ màu và tiếng hót
hồn nhiên của bầy chim mang
niềm vui bù lại.

Gần Rằm tháng Tư, trái mận
đào chín mọng, chim càng rủ
nhau lựa quả ngon, mổ rụng vung
vãi càng nhiều. Tình yêu thiên
nhiên, chim muông có cánh cửa
giới hạn của lòng sở hữu. Ngắt
một nhánh hoa vườn người hay
đuổi bầy chim ăn quả vườn nhà
là mình đang khép lại cuộc ngao
du về khóa ngõ nhà mình. Tôi
đi tìm con cú; một con cú lộng
giả thành chân làm bù nhìn đuổi
bầy chim lạm dụng quyền… làm
chim không giới hạn. Phải cần
một sự dữ dằn, xấu xí hình tướng
để xua đuổi hình ảnh hoa bướm

SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

9

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

của lòng tham.
Suốt mấy ngày anh chủ nhà
trong tôi cứ đi tìm hình giả một
con cú mèo trông càng dữ dằn,
gớm ghiếc hơn cả cú thật càng
tốt. Cái nhìn dư ảnh trong tâm và
ý nghĩ của tôi chuyển dần từ bầy
chim líu lo buổi sớm sang con cú
vọ, từ khi tôi đi tìm cú đuổi chim.
Vào những hàng bán đồ chơi
chim chóc, mắt tôi nhìn vào hình
chim muông đủ màu, đủ loại mà
chẳng thấy con nào, vì chỉ đi tìm
con cú. Bắt gặp một dáng vẻ sinh
vật dữ dằn nào tôi đều chăm chú
nhìn ngắm, nhưng hầu hết chưa
đủ “dễ sợ” làm bầy chim sợ hãi.
Cả mấy ngày, nhìn đâu tôi cũng
mường tượng về con cú lý tưởng
của mình. Đó là con cú sẽ làm
bầy chim kia kinh hồn bạt vía.
Con cú như bến đậu của dòng
suy tưởng xua đuổi trong tôi vào
lúc này.
Đã đi tìm thì sớm muộn gì
cũng sẽ gặp. Theo lời mách
miệng của một anh Mỹ đen gặp
tình cờ ở Country Mall, tôi vào
chợ Ross, tới khu bán hàng trang
hoàng ảnh tượng. Những tượng
Phật, Chúa, Thánh, Thần, thiên
tài, nghệ sĩ… xếp hàng trên giá
mờ nhạt. Những muông thú cây
cảnh có như không. Mắt tôi sáng
10

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

lên với một hình giả con cú làm
bằng chất nhựa dẻo được sơn
phết nhiều màu, nhưng hai màu
đen trắng đối chọi níu chặt cái
nhìn của tôi vào nó. Tâm tôi đang
trên cuộc hành trình tìm cú; ý tôi
đang trôi trong dòng tới cú. Nên
gặp được thân cú dữ dằn thật là
một hạnh phúc. Tôi phấn chấn
mua về treo cao chót vót trên
cây mận đào. Bên cạnh còn treo
thêm một dãy dĩa CD lóng lánh
hai mặt cũng theo lời khuyên của
người mách nước.
Sáng đầu tiên vừa mới thức
dậy là tôi mở cửa chạy ngay ra
vườn sau nhìn con cú treo trên
cây mận đào. Con cú phản ánh

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

mặt trời. Dĩa CD bắt nắng loang
loáng. Một cuộc phản công hùng
tráng vô cùng. Không có bóng
một con chim nào liều lĩnh lại
gần. Tiếng chim râm ran chỉ
còn nghe vọng lại từ phía vườn
nhà ai. Mắt cười nhìn con cú
đồng minh vểnh cái mỏ quặm
nhọn hoắt trên cây nhìn xuống,
tôi xoa tay hoan hỷ. Cảm nhận
đồng hành. Vừa đúng dịp lễ Phật
Đản, tôi hái những trái mận đào
to nhất còn sót lại sau cuộc xâm
lăng của bầy chim và đơm lên
bàn thờ cúng Phật. Khói nhang
bay thanh thoát sao tôi cứ mường
tượng như dáng hình con cú.
Giữa cuộc binh đao, lòng người
chiến sĩ nào mà không vương
mang mùi thuốc súng!
Những ngày tiếp theo, mỗi
sáng tôi đều có dĩa mận đào tươi
cúng Phật. Con cú và tôi vẫn gần
gũi nhìn nhau mỗi ngày. Tiếng
chim xa lắc. Vài con chim sà
cánh đậu trên cây; nhớn nhác rồi
bay đi. Tôi đã lấy lại được cây
cherry. Trái bây giờ chín tới. Sau
trận mưa giông, trái rụng, gió
lớn thổi bay tứ tán đầy sân. Vắng
tiếng chim buổi sớm, buổi chiều
làm tôi nhớ. Nỗi nhớ mơ hồ như
vọng ra từ góc khuất của lòng
mình. Vắng những cánh chim.

Cũng đàn chim ấy, nhưng trước
đây có vẻ như ranh mãnh, bon
chen; sao bây giờ tôi thấy chúng
hồn nhiên và thơ dại như bầy
oanh vũ ngày xưa. Trên cây mận
đào đong đưa với gió chỉ còn con
cú. Gió lên, trái rụng. Trên xác
lá và trái chín vỡ tan, sáng nay
tôi tìm thấy hai tổ chim con rơi
xuống. Những con chim non đã
chết queo trong tổ. Có lẽ vì mấy
ngày qua chim mẹ sợ không dám
tới, bỏ đói đàn con.
Con cú, dẫu chỉ là cái mã vô
hồn nhưng sao nó vẫn lay động
được cảm tính, tâm thức của sự
sống. Đàn chim sợ nó như một
phản ứng bản năng. Tôi gần với
nó vì nó giúp tôi loại trừ được
bầy chim mà tôi coi như một đối
tượng xâm phạm quyền sở hữu
của mình. Chỉ có một điều tôi
quên mất. Đó là quyền sở hữu
những gì mà tôi trân quý, nhưng
có thể chẳng có giá trị gì với
người ngoài và cũng chẳng giúp
được gì cho ai: Cây cherry, cây
mận đào ở Mỹ nhiều lắm; nhưng
chẳng ai biết hay quan tâm là cái
mô tê gì ở Việt Nam và nhiều xứ
khác. Với tôi, cây mận đào làm
hoa trái cúng Phật trong mùa
Phật Đản là một duyên lành ở
xứ người. Tôi thường loay hoay
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

11

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

tìm Phật tận đâu đâu ở khu vườn
Lâm Tỳ Ni, ở cung trời Đâu Suất
nhưng lại quên “ông Phật” trong
tôi mà chính đức Phật từ hơn
2500 trước đã thọ ký cho mỗi
chúng sinh về sau. Con cú cứ ám
ảnh cái nhìn, cái nghĩ của tôi như
một ý nghiệp mây mù thiếu mầm
độ lượng. Tôi phải từ bỏ nó để
trở lại với chính mình.
Rũ sạch định kiến và sự ám
ảnh thật không đơn giản. Mấy
chú chim con chết trong tổ ám
ảnh tôi không dứt. Phù du và bé
bỏng thế thôi, nhưng mỗi hạt cát
đều có quyền sống riêng của nó.
Nói chi tới lòng Từ Bi cho to tát.
Chỉ nói tới tình thương nhỏ bé đối
với bầy chim cũng đã cần tới cái
tâm không khóa, không gài. Tôi
lặng lẽ bẻ khóa như một lời cầu
nguyện. Rồi tôi trả lại con cú cho
nhà hàng Ross – một con cú giả
mặt mày còn nguyên vẹn – lấy
lại chút tiền còm giúp quỹ trẻ mồ
côi. Đàn chim lại trở về. Tiếng
hót đánh thức tôi ngồi uống trà
để viết những dòng này khi trời
chưa sáng.
*
Sớm mai ấy, nơi vườn Lâm Tỳ
Ni hoa Vô Ưu Mạn Đà La bừng
nở và chim Ca Lăng Tần Già bay
lượn, cất tiếng hót vang lừng đón
12

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

mừng thái tử Tất Đạt Đa – một vị
Phật tương lai – ra đời.
Từ ấy, hoa Mạn Đà La thành
biểu tượng của Hoa đạo. Nghìn
năm sau, hoa Mạn Đà La là loài
hoa “hình vô hình hình, tướng vô
tướng tướng” của tâm tưởng khi
hướng về đức Phật. Bao tấm lòng
thực tế tìm hoa. Bao tâm hồn mơ
mộng nghĩ về hoa.
Trong kinh Phật thường thấy
xuất hiện nhiều loài hoa trong
thời thuyết pháp của Phật như:
Mưa hoa Mạn Đà La (Mandàrapushpa), Mạn Châu Sa, Mạn
Thù Sa, Ma ha Mạn Đà La, Ma
ha Mạn Thù Sa. Người ta cho đó
là những loại Hoa Trà (Camelia);
mà sinh tộc hoa trà thì có hàng
trăm loại. Và cũng từ ấy, những
tâm hồn mang khuynh hướng tiếp
cận với sự huyền nhiệm của tâm
linh đất trời không ngớt rải hoa
và quét hoa xung quanh những
tượng đài Phật giáo.
Trong bao nhiêu lần lễ hội
Phật giáo, nhất là những lần lễ
hội quanh tôn tượng đức Quán
Thế Âm, người ta không ngớt
cãi nhau về mây ngũ sắc, về hoa
Mạn Đà La rải xuống trần gian
từ giữa khung trời phiêu linh vô
tướng. Kẻ “thấy” thì cho đó là
phép mầu huyền nhiệm. Người

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

“không” thì cho đó là một ám
ảnh mang tính chất mê tín dị
đoan. Bậc “vô tướng vô tâm”
thì mỉm cười thinh lặng. Người
đời sống chết với tình yêu nhưng
chẳng ai vẽ được chân dung một
Tình Yêu có thật.
Và nữa, hoa nở chim kêu.
Những loài chim ẩn hiện trong
kinh Phật như Oanh Vũ, Anh
Lạc, Cộng Mạng, Ca Lăng Tần
Già vẫn thường xuyên xuất hiện.
Bóng dáng cùng tiếng chim Ca
Lăng Tần Già giúp nở những
mầm hoa hạnh phúc. Nhiều
người đã cất công lặn lội qua Ấn
Độ, vượt sông Hằng tìm về đất
Phật. Dấu tích ngày xưa đã thành
hoang phế. Còn chăng những phế
tích được tôn tạo lại như những
biểu tượng. Người tìm về đất
Phật chỉ còn được kể lại rằng, Ca
Lăng Tần Già là một loài chim
thuộc giống chim sẻ Ấn Độ. Loài
chim ấy ẩn cư trong suốt mùa hè
nóng như thiêu đốt của xứ Ấn và
khi chim cất tiếng kêu là mở đầu
cho gió mùa sắp tới từ tháng Tư
đến tháng Mười. Tiếng chim như
là biểu tượng âm thanh vui sống
vỡ bờ làm vạn vật hồi sinh. Lời
của Phật cũng như tiếng chim Ca
Lăng Tần Già giúp con người hồi
sinh và hạnh phúc từ sự ẩn nhẫn

cam chịu khổ đau của dòng sống
tạm bợ mà phải cột trói trong
vòng duyên nghiệp trùng trùng.
Dr. Satesh Pande, nhà sinh vật
học chuyên khảo về những loài
chim đã sưu tầm và mô tả hình
ảnh cùng tiếng hót thanh thoát
của loài chim Ca Lăng Tần Già
(Kalavinka Sparrow). Nhưng
loài hoa Hoa đạo và Chim đạo
chỉ nở được và hót được khi trái
tim là cánh cửa không cài, mở
rộng đón một bầu trời xanh.
Ít nhất đã có một lần trong
đời, tôi đi tìm chim cú mới cảm
nhận được tâm hồn mình nhuộm
cú khi mải miết đi tìm bóng cú
giữa thiên nhiên bao la nhưng
không có chỗ an trú cho mình vì
chén trà “đương niệm hiện tiền”
đã đầy ắp. Muốn rót thêm một
giọt mới pha, cũng phải cần đổ
lớp cũ ra thôi!
Mùa Phật Đản, mong hoa
Mạn Đà La nở khắp lòng người
và tiếng chim Ca Lăng Tần Già
làm đượm tình người. Hoa phi
hoa, điểu phi điểu… Chẳng phải
là hoa, chẳng phải là chim mà chỉ
có tiếng vọng trong ta mang suối
nguồn hạnh phúc cho mình.■
Trần Kim Đoàn
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

13

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

Ô

ng Phật Nhỏ

Kính thưa quí vị và các bạn,
Hướng dẫn Phật pháp cho
các em Oanh Vũ và ngành Thiếu
hôm nay khó khăn hơn ngày xưa
rất nhiều, rồi hướng dẫn cho các
em Oanh Vũ ở hải ngoại còn khó
hơn cho các em ở trong nuớc vì
trẻ em ở phương Tây được giáo
dục hơi khác với Á Đông mình.
Tự do hơn, tự lập hơn, lý sự hơn,
“ngang hàng với người lớn” hơn.
Một em bé mới học lớp ba đã có
thể nói với mẹ rằng: từ hôm nay
có nhiều điều mẹ phải hỏi con
chứ không phải là con phải hỏi
mẹ nữa [vì có nhiều danh từ về
Thực vật học (Botanic) mà mẹ
không biết, không thể giúp em
làm homework được!☺☺!!]…
Thế mà các em Oanh Vũ của
chúng ta còn chịu học Phật pháp,
14

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

học Việt ngữ, v.v… nghe lời Anh
Chị trưởng - phần đông trẻ tuổi
hơn cha mẹ các em - như thế là
chúng ta đã may mắn lắm rồi!
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó
khăn cho một Anh Chị Trưởng
dạy Phật pháp mà gặp những
vấn đề có vẻ thần thoại, huyền
thoại, huyền bí... nghĩa là khoa
học chưa chứng minh được...
không biết giảng nói làm sao
cho các em hết thắc mắc, cho các
em đừng hỏi “tại sao”, “tại sao”
và… “tại sao” một cách bất tận!
☺☺!! Thế nhưng, có một bộ
phim nhan đề là “Little Buddha”
kể chuyện một vị Lat-ma (Lama
Norbu) từ Nepal đến Mỹ để tìm
hóa thân của sư phụ của ông là
Lama Dorje đã chết và báo mộng
cho ông biết các dấu vết để đi tìm
và chúng đã dẫn ông đến cậu bé

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

Jesse người Mỹ ở Seattle, con trai
của một kiến trúc sư tên là Dean
Conrad, mẹ cậu là Lisa, một giáo
sư toán… Đạo diễn phim đã lồng
vào trong này lịch sử đức Phật
Thích-ca từ sơ sinh đến thành
đạo. Câu chuyện vì vậy vừa có
chuyện “tái sinh” vừa có lịch
sử đức Phật với nhiều “phép lạ”
như hiện tượng đức Phật sơ sinh
đi bảy bước trên những búp sen
nở ra dưới chân ngài, hiện tượng
Ma vương quấy phá, hiện tượng
chiếc bình bát trôi ngược dòng,
v.v… Chuyện kể còn những
chi tiết tưởng là “chuyện nhỏ”
nhưng đã làm thay đổi cuộc đời
của một con người, v.v… những
điều này nếu ai tin vào Thượng
Đế (God) sẽ bảo rằng “do God
an bài - đó là ý God” còn đối với
người Phật tử thì thấy rõ đó là
“trùng trùng duyên khởi” - cái
này có vì cái kia có, không do
ai “sinh ra” hay “sắp đặt” mà lại
ăn khớp với nhau hết. Phim rất
được mọi người thích xem, mặc
dù mỗi người một ý, thu lượm
được những bài học riêng cho
mình, cũng không biết có phải
là ý của đạo diễn muốn truyền
đạt hay không… nhưng đặc biệt
là các trẻ em xem phim rất hăng
say, có lẽ vì nhân vật chính là một

cậu bé chăng. Các em tỏ ra rất
thích thú, cảm động, chú ý theo
dõi, từ đó một số Huynh trưởng
đã xem qua phim này nghĩ rằng
người đạo diễn thật tài tình khi
tạo ra những hình ảnh có sức
thuyết phục ngay cả với những
vấn đề siêu hình đối với trẻ em.
Các huynh trưởng nghĩ rằng có
thể nào học tập để tạo ra những
trò chơi (games) Phật hóa cho
các em Oanh Vũ hay không…
Xin mời quí vị và các bạn theo
dõi cuộc hội thoại bỏ túi giữa các
huynh trưởng quen thuộc A, B, C
bàn về những cảnh đặc biệt của
chuyện phim “Little Buddha”
của đạo diễn Bernardo Bertolucci
- song song với lịch sử đức Phật
Thích-ca từ sơ sinh đến thành
đạo - có thể giúp chúng ta cho
các em xem, và tự các em hiểu
theo cách của chúng, không cần
giải thích dông dài.
A: Này các bạn, “Ông Phật
nhỏ” là đức Phật sơ sinh hay
phim “Little Buddha” vậy hả?
B: Cả hai và không chừng là
cả ba nữa đó!
C: Bạn nói bí hiểm quá, sao
lại cả ba?
A: Thôi, mình hiểu rồi! Có
phải bạn nói đến ông Phật nhỏ
là ám chỉ các em Oanh Vũ của
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

15

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

mình hay nói đến ông Phật bên
trong mình hay không?
B: Đúng vậy! Phim Little
Buddha đồng thời nêu lên rất
nhiều vấn đề, các bạn không
thấy sao? Nào là tái sinh, nào là
cuộc đời đức Phật Thích-ca, nào
là giáo lý duyên khởi, nào là quá
trình phấn đấu với bản thân, nào
là trí tuệ vô ngã của đức Phật
Thích-ca, v.v…
C: Các bạn thật là giỏi quá,
phim coi đã lâu rồi còn nhớ rõ
mồn một! Mình quên gần hết
rồi! Vậy các bạn chịu khó nhắc
lại truyện phim để mình nắm bắt
lại đã nha!
A: Truyện phim bắt đầu bằng
cảnh Lama Norbu theo lời chỉ
điểm trong giấc mơ đến Seattle
tìm hóa thân Thầy của mình, ông
ta gặp được và làm quen với hai
mẹ con của cậu bé Jesse.
B: Mấy hôm sau, khi cha của
Jesse là kiến trúc sư Dean Conrad
đi làm về thì thấy có hai nhà sư
Tây Tạng đang ngồi trong phòng
khách nói chuyện với vợ mình
là Lisa. Lisa giới thiệu khách
với chủ nhà xong thì tóm tắt câu
chuyện của hai nhà sư.
C: Rồi, mình nhớ rồi, đó là
chuyện các nhà sư do một loạt
những giấc mơ thôi thúc và
16

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

hướng dẫn, họ đã bôn ba theo
những dấu vết để từ Nepal (Ấn
Độ) đến đây (Seattle, USA) vì
họ tin rằng cậu bé 10 tuổi, con
trai của gia đình Conrad, chính
là hóa thân của vị Thầy của họ.
Nhưng mình không nhớ tại sao
hai nhà sư có thể thuyết phục cho
hai nhà khoa học trẻ kia tin câu
chuyện của họ?
A: Lúc đầu hai vợ chồng trẻ
kia đâu có tin, và đặc biệt phản
kháng, xem là câu chuyện quá
sức huyễn hoặc, nhất là khi hai
nhà sư muốn đem cậu bé Jesse
đi theo họ trở về Bhutan. Trước
khi tạm biệt Jesse để về tu viện,
Lama Norbu mời Jesse thỉnh
thoảng ghé tu viện chơi và tặng
cho em một cuốn sách viết về
cuộc đời của Siddhartha. Cuốn
sách này được Lisa đọc cho Jesse
nghe mỗi khi cậu nằm trong bồn
tắm hay trước khi đi ngủ.
B: Hình như cuốn sách này đã
khơi dậy trong cả ba người của
gia đình Conrad một vài sự tỉnh
thức - những hạt giống về tôn
giáo trong họ được đánh thức
cùng với sự tỉnh thức của Thái tử
Siddhartha sau khi dạo chơi bốn
cửa thành và đang đêm trốn khỏi
hoàng cung để thực hiện sứ mệnh
giải thoát nhân loại chúng sanh

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

ra khỏi đau khổ phiền não…
C: Phải rồi! cho đến một hôm,
sau khi đưa Jesse đến chơi với
Lama Norbu và từ tu viện trở
về, Dean được tin người cousin
của mình, người hùn hạp làm ăn
chung thân tín của mình vừa tự
vẫn! Đúng vậy không?
A: Đúng vậy, “cú sốc” mạnh
quá, tất cả quay cuồng trong đầu
óc Dean, anh ta thấy cuộc đời
quả là ảo mộng, sống và chết,
có và không, mộng và thực…
chỉ là trong khoảnh khắc!! Thế
là anh ta không những cho phép
Jesse đi Bhutan với Lama Norbu
mà chính anh ta cũng đi theo họ
và ở đó Dean và Jesse lại được
gặp thêm hai hóa thân của Lama
Dorje - là một “cậu bé bụi đời”
và một cô bé con nhà khá giả - cả
hai đều là người Ấn Độ, trạc tuổi
Jesse. Cả hai có thân thế khác
nhau nhưng phẩm hạnh đều rất
tốt.
B: Cuộc du lịch này giới thiệu
cho chúng ta đất nước Ấn Độ với
nhiều hình ảnh thời đức Phật còn
tại thế như các lò gốm, cách làm
những lọ, bình hoa… bằng đất
sét, các cô thiếu nữ chèo thuyền
trên sông vừa đàn vừa hát, cảnh
chư Tăng đi khất thực… đó cũng
là xứ sở của rất nhiều người

nghèo nhưng cuộc sống tâm linh
rất phong phú.
C: Phải rồi, và chúng ta
cũng được thấy những trung
tâm nuôi dạy những vị Lạt-ma
tương lai, những cậu bé thân thể
khỏe mạnh, nét mặt thông minh
tươi mát, học, làm việc, chơi
thể thao… theo thời khóa biểu
nghiêm khắc…
A: Các bạn còn nhớ ngay
khi ở Seattle, Jesse đến tu viện
của Lama Norbu chơi, ông ta đã
đưa ra những đồ dùng của Lama
Dorje hồi còn sống để lẫn vào
nhiều thứ linh tinh khác và Jesse
đã nhận ra những đồ dùng quen
thuộc trong tiền kiếp của mình
(nhưng chỉ có Lama Norbu biết
chứ cậu bé không hề hay biết).
B: Và các bạn còn nhớ cách
Lama Norbu giải thích “tái sinh”
cho Dean hiểu bằng cách đập vỡ
bình trà và kết luận: cái bình bể
nhưng nước trà vẫn lưu thông, có
thể làm thấm ướt khăn lau, tấm
thảm, v.v… cái bình là thể xác
(body) - là phần vật chất - còn
phần “tinh túy” thì không mất,
v.v... hay không?
C: Cái đó mà giảng cho các
em ngành Thiếu của mình là nó
cãi liền đó nha! Nhưng cái câu
hát mà các thiếu nữ chèo thuyền
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

17

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

hát làm cho ông thầy tu khổ hạnh
Siddhartha giật mình tỉnh ngộ đi
theo con đường trung đạo, mình
chắc là ai cũng tâm phục khẩu
phục!
A: Đúng vậy “Hãy lên cho
chúng tôi một cây đàn đừng quá
cao mà cũng đừng quá thấp; dây
đàn căng quá sẽ đứt và nhạc sẽ
bay, còn dây đàn quá chùng thì
sẽ câm, vì nhạc không đến!” Ý
nghĩa câu hát thật hay.
B: Mình tâm đắc nhất là đạo
quân ma vương đến thị uy với
đủ hình thức, mặc giáp sắt, bước
rập ràng… những đạo quân của
Tham dục (Kãmã), Bất mãn với
đời sống Thánh thiện (Arati),
Khát ái (Tanhã), Sợ hãi (Bhĩru),
Hoài nghi (Vicikicchã), v.v…
các em ngành Thiếu xem và hiểu
được đó là “những người xấu”
dụ cho những thói hư tật xấu, là
Ma vương hay Tâm Ác trong bản
thân mình và đức Phật là Phật
tánh.
A: Mình thì tâm đắc nhất là
đoạn đức Phật “đối diện” với
chính mình - mà ngài gọi tên là
“người thợ cất nhà”: xuyên qua
nhiều kiếp sống luân hồi, ta đi
lang thang, đi mãi, ta đi tìm hoài
mà không gặp, ta đi tìm người
thợ cất cái nhà này; lập đi lập
18

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

lại đời sống quả thật là phiền
muộn!
Này hỡi người thợ làm nhà, ta
đã tìm được bạn!
Từ nay bạn không còn cất nhà
cho ta nữa.
Tất cả sườn nhà đều gãy, cây
đòn dông của bạn dựng lên cũng
bị phá tan.
Ta đã chứng nghiệm quả vô
sanh bất diệt, và ta đã tận diệt
mọi Ái dục.
B: Đúng vậy, lời tuyên bố thật
là tuyệt vời, đây là sự kiện hiển
nhiên cho thấy Phật tử tin Phật
thì tin sinh tử luân hồi, nhân quả,
nhân duyên…
C: Mình nhớ cảnh đức Phật
chiến đấu với ma vương, nói
chuyện với người thợ xây nhà...
đều có sự chứng kiến của cả hai
cha con Jesse và hai em bé Ấn
Độ nữa! Có phải vậy không?
A: Phải rồi, bởi vậy mới nói
đạo diễn “lồng” lịch sử đức Phật
Thích-ca vào truyện phim mới từ
từ giải thích, hướng dẫn người
xem vào các vấn đề tái sinh,
nhân quả, duyên khởi, nghiệp,
v.v... theo quan điểm Phật giáo
chứ! Lịch sử đức Phật được
kể song song với diễn tiến của
truyện phim nên rất sinh động,
như đang xảy ra chứ không phải

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

là chuyện của hai ba ngàn năm (games) cho các em Oanh Vũ,
trước. Đây đúng là phương pháp thay vì để các em say mê những
hoằng pháp thật hữu hiệu!
games bên ngoài, toàn cả đấm
B: Chính thế! Người thợ làm đá, la hét, gợi sự bạo động nơi
nhà không ai xa lạ, mà chính là trẻ em… đó có thể là phần nào
đang ẩn tàng trong mỗi chúng đóng góp vào những vụ xách
ta, đó chính là Ái dục. Cái sườn súng vào trường bắn bạn bè, thầy
nhà là những tâm ô nhiễm: tham, cô giáo…
sân, si, mạn, nghi, tà kiến, không
C: Đã không đặt vấn đề thì thôi
biết hổ thẹn, lười biếng, phóng chứ đã đặt ra thì thế nào cũng có
dật, v.v… Cây đòn dông là căn cách giải quyết, ACE chúng ta có
nguyên xuất phát mọi dục vọng, “trí tuệ tập thể” mà!
đó là vô minh.
A: Sáng kiến của các bạn rất
C: Thật vậy, nhờ xem phim, hay nhưng ngoài vấn đề kỹ thuật
các em ngành Thiếu hiểu rõ thế còn có vấn đề nội dung trò chơi
nào là ngôn ngữ biểu tượng, có chuyên chở đúng giáo lý hay
chúng ta không cần định nghĩa không nữa đó nha! Vì vậy, chúng
lôi thôi. Các em hiểu được “phá ta còn phải nhờ quý Thầy cố vấn
vỡ cây đòn dông” bằng trí tuệ hay nữa - trước khi đưa ra phổ biến
“dùng trí tuệ làm sập căn nhà ngũ rộng rãi.
uẩn” có ý nghĩa là gì - các em đã
B: Đúng! Đúng! nhưng trở lại
học ngũ uẩn, 12 nhân duyên rồi truyện phim “Little Buddha” với
thì càng dễ nắm bắt!
đoạn kết thật cảm động.
A: Mình nghĩ đó là lợi điểm
C: Các bạn kể đi, mình quên
của phương pháp giáo dục thính rồi, hình như cuối cùng ông Lama
thị, vừa được nhìn, nghe kể Norbu viên tịch phải không?
chuyện, nghe giảng giải, v.v... thì
A: Phải rồi, Lama Norbu ra
tác dụng gấp nhiều lần so với chỉ đi nhẹ nhàng sau khi gặp gỡ cả
được nghe, mà không được nhìn ba đứa trẻ, đưa các em về tu viện
thấy… hay ngược lại!
làm quen với các trẻ em cùng
B: Mình suy nghĩ không tuổi và cùng căn cơ. Một hôm
biết chúng ta có thể bắt chước Lama Norbu ngồi thiền rồi “đi”
đạo diễn, lồng những bài Phật luôn. Một buổi lễ cầu nguyện
pháp vào những trò chơi điện tử theo truyền thống Tây Tạng hết
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

19

☸ KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

sức trang nghiêm, hoành tráng
làm mọi người xúc động, nét mặt
ai cũng bùi ngùi thương tiếc, cả
ba đứa trẻ [lúc đó đã được công
nhận là hóa thân của Lama Dorje,
mặc lễ phục, đội “vương miện”
(?)] cũng có phong cách chững
chạc, trang trọng như chư Tăng
- không cười đùa, mất trật tự...
như các trẻ em cùng tuổi ở ngoài
đời - Dean, cha của Jesse cũng
tỏ ra đau buồn vì đã được Lama
Norbu xem như bạn trong thời
gian chung sống và mới hôm qua
khi thăm hỏi nhau, Lama nói với
Dean rằng ông thấy hơi mệt…
B: Tro của Lama Norbu đuợc
phân chia ra và ba em cũng được
chia phần; cảnh cuối là ở tại trú
xứ của ba em, mỗi em “xử lý”
phần tro theo kiểu riêng: Jesse
cùng với cha mẹ, đi thuyền ra
giữa biển, rải tro xuống nước;
em bé gái đem cất vào hốc cây
trong vườn cây của em - vườn
cây chưng bày giống như Bồ-đề
đạo tràng, nơi đức Phật Thích-ca
thành đạo - còn em bé trai “bụi
đời” thì treo gói tro vào một bong
bóng bay, cho bay lên bầu trời.
C: Mình nhớ lại rồi, lúc trở về
Seattle thì mẹ của Jesse đang có
thai phải không? Cái bụng lớn đã
trông thấy rõ được rồi.
20

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

A: Đúng vậy, truyện phim kết
thúc khi Lama Norbu viên tịch
và một bào thai vừa hình thành
trong bụng của Lisa... khiến cho
khán giả dù muốn dù không phải
trầm tư về sinh, tử, tái sinh, lại
chết… nghĩa là vòng luân hồi vô
tận.
B: Vậy cho nên mình mới nói
buổi hội luận của chúng mình
hôm nay không chỉ nói về một
“Ông Phật nhỏ” mà cả Ông Phật
trong mỗi con người và những
vấn đề như nhân quả, nhân duyên,
con đường trung đạo, v.v… mà
ACE chúng mình đã được học
trong Phật pháp nữa.
C: Thật vậy, mình thấy được
lợi lạc nhiều; cảm ơn các bạn
lắm.
A: Nhân mùa Phật Đản, mình
thân chúc các bạn và tất cả ACE
Áo Lam khi tham dự lễ Tắm
Phật, nhớ thường xuyên tắm
cho “Ông Phật nhỏ” ẩn tàng bên
trong chúng ta nữa nha!
B: Mình cũng xin chúc mọi
người một mùa Phật Đản an lạc
và giải thoát. Xin tạm biệt và hẹn
tái ngộ!
A và C: Tạm biệt! Tạm
biệt!■
Tâm Minh

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL.2554

Mùa Hoa Đàm Nở
Lại một niềm vui
Hoa Ưu đàm nở
Vầng trăng rạng rỡ
Soi bóng trần gian
Nhân loại sang trang
Trải lòng hỉ xả…
Bụt tắm vô ngã
Từ hạnh đại bi
Diệt tham sân si
Nơi từng bản chất
Của muôn sinh vật
Trong kiếp luân hồi
Để được làm người
Tu thân tích đức
Mai sau thành Bụt
Nở thắm hoa Đàm
Hương khắp thế gian
Loài hoa bất tử.

Dzạ Lữ Kiều

SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

21

☸ PHẬT PHÁP CĂN BẢN

B
G

át chánh đạo
với năm giới quý báu

iới thứ nhất: Không sát sanh cái khác, và của môi trường, thì
cũng xem như là đang tự hủy
hay tôn trọng sự sống
diệt sự sống của chính mình. Vì
Từ Chánh kiến và Chánh sao như vậy? Vì cái này diệt, thì
tư duy, đức Phật thấy rõ trong cái kia diệt; và vì cái kia diệt, nên
mọi sự hiện hữu, không có sự cái này cũng diệt.
Và bằng Chánh kiến, Chánh
hiện hữu nào là sự hiện hữu đơn
thuần, mà chúng hiện hữu trong tư duy, đức Phật thấy rõ sự sợ
sự tương quan duyên khởi. Nghĩa hãi lớn lao nhất của chúng sanh
là trong sự hiện hữu tương quan là cái chết và sự thèm khát lớn
ấy “cái này sinh khởi, thì cái kia lao nhất của chúng sanh là được
sinh khởi; cái này hủy diệt, thì sống.
Nên, vì tôn trọng và bảo vệ sự
cái kia hủy diệt”.
Vì vậy, muốn tôn trọng và sống cho muôn loài, đức Phật đã
bảo vệ sự sống, đức Phật dạy con dạy cho con người là đừng giết
người không nên hủy diệt sự sống và đừng bảo người khác giết hại.
của tự thân, của kẻ khác và ngay Vì sao đức Phật dạy như vậy? Vì
cả của môi trường. Vì hủy diệt đức Phật dạy mọi người đừng
sự sống của kẻ khác, của những giết và đừng bảo người khác
22

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

PHẬT PHÁP CĂN BẢN

giết, với hành động không giết
hại như vậy, có khả năng chế tác
ra chất liệu bình an cho chính
tự thân, người khác và tuổi thọ
dài lâu cho thế giới con người và
chúng sanh. Chúng ta thực hành
hạnh không giết hại là hiến tặng
cho nhau sự không sợ hãi, giải
tỏa được mọi sự oán thù và cùng
nhau chung sống hòa bình trong
hiện tại và tương lai.
Lại nữa, hành động giết hại sự
sống đối với người khác và những
loài khác để cung phụng sự sống
của chính mình, ấy là hành động
không hợp lý. Vì sao? Vì bất cứ
chúng sanh nào cũng tham sống
sợ chết cả. Và vì không có người
nào và loài nào muốn tính mạng
của mình bị những kẻ khác tước
đoạt và giết hại.
Nên, hành động giết hại chúng
sanh tác động từ tâm tham lam,
hận thù và mù quáng của tác giả,
khiến ác nghiệp biểu hiện và dẫn
sinh quả báo khổ đau cho chính
nó trong tương lai. Hành động
cứu giúp và bảo vệ sự sống là
hành động của Chánh nghiệp.
Nuôi dưỡng sự sống bằng cách
cứu giúp và bảo vệ sự sống là
Chánh mạng, chúng sẽ dẫn sinh
đời sống hạnh phúc và an lạc cho
mình và người. Nuôi dưỡng sự

sống của mình bằng tàn hại sự
sống của người khác và của loài
khác, ấy là tà mạng. Nuôi dưỡng
sự sống bằng tà mạng sẽ dẫn đến
đời sống thất vọng và khổ đau.
Cũng vậy, nói dối trá để kẻ
khác và những loài khác bị giết
hại gọi là tà ngữ hay ác ngữ, vì
nó dẫn sinh quả báo khổ đau cho
mình trong hiện tại và ngay cả
trong tương lai. Nói những lời
nói có khả năng cứu giúp người
khác và những loài khác thoát
khỏi sự giết hại là thiện ngữ hay
chánh ngữ. Lời nói ấy có khả
năng làm dẫn sinh sự an lành ở
trong hiện tại và tương lai.
Một vị tu tập giỏi, vị ấy
thường nỗ lực phòng hộ khiến
tâm ý không khởi lên những ý
niệm giận dữ, oán thù và giết hại,
tức là vị ấy tâm thường ở trong
Chánh tinh tấn, Chánh niệm và
Chánh định.
Nói cách khác, đức Phật dạy
cho đệ tử của Ngài không nên
giết hại sự sống của nhau, ấy là
giới thứ nhất trong năm giới quý
báu. Giới pháp ấy có khả năng
chế tác ra đời sống hòa bình giữa
con người và con người, và giữa
con người với hết thảy chúng
sanh.
Giới pháp nầy lấy Bát Chánh
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

23

☸ PHẬT PHÁP CĂN BẢN

Đạo làm tự thể. Thể ấy, chính là
bản thể thanh tịnh và rỗng lặng
của Niết-bàn. Nên, những ai thọ
trì giới pháp này cẩn mật bao
nhiêu, thì vị ấy đi đến được với
Niết-bàn tịch lạc bấy nhiêu.

G

iới thứ hai: Không trộm cắp tài
sản của người khác

Từ Chánh kiến và Chánh tư
duy, đức Phật thấy rõ, kết quả
của cuộc sống nghèo đói là do
nguyên nhân trộm cắp tạo nên.
Hành động trộm cắp có gốc rễ từ
lòng tham, từ tà tư duy và từ cách
nhìn tà kiến tạo thành. Vì vậy, từ
Chánh kiến và Chánh tư duy, đức
Phật đã thiết lập giới không trộm
cắp để cho đệ tử của Ngài hành
trì, nhằm hướng tới đời sống giải
thoát và giác ngộ.
Và đức Phật đã chế định, giới
không trộm cắp hay tôn trọng
mọi giá trị tài sản của người khác
hay của xã hội là để chế ngự lòng
tham nơi mỗi chúng ta và thay
đổi tác nhân của sự đói nghèo
của con người và xã hội.
Khi một người nguyện sống
bằng đời sống không trộm cắp,
nên những hạt giống tham ở nơi
tâm của họ bị nhiếp phục và sẽ
bị diệt tận; tham bị diệt tận, nên
24

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

sân và si ở nơi tâm của họ cũng
sẽ tùy diệt. Khi đời sống của một
người mà tham sân si ở nơi tâm
bị nhiếp phục và đoạn tận, thì họ
sẽ thành tựu đời sống của Chánh
mạng.
Mỗi khi mọi người chế ngự
được lòng tham, thì mọi hành vi
trộm cắp trong xã hội tự nó giảm
thiểu và sự an sinh của gia đình
và xã hội nghiễm nhiên có mặt.
Nói cách khác, đức Phật dạy
cho đệ tử của Ngài, không nên
trộm cắp tài sản của mọi người
và xã hội trong bất cứ trường
hợp nào để sinh sống, ấy là giới
thứ hai trong năm giới quý báu.
Giới pháp nầy có khả năng chế
tác ra chất liệu bảo vệ tài sản cho
mọi người và tôn trọng sự công
bằng của xã hội.
Giới pháp này đức Phật lấy
Bát Chánh Đạo làm bản thể và
lấy Chánh mạng làm tự thể của
giới pháp, lấy Chánh ngữ, Chánh
nghiệp, Chánh tinh tấn, Chánh
niệm và Chánh định làm nghiệp
dụng tương trợ để dẫn sinh sự
viên mãn thanh tịnh của giới. Vì
vậy, những vị nào thọ và trì giới
pháp này cẩn mật bao nhiêu, thì
họ sẽ đi đến với đời sống giải
thoát và Niết-bàn hay giác ngộ
bấy nhiêu.

PHẬT PHÁP CĂN BẢN

G

iới thứ ba: Không tà dâm hay
tôn trọng sự đoan chánh

Từ Chánh kiến và Chánh tư
duy, đức Phật thấy rõ, đời sống
không đoan chánh của con người
là do thói tà dâm gây ra. Thói tà
dâm có gốc rễ từ lòng tham dục
và tâm mù quáng.
Đức Phật chế định giới không
được tà dâm hay tôn trọng sự
đoan chánh của chính mình và
người khác là để chế ngự và
chuyển hóa năng lượng tình dục
mù quáng ở nơi tự thân của mỗi
người, góp phần tạo nên tình
cảm trong sáng và sự đoan chánh
trong đời sống của con người và

xã hội trong hiện tại và tương
lai.
Thói tà dâm gây hậu quả khổ
đau cho bản thân, bất hạnh cho
gia đình và bất an cho xã hội,
gây trở ngại sự hướng tới đời
sống giải thoát và giác ngộ ngay
trong hiện tại và cả tương lai.
Bản chất của tà hạnh là tà
nghiệp và bản chất của đoan
chánh là Chánh nghiệp. Tà
nghiệp gây nên khổ đau cho con
người, tạo nên bất hạnh cho gia
đình và bất ổn cho xã hội bao
nhiêu, thì Chánh nghiệp sẽ tạo
nên đời sống an lạc, cao quý cho
con người tự thân, gia đình và xã
hội bấy nhiêu.
Chế ngự được dục vọng thấp
kém là chế ngự được tà hạnh
và đi thẳng đến được với chánh
hạnh và tịnh hạnh. Nội dung của
chánh hạnh, tịnh hạnh là Chánh
nghiệp. Nên, đối với giới pháp
không được tà hạnh, đức Phật
đã lấy Chánh nghiệp làm bản
thể của giới nầy, còn Chánh ngữ,
Chánh mạng, Chánh tinh tấn,
Chánh niệm và Chánh định là
nghiệp dụng tương trợ để viên
mãn sự thanh tịnh về giới.
Vì vậy, bất cứ ai thọ và trì giới
này miên mật bao nhiêu, thì họ
đi đúng với Thánh đạo và làm
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

25

☸ PHẬT PHÁP CĂN BẢN

dẫn sinh đời sống giải thoát và thì lúc nào và ở đâu, ngữ nghiệp
giác ngộ bấy nhiêu.
của họ đều biểu hiện Chánh ngữ,
chế tác ra chất liệu giải thoát cho
iới thứ tư: Không nói dối hay bản thân và đem lại niềm tin,
tôn trọng sự thật
an lạc và hạnh phúc cho nhiều
người. Nên, giới pháp không nói
Từ Chánh kiến và Chánh tư dối, đức Phật lấy Chánh ngữ làm
duy, đức Phật thấy rõ, lời nói bản thể để chế định giới pháp,
không chính xác thiếu trung thực Chánh nghiệp, Chánh mạng,
và sai lạc sự thật, chúng có gốc rễ Chánh tinh tấn, Chánh niệm và
từ tà kiến và tà tư duy. Vì vậy, lời Chánh định làm nghiệp dụng
nói ấy gây mất niềm tin, tạo ra tương trợ để thành tựu viên mãn
thất vọng và khổ đau cho người thanh tịnh giới pháp nầy.
nghe và tạo nên những tội lỗi cho
Vì vậy, bất cứ ai thọ và trì
người nói.
miên mật giới pháp này bao
Bản chất của tà ngữ là sự nhiêu, thì họ đi đúng với Thánh
dối trá. Dối trá cả thân và tâm đạo, chế ngự và nhiếp phục được
cũng như cả mọi sự hoạt động. các vọng tưởng nơi tâm và làm
Và Chánh kiến, Chánh tư duy là dẫn sinh đời sống giải thoát và
bản chất của Chánh ngữ. Vì vậy, giác ngộ bấy nhiêu.
không có Chánh kiến và Chánh
iới thứ năm: Không uống rượu
tư duy, thì không thể nào có
hay tôn trọng tuệ giác
Chánh ngữ. Nên, Chánh ngữ là
ngôn ngữ giải thoát, chuyển tải
Từ Chánh kiến và Chánh
sinh lực của đời sống giác ngộ và
tư duy, đức Phật thấy rõ, sở dĩ
Niết-bàn.
Chế ngự được những vọng chúng sanh bị luân hồi trong
tưởng về một bản ngã sai lầm, lục đạo, đắm chìm trong biển cả
là có Chánh niệm. Chánh niệm sanh tử khổ đau là do đánh mất
làm cơ sở cho Chánh định có mặt ý thức tuệ giác, qua sự tiếp xúc
và Chánh định làm cơ sở để cho và tiêu thụ các loại thực phẩm
Chánh tư duy và Chánh kiến có từ sắc, thanh, hương, vị, xúc và
pháp, bởi tâm tham dục, cuồng
mặt.
Một vị tu tập có Chánh kiến, loạn và si mê.

G

G

26

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

PHẬT PHÁP CĂN BẢN

Tâm đam mê rượu, cờ bạc,
những phim ảnh nhảm nhí... đều
có gốc rễ từ những hạt giống
buông lung, phóng túng và thất
niệm từ nơi tâm ý. Và một khi
những hạt giống này biểu hiện
qua các quan năng nhận thức, thì
chúng có thể làm tê liệt ý thức
tuệ giác và có thể dẫn sinh đến
những hành động giết người,
trộm cắp, tà dâm và nói dối.
Nói cách khác, khi một người
mà sự thèm khát bốc cháy làm
tê liệt ý thức tuệ giác, thì không
có việc ác nào mà họ không làm
để thỏa mãn những nhu cầu khát
thèm của họ.
Vì vậy, đối với giới thứ năm
này, đức Phật đã từ nơi Chánh
kiến, Chánh tư duy mà thấy
nguyên nhân và hậu quả của
hành vi do buông lung, phóng
túng tâm ý và thất niệm gây ra,
nên đức Phật đã chế định giới này
dựa trên bản thể của Bát Chánh
Đạo mà tự thể là Chánh tinh tấn,
còn Chánh nghiệp, Chánh mạng,
Chánh ngữ, Chánh niệm, Chánh
định làm nghiệp dụng tương trợ.
Nhờ có Chánh tinh tấn, mà
ý nghiệp, thân nghiệp và khẩu
nghiệp được phòng hộ, khiến
cho các quan năng nhận thức
hoạt động ở trong sự thanh tịnh

của giới, định và tuệ, thành tựu
được tâm giải thoát và tuệ giải
thoát.
Vì vậy, bất cứ ai thọ trì giới
pháp nầy miên mật bao nhiêu, thì
người ấy đi đúng với Thánh đạo
bấy nhiêu, nhờ vậy họ chế ngự
và nhiếp phục được tâm ý buông
lung, phóng túng và thất niệm,
khiến họ đời sống giải thoát và
giác ngộ dẫn sinh nơi họ bấy
nhiêu.
Như vậy, ta thấy năm giới
được đức Phật thiết định cho đệ
tử của Ngài thọ và trì đều từ nơi
bản thể của Bát Chánh Đạo. Thể
ấy chính là bản thể thanh tịnh của
sự Giác ngộ và Niết-bàn.
Do đó, qua sự thọ trì miên
mật năm giới quý báu này là ta
đã có đủ điều kiện đi trên Thánh
đạo, hướng đến đời sống giải
thoát và giác ngộ, và có khả năng
làm sinh khởi các Thánh quả giải
thoát ngay trong đời sống này
của chúng ta. Và ngay trong đời
sống của ta đã có chất liệu của
giải thoát và Niết-bàn.■
Thích Thái Hòa

SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

27

☸ GIỚI THIỆU KINH

“Tu-lại khai ngộ vua Ba-tưnặc”, giới thiệu từ kinh “Phật
nói về Tu-lại” (Phật thuyết Tulại kinh 佛說須賴經 [Sūrataparipṛcchā]), 1 quyển, do ngài
Bạch Diên (người nước Qui-tư
[Kucīna], nay là huyện Khố-xa,
thuộc khu tự trị Duy-ngô-nhĩ,
Tân Cương) dịch thời Tào Ngụy
(220-265 sau Tây lịch), tạng Đại
Chánh 12, số 328, trang 52.

T

u-lại khai ngộ
vua Ba-tư-nặc

DẪN NHẬP
Đời người là một vở kịch
dài, mà kịch bản, vai diễn đều
do mình viết và thủ vai, nhưng
nhiều người diễn xuất quá vụng
về mà không hề hay biết; họa
hoằn lắm mới gặp được người
nghệ sỹ tài ba, sửa lại nét diễn
cho mình phải đóng sao cho hay,
chứ không, họ mãi là kẻ thủ vai
diễn thừa trên sân khấu kịch đời
hư ảo này!
28

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

TOÁT YẾU NỘI DUNG KINH
Thuở xưa, trong thành Xávệ có một người rất nghèo tên
là Tu-lại, kính tín Tam bảo, giữ
gìn tịnh giới, tu hành mười điều
thiện, thường cứu giúp người
không mỏi mệt…
Bấy giờ, trời Đế Thích có thiên
nhãn, thấy công đức thù thắng
của Tu-lại, liền hạ giới muốn
thử Tu-lại tu đạo thế nào!? Trời
Đế Thích hóa hiện nhiều người,
đánh đập, mắng chửi Tu-lại,
Tu-lại vẫn nhẫn nhục, nhân từ,
không oán giận. Trời Đế Thích
lại đem vàng bạc biếu Tu-lại. Tulại dửng dưng, khước từ. Trời Đế
Thích biến hóa người khác, đem
châu báu quí giá đến nói, tôi đang
tranh tụng với người ta, nhờ bạn
hiền đến làm chứng và nói giúp
một lời. Tu-lại bảo, người nói dối

GIỚI THIỆU KINH

làm cho thân miệng hôi, bị nhiều
người phỉ báng, tâm thường khổ
sở… Trời Đế Thích quay về, bảo
phu nhân dẫn thêm nhiều kỹ nữ
xuống phá phạm hạnh Tu-lại. Phu
nhân vâng lời, vào đêm tối thanh
vắng, dẫn các kỹ nữ đến chỗ Tulại nói lời quyến rũ. Tu-lại bảo:
Tôi thấy hình hài, xương cốt, thịt
bầy nhầy… da trong, da ngoài
đều che phủ phần ô uế… Các
cô đang lúc xinh đẹp, vô thường
đến sẽ tàn hoại… Quen theo thói
dục sẽ không an vui, đưa đến đau
khổ... Dục này thường phá hoại
tâm cầu đạo, huống là những
điều khác. Trời Đế Thích nghe
thế càng run sợ, lông tóc dựng
đứng…
Lại một hôm, nhân đi bộ trong
thành Xá-vệ, Tu-lại nhặt được
vật báu, nói sẽ cho người nghèo
nhất. Có nhiều người nghèo đến
xin, Tu-lại không cho, nói rằng:
Các ông không nghèo đâu! Vua
Ba-tư-nặc mới là người nghèo
nhất. Những người nghèo ngạc
nhiên, Tu-lại giải thích: Tuy nhà
vua giàu có nhưng tham lam,
mong cầu không chán, đó mới là
người nghèo nhất. Tu-lại bèn dẫn
mọi người đến cung vua, nhằm
lúc vua Ba-tư-nặc đang bắt 500
trưởng giả phạm tội, buộc họ

đem tiền của, báu vật chuộc tội.
Khi ấy, quan cận thần bẩm báo
có Tu-lại đến, nhà vua cho vào.
Tu-lại bước vào tâu:
- Hôm trước, hạ dân đi bộ
trong thành Xá-vệ, nhặt được
viên châu minh nguyệt này, muốn
đem cho người nghèo. Nhưng
xét thấy người nghèo nhất trong
nước không ai hơn đại vương.
Xin đại vương nhận vật báu này.
Vua Ba-tư-nặc biến sắc, hổ
thẹn, nói:
- Này Tu-lại! Trẫm có nghèo
lắm cũng bằng ngươi.
- Dạ không, đại vương nghèo
hơn hạ dân ạ!
Vua Ba-tư-nặc bảo giải thích
ý ấy. Tu-lại tâu:
- Tham lam của báu không
chán… lo thân này, không nghĩ
đến đời sau là nghèo nhất; không
hành chánh pháp… giàu sang
không nghĩ bố thí… tham nhiễm,
mê hoặc như voi say, tâm ý mê
mờ gọi là nghèo. Cung kính Phật,
Pháp, Tăng, tha thứ cho người,
lấy giáo pháp tự trị là thường
giàu. Lửa tuy mạnh nhưng cháy
không lâu, phú quý vô thường
như mây nổi…
Vua Ba-tư-nặc hỏi: Ai sẽ
chứng minh ta nghèo, ngươi
giàu? Tu-lại thưa: Ở đời có Như
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

29

☸ GIỚI THIỆU KINH

Lai thấy biết một cách chân thật,
đang ở vườn Cấp Cô Độc. Bậc
Thánh này có thể làm chứng. Tulại liền quỳ xuống, chắp tay cung
kính thỉnh Phật. Mặt đất liền
rúng động, đức Phật cùng 500
Tỳ-kheo, 200 Bồ-tát, v.v… xuất
hiện giữa vương cung. Sau khi
nghe Tu-lại thuật lại mọi chuyện,
đức Phật mới giảng dạy:
- Đại vương hãy lắng nghe!
Xét về mặt giàu có của vua, Tulại không có. Xét về mặt giàu có
của Tu-lại, nhà vua không bằng.
Nhà vua giàu có nghĩa là vua có
quốc thành, của cải, vàng, bạc,
ngọc bích… vật chất đầy đủ nên
được tự tại. Đó là sự giàu có của
nhà vua, Tu-lại không có. Nhưng
xét về mặt đạo đức chân chánh
của Tu-lại, Tu-lại làm những
việc thiện như bố thí, trì giới,
nhẫn nhục… từ bi, hỉ xả, yêu
kính Tam bảo, học rộng, tâm ý
thanh tịnh, lòng tin chân chánh,
có lòng hổ thẹn... Đó là sự giàu
có của Tu-lại, nhà vua không thể
sánh bằng.
Sau đó, đức Phật giảng cho
mọi người nghe thêm một bài
pháp rồi cùng chúng đệ tử, các
Bồ-tát hiện thần thông bay về
vườn Cấp Cô Độc... Lúc mặt
trời xế bóng, Tu-lại cùng vua, và
30

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

hoàng thân quốc thích, quần thần
đi đến gặp Phật… Khi mọi người
đảnh lễ Phật xong, ngồi qua một
bên, đức Phật bảo Tu-lại:
- Bồ-tát lúc giàu sang không
kiêu mạn mà hiện ra nghèo hèn,
có thể làm cho mọi người không
tham giàu sang... Đó là đức thanh
tịnh. Lúc giàu sang, Bồ-tát có thể
làm gương cho người khác thích
bố thí…
Tu-lại! Ông có thể điều phục
tâm ý, thị hiện làm người cực
khổ giữ giới như pháp, được mọi
người tôn kính. Đó là khéo dùng
phương tiện thiện xảo thanh
tịnh.
Hiền giả A-nan bạch Phật:
- Tu-lại học đến nay đã bao
lâu?
Phật bảo A-nan:
- Ông ấy học rất lâu, đã học
với nhiều ức trăm ngàn đức
Phật…
A-nan lại hỏi:
- Tu-lại bao lâu sẽ thành Phật?
Phật hiệu là gì? Quốc độ tên gì?
Phật bảo: Từ khi Tu-lại phát
tâm… đến nay số kiếp khó đếm
được. Sau khi ta nhập niết-bàn,
thời cuối Tu-lại tịch, sanh nước
Đông Khả Lạc, ở tại núi A-súc,
hơn ba A-tăng-kỳ… hiệu là Thế
Tôn Vương…

GIỚI THIỆU KINH

Khi ấy, vua Ba-tư-nặc thưa
với Phật, nhờ Tu-lại mà giác ngộ
được mình nghèo, xin xuất gia
làm Tỳ-kheo, tài sản châu báu
chia ba phần: một phần cúng
dường đệ tử Phật, một phần bố
thí cho dân chúng, một phần cho
các quan lại. Tu-lại cũng thỉnh
nguyện Phật, xin làm Sa-môn.
Mười phương chư Phật và Phật
Thích-ca đều đưa cánh tay phải
xoa đầu Tu-lại… Hiền giả Tu-lại
tự nhiên thân đắp pháp y, y phục
chỉnh tề, oai nghi đĩnh đạc…
Phật bảo A-nan:
- Nên thọ trì, ghi chép, lễ bái
kinh này, lưu truyền, giảng nghĩa
cho mọi người nghe...
Phật thuyết kinh xong, Tỳkheo Tu-lại, các Tỳ-kheo Tăng,
trời Đế Thích, vua Ba-tư-nặc,
v.v… đều vui mừng.

LỜI KẾT
Kinh này có 3 bản Hán dịch:
một bản do Sa-môn Bạch Diên
dịch; một bản do Ưu-bà-tắc Chithí-luân (người nước Nguyệt
Thị) dịch thời Tiền Lương (302376 sau Tây lịch); và một bản
nữa là “Thiện Thuận Bồ-tát”, hội
thứ 27 trong kinh Đại bảo tích
(120 quyển) quyển 95, do Bồđề-lưu-chí (Bodhiruci - Giác Ái)
dịch thời Đường (618-907 sau
Tây lịch). Nội dung trong 2 bản
dịch của Bạch Diên và Chi-thíluân gần giống nhau, riêng bản
“Thiện Thuận Bồ-tát” hội thứ 27
thì chi tiết hơi khác hai bản kia.
Trên bình diện thời gian về
lịch sử phát triển văn học kinh
điển Đại thừa, có lẽ khoảng 500
năm sau khi đức Phật nhập diệt,
các kinh Đại thừa xuất hiện dần,
đầu tiên là Bát-nhã, rồi đến kinh
Bảo tích, Hoa nghiêm, Duy-macật, Pháp hoa, v.v... Các vị Luận
sư phần nhiều cho rằng, kinh
điển Đại thừa tuy không phải do
đức Phật trực tiếp tuyên thuyết,
nhưng là tập đại thành giáo pháp
của đức Phật, và nội dung chủ
yếu nêu cao lý tưởng Bồ-tát đạo,
hành sáu ba-la-mật, Phật tính
trong mỗi chúng sanh, ai tu cũng
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

31

☸ GIỚI THIỆU KINH

đều có thể thành Phật… Do đó
mà kinh điển Đại thừa chấp nhận
cả người thế tục tại gia có thể dự
phần vào sự cứu độ và giải thoát,
không còn câu nệ vào những tập
quán Tăng lữ truyền thống (giải
thoát chỉ dành riêng cho người
xuất gia). Nên trong kinh nói
Tu-lại là hình tướng cư sĩ, sống
giữa bùn lầy thế gian ô nhiễm
mà không ô nhiễm. Ngay tên vị
ấy cũng mang nội hàm triết lý
tư tưởng hành đạo của Bồ-tát
tại gia, “Thiện Thuận” (Tu-lại
là dịch âm từ tên Phạn “Sūrata”,
dịch nghĩa là Thiện Thuận), là
tùy thuận điều thiện, thuận theo
điều thiện.
Trong kinh nói Tu-lại khai
ngộ cho vua Ba-tư-nặc, rồi nhà
vua xin xuất gia làm Tỳ-kheo, bố
thí hết gia sản... Ở điểm này, nhìn
lại một vị vua lịch sử về cuối đời
ông có nhiều thuyết khác nhau:
kinh Tăng nhất a-hàm quyển
26 (T2n125, tr. 689c15) chép,
sau khi nhà vua mệnh chung,
Tì-lưu-lặc lên làm vua. Căn
bản nhất thiết hữu bộ tỳ-nại-da
tạp sự quyển 8 (T24n1451, tr.
237a7) lại ghi, nhà vua bị thái tử
Tì-lưu-lặc cướp ngôi, phải chạy
trốn và chết đói giữa đường. Vậy
đứng trên phương diện tư tưởng
32

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

chung cả Phật giáo truyền thống
nguyên thủy và tinh thần Phật
giáo Đại thừa phát triển là luôn
đề cao hạnh nguyện xuất ly, vì
thế mà vua Ba-tư-nặc được nhân
cách hóa theo lý tưởng giải thoát,
xuất gia làm Tỳ-kheo. Đại thừa
còn chủ trương mỗi người đều
có Phật tánh, cần phải làm sao
thể hiện được Phật tánh ấy một
cách trọn vẹn tức là thành Phật,
và trong vũ trụ bao la này có vô
số thế giới, trong mỗi thế giới đó
sẽ xuất hiện một vị Phật theo bản
nguyện độ sanh của vị ấy, nên
sau khi Tu-lại tịch, sanh về nước
Đông Khả Lạc, ở tại núi A-Súc,
hiệu là Thế Tôn Vương, v.v…
Mỗi khi chúng ta lạc vào
vườn hoa kinh điển Đại thừa
muôn sắc màu, lòng dễ mê mẩn
bởi nhiều loài hoa “tư tưởng triết
học cao siêu, ý chỉ sâu xa huyền
nhiệm”… kia, song đừng quên
rằng mảnh đất “tư tưởng, giáo lý
Tiểu thừa” luôn đồng hành theo
thời gian, đã vun bón cho những
đóa hoa tư tưởng Đại thừa phát
triển mãi đến về sau.■
Thích Tâm Nhãn

GIẢNG LUẬN

CƯ SĨ
RỘM NƯỚC
UỐNG

T

N

gày xưa, Bồ-tát chuyển kiếp thị hiện
làm một vị quốc vương quy y Tam
bảo, nghiêm giữ ngũ giới, thập thiện.
Trong nước, ông không cho phép sử
dụng vũ lực, không cho xây nhà tù tra
khảo. Khắp nước năm nào cũng mưa
hòa gió thuận, ngũ cốc bội thu, nhân
dân an cư lạc nghiệp, đất nước yên
ổn, văn hóa phát triển, cả nước trên
dưới đều thấm nhuần nền giáo dục
Phật giáo, dân chúng không ai không
được học, tạo nên một xã hội ai cũng
biết lễ biết nghĩa, kính nhường lẫn
nhau, tối ngủ không cần đóng cửa
cũng không phải lo bị trộm cắp.
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

33

☸ GIẢNG LUẬN

Nhưng một hôm, nhà vua lại
nhận được một bản án về “tội
trộm cắp”.
Có một vị cư sĩ phẩm hạnh
cao thượng, thanh tịnh nhàn cư
trong núi, sống cuộc đời ẩn dật,
cốt cách siêu phàm thoát tục.
Tối hôm nọ, cư sĩ khát nước
quá nên đi ra ngoài tìm nước
uống. Do ban đêm trời tối, ông
không cẩn thận uống nhầm nước
trong hồ sen của người khác,
uống xong rồi ông mới nhận biết
là nước của người khác nên trong
lòng cảm thấy vô cùng ray rứt.
“Ta mắc tội trộm rồi! Ta mắc
tội trộm rồi!” Hôm sau, ông đi
đến cung vua, tự thú tội trộm cắp
của mình, mong được nhà vua trị
tội theo pháp luật.
Nhà vua nghe xong vô cùng
kinh ngạc, nói: “Đây là nước tự
nhiên, đương nhiên ngươi có thể
uống mà, nước khắp nơi đều có,
lại không phải là thứ khan hiếm,
ngươi uống thì có tội gì chứ?”.
Cư sĩ đáp: “Tôi chưa hỏi ý
người chủ của hồ sen, lại chưa
được người ta cho phép mà tự
tiện uống nước của họ, lẽ nào
đây không phải là trộm cắp sao?
Mong đại vương nên xử tôi thế
nào thì cứ xử đi ạ”.
Nhà vua khi ấy không biết
34

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

phải xử lý thế nào, nói: “Chỉ
chuyện nhỏ thôi mà, ta thấy thôi
đi! Ngươi có cái tâm ray rứt như
vậy là tốt rồi. Bây giờ, quốc sự
đa đoan, ta phải đi giải quyết,
nếu ngươi thấy nhất định phải bị
ta xử trị mới yên tâm, vậy thì tạm
thời ngươi ra ngoài vườn hoa
ngồi chờ, đợi ta giải quyết xong
việc rồi tính”.
Nói rồi, nhà vua giao vị cư sĩ
cho thái tử, rồi mình đi giải quyết
công việc. Thái tử dẫn cư sĩ đến
vườn hoa rồi để ông ở đó đợi,
còn mình thì bỏ đi.
Nhà vua việc nước bề bộn,
bận đến quên cả chuyện của cư
sĩ. Sáu hôm sau, vua mới sực nhớ
đến cư sĩ, bất an tự trách: “Thôi
chết rồi, ta quên mất ông cư sĩ kia
rồi, chắc là không xảy ra chuyện
gì đâu nhỉ!”. Vua vội đứng dậy,
đi đến vườn hoa tìm vị cư sĩ.
Vị cư sĩ đợi mãi nơi vườn hoa
xa khuất, không dám bỏ đi, đợi
liên tục suốt sáu ngày sáu đêm.
Suốt trong thời gian đó, ông
không dám uống một giọt nước,
không dám ăn một hạt gạo, khi
nhà vua tìm đến, cả người ông đã
kiệt sức suy yếu, thoi thóp từng
hơi.
Nhà vua vừa nhìn thấy thì
nước mắt đầm đìa, tự trách: “Đều

GIẢNG LUẬN

là do lỗi của ta cả, tội của ta thật
không nhỏ”.
Song, khi hoàng hậu biết
chuyện thì lại không nghĩ như
vậy: “Thưa bệ hạ, bệ hạ đường
đường là vua một nước, hà cớ gì
lại không ngớt lời đi xin lỗi một
tên cư sĩ bày trò vô lý này, thật là
nực cười!”.
Nhà vua sai người tắm rửa cho
cư sĩ, bảo đầu bếp chuẩn bị sơn
hào hải vị, rồi đích thân bầu bạn
cùng ăn với cư sĩ, thỉnh thoảng
lại còn ngỏ lời xin lỗi cư sĩ, vua
hứa: “Sống chết luân chuyển vô
cùng, kể từ hôm nay, trẫm sẽ thọ
giới, ăn chay sáu năm, quá ngọ
không ăn, cho đến đắc đạo”.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Nhà vua ấy chính là tiền thân
của ta. Vì bỏ quên cư sĩ, hại ông
đói khát sáu ngày, để sám hối nên
ta ăn chay sáu năm, sống những
ngày thanh bần khắc khổ, sau
sáu năm mới ăn uống trở lại bình
thường. Sau đó lại còn đem thân
cúng dường Phật pháp, tu hành
thành đạo. Hoàng hậu vì cười
chê nhà vua ăn chay sám hối,
nên đời sau khi mang thai từng
mắc bệnh nặng sáu năm, chịu
khổ khôn cùng. Thái tử vì để cư
sĩ đói khát sáu ngày nơi vườn
hoa mà đời sau sinh ra, mê mê
sảng sảng trong sáu năm, thường
ở trong cảnh u u minh minh. Đây
đều là nhân quả nghiệp báo cả!
Đạo Luận dịch theo fjgs.org
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

35

☸ GIẢNG LUẬN

LẠM BÀN
Nơi cuộc sống xô bồ hào
nhoáng, với những tư tưởng tự
cho là tiến bộ hôm nay, đôi khi
chúng ta chỉ quan tâm đến cái
lớn, cái cao siêu mà bẵng quên
đi những điều bình thường, giản
dị nhưng giá trị của nó luôn là
chỗ quy hướng cho đời sống
của những ai chọn cho mình con
đường đi đúng với phẩm hạnh
của người con Phật. Thật vậy,
chân giá trị hay cái thấp hèn của
cuộc sống không bao giờ bị ràng
buộc bởi tầm vóc nhỏ hay lớn,
thời gian hay không gian, sang
hay hèn, già hay trẻ. Không phải
chỉ trộm cướp nhà băng, tiệm
vàng mới là trộm cướp, còn trốn
thuế, gạt đò, thất tín, trễ hẹn thì
không phải. “Một cây kim một
cọng cỏ người khác không cho
cũng không được lấy”. Cũng vậy,
không phải niên cao lạp trưởng
mới là hàng trưởng lão còn tuổi
trẻ thì chỉ là hàng tiểu bối vô
danh. Tuổi cao mà phóng túng
buông lung, đứng đi trái phép, uy
nghi chút ít không còn, quy tắc
mảy may chẳng có, thì đâu bằng
tuổi trẻ mà chí hướng Thánh đạo,
rõ nghĩa sâu xa của hai chữ “cầu
tịch”, giữ gìn danh thơm của hai
36

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

từ “cần sách”. Kinh Tăng nhất
A-hàm chép: “Bấy giờ, đức Thế
Tôn thuyết pháp cho đại chúng.
Có một vị Tỳ-kheo già, ngồi quay
về phía Phật buông lỏng chân mà
ngủ. Có vị Sa-di tên Tu-ma-na
chỉ mới tám tuổi, ngồi thế kiết
già, cách Phật không xa, tư duy
chánh niệm. Đức Phật thấy vậy,
nói bài kệ: “Gọi là bậc trưởng
lão, Vị tất cạo râu tóc, Tuổi tác
dù đã cao, Mà còn có ác hạnh,
Đâu bằng người nhỏ tuổi, Các
căn không lậu khuyết, Đó gọi là
trưởng lão, Phân biệt hạnh chánh
pháp.”1
Thế mới biết, cái giá trị thì
dù bất cứ lúc nào và ở đâu, già
hay trẻ, được người công nhận
hay không được công nhận thì
nó vẫn tồn tại trong nguyên vị
giá trị của nó. Cái hư đốn thì dù
có bôi son trét phấn đánh bóng
lên thì nó vẫn là đồ mục ruỗng.
Một người biết kính trọng giới
như quý trọng đôi mắt của mình
thì không để cho bất kỳ hạt bụi
nào tồn tại trong đó. Vị cư sĩ
trong câu chuyện là mẫu hình
của những người biết hổ thẹn
trước những lỗi lầm dù nhỏ nhặt.
Lỗi lầm phạm giới trộm nước
1. Tăng nhất A-hàm kinh 22, T.02 n.0125
p.0659c08

GIẢNG LUẬN

uống trong ao sen, đối với ông,
ngang với những lỗi lầm phạm
những giới trộm lớn hơn. Và giá
trị sám hối về việc đó là vô cùng
cần thiết để đắp lại bờ đê đã lậu
rỉ những giọt nước cam lồ. “Hổ
thẹn là phục sức đẹp nhất trong
mọi thứ phục sức”, lời kinh Di
giáo của đức Thế Tôn luôn vang
bên tai người cư sĩ. Ray rứt khi
biết mình uống nhầm nước trong
ao của người là một phản ứng
phòng hộ cho những điều to tát
lớn khác biết đâu sẽ xảy ra trong
tương lai. Thói thường, chúng ta
cho những chuyện nhỏ nhặt đó
là chuyện bình thường, không
đáng phải khắt khe lưu tâm đến,
nhưng ta đâu biết rằng “nước
nhỏ mà chảy mãi cũng có thể
xuyên thủng cả đá”, hay nói theo
Stephan R. Covey: “Gieo một tư
tưởng gặt một hành động, gieo
một hành động gặt một tập quán,
gieo một tập quán gặt một tính
cách, gieo một tính cách gặt một
số phận”. Ý niệm xem thường
những điều giản dị, nhưng giá
trị đó, sẽ được dung dưỡng nuôi
lớn qua nhiều lần, huân tập thành
thói quen rồi dần trở nên trơ lì
trước sự cám dỗ trộm cắp lớn
hơn một khi cơ hội khuyến dụ
gọi mời. Lúc đó, chúng ta sẽ “gặt

một số phận”, nhưng không phải
hạnh phúc, mà có thể là số phận
đứng đằng sau cánh song tù cho
hành động tham nhũng hối lộ
hay cướp bóc mồ hôi nước mắt
của người khác. Kinh Thi có câu:
“Chẳng giữ gìn nết nhỏ rồi sẽ lụy
đến đức lớn.” Bộc bạch bày tỏ
sám hối tội trộm của mình, vị cư
sĩ đang giữ gìn những nết nhỏ để
tài bồi thêm cho vững nền đức
hạnh – phẩm đức vô tham, hổ
thẹn của hàng Thánh đệ tử Phật.
Uống nước ao sen chỉ là chuyện
nhỏ, ấy vậy mà, cư sĩ vẫn xem
mình phạm tội; câu chuyện ngửi
hương hoa theo hướng gió của vị
Tỳ-kheo trong kinh cũng bị xem
là trộm, thì thật là, xem xét tội
trộm chi tiết tỉ mỉ đến dường đó
chỉ có ở giáo lý nhà Phật, một
nền giáo lý tôn trọng tuyệt đối
tài sản sở hữu của người khác.
Kinh Tạp A-Hàm chép: “Có thầy
Tỳ-kheo mắt bị bịnh, đến bên ao
hoa bát-đàm-ma, nhằm phía gió
thổi mùi hương bay đến mà ngồi.
Thần ao cho rằng Tỳ-kheo là kẻ
cướp ăn trộm mùi hương. Tỳkheo nói: ‘Không phá hoại cũng
không cướp đoạt, sao bảo là kẻ
cướp?’ Thần nói: ‘Không xin mà
lấy, lẽ nào chẳng phải kẻ cướp?’
Bấy giờ, có người đến lấy ngó
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

37

☸ GIẢNG LUẬN

sen trong ao cả gánh nặng mang
đi. Tỳ-kheo bèn hỏi: ‘Tại sao
không ngăn hắn, mà lại bảo tôi
là kẻ cướp?’ Thần nói: “Áo càsa đen, dù đem mực nhuộm cũng
chẳng thấy, kẻ hung ác kia đâu
còn gì để nói? Chân ruồi bẩn lụa
trắng, chấm mực dính ngọc kha,
tuy nhỏ nhưng đều hiện bày rõ
ràng. Người hiền minh tuy phạm
lỗi nhỏ chỉ như tơ tóc, nhưng
người khác nhìn thấy lớn tợ núi
Thái. Vậy nên, phải từ đó mà
nghiệm xét, thường mong cầu sự
tinh bạch”. Tỳ-kheo nghe xong,
tinh tấn tĩnh tọa, dứt các phiền
não, đắc quả A-la-hán”2. Biết
sợ hãi trước những lỗi lầm nhỏ,
thầy Tỳ-kheo cũng như người cư
sĩ hiền minh kia đang cầu thị cho
mình sự thanh tịnh toàn bích.
Và thật sự, hoa trái tu tập của vị
cư sĩ đã làm rung động sâu sắc
đến nhà vua khiến vua khi vừa
trở lại gặp ông đã đầm đìa nước
mắt. Vua khóc vì hận trách mình
đã bỏ quên người cư sĩ thì ít,
mà có lẽ, ông khóc vì niềm xúc
động kính trọng cư sĩ mới nhiều
hơn. Sáu ngày sáu đêm không ăn
không uống để giữ tròn tiết tháo
của người con Phật biết hối cải
2. Kinh tạp a-hàm 50, Kinh số 1338, T.02
n.99 p.369a10.

38

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

một cách chân thành tha thiết.
“Đứng trước một thiên tài người
ta cúi đầu, đối trước một tấm
lòng người ta quỳ xuống”. Tận
trong sâu thẳm nơi tâm hồn vua,
ông đã quỳ xuống trước tấm lòng
trung kiên của người cư sĩ, thà
chết để giữ tròn phẩm hạnh. Ta
chợt nghe đâu đây khí phách của
thầy Tỳ-kheo thứ hai trong câu
chuyện “Gần Phật xa Phật”:
“Một thời, Đức Phật ở tại nước
Xá-vệ, nơi Tịnh xá Kỳ Hoàn
thuyết pháp cho chư Thiên nghe.
Bấy giờ, ở nước La-duyệt-kỳ có
hai vị tân học Tỳ-kheo muốn đến
yết kiến đức Phật. Trên đường đi
gặp mùa hạn hán, khát nước quá
mà chỉ gặp được vũng nước nhỏ
với đầy những côn trùng không
thể uống được. Thầy thứ nhất
thì uống để khỏi chết rồi đi gặp
Phật, thầy thứ hai thì khẳng khái

GIẢNG LUẬN

khước từ: ‘Giới luật đức Phật chế
ra lấy nhân từ làm gốc. Nếu giết
hại chúng sanh để mình được
sống thì dù thấy Phật cũng có ích
gì. Thà rằng giữ giới chịu chết
chứ không phạm giới mà được
sống”3. Và đúng như vậy, dù chết
giữa đường vì khát nước, nhưng
vị Tỳ-kheo thứ hai đã được gần
Phật, gần trong tinh thần giữ gìn
trọn vẹn Thánh hạnh.
Ở một góc độ khác, không
như sự hống hách, kiêu căng
của hoàng hậu, và một chút xem
thường của vị thái tử, nhà vua đã
thành tâm sám hối trước cư sĩ
về hành động sơ suất của mình
bằng những việc làm cụ thể “sai
người tắm rửa cho cư sĩ, bảo đầu
bếp chuẩn bị sơn hào hải vị, rồi
đích thân bầu bạn cùng ăn với cư
sĩ, thỉnh thoảng lại còn ngỏ lời
xin lỗi”, rồi tự hứa với lòng “kể
từ hôm nay, trẫm sẽ thọ giới, ăn
chay sáu năm, quá ngọ không
ăn, cho đến đắc đạo”. Một vị vua
anh minh như thế, nên không có
gì ngạc nhiên khi mở đầu câu
chuyện chúng ta đã thấy ngay
một đất nước thấm nhuần phong
hóa. Tuy không nói rõ đó là một
vị Chuyển Luân Thánh Vương,
3. Truyện cổ Phật giáo, Minh Chiếu sưu
tập

nhưng đối chiếu lại với cảnh đời
thái bình thịnh trị dưới thời cai
trị của Chuyển Luân Vương như
trong kinh Tăng Nhất A-Hàm
mô tả, cũng cho chúng ta biết
được đó là một vị vua Chuyển
Luân. Kinh chép: “Trong toàn
cõi Diêm-phù, ngũ cốc dồi dào,
nhân dân thịnh vượng, của cải
sung túc, làng xóm kế cận nhau,
gà gáy hai bên đều nghe. Lúc
này, những cây trái, hoa quả xấu
dở đều khô héo, các thứ dơ bẩn
cũng tự biến mất, chỉ còn lại
những cây trái ngon ngọt, mặt đất
bốc lên những thứ hương thơm
ngào ngạt. Khí hậu lúc đó cũng
ôn hòa, thời tiết đúng bốn mùa,
thân người không có một trăm
lẻ tám thứ bệnh, ít tham dục, sân
nhuế và ngu si, lòng người quân
bình, tất cả đều cùng một ý, gặp
nhau vui vẻ, nói những lời đẹp
lòng nhau,… Bấy giờ, trong cõi
Diêm-phù-địa tự nhiên mọc một
giống lúa tẻ không vỏ trấu, mùi
vị cực kỳ thơm ngon, ăn vào thì
không còn các bệnh khổ. Các
loại vàng, bạc, trân bảo, xa cừ,
mã não, trân châu, hổ phách rơi
vãi khắp nơi nhưng không ai nghĩ
đến chuyện thâu nhặt. Người dân
lúc đó cầm lên một thứ, rồi nói
với nhau: ‘ngày xưa, vì những
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

39

☸ GIẢNG LUẬN

thứ châu báu này mà con người
tàn hại lẫn nhau, rồi bị giam cầm
trong lao ngục chịu vô số khổ
não. Còn bây giờ những thứ này
chẳng khác gì gạch ngói không
ai thèm lượm”4. Lật lại những
trang sử xưa, ta thử tìm xem có
được bao nhiêu vị vua biết quý
nghĩa trọng hiền đến vậy. Khi có
quyền bính, địa vị trong tay hiếm
có ông vua nào biết khiêm hạ
mình xuống để nhận lỗi khi mình
phạm phải sai lầm lớn chứ đừng
nói chi đến những chuyện xem ra
vụn vặt như trên. Nhưng vị vua
ở đây lại khác, ông không xem
hành động của vị cư sĩ là trò đùa
nực cười vô lý, mà đó là khuôn
mẫu, là gương sáng đối với ông
cho việc trị quốc an dân; và hành
động sám hối của ông là cần thiết
để cổ vũ cho chân lý được thực
thi công bằng, trả nó trở về đúng
nguyên vị của nó, và cũng để cho
chân lý không còn là của đám
đông, của vua quan, của quyền
hành, giàu sang và địa vị. Cái
dũng hay sức mạnh của một ông
vua không nằm ở vương quyền
và gươm giáo, mà là ở lòng nhân
từ thương dân như con một. Dũng
4. Tăng nhất a-hàm kinh 44, Thập bất
thiện phẩm 48, III, T.02 n.0125 p.0787c23
~ p0788a09

40

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

cảm dẹp đi cái bản ngã của một
ông vua để tử tế nhận phần lỗi về
mình đó là cái Dũng mà không
phải ở vị quân vương nào cũng
có. Câu chuyện cũng cho ta biết,
nhân quả nghiệp báo luôn công
bằng đối với tất cả mọi người,
gieo nhân lành ta gặt quả ngọt;
gieo nhân xấu ta gặt quả khổ
đau. Chính nhờ những nhân lành
đó mà nhà vua qua nhiều kiếp tu
tập, đem thân cúng dường Phật
pháp rồi cuối cùng thành Phật,
còn hoàng hậu và thái tử phải trả
những quả báo khổ đau cho việc
làm của mình.
Cuối cùng, “việc ác dù nhỏ
chớ tham, việc thiện dù nhỏ mà
làm mới khôn”, biết hối cải trước
những lỗi lầm dù nhỏ bé; hãy học
cách nhận lỗi với người khác bất
kể người đó là ai một khi mình
có lỗi; hãy lột hết tất cả mặt nạ
quyền chức, địa vị hào nhoáng
bên ngoài để chúng ta được thật
sự là một con người với tất cả
niềm thương yêu, tương kính,
tôn trọng lẫn nhau; tin hiểu sâu
sắc tương quan nhân quả nghiệp
báo, đó là những thông điệp mà
câu chuyện trên muốn gởi gắm
đến tất cả mọi người chúng ta.■
Thích Đạo Luận

LỊCH SỬ

M

ỘT VÀI ĐÍNH CHÍNH NHỎ VỀ
HÀNH TRẠNG THIỀN SƯ
MINH CHÂU HƯƠNG HẢI

T

hiền sư Minh Châu Hương Hải là
một tác gia lớn không chỉ văn học
Phật giáo mà cả văn học dân tộc. Thiền
sư là người mở ra một phương pháp mới
trong việc dịch thuật và nghiên cứu Phật
học. Phương pháp mà thiền sư sử dụng
là sự hòa quyện giữa dịch và giải. Lối
dịch giải này trước đây chưa ai sử dụng
và nó có những thành tựu đáng kể. Thế
nhưng, những người sau này không có ai
kế thừa.
Từ những thập kỷ 30 của thế kỷ XX
đã có nhiều người nghiên cứu về thiền sư
Minh Châu Hương Hải. Thiện Đình công
bố bài Truyện đức Hương Hải thiền sư

SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

41

☸ LỊCH SỬ

trong báo Nam Phong số 136,
đến Trí Hiếu qua bài Lịch sử
chùa Xích Đằng đăng trên báo
Đuốc Tuệ số 7 đã cho giới thiệu
về hành trạng thiền sư cùng thơ
văn. Năm 1978, Nguyễn Lang
trong Việt Nam Phật giáo sử
luận II dành một chương nghiên
cứu về thiền sư. Tác giả đã tìm
hiểu về con người cũng như tư
tưởng, thi văn. Có thể nói, đây
là một chương đi sâu nghiên cứu
mà trước đó chưa ai khảo cứu
được. Năm 1999, Thích Thanh
Từ cho dịch và giảng giải Hương
Hải thiền sư ngữ lục và công bố
bảng hành trạng thiền sư trong
Thiền sư Việt Nam. Năm 2000,
Lê Mạnh Thát cho sưu tầm các
tác phẩm và công bố Toàn tập
Minh Châu Hương Hải. Đây là
một công trình có qui mô, giá trị
nhất từ trước đến nay. Tác giả
đã chỉ ra tác quyền của một số
thơ văn trong Minh châu Hương
Hải ngữ lục là của các thiền sư
Trung Quốc. Nhưng khi nói đến
Toàn tập thì phải công bố hết
các tác phẩm của thiền sư nhưng
qua khảo sát của chúng tôi, đến
thời điểm này, một số tác phẩm
của thiền sư Minh Châu Hương
Hải như Diệu pháp liên hoa kinh
thích giải, Bát nhã Đại Điên
42

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

được lưu trữ tại Viện nghiên cứu
Hán Nôm chưa được nghiên cứu.
Một số tác phẩm của thiền sư vẫn
còn được bảo tồn tại các thư viện
nhà chùa.
Gần đây, một số nhà nghiên
cứu đã dịch hai văn bia Tổ Sư bi
ký và Tông Sư bi ký ghi lại hành
trạng hai thiền sư Minh Châu
Hương Hải (1628-1715) và Chân
Lý Hiển Mật (1672-1739). Nhìn
chung, các công trình trên đã
nghiên cứu một cách công phu,
sử dụng nhiều tư liệu quí, mở ra
cái nhìn toàn diện về Minh Châu
Hương Hải. Công sức đóng góp
của các công trình đã để lại nhiều
giá trị trong việc nghiên cứu về
Minh Châu Hương Hải. Trong
bài viết này, chúng tôi đính chính
một vài lỗi nhỏ trong hành trạng
thiền sư Minh Châu mà các tư
liệu trước vấp phải.
Trước hết, tư liệu mà các nhà
nghiên cứu sử dụng để ghi lại
bản tiểu sử thiền sư là Kiến văn
tiểu lục, thiên Thiền Dật của Lê
Quí Đôn, cùng bản hành trạng
trong Hương Hải thiền sư ngữ
lục (viết tắt Ngữ Lục). Do Ngữ
lục thiếu mất mấy tờ đầu nên
đoạn thông tin không được biết
rõ. Các học giả y cứ thiên Thiền
Dật trong Kiến văn tiểu lục ghi

LỊCH SỬ

chép bổ sung, tạo nên một bảng
hành trạng đầy đủ. Tưởng như
các cứ liệu đưa ra là có độ chính
xác cao, nên các công trình sau
này đã liên tục sử dụng kế thừa.
Khi chúng tôi về thăm chùa
Xích Đằng, nhà chùa đưa đi thăm
xung quanh và cho biết hiện còn
hai ngôi tháp của thiền sư Minh
Châu Hương Hải và thiền sư
Chân Lý Đề Mật. Thông qua tư
liệu còn lại, nhất là các văn bia
được bảo tồn tại bản tự, chúng
tôi đối chiếu với bảng hành trạng
thiền sư Hương Hải và thấy có
một số lỗi cần đính chính như
sau:
1. Có phải ngài có tục danh
là Tổ Cầu hay không?
Trước đây, các tư liệu đưa ra
đều ghi tục danh của ngài là Tổ
Cầu. Chúng tôi tham khảo Kiến
Văn tiểu lục, thiên Thiền Dật đề:
“Hương Hải thiền sư tục danh Tổ
Cầu 香海禪師俗名祖求”. Còn
Ngữ lục do mất hai tờ đầu nên
không thể biết được. Các tư liệu
tiếng Việt sau này đều y cứ như
thế. Thế nhưng, theo Tông sư bi
ký cho biết: “Thập thất xuất gia,
thụ giáo qui y ư Tổ Tích Hương
Hải thiền sư, ấn chứng trí danh
pháp tự Chân Lý 十七出家受
教皈依於祖跡香海禪師印證置

名法嗣真理” [7, tr.740] nghĩa là
năm 17 tuổi, sư xuất gia, thụ giáo
qui y với thiền sư Tổ Tích Hương
Hải, ấn chứng ban pháp tự là
Chân Lý. Qua đối chiếu tư liệu,
chúng tôi nhận thấy bản Kiến Văn
tiểu lục bản A. 32 là sách chép
tay mà Lê Mạnh Thát chỉ ra sai
sót trong khi sao chép. Văn bia
lập năm Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh
Hựu thứ 5 (1739) có niên đại lâu
hơn, và những người trong tông
môn khi viết hành trạng thiền sư
được tạc vào bia đá thì độ chính
xác khá cao. Không lẽ, lại chép
sai tên thầy mình cùng các tổ sư.
Chúng tôi cho rằng Tổ Tích mới
chính xác, còn tục danh Tổ Cầu
là chữ viết sai của chữ Tổ Tích.
2. Có phải tên vị thầy của
thiền sư Hương Hải là Đại
Thâm Viên Khoan hay không?
Thiên Thiền Dật trong Kiến
Văn Tiểu Lục ghi: “Hựu học đạo
ư Đại Thâm Viên Khoan thiền sư
又學道於大深圓寬禪師” nghĩa
là lại học đạo với thiền sư Đại
Thâm Viên Khoan. Do Ngữ lục
mất 2 tờ đầu nên phần thông tin
trên đã mất. May mắn, văn bia Tổ
Sư Bi Ký ghi lại hành trạng thiền
sư Hương Hải lại chép: “Nhĩ thời,
đầu Phật xuất gia, thụ giáo chính
tông ư Đại Thâm Viên Thật thiền
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

43

☸ LỊCH SỬ

sư 爾時投佛出家受教正宗於
大深圓實禪師” [7, tr.736] tức là
lúc bấy giờ, sư đầu Phật xuất gia,
thụ giáo chính tông với thiền sư
Đại Thâm Viên Thật. Đối chiếu
hai tư liệu, chúng tôi thấy trong
chữ Hán, chữ Khoan (寬) với
chữ Thật (實), tự dạng gần giống
nên bản chép tay dễ nhầm. Do
đó, chúng tôi y cứ nơi văn bia Tổ
sư bi ký cho là thiền sư Đại Thâm
Viên Thật chứ không phải là Đại
Thâm Viên Khoan.
Cũng theo nguồn tư liệu văn
bia trên, thiền sư Hương Hải lúc
đầu xuất gia với thiền sư Đại
Khâm Viên Thật. Sau đó, ngài
sang học đạo với thiền sư Lục
Hồ Viên Cảnh. Chứ không phải
ngài học đạo với thiền sư Lục
Hồ Viên Cảnh, rồi tham học với
thiền sư Đại Thâm Viên Thật như
trong Kiến Văn Tiểu lục của Lê
Quí Đôn (1726-1784).
Về hai vị thiền sư trên, chúng
ta chưa có tư liệu nào ghi lại rõ
ràng, chỉ biết các ngài hành đạo
tại vùng Triệu Phong xưa, nay
thuộc tỉnh Quảng Trị. Hai thiền
sư này có nguồn gốc từ Trung
Quốc, chứ không phải như nhận
định sau: “Nhiều thiền sư phái
Trúc Lâm đã trốn vào các vùng
núi phía nam ở Quảng Trị, Thuận
44

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

Hóa hoặc Quảng Nam, Quảng
Ngãi và cũng có thể vào sâu hơn
nữa. Họ ẩn tu chôn giấu tên tuổi,
tông tích cho mãi đến đời Mạc
(1527-1595) và Lê Trung Hưng
(1533-1588) mới dần dần xuất
đầu lộ diện, một số thiền sư liên
hệ môn phái Trúc Lâm như Chân
Nghiêm đời Mạc hay Viên Cảnh,
Viên Khoan mà tông tích không
ai được rõ”1.
Cả hai đều thuộc tông Lâm Tế
truyền theo bài kệ của tổ Trí Bản
Đột Không. Bài kệ như sau:
“Trí tuệ thanh tịnh,
Đạo đức viên minh.
Chân như tính hải,
Tịch chiếu phổ thông…”
Do việc suy từ hệ thống truyền
thừa mà chúng tôi kết luận tông
phái cũng như tông tích của hai
vị này. Bởi vì, hai vị có pháp tự
đứng đầu bằng chữ “Viên” lại cho
đệ tử bằng chữ “Minh”. Thiền
sư Hương Hải cho xuống chữ
“Chân”, rồi Như, Tính, Hải…
Hệ thống truyền thừa này
tưởng chừng như bị đứt tuyệt.
Trong quá trình sưu tầm tư liệu,
chúng tôi tiếp xúc khoa cúng tổ
chùa Tế Xuyên ở Hà Nam. Lúc
1. Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Lịch sử
Phật Giáo Việt Nam, Nxb KHXH, H.
1988, tr. 301.

LỊCH SỬ

đầu, các tổ sư chùa Tế Xuyên
hành đạo tại chùa Thánh Ân,
sau mới chuyển xuống chùa Tế
Xuyên, phát triển tông môn.
Truy tìm nguồn gốc, khoa cúng
cho biết thiền sư Tính Thức học
đạo với tổ sư Như Tông, chùa
Nguyệt Đường. Đối chiếu Ngữ
Lục, chúng ta biết thiền sư Như
Tông có nằm trong danh sách
hàng tông môn trong dòng thiền
Nguyệt Đường. Chúng tôi cho
rằng, thiền sư Như Tông chính là
đệ tử của thiền sư Chân Lý. Một
điều có thể suy ra là sau khi thiền
sư Như Nguyệt viên tịch, thiền
sư Như Tông đã kế đăng trụ trì
chùa Nguyệt Đường. Do đó,
thiền sư Tính Thức mới học đạo
với thiền sư Như Tông tại chùa
Nguyệt Đường.
Qua việc truy nguyên tông
phái sơn môn Tế Xuyên-Hà
Nam, chúng ta biết được dòng
thiền Nguyệt Đường đã phát triển
mạnh trong tỉnh Hưng Yên, sau
truyền xuống Hà Nam, phát triển
thành sơn môn Tế Xuyên, một
sơn môn nổi tiếng miền Bắc.
Tóm lại, do đối chiếu các tư
liệu với nhau, chúng tôi đã chỉ ra
một vài lỗi do bản chép tay Kiến
văn tiểu lục ghi lại hành trạng
thiền sư Minh Châu Hương Hải.

Có thể khi sao chép không có tư
liệu đối chiếu nên dễ chép sai,
hiện tượng sao chép các chữ sai
có cùng tự dạng trong Hán văn
là điều thông thường. Các nhà
văn bản học Hán Nôm cũng chỉ
ra hiện tượng sao chép trên trong
rất nhiều công trình. Qua đó để
chúng ta có thể ghi lại hành trạng
thiền sư Hương Hải một cách
chính xác hơn.■
Ngô Quốc Trưởng
Tài liệu tham khảo

1. Trí Hiếu, “Lịch sử chùa Xích
Đằng”, Đuốc Tuệ số 7, năm 1936,
tr. 17-22.
2. Thiện Đình, “Truyện đức Hương
Hải thiền sư”, Nam Phong số 136,
năm 1929, tr. 31-37.
3. Nguyễn Lang (1993), Việt Nam
Phật Giáo sử luận II, Nxb Lá Bối,
San Jose CA – USA.
4. Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập
Minh Châu Hương Hải, Nxb TP
Hồ Chí Minh.
5. Lê Quí Đôn, Kiến Văn Tiểu Lục,
bản A.32 của Viện nghiên cứu
Hán Nôm.
6. Nguyễn Minh Quý, “Thân thế và
sự nghiệp Hương Hải thiền sư
qua tấm bia Tổ sư bi ký” trong
Thông báo Hán Nôm học 2005, tr.
545-548.
7. Tổng tập thác bản văn khắc hán
nôm, tập 4, Nxb Văn hóa thông
tin, H. 2005, tr. 736, 740.
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

45

☸ TRUYỀN THÔNG

D

iện mạo phiến diện của
truyền thông Phật giáo Việt Nam hiện đại

K

hoảng 40 năm trước, khi
truyền thông thời bấy giờ
chủ yếu là sách báo, tạp chí, diễn
giảng trực tiếp… thì diện mạo
truyền thông Phật giáo bấy giờ
gắn liền với tên tuổi của những
vị hòa thượng, thượng tọa, cư
sĩ có tài, có đức, có thực học, là
tác giả các công trình nghiên cứu
Phật học như chư tôn hòa thượng,
thượng tọa Thích Trí Thủ, Thích
Minh Châu, Thích Nhất Hạnh,
Thích Thuyền Ấn, Thích Mãn
Giác, Thích Đức Nhuận, Thích
Tuệ Sĩ và cả nhiều cư sĩ như
Chánh Trí Mai Thọ Truyền, GS
Nguyễn Đăng Thục, v.v…
Diện mạo Phật giáo trên các
phương tiện truyền thông miền
46

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

Nam Việt Nam lúc đó phản ánh
khá chân thật hoạt động Phật
giáo Việt Nam ở miền Nam lúc
bấy giờ. Các giảng sư có uy tín,
các tác giả Phật học chinh phục
bạn đọc đông đảo… đều là những
nhà lãnh đạo Phật giáo, đều thuộc
giới tinh hoa Phật giáo. Phật giáo
Việt Nam qua truyền thông đọc
hầu như không có khoảng cách
đối với Phật giáo trong thực tế.
Khoảng cách đã bắt đầu có,
khi truyền thông Phật giáo bắt
đầu phát triển qua lãnh vực nghe.
Cuối thập niên 1980 và trong
thập niên 1990, băng audio cassette trở nên thông dụng, trong
khi hoạt động in ấn trên giấy
không được thuận lợi. Bối cảnh
này đã góp phần hình thành hoạt
động học Phật qua băng thuyết
pháp.
Một số đông Phật tử nước
ngoài cũng giữ liên hệ với Phật
giáo trong nước qua băng thuyết

TRUYỀN THÔNG

pháp. Bức tranh truyền thông
Phật giáo Việt Nam lúc đó chỉ còn
những vị giảng sư thuyết pháp
qua băng cassette nổi bật như
các vị hòa thượng Thích Thanh
Từ, Thích Từ Thông, Thích Nhất
Hạnh, Thích Trí Quảng, ni sư
Trí Hải, v.v… Vị trí một số các
vị tôn đức và Phật tử uyên thâm
Phật học khác đã trở nên mờ nhạt
đi, vì không có sách in, bài đăng
báo, cũng như không có nốt băng
giảng (vì nhiều lý do, nhiều vị
không thuyết pháp hoặc không
ghi âm băng giảng). Qua lăng
kính truyền thông băng giảng lúc
bấy giờ, diện mạo Phật giáo Việt
Nam bắt đầu phiến diện. Người
ta nói nhiều đến các vị giảng sư
trên băng, với các bài giảng mà
ai cũng đều có thể in sang để
quảng bá theo kiểu chuyền tay,
tặng biếu khi tâm đắc nội dung.
Tăng Ni Phật tử giới thiệu nhau
không còn chỉ là sách, mà trước
hết là băng.
Một bước phát triển mới của
hoạt động hoằng pháp và học
thuật Phật giáo đã diễn ra khi kỹ
thuật sang băng cassette High
Speed ra đời.
Một cuộn băng audio cassette
C-90, trước đây, muốn in sang
phải mất 90 phút. Nhưng với kỹ

thuật High Speed thì chỉ cần vài
phút để in sang. Thêm vào đó,
giá thành băng ngày càng hạ,
khiến cho sức lan tỏa băng ngày
càng gia tăng. Đương nhiên, theo
đó, vai trò của các ấn phẩm Phật
học giấy ngày càng giảm.
Diện mạo Phật giáo Việt Nam
phản ánh qua truyền thông Phật
giáo ngày càng có khoảng cách
với thực tế khi kỹ thuật ghi hình
phổ biến. Băng video cassette
còn đắt nên tác động của nó tuy
đã có từ cuối những năm 1990,
song còn hạn chế. Đến khi dĩa
VCD ra đời thì mọi việc hoàn
toàn khác. Dĩa VCD trắng chỉ
2000đ, rẻ hơn gần 10 lần so với
băng video cassette. Thời gian
chép dĩa VCD nhanh, có thể chép
nhiều dĩa bằng một máy trong
một lúc. Tất cả đã làm diện mạo
truyền thông Phật giáo Việt Nam
thay đổi mạnh mẽ hơn nữa và
ngày càng làm khoảng cách so
với Phật giáo Việt Nam trong
thực tế càng lớn.
Kỹ thuật video tỏ ra đặc biệt
thích hợp với Tăng Ni trẻ, và
vì thế, Phật giáo Việt Nam qua
truyền thông video… “trẻ hóa”.
Những giảng sư nổi tiếng từ dĩa
VCD có độ tuổi khoảng 40 – 50
tuổi. Hiếm thấy dĩa thuyết pháp
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

47

☸ TRUYỀN THÔNG

của các vị Hòa thượng cao tuổi.
Phật giáo qua truyền thông video
vắng đi hẳn nhiều thế hệ.
Search tìm hình ảnh video của
tăng sĩ Việt Nam trên You tube,
thì có, nhưng rất hiếm hình ảnh
các vị Hòa thượng (thường là
trên 60 tuổi). Hình ảnh video các
đại diện đỉnh cao tinh hoa Phật
giáo Việt Nam đã có khác biệt
đáng kể so với thực tế. Video
trên internet có phạm vi quảng
bá toàn cầu, do vậy, kết quả video mà người nước ngoài tìm hiểu
về Phật giáo Việt Nam sẽ hoàn
toàn khác với thực tế.
Trong nhiều trường hợp, tuy
không phải tỷ lệ đa số, nhưng
cũng không phải là hiếm thấy,
một số vị giảng sư video trở
thành những “minh tinh”, có một
số “fan” cuồng nhiệt. Các fan
này không chỉ là cổ động viên
thân thiết trong những lần thuyết
pháp, mà là những người giữ vai
trò đặc biệt trong hoạt động phổ
diễn dĩa VCD, DVD. Dĩa VCD,
DVD thuyết pháp được tặng
không cho Phật tử lễ chùa là điều
tất nhiên, nhưng trong những
năm gần đây, nhiều hình thức
mới phát hành dĩa thuyết pháp
cũng đã có, như đến tặng cho
thanh niên công nhân, sinh viên
48

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

ở nhà trọ, tặng cho các xe đẩy để
họ bán với giá rẻ… Điều này, rõ
ràng, tốt cho Phật pháp, nhưng
liệu số dĩa phát hành với tỷ lệ áp
đảo chỉ là dĩa thuyết pháp của
một vài giảng sư trẻ, năng động,
tích cực, nhạy cảm với công
nghệ mới có làm diện mạo Phật
giáo Việt Nam phản ánh thông
qua phương tiện truyền thông
Phật giáo (tác động mạnh mẽ
nhất hiện nay là dĩa VCD, DVD)
ngày càng khác xa với thực tế
Phật giáo Việt Nam? Chư vị tôn
đức đạo cao, đức trọng ẩn tu hay
tác giả những quyển sách nghiên
cứu Phật học giá trị thì ngày càng
ít được biết đến hơn nữa.
Ghi nhận hiện trạng như vừa
trình bày ở trên, chúng tôi không
mong gì khác là điều chỉnh tình
trạng chưa hợp lý này, bằng việc
hi vọng chư Tôn đức, đặc biệt là
những vị hòa thượng, thượng tọa
đạo cao đức trọng, kiến thức Phật
học uyên thâm dành sự quan tâm
thích đáng cho việc hoằng pháp
bằng kỹ thuật video hiện đại.
Nếu không, một diện mạo Phật
giáo Việt Nam phiến diện qua
truyền thông Phật giáo sẽ là thiệt
thòi chung đối với Phật giáo Việt
Nam.■
Minh Thạnh

THƠ

NỤ CƯỜI
PHẬT
TÍNH
Gần ba nghìn năm mới đó vèo qua
Mà vẫn còn đây nụ cười của Phật
Như thầm nhắc một điều duy nhất
Rằng em hãy về với cái chính em
Cái gì khiến cho em hiện hữu
Biết vui biết buồn và biết thương yêu ?
Có phải chăng là cái Tâm vi diệu
Chiếu suốt ngày đêm suốt tháng năm qua ?
Dù trọn đời hay tới muôn thu
Thì em vẫn quần quanh theo tâm thức
Em vẫn luân hồi trong vòng nghiệp lực
Gieo nhân gì thì quả nấy em ơi !
Đêm tháng Tư trăng rằm lên sáng sủa
Xua đi ngàn u ám tham si
Chợt bừng dậy đáy lòng Chân Thiện Mỹ
Một nụ cười Phật Tính giữa nhân sinh
Tâm Nhiên
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

49

☸ TRIẾT HỌC

T

riết học

PHẬT GIÁO HÀN QUỐC

● Sungtaek Cho

Giữa thế kỷ thứ IV, Phật giáo từ
Trung Quốc truyền vào bán đảo Hàn
Quốc. Bấy giờ Hàn Quốc bị chia thành
ba vương quốc: Cao Cú Ly (Kokuryu),
Bách Tế (Paekche) và Tân La (Silla).
Ngay sau khi Phật giáo truyền đến
vương quốc Cao Cú Ly (372) và vương
quốc Bách Tế (384) đã được hai vương
quốc này công nhận là quốc giáo. Nhưng
gần hai thế kỷ sau, vương quốc Tân La
mới công nhận Phật giáo là quốc giáo.
Đây là nguyên nhân vương quốc Tân La
được thành lập sau cùng trong ba vương
quốc khi quyền lực tập trung dưới sự cai
trị của một vị vua.
Không phải ngẫu nhiên Phật giáo
được ba vương quốc này chấp nhận
gần như đồng thời mà vì đã làm vương
quyền mạnh mẽ, chế độ quý tộc độc lập.
Những vương quyền vừa thiết lập cần
có hệ tư tưởng mới để cai trị và tách biệt
với truyền thống Tát-mãn giáo cổ xưa
từng mong muốn liên minh trước đó
giữa các bộ lạc lỏng lẻo. Phật giáo đã
đáp ứng nhu cầu này. Nó đã trở thành
50

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

TRIẾT HỌC

công cụ có giá trị cao được các
quốc vương sử dụng khôn khéo,
không chỉ cung cấp cho xã hội
bấy giờ một hệ tư tưởng chính
trị, mà còn tạo cho họ một nền
tảng vững chắc để xây dựng hệ
thống đạo đức và tư tưởng triết
lý. Do sự kiện lịch sử này, Phật
giáo Hàn Quốc mang nét đặc
trưng, khác biệt với truyền thống
Á Đông: trở thành Phật giáo “hộ
quốc”. Mặc dù trong lĩnh vực
triết học, đây không phải là hiện
tượng đặc thù, nhưng điểm này
có ảnh hưởng sâu sắc trong mọi
phương diện tư tưởng Phật giáo
Hàn Quốc.
Nhìn chung, Phật giáo Hàn
Quốc phát triển song song với
sự lớn mạnh của Phật giáo ở khu
vực Á Đông dù có quan hệ đặc
biệt gần với Trung Hoa hơn Nhật
Bản. Hầu hết sự phát triển triết
học Phật giáo Hàn Quốc đều do
chư Tăng Hàn Quốc đến Trung
Quốc nghiên cứu thông suốt Phật
điển viết lại hoặc dịch ra tiếng
Hán chứ không có chứng cứ lịch
sử nào cho thấy sự truyền bá Phật
học từ chiếc nôi Phật giáo ở Ấn
Độ. Tuy quan hệ gần với Trung
Quốc như vậy, nhưng Phật giáo
Hàn Quốc phát triển có đặc tính
riêng, khác biệt với nguồn gốc

của nó.
So với Phật giáo Ấn Độ và
Trung Á thì Phật giáo Hàn Quốc
đã phát triển theo những dòng
lịch sử rõ ràng, sự phát triển của
Phật giáo Trung Quốc phụ thuộc
nhiều vào tính cách của từng vị
tăng và chịu tác động bởi xuất xứ
và kinh điển mà họ nhấn mạnh.
Do đó, người Trung Quốc đã
sáng lập và phát triển một cách đa
dạng những trường phái tư tưởng
Phật giáo trong quá trình tiếp
nhận Phật giáo Ấn Độ. Nhưng ở
Hàn Quốc thì không có sự phân
chia nào trong truyền thống triết
học. Hơn nữa, một trong những
nét đặc trưng của Phật giáo Hàn
Quốc là hợp nhất các quan điểm
khác nhau kết thành một hệ thống
tư tưởng.
I. THỜI KỲ TAM QUỐC (372-668)
Khi Phật giáo truyền đến bán
đảo Hàn Quốc, Hàn Quốc đang
trong thời kỳ chuyển dịch, thay
đổi từ xã hội bộ lạc sống rải rác
tập trung thành các quốc gia
được cai trị bởi các vị vua. Phật
giáo rất được các vua bảo hộ nhờ
cung cấp cho họ tư tưởng chính
trị có giá trị, nhưng phải đối diện
với những thách thức từ phản đối
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

51

☸ TRIẾT HỌC

của hệ thống tín ngưỡng bản địa
đã bám chặt vào lễ nghi Tát-mãn
giáo. Đáp lại những thách thức
này, một số giáo lý trong Phật
giáo được dùng làm thay đổi tín
ngưỡng vật linh được chú trọng
ở Hàn quốc. Chẳng hạn như giáo
lý Nghiệp, khẳng định tầm quan
trong của hành vi đạo đức con
người, không chấp nhận quyền
năng của Thượng đế và những
linh hồn trong sự sắp đặt số phận
con người. Tuy nhiên, Phật giáo
cũng nhờ vào cách chuyển hóa.
Thiên vương (Hanunim), chúa
thần trong Tác-mãn giáo được
chuyển thành trời theo quan
niệm Phật giáo. Tương tự, tất
cả các thần núi, thần đất và rồng
trong Tác-mãn giáo bản địa tôn
thờ đều được hợp nhất trong hệ
thống tín ngưỡng Phật giáo.
Chỉ một ít thông tin rời rạc có
giá trị liên quan đến triết học Phật
giáo tồn tại trong thời kỳ đầu ở
Hàn Quốc. Như đã đề cập ở trước,
sự phát triển Phật giáo Hàn Quốc
gần như song hành với Phật giáo
Trung Quốc. Cả trường phái Đại
thừa như Thiên thai, Hoa nghiêm
và Địa luận cũng như trường phái
Tiểu thừa gồm A-tỳ-đàm, Thuyết
nhứt thiết hữu bộ và các truyền
thống Luật đều được giới thiệu.
52

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

Tuy nhiên, triết học Trung quán
dường như trở thành dòng chính
của tư tưởng Phật giáo trong suốt
thời kỳ này. Tên của các tăng sĩ
Hàn Quốc ở kinh đô Cao Cú Ly
và Bách Tế thường được nói đến,
đặc biệt trong sử Nhật Bản có
ghi các luận sư của thuyết Trung
quán hay những vị tổ khai sáng
của phái Tam Luận ở Nhật (Phái
Tam luận dựa trên sự lý giải của
Trung Quốc về Trung quán luận
của Ấn Độ).
Chúng ta có thể tìm hiểu
nhiều về sự lý giải của Hàn Quốc
về Trung quán luận bằng cách
nghiên cứu những đóng góp
của Tăng Lãng (410-510), Cao
tăng Hàn Quốc. Mặc dù chúng
ta không có sử liệu chính xác
về ngày sinh của ngài, nhưng
theo tiểu sử của Pháp Độ (Fadu,
437–500) trong Lương Cao Tăng
truyện, thì Tăng Lãng đắc pháp
sau khi Luận sư Pháp Độ viên
tịch vào khoảng 500 năm sau CN.
Những lý giải khác thường của
Tăng Lãng thể hiện quan điểm
trái ngược không chỉ đối với giới
nghiên cứu Tam Luận mà cả giới
nghiên cứu Phật học Trung Hoa.
Qua những đóng góp quả quyết
của Tăng Lãng, Tam Luận được
khởi xướng bởi Cát Tạng (Jizang

TRIẾT HỌC

549-623) trở thành một trong
những trường phái lớn trong lịch
sử Phật giáo Trung Quốc. Những
tác phẩm của Tăng Lãng không
được truyền bá, nhưng tư tưởng
triết học của ngài được trích dẫn
trong suốt các tác phẩm của Cát
Tạng.
Trong thời kỳ của Tăng Lãng,
giới nghiên cứu Phật giáo Trung
Quốc phân thành trường phái
phía Bắc/A-tỳ-đàm và phái
phía Nam/Thành thật tông. Tam
luận tông được xem là chi phái
của Thành thật tông, toàn bộ
luận thuyết căn cứ trên giáo lý
A-tỳ-đàm và đặt trọng tâm xoay
quanh giáo lý Tứ thánh đế của
Tiểu thừa. Tuy nhiên, Tăng Lãng
đã tạo ra sự khác biệt giữa Thành
thật luận và Tam luận, và Ngài
đã phân biệt ranh giới Tam luận
giữa tân và cựu. Ngài nổi tiếng
về thuyết Nhị đế, trong đó ngài
tách bạch giữa Chơn đế và Tục
đế. Theo ngài, đây không phải là
chơn lý thực tại, mà tiêu biểu sự
phân chia giáo pháp thuận tiện các
nhà sư phạm. Trong những cuộc
thảo luận liên quan đến chơn lý,
một số người nói rằng “hữu”, số
khác cho rằng “vô”; một số khác
lại cho rằng vừa “hữu” vừa “vô”.
Song, Tăng Lãng cho là không

có phát biểu nào đúng hoàn toàn,
mà chỉ là một mặt của nó. Vì
thế, theo Ngài, Nhị đế thể hiện
sự diễn đạt khác nhau về giáo lý
Trung Đạo tuyệt diệu.
Đối với Tăng Lãng, Trung
đạo không phải là trạng thái của
hai mặt đối đãi giữa “hữu” và
“vô” hay “đối” và “vô đối”, thực
tế hơn, Ngài nhận thấy nó bao
hàm ba cấp độ: Cấp độ thứ nhất,
sự tồn tại của chúng sanh được
xem là Tục đế và Không của
các pháp xem như là Chơn đế.
Ở đây, Không được gọi là Chơn
đế trong lời giải đáp cho môn đồ
A-tỳ-đàm, những người theo chủ
trương các pháp thật hữu. Cấp
độ thứ hai, hữu và vô của cấp
độ đầu đều được xem là Tục đế,
trong khi phủ nhận xem cả hai là
Chơn Đế. Đây là sự bác bỏ của
Tăng Lãng đối với trường phái
Thành thật luận, mà thừa nhận
thuyết nhị nguyên của “hữu” và
“vô”, chấp nhận tánh không là
chơn đế. Cuối cùng, cấp độ thứ
ba, thừa nhận nhị đế cũng như ba
cấp độ chỉ là sự phân chia giáo
lý. Do đó, ba cửa ngõ hay ba cấp
độ được dẫn giải chỉ để nhận
thức rõ chơn đế không có ba. Vô
sở đắc, bất biến, một cấp độ hay
một chơn lý đầu tiên được gọi là
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

53

☸ TRIẾT HỌC

chân đế.
Cấu trúc của học thuyết Tăng
Lãng biểu thị một tiến trình biện
chứng tiếp diễn đến vô cực. Như
vậy, nó phủ nhận bất kỳ khái
niệm cứng nhắc nào cho rằng
chơn đế là trạng thái đạt được
thông qua tiến trình. Đối với
Tăng Lãng và những người theo
trường phái của Ngài cho rằng ở
cấp độ cao nhất là vô hữu, hơn
là phủ nhận phương pháp biện
chứng này tiếp diễn một cách
vô tận. Chơn đế không thể là kết
quả cuối cùng, và nó không phải
là một hiện thực tuyệt đối. Đây
là lý do vì sao Tăng Lãng khẳng
định rằng thuyết Nhị đế không
phải là một nguyên lý mà chỉ là
phương tiện giáo lý. Ngài chỉ rõ
rằng nó không thể phát biểu bằng
lời hay bằng nhận thức về Chơn

54

đế. Bất cứ nỗ lực nào thực hiện
điều đó chỉ lùi lại mức độ của
Tục Đế. Triết học khác thường
này đã đánh dấu bước đầu của
phái Tân tam luận và đầu tiên
được Chu Nguyện khởi xướng,
rồi đến Cát Tạng – người hoàn
thiện mọi ý tưởng vào nửa cuối
thế kỷ thứ VI.
II. THỜI KỲ TÂN LA THỐNG NHẤT
(668-935)
Thời kỳ này, Phật giáo là một
trong những tôn giáo thịnh hành
và cách tân, có sức ảnh hưởng
mạnh nhất ở Hàn Quốc cả về văn
hóa lẫn triết học. Phật giáo thời
kỳ này phát triển rực rỡ và cực
thịnh đến độ khó có thể lập lại.
Một mặt là nhờ ảnh hưởng của
những tông phái mới của Phật
giáo Trung Hoa thời nhà Đường

Mihwangsa Temple (美黃寺), South Korea
PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

TRIẾT HỌC

được chư tăng Tân La đem về khía cạnh của con voi mà thôi.
truyền bá vẫn còn. Mặt khác là Đứng ở góc độ này thì họ hoàn
có Nguyên Hiểu (Wŏnhyo, 617- toàn sai, nhưng ở một góc độ
686) và các cao tăng Phật giáo khác thì chưa hẳn như vậy, vì cái
Hàn Quốc đóng vai trò quan mà họ mô tả có phần giống con
trọng trong sự phát triển tư tưởng voi.
Phật giáo Trung Hoa. Tuy nhiên,
Nếu xét từ góc độ cao hơn,
không giống như Phật giáo nhà Nghiên Hiểu không quan tâm
Đường với khuynh hướng lập đến những nhận thức chỉ thuần
tông phái, Phật giáo Tân La thống cục bộ hay phiến diện, mà tập
nhất hướng đến tổng hợp các tư trung tổng hợp các pháp khác
tưởng Phật học khác nhau thành nhau thành một tư tưởng hoàn
một loại triết học chung cho các chỉnh. Tư tưởng đó được gọi
tông phái, tiếng Hàn gọi là t’ong là hòa tránh (hwajaeng) hay
pulgyo (通佛教) hoặc Phật giáo “hòa hợp tranh luận”. Phương
thông đạt (通達). Chúng ta có tiện chú giải được ông sử dụng
thể hiểu rõ tông phái Phật giáo nhiều trong suốt thể loại chú giải
Hàn quốc qua các tiêu đề sau: pháp Phật là thuật ngữ thể-dụng
Hòa tránh, Tân La Hoa Nghiêm (chong-yo), cũng như khái niệm
tông, Tân La Duy thức tông và khai (kae: hiển hay mở ra) và hợp
giới thiệu Thiền (Sôn) Phật giáo (hap: ẩn hay khép lại) chơn lý của
gốc Trung Hoa.
ông. Nguyên Hiểu cho rằng, có
khoảng mười bảy thể-dụng như
1. HÒA HỢP TRANH LUẬN
vậy được tạo ra từ năm thể-dụng
đang có. Thể dịch nghĩa là tông
Một trong những người có đề pháp hay thể tài, còn dụng có
xướng quan trọng nhất về cách nghĩa là yếu tính. Chẳng hạn như
tiếp cận các pháp tránh này là Niết-bàn tông yếu (Yolban’gyong
Nguyên Hiểu, một vị tăng uyên chongyo), một trong những tác
bác nổi tiếng. Theo ông, nhiều phẩm của ông. Ở đây, “tông”
tranh luận xảy ra giữa các triết chỉ cho các tư tưởng khác nhau
gia Phật giáo giống như chuyện được tranh luận, còn “yếu” là
những người mù mô tả voi. Mỗi tập hợp chúng thành một hệ tư
một người chỉ mô tả được một tưởng chính. Tương tự, Nguyên
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

55

☸ TRIẾT HỌC

Hiểu trình bày và phân tích các
ý tưởng khách nhau bằng thuật
ngữ “khai” (kae) theo cách của
mình; đồng thời thông qua thuật
ngữ “hợp” (hap), ông chỉ ra cách
tổng hợp các tông này thành một
khối kết trong nhận thức như thế
nào. Và, tông phản ánh việc mở
ra một thành nhiều, trái lại yếu
thì chỉ cho việc gộp lại nhiều
thành một.
Còn phương tiện nữa là
thuyết thể-dụng (ch’e-yong)
mà Nguyên Hiểu đã sử dụng để
hợp các đối pháp và chỉ ra tính
vô đối của chúng. Trong sớ giải
Đại thừa khởi tín luận, ông cho
rằng, Đại thừa (Mahāyāna) đồng
nghĩa với Duy thức (One-Mind).
Duy thức tiêu biểu cho yếu hay
thể, trong khi sự đa dạng của
tâm thức và trạng thái vật lý hay
duyên khởi pháp tiêu biểu cho
dụng. Nội hàm thể-dụng không
khác so với khai-hợp (hiển và
ẩn). Theo Nguyên Hiểu, khi thể
của Đại thừa hay Duy thức được
gọi là khai, thì tông của nó có vô
hạn - vô lượng nghĩa. Ngược lại,
khi tông này được gọi là hợp, thì
nó quay về với thể của nó ở hai
phương diện: tuyệt đối và siêu
việt. Vô hạn nghĩa của Duy thức
hay Đại thừa vô lượng nghĩa
56

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

đồng nhất với thể này và hoàn
toàn hợp nhất với nó. Do vậy,
Duy thức hiển và ẩn tự do, thiết
lập và phủ nhận không bị giới
hạn.
Theo cách này, thì vô lượng
tập khí (vô lượng ấn tượng giác
quan) đều bị đưa đến một kết thúc
vĩnh viễn và quy nhập vào nguồn
Duy thức. Như vậy thì pháp nào
cũng có thể thủ đắc (sở thuyên)
và xả bỏ (phản luận). Nguyên
Hiểu gọi đấy là hữu và ông gán
cho cách phản luận đa dạng này
là sự xả ly, vô chấp, hồi chuyển
hay tịch tịnh.
Đặc biệt, Nguyên Hiểu đã nối
kết được cách sử dụng các công
cụ chú giải của mình để hòa giải
những giáo lý của Trung quán và
Duy thức. Theo ông, Trung luận
của Long Thọ và Thập nhị tụng
(Dvāśanikāyaśāstra) của Thế
Thân, cả hai đều cung cấp một
phê phán biện chứng xuyên suốt
mọi quan điểm (một luận chứng
quán thông nhất thiết) mà chúng
là một phẩm chất (tư cách) phải
được thừa nhận trên phương diện
lý luận. Với tính quy mô này,
chúng diệt dứt cả hai quan điểm:
sở thuyên (cái bị phản biện) và
năng thuyên (cái phản biện). Nói
cách khác, với nội dung vĩ đại ấy,

TRIẾT HỌC

cả Trung quán và Duy thức, đều
có thể gọi là Quy Mậu luận - học
thuyết nào đưa vào cũng bị sai
lầm. Tuy nhiên, vì những phép
biện chứng của Trung quán là
dứt khoát không thừa nhận cả hai
năng và sở thuyên này, cách tiếp
cận ấy là tịch diệt, do vậy chư
pháp là tánh không (không pháp
nào được thiết lập cả). Còn đối
với Duy thức, thì học phái này là
một học phái hoàn thành sự phân
tích các trạng thái tâm hay tâm
pháp và thiết lập một cách tùy
thuận cả hai pháp: tục đế và chân
đế. Tuy nhiên, vì các nhà Duy
thức trụ trên các tiến trình tâm
được thiết lập để họ phân tích và
phản chứng, pháp của họ là sự
đạt tới diệu hữu, và do vậy, chư
pháp là diệu hữu (không có pháp
nào bị phản đối). Trên thực tế,
thì pháp luận diễn ra giữa Trung
quán và Duy thức, là do Trung
quán y trên cách phản luận (pháp
không) và tính vô chấp, trong
khi đó, các nhà Duy thức đã tiếp
xúc sự trình hiện [của chư pháp]
hay pháp hữu hoặc chỉ có thức.
Mỗi một trường phái chỉ tri nhận
được một phần của chân lý, cho
dù, cùng một lúc hoàn toàn vừa
sai vừa đúng.
Bằng phương tiện thiện xảo

về pháp hiển và ẩn, Nguyên Hiểu
có thể hòa hợp các sai biệt như
vậy nhờ sự dung thông chúng lại
thành một giáo pháp duy nhất
đó là Duy thức, nó cho phép cả
khẳng định và phủ định. Theo
Nguyên Hiểu, Đại thừa khởi tín
luận sở giải là một sớ giải toàn
diện và dung thông giữa [khônghữu], thế nên, ông đã y trên đó
tổng hợp các tiêu điểm của hai
trường phái Trung quán và Duy
thức. Ông khẳng định rằng, khi
trường phái nào phủ định mọi
quan kiến liên đới (chẳng hạn,
hai trường phái nêu trên), thì
trường phái ấy hoàn toàn vẫn ở
trong Vạn pháp Duy thức.
2. HOA NGHIÊM TÔNG CỦA TÂN LA
Một đóng góp sinh động nữa
cho nền tư tưởng Phật giáo Đại
Hàn, đó là Nghĩa Tương (Uisang, 625-702), sống cùng thời
với Nguyên Hiểu, và được xem
như là người sáng lập tông Hoa
Nghiêm Hàn quốc, y chỉ trên bản
kinh Hoa nghiêm (Avatāmsaka
Sūtra). Không như Nguyên Hiểu,
người chưa từng đến Trung Hoa,
Nghĩa Tương đã trải qua mười
năm tu học ở đó với tổ Trí Nghiễm
(Zhiyan, 602-668), đệ nhị tổ của
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

57

☸ TRIẾT HỌC

Hoa nghiêm tông Trung Hoa.
Nghĩa Tương chỉ còn lại một tác
phẩm lớn đó là biểu đồ Pháp giới
của Hoa Nghiêm Nhất thừa, kể
cả biểu đồ Hải ấn tam muội và
chú thích tự động.
Hải ấn thường được biết do
Nghĩa Tương viết ra khi còn tu
học ở Trung Hoa, là một thi kệ
gồm có 210 từ. Nó được mở ra
bằng Pháp (pop) và đóng lại bằng
Phật (pul), biểu thị mối quan hệ
của nhân và quả. Do đặt cả hai từ
cách này nằm giữa biểu đồ pháp
giới trong hình thái phức hợp,
cho nên Nghĩa Tương đã tiếp hợp
chủ đề cơ bản của triết học Hoa
nghiêm, khẳng định sự bắt đầu
và kết thúc hay nhân và quả, tuy
ở cùng một vị trí mà vẫn duy trì
sở hành khả phân của mình. Với
cách này, ông đã mô tả triết học
Hoa Nghiêm là diệu pháp của
sự tương tức tương nhập đồng
thời. Thêm nữa, theo ông, vị trí
độ sinh (giải thoát chúng sinh)
của kinh Hoa nghiêm chính là
ở trong 52 giai vị của sự nghiệp
Bồ-tát (bồ-tát hạnh), bản thân
của gia vị chánh tín đầu tiên này
hiện thân toàn bộ trong 52 giai vị
ấy, kể cả giai vị tối hậu của đại
giác. Về điểm này, một pháp ngữ
nổi tiếng của Hoa nghiêm tuyên
58

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

bố rằng: “phát khởi bồ-đề tâm,
liền thành Phật đạo”.
Dù sự biểu đạt của Nghĩa
Tương về triết học Hoa nghiêm
trong Hải ấn không phải là sáng
tạo của riêng ông, nhưng nó đã
thể hiện trọn vẹn những ý tưởng
chủ yếu của tông phái này, vừa
theo tính biểu tượng lẫn đồ thị.
Theo truyền thống, Hải ấn là một
luận thư cống hiến cho chư tăng
hướng đến sự hoàn thành khóa tu
của mình, một hành tướng được
biết bao kính trọng trong truyền
thống Phật giáo Đại Hàn. Nó
cũng được tụng trong các buổi
lễ Phật giáo Hàn quốc như chú
Đà-la-ni (dhāranī) có thần lực
đặc biệt. Cùng với sự hòa hợp
các mâu thuẫn trong triết học
Nguyên Hiểu, các cống hiến của
Nghĩa Tương trong tông Hoa
nghiêm đã giúp cho Hàn Quốc
tạo nên truyền thống Thông Phật
giáo (t’ong pulgyo) và làm nền
tảng cho Trí Nạp (Chinul, 11581210) tổng hợp các học phái hay
các trường phái thánh điển (Kyo)
và Thiền (Sôn) ở triều đại Cao
Ly sau này. (còn tiếp)
Tuệ Giác dịch
From Routledge Encyclopedia of
Philosophy

VĂN HÓA

Hanamatsuri 花祭り

S

M

au mùa tuyết lạnh ở xứ
sở Phù tang, người ta bảo
mùa đẹp nhất của Nhật Bản là
mùa này, khi cái nắng nhè nhẹ
đưa hơi xuân về trên đầu đường
cuối phố, là khi mà tiết trời tháng
tư, mùa hoa anh đào nở rộ, cũng
là mùa lễ hội của ngày đức Thế
Tôn ra đời.
Người Nhật bảo rằng trong
tiếng Nhật, hanamatsuri (lễ hội
hoa) có nghĩa là lễ hội mừng
ngày Phật đản, cũng dễ hiểu bởi
nó chứa đựng nhiều ý nghĩa làm
người ta liên tưởng đến, mùa
Phật đản tháng tư, cũng là mùa
mà khắp mọi miền trên đất nước
Nhật, những vườn hoa, đường
hoa anh đào rộ lên khoe sắc đua
nở như thể là đất trời chào đón
ngày đức Thế Tôn ra đời.

ùa Phật đản
ở xứ hoa anh đào

PHÁP SỰ CỦA LỄ
Nghi thức Quán Phật, tức
tắm Phật là một hình thức quen
thuộc hầu như đối với tất cả tín
đồ không câu nệ tông phái nào
của Phật giáo nói chung. Tín đồ
Phật giáo Nhật Bản cũng tổ chức
lễ Phật đản không thiếu nghi
thức này. Người ta thiết kế một
hương án nhỏ gọi là Hoa ngự
đường (花御堂, hanamido) được
trang trí với nhiều loại hoa, bên
trong bài trí một khay nhỏ có thể
chứa nước và ở đó an trí tượng
đản sanh.
Nước dùng để tắm Phật đản
sanh này được pha chế từ một
loại trà đặc biệt gọi là cam trà
(甘茶,amacha) tên khoa học
là Hydrangea macrophylla var.
thunbergii, không phải trà ngọt
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

59

☸ VĂN HÓA

có đường mà một loại lá trà non
được sấy khô, có vị đắng được
trồng nhiều ở tỉnh Nagano. Tuy
nhiên, ngày nay các tự viện
không câu nệ nguồn gốc mà đại
để trà có hương vị tự nhiên đem
pha cho lễ tắm Phật đều được gọi
là cam trà. Với nước trà đó, tín
đồ đến lễ bái vào dịp lễ sẽ kính
cẩn dùng một gáo nhỏ múc rót
lên thân tượng, tưởng niệm đến
ngày chín rồng phun nước cúng
Phật thế tôn theo truyền thống
đại thừa.
Ngoài ra, để đáp ứng niềm
kính tín của tín đồ địa phương,
một số chùa viện còn chuẩn bị
luôn sẵn nhiều tách nhỏ, người
tham bái sau khi rót nước tắm
Phật xong sẽ múc nước từ khay,
chỗ an trí tượng Phật để uống với
niềm tin mang lại sự may mắn,
bình an và trí tuệ. Đó là phong
tục tập quán khá phổ biến ở một
số vùng. Bên cạnh đó, quanh dịp
lễ hội Hanamatsuri, nhiều lễ hội
mang tính cách dân gian cũng
được tổ chức ở nhiều địa phương
khác nhau, mỗi địa phương
mang phong cách riêng của bản
địa mình.
Lễ tắm Phật ở Nhật Bản có
lẽ được tổ chức bài bản nhất là
nơi những tự viện có điều hành
60

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

trường mầm non. Có vẻ các cháu
nhỏ rất thích thú “trò chơi” này
bởi đức Phật thiếu niên như gần
gũi hơn trong mắt trẻ thơ, vì thế
Hanamatsuri thường được biết
đến nhiều nhất đối với những học
trò mẫu giáo theo học nơi những
trường tư thục của tự viện.
LỊCH SỬ TÊN GỌI
Cũng như bao dân tộc có
truyền thống Phật giáo khác,
người ta thường gọi ngày trọng
đại mừng đức Phật ra đời với
nhiều tên gọi mĩ miều khác nhau
nhưng mang cùng ý nghĩa, lễ kỷ
niệm đức Phật đản sinh. Ở Nhật
Bản, lễ Phật đản được mang tên
là Quán Phật hội (灌仏会, kanbutsue), bởi nó luôn được tổ
chức cùng với lễ tắm Phật đản
sinh. Đây là tên gọi được sử
dụng nhiều nhất trong rất nhiều
tên gọi khác tồn tại ở ngôn ngữ
nước này gồm: Giáng đản hội
(降誕会, gotane), Phật sanh hội
(仏生会, busshoe), Dục Phật
hội (浴仏会 yokubutsue), Long
hoa hội (華会, ryugee), Hoa hội
thức (花会式, hanaeshiki) và
Hoa tế (花祭, hanamatsuri).
Trước thời Duy Tân Minh Trị,
Ngày Phật đản của đất nước này
cũng là ngày trăng tròn tháng tư

VĂN HÓA

như các nước có truyền thống
Phật giáo Bắc truyền. Nhật Bản
cũng sử dụng lịch Âm, tức loại
lịch tính theo chu kỳ mặt trăng
mà nước ta hiện vẫn còn đang sử
dụng. Kể từ sau Duy Tân, người
dân Nhật tuyệt nhiên nhất luật
theo chiếu lệnh đổi sang sử dụng
lịch Dương và như thế ngày lễ
Phật đản tháng tư rơi vào tiết trời
sang xuân ấm áp, đó cũng là khi
mà loài hoa Sakura, quốc hoa
của đất nước này, mà tiếng Việt
gọi là hoa Anh đào khoe sắc đua
nở trên khắp nước Nhật. Từ sự
kiện đó, người Nhật đổi tên gọi lễ
Phật đản từ Quán Phật hội thành
Hoa tế (花祭,hanamatsuri).
Theo một vài tư liệu, duyên
khởi của tên gọi này được bắt
đầu từ các sư thuộc Tịnh độ tông
ở vùng kansai (Quan tây), mà
cụ thể là ở Kyoto, nơi thành phố
mệnh danh là cố đô của Nhật
bản, với hệ thống chùa chiền
tự viện dẫn đầu cả nước. Xứ sở
này sở hữu một phong cảnh hữu
tình, bên cạnh những chùa chiền
đền đài là nhiều vườn hoa, công
viên hoa, đường hoa Sakura với
đầy đủ chủng loại cũng như màu
sắc. Sự khởi xướng tên gọi này
được tín đồ Nhật Bản đón nhận
một cách nhiệt thành bởi có lẽ nó

mang ý nghĩa rằng ngày đức Phật
ra đời có ngàn hoa khoe sắc chào
đón, như điển tích Lâm-tỳ-ni, và
ngày nay tên gọi đó đã được sử
dụng rộng rãi trong tất cả tăng tín
đồ bất kể tông phái nào.
Tuy nhiên, về tên gọi Hanamatsuri, thật ra danh từ này
không chỉ đến sau Minh Trị mới
xuất hiện, bàn về nó quả là một
lịch sử văn hóa kéo dài, là một
lễ hội xuất phát từ Phật giáo,
được bắt đầu thịnh hành thời Edo
(Giang Hộ) và kéo dài theo dòng
lịch sử của đất nước này cho đến
ngày có lệnh “Thần Phật phân
ly”. Sau khi Phật giáo tách khỏi
tín ngưỡng Thần đạo, Thần Đạo
được tôn làm quốc giáo, những
lễ hội vốn là sự cộng thông của
Phật giáo và tín ngưỡng bản địa
này được bảo hộ giữ gìn dưới
hình thức văn hóa dân gian, được
tổ chức tại các Zinza. Tuy nhiên,
nội dung của lễ hội vẫn hoàn toàn
không thay đổi dù đã trải qua
nhiều niên đại. Theo tài liệu ghi
chép quy trình lễ hội còn để lại,
đó là một lễ hội được tổ chức vào
khoảng tháng 11, 12 hay tháng
1 với nội dung trừ tà ma, cầu
nguyện âm siêu dương thái, sống
bình an và chết thì siêu sanh cực
lạc. Đối tượng cầu nguyện xuất
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

61

☸ VĂN HÓA

hiện nhiều danh xưng chư Phật,
bồ-tát, chư thiên thuộc hệ thống
kinh điển Đại thừa và bên cạnh
đó là những danh xưng về thần
linh của tín ngưỡng Thần đạo.
Ngày nay lễ hội này đã không
còn bảo tồn nữa trừ một vài địa
phương nhỏ giữa hai vùng Aichi
(愛知県) và Nakano (長野県).
Như vậy, Hanamatsuri (花
祭) vốn là tên gọi của một lễ hội
từ xưa trong Phật giáo, tuy nhiên
về ý nghĩa và thời gian tổ chức
lễ hội thì xưa và nay khác nhau
hoàn toàn. Có lẽ sau mốc lịch sử
“Thần Phật phân ly” đó, lễ hội có
tên Hanamatsuri mai một dần đi,
nhân tiết lễ Phật đản sanh rơi vào
mùa hoa Sakura nở, phía Phật
giáo đã sử dụng lại tên gọi này
cho lễ hội Đản sanh, tiết dịp ngàn
hoa khoe sắc mừng đóa Ưu-đàm
mấy ngàn năm một lần nở.
Tuy nhiên, so với các nước có
truyền thống Phật giáo, lễ Phật
đản sanh của Nhật Bản hiện nay
đã tổ chức không xứng đáng với
tầm vóc của Phật giáo nước này.
Một nền Phật giáo tuy có lủng
củng trong hàng ngũ tổ chức
tăng-già nhưng phát triển thành
công về nhiều mặt mang tính
cách của đạo Phật nhập thế, đặc
biệt là hàng ngũ trí thức nghiên
62

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

cứu Phật học và hệ thống trường
học từ thấp đến cao thuộc tổ chức
của Phật giáo. Nhìn chung, trong
tiết tháng tư đó có rất nhiều lễ
hội được tổ chức mang tính chất
nhân gian như trừ ma trừ quỷ,
cầu cúng bình an cả nơi thần xã
và chùa chiền với những sự tích
mang màu sắc Phật giáo đại thừa.
Một số lễ hội khác mang tính chất
tông phong, giáo phái… Sự việc
đó đã đem đến nhiều điều cần suy
nghĩ, phải chăng là sự phân chia
giáo phái dẫn đến tình cảnh “cha
chung không ai khóc”? hay sự
lạc lõng tình cảm tín ngưỡng của
tín đồ Phật giáo phát triển?, hay
có quá nhiều thứ cần quan tâm,
nhiều lễ hội cần tổ chức? hay là
bởi một ẩn nghĩa nào khác.
Vài điều ghi lại nơi đây về
lễ Phật đản của xứ người như là
cách tìm hiểu thêm nền văn hóa
Phật giáo nước bạn. Bất cứ sự
đánh giá hay so sánh nào cũng
nằm trong biên kiến chủ quan,
khi không nhìn nhận vấn đề từ
góc độ văn hóa của từng xứ sở.■
Khải Tuệ
Tài liệu tham khảo:

1. Japanese wikipedia
2.佛教行事歲時記、遠藤滋
3.奧三河の花際り、中村茂子

TƯ TƯỞNG

T

ÍNH KHOA HỌC
TRONG DUY THỨC

1

Thay vì tiến hành bằng cách giải thích chỉ ra nguyên nhân tương
sinh, tương ẩn như diệt, trong cách khởi đầu kệ tụng mang tính quán
sát vạn hữu động trong DUY THỨC của Thế Thân2 được ngài Huyền
Tráng dịch luận - cách giải luận về huyền học của tâm - thì đại sư
Pháp Hưng (法興) đặt ngay vấn đề mang tính thế trí về hiện tượng
vật lý: căn, trần, thức là gì? Và tại sao ta phải biết rõ về chúng, trước
khi xử lý những tích lũy trong quá trình vận chuyển của tâm, xét như
là kinh nghiệm chủ quan và sở duyên của một cá thể đối với vô số
thông tin của thế giới dữ liệu trong cộng đồng ba cõi này - một cá
thể tương quan với cộng đồng và ngược lại. Một vấn đề tỏ lộ bước
song hành của CÂU-XÁ và DUY THỨC qua sự uyên bác của mình
về lãnh vực vật lý đương đại - một trường hợp hiếm khi xảy ra trong
truyền thống Phật giáo, nhất là Phật giáo tu viện. Tác phẩm Duy thức
khoa học (唯識科學), tạm dịch là: Tính khoa học trong duy thức của
sư, đã cống hiến chất liệu tư duy vô cùng quý báu - một mặt thì với
những ai cho rằng, Phật giáo thuần túy chỉ là triết học, tâm lý học,
hoặc một mặt thì Phật giáo là một tôn giáo của đức tin phi khoa học,
1. Nguyên tác Duy thức khoa học 唯識科學, Pháp Hưng pháp sư biên trước, Nhân gian
hoằng pháp hội xuất bản.
2. “ātmodharmopac āro hi vividho yaḥ pravartate”
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

63

☸ TƯ TƯỞNG

và rằng, vô thường theo quan
điểm của Phật giáo là một hiện
tượng tự nhiên của ba cõi và ta
chẳng mất công tìm hiểu chi cho
mệt. Thay vì “đóng gói” bằng
những thiên kiến theo truyền
thống Kinh và Tu viện như vậy,
tác phẩm của sư đã mở ra một
chân trời nghiên cứu mới trong
nhiều lãnh vực khoa học lượng
tử… và nhân loại học - một hình
thái mà chính đức Dalai Lama
đã và đang đầu tư như là sự tiếp
cận không thể thiếu giữa trầm tư
khoa học và trầm tư tôn giáo.
Tuy nhiên, tác phẩm của sư
chưa nhắm đến một lãnh vực
quan trọng hơn nữa: ngôn ngữ
học hay thuật ngữ bằng tiếng
Phạn mà Thế Thân đã cho trong
tác phẩm Thành Duy Thức Luận
khét tiếng của mình. Do vậy,
bài viết sẽ “tổng hợp” lâm thời
cả ba khía cạnh: ngôn ngữ, tâm
và vật lý xét như là những gì tồn
tại thật sự trong danh tác của
tôn giả Thế Thân; một nhân vật,
tuy được biết quá nhiều ở Tây
phương, nhưng đó chỉ là những
bước cố gắng thăm dò tư tưởng
hay công hạnh của ông, và hình
như, ông mới được biết tới ở
Tây phương (tuy không được
nhiều) - một luận sư kiệt xuất
64

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

sau Long Thọ - bằng phân tích
diễn luận vào những thập kỷ cuối
của thế kỷ 20, đó là Hopkins với
những dịch bản từ tiếng Phạn và
Tây Tạng, đặc biệt là đức Dalai
Lama. Bởi vì, tư tưởng và sự
uyên bác của ông được cho là
“quá khó” với những thế hệ học
giả trước đây, chẳng hạn Poussin
(Câu-xá luận), E. Lamotte (tiếng
Pháp - Luận thành tựu nghiệp),
Bournouf, Noēl Péri… Đó là lý
do, tại sao người ta viết và dịch
quá nhiều về Long Thọ, còn với
Thế Thân, thì hầu như trước đây,
ít ai đề cập đến, chỉ nhờ vào dịch
bản của Poussin và Lamotte,
Stcherbatsky – Câu-xá và Luận
thành tựu nghiệp… Một ít dịch
bản như thế, tạm thời có thể chấp
nhận về mặt văn phong, nhưng,
“uyên nghĩa” của Thế Thân, hầu
như các dịch bản ấy chưa thể tiếp
cận, nếu không muốn nói là các
nhà học thuật ấy đã làm chệch đi
rất nhiều theo hướng Ky-tô giáo,
cũng như D.T Suzuki đã dịch
kinh Lăng-già chệch theo hướng
tuyệt đối Duy tâm vậy; còn bây
giờ, nếu ta chịu khó “vào mạng”,
thì Thế Thân được viết nhiều
nhất, nhưng chỉ là những bài viết
“lan man”. Ở đây, ta sẽ không
làm công việc phê luận của một

TƯ TƯỞNG

nhà nghiên cứu với các dịch và học giả đó, mà ta, với tư cách là một
Phật tử, ta sẽ khảo sát tính khoa học trong duy thức theo ba khuynh
hướng vừa nêu, tức là ta sẽ khảo sát trong tinh thần kinh nghiệm và
cảm ngộ chủ quan của một cá nhân với một hoặc nhiều hành luận
trong giới Phật giáo – Con đường duy nghiệm này, có thể cũng sẽ dẫn
đến những sai lầm, nhưng ít ra ta đang tiếp cận một tinh thần tổng
hợp và thật sự, thì còn lâu lắm ta mới có thể tổng hợp xuyên suốt và
nhất quán đối với kiệt tác của vị đại hành giả ấy.
CĂN, TRẦN, THỨC
Căn, Thế Thân định nghĩa như sau: Những gì về căn động từ
hay giới đã được biện giải rồi, bây giờ là Căn; vậy, thuật ngữ Căn
có nghĩa là gì? Trên phương diện ngữ nguyên, Căn, có nghĩa là
idhi, chỉ cho khả tính tăng thắng hay dưới ách thống trị. Cái nào có
quyền tối thượng thì cái đó là indriya. Nói chung, indriya có nghĩa
là adhipati – ông chủ toàn quyền.3
Như vậy, Căn là chủ thể nắm giữ thông tin. Nói chính xác, như
Căn con mắt4 là cấu trúc toàn bộ hậu diện của con mắt (the back of
eyes), thuật ngữ khoa học gọi “ông chủ - adhipati” này là công cụ
quang học, làm nhiệm vụ đưa thông tin hay tiền Trần về não bộ để
3. uktān idriyiyāṇi / kaḥ punar indiyārthaḥ / “idhi paśmaiśvarye” / tasya indanti iti
indriyāṇi / ata ādhipatyārtha indriyārthaḥ / kasya caiṣāṃ kvadhipatyam.
Cf:” A propos des dh ātus (i. 48), nous avons énuméré les organes, indriyas. Quel est
la sens du mot indriya?
La racine idi signifie paramaiśvarya, suprême pouvoir (dhātu paṭha i. 64). Ce qui exerce
la suprême pouvoir est nommé indriya. Donc, en genéral, indrya signifie adhipati,
souverain.” (Poussin – L’abhidharmakośa de Vasubandhu).
4. Designing the Organ of Vision in Perception by Black and Sekuler. “Nhãn giới của
chúng ta có đa dạng hàm năng. Nói chung, nó có hai phạm trù: cận cảm (near senses)
và viễn cảm (distance senses). Viễn cảm đi theo bạn để dò tìm và tri nhận đối tượng
và nó không cần tiếp cận những đối tượng đó. Cả hai chức năng nghe và thấy cho ta
khả tính này. Tuy nhiên, thị lực có được một chức năng siêu vượt hơn cái nghe. Nó tùy
hành cùng chúng ta để tri nhận các đối tượng mà không cần âm thanh. Thị lực còn cung
cấp cho ta thông tin chủ yếu về các đối tượng, cách thông báo đơn thuần nằm bên trên
sự đạt tới của cái nghe. Thật vậy, không cần nghe, ta vẫn biết về màu sắc của một loại
trái cây, hình thể một cái ly mà ta đang cầm. Cảm giác bị đe dọa có thể xảy ra khi tiếp
cận với người lạ và vô số những mẫu thông tin hữu ích khác về những đối tượng và dữ
kiện trong môi trường của chúng ta.
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

65

☸ TƯ TƯỞNG

cái biết5 thuộc khu vực Thức6 xử, thanh và biệt lý. Chúng ta cần phải
nắm được tiến trình sinh vật học này để chúng ta có thể can thiệp
được những hành vi của mình một cách tinh tế hơn, giống như những
tích lũy dần cho kho chuyển hóa. Ta đang gởi những thông điệp
tương ưng của mình vào diệu cảnh của Niết-bàn tâm với ước nguyện
là một ngày nào đó “bằng một cách nào đó ta có thể thực chứng
toàn giác với sự tự tại và không có bất cứ nỗ lực nào – can somehow
relize full enlightement with greater ease and less effort – The World
of Tibetan Buddhism by Dalai Lama”.
Cái được gọi là Căn hay cảm giác đưa đến tri giác hiện tượng, là
những gì thông qua cảm quan chúng ta để ta có thể lý giải chúng và
cơ sở đạt tới các dữ kiện này, chính là bóng in đậm nhạt (eidola) của
trần cảnh. Thủ tục tương chuyển các hình ảnh cho cái biết như vậy có
thể gọi là lý luận phức thể (copy theory) hay lý thuyết về (các) bản
5. Tuệ Sỹ: Cách gọi tên thời danh của Thomas nagel (“What is it Like to be a Bat ? – Cái
có vẻ như có vai trò quan trọng là gì ? – 1974); what it is like: nó giống như cái gì đó.
Chủ nghĩa duy vật lý (physicalism; cf. Contemporary debates in phylosophy of mind,
2007) cho rằng tất cả phát sinh phụ tùy vào vật lý (everything supervenes on physical).
Chủ nghĩa nhị nguyên xem tâm là hai thực thể song song (substance dualism), hoặc các
đặc chất tâm thức là những thành tố căn của thực tại cũng ngang bằng các thành tố vật
lý… Các lý thuyết này không hoàn toàn đồng ý nhau để chỉ thức (consciousness) là cái
gì. Xem Tập san Nghiên cứu Phật học Pháp Luân số 9/2009 PL 2553, p 5.
6. Thức (vijñāna) và tâm (citta) là hai lãnh vực cụ thể của Phật giáo. Thức liên quan đến
biến kế sở chấp và y tha khởi; có nghĩa nó duyên với A-lại-da hay tâm tạng cùng lúc
đánh dấu hay cố ý đánh dấu trên dòng tương tục vô ký này và những dấu in cố ý do nó
dựng hình như vậy rọi bóng lên chính nó để tạo nên thế giới vạn hữu, tức là nghiệp hay
các cụm di truyền - cộng và biệt thể, nói chung, thành các “đảng phái”. Thức liên quan
đến manas – phân biệt, tư duy, đánh giá – nó liên quan đến năng và sở thủ trong các
vùng sắc tinh tế của vật lý, cấu thành Ngã và Pháp. Còn tâm liên quan đến cách chứa
nhóm, theo định luật hấp dẫn, liên hệ đến A-lại-da, dị thục và nghiệp dị sinh hay các
chủng tính. Nói tóm lại, Tâm thuộc về cấu trúc bề sâu – theo N.Chomsky - và Thức là
cấu trúc bề mặt. Cấu trúc bề mặt thể hiện tri thức về ngôn ngữ, còn cấu trúc bề sâu thể
hiện “tri thức” về văn pháp (khả năng ngôn ngữ hay ngữ năng của loài người – cú pháp,
tính chỉnh thể của chúng đồng phần; khả năng tự nhiên dựng hình ngôn ngữ cho các sự
vật), còn cấu trúc bề mặt hay manas thể hiện dụng năng với những tạo sinh (generative)
theo tính chất biến kế và y tha - biến thế giới thành thiên hình vạn trạng - đọc và dán
nhãn lên các hình của những chúng đồng phần được A-lại-da dựng nên theo cú pháp
và thuật ẩn dụ. Do vậy, “a-lại-da, trong Phật giáo Đại thừa, được đặt trọng tâm nhiều
hơn. Theo Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, T. Quảng Độ dịch”.

66

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

TƯ TƯỞNG

sao. Ở trường hợp này, Căn là hệ thống cấu trúc của toàn bộ hậu diện
con mắt hay công cụ quang học (Optical instrument) của chúng ta,
còn Thức là cái biết tối hậu trên các bản sao và Trần là duyên xứ cho
các bản sao ứng hiện. Tuy nhiên, thế giới vật lý có các nguyên tắc
của nó. Đại sư Pháp Hưng nói: “Cảm giác và tri giác về đối tượng vật
thể là hai khu vực tách biệt. Ngày nay, có lẽ ai cũng hiểu điều này,
cho nên ta cũng không nhất thiết phải trình bày. Tri giác (perception)
là một thuật ngữ đã thành phổ thông, nghĩa là nó cho ta biết mình cần
lý giải như thế nào trong quá trình xúc chạm sự thể. Tiến trình này
được băng qua nhiều giai tầng, nhằm tạo nên tác dụng đưa đến việc
tổng hợp thành cơ cấu có hệ thống của hình ảnh đang cho. (Tri giác
trong sự xử lý như vậy, thuộc về sắc tế vi của tâm thức nhiều hơn
là thế giới vật lý thô), còn lịch trình cảm giác (sensory processing)
cũng thuộc về hệ thống này, nhưng nó nằm ở giai tầng rất thấp. Bộ
phận này cùng với chức năng cảm giác hay cảm quan có những liên
hệ mật thiết”7.
Khi tìm hiểu về lịch trình vật lý đó, có nghĩa là chúng ta xác định
được vai trò của tâm - thức khi bật lên hình của các thông tin mà nó
tích lũy từ những duyên xứ của chính nó. Tuy rằng, nó rất cần đến
ánh sáng để trợ duyên, chẳng hạn nhãn giới, nhưng ta nên nhớ rằng,
tự thân của ánh sáng không phải là chất kích thích cho cái thấy-biết,
ánh sáng có những hệ số phản xạ của nó trên bề mặt của một đối
tượng. Blake nói: “Tất nhiên để thấy những đối tượng trong môi
trường của mình, đôi mắt chúng ta cần phải sở đắc chính ánh sáng
phản ánh trên các đối tưọng hay các trần cảnh ấy. Tuy nhiên chỉ sở
đắc chính ánh sáng này thì chưa đủ nghĩa. Cấu hình của ánh sáng khi
vươn đến võng mạc, nó phải phản chiếu sự phân bổ ánh sáng trên
cảnh trí đang được quan sát, miễn là thị lực được tốt. Cách phân bổ
ánh sáng này hay hình ảnh võng mạc như nó được gọi, cung ứng
chất liệu thô cho võng mạc thao tác, và thị lực hoàn hảo không thể
không có chất liệu thô hoàn hảo. Như vậy, cái gì quyết định sự chính
xác của hình trong võng mạc? Phẩm chất hình được hướng dẫn bởi
7. Duy Thức Khoa Học 唯識科學, Pháp Hưng pháp sư biên trước, Nhân gian hoằng
pháp hội xuất bản.
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

67

☸ TƯ TƯỞNG

các giao diện giữa những cấu thể ánh sáng tồn tại trong đôi mắt gây
ảnh hưởng lên sự truyền qua của ánh sáng ấy đưa tới hậu diện của
con mắt mà ở đó các thụ quang thể được định vị. Để đánh giá các
hoạt động của võng mạc, vậy ta cần đến sự hiểu biết một cái gì đó về
hình mà võng mạc tiếp nhận. Thế thì, ở đây, ta hãy khởi đầu bằng mô
thức của các hình ảnh nằm trên phần hậu diện của đôi mắt.
Ánh sáng truyền lên đôi mắt, thông tin về các đối tượng trong môi
trường này. Tuy nhiên, ở bước ban đầu, ánh sáng làm thế nào để đạt
đến thông tin ấy? Vào lúc ban đầu, ánh sáng có nguồn gốc, chẳng
hạn, từ mặt trời hay từ một bóng đèn nào đó. Điều này được gọi là sự
tỏa sáng. Chắc chắn là nó phải đi trước thị lực. Chúng ta không thể
thấy trong bóng tối. Tuy nhiên, bản thân của ánh sáng tỏa ra không
phải là chất liệu kích thích thị lực. Hơn thế, khi nhìn thấy các đối
tượng, ta bị quan tâm vào đó, do vậy, chúng khiến đôi mắt ta chộp lấy
và ghi lại ánh sáng đã ánh lên trên các bề mặt của những đối tượng
ấy. Được ánh sáng phản ảnh, truyền thông tin chủ yếu theo tính sinh
vật học về sự xuất hiện - và do đó, là tướng trạng - của đối tượng.
Tướng trạng này hình thành như thế nào?

68

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

TƯ TƯỞNG

Các bề mặt của những đối tượng hút lấy một phần ánh sáng chiếu
rọi lên chúng – một phần chớ không là tất cả - phần chia nào của ánh
sáng không bị hút lấy, thì nó được phản ảnh bằng các bề mặt này.
Các đối tượng có những hệ số phản xạ cao, thường phát ra ánh sáng,
còn những đối tượng nào có hệ số phản xạ thấp sẽ tạo nên bóng tối
(hay bóng của sự tối). Chẳng hạn, những phần chia màu trắng của
trang giấy (mà bạn đang đọc) có hệ số phản xạ khoảng 80 phần trăm,
trong khi đó phần tối in trên trang giấy này có hệ số phản xạ khoảng
10 phần trăm. Thế thì, có những thay đổi đột ngột trong sự phản ánh,
khiến ta thường thấy được dấu hiệu đứt khúc trên một bề mặt, như
những chữ viết trên trang giấy này hoặc các cái trứng hay những góc
(hoặc bóng của chúng ta), tạo đối tượng thành những bóng biên”8.
Trong danh tác Thực Tại Hiện Tiền của sư Viên Minh, đại khái sư
dạy rằng, ta phải thấy Pháp trực tiếp, không qua khái niệm tông phái,
ngôn ngữ… và rằng: “Phân tách và thể nghiệm để kiểm chứng là
thái độ nghiêm túc đối với người học Phật”. Ở đây, ta chọn cách này
– phân tách nghiêm túc – và trên hết là không có khái niệm hay ngôn
ngữ hình thức (mà là ngôn ngữ học, một ngành học thuật liên quan
đến hầu hết mọi ngành khoa học, trong đó có toán và hình học) và
còn hơn nữa, đó là cách phân tích của ta dựa trên cơ sở kỹ thuật, bởi
8. Perception by Black and Sekuler: The Eye as an Optical Instrument. Obviously,
to see objects in invironment around you, your eyes must capture light reflected by
those objects. But simple capturing the light itself isn’t sufficient. The pattern of light
reaching the retina must mirror the distribution of light in the scene being viewed if
vision is useful. This light distribution, or retinal image as it’s called, provides the raw
material on wich the retina operates, and hight-quality vision is impossible without
hight-quality raw material. So, what determines the fidelity of the retinal image? Image
quality is gouverned by the interations between patterns of light arriving at the eye
and various ocular structures that influence the passage of that light to the black of
the eye where the photoreceptors are located. Apprectating the workings of the eye’s
retina, then, requires understanding something about the image it receives. So let’s
start there, with the formation of images on the back of the eye. Light conveys to the
eyes information about objects in the environment. But how does light accquire that
information in the first place? Initially, light originates from a source such as sun or
a light bulb. This is emitted light, and it’s certainly a necessary antecedent for vision.
We cannot see in dark. But emitted light per se ist’t the stimulus for vision… Abrupt
changes in reflectence usually signal discountinuties in a surface, such as the letters on
this page or the edges and corners that demarcate object boundaries.
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

69

☸ TƯ TƯỞNG

vì: “Phật giáo không lấy phép loại suy làm tinh tủy - Although the
analogy is not precise.” và cũng bởi vì kỹ thuật “các kỹ thuật, chưa
bao giờ được sử dụng trong ý nghĩa văn chương. Thay vào đó, chúng
tồn tại trong các mô hình dẫn đạo rộng lớn và hiện thân thành các hệ
thống giá trị chiến lược bao hàm những động năng để vượt ra khỏi
công việc khai mỏ tài nguyên và sản xuất công cụ để tiếp thị và sáng
tạo những thực tiễn văn hóa mới”9. Song le, vì là phàm phu (không
thể trực quán chư Pháp bằng tâm quán chư Pháp thực tại hiện tiền,
và hơn nữa, chính đức Phật cũng không ép ta phải thành Phật liền,
bằng cớ là Ngài khuyên ta nên nghiền ngẫm giáo pháp Ngài rồi mới
tin! Có nghĩa là Ngài cho ta thời gian; khi nói đến thời gian, thì phải
nói đến tương lai, cho dù chúng ta không hẹn. Một Phật tử nghiêm
túc là không hẹn, nhất là hẹn giác ngộ, tuy nhiên phải có thời gian, vì
đấy là điều kiện khách quan, nó nằm bên ngoài tính chấp thủ và lười
biếng). Thế nên chúng ta cần phải đi con đường vòng như thế, để
tránh được các trạng thái tâm lý “bác học” phát sinh khi đọc Thành
Duy Thức Luận của Thế Thân qua luận giải của đại sư Huyền Tráng,
và các chú giải bác học của Huyền Tráng sẽ không còn là gánh nặng
khi ta nghiên cứu luận bản này – gánh nặng về thuật ngữ văn học,
đôi khi bóp méo sự thật vật lý mà ta vốn cưu mang khi sinh và hoạt
động trong vũ trụ mình – các phân tách của ta sẽ trên cở sở khoa học
kỹ thuật và làm động cơ thành tựu năng lực tâm quán chiếu vận hành
tâm. Các tranh luận triết học được tạm thời đặt yên vào vị trí của nó,
có nghĩa là môi trường mà Duy Thức phát sinh không còn bị hạn
cuộc vào trong bất cứ thời đại nào, truyền thống triết học nào. Nó
cần phải được nâng lên tầm phổ quát đại thể, ứng dụng trong nhiều
lãnh vực: khoa tâm lý học, vật lý, ngôn ngữ, toán và hình học… Chớ
không chỉ để phê luận ngã và pháp, được xét như là Bản thể luận
(tính) và Hiện tượng luận (tướng) - một phạm trù thường bị tranh
luận trước khi Phật sinh và sau khi Phật diệt; một hình thái phân tích
cho dù có tinh vi hơn, như trong Nhất thiết hữu bộ hay Thắng pháp,
thì ở đó, xét cho cùng cũng chỉ là những tranh luận về có và không
9. Xem Encyclopedia of Science technology and Ethics. v1 / Buddhist Perspectives by
Peter D. Hershock.

70

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

TƯ TƯỞNG

như chính bản chất của triết học, sự kiện này không kể Đông hay Tây
phương. Những phê luận về Ngã và Pháp đôi khi dẫn ta đi đến các
chân trời siêu thực, và những ích lợi thực tế của cái siêu thực này chỉ
thấy trong các buổi “trà đàm” theo kiểu đạo sĩ Trung Hoa, chớ không
dựng lên được hình dáng trang nghiêm của một hành giả hay một
nhà bác học thực nghiệm về Ngã và Pháp theo cung cách Ấn-Độ.
Cái kiểu đạo sĩ Trung Hoa này, ngày nay người ta còn thấy phảng
phất trong một vài phong thái và chúng không thể chia phần trong
thế gian quá bận rộn sầu ưu này. Ta cần có một phong thái khác hơn
mà không phải “nhập thế” thành một tổ chức từ thiện then chốt nào,
khi “đụng” phải những cơ chế văn minh đương đại.
Dựng nên con đường nghiên cứu Phật giáo trên tinh thần khoa
học đương đại, có nghĩa rằng Sư đã không xem Phật giáo như là
một hệ thống triết học và hơn thế, giáo pháp mà Thế Thân đã tổng
quan không còn hạn chế trong bất cứ hoạt động triết học nào, sư nói:
“[Học Phật], hai chữ này hầu như ai cũng biết, tuy nhiên ý nghĩa
của nó, có rất nhiều người giải thích sai lầm; có người cho rằng
Phật giáo là một bộ môn triết học thâm diệu khó lường; có người cho
pháp học ấy là một bộ môn bóc thuật suy đoán kiết hung, hỷ lạc…
có người lại cho đó là ma thuật trong trị liệu bệnh. Do vậy, những ai
có tri thức, thường không mấy quan tâm học hỏi, hoặc có người tiếp
xúc, càng dấn bước đi sâu, càng mịt mờ khó thấu.
Ngày nay, tốc độ tri thức bùng phát, sự ham muốn hiểu biết dâng
cao, và thời đại hôm nay, ở đâu cũng dùng phương pháp khoa học
để chứng giải vấn đề, lấy chứng cứ thực nghiệm làm sở y, học Phật
cũng không đi ra ngoài phạm vi ấy…”10.
Dựng nên tiềm năng phát triển trên tinh thần khoa học đương
đại, có nghĩa rằng, sư đã làm mờ đi “phong thái” “thế ngoại nhàn
nhân” của bất cứ Phật tử nào và làm nổi bật lên hình ảnh của vô số
nhà nghiên cứu mang tư cách “đầu tròn áo vuông” trong mọi lãnh
vực của những phòng thí nghiệm ở ba cõi này một cách cần cù, vô
vụ lợi – không thấu hiểu bản chất của thế gian, thì đừng mong đạt
đến thế giới xuất thế gian, trừ phi ta đi bằng các con đường đốn ngộ
10. Sđd. tác giả tự ngôn. p.3.
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

71

☸ TƯ TƯỞNG

hay nguyện lực. Tuy nhiên, dù có đạt đến cảnh giới, chẳng hạn, cảnh
giới A-di-đà, bằng pháp môn niệm Phật đi nữa, thì ta vẫn trở về bằng
“đại nguyện hồi khứ Ta-bà”, sau khi học xong ở đó và trong hoàn
cảnh chưa “vãng sinh”, không ai buộc ta chỉ nên ròng niệm Phật,
đừng màng đến việc “học pháp” làm chi. Bởi vì, ngay tại cõi Phật ấy,
ta cũng phải học và thực nghiệm những gì phải học ở đó liên quan
đến “bờ bên này” mà thôi. Không ai làm bậc thầy ba cõi mà không
tu - học bản chất của ba cõi ấy bao giờ. Chỉ gán chữ “vô thường” lên
các pháp hoặc phân tích chúng theo cách tâm lý triết học “ngữ dụng”
rồi thôi, thiển nghĩ vẫn chưa đủ nghĩa – vùng im lặng của các tính
vật lý và sự cấu tạo của chúng luôn mời gọi ta đi đến tham quan, dò
xét, trước khi “chứng” được vô thường và duyên khởi của cả tâm và
sắc.
Và rằng, “lưu lậu hoặc” của Bồ-tát như được Luận đại trí độ dạy,
không có nghĩa là chỉ làm sở duyên tu phước cho chúng sinh mà còn
hướng dẫn chúng sinh phát triển tuệ giác, xét như là đầu mối thông
tuệ về mọi lãnh vực hay chư Pháp.
Nếu như thừa nhận Duy thức như là một khoa học về nội tư chủ
quan (để dẫn đến tu tập thực nghiệm), một hoạt động của những
phó bản và sau hết là các phạm trù động của ngữ pháp, vậy thì thế
giới này sẽ được quan sát từ trong các hoạt động ấy, kể cả những
72

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

TƯ TƯỞNG

hoạt động nhất và đa nguyên. Thừa nhận khái niệm vô tư đó, thì ta
mới có thể tiến hành nghiên cứu toàn diện sở hành của ta cũng như
các tương quan đến chư sở hành ấy, bao gồm các thế giới vô ký và
hữu tình. Cách quan sát và nghiên cứu như vậy, cần viện dẫn đến sự
thành tựu của khoa học đương đại qua mọi bộ môn học thuật mà ta
có thể biết. Nghĩa rằng: “Du-già hành tông không luận về các chủ và
khách thể, thay vào đó, tông phái này phân tách tri giác về các năng
và sở thủ là cái gì”. E: Yogācāra does not speak about subjects and
objects; instead it analyzes perception in terms of graspers (grāhaka)
and what is grasped (grāhya) – Yogācāra School by Dan Lusthaus.
Sư Pháp Hưng nói: “Bạn là người đang sống trong thời đại khoa học
và kỹ thuật, thế thì, khi đọc Phật kinh, chẳng lẽ, đối với một vài pháp
được thuyết trong kinh không cách gì hiểu được, bạn cứ để nguyên;
Thiền tông nói: [tâm tức Phật, Phật tức tâm], câu này đơn giản có
nghĩa là, hễ ai có khả năng thấu triệt nguồn tâm, thì người đó hẳn
thành Phật đạo. Vì nói bạn là người sống trong thời đại này, cho nên
bạn vẫn có khả năng liễu giải bản chất của tâm, thế nên, bản văn
dùng đến một loạt tri thức của các bộ môn như: Vật lý, quản lý, sinh
lý, điện não, tâm lý, xã hội, nhân loại học, v.v… để lý giải cách biến
hóa và vận hành của tâm, ý, thức như thế nào, khiến cho khi đọc
quyển sách này, nó sẽ giúp bạn du hành một cách tuyệt vời vào thế
giới nội tại của tâm và trên hết là thể nhập cảnh giới tự tính ấy”11.
Thật vậy, để khám phá thế giới nội tại của tâm bằng phương tiện
của các nền khoa học thế trí đương đại, ta sẽ nắm bắt cụ thể được một
vài pháp Phật và không mơ hồ như các bộ môn triết và tâm lý khác
như ta vẫn quen dùng. Đấy là chủ ý của pháp sư Pháp Hưng trên một
ít trích dịch vừa nêu. (còn tiếp)
Pháp Hiền cư sĩ
11.活在佛教科技時代的你,在閱讀佛經常之時,是否對於經中的某說法,無法
會意或不以為然;禪宗云﹕『佛即是心,心即是的佛教』單簡產解釋就是說﹕
能了解自心本性,即成佛道。為了讓活在現代的你,能夠了解自心本性,本書
連用了物里學,管里學,電腦學,心里學,社會學,人類學等現代科學的知
識,來闡釋心,意,識的活動與變化,當你閱讀本書時,容積易幫助你神遊牧
內心世界,契入自性領域.
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

73

☸ Ý KIẾN

C

ca dao

Phật đản

CA DAO PHẬT ĐẢN
Trong kỹ thuật tổ chức sự kiện, khẩu hiệu cho sự kiện luôn luôn
là một yếu tố. Khẩu hiệu được dùng để quảng bá sự kiện, cổ động sự
kiện, được treo mắc trên đường phố và tại nơi tổ chức sự kiện, được
lồng vào và thường là nội dung chính của các video clip thông tin cổ
động sự kiện.
Theo truyền thống một số quốc gia, các khẩu hiệu của sự kiện
được đọc lên vào cuối bài diễn văn chính của sự kiện.
Các sự kiện Phật giáo được tổ chức trong thập niên 1960, 1970 ở
miền Nam cũng đều có những khẩu hiệu sự kiện. Lễ Phật Đản tại Sài
Gòn trước đây được tổ chức tại chùa Ấn Quang, trụ sở Trung ương
Giáo hội bấy giờ ở miền Nam, ngoài khẩu hiệu chính là “Kính Mừng
Phật Đản”, còn có các khẩu hiệu khác được treo quanh lễ đài như
“Đức Phật là hiện thân của từ bi, trí tuệ và hùng lực”, “Phụng sự
chúng sinh là cúng dường chư Phật”, v.v…
Tuy nhiên, đối với các lễ hội dân gian, điều cần lưu ý là còn có
những “khẩu hiệu” tồn tại dưới hình thức ca dao. Có thể kể đến Lễ
hội Giỗ tổ Hùng Vương với câu:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
Khẩu hiệu sự kiện dưới dạng ca dao là điều mà Phật giáo chúng
ta đang thiếu.
74

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

Ý KIẾN ☸

Baûy böôùc sen hoàng naâng goùt ngoïc
Ca dao sự kiện không chỉ là khẩu hiệu, là “slogan” của sự kiện,
mà nó còn là một dạng văn học của sự kiện, văn học dân gian, văn
học trong lòng quần chúng rộng rãi.
Ca dao sự kiện là một dạng thức tồn tại của văn học. Sự kiện có
thể chưa tới, có thể đã qua, nhưng đọc, nhớ đến những câu ca dao
sự kiện, thì sự kiện lại được hình thành trong tâm trí mọi người vào
một khoảnh khắc.
Làm sao để có những câu ca dao Phật đản? Điều này trước hết
trông cậy vào những nhà thơ Phật giáo. Ca dao thì chủ yếu phải là lục
bát, để dễ thuộc, dễ nhớ. Tất nhiên là một dạng văn học dân gian, ca
dao Phật đản phải hay, phải đẹp, dễ đi vào lòng người.
Có thể tổ chức một cuộc thi sáng tác, hay một cuộc vận động
sáng tác ca dao Phật đản. Với những tác phẩm có được, Phật giáo
Việt Nam đưa ngay vào các cuộc lễ Phật đản, dùng để treo mắc cổ
động, trang trí dưới dạng thư pháp, cách điệu tại các địa điểm hành
lễ, chùa chiền, trên xe hoa hay trên đường phố… Sử dụng như vậy,
các câu lục bát chỉ mới là khẩu hiệu sự kiện chưa phải là ca dao sự
kiện. Chỉ khi nào khẩu hiệu sự kiện đi vào lòng người, tồn tại như
một tác phẩm văn học dân gian, thì khi đó, yêu cầu về ca dao sự kiện
mới đạt được.
Ca dao sự kiện phải chú ý đến mục tiêu nhắc nhớ sự kiện. Chẳng
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

75

☸ Ý KIẾN

hạn, có thể như:
“Tháng tư đức Phật ra đời
Đất trời an lạc, người người hân hoan”
Nếu được cụ thể như “mồng mười tháng ba” thì càng tốt hơn
nữa.
CÂU ĐỐI PHẬT ĐẢN
Trong dịp lễ Phật Đản, Phật giáo chúng ta đã có những khẩu hiệu
sự kiện dưới dạng câu đối. Đây là một nét đẹp của lễ hội Phật Đản,
theo truyền thống văn minh Đông phương. Có thể kể đến những câu
như:
“Bảy bước sen vàng nâng gót ngọc
Mười phương thế giới đón Như Lai”
“Thánh Ma Gia mộng ứng điềm lành
Vua Tịnh Phạn phúc sanh con thảo”

Vai trò tích cực của những câu đối như vậy đối với lễ Phật Đản
là rõ ràng. Phật giáo chúng ta cần nhiều câu đối như thế hơn nữa,
càng ngắn càng tốt, mỗi vế có thể 5 chữ, cũng để dễ nhớ, dễ thuộc,
dễ đọc, khi giữa người đọc và khẩu hiệu sự kiện phải tiếp xúc nhanh,
như trình bày trên xe hoa, treo mắc trên đường phố đối với người đi
xe…
Về mặt lý thuyết, câu đối vẫn có thể trở thành ca dao, nếu nó cấu
tạo bằng một thể thơ (như 5 chữ, 7 chữ). Để câu đối Phật đản trở
thành ca dao, yêu cầu cũng là ngắn, hay, đẹp.
Phật giáo có nhiều sự kiện, cả sự kiện định kỳ lẫn sự kiện đột xuất
và bao giờ khẩu hiệu sự kiện, ca dao sự kiện cũng đều rất cần thiết.
Chẳng hạn, Vu Lan có ca dao Vu Lan, cung nghinh chiêm bái xá lợi
thì có ca dao về xá lợi…
Một số kinh Phật cũng đã được các nhà thơ “thi hóa”, “diễn ca”,
có thể chọn những câu hay để làm khẩu hiệu các sự kiện Phật giáo,
để từ đó “ca dao hóa” khẩu hiệu để trở thành ca dao sự kiện Phật
giáo.■
Phước Cường
76

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

KHÔNG GIAN THƠ

NGỌC
Thơ HẠNH PHƯƠNG

N

GỌC là một bản trường
thi dài 99 khúc ngũ ngôn
tứ tuyệt, vừa được nhà thơ Hạnh
Phương cho ấn hành vào quý II
năm 2010.
Với một tập thơ nho nhỏ xinh
xắn (khổ 12x20 cm) có tên là
NGỌC sáng giữa nền xanh màu
da trời, lồng trong khung màu
xanh đậm đã tạo được cảm giác
tươi mát, tinh khiết, rất “thơ” cho
người đọc.
Trên nền tảng của tư tưởng
Phật giáo đã được tiếp nhận một
cách nhuần nhị, sâu sắc nhà thơ
đã chắt lọc qua tâm thức liễu
ngộ trong nhiều năm tháng của
đời sống khổ đau và thao thức-

những lời Phật dạy, những cốt
tủy của kinh tạng, bằng xúc cảm
rất riêng, bằng niềm tin không
thối chuyển, và nhất là bằng sự
giác ngộ đã được thực nghiệm,
để kết thành từng viên NGỌC…
Hạnh Phương đã góp nhặt
được 99 viên NGỌC ngời sáng
thành một tràng chuỗi pháp nhũ
mầu nhiệm, thành kính dâng
hiến cho người.Theo tinh thần
nhà Phật đây là một việc làm
thiết thực để cúng dường chư
Phật. [“diệu âm hiến cúng Phật/
trái tim tình nở hoa” (01)] Có thể
xem NGỌC là một “ thi luận”
quy tụ nhiều lời kinh Phật, qua
lăng kính cuộc sống của một
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

77

☸ KHÔNG GIAN THƠ

nghệ sĩ Phật tử thuần thành, đã
có quá trình tu học và làm Phật
sự gần suốt cuộc đời.
Do đó, NGỌC là một kết tinh
tài hoa của tấm lòng thuần khiết,
chan hòa với tình đời lẽ Đạo là sự
rộng mở của trái tim và sự phát
tiết đơm hoa trí tuệ của một nghệ
sĩ chân chính, luôn nhạy cảm với
mọi đổi thay quanh mình, cho dù
đó chỉ là “những hạt sương như
ngọc/ đậu trên lá cỏ thi” (08)/
hay “nửa khuya nghe lá thở”
(10).
Hạnh Phương đã đọc Kinh
bằng xúc cảm của trái tim thuần
khiết của một nhà thơ, ghi lại
sự thấu đạt lẽ mầu cũng vói tâm
hồn một nhà thơ do đó, 99 khúc
ngũ ngôn đã len nhẹ, thấm đẫm
vào hồn người đọc một cách tự
nhiên, miên man như một dòng
suối:
“Ngọc trời xanh khéo đúc
Thành hạt lệ nụ cười
Tình yêu người phó chúc
Xanh ngàn lá non tươi”
(02)
Và từ dạo ấy:
“Đá kết tinh nên Ngọc
Ngọc khéo đúc nên người
Bờ vai dài suối tóc
Mươn mướt dòng thơ khơi…”
(03)
78

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

“Những hạt sương như Ngọc
Đậu trên lá cỏ thi
Chở trời trong như lọc
Ánh ánh ngời lưu ly”
(08)
Với niềm xác tín vững chãi,
với tâm yên tịnh từ hòa nhà thơ
đã nhìn ngoại cảnh với ánh mắt
an nhiên qua thấu kính pháp Phật
rất sâu sắc:
“Quê hương mình diễm lệ
Thần kinh trầm mặc thế
Ôi! lá ngọc cành vàng
Mặc bao mùa dâu bể”
(12)
Nhà thơ đã tâm sự cũng là ghi
dấu một thực nghiệm máu thịt
qua bao tháng năm đắm mình
trong biển pháp để mài giũa, kết
tinh nên những viên Ngọc “muôn
thuở rằm tròn xinh”:
“Vắt cạn máu tim mình
Châu ngọc ngân lóng lánh
Nguyệt trong, viền thiền ảnh
Muôn thuở rằm tròn xinh”
(21)
Và một kinh nghiệm trong quá
trình thâm nhập Phật pháp tưởng
giản dị nhưng là một trong những
lời khuyến dạy tha thiết của đức
Phật, để mỗi người tự mình tìm
thấy “viên ngọc quý” đã sẵn có
trong ta từ bao đời-đó là Phật
tính (hay tự tánh/ chơn như/ bản

KHÔNG GIAN THƠ

lai diện mục/) đã bị đám mây đen
vô minh, hay bùn nhơ ngũ trược
đeo bám không cho hiển lộ: để
mãi mãi gánh chịu khổ đau trong
vạn kiếp sinh tử luân hồi:
“Ngọc không trau, không giũa
Ai biết Ngọc quang huy
Lá không xanh mướt lụa
Ai biết hồn kim chi?”
(24)
Khi Ngọc đã sáng tâm đã
khai, tuệ đã giác-thì:
“Tự thân Thơ là Ngọc
Người Ngọc giữa trang thơ
Bốn mùa ân mưa móc
Chân như đẹp mỗi tờ”
(31)
Nếu ngược lại mãi trôi lăn
trong dòng thác cuồng nộ tham
đắm của đời sống mà:
“Đem đời mình cá cược
Vào túy tửu cuồng ca
Hỏi làm sao hiểu được
Tiếng oanh vàng thiết tha?”
(52)
Đức Phật đã bao lần khuyến
dạy “hãy tự mình thắp đuốc lên
mà đi”, “Tự mình làm chỗ nương
cho mình chứ người khác làm sao
nương được? Tự mình khéo tu
tập mới đạt được đến chỗ nương
tựa nhiệm mầu” (PC 160/ Phẩm
Attavaggo). Ngọc (78) nhà thơ
cũng đã khẳng định lại:

Mười phương thế giới
đón Như Lai

SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

79

☸ KHÔNG GIAN THƠ

“Tự mình trau giũa mình
Tự mình, tự đẹp xinh
Tự mình cùng cát bụi
Mừng đoàn tụ trùng sinh”
Từ ý nghĩa thâm thúy của lời
dạy trên, người đọc nhớ lại nhiều
lời dạy của chư Tổ nhằm khai thị
cho người học Đạo nhận ra “bản
lai diện mục” của chính mình để
sớm được kiến Tánh ngộ Đạo:
“Tất cả chúng sanh đều có Phật
tánh, tất cả chúng sanh đều là
Phật sẽ thành”/ bởi vì trong mỗi
chúng ta, ai ai cũng sẵn có “viên
ngọc quý” ấy trong người cả;
chẳng cần tìm cầu viển vông đâu
xa?
“Vượt non cao vực sâu
Tìm Ngọc, Ngọc nơi đâu
Về nhà ngồi tĩnh lại
Lóng lánh mình minh châu!”
(96)
Đọc hết 99 khúc hát trong
“thi luận/ trường thi” Ngọc, có
một điều không thể tránh khỏi
được đó là theo “Lời Vào Thơ”
(trang đầu) thì bài trường thi này
đã được nhà thơ hoàn thành chỉ
trong 24 giờ; do vậy có “vài viên
Ngọc” chưa được toàn bích, ngời

80

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

sáng đúng mực nó bị ràng buộc
bởi kinh điển mà chưa thoát ra
khỏi sự hạn chế để hòa nhập
cùng sự mênh mang của cảm xúc
tự nhiên.
Trong lời “Cảm Đề”, Tỳkheo Chơn Thiện đã tâm sự: “…
Chúng tôi đã hình dung nhà thơ
Trụ Vũ và nhà thơ Hạnh Phương
đang đong đưa võng bên dòng
suối thực tại là để thường nghe
tiếng hát diệu âm; chiếc võng ấy
là sự an tịnh của tâm thức; dòng
suối ấy là toàn cõi hiện tượng
giới này. Tiếng hát ấy hôm nay
đã được ghi lại trong 100 vần
thơ Ngọc…”. Và nhà thơ Trụ Vũ
trong “Lời Vào Thơ” cho “Ngọc”
đã nhắc lại lời người xưa: “Thi
trung tự hữu nhan như ngọc” nhưng riêng tôi, muốn được “tâm
tình” đôi điều với Ngọc. Bởi vì,
chính nhờ tiếng hát về diệu âm,
diệu nghĩa, diệu lý, diệu hữu…
của nàng thơ Ngọc mà tôi cũng
đã có được phút giây an tịnh,
hạnh phúc tuyệt vời!
Xin cảm ơn nhà thơ Hạnh
Phương!■
Huệ Thành-Mang Viên Long

NỮ GIỚI

V

ị trí nữ giới
trong Phật giáo
Nữ Tiến sĩ L. S. Dewaraja

Maha Pajapati nuôi Thái tử Siddhartha

N

gày nay, vai trò nữ giới
trong xã hội là vấn đề
thế giới đang quan tâm. Vì thế,
chúng ta hãy thử tìm hiểu sơ về
nó theo quan điểm của Phật giáo.
Trước đây, có một số sách viết
về địa vị nữ giới thay đổi trong
xã hội Ấn giáo và Hồi giáo,
nhưng vấn đề nữ giới trong Phật
giáo rất ít được quan tâm, ngoại
trừ quyển sách Nữ giới trong
Phật giáo nguyên thủy của cô I.
B. Horner, một học giả uyên bác
tiếng Pali, ấn hành từ năm 1930.
Có thể nói, nữ giới trong
những xã hội Phật giáo đã tốt
hơn những xã hội phi Phật giáo
ở châu Á. Chúng ta có thể thấy
ngay địa vị nữ giới tại các nước
như Sri Lanka, Thái Lan, Miến
Điện và Tây Tạng, ở thời điểm
trước khi bị ảnh hưởng Tây
phương.

Ông Hugh Boyd - Đại diện
ngoại giao cho chính phủ Kandyan khoảng năm 1782 đã nhận
xét trong bài viết của ông: “Người
phụ nữ Sri Lanka rất khác biệt so
với tất cả phái nữ ở những nước
Á châu, nhất là về phần cá tính
rất đặc biệt và nổi bật. Họ không
mang vẻ lãnh đạm thờ ơ lười
biếng, hay một sự khiêm tốn tẻ
nhạt, hay chanh chua khó tính
như hầu hết mọi phụ nữ những
sắc dân Á châu khác đều có. Bao
giờ cũng vậy, từ bao nhiêu thế hệ,
những người phụ nữ tại quần đảo
Sri Lanka đều mang một sắc thái
nhanh nhẹn lanh lợi, với một tí e
thẹn quyến rũ, và sự thanh thản
thân tình; những đặc điểm này
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

81

☸ NỮ GIỚI

tương tựa như phần đông phụ nữ
Tây Âu. Người phụ nữ Sri Lanka
thường không bị xem như là nô
lệ hay tình nhân; họ được trọng
vọng và xem như một người bạn
đồng hành cho người chồng của
họ. Cho dù đàn ông nước này
theo pháp luật, có quyền hạn độc
đoán chuyên chế đối với con gái
của họ, nhưng thực tế họ có phần
dễ dãi trong sự giao lưu và cuộc
sống gia đình. Chế độ đa thê hầu
như vắng mặt, và ly dị được chấp
nhận rộng rãi nên các ông không
mang tính độc tài ghen tuông cố
hữu; từ đó sinh sôi nẩy nở hiện
tượng chuyên quyền một cách
thái quá và thiếu phong nhã lịch
sự đối với phái yếu mà ta thường
thấy ở hầu hết các nước châu Á;
thái độ này còn được thừa nhận là
thích đáng và cần thiết bởi nhiều
tôn giáo Đông phương. Người
đàn ông Sri Lanka không bao giờ
giam cầm hay kiềm chế vợ con
họ, họ cũng không bắt buộc phụ
nữ phải cam chịu những che đậy
hay giam cầm ẩn náu một cách
nhục nhã”.
Đoạn văn trên chỉ là một trong
những lời bình luận của người
Âu châu nhận xét về phụ nữ nước
Sri Lanka vào khoảng thế kỷ thứ
XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX.
82

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

Họ là những đại diện ngoại giao,
nhà truyền giáo, người quản lý,
lính tráng, bác sĩ, thiện nguyện
viên, thủy thủ, v.v… Họ là những
người biết nhiều về phụ nữ Âu
Tây, và nhiều người cũng đã
từng đi ngang qua hoặc đã sống
ở Ấn Độ nên cũng biết khá nhiều
về văn hóa và tập tục của Ấn Độ
giáo và Hồi giáo.
Cho nên, những nhận xét của
họ rất có giá trị. Những lời phê
bình chung chung của hầu hết
những người đã từng du hành
khắp nơi, về phụ nữ Sri Lanka làm
cho chúng tôi phải hiếu kỳ muốn
tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Những sưu tầm sau đây sẽ bàn
luận và nhận xét về cuộc sống xã
hội khoảng thời gian giữa thế kỷ
XIX. Trước đó, nguồn tài liệu hơi
mập mờ nên không nhận ra được
những đổi thay lớn lao trong xã
hội. Và sau đó vì ảnh hưởng của
chủ nghĩa đế quốc thống trị của
người Tây phương, qua thương
nghiệp và kinh doanh, cùng với
những hoạt động truyền giáo của
Cơ đốc, nên những đổi thay vừa
chớm nở là đã nhận biết được
liền. Chỉ có những bài viết của
người Âu là đầy đủ nhận xét tỉ mỉ
chi tiết về những điều kiện sống
trong xã hội xảy ra thường xuyên

NỮ GIỚI

trên quần đảo. Văn chương của
dân bản xứ phần đông là sách tôn
giáo, không mang nhiều nhận xét
về những sự việc trần tục như lời
bàn về phụ nữ. Nhưng chứng cớ
hiển nhiên rành rành trong cuộc
sống đã nói lên được thái độ tự
do hào phóng đối với phái nữ ở
tại nước Sri Lanka, một sự kiện
sẵn có từ nhiều đời. Khi nhắc đến
người phụ nữ ở các nước Á châu,
phần đông ta thấy được hình ảnh
một người phụ nữ trùm kín mặt
của Hồi giáo, hay khuê phòng
nơi những phụ nữ đẹp và giàu
sang của Ấn Độ thường ẩn náu,
hoặc hậu cung của những triều
đại Trung Hoa nơi mà cả ngàn
nàng hầu của vua được canh giữ
bởi hoạn quan, hay các vũ nữ của
thần linh đã hy sinh thân mạng vì
đạo giáo… tất cả đều biểu hiện
sự lợi dụng bóc lột người nữ ở
các nước phương Đông. Rất ít
người biết đến những xã hội
hiếm hoi, những quốc gia nhỏ bé
ngay tại vùng đất Á châu, trong
đó nữ giới được trọng vọng, nếu
so sánh với tiêu chuẩn hiện đại
thời nay. Thái Lan và Miến Điện
cũng nằm trong những chế độ
này. Phần lớn, chúng tôi căn cứ
kết luận về vị trí của phái nữ ở
hai nước này bằng cách đối chiếu

văn bản thu thập được từ những
khách du hành Âu châu thăm
viếng và sinh sống ở những xứ
sở này vào thế kỷ thứ XIX và
XX.
Ông R. Grant Brown, một Sĩ
quan ngành lợi tức thu nhập sống
tại Miến Điện 28 năm (18891917) đã nhận xét như sau: “Tất
cả mọi người đều viết về mức độ
tự do, thật là đặc biệt dành cho
người nữ khi bàn luận về nước
Miến Điện. Vị trí của phụ nữ
trong xã hội này thật là một điều
quá đỗi ngạc nhiên khi xét rằng
ở các nước lân cận chung quanh
như Ấn Độ hay Trung Hoa, đàn
bà con gái thường bị “nhốt”, bị lệ
thuộc, hay bị tách biệt khuất lánh
nơi riêng lẻ.”
Một sứ giả tại triều đình nước
Miến Điện cũng bày tỏ sự ngạc
nhiên trước thái độ tự do của
hàng vua chúa trong cung điện:
“Hoàng hậu ngồi ngang hàng
với vua khi tiếp chuyện với đại
sứ nước ngoài. Cả hai được giới
thiệu là “hai vị chúa tể tối cao”.
Vì đối với người Miến Điện,
theo thường lệ, phụ nữ gần như
là bình đẳng với phái khỏe mạnh
cường tráng nam giới hơn bất cứ
xã hội nào vùng châu Á”.
Thiếu tướng Albert Fytche,
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

83

☸ NỮ GIỚI

đại biểu chính quyền Anh quốc
ở Miến Điện và cũng là Sĩ quan
phụ tá cho Thống đốc Ấn Độ,
cũng viết tương tự như thế vào
năm 1878: “Không như những
người Ấn Độ giáo hay Hồi giáo
rất hay nghi kỵ và ngờ vực,
người phụ nữ ở đây (Miến Điện)
phần nhiều được thoải mái tự
do. Họ không chỉ là những nô
lệ tình yêu cho người chồng, mà
còn được thừa nhận và tôn trọng
quyền bình đẳng và thế đứng của
họ đôi khi trội hơn trong hầu hết
những giao dịch hằng ngày của
cuộc sống. Vị trí của họ chắc hẳn
cao hơn bất cứ ai dù ở phương
Tây hay Đông”.
Chỉ cần một chút quan sát và
thẩm vấn cũng đủ để nhận thấy,
tại Thái Lan cũng thế, cho dù
kém hơn, nhưng người phụ nữ
Thái Lan cũng được hưởng sự
tự do đáng kể. Thí dụ như trong
bài viết của ông J.G.D. Campbell, một cố vấn ngành Giáo dục
cho Chính phủ Thái, năm 1902
cũng nhắc đến: “Trong quốc gia
Thái Lan, không biết vì nguyên
do gì, mà vị trí của người phụ nữ
vẫn có phần tốt đẹp hơn ở những
nước Á châu khác. Chỉ cần đến
Bangkok một vài ngày thôi,
người ta không khỏi ngạc nhiên
84

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

nhận ra ngay phong độ và dáng
vẻ hiên ngang của người phụ nữ
bình dân trong xã hội. Có thể
nói rằng đạo Phật mang đến ảnh
hưởng tích cực này cho phái yếu
về cả mặt tôn giáo và nhân cách
phẩm hạnh.”
Cũng vậy, Công Tước Charles
Bell, đại diện Hoàng gia Anh
tại Tây Tạng, Bhutan, và Sikkim, cũng đã nêu vấn đề này
năm 1928: “Khi khách du hành
đến Tây Tạng ngang qua trấn
ải những nước láng giềng như
Ấn Độ hay Trung Quốc, điều
đầu tiên họ sẽ ngỡ ngàng nhận
ra cái khác biệt của người nữ ở
Tây Tạng. Họ không bị kềm chế
trong ràng buộc và tách biệt như
phụ nữ Ấn Độ. Trái lại họ rất
thoải mái trong các sinh hoạt với
người khác phái, vì họ đã quen
với lối sống không phải khép nép,
e thẹn, lo sợ. Họ không khác so
với những phụ nữ các nước tân
tiến trên thế giới.” Ông Bell lại
bàn tiếp: “Cũng vậy, ta có thể nói
một cách chắc chắn rằng những
quốc gia hoàn toàn theo đạo Phật
như Miến Điện, Sri Lanka và Tây
Tạng, người phụ nữ có một vị trí
rất khác biệt, rất bình đẳng”.
Những lời bình luận về sự tự
do bình đẳng của phái nữ trong

NỮ GIỚI

những quốc gia phần nhiều
cô lập, cách biệt riêng lẻ tại Á
châu, nhất là trong thời tiền công
nghiệp, thật là một điều đáng
sửng sốt. Không phải nữ giới
nắm quyền hành ngang hàng
với người nam tại những nước
như Sri Lanka, Miến Điện và
Thái Lan, cả về phần lý thuyết
cũng như thực hành. Nhưng họ
được ưu đãi đặc biệt, so với các
nước láng giềng như Ấn Độ hay
Trung Quốc, nơi mà những giáo
điều của Hồi giáo, Ấn Độ giáo
và Khổng giáo thật sự thống trị
đã lâu đời. Quan điểm này có thể
xảy ra mâu thuẫn vì Thái Lan
và Miến Điện được tổng hợp
của hai nền văn minh ngôn ngữ
hệ Ấn - Âu và âm thanh. Cũng
vậy tại Sri Lanka bị ảnh hưởng
của đạo Hindu khá trầm trọng.
Vấn đề này xuất hiện như là một
tình huống liên quan đến phụ nữ
trong ba xã hội khác nhau từ nền
văn hoá chính của châu Á, chỉ có
thể suy diễn và giải thích bằng
sự nhìn nhận là cả ba quốc gia
cùng mang sắc thái và điểm đặc
trưng duy nhất rất giống nhau là
đạo Phật phát triển hùng mạnh
tại những quốc gia nhỏ bé này.
Như vậy, ta có thể kết luận rằng
nhờ đạo Phật mà người phụ nữ

tại Sri Lanka, Miến Điện và Thái
Lan có một vị trí thích đáng về
bình quyền trong xã hội.
Kết luận này đưa chúng ta
trở lại vấn đề quan điểm của đạo
Phật đối với nữ giới và tại sao
thái độ này khác biệt với những
tôn giáo khác. Khi nhìn lại nước
Ấn Độ cổ đại, quyển Rigveda,
một tác phẩm văn học Ấn - Âu
lâu đời nhất còn lưu trữ được, đã
đề cập rất rõ ràng là phụ nữ có
một thế đứng rất vững chãi và
vinh dự trong xã hội Ấn thời đó.
Trong tác phẩm văn học này, tác
giả một vài bài thơ văn tán tụng
cũng là phái nữ. Người nữ được
quyền tham gia tất cả nghi thức
tôn giáo và được tìm hiểu học
hỏi mọi kiến thức cao cấp nhất.
Trong gia đạo, cũng không có
chứng cớ là phụ nữ bị hạn chế
chèn ép hay kìm giữ, và không có
chuyện cưới hỏi lúc còn vị thành
niên. Nói chung, Rigveda phác
họa một nữ giới rất được trọng
vọng trong xã hội cổ xưa ở Ấn
Độ. Chỉ sau này khi giai cấp Bàla-môn bắt đầu chế ngự và thống
trị xã hội, tôn giáo bắt đầu mất đi
tính thanh thoát và trở thành đa
nghi thức với lễ bái; từ đó người
ta nhận thấy có sự suy đồi thay
đổi về vị trí dành cho phụ nữ.
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

85

☸ NỮ GIỚI

Thần Manu, một trong những
Bà-la-môn khắt khe tàn nhẫn
nhất, ban hành quyển Những
Điều Luật có thể nói là đã tước
đoạt hết mọi quyền hạn và đặc ân
của phái nữ. Khi điều luật này ra
đời, nữ giới không còn tôn giáo,
không được tin tưởng, không có
đời sống tâm linh. Manu cấm hẳn
“người của đẳng cấp su-dra, nô
lệ, và phụ nữ” không được nhìn
đến, huống hồ là đọc kinh thánh
Vệ-đà. Một người nữ không
được “về trời” do thực hiện điều
lành theo cá nhân. Một người
nữ không có quyền cúng tế hay
thờ tự một mình. Một người nữ
chỉ cầu giải thoát qua một đời
phục tùng chồng một cách triệt
để; nếu ông chồng trác táng hư
hỏng, người vợ cũng bị đọa theo.
Đã triệt loại hết mọi hình thức
tâm linh, trí năng và hiểu biết của
người phụ nữ. Manu còn đổ mọi
trách nhiệm và tội lỗi lên họ, cho
rằng người nữ là tồi bại, xấu ác,
tội lỗi. Manu dẫn chứng: “Chúng
nó không biết tủi nhục hổ thẹn,
không đoan trang chính trực,
không lương thiện chân thật, và
không biết bẽn lẽn, e dè. Đó là lý
do tại sao chúng nó mất đi trinh
tiết và chỉ mong cầu được chinh
phục bởi đàn ông.” Bởi vậy nên
86

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

người phụ nữ Hindu lúc nào cũng
cần được canh giữ cẩn thận; một
cách dễ dàng nhất là làm sao bắt
họ luôn trong tư thế sanh nở nuôi
nấng con cái và lo cho gia đình để
không còn thời gian sinh khởi ý
đồ phiền toái. Nhưng cho dù với
sự phỉ báng tối đa này, người Ấn
Độ vẫn mong lý tưởng hóa một
gương phụ nữ hoàn hảo, và một
người mẹ thần tượng. Lý thuyết
là vậy, thực tế Những Điều Luật
của Thần Manu cũng ảnh hưởng
nặng nề về cách cư xử với phái
nữ trong mọi đẳng cấp, nhất là
giới phong lưu cao cấp Ấn Độ.
Chính những nhận xét như thế
đòi hỏi ta phải chú trọng đến ảnh
hưởng của đạo Phật đã tác động
mạnh mẽ vào thế kỷ thứ V trước
Công nguyên khi Phật còn tại
thế. Nhưng chúng ta không thể
cho rằng đức Phật đã đưa ra kế
hoạch vận động dân chủ và bình
quyền cho phái nữ ở Ấn Độ. Mà
thật ra lời giáo huấn của Ngài đã
tạo ít nhiều những làn sóng chống
đối lại giáo điều và sự cuồng tín
của Bà-la-môn. Đức Phật lên án
chế độ đẳng cấp đương thời của
người Bà-la-môn, cùng với quá
nhiều lễ nghi và cúng tế thần linh.
Ngài bác bỏ sự hiện hữu của một
Giáo chủ duy nhất và nhấn mạnh

NỮ GIỚI

về lời dạy của Ngài là mọi người
đều có thể đạt tới giải thoát theo
sự cố gắng hành trì của chính
bản thân mình. Đó là giáo lý căn
bản của đạo Phật – ai cũng có
thể chứng quả giải thoát - vì mọi
chúng sanh đều có Phật tính như
nhau, đây là lời dạy hoàn toàn đi
ngược lại với uy thế tối cao của
đàn ông. Phải là một người rất
can đảm và đầy đủ nghị lực mới
dám tuyên bố và đưa người phụ
nữ lên ngang hàng với phái nam
trong thời điểm đó. Vì thấy được
khả năng tâm linh của người
nữ cũng không thua kém so với
người nam, nên đức Phật đã tạo
dựng một Ni đoàn đông đảo sau
một thời gian dài lưỡng lự và đây
là một tổ chức tập thể người nữ
đầu tiên thời bấy giờ. Tứ chúng
của Phật giáo gồm có Tỳ-kheo
(Bhikkhu), Tỳ-kheo ni (Bhikkhuni), Ưu-bà-tắc (laymen), và
Ưu-bà-di (laywomen); như thế
người nữ không bị loại ra ngoài
vòng hoạt động tâm linh hay
tôn giáo nào cả. Nếu người nam
chứng đắc quả vị Vô thượng, thì
người nữ cũng có thể đạt được
điều đó bằng chính công phu tu
tập của họ, mà không cần phải có
sự giúp sức của phái nam. Như
thế, chúng ta có thể khẳng định

và đồng ý với nhận xét của tác
giả I.B. Horner là Phật giáo đã
đưa nữ giới lên mức độ xấp xỉ
bình đẳng với nam giới.
Rời phần triết lý để đi vào
cuộc sống thường nhật trong gia
đình, người ta nhận thấy có ít
nhiều những đổi thay về ý tưởng
bình quyền. Trong những xã hội
chế độ phụ hệ, gia đình nào cũng
mong ước sanh được con trai
để nối dõi tông đường; ngoài ra
trong Ấn giáo, chỉ có người con
trai mới có quyền chôn cất cha
để ông đạt được trọn vẹn hạnh
phúc ở thế giới bên kia. Vì lẽ
này nên trong đạo Hindu, nếu
người vợ không sanh con trai,
người chồng có thể ngang nhiên
lấy vợ hai, vợ ba, và bà cũng có
thể bị đuổi hẳn ra khỏi nhà. Có
câu châm ngôn: “Qua một đứa
con trai, ông có thể chiến thắng
vinh quang, và qua đứa con trai
của con trai ông, ông có quyền
trường sanh bất tử.” Cho nên
khi người đàn bà sanh ra một
đứa bé gái, mọi người trong gia
đình than khóc. Nhưng trong đạo
Phật, hạnh phúc vĩnh cửu không
lệ thuộc vào sự cúng kiếng khi
chôn cất mà là do công đức tạo
được trong cả đời của người đó
trước khi chết. Lễ nghi chôn cất
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

87

☸ NỮ GIỚI

trong đạo Phật rất đơn giản, và
do chính người quả phụ hay đứa
con nào đó trai hay gái đều có thể
thực hiện, không bắt buộc phải là
người con trai trong gia đình.
Đạo Phật không có nghi thức
hay lễ lạy ăn mừng một bé trai
chào đời, nhưng cũng không
phải là một chuyện đau buồn
cho gia đình khi sanh con gái.
Chuyện kể khi Vua Ba-tư-nặc
đến than vãn với Phật là Hoàng
hậu Mạt-lị vừa hạ sanh một công
chúa, Phật liền trấn an vua: “Này
Hoàng đế, sanh một đứa con gái
nhiều khi còn quý phái hơn sanh
con trai…”, đây là một phát biểu
rất chính đáng thời bấy giờ. Cho
dù Phật dạy nam nữ bình đẳng
trong phẩm chất tâm linh, và tự
mình phải tìm cầu giải thoát chứ
không phải có con trai mới đảm
bảo được hạnh phúc miên viễn;
thế nhưng, chính những xã hội
chủ yếu theo đạo Phật, người ta
vẫn khát vọng có con trai, ngay
cả ngày nay, chỉ vì tư tưởng quá
thâm căn cố vị về sự trịch thượng
cao tột của phái nam.
Việc cưới hỏi và cuộc sống gia
đình thường là những thể chế cơ
bản của mọi xã hội, cho dù là xã
hội thời xa xưa hay thời hiện đại.
Và vị trí của phụ nữ trong xã hội
88

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

sẽ ảnh hưởng và được nhận định
rõ ràng trong những thể chế này.
Những câu hỏi như: người nữ có
quyền hành trong việc giải tỏa
hôn nhân như chồng họ không?
Họ có quyền tìm ý trung nhân
khác sau đó hay chỉ có đàn ông
mới được lấy vợ lần thứ hai thứ
ba? Câu trả lời cho những câu
hỏi trên sẽ là nền tảng ấn định vị
trí của phái nữ trong bất cứ một
xã hội nào. Bây giờ chúng ta sẽ
đi vào vấn đề xem xét quan niệm
của Phật giáo về những câu hỏi
này.
Không như những tôn giáo
khác như Thiên Chúa giáo hay
Hồi giáo, Phật giáo không xem
hôn nhân là một sự thề nguyện
thiêng liêng tôn giáo. Hôn nhân
chỉ là một liên kết hoàn toàn
mang tính cách thế tục, tăng ni
không phải có mặt để làm chứng
hoặc ban phép. Ở các nước như
Sri Lanka, Thái Lan và Miến
Điện, đám cưới thường có rất
nhiều nghi thức rườm rà rượu
tiệc ăn mừng kéo dài cả ngày
đêm, nhưng những nghi thức này
không mang tính cách tôn giáo.
Đôi lúc tăng ni được thỉnh mời
đến tham dự cúng dường trai
tăng, nhân dịp đó quý ngài cũng
chúc phúc cho đôi vợ chồng và

NỮ GIỚI

gia đình họ. Ngay trong kinh
điển, Phật chỉ nhắc đến bổn phận
của chồng vợ đối với nhau trong
kinh Thi-ca-la-việt (Sigalovada
Sutra) chứ không chỉ dạy hay
chú trọng nghi thức, nghi lễ về
hôn nhân hay việc thực hiện lời
thệ nguyện cưới hỏi.
Phật dạy: “Có năm điều mà
người vợ đoan chính phải được
chồng lo lắng chăm sóc chu
đáo bằng sự tôn trọng quý mến,
bằng lịch sự nhã nhặn, bằng lòng
chung thủy, bằng cách san sẻ ủy
quyền cho nàng, và luôn mang
quà cáp biếu tặng vợ. Và người
vợ cũng có năm trách nhiệm đối
với chồng là yêu thương quý mến
chồng, lo liệu cho cả gia đình đôi
bên với tất cả lòng mến mộ, thủy
chung với chồng, dành dụm cất
giữ đồ vật tiền tài chồng làm ra,
và quán xuyến mọi việc trong
ngoài một cách hữu hiệu”.
Một điều quan trọng cần được
nhấn mạnh ở đây là lời giáo huấn
của Phật ứng dụng cho cả đôi
bên; hôn nhân là một quan hệ
tương đồng cả về trách nhiệm lẫn
quyền hành giữa hai người trong
cuộc. Lời huấn thị này là một sự
đổi hướng trọng yếu đối với tập
quán và suy nghĩ thịnh hành của
thời bấy giờ. Thí dụ như trong

kinh Thần Manu có dạy: “Con
cái - kết quả của hạnh phúc và
là niềm vui vô bờ bến cho bản
thân và gia đình tổ tiên nòi giống
– hoàn toàn phụ thuộc vào người
vợ”. Trong khi đó, Khổng Tử –
người được xem như đàn anh
đồng thời với Phật – cũng dạy
tương tự như vậy: “… khi sự tôn
kính phục tùng của người vợ thật
hoàn hảo, nội tâm nàng được hài
hòa cân đối, bấy giờ sự tồn tại
dài lâu của gia đình mới được
định đoạt”. Khổng Tử cũng chỉ
dạy cặn kẽ về trách nhiệm của
con cái với cha mẹ, bổn phận của
vợ đối với chồng, của con dâu
đối với mẹ chồng, nhưng không
chỉ dạy điều ngược lại; cho nên
người vợ chỉ có bổn phận và
nhiệm vụ, trong khi ông chồng
thì được hưởng quyền lợi và ân
sủng. Trong kinh Thi-ca-la-việt
(Sigalovada Sutra), lời giáo huấn
của Phật về cách cư xử trong gia
đình họ hàng đều là những mối
quan hệ có qua có lại giữa những
đối tượng, như vợ với chồng, con
cái với cha mẹ, ngay cả chủ nhân
với tôi tớ. Như vậy theo lý tưởng
Phật giáo, hôn nhân chỉ là một
sự khế ước giữa hai người bình
đẳng với nhau. (còn tiếp)
Viên Minh dịch
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

89

HẠNH PHƯƠNG. PHẬT LỊCH 2554

☸ THƠ

Bên đài hoa sen trắng
Trông thấy ánh đạo vàng
Bên niềm vui tĩnh lặng
Thấy Phật tỏa hào quang
Yêu người mơ thấy Phật
Ngưỡng Phật thấy ngần xinh
Ba mươi hai tướng tốt
Từng giây phút đản sinh
Mỗi tay chấp hoa sen
Mỗi vào chùa mô Phật
Ngập ngụa giữa bùn đen
Mỗi thăng hoa diệu mật
Cứ mỗi mùa khánh đản
Quán niệm Phật trong mình
Lâm-tỳ-ni bỉ ngạn
Hoa ưu đàm ngần xinh
Phật trỏ tay chỉ trời
Trời xanh biếc khơi vơi
Phật mỉm cười trỏ đất
Đất nâu bỏng rạng ngời
Phật hóa thân em bé
Tim mẹ ngát hương thiền
Phật hóa thân con trẻ
Vua Cha mừng lòng yên

90

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

NIỀM TĨNH LẶNG

THƠ

Thầm nghe giữa lòng mình
Mười phương Phật đản sinh
Kia hình hài máu mủ
Thảy thảy đều quang vinh
Thầm nghe tôi là em
Lắng nghe em là mẹ
Mỗi mỗi là hoa sen
Mưa lâm thâm lá hẹ
Bên đài hoa sen trắng
Lại thấy vương miện vua
Chuyển luân vương tối thắng
Ngoài được mất hơn thua
Đức Vua Pháp dạy mình
Tứ đại thực lá xinh
Năm uẩn mà tối thắng:
Vì vậy: Phật đản sinh
Thầy Ba Cõi hằng khuyên
Mười phương thuần tịnh độ
Niệm Phật – tự phòng hộ
Pháp tánh hiện chân nguyên
Bên đài hoa sen trắng
Thấy bản thể chân như
Nghe pháp âm thù thắng
Hùng lực đại bi từ.

SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

91

☸ TRUYỆN NGẮN

N

HỮNG BÔNG HOA
MÙA HẠ

Bình thức giấc, ngạc
nhiên thấy mình nằm ngủ
trong nhà thằng Phi. Chưa
kịp nghĩ gì thì mùi thức ăn
xộc thẳng vào mũi làm nó
nghe dạ dày nhói lên quặn
thắt. Hẳn đã nhiều ngày
rồi, Bình chưa có chút gì
vào bụng.
Chiều hôm đó vừa nhìn
thấy Bình tới nhà với vẻ
mặt hớt hải, thằng Phi hỏi
ngay:- Bị bố đánh hả?
- Ừ! Bố Bình đang giận
ghê lắm. Bạn cho mình ở
nhờ vài hôm, đợi đầu tuần
bố đi làm... chứ bây giờ
về nhà là nhừ đòn.
- Lại tụ tập đánh lộn
nữa chứ gì?
Bình im lặng. Thằng
Phi thôi không hỏi nữa
mà cầm tay nó kéo xuống
nhà dưới:

92

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

- Bình đi tắm, rồi lấy đồ Phi
mà thay. Chốc nữa chúng mình
cùng ăn cơm.
Giọng Bình lí nhí:- Cám ơn
Phi...
Phi và Bình chơi thân từ thuở
còn đi học nhà trẻ. Lớn lên vì
khác trường, tính cách cũng khác
biệt nên không còn qua lại thân
thiết, chỉ thỉnh thoảng có việc gì
Bình mới tới tìm Phi. Dù chẳng
mấy thích song cả nhà Phi ai
cũng niềm nở tử tế khiến Bình
luôn cảm thấy thoải mái mỗi lần
đến nhà bạn.
Sáng hôm sau, thằng Phi đi
mua hai tô phở về rồi nói:
- Hôm nay chủ nhật, Phi đi
học giáo lý ở chùa. Buổi chiều
còn tham dự trại hè. Sợ bạn ở
nhà một mình buồn nên Phi...
- Bạn cứ đi. Bình sẽ đi chơi
với tụi trên xóm chợ.
- Đi chơi... không khéo lại

TRUYỆN NGẮN

sanh chuyện. Hay là chúng mình
cùng đi chùa. Phi sẽ giới thiệu
Bình với anh Phước, là huynh
trưởng gia đình Phật tử. Anh
Phước còn là người tổ chức trại
hè cho thanh thiếu niên trong xã
mình. Ảnh tử tế và dễ thương
lắm. Bình mà gặp ảnh một lần...
Bình xua tay, nói nhanh: Thôi đi. Bình không thích đi
chùa và cả cái trại hè trại hiết gì
đó nữa.
Phi nhỏ nhẹ phân tích: - Thì
đi cho biết. Đâu có mất mát gì.
Ở đó có những bạn đồng trang
lứa như bọn mình. Chúng ta học
được nhiều điều hay, tham gia
các trò chơi vui lại bổ ích.
Bình nhăn mặt:- Không. Bình
không cảm thấy hứng thú với
những nơi đó. Học giáo lý, tham
gia trại hè làm quái gì chứ. Đi
chơi, chẳng là vui hơn sao?
Phi mím môi, nghiêm giọng:
- Phải rồi! Đi chơi quậy phá là
niềm vui, là sở thích của bạn mà.
Nhưng cứ nghênh ngang khuấy
động ngoài đường mãi thì được
gì nào. Chơi với người hay bạn
tốt không muốn, lại đi với những
đứa suốt ngày chỉ làm những việc
càn quấy phá làng phá xóm...
Chưa nghe hết câu, Bình đã
giận dữ đứng lên:- Này! Bạn

đừng có mà lên cái giọng dạy
đời mình như thế. Không thích
thì Bình đi đây.
Suốt cả buổi sáng, Bình tha
thẩn ngoài bìa rừng chỉ để hái
hoa bắt bướm. Cây cỏ xanh mướt
chỉ sau vài cơn mưa đầu hạ và lũ
bướm vàng không biết từ đâu cứ
chập chờn bay lượn qua lại. Bình
chơi trò đuổi bắt bướm như hồi
nhỏ nó và thằng Phi vẫn làm thế.
Chạy đuổi một lúc, Bình không
còn thấy hứng thú nữa. Người
ta đâu thể chơi mãi một mình.
Không biết làm gì nó lại lang
thang dọc con suối ngắm cảnh và
hái hoa. Nắng lên cao, Bình cũng
thấm mệt. Nó nằm dài xuống
đám cỏ, cầm bó hoa lên ngắm
nghía rồi lẩm bẩm:- Hái về chẳng
biết để làm gì. Hoa thì không thể
ăn được trong lúc bụng mình thì
đói meo. Sáng nay chưa kịp ăn
tô phở. Hay là.... mình sẽ mang
bó hoa này về tặng cho thằng Phi
coi như xí xóa chuyện lúc sáng.
Ừ! Được lắm chứ. Bình thấy vui
vui với ý tưởng được tặng hoa
cho ai đó. Nó mỉm cười, đặt bó
hoa bên cạnh rồi nhắm mắt thiu
thiu ngủ.
Tiếng la hét cười đùa của đám
trẻ con kéo tới tắm suối làm Bình
tỉnh hẳn cơn buồn ngủ. Bình ngồi
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

93

☸ TRUYỆN NGẮN

bật dậy định lớn tiếng bảo chúng
coi chừng dòng nước xoáy, song
nó chặc lưỡi:
- Chúng biết rõ con nước còn
hơn mình mà. Đói bụng quá rồi.
Phải về nhà thôi.
Bình cầm lấy bó hoa. Chợt nó
nghe tiếng la thất thanh. Hình như
có đứa bị hụt chân thì phải...
Bằng cách nào đó, Bình đã
cứu hai đứa bé thoát ra dòng
nước chảy xiết. Khi đưa được
chúng lên bờ, Bình cũng đuối
sức nằm vật xuống đất. Dường
như nó nghe loáng thoáng tiếng
ai đó gọi tên mình. Có nhiều
bước chân người chạy tới. Chốc
lát, nó lại thấy mình bồng bềnh
bay theo đám mây xanh trắng
trên bầu trời.
...
- A! Bình tỉnh dậy rồi!- Thằng
Phi từ nhà trong bước ra với ly
sữa và tô cháo nóng hổi- Bạn
đói lắm phải không. Mẹ Phi vừa
nấu cháo thịt cho bạn đây. Ngon
lắm!
Bình chống hai tay ngồi dậy,
nói nhỏ:
- Đói và khát nước nữa. Hình
như mấy ngày rồi Bình chưa có
gì vào bụng. Ủa! Mà sao Bình lại
nằm đây vậy. Chẳng phải là...
- Bình uống sữa, ăn cháo rồi
94

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

Phi sẽ kể lại mọi chuyện. Chiều
qua, thấy Bình nằm bất động, Phi
cứ tưởng... là bạn không còn thở
nữa đấy.
Bình húp từng ngụm sữa, nó
cũng cảm thấy mình vừa từ cõi
chết trở về:
- Phi có đi qua con suối đó
sao?
- Ừ! Phi đi dự trại hè bên kia
suối. Lúc theo mấy anh chị trở
về ngang qua nghe đám nhỏ la
có đứa hụt chân sắp chết đuối.
Mình chạy tới thì thấy bạn vừa
đưa hai đứa nhỏ lên bờ. Rồi Bình
bị ngất. Mấy anh chị vội đưa bạn
đến ngay trạm xá. Chú y sĩ chích
cho mấy mũi thuốc khỏe và bảo
bạn ngất vì kiệt sức chứ không
hề gì. Bố mẹ bạn đi lên tỉnh hồi
trưa qua. Nhà không còn ai, nên
Phi đưa về đây.
Thấy Bình làm thinh không
nói gì, Phi lo lắng hỏi:
- Bình thấy trong người thế
nào. Chuyện này... một phần cũng
do lỗi của Phi. Nếu sáng qua Phi
biết cách xử sự... Nếu như Bình
có mệnh hệ gì... thì chắc Phi...
cũng chết theo luôn quá...
Bình bật cười ngắt lời bạn:
- Không sao đâu. Bình khỏe
rồi. Phải nói là... nếu Bình biết
nghe lời bạn đâu đến nỗi. Nhưng

TRUYỆN NGẮN

thôi. Cuối cùng thì Bình đã cứu
được hai đứa bé. Phi biết Bình
là tay bơi cừ khôi mà, chỉ tại lúc
ấy Bình đói và mệt quá. Khi lên
được bờ thì cứ như người sắp
chết, không còn biết gì nữa. À!
Còn hai đứa nhỏ thế nào rồi...
- Chúng ổn rồi. Nhưng bạn trở
thành người nổi tiếng rồi đấy, tay
bơi cừ khôi ạ.
Bình ngạc nhiên: Nổi tiếng?
Là sao?
Phi vừa định nói thì chợt nhìn
ra cửa reo lên:- A! Anh Phước
tới thăm Bình kìa.
Anh Phước bước vào với một
bị đầy cam quýt cùng nụ cười
thân tình cởi mở:- Chào cậu bé.
Em khỏe rồi chứ?
Bình ấp úng đáp nhỏ: - Dạ...
em khỏe. Cám ơn anh.
- Đây là ít trái cây của mấy
cô bác ở xóm dưới gởi cho Bình.
Mọi người hỏi thăm em mãi.
Bình khẽ kêu lên:- Ôi! Em
không dám nhận đâu.
Phi nói:- Chỉ là ít trái cây thôi.
Bạn ngại gì chứ. Tối qua, rất
nhiều người tụ tập tại nhà mình
trong đó có ba mẹ của hai đứa
bé. Họ cám ơn và hết lời khen
ngợi bạn. Bác tổ trưởng còn nói:Cái thằng quậy trời sợ này mà
cũng có lúc được việc. Nó quả

cảm như một chàng thanh niên
mạnh khỏe...
Bình phì cười:- Quả cảm nổi
gì. Chẳng qua mình biết bơi, thấy
người sắp chết đuối thì phải nhảy
xuống cứu thôi.
- Em cứu người ngay trong
dòng nước chảy xiết, bọn anh
còn cảm phục nữa đây.
Bình lắc đầu: - Tại anh không
biết chứ em là đứa nổi tiếng quậy
phá, cả xóm ai cũng biết. Một
đứa ngang tàng bướng bỉnh như
vậy thì có nhảy vào lửa dữ hay
nước lớn cũng không biết sợ là
gì...
Anh Phước cười lớn: - Ồ! Một
lập luận đầy khí phách. Bình biết
nghĩ vậy cũng tốt. Và em cũng
nên hiểu rằng, mình cứu người
thì người phải cảm nghĩa tri ơn.
Chẳng ai để bụng về những trò
nghịch phá của em trước kia
đâu. Thiếu niên mà. Dù có quậy
động đôi chút, nhưng biết sống
vì người khác là tốt rồi.
Bình cúi mặt nói sang chuyện
khác: - Phi có rủ em tham gia trại
hè nhưng em chưa từng tới đó.
Phi cũng hay kể về các buổi sinh
hoạt... về mấy anh chị và các bạn
nhỏ. Em biết anh là sinh viên học
ở xa, đến kỳ nghỉ hè thì về đây
tham gia những việc công ích
SỐ 74 ☸ PHÁP LUÂN

95

☸ TRUYỆN NGẮN

giúp đỡ nhiều người. Anh còn là
huynh trưởng gia đình Phật tử, tổ
chức hội trại hè...
- Chà! Bình biết rõ về anh quá
nhiều đấy. Hội Trại hè là do quý
thầy tổ chức còn anh chỉ phụ trợ
đôi chút thôi... Hội trại mở ra là
để giúp thanh thiếu niên học sinh
trong thôn bản mình có nơi họp
mặt sinh hoạt vui chơi trong mùa
hè. Có thể... một ngày đẹp trời
nào đó, mời em ghé qua tham
quan trại hè một lần cho biết.
Bình nhoẻn miệng cười:- Hôm
qua em có nghe tiếng ca hát bên
kia suối, biết là trại hè, em cũng
muốn qua coi mà ngại.
Rồi Bình quay qua Phi nói
nhỏ:- Sáng hôm đó Bình đi lang
thang bên bờ suối hái được một
bó hoa thật lớn định chiều mang
về tặng cho Phi. Nhưng rồi gặp
sự cố, đành lỡ mất. Chiều nay...
Bình sẽ hái một bó hoa khác
mang sang trại hè tặng cho mấy
anh chị và các bạn.
Phi vỗ tay reo lên:- A! Hay
quá. Bạn đến trại hè với bó hoa
như thế thật có ý nghĩa.
Anh Phước hóm hỉnh tiếp lời:Em là chú bé quả cảm và cũng
thật tình cảm. Chiều nay mấy
anh chị và các bạn sẽ tổ chức một
cuộc liên hoan nhỏ để đón tiếp
96

PHÁP LUÂN ☸ SỐ 74

người bạn mới ghé chơi.
Bình đỏ mặt bối rối:- Ôi!
Nếu... vậy thì em không tới đâu.
Phi vội nói:- Thôi thì vầy.
Chiều nay Phi và Bình cùng đi
hái hoa, rồi mang đến trại hè.
Bình chịu chứ.
Bình gật đầu: -Ừ! Nhưng
mà...
- Rồi Bình sẽ nhanh chóng
làm quen với không khí trại hè,
không chừng bạn sẽ yêu thích
nữa là khác.
Anh Phước gật đầu nói nhỏ:
- Tâm tính con người ta cũng
như hoa vậy. Biết tùy lúc tùy thời
mà nở rộ. Anh nghĩ sự hiện diện
của Bình cùng những bông hoa
của em sẽ mang lại niềm vui và
sinh khí cho các bạn nhỏ trong
trại hè. Mỗi người là một bông
hoa. Bình chính là một bông hoa
mới vừa được gieo mầm trong
khu vườn đạo lý. Những bông
hoa mùa hạ rồi đây sẽ cùng tỏa
hương khoe sắc.
Nghe anh Phước nói, Bình
mỉm cười quay nhìn ra khung
cửa sổ. Nó thấy nhẹ lòng và
thanh thản nên quên cả tô cháo
đang nguội dần. Ngoài sân...
những bông hoa mùa hạ cũng đỏ
rực lên như màu lửa.■
Lam Khê

PHÁP LUÂN
Chủ biên: Viên Phương

Hộp thư 46 Bưu điện Gia Định, Q.Bình Thạnh, TP.HCM
Email: banbientap@phapluan.info
Website: phapluan.vn

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA - VĂN NGHỆ TP.HCM
88-90 Ký Con, P.Nguyễn Thái Bình - Quận 1 - TP.HCM
ĐT: (08) 39316435 - 38249528 - 35260124 - 39142419 - 39142890
Fax: (08) 39316435
Email: nxbvanhoavannghe@yahoo.com.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản :
Biên tập :
Sửa bản in :
Trình bày :
Bìa :
Liên kết xuất bản :

Huỳnh Thị Xuân Hạnh
Kim Phước
Bảo Bảo
Hương Sơn
Phương Niệm
Viên Phương

2010

In lần thứ nhất. Số l ượng: 1000 cuốn, Khổ 14x20 cm.
Tại Xưởng In Mỹ Thuật Trường ĐH Mỹ Thuật TP.HCM
Số đăng ký KHXB: 875-2010/CXB/58-01/VHVNTP.HCM
Quyết định xuất bản số: 32/QĐ-NXBVHVN ngày 04/10/2010
In xong và nộp lưu chiểu tháng 10 năm 2010

DL

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful