VNH3.TB2.

641

NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÙNG NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG THỜI KỲ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM CHUYỂN ĐỔI
TS. Lưu Thị Tuyết Vân Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Với vị trí là nền công nghiệp thôn xã, từ xa xưa các nghề truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đã đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân. Trong hơn hai chục năm Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam chuyển dần sang cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các nghề truyền thống vùng này đã có nhiều biến động. Nhiều nghề mới, mặt hàng mới, làng nghề mới hình thành góp phần to lớn về kinh tế – xã hội ở nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đồng thời vẫn mang nặng tính chất nông nghiệp, nông thôn với những yếu tố tích cực và hạn chế. Hiện nay, khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề truyền thống còn có những ý kiến khác nhau. Có người coi nghề truyền thống là nghề cổ truyền, có người căn cứ vào thời gian tồn tại, số hộ theo nghề và thu nhập từ nghề so với tổng thu nhập trong làng xã nhưng cũng có người lại quan niệm ngành nghề truyền thống là ngành nghề nông thôn đã được tồn tại trong một số năm nhất định… Bài viết nhỏ này không đi sâu về mặt khái niệm mà sẽ nêu lên một số nét cơ bản nhất của những nghề truyền thống vùng nông thôn ĐBSH trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, đó là những ngành nghề tiểu - thủ công nghiệp có từ lâu đời và đã được mở rộng khắp vùng ĐBSH còn tồn tại đến hiện nay, bao gồm cả những ngành nghề đã được sử dụng máy móc. 1. Vài nét về truyền thống. Theo một nhà nghiên cứu người Pháp1 thì đến năm 1724 Việt Nam đã có hầu hết các nghề thủ công. Sách Đại Nam nhất thống chí thời Nguyễn cũng cho thấy sự phong phú của các phẩm thủ công ở vùng ĐBSH: Tỉnh Hà Nội (bao gồm cả tỉnh Hà Đông và Sơn Tây) có tơ, bông, lụa trắng, trìu nam, là lĩnh hoa, sại nam, the hoa, the mình băng (có hoa lấm chấm), sa hoa nhỏ, nón lá, dầu nước, diêm tiêu, giấy sắc, các hạng giấy, quạt tre, ngói, nồi đất, chè, mật mía, đường đen, muối, bánh phục linh, cốm dẹp, cốm trộn đường, quai thao, rượu trắng. Tỉnh Ninh Bình có chiếu trơn, bông vải, đường mía, chè, mắm rươi. Tỉnh Hưng Yên có bông, vải, đường mía, mật, quạt lông, chiếu trơn. Tỉnh Nam Định có vải nhỏ trắng, thuốc lào, mật mía, nước mắm thơm, gạch và bát, đồ mã, quạt, đồi mồi, quạt tre, lược bí, hương nén, hương đen, giày (dép), lưới, chiếu, trứng tằm. Tỉnh Bắc Ninh có lụa trắng, vải trắng, vải thâm, vàng lá, sơn sống, dệt sại, đồ đồng, đò gốm, gạch

1

Dumoutier. Essais sus Tonkinois”, Hà Nội, 1908.

1

Nghề cổ truyền. 1993. nhiều lao động và nghệ nhân không phải trở về với sản xuất nông nghiệp. các nghề thủ công truyền thống vùng ĐBSH được phục hồi và phát triển. tự tiêu.5 tổng số lao động và 40% giá trị tổng sản lượng của TTCN miền Bắc4). mở cửa hiệu. Nxb Khoa học xã hội. thực phẩm. công cuộc cải tạo và phát triển xã hội chủ nghĩa đã chuyển các nghề truyền thống từ sản xuất tự sản. Tổng cục Thống kê. lập thành phố hàng Bạc (đầu thế kỷ XX là phố Đổi bạc – Rue des Changeurs)2 … Vào thế kỷ XIX. Tập IV. 1974. Hầu hết các cơ sở sản xuất TTCN được tổ chức vào ba loại hình sản xuất tập thể là HTX TTCN chuyên nghiệp.000 thợ chia làm các nhóm nghề: dệt. gấm.ngói. vào đầu thế kỷ XX vùng ĐBSH có 108 nghề thủ công với 215. riêng nghề dệt vải: tỉnh Hà Nội có 9 xã. 2 . Sở Văn hoá thông tin Hải Hưng xb. mắm ruốc 1… Trong quá trình phát triển. trang 364 Niên giám thống kê 1974.141. các làng nghề hình thành. tỉnh Nam Định có 8 xã. thợ làm vàng bạc làng Châu Khê. xây nhà. chiếm khoảng 50% số HTX. Tập IV. tổ sản xuất TTCN chuyên nghiệp và HTX nông nghiệp kiêm doanh. nghề mộc. Tập II. Sau đó người Châu Khê quy tụ thành phường. 1971. giá trị sản lượng là 356. tr. Hà Nội. Hội đồng nghiên cứu và biên soạn lịch sử tỉnh Hải Hưng. các nghề truyền thống đã chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Trung ương và địa phương (năm 1973. thôn. tỉnh Sơn Tây có 26 xã. chế biến nông sản. Về giá trị. Nxb Thuận Hoá. bút mực.9 triệu đồng. rượu trắng. thị trường tự do sang cơ chế kế hoạch hoá tập trung. kim hoàn. thợ nề làm gạch. Khâm định Đại nam hội điển sự lệ. 53. mạt mía. làm gốm. nung vôi. Từ thế kỷ thứ XV. đan lát. làm giấy và hàng mã. Hà Nội. thôn. nam sâm. lụa. hàng hoá rất phong phú đủ để cung cấp cho nhu cầu vốn còn hạn chế của nhân dân sau chiến tranh. Từ năm 1958 trở đi đến năm 1979. Số liệu năm 1973 cho thấy vùng ĐBSH có 1. lĩnh đã có tới 300 thợ chuyên3… Theo Pierr Gourou. Các nghề truyền thống đã làm nên đặc thù của vùng đất ĐBSH và dệt nên những vần thơ như: Ai về Đồng Tỉnh Huê Cầu Đồng Tỉnh ban thuốc Huê Cầu nhuộm thâm… Chiếu Nga Sơn. hương phụ. tỉnh Hải Dương đã được nhà Lê vời ra Hà Nội đúc bạc nén. Ví dụ về 36 làng nghề thuộc tỉnh Hải Hưng (nay là hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên) lúc đó thì có 21 làng được tổ chức vào làm ăn tập 1 2 Đại Nam nhất thống chí.725 lao động. trong điều kiện hoà bình. 1 thôn. tr. tỉnh Bắc Ninh có 15 xã. 1987. làm nông cụ. thôn. 82.289 HTX TTCN chuyên nghiệp với 269. 3 4 Nội các triều Nguyễn. gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định. Năng lực thực tế còn lớn hơn nhiều nếu như thành phần cá thể TTCN không bị triệt tiêu. Hải Hưng. Có làng dệt sầm uất như làng La Khê (Hà Đông) chuyên dệt các loại vải. lụa hàng Hà Đông… Đồng nát thì về Cầu Nôm… Sau năm 1954.

Báo cáo về nền kinh tế Việt Nam. thảm len. ngói. tỉnh Hà Tây (1957-1990). thảm đay.31. Sơn Tây. Huyện Lý Nhân trước đó chỉ có các nghề gạch. Hà Nội. chiếm trên 50% số cơ sở sản xuất TTCN miền Bắc2.000 lao động. Niên giám thống kê 1989. 1. tr. thêu ren. lưu thông dưới tác động của Hội nghị TƯ lần thứ 6 năm 1979. len tái sinh. 2 3 4 Niên giám thống kê 1986. Thành phần cá thể đã dần tăng lên.001 HTX nông nghiệp kiêm doanh.2 triệu đồng năm 1979 lên 147. 3 . Hoà Bình) vào năm 1980 các cơ sở dệt màn. trong đó có sơn mài. mành trúc. tỉnh có thêm 430 khung dệt khăn bông.500 lao động trong đó 1. mành tăm. Các tỉnh khác cũng có tình hình tương tự. Mặc dù vẫn còn bị ràng buộc bởi các quan hệ do cơ chế sinh ra những các nghề truyền thống đã có sự thay đổi theo cách tăng thêm mặt hàng. thảm đay. công cụ 1 Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. các nghề truyền thống vùng ĐBSH đã có sự chuyển biến. vải lụa. Hà Sơn Bình. 1988. đan lát thì đến năm 1980 đã có thêmc ác nghề mới như dệt thảm len. phân phối. riêng huyện Phú Xuyên có 96 nghề4. tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Nam Định) là một huyện chiêm trũng. móc sibôri. tăng số lượng lao động. 8-31983. Huyện Vụ Bản. Có cuốn sách ở địa phương lúc đó còn cho rằng năm 1980 ở Hà Sơn Bình đã có 164 nghề thủ công và nghề phụ. Đề án sản xuất mặt hàng dệt kim 1983-1985. Tổng cục Thống kê. Từ năm 1979 đến năm 1989 mặc dù vẫn tồn tại cơ chế kế hoạch hoá nhưng bước đầu chính sách kinh tế đã được đổi mới trên tất cả các lĩnh vực sản xuất.842. Từ năm 1981. nung vôi. sản lượng (1985) là 220 ngàn cái. Từ sau năm 1979. do nhu cầu dệt vải chéo xuất khẩu cho Liên Xô và Tiệp Khác. Các cơ sở cơ khí tiêu dùng đã làm thêm hàng nhôm.526 HTX chuyên. Một số nơi tổ chức làm thêm mặt hàng xà phòng. nhiều nghề bị mai một đi góp phần làm cho tình trạng thiếu thốn hàng hoá tiêu dùng trở nên trầm trọng. Nguyễn Đình Lễ.9 triệu đồng năm 19893.9 triệu đồng năm 1988 và 198. Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc. vào năm 1986-1987 có tới 16 mặt hàng xuất khẩu. Nghiên cứu Lịch sử số 41993 5 Liên hiệp xã tiểu . kiềng bằng phế liệu. số nghề thủ công ở tỉnh Hà Sơn Bình đã tăng lên 150 nghề so với 124 nghề trong những năm trước đó. Suy nghĩ về nghề sơn mài ở làng Giã Thượng. thảm đay.974 tổ sản xuất chuyên nghiệp và 6. Chẳng hạn ở tỉnh Hà Sơn Bình (gồm ba tỉnh Hà Đông. tỉnh có thêm 1. Năm 1983. 10 làng chưa có điều kiện tổ chức HTX. 1991. 1990.800 người. Hà Nội. khăn bông đã làm thêm mặt hàng tre đan xuất khẩu. nồi chảo gang. Giá trị sản xuất TTCN cá thể từ 9. thảm bẹ ngô. Bản Rônêô. Năm 1986. còn lại 5 làng không có điều kiện phát triển đã bị thất truyền… Đây là thời kỳ mà năng lực sản xuất của các nghề truyền thống bị hạn chế cao độ. Các cơ sở sơn mài làm thêm phần mộc và hàng mây song. lao động TTCN cá thể có 121. Cụ thể năm 1986 vùng ĐBSH có 10. hàng ren. Các cơ sở dệt tập trung ở vùng ven ông Đáy thuộc hai huyện Mỹ Đức và Ứng Hoà nơi vốn có tới 16 cơ sở dệt truyền thống 5. thảm bẹ ngô.thủ công nghiệp Hà Sơn Bình.044 cơ sở sản xuất TTCN với 535.840 khung dệt với 2. đó “là bước chuyển biến có ý nghĩa đầu tiên ra khỏi hệ thống kế hoạch hành chính tập trung hoá cao độ” 1. Hà Nội.thể dưới nhiều hình thức. nước chấm… Đến năm 1983. Tổng cục Thống kê.

400 lao động). Nghề thêu phát triển mạnh ở tỉnh Hà Sơn Bình. thị trường truyền thống Liên Xô và các nước Đông Âu không còn. Thái Bình. huyện Quốc Oai và huyện Ứng Hoà. Các nghề làm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu đã rất phát triển như: nghề làm hàng cói và đồ cói xuất khẩu gồm dệt thảm cói. Ở tỉnh Thái Bình và tỉnh Hà Nam Ninh lúc đó cũng có sản xuất mây tre đan nhưng số lượng ít hơn.TBCN”. Thường Tín.8 triệu đồng. cốc. vấn đề lương thực được giải quyết. Cùng với các biện pháp khôi phục và phát triển ngành nghề của nhà nước và các tỉnh.2 ngàn bộ. Năm 1980.5 triệu đồng (1970). thị trường xuất khẩu của các nghề truyền thống ngày càng mở rộng. 4 . Hải Hưng. Có những hộ nhận bao tiêu sản phẩm xuất khẩu đã bị phá sản. Tỉnh Thái Bình năm 1982 đã dẫn đầu về giá trị xuất khẩu toàn miền Bắc 54 triệu đồng so với 3. Có thể nói các nghề thủ công truyền thống vùng ĐBSH đã được phục hồi và phát triển từ sau năm 1979 và đây là bước tập dượt để chuyển sang cơ chế thị trường sau năm 1989.500 lao động làm hàng cói… Nghề chế biến đay phát triển mạnh ở Hải Hưng và Thái Bình. Có thể nêu lên một số điểm nổi bật dưới đây. Nhiều làng nghề. Năm 1989. giá trị sản lượng năm 1982 đạt 39. Ninh Bình có 5. riêng làng Đông Hồ ở tỉnh Bắc Ninh có tới 17 dòng họ làm tranh. Từ năm 1989 đến khoảng năm 1994 là thời gian các chủ sản xuất phải hướng tới thị trường tiêu thụ trong nước và các nước phát triển mà lúc đó gọi là thị trường “khu vực II . năm 1986 đạt 105. Tính chung tỉnh Thái Bình có đến 300 cơ sở chế biên đay và cói…Nghề mây tre giang đan phát triển mạnh nhất vẫn là tỉnh Hà Sơn Bình. vùng mành tranh tập trung ở thị xã Hà Đông.000 lao động chuyên làm hàng cói. tỉnh Hải Hưng sản xuất 685 ngàn mét khối thảm đay. đan các đồ cói bàn. và một phần ở Hải phòng. chiếu se đan. Làng Quất Động huyện Thương Tín có 140 lao động chuyên nghiệp và 600 lao động nông nghiệp kiêm doanh làm nghề thêu… Nghề làm tranh dân gian có ở một số nơi.640 triệu rúp/đôla). thảm . hệ thống tổ chức Liên hiệp xã Tiểu thủ công nghiệp TƯ và địa phương – tổ chức quản lý ngành dọc của TTCN Việt Nam giải thể. Huyện Xuân Thuỷ Nam Định có7. Trung Hà (5. Bởi từ đây người sản xuất phải tự lo “đầu vào” và “đầu ra” cho sản phẩm của mình. 226/269 xã trong tỉnh có từ 3-5 ngành nghề. hộ thủ công đã phải chuyển sang sản xuất nông nghiệp. Có thể nói đây là một “cú sốc” đối với các ngành nghề nông thôn nói chung. Ở trong nước. Vùng mây giang đan tập trung ở Phú Vinh. Hầu hết các nghề làm các mặt hàng xuất khẩu đã bị chao đảo. Huyện Kim Sơn. năm 1985 đạt 6. những yếu tố trên đã làm cho nghề truyền thống ở cả nước cũng như ở ĐBSH ổn định trở lại và dần dần phát triển. nơi sản xuất nhiều nhất là huyện Khoái Châu và huyện Phù Tiên. dưới tác động của chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. đĩa. đưa số nghề thủ công của huyện lên 15 nghề với 74 mặt hàng. Vùng tập trung tre đan là Ninh ở.đạp bụi tinh dầu xuất khẩu. Từ sau năm 1994 đến nay.6 triệu đồng (~ 2. Các nơi phát triển mạnh nhất Hà Nam Ninh. giày cói. Cùng thời điểm này. đời sống nhân dân ngày càng ổn định tạo sức mua tăng. với 50 nghệ nhân và hàng trăm lao động….

Thao Ngoại (Phú Xuyên). số liệu cho biết còn có sự khác nhau nhưng đều cho biết các tỉnh vùng ĐBSH cũng là nơi có nhiều làng nghề nhất so với cả nước và trong vùng ĐBSH. trong đó chủ yếu là đơn vị hộ (97%). Sau Hà Tây là tỉnh Thái Bình nơi có nhiều cơ sở công nghiệp địa phương. Hà Nam có 37 làng. Khoái Nội. Đông Cừu. Đức Trạch. Cụ thể: Thái Bình có 82 làng. trong 10 năm 1990-2000.2. trong đó Hà Tây đã có hơn 99.000 đơn vị ngành nghề. Quất Tỉnh (Thường Tín). thêu ở Thôn Nội. Riêng tỉnh Hà Tây 1 có 59. Hải Phòng có 80 làng. Nguyên Bì.. Đại Đồng (Phú Xuyên). Ỷ La (Hoài Đức). Ninh Bình có 161 làng. Từ Vân.860 cơ sở. Dệt kim.450 làng). cao nhất là tỉnh Hà Tây. Lưu Xá. Các chỉ số về ngành nghề nông thôn ở vùng ĐBSH thường đạt cao hơn so với các vùng khác trong nước. Chế biến tơ tằm ở Lương Phúc (Ba Vì). Từ 439 làng nghề năm 1995 tăng lên 731 làng năm 1998. Cống Xuyên (Thường Tín). nghề cào bông ở Văn Hội. Từ năm 1995 đến năm 2000. Phùng Xá (Mỹ Đức). nghề bông len ở Trát 1 Xin vẫn dùng địa danh là tỉnh Hà Tây vì đến 1-8-2008 Hà Tây mới thuộc Hà Nội. Thượng Yên. Dệt lụa. Về số làng nghề.450 cơ sở. bông vải sợi ở Trung Thượng (Ứng Hòa). Hướng Dương. Hải Dương có 42 làng. đan võng ở Thao Nội. phát triển làng nghề. Đô Quan. Hà Nam gần 10. Cổ Chất. Hữu Bằng (Thạch Thất). Mặc dù vẫn còn bị chi phối bởi yếu tố thị trường làm cho sản xuất không ổn định. tỉnh Bắc Ninh có tới 14. các tỉnh ĐBSH có 250 ngàn cơ sở công nghiệp địa phương so với dưới 600 ngàn cơ sở ở cả nước. đũi tơ tằm ở Vạn Phúc (Hà Đông). nghề may ở Tử Thuận. ren ở Thôn Trên (Thanh Oai). Đào Xá.350. Thạch Xá (Ứng Hòa). Xuân La (Phú Xuyên).. Nguyên Bì. Xem xét mạng lưới nghề và nhóm nghề chủ yếu nằm trong khu vực làng nghề ở Hà Tây vào năm 2005 cho thấy Hà Tây vẫn luôn luôn xứng đáng với danh hiệu “đất trăm nghề”. Hưng Yên có 39 làng. Đức Trạch. bằng 50% số làng nghề của cả nước (khoảng 1.651 cơ sở. Hạ Thái (Thường Tín). Bì Hướng. Bắc Ninh có 58. Bì Hướng. thì toàn bộ 11 tỉnh vùng ĐBSH trong số 36 tỉnh ở cả nước là điển hình về khôi phục. Bình Lăng. Đô Quan. dệt len ở La Phù (Hoài Đức). dệt vải ở La Dương (Hoài Đức). Phương Cù. Quất Lâm. 5 . Nếu tính theo đơn vị ngành nghề thì năm 2000. Đình Tổ. Quất Động. Hà Tây có 88 làng và Vĩnh Phúc có 14 làng. số ít nghề bị mai một đi nhưng hầu hết các nghề truyền thống trong vùng ĐBSH vần tồn tại và lan toả rộng. Hòa Xá (Ứng Hòa). Dệt in hoa ở La Nội. cả nước có 1.395 cơ sở. Thôn Trì (Mỹ Đức). Hà Nội có 40 làng. làng nghề vùng ĐBSH tăng từ 499 lên 581 trong đó làng nghề được hiện đại hoá có 54 làng. Theo Hội nghị Phát triển ngành nghề nông thôn các tỉnh phía Bắc tổ chức tháng 8-2000. Thôn Trung (Phú Xuyên). Số liệu của đề tài KH 02-08 thì cho biết số làng nghề ít hơn (do xét tiêu chí làng nghề cao hơn). Thượng Hiệp (Phúc Thọ). Thanh Thần (Thanh Oai). Thôn Thượng. Thôn Giữa (Thanh Oai). Nam Định có 90 làng. Lưu Xá. Quất Lâm. Dệt thảm ở Làng Đông (Phúc Thọ). Số làng nghề mất đi đã giảm từ 18 làng xuống 13 làng. Quất Tỉnh (Thường Tín).

Tân Tiến. tre. Nhân Hiền. Cao Xá Hạ (Hoài Đức). Từ Am (Thanh Oai). Rùa Thượng. Khảm trai ở Làng Ngọ. Thái Hòa. Chuông. Thương Yên (Phú Xuyên). Làng Thượng. Phú Lương Hạ.. Nghề đan cót nan ở Thế Trụ. Lưu Xá. xã Minh khai. Mọc Xá (Thanh Oai). Canh Hoạch (Thanh Oai). Phú Vinh. Thái Hòa (Thạch Thất). Bặt Trung (Ứng Hòa). Lưu Động. Đồng Trứ. Tây Sơn. Đại Phu (Quốc Oai). Xâm Dương III (Thường Tín). Phụ Chính. Nghề kim khí ở Dụ Tiền. Chế biến chè ở Bùi Thông.. Phú Hòa. Khê San. Văn Khê. Lưu Xá (Hoài Đức). Cụm làng nghề Dương Liễu. Chanh Hiên (Phú Xuyên). Mộc dân dụng ở Thượng Thôn (Đan Phượng). Thúy Hội (Đan Phượng). Làm mũ. Hạ Dục. 14. Mạnh Kỳ. Cự Đà (Thanh Oai). Điêu khắc ở Sơn Đồng (Hoài Đức). Vào năm 2002. Quế Sơn. Hữu Bằng. Trình Viên (Phú Xuyên). tạo 2. Tân Hòa. Đồi Ba. Cát Quế. Nguyên Hanh (Thường Tín). Trung Sơn. trước 6 . Phú Xuyên (Ba Vì). Mỹ Văn (Phú Xuyên). Nghề xây dựng ở Dị Nậu (Thạch Thất). Bằng Sở. Phương Nhị. Đan cỏ tế ở Đường La. Chẻ tăm hương ở Ba Dư.000 tấn mật. Phú Túc. thực phẩm ở Minh Hồng (Ba Vì). Quang Trung. Đô Tràm. Đồng Chàm. Yên Kiên. Vạn Điểm. Nghề tiện ở Thôn Trung. Tân Đô (Phú Xuyên). Chế biến nông sản. Rùa Hạ. Bối Khê. Nhị Khê (Thường Tín). Làm đồ sừng ở Thụy Ứng (Thường Tín). Văn Khê (Thanh Oai).000 tấn bún khô. Dư Dụ (Thanh Oai). thực phẩm của tỉnh. Lũng Vi. Thông Mùi (Thanh Oai). Trung Lập (Phú Xuyên). Trung Đỉnh. Thượng Đình (Thường Tín). Đống Vũ. Chế biến lâm sản ở Thôn Hạ. Quảng Nguyên. sơn tạc tượng ở Bối Khê. Làm giò chả ở Ước Lễ. Giế Thượng. Nhiếp ảnh ở Lai Xá (Hoài Đức). Định Quán. Thị Nguyên. Đức Giang. Đại Lô. Liên Tân. Gia Vĩnh. Làng Trung. Sơn mài ở (Hạ Thái (Thường Tín). Phú Lương Thượng. Đồng Vinh. Đại Nghiệp. Trung Cao. Mỹ Văn (Phú Xuyên). nón lá ở Liễu Châu.. Huyện Hoài Đức chiếm 1/3 số làng nghề chế biến nông sản. Làm hương đen ở Xà Cầu (Ứng Hòa). Văn Quang (Quốc Oai). Lê Dương. nghề cơ khí nông cụ ở Phùng Xá (Thạch Thất). Bặt Chùa.000 tấn.Cầu (Thường Tín). Lưu Thượng. Cầu Bầu (Ứng Hòa).000 tấn tinh bột. Tân Dân. Lam Điền. Đồng Vinh. thực phẩm của Hà Tây chủ yếu ở hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng và một số huyện thị vùng đồng bằng. Hoàng Trung (Thanh Oai). Đan guột tế ở Phí Trạch (Ứng Hòa). Tảo Dương (Thanh Oai). Hoàng Dương. Tiên Lữ. nghề da ở Giế Hạ. Minh Khai. Thép Thượng. Xâm Dương I. Quan Châu (Chương Mỹ). Sơn Đồng (Hoài Đức). nha. Nghề rèn ở Đa Sỹ (Hà Đông). Đạo Tú. Phụ Yên (Chương Mỹ). Tiên Lữ. Mây. Từ Sản. Thôn Trê (Mỹ Đức). giang đan ở Thông Đạt. Thôn Hạ. Tri Lễ. Bặt Ngõ. Mã Kiều. Phù Yên. Ngành chế biến nông sản. Thôn Trung (Đan Phượng).000 tấn miến dong. Bá Nội (Đan Phượng). Thượng Cung (Thường Tín). Phí Trạch (Ứng Hòa). Đồng Dài (Ba Vì). Khê Thanh. Canh Nậu (Thạch Thất). Phú Hữu 2 (Chương Mỹ). Đông Cựu. Hạ Hiệp. Hiếu Hiệp. Thôn Thạch (Thạch Thất). Tràng Sơn. Hoàng Xá. Dị Nậu. Ngô Đồng. Hoa Đường (Ứng Hòa). Tại Dương Liễu. Cát Quế. các làng nghề huyện Hoài Đức đã xay xát 25. Làm bún bánh ở Ngự Can. lương thực. Đồi 2. 33. Linh Chiểu (Phúc Thọ). Cao Lãm. Văn La.. Sơn khảm. Thanh Lương (Thanh Oai). Phú Gia (Phú Xuyên). Nguyên Hanh (Thường Tín). Kỳ Thủy. có giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ đạt gần 80 tỷ đồng/năm (2002). Phong Châu. Nghĩa Hảo. Hoài Khê Hạ (Phú Xuyên). Cộng Hòa (Quốc Oai). Dương Liễu. Phú Hữu 1. Liễu Nội. Phú Mỹ (Quốc Oai). Bình Xá. 12. Xâm Dương II. Trại Ro. Phụ Chính (Chương Mỹ).

Sơn mài. 10. làng Mễ Trì (Từ Liêm). Nghề chế biến lương thực. Đông Ngạc (Từ Liêm) . dây đay. làm bánh đa. khảm trai ở Vân Hà (Đông Anh). Làm vàng mã ở làng Ngũ Hiệp. Tranh tre ở Mai Lâm (Đông Anh). Nghề thêu. Hầu hết các huyện trong tỉnh đều có cơ sở gia công mặt hàng thêu. dệt lông vũ. tại thôn Đồi 2. chả ở Yên Viên (Gia Lâm). rá ở Kim Lũ (Sóc Sơn). công ty tư nhân 65 triệu và công ty TNHH 200 triệu. Văn Đức. làm nón ở Đại Áng (Thanh Trì). Nghề dệt may là nghề có truyền thống ở tỉnh Hà Đông cũ. Đậu phụ ở Võng La (Đông Anh). 19. Uy Nỗ (Đông Anh). làm bánh cuốn (Thanh Trì). thu nhập bình quân một hộ là 38. của một hộ cao nhất là 57 triệu. tre đan ở Đông Hội (Đông Anh). Nghề vàng bạc: dát vàng ở Kiêu Kỵ (Gia Lâm). đan lát ở Dương Quang. thực phẩm: làm bún ở Mễ Trì (Từ Liêm). đã tiến tới 3 . Chế biến dược liệu ở Ninh Hiệp (Gia Lâm). Điêu khắc đá ở Mai Lâm (Đông Anh). Trung Văn (Từ Liêm). đồ gỗ phun sơn ở Liên Hà (Đông Anh). Làm giò. Mây. ăng ten ở Tân Triều (Triều Khúc. theo số liệu điều tra nghề và làng nghề Hà Nội cuối năm 2003 của nhóm chuyên gia Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội Hà Nội thì hầu hết 30 xã đều có nghề thủ công nghiệp. Nghề đan lát: Chổi tre. Rèn ở Xuân Phương (Từ Liêm). 21. Xe đay. Làm bánh kẹo ở Xuân Đỉnh (quận Tây Hồ). dây thừng. Đại Kim (Thanh Trì). Dệt thảm ở Cổ Loa. Điêu khắc gỗ. Hai năm 1999-2000. bánh khúc ở Duyên Hà (Thanh Trì).4 địa điểm. Năm 2003. kim hoàn ở Định Công (Thanh Trì).năm 1990 có một điểm tập kết nguyên liệu. 6-2006.100 năm và 6 làng nghề mới hình thành phát triển tập trung vào các sản phẩm sau: Nghề gốm. Nghề làm đồ da Kiêu Kỵ (Gia Lâm. Luận án Tiến sĩ Kinh tế – 2006. dệt khăn là những nghề thu hút nhiều lao động nhất. số làng nghề chiếm 31% số làng nghề mây tre đan toàn quốc và tập trung ở huyện Chương Mỹ1. trúc ở Xuân thu (Sóc Sơn). 3. làng Thịnh Liệt (Thanh Trì). chiếm tỷ trọng trên dưới 90% tổng thu nhập trong làng. Cổ Nhuế (Từ Liêm). Kim khí. 9. Tỉnh Thái Bình vào năm 2003 có 95 làng nghề. trong đó 10 làng nghề có lịch sử hình thành trên 100 năm. 17.9 triệu và của một hộ cao nhất là 80 triệu. 7 .4 triệu. 3 Theo Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam. Về nghề mây tre đan. tổng giá trị sản xuất nghề dệt may của Hà Tây đạt 44 tỷ và 46 tỷ. làm bàn tre. 8. 2. Làng nghề Hà Tây trong quá trình công nghiệp hoá. Hiện tại. làm cốm ở làng Vòng (quận Cầu Giấy). 7. nghề dệt vải. giá trị xuất khẩu đạt 120 tỷ và năm 2003 là 330 tỷ. 4. Kim Lan. Mỹ Đình (quận Cầu Giấy). 12. Thanh Trì). 18. cán thép ở Dục Tú (Đông Anh). Hoàng Liệt (Thanh Trì). Liên Mạc (Từ Liêm). 16. Đa Tốn. Đông Mỹ (thanh Trì) 11. đan rổ. 5. miến ở Hữu Hoà (Thanh Trì). ở Phù Đổng. Có một số số liệu của tỉnh Hà Tây trong bài viết này dẫn theo: Đỗ Quang Dũng. Sài Đồng (Gia Lâm). chổi đót. dây nhựa ở Long Biên (Gia Lâm). thu nhập bình quân một hộ là 26. 15. May ở Kiêu Kỵ. Đông Dư (Gia Lâm). 6. 14. Hai thôn Thôn Đồi 2 và Phú Vinh là hai thôn có thu nhập cao từ hàng mây tre đan. năm 2003 140 tỷ2… Tại vùng ngoại thành Hà Nội. Năm 1999. 14 làng nghề từ 30 . 159/285 xã có nghề. gò. phường Yên Hoà (quận Cầu Giấy)3. sứ có ở Bát Tràng. đan lồng bàn ở Liên Ninh (Thanh Trì). số lao động nghề thêu toàn tỉnh có đến 1 2 Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2002. hàn ở Tây Mỗ (Từ Liêm). Thôn Phú Vinh. 13. làng Cót. dệt ở Đại Mỗ (Từ Liêm).

đạt doanh thu trên 100 tỷ đồng. rượu Làng Vân. Hồng Phong (Vũ Thư). tranh tre .000 lao động. bún bánh Mỹ Độ. toàn tỉnh Bắc Ninh có 58 làng nghề. dệt chiếu.000 lao động. Nghề làm kính ở Lịch Động (Đông Hng). nhôm Yên Phong. Tỉnh Ninh Bình cũng rất phong phú các nghề truyền thống. Riêng khu vực làng nghề đã tạo ra giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp 1. giá trị sản xuất làng nghề đã chiếm hơn 50% tổng giá trị toàn xã. hàng cói xuất khẩu. An Bài. thủ công nghiệp của toàn tỉnh. đạt giá trị hơn 60 tỷ đồng. Cao Đức (Gia Bình). thêu ren ở xã Đại Lại (Gia Bình). Nhiều xã. khảm trai ở Đình Bảng. làng Vế. Đình Phùng (Kiến Xương) với 10 doanh nghiệp. Từ 3 làng nghề mà nổi tiếng là Đồng Sâm (Kiến Xương) đã phát triển thành 4 xã nghề chạm bạc. 8 .500 lao động. xây dựng ở Nội Duệ (Tiên Du). Nghề dệt đũi phát triển mạnh ở các xã Nam Cao. 25 ngàn hộ chuyên nghiệp và hàng chục ngàn hộ không chuyên nghiệp sản xuất công nghiệp .30 tỷ đồng.. Vọng Nguyệt (Yên Phong).15 tỷ đồng. ren. hằng năm đạt doanh thu từ 14 . chiếm hơn 1/4 lực lượng lao động trong tỉnh. sản xuất hằng năm từ 7 đến 8 triệu lá chiếu các loại. sản lượng 6 triệu mét đũi/năm. sắt thép Châu Khê. Văn Cẩm (Hưng Hà). Nghề dệt khăn. Nghề dệt chiếu cói trước đây chỉ tập trung ở các xã Tân Lễ (Hưng Hà). nghề làm mộc ở làng Riệc. trên 90% số hộ trong xã có nghề thêu. làng Nứa (Hưng Hà). 16 tổ sản xuất và gần 2. Có các nghề mới nh nghề làm lông mi giả ở huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy. đến năm 2001. Nghề ươm tơ phát triển mạnh ở các xã Bách Thuận. Nghề truyền thống đã tạo việc làm cho hơn 350. Nghề đan cói ở huyện Kiến Xương và huyện Thái Thuỵ. nghề làm lưỡi câu cũng ở huyện Quỳnh Phụ và huyện Thái Thụy. gốm sứ ở Phù Lãng (Quế Võ).130 triệu khăn đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. làm đồ đá mỹ nghệ.13.. làm mộc. nghề mây tre đan ở Thượng Hiền (Kiến Xương).266 tỷ đồng. Huyện Yên Khánh có các nghề như mây tre đan.tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. nứa chắp. tập trung nhiều nhất ở xã Minh Lãng (Vũ Thư) với 9 doanh nghiệp. khai thác đá. đạt giá trị từ 150 . chế biến lương thực.000 lao động. nghề làm nón ở Thuỵ trình (Thái Thuỵ) 1.. Tỉnh Bắc Ninh hiện vẫn có nghề khảm trai ở Đồng Kỵ. đúc đồng Gia Lương. chiếm hơn 75% giá trị sản xuất công nghiệp. Thị Cầu (Thị xã Bắc Ninh). trên 4. An Dục (Quỳnh Phụ) đã lan rộng sang nhiều xã lân cận. giò trứng. sản phẩm làm ra hằng năm từ 100 . Con số và sự kiện số tháng 6-2002. dệt vải tập trung tại xã Thái Phương (Hưng Hà). Nghề chạm bạc có trên 2.. tranh Đông Hồ (còn ba gia đình nghệ nhân và một số ít gia đình khác). Song Hồ (Thuận Thành). Huyện Hoa Lư nổi tiếng với nghề thêu.200 tỷ đồng. tơ tằm ở Nội Duệ (Tiên Du). giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương và vùng lân cận. dệt nhuộm in hoa ở Tương Giang (Từ Sơn).000 người.sản phẩm mới ở Xuân Lai (huyện Gia Bình). làm bún…). Hoài Thượng. Chỉ tính riêng huyện Yên Mô có tới 11 làng nghề làm các nghề dệt vải. Theo số liệu của Báo Nông thôn ngày nay. giá trị gia công hằng năm đạt từ 17 đến 20 tỷ đồng. Lê Lợi. Phúc Khánh (thị xã Thái Bình) đạt giá trị sản xuất hằng năm từ 25 .000 hộ. làm nề. thu hút trên 10. sơn mài Tiên Sơn. giấy gió Yên Phong. thực phẩm (nem. nghề làm bánh đa ở làng Me (Hưng Hà). Đông Hà (Đông Hưng). Hàng thêu và hàng đá mỹ nghệ của Văn Lâm (xã Ninh Hải) đã nổi tiếng 1 Phát triển nghề và làng nghề ở Thái Bình thực trạng và giải pháp.

rèn Lý Nhân. Huyện Kim Sơn nổi tiếng với các sản phẩm đan từ cói… Thành phố Hải Phòng có các nghề đúc gang. sản xuất và chế tác máy nông nghiệp. nghề chạm khắc ở Châu Giang. hàng ngoại lấn át không còn thị trường tiêu thụ. Huyện Gia Viễn nổi tiếng với nghề đan cót. Minh Tân. Đông Ngạn. Trung Kiên.ở các nước Pháp. nghề ươm tơ ở làng Thái Hòa (Thái Thụy). chế biến thuốc lào ở huyện Vĩnh Bảo. Hà Nội). Trước sự biến động của cơ chế thị trường chỉ còn số ít những cơ sở. nghề ươm tơ ở Từ Đài. làng Diệc (Hưng Hà). Tỉnh Hà Nam có nghề dệt lụa ở Nha Xá. làng nghề tồn tại nhưng sản xuất mặt hàng mới. đan lát Triệu Đề. nhu cầu thị trường và thị hiếu của người tiêu dùng. mộc Bích Chu. huyện Tiên Lãng. Nam Cường.. thêu ren. Tài liệu Internét. dệt chiếu cói ở Lật Nêu. nghề nhuộm ở Thanh Loan (Bắc Ninh). giang ở Ngọc Động.. kim hoàn. mây tre đan Đình Cao. chạm khắc đá Tràng Kênh. Nam Hạ. hái thủ công… Tại Thái Bình những nghề đang bị mai một hoặc bị thu hẹp như đan võng đay. Nguyệt Đức. nghề mây tre đan An Hải. Thanh Lãng. làng nghề làm những mặt hàng cổ truyền còn hầu hết các cơ sở. hạt sen. nghề làm mắm ở Cát Hải.. giấy dó Bưởi. nghề mộc ở làng Vế. 9 . Bắc Bình. chạm bạc Phù Ủng. nghề làm bánh đa cua ở làng Dư (Hàng Kênh)…Sản phẩm gang dẻo của làng đúc Mỹ Đồng đã xuất khẩu sang Anh. nghề làm đậu phụ ngon nổi tiếng ở Đô Quan. 1 Khuyến công ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2010. Tiên Nội. nghề đóng cối xay.. nghề đúc đồng ở làng An Lộng (Quỳnh Phụ). làng nghề khác đều phải làm thêm những mặt hàng mới để tăng thu nhập và tồn tại. Hoàng Đan. nghề thêu ren ở Yên Vũ. cơ khí nhỏ.. cối giã ở tất cả các tỉnh trong vùng do công việc chế biến thóc gạo đã được cơ khí hoá. Tỉnh Hưng Yên có nghề đúc đồng Lộng Chương. nghề đan mây. Quang Phục. rèn sắt. tượng gỗ sơn mài ở Bảo Hà. nghề làm trống ở Đọi Sơn. mây xiên Cao Phong. tre. rèn ở Mỹ Đồng (Thuỷ Nguyên). làng hoa Đằng Hải. Tỉnh Nam Định cũng có rất nhiều nghề tiểu thủ công. rượu Trương Xá. bạc ở Kiêu Kỵ (Gia Lâm. Những nghề mất đi như nghề làm giấy sắc ở Nghiã Đô. Italia và nhiều nước khác. thuộc da Lưu Xá. Núi Voi. tương Bần. song. mây tre đan An Tường.... Austrâylia. Có những nghề bị thu hẹp như nghề dát vàng. một số nghề đã bị mai một hoặc mất hẳn do bị hàng công nghiệp. Do sự phát triển của công nghiệp. nghề chạm bạc ở làng Kim Lậu (Đông Hưng). gốm sứ Cộng Hiền. nghề rèn liềm. Trang Công nghiệp địa phương. Cầu Giấy (Hà Nội). thêu Liên Mạc1. nghề lụa ở làng Bộ La (Vũ Thư). long nhãn Hồng Nam… Tỉnh Vĩnh Phúc có nghề gốm Hương Canh. Chỉ tính riêng huyện Xuân Trường đã có những nghề thủ công mỹ nghệ như đúc đồng. nghề mây tre đan ở làng Cổ Rồng (Tiền Hải). cơ khí.

3-2004.. Từ khi làng tranh Đông Hồ không phát triển. sơn mài.Hà Tây). Nghề làm đồ mỹ nghệ bằng sừng trâu.7 tỷ đồng (2002). Vào năm 2003. giấy cho làm ngòi pháo cho làng Bình Đà. Nghề làm tranh Đông Hồ đến giữa những năm 90 đã không phát triển mà chuyển sang nghề làm hàng mã. Trước năm 1995 chỉ sản xuất đồ thờ đơn giản như bàn thờ.. làng Phú Mỹ còn sản xuất thêm mũ các loại và chổi chít. nguyệt san. nhờ đó nghề gốm sứ phát triển rất sầm uất lan rộng sang 4 làng. sau đó sản xuất các mặt hàng giả cổ để xuất khẩu đi Mỹ. huyện Hoài Đức (Hà Tây) có sản lượng khoảng 6. (Thanh Trì. chỉ còn một HTX Tân Triều sản xuất đăng ten. Tình hình trên cũng diễn ra ở các nghề khác như nghề làm đồ thờ tự ở làng Sơn Đồng (Hoài Đức . Lịch Động làm kính mắt với sản lượng mỗi ngày hàng vạn chiếc.000 lao động tập trung sản xuất đồ thờ tự bằng gỗ. câu đối. Trong thời kỳ bao cấp Lịch Động phải chuyển sang làm mặt hàng như bút máy nhãn hiệu Trường Sơn. Quốc Oai (Hà Tây) chỉ phát triển trở lại sau khi tìm được thị trường xuất khẩu đi hai tỉnh Quảng Đông. Đài Loan. huyện Đông Hưng.. Hà Tây) có từ hàng nghìn năm vẫn tồn tại bằng việc nhập khẩu nguyên liệu vỏ trai. hàng vài chục công ty lớn.. cả xã có hơn 4. Hàng chục năm lại đây. Nghề khảm trai đã lan rộng ra cả xã. Cứ thị trường thiếu mặt hàng nào thì cả làng tập trung sản xuất mặt hàng đó như một “chiến dịch”. lông vịt đã chuyển sang làm rất nhiều nghề. trong đó có hơn 100 ông chủ có thuê từ 5 . tỉnh Thái Bình vốn có là mộc. Làng Triều Khúc. cả làng có 98% hộ sống chủ yếu bằng nghề làm đồ sừng. Nghề làm nón ở làng Phú Mỹ. Bát Tràng đã cải tiến lò nung và mẫu mã phù hợp với từng loại thị trường trong nước và có thị trường nước ngoài. Nghề làm kẹo bán ở làng la Phù. với doanh thu 2527 tỷ đồng/năm (2004)1. cho việc viết hoành phi. Singapore. nguyệt san. Năm 2003.800 tấn với doanh thu 48. Nghề làm giấy dó chỉ còn chừng 10 hộ. Nhưng do không cạnh tranh được với kẹo Trung Quốc nhập ồ ạt vào Việt Nam nên người La Phù chuyển dần sang sản xuất quần áo len xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. khảm. làng Đông Hồ đã trở thành nơi sản xuất hàng mã lớn nhất của miền Bắc thay cho nghề tranh truyền thống gần 500 tuổi2… Nghề làm giấy dó ở làng Dương Ổ chuyên cung cấp giấy cho làng Đông Hồ vẽ tranh. buôn lông gà. quai thao. Báo Nông thôn Ngày nay.50 lao động. Nghề khảm trai ở Chuyên Mỹ (Phú Xuyên. Hà Nội) từ sản xuất khuy trai. sơn son thiếp vàng. câu đối. Quảng Tây (Trung Quốc). sừng bò ở làng nghề Thụy Ứng (Thường Tín. xã khác vơi hàng chục ngàn lao động. ốc từ Trung Quốc và Singapo. Ngoài làm nón. Hà Tây) vốn có từ thế kỷ 19 là một trong những làng vẫn còn duy trì nghề cho đến hiện nay. tua cờ… 1 2 Báo Nông thôn Ngày nay. Làng Lịch Động thuộc xã Đông Các. 9-2001.Làng gốm Bát Tràng đầu những năm 90 đã từng sản xuất thêm mặt hàng mới là sứ xây dựng và gạch men tiêu thụ chủ yếu ở thị trường miền Trung và Nam Bộ. làng Bình Đà bị cấm sản xuất pháo thì Dương Ổ phải chuyển sang sản xuất giấy viết. Từ cuối những năm 80 đến nay. giấy vệ sinh và các loại bao bì giấy. Từ năm 2001. 10 .

. Thái Bình.. Đài Loan.. năm 2004 đã có 200 kiốt và sản xuất 2 triệu m2 lụa. bàn ăn. Khăn của Vạn Phúc làm ra nhiều chủng loại (phần thêu thuê thợ Quất Động. Kể cả những nghề chế biến thực phẩm như làm đậu phụ. làng thêu Quất Động. phù hợp với nhu cầu du khách. đến năm 2004 đã mở mới 6 tour du lịch làng nghề kết hợp với khu di tích lịch sử. Hàng Đào. Hàn Quốc. bánh cuốn. Hình thức quảng bá sản phẩm thông qua du lịch làng nghề đã bước đầu được áp dụng ở một số tỉnh như Hà Nội. và thông qua sự quảng bá du lịch đã được xuất đi các nước và lãnh thổ Mỹ. làng lụa Vạn Phúc chỉ có 5 kiốt bán hàng. cờ phướn... Thợ gói bánh chưng ở hai làng này còn được “xuất khẩu lao động” ra Hà Nội. bàn lễ. Hàng Lược (Hà Nội). Xlôvakia. Hà Tây. Một số cơ sở sản xuất bánh chưng Tết ở Hà Nội thường gói khoảng trên dưới 2.". Hà Tây. Ở Ninh Bình có tuyến du lịch qua làng thêu ở huyện Hoa Lư. Libi. bánh gai… ở một số làng cũng hành nghề tại các đô thị và nhiều nhất là Hà Nội.000 chiếc bánh/ngày và năm nào cũng phải thuê thợ của các làng này. phố Cầu Gỗ (Hà Nội). ga trải giường. Nga. Ở Hà Nội có tuyến du lịch sông Hồng qua làng gốm Bát Tràng. Nhật Bản. Cả làng tấp nập suốt đêm để kịp cung cấp hàng cho Hà Nội vào sáng sớm hôm sau. danh nhân văn hóa như ở dệt lụa Vạn Phúc. Hàng Trống. Xuân Phương (Nam Định) và một số tỉnh khác đã tiêu thụ ở phố Hàng Quạt. Nhiều gia đình thu nhập được 40 . Hàng Gai. huyện Thường Tín (Hà Tây) gói tới 400-500 kg gạo nếp làm bánh chưng. các nghề truyền thống có xu hướng di chuyển ra thành thị nhất là các thành phố lớn và nước ngoài bằng các hình thức đặt cơ sở sản xuất. mở đại lý bán hàng. Thợ giỏi có thể gói 500 chiếc bánh một ngày. Pháp. Ở tỉnh Hà Tây. Hàng khảm trai của Chuyên Mỹ được ký gửi tại các phố Hàng Gai. khăn phủ bàn thờ. thu được 20 . sản xuất khoảng 8 vạn m2 lụa/năm.. xã Ninh Xá. mây tre đan Phú Vinh. áo ngắn thời trang. Séc. huyện Thanh Trì. Hàng Ngang. Hàng đúc đồng ở của làng Lộng Chương (Hưng yên) được ký gửi chủ yếu tại đại lý trên phố Hàng Đồng .Trong tiêu thụ sản phẩm..Hà Nội.Thường Tín). Hà Nội) cũng vậy. phố La Thành Hà Nội là nơi đặt cơ sở sản xuất của nghề mộc thuộc nhiều tỉnh trong vùng Nam Định. Nam Định) thường có đường ren rua bô-đê rất hợp với khách phương Tây. trướng lọng.. Nhờ có du lịch việc tiêu thụ sản phẩm tăng rõ rệt. Trước năm 2001.60 triệu đồng lợi nhuận từ gói bánh chưng. Ninh Bình. làm bún. Từ chiếc khăn tơ tằm. Vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm.. các huyện ngoại thành Hà Nội. trùng tu cung đình Huế. Vào những năm đầu thập kỷ 90. danh thắng. (Hà Nội) gồm áo dài. xuất khẩu lao động… Ví dụ. Đức. khảm trai Chuyên Mỹ. Có thể tìm thấy hiệu may và thợ may áo dài của làng Trạch Xá (Hà Tây) ở thành phố Hà Đông và phố Lương Văn Can. Hàng thêu của làng Quất Động (Hà Tây). Hàng Bông. Riêng hàng thêu Xuân Phương (Xuân Trường.. Làng Chanh Khúc (xã Duyên Hà..30 triệu. mỗi gia đình ở làng Sâm Dương.. làng Sơn Đồng luôn có một đội khoảng 30 người thợ thường xuyên đi làm hợp đồng cải tạo. tơ se giá 70-80 ngàn đến những chiếc khăn làm bằng tơ đay chỉ 15-20 ngàn1. 1 Báo Tài nguyên và Môi trường 21-11-2006 11 . riêng vào dịp Tết.

. nâng cao năng suất lao động. hiện đại hoá. đặc biệt là lao động trong các nghề thủ công mỹ nghệ. Ví dụ.2.7 máy. nhiều cụm CNLN ở vùng ĐBSH đã ra đời. nhà máy của công ty Thiên Phước bắt đầu sản xuất. 12 .. Trường hợp công ty TNHH Thiên Phước (Bát Tràng) là một ví dụ. Đài Loan. men kết tinh. men rạn. Mỗi ngày. Nhật Bản. Cụm công nghiệp làng nghề (CNLN) xã Châu Khê được xây dựng không chỉ là cụm CNLN đầu tiên được xây dựng ở Từ Sơn . Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 925 giao 13. Mỹ. đào tạo. Trong điều kiện chưa có Cụm CNLN. trên địa bàn cả nước đã có hàng nghìn lao động tại các làng nghề được tập huấn. người ta bắt đầu trình Dự án "Cụm công nghiệp làng nghề sản xuất thép xã Châu Khê" với Chính phủ. giả cổ. một hướng đi mới của các nghề truyền thống. Đến năm 2004. một trung tâm sản xuất thép lớn hình thành từ nghề cơ khí ở làng Đa Hội. hình thành đội ngũ thợ thủ công trẻ có tay nghề và có kiến thức quản lý doanh nghiệp. Hầu hết các nghề truyền thống đều tiến hành cải tiến công cụ theo hướng công nghiệp hoá. CTTNHH đã tiến hành thuê mặt bằng tại địa phương khác. ngoài việc giải quyết lao động trong xã. đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trước yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất. Đức.500 lao động ở các nơi khác đến làm thuê. Thời kỳ đầu là sự nhận chuyển giao các công nghệ và thiết bị cũ từ các cơ sở công nghiệp quốc doanh.. góp phần cải thiện điều kiện làm việc. Hàn Quốc.500 m2. các nghề truyền thống ở cả nước cũng như ở ĐBSH đều có xu hướng đầu tư thay đổi thiết bị công nghệ và con người có trình độ kỹ thuật vào sản xuất ở nhiều mức độ khác nhau.000 . của nước ngoài (Trung Quốc là chủ yếu) hoặc của thành phố. hộ nhiều có 5 . công suất đạt 20 triệu sản phẩm/năm. Sau là sự đan xen việc nhập thiết bị cũ với đầu tư trang thiết bị mới hiện đại. một số cơ sở lớn nhất là các CTTN. chất lượng sản phẩm.800 ngàn tấn thép. Nhất là từ năm 2000. là do biết kết hợp kỹ thuật truyền thống làng nghề Bát Tràng với công nghệ tiên tiến hiện đại. nghề cơ khí ở xã Châu Khê (thuộc huyện Từ Sơn. cả xã có khoảng 560 hộ sản xuất thép. Từ năm 19992004. Vào năm 2000. trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn đã tăng cường việc áp dụng các công nghệ sử dụng nhiên liệu mới. như dùng ga thay than trong sản xuất đồ gốm. Cuối tháng 9-2000. Sản phẩm sứ của Thiên Phước có màu men đặc trưng đỏ máu bò. Mặc dù thỷ lệ chưa cao nhưng thực tế trong những năm qua.5 ha đất nông nghiệp trên địa bàn xã cho Ban Quản lý Dự án. tỉnh Hưng Yên để xây dựng nhà máy sản xuất sứ với tổng diện tích 9. Anh. “tỷ phú” có xuất thân từ sản xuất ngành nghề truyền thống đã xuất hiện. Nhiều doanh nhân. men caladon.2 máy cán thép. cơ sở nào có sự đầu tư lớn về mọi mặt thì ở đó làm ăn ngày càng phát triển. Châu Khê còn thu hút từ 2. Canađa. 90% sản phẩm của công ty được xuất khẩu đi nhiều nước và được đặc biệt ưa chuộng tại Pháp. thay đổi mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu với số lượng lớn.3. mỗi hộ có ít nhất 1 .Bắc Ninh mà còn là cụm CNLN đầu tiên của cả nước. huyện Văn Giang. thành phố Bắc Ninh). sứ… Trong 4 năm 20012004. đa dạng về chủng loại. Từ đó xuất hiện hiện tượng là ở đâu. Sau Châu Khê. dùng nguyên vật liệu mới. từ tháng 6-1999.. Người ta tính rằng mỗi hộ sản xuất 4 tấn/ngày thì mỗi năm Châu Khê tung ra thị trường từ 700 . Thiên Phước là một doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư 5 tỷ đồng và thuê đất tại xã Phụng Công.

huyện Gia Lương. mỗi hộ có 10 . 13 . 37. Năm 2003. tăng năng suất và giảm nhọc nhằn cho người lao động. xe máy. 20-8-2004. Báo Diễn đàn Doanh nghiệp số 94 ra ngày 24-11-2006. cơ sở thêu mức độ cơ giới còn nhỏ bé. Đài Loan.5 sử dụng nhiều máy móc.. bún khô. Làng Quảng Phú Cầu có nghề chẻ tăm hương lâu đời..Vĩnh Phúc) phục hồi được nghề rèn là nhờ nhanh chóng áp dụng khoa học vào sản xuất. Khá nhiều công đoạn được thực hiện bằng máy hoặc kết hợp thủ công và máy. phin pha cà phê.5% làng hoàn toàn sử dụng công nghệ thủ công. Dương Liễu mua dây truyền liên hoàn sản xuất miến. Làng rèn Lý Nhân (Vĩnh Tường . tỉnh Bắc Ninh cũng là một ví dụ về sự cần thiết phải áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất trong nghề truyền thống. mỗi xưởng sản xuất lớn có 12 .000 máy dệt. Báo Khoa học và Đời sống số 7-1364.Theo điều tra của Cục Thống kê Hà Tây năm 2003. máy cán thép. Các nghề đan mây tre. máy cắt tăm1. 100% số hộ đã trang bị máy dệt len. tính chung cả làng La Phù đã đầu tư 65 tỷ đồng cho mua sắm thiết bị. Làng đúc đồng Đại Bái thuộc xã Đại Bái.200 sức người3. sản phẩm xuất sang Trung Quốc. xây dựng nhà xưởng và năm 2003 là 130 tỷ đồng. Có 25 hộ sản xuất lớn sắm máy sát tăm. Singapo. Có 75% số hộ sản xuất phụ tùng xe máy. Làng Rùa đã có 40 .200 hộ sản xuất các mặt hàng nhôm. Làng Hữu Bằng có trên 40 chủ may mặc lớn. trang bị máy móc chuyển sang sản xuất phụ tùng xe đạp. nứa/năm. từng bước cơ khí hóa. vỏ phích. Một số gia đình có vốn đã mua máy cán nhôm và máy miết cải thiện điều kiện lao động. bánh phở. một hộ làm nghề dệt ở làng Vạn Phúc có ít nhất 3 máy dệt. cả xã có 1. Nhưng máy loại nhỏ này năng suất thấp. trong số các làng nghề điều tra có 62. năng suất tăng 20 . 5% số hộ làm dịch vụ cho các xưởng. Nhiều 1 2 3 Thời báo Kinh tế Việt Nam số 133. Làng Rùa (Thanh Oai) bỏ sản xuất sản phẩm nhỏ lẻ với lò rèn cổ truyền.. máy cắt gọt kim loại. máy cơ khí nhỏ và phụ tùng như ốc. máy búa có khả năng thay thế 100 . Riêng 30 hộ kinh doanh đã tiêu thụ 200 .250 tấn vầu.. Những năm cuối 80 nghề đúc đồng lâm vào cảnh khó khăn dân làng phải chuyển sang sản xuất hàng loạt các mặt hàng bằng nhôm như xoong. có thu nhập cao hơn làng Đa Sĩ vốn giữ công nghệ và mặt hàng cũ. chủ yếu ở khâu sơ chế ban đầu. khay đựng ấm chén. sản phẩm thiếu độ nhẵn bóng do có vết búa nên khó tiêu thụ. Trong 2 năm 2001-2002. Cả làng có tới 700/1. xưởng nhỏ 10 lao động.50 xưởng sản xuất cơ khí lớn có 30 lao động.30 lần2. vít bằng công nghệ mới. Các hộ đã trang bị máy mài (máy rèn). từ 12-2 đến 18-2-2001.15 máy. Nhiều hộ ở Minh Khai.15 máy may công nghiệp… Bình quân một hộ trong làng có số vốn là 100 triệu đồng.

000 hộ với gần 60. Có thể nói đây là những người có khả năng kinh doanh. 196 HTX kinh doanh và sản xuất thu hút trên 12. gần 200 doanh nghiệp sản xuất giấy các loại. xã Phong Khê. mua nguyên liệu. lĩnh vực kinh doanh là tổ chức sản xuất mặt hàng truyền thống. Dương Ổ còn có 50 kỹ sư ngành giấy và hàng ngàn lao động ngoại tỉnh về lao động cộng tác. Theo thống kê của xã năm 2005.000 lao động ở Quốc Oai và các tỉnh Thái Bình. có kỹ thuật và tay nghề cao biết nắm bắt cơ hội của sự đổi mới chính sách của Đảng và Nhà nước. nghệ nhân đã thay đổi hướng đầu tư trở thành những chủ doanh nghiệp. năm 1999 có 14 công ty tư nhân. giải quyết việc làm cho người lao động. chưa có loại hình công ty TNHH. sắm những cỗ máy dập cỡ lớn (máy kích thủy lực) giá tới hàng trăm triệu đồng. Ở Hà Tây chỉ tính riêng khu vực làng nghề. Họ đã tiến hành ký kết những hợp đồng. cơ sở ông Nguyễn Văn Phúc đã đầu tư dây chuyền tẩy bột giấy hàng trăm tỷ và ông còn đi khắp cả nước để tìm chuyên gia… 4. Chương Mỹ (Hà Tây). 24-9-2006. doanh nhân lớn điều mà thời kỳ trước đây chưa có. ngoài việc thay đổi thiết bị công nghệ làm giấy còn biết thu hút “chất xám”. Thuỵ Điển tìm chuyên gia về làng tư vấn cách làm giấy. vay vốn trong nước hoặc nước ngoài. 14 . bao tiêu sản phẩm… với tư cách chủ doanh nghiệp. Ở làng nghề Đồng Kỵ (Đồng Quang. với giá trị dây chuyền 700 triệu đồng còn mời ông Nguyễn Văn Tuyết. công ty TNHH ngày càng tăng. huyện Phú Xuyên có 4 công ty tư nhân và 8 công ty TNHH. 3 DNTN và 53 HTX thu hút 1 Báo Tuổi trẻ cuối tuần số 38. Số lượng các công ty tư nhân. gấp 4 lần sản lượng của nhà máy giấy Bãi Bằng lúc đó1. công ty Tiến Động kinh doanh ngành mây tre đan có quy mô lớn từ khâu pha chế nguyên liệu đến đóng conternơ xuất khẩu. đến năm 2003 đã 49 công ty tư nhân và 86 công ty TNHH. Từ nghề truyền thống một số chủ cơ sở sản xuất. thị xã Hà Đông có 3 công ty TNHH… Ở huyện Quốc Oai. có vốn.gia đình lại phải tiến hành đổi mới thiết bị. sản lượng các loại giấy của làng là 400. Cả làng có đến hàng chục công nghệ của Đài Loan (3 tỷ đồng). Ngoài 80% số hộ (trong số 350 hộ). Giấy của Dương Ổ đã được xuất sang Nam Phi và các nước Bắc Âu. Từ Sơn) có 15 công ty TNHH. chỉ tính trong 62 làng nghề ở Bắc Ninh đã có 72 công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). công ty tư nhân (CTTN) hay công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH).000 tấn. 5 triệu so với 3 triệu) với đầy đủ chế độ đãi ngộ. luôn thu mua hàng của 2. Năm 2003. Phó Giám đốc Nhà máy giấy Việt Trì về làm phó Giám đốc xí nghiệp cho mình (với mức lương cao gấp gần hai lần lương Nhà nước. doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Công ty có nhà máy trên diện tích 5 ha ở điểm công nghiệp Biên Giang (Hà Đông). Năm 2003. Hà Nam. ngành nghề mới hoặc làm dịch vụ. huyện Yên Phong (Bắc Ninh). Giá trị sản xuất đạt 560 tỷ đồng chiếm 75% giá trị công nghiệp ngoài quốc doanh và 28% giá trị sản xuất công nhiệp toàn tỉnh.000 lao động. Các chủ ở Dương Ổ còn đi Trung Quốc. huyện Chương Mỹ có 16 công ty TNHH. Tính đến năm 2000. Cơ sở ông Nguyễn Văn Bào ngoài việc sử dụng công nghệ của nước ngoài và tự cải tiến các công nghệ cũ. Làng Dương Ổ.

Thái Nguyên. đồ dùng bằng da và giả da. Những năm đầu theo cơ chế thị trường. ví. thuê mướn lao động. 75% sản phẩm của công ty làm theo đơn đặt hàng trong nước với hệ thống đại lý có ở các tỉnh Bắc Giang. công ty đã có cơ sở hơn 2.3. giày. là một trong những người tìm hướng làm ăn mới cho dân làng Phương La. sau đó với nước Nhật và các nước châu Âu. thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương trên cả nước. Đến năm 2000.. Vũ Đình Mạch. rồi nhập khẩu gỗ từ Lào về nước.000 lao động các địa phương. ví da. Đài Loan. Chủ nhiệm HTX dệt Thái Phương là một trong những người đầu tiên chuyển cơ sở dệt từ làng Phương La ra thị trấn Hưng Hà. thắt lưng. tổng doanh thu của công ty đạt hơn 4 tỷ đồng. Hải Dương… Số còn lại xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường nước ngoài như Nhật. kết hợp kỹ thuật thủ công và máy móc hiện đại cũng ngày càng xuất hiện nhiều chủ tư nhân lớn như gia đình ông Vũ Xuân Tàu. Đã có sự liên kết với làng Đa Hội sản xuất thép xuất khẩu sang Lào. thị xã Thái Bình. doanh thu xuất khẩu gần 500 triệu đồng. Đầu tiên là các nước Lào. 8 Huy chương Vàng liên tục về uy tín và sản phẩm Việt Nam chất lượng cao. Các ông chủ của thời đổi mới bắt đầu xuất hiện vừa phát triển sản xuất để tiêu thụ trong nước vừa tìm cách tiếp cận với thị trường nước ngoài. Hàng chục năm lại đây. Các doanh nghiệp còn mở 230 cửa hàng bán sản phẩm ở Trung Quốc. Công ty được thành lập năm 1992 tiếp nối nghề may da truyền thống của cha ông để lại. Công ty Ladoda đã được Thủ tướng Chính phủ đã tặng Cờ thi đua và Bằng khen. cả làng cũng bị chao đảo.. Phương La không ngừng đổi mới công cụ và thu hút hàng chục ngàn lao động địa phương sản xuất hàng khăn mặt xuất khẩu cho Phương La.. huyện Hưng Hà (Thái Bình) vốn là làng dệt.. Hàn Quốc. tiêu biểu là Công ty TNHH Ladoda của ông Đinh Quang Bào. Campuchia. Nghệ An. Nghề dệt Phương La đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn góp phần giải quyết vấn đề xã hội ở địa phương Thái Bình nói chung và đặc biệt ở huyện Hưng Hà. ca táp công chức.. Vũ Văn Còi. Italia. xã Thái Phương. lao động không có việc làm phải quay về sản xuất nông nghiệp. túi. với các mặt hàng chủ yếu là ba lô. dép da. Nghệ nhân Trần Văn Sen.6 tỷ đồng. giày dép. 15 . Công ty đã luôn chú trọng đến việc nâng cấp đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại. Đức. Tuy nhiên chỉ sau thời gian không lâu làng Phương La đã tiến hành đổi mới công cụ. cặp học sinh. Làng Phương La..000 lao động tại chỗ và hơn 2. Một số cơ sở sản xuất bắt đầu di chuyển địa điểm ra thị trấn Hưng Hà. hơn 200 thợ lành nghề không kể những hộ làm vệ tinh. Nghề làm đồ da ở làng Kiêu Kỵ. Phương La chuyển đổi sang nghề dệt khăn mặt tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm chính là các loại cặp. nhập máy móc hiện đại. Vũ Văn Thông. đổi mới công cụ. Đức. 8 tháng đầu năm 2000. túi da.500 m2 nhà xưởng sản xuất gồm 4 dây chuyền công nghệ hiện đại của Nhật. Sau thời kỳ bao cấp nghề dệt vải không còn chỗ đứng. nộp ngân sách gần 100 triệu đồng. tìm hướng tiêu thụ sản phẩm và lợi thế lao động. Thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng được mở rộng đã đòi hỏi Phương La phải mở rộng quy mô.. trong đó doanh thu công nghiệp đạt hơn 3. huyện Gia Lâm (Hà Nội) cũng xuất hiện nhiều chủ tư nhân. Nghề mộc ở làng Đông Giao thuộc huyện Cẩm Giàng (Hải Dương) chuyên sản xuất đồ mộc cao cấp.

760 tấn sản phẩm/năm. Phương La còn có 80 hộ đang làm nghề dệt và tiêu thụ sản phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh có doanh thu trên một tỷ đồng/năm2… Một vài nét khắc hoạ như trên đã cho thấy vùng ĐBSH vẫn là nơi tồn tại hết sức phong phú các nghề thủ công truyền thống. năm 2006.500 tấn/năm. doanh số nhiều trăm tỷ đồng/năm. chuyên sản xuất khăn bông các loại để xuất khẩu. Tổng sản phẩm trên 1. Làng Phương La có 90 hécta ruộng hàng năm phải thuê tới 14. nông thôn trong các nghề truyền thống. giữ ruộng. 100% số hộ làm nghề dệt. làng Phương La có 5 doanh nghiệp lớn doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm. 2005. kinh doanh xuất nhập khẩu Hương Sen. 5 doanh nghiệp lớn. 5. xuất khẩu 90% số sản phẩm (khoảng 5. trong đó 95% sản phẩm xuất khẩu. Công ty có dây chuyền sợi.Đến năm 2005. Ngoài những doanh nghiệp nhỏ tại làng. thu hút trên 1. 4. Nxb Giao thông vận tải. Ngoài sự đóng góp quan trọng trong kinh tế. kinh doanh nước khoáng Vital.000 lao động thường xuyên. đóng kiện xuất khẩu… Tổng sản phẩm 5. Công ty sản xuất. các nghề truyền thống đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho rất đông lao động nông thôn. Đến năm 2006. Hiện nay bia “Đại Việt” có công suất 50 triệu lít/năm và là một trong 84 thương hiệu mạnh Việt Nam. 16 .000 lao động thường xuyên. 1 2 Lưu Vinh.000 lao động. làng có 1. thu hút 2. Tư liệu thực tế năm 2006.184 tấn). các nghề truyền thống đã dần thích nghi và phát triển với nhiều yếu tố mới mà trong thời kỳ bao cấp chưa có nhưng vẫn lưu giữ được những yếu tố truyền thống. Sau một thời gian chao đảo do phải chuyển đổi cơ chế mới. 2. Công ty sản xuất bia đen Beyker (nay là bia Đại Việt) bằng thiết bị công nghệ của Cộng hoà Liên bang Đức.500 lao động là cán bộ nhân viên tiếp thị trên thị trường cả nước.300 nhân khẩu.600 lao động chuyên sản xuất khăn bông các loại.000 tấn/năm trong đó 95% sản phẩm xuất khẩu. Doanh nhân Việt Nam nụ cười và nước mắt. Hiện tại. Doanh nghiệp “Xí nghiệp dệt Hồng Quân”. mỗi năm sản xuất hàng ngàn tấn sản phẩm xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. do nghệ nhân dệt Trần Văn Sen1 làm Tổng Giám đốc hàng năm công ty thu hút 6.000 lao động.000 máy dệt với 3. Từ năm 1996. trụ sở tại thành phố Thái Bình do ông Đinh Hồng Quân làm giám đốc. công ty vẫn kinh doanh nghề dệt tại làng với trên 200 lao động.400 hộ.80 tỷ đồng. Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh. 2.000 công lao động của các làng phụ cận đế cầy cấy. có 200 máy dệt và 350 máy khâu với 1. tổng sản phẩm trên 1. Dấu ấn nông nghiệp. in hoa. tẩy nhuộm hiện đại. may. Hà Nội. Công ty xuất khẩu Thăng Long do ông Trần Văn Hương làm giám đốc. Công ty dệt nhuộm xuất khẩu Thành Công do ông Trần Văn Ứng làm giám đốc có 240 máy dệt và 400 máy khâu với 1. Mỗi năm Công ty nộp ngân sách từ 51 .000 máy khâu với 3. Các nghề truyền thống đã ngày càng được nhân rộng ra nhiều làng xã vốn xưa là làm nông nghiệp. do ông Lê Minh Hiệu làm Tổng Giám đốc. tẩy nhuộm. thặng dư khoảng 201 tỷ đồng/năm. Công đoạn: dệt khăn bông các loại.000 lao động tại chỗ và 1. Có 3 doanh nghiệp vừa và nhỏ.550 lao động.

Trong lịch sử. Cụ thể là đường sá chật chội. bò phải ngâm từ 7 . Sản phẩm làm ra với công nghệ thiết bị cũ lạc hậu chất lượng không cao. Không khí trong làng lúc 17 . Tuy nhiên. Sau một thời gian những hoa văn này sẽ bị bong ra. hàng giả với giá đắt. thu nhập thấp. bò vẫn giữ nguyên cách cổ truyền.15 ngày cho tới khi thịt thối rữa. làm gốm. nguồn nguyên liệu cung cấp cho làng nghề Thụy Ứng chủ yếu từ các lò mổ trâu. để lăn lóc trong sân. khói bụi… Rõ ràng nhất là các làng chế biến thực phẩm. nơi tận dụng được lao động mọi lứa tuổi từ người già đến trẻ em. hàng kém chất lượng để tung ra thị trường. Nam Định. các nghề truyền thống phát triển ở địa bàn nông thôn. Người ta xếp nguyên liệu trong các bao tải dứa trong suốt những ngày muối. lưu giữ và phát huy nghề truyền thống trong mọi hoàn cảnh. Hay hiện tượng làm long nhãn giả bằng vẩy hành tây và vỏ cà chua ở Hưng Yên làm ảnh hưởng đến thương hiệu mặt hàng quý giá này. Cách chế biến nguyên liệu từ da trâu. Hiện tại. Họ chính là những người thợ duy trì. Ninh Bình. Chỉ vài tháng sau sử dụng những pho tượng này sẽ nứt dần ra. trong điều kiện CNH-HĐH và hội nhập quốc tế thì những yếu tố trên lại là hạn chế đối với ngành nghề truyền thống. tiêu thụ dễ dàng với thị trường là biển người nông dân mênh mông và xuất khẩu. ngoài vườn. thậm chí có thể bong tróc hoàn toàn lớp sơn phủ ngoài. Người nông dân vùng ĐBSH vốn rất cần cù và sáng tạo. săn da. mẫu mã đơn điệu. Khuôn viên gia đình vừa là chỗ ở. Da trâu. Những yếu tố này có những mặt tích cực và hạn chế. Bể ngâm tại các gia đình thường được xây gần khu công trình phụ thiếu đường thoát nước kiên cố và không được che chắn cẩn thận. sau đó được dán hoa văn bằng keo công nghiệp chứ không được gắn bằng sơn sống. cơ sở hạ tầng vùng ĐBSH đã được cải thiện nhưng không đồng bộ đặc biệt đối với các làng nghề. sơn màu bên ngoài. xưởng sản xuất và là kho chứa hàng hoá. Hoặc nếu không tinh. do đó nhiều nghề truyền thống còn đến ngày nay. Chưa kể đến việc vì chạy theo lợi nhuận nhiều nơi còn làm hàng giả. Người ta có thể sản xuất hàng hoá bằng những công nghệ truyền thống và tận dụng nhiều vật dụng trong nhà làm công cụ sản xuất… Những yếu tố này đã làm cho giá thành sản phẩm hạ. Sừng trâu. nông thôn vẫn rất đậm nét. Ví dụ không ít xưởng ở làng Sơn Đồng đã sản xuất tượng bằng đất sét với một cột trụ bằng gỗ xoan ở bên trong. cống rãnh ngập ngụa nước thải hôi thối độc hại. Nhiều nơi đã kết hợp du lịch thăm nghề truyền thống nhưng du khách nhiều khi đã mua phải hàng nhái. dệt… Ví dụ. bò phải ngâm muối cho đến khi hết thịt. vùng nghề làm ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân. khách hàng có thể mua phải tượng bằng gỗ mít đục trơn. người sản xuất là nông dân nên trong thời kỳ CNH-HĐH các dấu ấn nông nghiệp. nông thôn thấp kém. nhưng với giá là tượng liền hoa văn. Trải qua quá trình lịch sử các nghề truyền thống dựa trên cơ sở hạ tầng nông nghiệp. sản xuất vẫn ở quy mô gia đình là chủ yếu. bò ở Thanh Oai (Hà Tây) và một số tỉnh Hà Nam. Sản xuất tại gia đình làm cho tính tuỳ tiện của người nông dân lại có ưu thế phát huy như sản xuất không có kế hoạch làm cho hàng hoá bị tồn đọng. làm đồ sừng. Cho đến nay. sức cạnh tranh kém.

các nghề truyền thống ở vùng nông thôn ĐBSH đã có nhiều thay đổi. ĐBSH vẫn duy trì được tính đặc trưng là một vùng có nhiều nghề truyền thống và làng nghề truyền thống nhất so với cả nước góp phần giữ gìn đậm nét bản sắc Việt Nam. Sự phát triển các nghề truyền thống vùng ĐBSH đã cho thấy năng lực của ngành nghề nông thôn là rất lớn và sẽ càng phát triển mạnh hơn khi có chính sách vĩ mô phù hợp. Hầu hết các nghề truyền thống vẫn tồn tại và ngày càng được nhân rộng.nào cũng nồng nặc mùi thịt trâu bò thối rữa làm ô nhiễm cả nguồn nước ngầm trầm trọng làm tăng số người mắc bệnh hô hấp1. sản xuất đậu phụ ở Mỹ Đình. Đây là những xã chế biến thực phẩm. Trong những năm qua. gia công đồ nhựa (làng Xuân Đỉnh làm bánh kẹo. dệt vải ở Đại Mỗ)2. nhiều làng nghề mới hình thành trên cơ sở những làng nghề cổ truyền góp phần to lớn về kinh tế – xã hội và là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình CNH-HĐH nông nghiệp. Có rất nhiều ví dụ về tình trạng này… Như vậy. Phú Diễn. thậm chí có có gia đình đã bị ảnh hưởng đến nòi giống. ngoại thành (Hà Nội) có tới 8 xã/13 xã có vấn đề môi trường nổi cộm. nông thôn. làng Mễ trì làm bún. Ở làng tái chế chì Mai Lâm (Hưng yên). tình trạng người bị nhiễm chì ngày càng nhiều. Báo Tài nguyên và môi trường 23-11-2006. chính sách kinh tế đặc biệt chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước đã làm cho ngành nghề nông thôn phát triển. Mặc dù còn nhiều hạn chế như phát triển một cách tự phát và gây ô nhiễm môi trường. dưới tác động của những điều kiện trong nước và quốc tế trong khoảng 20 năm nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Tại làng Bát Tràng cho đến năm 2007 vẫn còn tới 300 lò gốm thủ công. gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng… Tính sơ bộ huyện Từ Liêm. sản xuất dây nhựa ở xã trung Văn. 18 . cơ chế thị trường. Thượng Cát. 1 2 Báo Nông thôn Ngày nay nguyệt san 4-2003. các nghề truyền thống đã ngày càng thích ứng với cơ chế mới.