BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG ---------o0o

---------

Công trình dự thi Cuộc thi Sinh Viên Nghiên Cứu Khoa Học Trường Đại học Ngoại Thương 2010

Bài học cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) từ vai trò của Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2010
Thuộc nhóm ngành: XH1a Họ và tên: Nguyễn Thanh Trúc Nam/nữ: Nữ Dân tộc: Kinh Lớp: A2 Khoá: 46 Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Năm thứ : 3/4 Ngành học : Kinh tế đối ngoại Họ và tên: Lã Quỳnh Phương Nam/nữ: Nữ Lớp: A2 Khoá: 46 Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Ngành học : Kinh tế đối ngoại Dân tộc: Kinh Năm thứ : 3/4

Họ và tên: Đinh Huy Đức Nam/nữ: Nam Dân tộc: Kinh Lớp: A2 Khoá: 46 Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Năm thứ : 3/4 Ngành học : Kinh tế đối ngoại Họ và tên: Hồ Hải Hà Nam/nữ: Nữ Lớp: A1 Khoá: 46 Khoa: Tài chính Ngân hàng Ngành học : Tài chính Quốc tế Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền Trang Nam/nữ: Nữ Lớp: A1 Khoá: 46 Khoa: Tài chính Ngân hàng Ngành học : Tài chính Quốc tế Ngƣời hƣớng dẫn : PGS.TS. Đặng Thị Nhàn Hà Nội, tháng 7/2010 Dân tộc: Kinh Năm thứ : 3/4 Dân tộc: Kinh Năm thứ : 3/4

MỤC LỤC MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 5 1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 5 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................................... 5 3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu................................................................... 7 5. Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................. 7 6. Kết quả nghiên cứu dự kiến ............................................................................ 7 7. Kết cấu của đề tài ............................................................................................. 8 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI ................................ 9 1.1. Các khái niệm ................................................................................................. 9 1.1.1. Bảo hiểm(BH)............................................................................................... 9 1.1.2. Bảo hiểm tiền gửi( BHTG) ........................................................................... 9 1.1.3. Các khái niệm có liên quan khác ................................................................. 9 1.2. Giới thiệu 2 tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ và Việt Nam ......................... 14 1.2.1. Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ - FDIC ................................... 14 1.2.2 Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – DIV ............................................... 17 1.3. Một vài nhận định so sánh hai tổ chức ....................................................... 21 CHƢƠNG II: VAI TRÒ CỦA FDIC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ 2007 - 2010............................................ 23 2.1. Bối cảnh khủng hoảng tài chính Mỹ .......................................................... 23 2.1.1. Sơ lược khủng hoảng .................................................................................. 23 2.1.2. Nguyên nhân khủng hoảng ......................................................................... 25 2.1.3. Ảnh hưởng của khủng hoảng đến hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tài chính ..................................................................................................................... 26
http://svnckh.com.vn

2

2.2. FDIC sát cánh cùng bộ tài chính và cục dự trữ liên bang Mĩ (FED) giải quyết khủng hoảng .............................................................................................. 29 2.2.1. Quỹ vốn của FDIC bị sụt giảm nặng nề do phải chi trả quá nhiều trong các cuộc đổ vỡ ngân hàng. Tuy nhiên, FDIC vẫn thể hiện sự chuyên nghiệp trong việc tiếp nhận và xử lý ngân hàng đổ vỡ, giải quyết nhanh gọn, giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng Mỹ .................................................... 29 2.2.2. Nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi, hạn chế việc rút tiền hàng loạt. 34 2.2.3. FDIC đã thực hiện chương ........... 35 2.2.4. FDIC sát cánh cùng bộ tài chính và cục dự trữ liên bang Mĩ, mua lại tài sản xấu để cứu vãn hệ thống tài chính: ............................................................... 40 CHƢƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM - DIV ........................................................................... 41 3.1. Ảnh hưởng của khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam .......................... 41 3.1.1. Đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung .................................................... 41 3.1.2. Đối với hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tài chính............................... 42 3.2. Thực trạng hoạt động của DIV : ................................................................. 43 3.2.1. Về những thành quả đã đạt được ............................................................... 43 3.2.2. Những tồn tại và hạn chế: .......................................................................... 46 3.3. Bài học rút ra cho DIV từ vai trò của FDIC trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính Mĩ 2007-2010: .......................................................................... 48 3.3.1. Tăng cường năng lực giám sát để ngăn ngừa và cảnh báo rủi ro đối với hoạt động ngân hàng ............................................................................................ 49 3.3.2. Bổ sung vốn hoạt động để tăng năng lực tài chính của DIV cho phù hợp với thông lệ quốc tế và để dự phòng khi có rủi ro xảy ra .................................... 52 3.3.3. Nâng cao nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý đổ vỡ để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, bình ổn thị trường tài chính ....................................................................... 55
http://svnckh.com.vn

3

3.3.4. Bài học về cải cách hệ thống phí BHTG .................................................... 58 3.3.5. Bài học về hạn mức chi trả BHTG ............................................................. 60 3.3.6. Bài học về nghiệp vụ hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG ......................... 62 KẾT LUẬN ......................................................................................................... 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 65

http://svnckh.com.vn

4

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cuối năm 2007 kéo dài đến tận 2010, cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã lan ra toàn thế giới với sự sụp đổ hoặc sáp nhập liên tiếp của các tổ chức tài chính lớn như Lehman Brothers, Merrill Lynch, AIG, Countrywide Financial, Freddie Mac, Fannie Mae. Chính phủ Mỹ cùng Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) Liên bang Mỹ (FDIC) đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm ngăn ngừa việc rút tiền hàng loạt của người dân từ các tổ chức tín dụng và cải tổ hệ thống Ngân hàng. Chính sách BHTG là một trong những nhân tố thiết yếu trong việc ngăn ngừa khủng hoảng và bình ổn hệ thống tài chính tiền tệ của một đất nước. Trong khi đó, chính sách và hoạt động BHTG ở Việt Nam còn rất nhiều hạn chế, hơn nữa hệ thống tài chính tiền tệ của nước ta sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn và thử thách khi chúng ta hội nhập sâu với thế giới. Đó là những lý do vấn đề “Bài học cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) từ vai trò của Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2010” được chọn làm đề tài nghiên cứu khoa học này. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu BHTG là một nhân tố đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tháo gỡ khó khăn của khủng hoảng và củng cố niềm tin của người gửi tiền. Ở Việt Nam đã có Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) tuy nhiên cơ cấu cũng như hoạt động của DIV và luật pháp điều chỉnh đi kèm còn nhiều hạn chế. Vì vậy, cần có nhiều đề tài nghiên cứu hơn nữa về BHTG Việt Nam, nhất là sau cuộc khủng hoảng vừa qua. Tính cho đến thời điểm hiện nay, trên thế giới và đặc biệt là ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về BHTG. Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu sau đây:
http://svnckh.com.vn

5

- Nguyễn Mạnh Dũng (2002), Giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của Quỹ Tín dụng Nhân dân, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội - Nguyễn Mạnh Dũng (2003), Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTGVN, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Ngành Ngân hàng, Hà Nội - Nguyễn Mạnh Dũng (2004), “Kinh nghiệm tính phí BHTG căn cứ mức độ rủi ro của các Ngân hàng tại Canada”, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, 4(7) tr157 - Nguyễn Thị Kim Oanh (2004), Giải pháp phát triển hoạt động BHTG ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội - Nguyễn Thị Kim Oanh (2004), BHTG - Nguyên lí, thực tiễn và định hướng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. Ngoài ra còn một số bài báo, bài hội thảo đăng trên các tạp chí như Tạp chí Bảo hiểm, Thông tin BHTG Việt Nam. Trên thế giới, các nhà nghiên cứu cũng đã có một số công trình chuyên sâu về vấn đề BHTG như: - Gillian G.H. Garcia (2000), BHTG thực tế và những định chế phù hợp, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Washington D.C - David C. Parker (2004), BHTG thông lệ quốc tế - Samuel H Taley & Ignacio Mas (1990), BHTG tại các nước đang phát triển 3. Mục đích nghiên cứu Mục đích của đề tài là nhằm đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) thông qua việc học hỏi cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, kinh nghiệm từ Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ, nhất là trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây.
http://svnckh.com.vn

6

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành Tài chính, lưu thông tiền tệ và tín dụng. Tuy nhiên, do BHTG là một lĩnh vực mới, có tính đặc thù nên đề tài tập trung nghiên cứu chuyên sâu những vấn đề về lĩnh vực BHTG và ngân hàng có liên quan. Về mặt không gian, đề tài chủ yếu nghiên cứu về hai tố chức Bảo hiểm tiền gửi: Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) và Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV). Tuy nhiên, Bảo hiểm tiền gửi ở các nước khác cũng được xem xét trong một chừng mực nhất định để làm ví dụ hay trình bày các quan điểm nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu của đề tài. Về mặt thời gian, giai đoạn nghiên cứu trọng tâm là từ năm 2007 đến 2010; bên cạnh đó, các giai đoạn khác cũng được đề cập đến để hỗ trợ nghiên cứu các vấn đề được nêu ra trong đề tài. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài có kế thừa và sử dụng một số kết quả nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu về lĩnh vực BHTG trong và ngoài nước để tham khảo và luận giải các vấn đề có liên quan đến BHTG. Phương pháp nghiên cứu tình huống, thu thập đầy đủ các dữ kiện một cách có hệ thống và tìm hiểu mối tương quan giữa các yếu tố với nhau. Vận dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá việc vận hành, xây dựng chính sách BHTG. 6. Kết quả nghiên cứu dự kiến Đề tài sẽ rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc áp dụng mô hình Bảo hiểm tiền gửi để giải quyết khủng hoảng tài chính 2007-2010 thông qua một báo cáo tổng hợp không quá 80 trang. Bên cạnh đó, kết quả
http://svnckh.com.vn

7

nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên, các nhà nghiên cứu chuyên ngành trong lĩnh vực Bảo hiểm tiền gửi. 7. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được kết cấu thành ba chương: Chương I: Tổng quan về Bảo hiểm tiền gửi Chương II: Vai trò của FDIC trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính Mĩ 2007-2010 Chương III: Bài học kinh nghiệm cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - DIV

http://svnckh.com.vn

8

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.1. Các khái niệm 1.1.1. Bảo hiểm(BH) Thị trường đối phó với rủi ro bằng cách phân tán rủi ro. Đó là quá trình mang rủi ro vốn rất to lớn đối với một nguời (số ít) rồi phân tán chúng cho nhiều người (số đông) sao cho chúng vẫn tồn tại nhưng chỉ còn là sự rủi ro nhỏ bé đối với số đông. Hình thức phân tán rủi ro chính là bảo hiểm (BH)1 1.1.2. Bảo hiểm tiền gửi( BHTG) Theo tài liệu “xây dựng hệ thống BHTG hiệu quả” của Diễn đàn ổn định tài chính (Financial Stability Forum) tháng 9/2001, “BHTG được hiểu là một sự đảm bảo rằng số dư gốc và lãi cộng dồn của các tài khoản tiền gửi nhất định sẽ được thanh toán tới một giới hạn nhất định”.2 1.1.3. Các khái niệm có liên quan khác 1.1.3.1. Các chủ thể trong bảo hiểm tiền gửi 1.1.3.1.1. Tổ chức BHTG Là tổ chức được Nhà nước cho phép nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền BH tới người có tiền gửi thuộc đối tượng được BH tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán. Ngoài ra, tổ chức BHTG còn thực hiện một số vai trò, chức năng vận hành hoạt động BHTG theo các quy định của nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến các hoạt động BHTG đồng thời góp phần

1 2

Philippe A.Goutin (2001), Hội thảo BHTG và kiểm soát Ngân hàng. Fredic S. Minskin (2001), Tiền tệ, Ngân hàng & Thị trường tài chính, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tái bản lần thứ 3.
http://svnckh.com.vn

9

bảo vệ hệ thống các trung gian tài chính và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Các loại hình tổ chức BHTG Phân theo mục tiêu hoạt động gồm: loại hình tổ chức BHTG hoạt động vì lợi nhuận và tổ chức BHTG hoạt động phi lợi nhuận. Phân theo quy mô và chức năng gồm: loại hình tổ chức BHTG đa chức năng với chức năng thực hiện hầu hết các công cụ của chính sách BHTG; loại hình đơn chức năng là loại hình tổ chức chỉ thực hiện một số ít chức năng và vận hành một số công cụ của chính sách BHTG, cũng có khi chỉ như bộ phận quản lý tiền quỹ BH. Phân theo loại hình doanh nghiệp thì gồm: loại hình công ty có đa hình thức sở hữu với chức năng hoạt động theo luật doanh nghiệp và chịu sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp; loại hình tổ chức tài chính Nhà nước chỉ thuộc sở hữu Nhà nước, hoạt động theo sự điều chỉnh của pháp luật về lĩnh vực BHTG. 1.1.3.1.2. Tổ chức tham gia BHTG Là các ngân hàng và các trung gian tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi theo quy định của pháp luật. Các tổ chức này khi được tham gia BHTG có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền BH cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán hoặc cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động. Tùy thuộc vào mục tiêu của chính sách BHTG, chính sách tiền tệ ở mỗi quốc gia mà cơ chế tham gia vào hệ thống BHTG được quy định như thế nào cho phù hợp. Nhưng nói chung, quy định về sự gia nhập hệ thống BHTG ở các nước trên thế giới hiện nay có hai hình thức là tự nguyện và bắt buộc. Dù hình thức tham gia như thế nào thì cũng không tránh khỏi những
http://svnckh.com.vn

10

hạn chế, song hiện nay hình thức BH bắt buộc xét thấy có ít hạn chế hơn nên đang được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. 1.1.3.1.3. Người gửi tiền thuộc đối tượng được BH Là khách hàng có tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG thuộc đối tượng được BH. Những người gửi tiền này không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi, kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó, trong hạn mức chi trả tiền BHTG (nếu chi trả tiền BHTG có xác định hạn mức), hoặc thanh toán toàn bộ tiền gửi (nếu chỉ trả tiền BHTG không xác định giới hạn). Tác dụng chính của BHTG là củng cố niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống tài chính quốc gia, nhằm tránh hiện tượng rút tiền hàng loạtnguyên nhân chủ yếu dẫn đến những cuộc khủng hoảng tài chính, thậm chí là khủng hoảng kinh tế. 1.1.3.2. Đối tượng được BH trong BHTG Đối tượng được BH là khách thể của hợp đồng BH, là đối tượng mà vì nó người ta phải ký kết hợp đồng BH. Đối tượng BH có thể là tài sản, con người, hoặc trách nhiệm đối với người thứ ba. Trong BHTG, đối tượng BH là các khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng tham gia BHTG. BHTG chỉ BH cho các loại tiền gửi thuộc đối tượng được BH khi có rủi ro được BH xảy ra. Tiền gửi được BH là tiền gửi được bảo vệ theo pháp luật và chịu sự điều chỉnh của chính sách BHTG. Ngược lại là loại tiền gửi không được BH. Chính sách của các nước quy định khác nhau về loại tiền gửi nào được BH và loại nào không được BH. Hiện nay, trong nhiều hệ thống BHTG trên thế giới đang quy định một số hay toàn bộ các loại tiền gửi sau không thuộc diện BH như: tiền gửi ở nước ngoài của các ngân hàng trong nước, tiền gửi bằng bản tệ của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tiền gửi ngoại tệ, tiền gửi liên ngân hàng. Rủi ro được BH là rủi
http://svnckh.com.vn

11

ro khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền. 1.1.3.3. Phí bảo hiểm tiền gửi Phí BHTG là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ phải nộp cho tổ chức BHTG để được BH cho số tiền gửi của khách hàng. Thông thường phí BHTG được tính theo mức ấn định trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được BH tại tổ chức tham gia BHTG. Nói chung, có hai cách tính phí BHTG như sau: Cách tính phí BHTG theo tỷ lệ phí BHTG cố định (Hay còn gọi là tính phí BH đồng hạng) : Theo hình thức này, các tổ chức tham gia BHTG phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG theo một tỷ lệ thu phí BHTG chung áp dụng cho tất cả các ngân hàng và trung gian tín dụng tham gia BHTG trong cùng một hệ thống BHTG của quốc gia. Tỷ lệ phí BHTG được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên số dư tiền gửi của các loại tiền gửi được BH tại tổ chức tham gia BHTG. Cách tính phí này tương đối dễ dàng nhưng không đảm bảo sự công bằng do là các tổ chức huy động tiền gửi có mức độ rủi ro thấp lại phải chịu mức tỷ lệ tính phí như các tổ chức có mức độ rủi ro cao. Điều này dẫn đến các tổ chức có mức rủi ro cao thì được hưởng lợi hơn trong khi các tổ chức có mức rủi ro thấp phải gánh chịu chi phí và không phản ánh được mức độ rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG. Các hệt thống BHTG mới thành lập thường áp dụng cách tính phí BH này. Cách tính phí BHTG theo mức độ rủi ro: Theo cách này, các tổ chức BHTG sẽ tiến hành xếp hạng các tổ chức tham gia BHTG, tổ chức nào có mức độ rủi ro cao sẽ phải đóng phí BHTG cao hơn các tổ chức có mức độ rủi ro thấp hơn. Cách thức này khắc phục được hạn chế của cách thức trên, nó công bằng hơn đối với các tổ chức tham gia BHTG và có tác dụng khuyến khích các tổ chức này tiến hành quản trị rủi ro chặt chẽ. Tuy nhiên,
http://svnckh.com.vn

12

việc xác định mức độ rủi ro của từng tổ chức tham gia BHTG lại rất phức tạp, đòi hỏi trình độ quản lý rất cao và liên quan đến vấn đề bảo mật thông tin trong hệ thống ngân hàng. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng cách thức tính phí BHTG theo mức độ rủi ro. Về các hình thức đóng phí BH, hiện nay trên thế giới, các quốc gia thực hiện một trong ba hình thức sau: một là, phân bổ tổn thất cho các tổ chức tham gia BHTG sau khi đã xảy ra đổ vỡ ngân hàng; hai là, thiết lập quỹ BH và yêu cầu tổ chức tham gia BHTG định kì nộp một khoản phí BH vào quỹ. Ngoài ra, cũng có một số ít hệ thống BHTG khác thực hiện hình thức đóng phí BH hỗn hợp theo cả hai hình thức trên, tức là có thể đóng góp một khoản cố định trước theo quy định, sau đó định kì đóng bổ sung cho quỹ BH. Hình thức thứ hai được phần lớn các hệ thống BHTG áp dụng. 1.1.3.4. Cơ sở đánh giá phí BH Để đánh giá phí BH, người ta thường lựa chọn một trong các cơ sở sau: tiền gửi BH; tổng tiền gửi; tiền gửi cộng với một tỷ lệ nợ ròng khó đòi. Trong các cơ sở trên thì tiền gửi được BH được xem là công bằng và hợp lý hơn cả vì cơ sở đánh giá cân bằng với trị giá bảo vệ dành cho người gửi tiền. Việc xác định số dư tiền gửi nào làm cơ sở tính phí BH tùy thuộc vào chính sách BHTG của mỗi quốc gia, trong đó đa số các hệ thống BHTG áp dụng cơ sở là số dư tiền gửi được BH. 1.1.3.5. Hạn mức chi trả BH tiền gửi (HMCT) Chi trả tiền BH là việc nhà BH thực hiện trách nhiệm của mình theo các quy định của pháp luật trong lĩnh vực BHTG cho người được BH. Có hai cách thức chi trả tiền BH chủ yếu gồm: chi trả toàn bộ các khoản tiền gửi cho người được BH gọi là hình thức chi trả không giới hạn; chi trả cho người được BH đến giới hạn nhất định gọi là chi trả BH có giới hạn, hay gọi là HMCT.
http://svnckh.com.vn

13

Hạn mức chi trả BHTG (HMCT) là giới hạn chi trả BH tối đa mà tổ chức BHTG có trách nhiệm chi trả cho người gửi tiền có các khoản tiền gửi được BH tại tổ chức tham gia BHTG bị đóng cửa hay bị phá sản. Hiện nay có hai phương thức xác định hạn mức chi trả chủ yếu sau: + Xác định hạn mức chi trả theo người gửi tiền : là cách xác định mức chi trả tiền BH tối đa với một người gửi tiền tại một tổ chức tín dụng không căn cứ vào số lượng tài khoản hoặc sổ tiết kiệm mà người đó có tại một ngân hàng. Nếu người gửi tiền có nhiều tài khoản tại một ngân hàng nhưng tổng số tài khoản đó vượt mức chi trả BH tối đa với một người gửi tiền thì người đó cũng chỉ được nhận tiền BH tối đa bằng hạn mức chi trả BHTG. + Xác định hạn mức chi trả theo tài khoản : là việc định mức chi trả BH tối đa cho một tài khoản tiền gửi tại một tổ chức nhận tiền gửi. Một người gửi tiền nếu có nhiều tài khoản tại một tổ chức tín dụng thì tiền gửi trên mỗi tài khoản đều được BH tối đa ở mức bằng hạn mức chi trả cho một tài khoản. Việc xác định HMCT luôn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi hệ thống BHTG. HMCT phải đủ cao để vừa bảo vệ người gửi tiền vừa khuyến khích gia tăng tiền gửi, nhưng phải đủ thấp để ngăn ngừa rủi ro đạo đức và tâm lý bất cẩn, ỷ lại trong hoạt động ngân hàng, góp phần duy trì kỉ cương thị trường. Như vậy xác định được HMCT phù hợp là một quá trình phức tạp và cần cân nhắc đến nhiều yếu tố như: loại phí BH áp dụng; GDP trên đầu người; tuổi của hệ thống BHTG; hình thức cấp vốn; hình thức quản trị, điều hành... 1.2. Giới thiệu 2 tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ và Việt Nam 1.2.1. Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ - FDIC

http://svnckh.com.vn

14

1.2.1.1. Hoàn cảnh ra đời3 Từ khi thế giới còn chưa hình thành khái niệm BHTG thì ở Mỹ đã tồn tại nhiều hình thức bảo vệ tiền gửi, trong đó chủ yếu nhất là hình thức "bảo vệ ngầm". "Bảo vệ ngầm" là việc Ngân hàng Trung ương hoặc Chính phủ có cam kết (không công khai) sẽ bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người gửi tiền khi có hiện tượng đóng cửa tổ chức nhận tiền gửi hoặc tổ chức đó mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Vì đây là cam kết không công khai nên không hình thành hợp đồng BH giữa người gửi tiền với tổ chức nhận tiền gửi hoặc Ngân hàng Trung ương. Xuất phát từ hoạt động "bảo vệ ngầm" mà hình thức "bảo vệ công khai" ra đời. Bảo vệ tiền gửi công khai xuất hiện đầu tiên ở New York năm 1829 với tên gọi "Chương trình bảo hiểm trách nhiệm Ngân hàng". Tiếp theo từ 1831-1858, sáu bang ở Mỹ đã thành lập các tổ chức BHTG với mục đích bảo vệ các ngân hàng sắp đổ bể và bảo vệ người gửi tiền cá thể, người giữ các công cụ huy động tiền gửi. Cả sáu tổ chức BHTG này đều hoạt động rất thành công và đã có tác dụng rất lớn đối với hệ thống ngân hàng Mỹ thời kỳ đó. Nhưng đến năm 1870 do một số biến dộng tài chính đã làm cho cả sáu tổ chức này bị đóng cửa. Giai đoạn tiếp theo 1908-1930, BHTG lại tiếp tục được thành lập ở tám bang khác. Trong tám tổ chức BHTG này có bốn tổ chức quy định BHTG là bắt buộc, hai tổ chức quy định tự chọn và hai tổ chức còn lại quy định tính chất bắt buộc tùy thuộc vào từng đối tượng và từng thời điểm. Đến năm 1930 cả tám tổ chức trên đều bị đóng cửa do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế lớn (1929-1933) làm cho nhiều ngân hàng bị phá sản, dẫn đến các tổ chức BHTG mất khả năng thanh toán.

3

www.saga.vn
http://svnckh.com.vn

15

Trong cuộc khủng hoảng 1929-1933, tình hình hoạt động của các ngân hàng tại Mĩ gặp rất nhiều khó khăn. Riêng năm 1933, đã có tới 4000 ngân hàng thương mại lâm vào tình trạng phá sản. Trước tình hình đó, Tập đoàn BHTG Liên bang Mĩ (FDIC) đã ra đời vào 1/1/1934. Đây là cơ quan BHTG có thời gian hoạt động lâu dài nhất thế giới. FDIC hoạt động độc lập với chính phủ và chịu sự kiểm soát trực tiếp của Quốc hội. Nguồn vốn ban đầu của FDIC do Kho bạc Nhà nước Mỹ đóng góp 150 triệu USD và 12 ngân hàng Nhà nước liên bang đóng góp 130 triệu USD. 1.2.1.2. Mô hình và chức năng : FDIC được tổ chức theo mô hình tiên tiến nhất trên thế giới về BHTG – Mô hình giảm thiểu rủi ro với những chức năng và nhiệm vụ như sau: Thứ nhất, giám sát để ngăn ngừa và cảnh báo rủi ro đối với hoạt động ngân hàng. FDIC thực hiện chức này thông qua hai hình thức là giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ, trong đó giám sát từ xa là chủ yếu. Đây là nghiệp vụ quan trọng trong quá trình quản lý rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG nhằm đánh giá chính xác, khách quan mức độ rủi ro cũng như tính tuân thủ pháp luật của tổ chức tham gia BHTG. Thứ hai, hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn về thanh khoản, có nguy cơ đổ vỡ thông qua các hình thức: - Cho vay hỗ trợ khi tổ chức tham gia BHTG có khó khăn về khả năng thanh khoản và thanh toán; - Mua lại các tài sản có đặc biệt là tài sản có chưa đến hạn thanh toán của tổ chức tham gia BHTG để củng cố khả năng thanh khoản của họ; - Bảo lãnh cho tổ chức tham gia BHTG đi vay vốn tại một tổ chức tín dụng khác.

http://svnckh.com.vn

16

Thứ ba, chi trả tiền gửi được BH cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG bị giải thể, phá sản (cả gốc và lãi) nhằm tránh hiện tượng rút tiền hàng loạt, gây khó khăn cho hệ thống tài chính. Thứ tư, tham gia vào việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý với nguyên tắc: chi phí thấp nhất, chi trả nhanh nhất và bán lại tài sản với giá cao nhất. 1.2.2 Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – DIV 1.2.2.1. Hoàn cảnh ra đời Ở Việt Nam, vào những năm 80 của thế kỉ XX, cùng với việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, hệ thống ngân hàng cũng được chuyển từ một cấp thành hai cấp. Hệ quả của cạnh tranh theo cơ chế thị trường đã khiến cho nhiều tổ chức thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng bị tụt hậu, thậm chí là đi đến phá sản. Tình hình trở nên nghiêm trọng vào những năm 1988-1991: lạm phát gia tăng, hoạt động ngân hàng hoảng loạn, hàng loạt các quỹ tín dụng đã sụp đổ. Chính trong bối cảnh này, những yêu cầu mới đặt ra là làm thế nào để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, hệ thống ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng trước mặt trái của cơ chế thị trường đầy biến động? Nhận thức được vấn đề này, Nhà nước đã có những nỗ lực và động thái tích cực. Ban đầu là biện pháp “ bảo vệ ngầm” thông qua hệ thống các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy biện pháp bảo vệ này đã đạt được một số kết quả ban đầu như củng cố lòng tin của dân chúng, xử lý đổ vỡ có trật tự hơn, nhưng cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn về pháp lý. Bởi vậy, Nhà nước đã ban hành cơ chế mới về “bảo hiểm tiền gửi” để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại tổ chức được phép nhận tiền gửi của cá nhân theo quy định của pháp luật. Vào những năm 90 của thế kỉ XX, trước tình hình hệ thống tài chính ngân hàng ở Việt Nam vừa thoát ra khỏi khủng hoảng, đang trong giai đoạn hồi phục và lấy lại niềm tin của dân
http://svnckh.com.vn

17

chúng, đồng thời nhu cầu huy động vốn nội lực để phát triển kinh tế tăng cao, Chính phủ đã cho phép Bộ Tài chính ban hành “Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng đối với các khoản tiền gửi có kì hạn” 4 và giao cho Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) vận hành cơ chế này. Bảo Việt đã thực hiện bảo hiểm tại các quỹ tín dụng, hợp tác xã nhân dân với mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, trước tình trạng hệ thống quỹ tín dụng đang hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, quy mô và năng lực tài chính còn nhở bé, dễ bị đổ vỡ; trong khi năng lực tài chính của Bảo Việt còn hạn chế, lạm phát của nền kinh tế còn ở mức cao nên ngày càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, vướng mắc trong việc bảo vệ tiền gửi. Để giải quyết những mâu thuẫn này đòi hỏi phải có một chính sách bảo hiểm đồng bộ, có sự tương quan về địa vị pháp lý với các chính sách khác. Xuất phát từ đòi hỏi đó, chính sách BHTG ở Việt Nam đã ra đời. Cùng với sự ra đời của chính sách BHTG, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng được thành lập. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Deposit Inusurance of Vietnam - DIV) là tổ chức tài chính Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức hoạt động từ ngày 07/7/2000. Vốn điều lệ của DIV do ngân sách Nhà nước cấp và DIV chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển an toàn lành mạnh của hệ thống tài chính. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội và 6 chi nhánh tại các khu vực.

4

Bộ Tài chính (1994), Quyết định số 101/TCQĐ-BH ngày 01/02/1994 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành quy chế bảo hiểm trách nhiệm đối với quỹ tín dụng.
http://svnckh.com.vn

18

Sơ đồ tổ chức của DIV như sau:5

5

http://www.div.gov.vn/Default.aspx?tabid=72 )
http://svnckh.com.vn

19

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

Ban thƣ ký HĐQT

Ban Kiểm soát Các Phó Tổng Giám Đốc TỔNG GIÁM ĐỐC

Thƣ ký Tổng Giám Đốc

CÁC CHI NHÁNH KHU VỰC

TRỤ SỞ CHÍNH Văn phòng

Chi nhánh BHTGVN tại Hà Nội Chi nhánh BHTGVN khu vực Đông Bắc Bộ Chi nhánh BHTGVN tại TP. Hồ Chí Minh Chi nhánh BHTGVN tại khu vực Bắc Trung Bộ Chi nhánh BHTGVN tại khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Chi nhánh BHTGVN tại khu vực Đồng Bằng song Cửu Long

Phòng Tổ chức & Phát triển NNL Phòng Tài chính kế toán Phòng Pháp Chế Phòng thông tin tuyên truyền Phòng Nghiên Cứu tổng hợp & hợp tác Quốc Tế Phòng Công Nghệ Thông Tin Phòng Kiểm soát & Kiểm toán nội bộ Phòng Nguồn vốn & Đầu Tư Phòng Kiểm tra hệ thống Ngân Hàng Phòng Kiểm tra các tổ chức tín dụng khác Phòng Giám sát hệ thống Ngân Hàng Phòng Giám sát các tổ chức tín dụng khác Phòng hỗ trợ tài chính

1.2.2.2. Mô hình và chức năng
http://svnckh.com.vn

20

Về mô hình hoạt động, tuy chưa có văn bản nào quy định chính thức nhưng với các nghiệp vụ như hiện nay, DIV đang hoạt động theo mô hình “ Chi trả với quyền hạn mở rộng” với các chức năng và nhiệm vụ chính là: Thứ nhất, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định và Nghị định của Chính phủ về BHTG và các quy định về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG Thứ hai, hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tham gia BHTG dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ và các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật. Thứ ba, thu phí BH, quản lý quỹ BH, tính và điều chỉnh mức phí BH, chi trả cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ. Thứ tư, tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG bị giải thể, phá sản. 1.3. Một vài nhận định so sánh hai tổ chức Nói chung, xét về quy mô, tuổi đời, cách thức tổ chức cũng như chức năng, quyền hạn, kinh nghiệm hoạt động thì DIV so với FDIC còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, non kém. FDIC hiện là một tổ chức BHTG đa năng hàng đầu thế giới, hoạt động rất hiệu quả và có vị thế độc lập với Chính phủ, được tổ chức theo mô hình tiên tiến nhất trên thế giới là mô hình “giảm thiểu rủi ro". Cơ sở pháp lý cho hoạt động của FDIC là Luật BHTG liên bang Mĩ, và FDIC có chức năng thực hiện tất cả các công cụ của chính sách BHTG. Trong khi đó, DIV là một tổ chức BHTG mới được thành lập cách đây 10 năm, là một công cụ của Chính phủ và chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Mô hình tổ chức của DIV mới ở cấp trung bình là “chi trả với quyền hạn mở rộng"; nền tảng pháp lý cho hoạt động của DIV mới chỉ ở mức Nghị định, chưa thành Luật. Chính bởi vậy mà DIV cần học hỏi những bước đi của FDIC nói riêng và các tổ chức BHTG tiên tiến khác trên thế giới nói
http://svnckh.com.vn

21

chung để ngày càng hoàn thiện hơn về tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động, xứng đáng đảm nhận trọng trách bảo vệ an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia.

http://svnckh.com.vn

22

CHƢƠNG II: VAI TRÒ CỦA FDIC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ 2007 - 2010 2.1. Bối cảnh khủng hoảng tài chính Mỹ 2.1.1. Sơ lược khủng hoảng Mặc dù chủ yếu tập trung nghiên cứu trong bối cảnh khủng hoảng tài chính 2007-2010, nhưng mầm mống của cuộc khủng hoảng này đã xuất hiện từ khoảng thời gian trước đó. Vì vậy, đề tài mong muốn điểm qua một vài mốc sự kiện quan trọng bắt đầu từ năm 2002. - Năm 2002-2004: Giá nhà đất bắt đầu tăng cao trên 25% một năm ở các bang Arizona, California, Florida, Hawaii và Nevada. - Năm 2005-2006: Tháng 08/2005, khi lãi suất tăng từ 1% đến 5,35%, thị trường bất động sản bắt đầu chìm lắng ở nhiều bang trên toàn lãnh thổ nước Mỹ. Bong bóng nhà đất có dấu hiệu tan vỡ. Tháng 8/2006 so với cùng kì năm 2005, chỉ số xây dựng nhà ở tại Mỹ giảm hơn 40%. - Năm 2007-2008: Năm 2007 đã có hơn 25 tổ chức bất động sản tuyên bố phá sản. Số đơn xin phá sản của các doanh nghiệp ngày càng tăng cao từ năm 2007 đến năm 2010. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2010, tại Mỹ đã có 770.117 đơn xin phá sản6, mức cao kỉ lục trong vòng 5 năm trở lại đây. Theo ông Samuel J.Gerdano, Giám đốc điều hành Viện Phá Sản Hoa Kì ABI (American Bankruptcy Institute), đến cuối năm nay, toàn Liên bang sẽ có thêm khoảng 1,6 triệu hồ sơ xin phá sản.

Biểu đồ số lƣợng đơn xin phá sản của các doanh nghiệp Mỹ năm 2007-2010
6

Press Releases July 02, American Bankruptcy Institute (ABI)
http://svnckh.com.vn

23

2000000 1500000 1000000 500000 0 2007 2008 2009 2010 Số lượng đơn xin phá sản

Thời gian này, số lượng nhà ở chưa bán được đạt mức cao nhất kể từ năm 1989; bên cạnh đó, 1,3 triệu bất động sản bị tịch thu vì không trả được nợ. Năm 2008, các tổ chức tài chính ngân hàng lớn của Mỹ tiếp tục tuyên bố phá sản hoặc mua bán và sáp nhập. Song song với đó là các biện pháp của chính phủ nhằm cứu vãn các tổ chức này và giải cứu nền kinh tế. Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ và lâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng. Tình trạng này ảnh hưởng khiến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào. Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập, các hộ gia đình cắt giảm chi tiêu làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motors và Chrysler. Các nhà lãnh đạo ba hãng ô tô này đã nỗ lực vận động Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công. - Năm 2009: Năm 2009 tỷ lệ thất nghiệp tăng lên trên 7.8%. Các gia đình thắt chặt chi tiêu, tín dụng thấp đã làm cuộc khủng hoảng ngành chế tạo ô tô thêm trầm trọng. Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones đạt mức thấp nhất kể từ tháng 4 năm 1997 là 6.547,05 lúc đóng cửa ngày 9 tháng 3 năm 2009. Hoa Kỳ rơi vào tình trạng đại khủng hoảng.

http://svnckh.com.vn

24

- Năm 2010: nền kinh tế đã có dấu hiệu hồi phục và thoát dần ra khỏi khủng hoảng. Hoạt động sản xuất và tiêu dùng có xu hướng đi lên. 2.1.2. Nguyên nhân khủng hoảng Chúng ta vừa điểm qua một số mốc quan trọng của cuộc đại khủng hoảng tài chính 2007. Vậy nguyên nhân khủng hoảng là do đâu và tại sao cuộc khủng hoảng này lại tác động sâu rộng đến thế giới như vậy? Có thể nói, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng tài chính 2007-2010 là sự sụp đổ của thị trường bất động sản tại Mỹ. Tuy nhiên dưới đây, đề tài xin được đề cập sâu hơn đến bốn nguyên nhân cốt lõi khiến cuộc khủng hoảng này nổ ra. Lãi suất cơ bản liên tục hạ: Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất từ 6% năm 2000 xuống còn 1% năm 2003. Từ đó các ngân hàng thương mại hạ lãi suất theo khiến các khoản cho vay mua bất động sản trở nên dễ dàng hơn. Chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp: Hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac mua lại các khoản cho nhà đầu tư vay để mua bất động sản từ các ngân hàng thương mại rồi biến chúng thành giấy tờ có giá như chứng khoán đảm bảo bằng giấy tờ thế chấp (mortgage-backed securities - MBS) và giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO). Như vậy chúng đương nhiên trở thành chứng khoán được giao dịch trên phố Wall. Khi bong bóng bất động sản vỡ, thị trường tài chính cũng khủng hoảng theo. Về chính sách: Qua Fannie Mae và Freddie Mac, các nhóm dân nghèo, nhập cư có cơ hội mua nhà nhiều hơn. Chính sách này được bắt nguồn từ thời Cựu Tổng thống Bill Clinton. Thị trường tín dụng cung cấp khả năng tài chính cho thị trường bất động sản lúc này sẽ không chỉ có các ngân hàng thương mại, các tổ chức cho
http://svnckh.com.vn

25

vay thế chấp bất động sản nữa mà cả các nhà đầu tư thông thường gồm cả nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, việc hủy bỏ đạo luật Glass-Steagal từ những năm 1980, tách biệt ngân hàng thương mại và đầu tư để một bên thực hiện những hoạt động cho vay an toàn với một bên thực hiện những nghiệp vụ đầu tư rủi ro cao cũng góp phần khiến hoạt động mua bán, bảo hiểm chứng khoán MBS, CDO diễn ra ngày càng phức tạp. Cuối cùng, các ngân hàng mạo hiểm cho vay dưới chuẩn còn chính phủ thì không kiểm soát được. Khủng hoảng niềm tin: Nhiều người do lo sợ trước sự phá sản của một số tổ chức tín dụng nên đã đi rút tiền, hành động này gây ra phản ứng dây chuyền đối với những người gửi tiền khác khiến các tổ chức tín dụng đã khó khăn lại càng khó khăn hơn và lâm vào bờ vực phá sản hoặc phải chấp nhận bán đi hoặc sáp nhập. Thị trường ngày càng khan hiếm tín dụng, cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng. 2.1.3. Ảnh hưởng của khủng hoảng đến hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tài chính Trong bảng dưới đây, đề tài đưa ra những ví dụ cụ thể về các tập đoàn lớn bị phá sản, sáp nhập, hoặc bán lại. Qua đó, chúng ta có thể hình dung phần nào ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính.

Bảng 1 : Danh sách một số tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhập trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007 - 2010
http://svnckh.com.vn

26

STT

Tên tổ chức

Quy mô Tổng tài sản: 639 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: 22490 tỷ đôla Số lượng nhân viên:

Thiệt hại Nợ ngân hàng: 613 tỷ đôla Nợ trái phiếu: 155 tỷ đôla Cổ phiếu mất giá trên 90% vào ngày 15/09/2008 Thua lỗ quý IV/2007: 9,83 tỷ đôla, Thua lỗ ròng quý I/2008: 1,97 tỷ đôla, Mất giá tài sản (2007): 16,7 tỷ đôla Cổ phiếu mất giá 60% vào ngày 16/09/2008 Thua lỗ 6 2008: 13,2 tỷ đôla

Giải pháp

15/09/2008: Nộp đơn phá sản theo chương 1 Luật Phá Sản Mỹ Là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ

1

Lehman Brothers

26200 người Là một trong 4 ngân hàng đầu tư lớn nhất của Hoa Kỳ Tổng tài sản: 1,02 nghìn tỷ đôla Số lượng nhân viên: 60.000 người Xếp thứ 32 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất trên thế giới) Tổng tài sản: 1,05 nghìn tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần 78,09 tỷ đôla Số lượng nhân viên:

Bán cho ngân hàng Mỹ (Bank of America) với giá 50 tỷ đôla

2

Merrill Lynch

16/09/2008: Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cấp tín dụng 80 tỷ tương đương

3

AIG

116.000 người Xếp thứ 6 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất trên thế giới)

tháng đầu năm 79,9 % cổ phần

http://svnckh.com.vn

27

Tổng tài sản: 211 tỷ đôla Là tập đoàn chiếm 20% tổng tài sản thế chấp của Mỹ, tương đương 3,5% 4
Countrywide GDP. Tổ chức tiết kiệm Financial

Thua lỗ (2007): 2,5 tỷ đôla (2007): 1 tỷ đôla

01/07/2008: Bán cho ngân hàng Mỹ (Bank of 4,1 tỷ đôla

Mất giá tài sản America) với giá

và cho vay lớn thứ 3, đồng thời là ngân hàng có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử nước Mỹ Tổng tài sản: 350,4 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: 66,7 tỷ đôla Số lượng nhân viên: 15.500 người Là công ty chứng khoán lớn thứ 7 thế giới Tổng tài sản: 32 tỷ đô Là tổ chức cho vay và gửi tiết kiệm lớn nhất ở Los Angeles, đồng thời là tổ chức thế chấp lớn

Thiệt hại quý IV/2007: 859 triệu đôla (2007): 1,9 tỷ đôla

30/05/2008: Bán cho JP Morgan Chase với giá

5

Bear Stearns

Mất giá tài sản 1,1 tỷ đôla

Tiền gửi khách hàng: 19 tỷ đôla Chi phí 8,9 tỷ đôla cho BHTG. Chi phí 541 triệu đôla cho các khoản tiền gửi vượt mức bảo

11/07/2008: Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ FDIC tiếp quản.

6

Indy Mac

thứ 7 ở Hoa Kỳ.

http://svnckh.com.vn

28

hiểm. Tổng tài sản: 794,4 tỷ đôla; Tổng vốn góp cổ phần: 26,7 tỷ đôla Số lượng nhân viên: 7 Freddie Mac 5.281 người Là công ty công lớn thứ 20 trên thế giới và là công ty tài chính lớn thứ 2 về thế chấp tại Mỹ. Tổng tài sản: 882,5 tỷ đôla; Tổng vốn góp cổ 8 phần: 44 tỷ đôla Fannie Mae Là tổ chức hàng đầu trong thị trường thế chấp dưới chuẩn của Mỹ.
Nguồn: http://www.saga.vn

Thua lỗ (2007): 4,6 tỷ đôla Thua lỗ quý II/2008: 821 triệu đôla

7/9/2008: FED kí hợp đồng bỏ ra 1 tỷ đôla hỗ trợ cho Freddie Mac, đổi lại giành quyền kiểm soát các cổ phiếu ưu đãi đặc biệt của công ty này.

Thua lỗ (2007): 2 tỷ đôla; Thua lỗ quý II/2008: 2,3 tỷ đôla.

07/09/2008: cùng với Freddie Mac bị FED tiếp quản.

2.2. FDIC sát cánh cùng bộ tài chính và cục dự trữ liên bang Mĩ (FED) giải quyết khủng hoảng 2.2.1. Quỹ vốn của FDIC bị sụt giảm nặng nề do phải chi trả quá nhiều trong các cuộc đổ vỡ ngân hàng. Tuy nhiên, FDIC vẫn thể hiện sự chuyên nghiệp trong việc tiếp nhận và xử lý ngân hàng đổ vỡ, giải quyết nhanh gọn, giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng Mỹ Khủng hoảng tài chính ở Mỹ trong giai đoạn 2007-2010 đã dẫn đến sự đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng tại quốc gia này. Nếu như trong năm 2007, con số ngân hàng bị đóng cửa là 3 ngân hàng với giá trị tổng tài sản vào khoảng 2,6 tỷ USD, thì trong các năm tiếp theo con
http://svnckh.com.vn

29

số này đã tăng lên đáng kể với 25 ngân hàng vào năm 2008 và lên tới 140 ngân hàng phải đóng cửa vào năm 20097. Qua đó có thể thấy sức ảnh hưởng mạnh mẽ của khủng hoảng tài chính và sự đổ vỡ mang tính chất dây chuyền của một trong những hệ thống ngân hàng hùng mạnh nhất thế giới. Tính cho đến ngày 4/6/2010, đã có thêm 80 ngân hàng nữa tại Mỹ phải đóng cửa. Sự đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng đã đè một gánh nặng lên tổ chức bảo hiểm tiền gửi Liên bang Hoa Kỳ (FDIC). Cụ thể, FDIC đã phải chi trả rất nhiều tiền cho việc xử lý và tiếp nhận các ngân hàng bị phá sản:

FDIC Bank Failures Year 2007 2008 2009 2010 Total No. of Failed Banks 3 25 140 80 248 Total Assets of Failed Banks $2.602.500.000 $373.588.780.000 $170.867.000.000 $68.171.000.000 $615,229,280,000 Loss to FDIC’s DIF $113.000.000 $15.708.200.000 $36.432.500.000 $16.786.600.000 $69,040,300,000

Nguồn: http://www.calculatorplus.com/savings/advice_failed_banks.html

Từ khi khủng hoảng diễn ra, quỹ vốn của FDIC đã sụt giảm gần 3 lần từ 52,4 tỷ USD vào cuối năm 20078 xuống còn 17,3 tỷ USD vào cuối năm 20089

7

http://www.fdic.gov/bank/historical/bank/index.html

8 9

http://www.fdic.gov/about/strategic/report/2007annualreport/statements_DIF.html http://www.fdic.gov/about/strategic/report/2008annualreport/statements_dif_1.html
http://svnckh.com.vn

30

nhiều ngân hàng thua lỗ, kho tiền mặt dự trữ của FDIC tiếp tục bị hao hụt 20%. Và vào hồi tháng 10/2009, quan chức FDIC cho biết quỹ BHTG này đã bị thâm hụt; báo cáo ngày 24/11/2009 lần đầu tiên công bố con số thâm hụt tài khoản của quỹ này là 8,2 tỷ USD10. Đây cũng là lần đầu tiên kể từ năm 1991 tới nay, quỹ bảo hiểm tiền gửi của FDIC rơi vào tình trạng âm11. Theo đà này, FDIC dự tính số lượng ngân hàng sụp đổ sẽ tiêu tốn của cơ quan này khoảng 100 tỷ USD trong vòng 4 năm tới (2010-2013). Với những số liệu kể trên, FDIC đã và đang phải đối mặt với nguy cơ cạn kiệt nguồn quỹ bảo hiểm cũng như sự đổ vỡ của hàng loạt các ngân hàng khác trong thời gian tới. Tuy nhiên trước tình thế

thống ngân hàng. Giai đoạn khủng hoảng tài chính từ năm 2007 đã chứng kiến một loạt các định chế tài chính – ngân hàng khổng lồ của Mỹ sụp đổ như: Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers, Merrill Lynch, AIG, Washington Mutual Bank,... gây ra thiệt hại lớn không chỉ đối với hệ thống tài chính ở Mỹ mà còn làm chấn động hệ thống tài chính toàn cầu. Tuy nhiên với cách giải quyết những vụ đổ vỡ rất khéo léo theo nguyên tắc chi phí thấp nhất, chi trả nhanh nhất và bán lại tài sản với giá cao nhất, FDIC đã góp phần giảm bớt thiệt hại, ổn định thị trường. Tính chuyên nghiệp của FDIC trước hết được thể hiện ở việc chỉ vài ngày sau khi một ngân hàng bị đóng cửa, FDIC đã nhanh chóng sắp xếp để toàn bộ tiền gửi của khách hàng ở một ngân hàng được chuyển sang một ngân hàng tiếp nhận khác. Ngân hàng này
10

http://www.webbaohiem.net/tin-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/2791-fdic-roi-vao-tinh-trang-thamhut-tien-2511-1629.html 11 http://vneconomy.vn/2010022405235477P0C99/gan-110-so-ngan-hang-my-co-nguy-co-bi-xoa-so.htm
http://svnckh.com.vn

31

có thế là một ngân hàng Bắc cầu được FDIC thành lập ra để tạm thời tiếp nhận tiền gửi của khách hàng, duy trì hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị đổ vỡ hay một ngân hàng tiếp nhận khác đã được FDIC thương lượng trước. Theo đó, khách hàng vẫn có thể giao dịch bình thường trong khoản tiền gửi ngân hàng của họ qua việc kí séc, sử dụng máy ATM hay thẻ tín dụng. Các loại séc của ngân hàng đổ vỡ vẫn được giao dịch bình thường trong một khoảng thời gian theo quy định, và các khoản nợ của khách hàng vẫn được thanh toán như thường lệ. Bên cạnh đó, toàn bộ hoặc một phần tài sản của ngân hàng cũ cũng sẽ được ngân hàng mới mua lại. Mọi chi phí chênh lệch do việc bán lại tổ chức tài chính bị phá sản sẽ do FDIC chi trả. Có thể dẫn chứng một ví dụ điển hình như việc FDIC giải quyết vụ đổ vỡ của Indy Mac vào tháng 7 năm 2008.

FDIC được lựa chọn là cơ quan tiếp nhận Indy Mac, theo đó FDIC lập ra một ngân hàng bắc cầu

12

Ngoài ra để thực hiện nguyên tắc chi phí tối thiểu, FDIC trước đó đã phải tính toán lựa chọn giữa việc tiến hành chi trả hay thành lập ngân hàng bắc cầu để tiếp quản ngân hàng đổ vỡ. Trong trường hợp của Indy Mac, nếu tiến hành chi
12

http://www.div.gov.vn/DesktopModules/VietTotal.Articles/PrintView.aspx?ItemID=635

http://svnckh.com.vn

32

– phục hoạt động của ngân hàng; Indy Mac Federal Bank hoạt động dưới mô hình ngân hàng bán lẻ có 33 chi nhánh và tổng tiền gửi là 6,5 tỷ USD. Đến đầu năm 2009, sau một thời gian khôi phục hoạt động, FDIC đã bán IndyMac cho Tập đoàn đầu tư IMB Hold Co với giá 13,9 tỉ USD13. Mới đây, vào tháng 3/2010, FDIC cũng đã đồng ý dàn xếp bán toàn bộ tiền gửi và phần lớn tài sản của ngân hàng Park Avenue (ngân hàng này bị đóng cửa ngày 12/3/2010) cho ngân hàng Valley National Bank. Ngân hàng Valley National Bank đồng ý với sự dàn xếp này. FDIC sẽ chia sẻ thua lỗ về số tài sản được bán cho Valley National Bank14. Về nguồn vốn đang bị thâm hụt,

15

tăng gấp đôi mức phí mà các ngân hàng phải đóng để đóng góp vào quỹ BHTG vốn đã bị sụt giảm lớn nhất trong 25 năm qua và đã xuống dưới mức quy định tối thiểu theo luật. Cụ thể, từ 01/01/2009, các ngân hàng sẽ bắt đầu phải đóng phí từ 12% – 50% trên 100 USD tiền gửi. Trước đó, mức phí này là 5% – 43%16. Trong năm 2009, FDIC cũng đã thực thi một biện pháp chưa từng có trước đây như yêu cầu các ngân hàng trả trước khoảng 36 tỷ USD phí bảo
13

http://www.laodong.com.vn/Home/My-ban-Ngan-hang-IndyMac/20091/121495.laodong (Lao Động số 3 Ngày 05/01/2009 ) 14 http://tintuc.xalo.vn/00-1867915199/nam_2010_nuoc_my_da_chung_kien_30_ngan_hang_sup_do.html 15 http://www.div.org.vn/news_detail.asp?CatID=33&id=830 16 http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/11/09/vai-tr-của-bảo-hiểm-tiền-gửi-mỹ-trong-quản-lkhủng-hoảng/
http://svnckh.com.vn

33

hiểm để bổ sung quỹ BHTG đã cạn kiệt nặng nề trước sự sụp đổ ồ ạt của các ngân hàng. Đây là lần đầu tiên FDIC yêu cầu phí bảo hiểm trả trước. Theo kế hoạch, các ngân hàng sẽ phải trả trước khoản phí bảo hiểm của họ trong năm 2010-2012 với khoảng 12 tỷ USD/năm.17 2.2.2. Nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi, hạn chế việc rút tiền hàng loạt. Khi khủng hoảng tài chính xảy ra kéo theo sự đổ vỡ của các định chế tài chính lớn, nguy cơ người gửi tiền sẽ đến ngân hàng rút tiền ồ ạt tăng cao và trở thành một thách thức lớn. “Đột biến rút tiền gửi ngân hàng” có thể hiểu là hiện tượng người gửi tiền ồ ạt rút tiền tại ngân hàng do họ lo sợ rằng, ngân hàng mà mình gửi tiền có thể bị đổ vỡ và tiền gửi của họ có thể bị thiệt hại18. Một ví dụ điển hình như tại Anh, khi ngân hàng Northern Rock đứng trên bờ vực phá sản, cổ phiểu của Northern Rock đã giảm tới 37% giá trị. Trước thông tin đó, hàng triệu khách hàng của ngân hàng này đã lũ lượt tới rút tiền khỏi ngân hàng mặc dù các nhà chức trách đã trấn an rằng với nguồn vốn lên tới 113 tỷ USD, Northern Rock đảm bảo chi trả đủ tiền gửi19. Hoa Kỳ là nước chịu tác động lớn nhất từ khủng hoảng tài chính nhưng điều đáng nói là người dân ở đây không quá hoang mang, hỗn loạn đến mức ồ ạt kéo đến ngân hàng rút tiền. Đó là nhờ vào phản ứng kịp thời của của các nhà quản lý và tổ chức BHTG Liên bang FDIC đã điều chỉnh hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm - khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG sẽ thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được BH tại các tổ

17

http://www.webbaohiem.net/tin-quốc-tế/2826-fdic-co-the-yeu-cau-cac-ngan-hang-tra-truoc-36-tyusd.html
18

http://www.nclp.org.vn/chinh_sach/111ot-bien-rut-tien-gui-thach-thuc-lon-trong-thoi-khung-hoang-taichinh
19

http://www.div.gov.vn/DesktopModules/VietTotal.Articles/PrintView.aspx?ItemID=1072
http://svnckh.com.vn

34

chức tham gia BHTG bị giải thể, phá sản. Theo bản kế hoạch giải cứu ngành tài chính trị giá 700 tỉ USD được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 3/10/2008, FDIC đã nâng hạn mức BHTG từ 100.000 USD lên 250.000 USD (hạn mức này được duy trì đến hết ngày 31/12/2009) để người dân có thể yên tâm vào hệ thống BHTG, không lo bị mất tiền gửi, tạo tâm lý bình tĩnh trước những biến động mạnh của thị trường tài chính20. Ngoài ra, vào ngày 19/5/2009, Quốc hội Hoa Kỳ cũng tuyên bố kéo dài phạm vi bảo hiểm 250.000 USD đến ngày 31/12/201321. Điều này có nghĩa là nếu khách hàng có từ 250.000 USD trở xuống trong tất cả các tài khoản tiền gửi tại một tổ chức tham gia BHTG thì sẽ được áp dụng hình thức bảo hiểm toàn phần – khách hàng sẽ được chi trả toàn bộ số tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc giải thể. 2.2.3. FDIC đã thực hiện chương Chương trình này

- C BH

: BHTG. Mục đích của chương trình là

giải thoát thị trường tín dụng, đặc biệt là thị trường tín dụng liên ngân hàng. Sự khủng hoảng của thị trường tín dụng đã làm suy yếu nghiêm trọng khả năng trả nợ của các công ty. Chương trình này được thiết kế nhằm xoa dịu

20

http://www.div.org.vn/news_detail.asp?CatID=33&id=841 http://www.fdic.gov/consumers/consumer/news/cnspr09/coverage.html
http://svnckh.com.vn

21

35

khủng hoảng trong thị trường tín dụng và giúp các ngân hàng tiếp cận nguồn thanh khoản theo hai cách: Thứ nhất, FDIC bảo đảm cho các khoản nợ mới, dài hạn không có bảo đảm do ngân hàng, quỹ tiết kiệm hoặc công ty mẹ phát hành để tự hỗ trợ cho nguồn vốn hoạt động của mình. Nợ phát hành trong khoảng cuối tháng 6 năm 2009 sẽ được FDIC bảo đảm hoàn toàn đến tháng 6 năm 2012, điều này sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư các điều kiện cần thiết và thuận tiện để đầu tư vào trái vụ dài hạn hơn của các định chế tài chính. Thứ hai, chương trình mới cung cấp khoản mức BH không giới hạn đối với các tài khoản tiền gửi thanh toán không hưởng lãi. Chương trình này chỉ định quan tâm cấp thiết đến các tài khoản doanh nghiệp nhỏ như các tài khoản thanh toán lương, thường hay vượt quá hạn mức chi trả tối đa là $250.000. Rất nhiều các ngân hàng nhỏ đã mất các tài khoản vào các ngân hàng cạnh tranh lớn hơn vì hệ thống kinh tế không minh bạch. Khoản bảo đảm mới nhưng tạm thời này, hoạt động cho đến cuối năm 2010, sẽ giúp ổn định những tài khoản trên và giúp Mỹ có thể tránh đóng cửa các ngân hàng vì những khoản rút tiền hàng loạt. Những đối tượng thích hợp để tham gia chương trình này gồm: Các định chế được FDIC bảo hiểm tiền gửi; Công ty mẹ ở Mỹ, bao gồm các công ty sở hữu tài chính; Các công ty cho vay và nhận tiền gửi. FDIC nhận ra rằng có thể sẽ có những tình huống mà chương trình cần phải được mở rộng, để bảo đảm những công ty lớn lẫn các công ty con không đủ tư cách phát hành nợ vì lợi ích của một định chế được bảo hiểm hoặc của một công ty có đủ tư cách. Để điều tiết trong những tình huống này, Luật tạm thời có một chương áp dụng cho những công ty mẹ và các chi nhánh. Trong vòng 30 ngày đầu thực hiện chương trình, những đối tượng tham gia không bị tính phí. Các đối tượng tham gia cần đăng ký tham gia theo cách thứ nhất hay thứ
http://svnckh.com.vn

36

hai hay cả hai cách. Điều đáng lưu ý là chương trình này không dựa trên những quỹ từ nguồn thu thuế, hoặc dựa trên Quỹ bảo hiểm tiền gửi. Các khoản bảo đảm FDIC cung cấp là những khoản lớn và có sự hỗ trợ bảo đảm hoàn toàn của Chính phủ Mỹ, Luật tạm thời quy định phí tham dự để bù đắp chi phí. Dưới đây là danh sách một số ngân hàng trong tham gia chương trình nói trên.
STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 First Bank of Boaz First Progressive Bank Cullman Savings Bank First Federal Savings and Loan Association of Cullman BankSouth Horizon Bank The Citizens Bank Liberty Bank Peoples Bank of Greensboro The Headland National Bank Security Federal Savings Bank Metro Bank The Peoples Bank of Red Level The Citizens Bank of Valley Head The Farmers & Merchants Bank Bank of Bearden Community State Bank The First National Bank of Izard County River Town Bank Decatur State Bank Tên ngân hàng Thanh phố BOAZ BREWTON CULLMAN CULLMAN DOTHAN FYFFE GENEVA GERALDINE GREENSBORO HEADLAND JASPER PELL CITY RED LEVEL VALLEY HEAD WATERLOO BEARDEN BRADLEY CALICO ROCK DARDANELLE DECATUR

http://svnckh.com.vn

37

21 22 23 24 25 26 27 28 29 30

Bank of Delight Bank of Gravett Farmers Bank The Bank of Rison Logan County Bank Smackover State Bank Bodcaw Bank Bank of Star City Nordstrom fsb First Commercial Bank (USA)

DELIGHT GRAVETTE GREENWOOD RISON SCRANTON SMACKOVER STAMPS STAR CITY SCOTTSDALE ALHAMBRA

Nguồn: http://www.fdic.gov/regulations/resources/tlgp/optout.html

Chương trình bảo lãnh tài khoản giao dịch này vừa được Hội đồng quản trị Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Mỹ phê chuẩn một quyết định tạm thời để kéo dài thêm thời gian cho tới 31/12/2010 thay cho quyết định cũ chỉ đến 30/6/2010. Quyết định này sẽ BH toàn bộ tài khoản giao dịch của khách hàng tại các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi22. Chủ tịch FDIC, bà Sheila Bair cho biết: Do ảnh hưởng kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính đã làm một loạt các ngân hàng bị phá sản hoặc đặt trong tình trạng khẩn cấp. Việc kéo dài chương trình TAG sẽ giúp cho khách hàng cảm thấy yên tâm và không có hiện tượng rút tiền hàng loạt khi biết tài khoản của mình vẫn được BH, tránh được “hiệu ứng domino” phá sản của các ngân hàng. Đồng thời, cung cấp một nguồn vốn ổn định cho các ngân hàng tham gia, giúp họ duy trì hoạt động của mình với chi phí thấp, tiền gửi lớn qua đó bảo toàn được lượng tiền gửi từ các tài khoản giao dịch, từng bước tái tạo lại thu nhập và nguồn vốn hoạt động của đơn vị hay chính là bảo vệ quỹ của BHTG.
22

FDIC Board of Directors Approves Extension of Transaction Account Guarantee Program, FDIC Press Releases PR - 75/2010, July 13, 2010
http://svnckh.com.vn

38

Đến hết năm 2009, có gần 6400 tổ chức tham gia BHTG, chiếm khoảng 80% trong tổng số của ngành công nghiệp kinh doanh tiền với số tài sản ước tính khoảng 266 tỷ USD thì vẫn tiếp tục tham gia chương trình TAG và được hưởng lợi từ việc đảm bảo của FDIC với số phí thu theo mức độ rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG và được tiếp tục giữ nguyên trong quyết định này. Hội đồng quản trị cũng đang cân nhắc việc giảm mức phí xuống còn 0,25% dựa trên báo cáo số dư trung bình hàng ngày của các tài khoản được BH để giảm áp lực đối với các ngân hàng. Chủ tịch FDIC cũng cho biết thêm: Quyết định này sẽ tiếp tục giúp các tổ chức tham gia BHTG duy trì được tính thanh khoản tốt để cho vay hỗ trợ nhằm phục hồi nền kinh tế đất nước. Bà cũng hy vọng Quốc hội sẽ quan tâm và sớm thông qua hạn mức bảo hiểm vì điều này là rất quan trọng để giúp cho BHTG Liên bang tiếp tục đứng vững và ổn định tài chính Quốc gia. :

trả gốc v

23

m:

23

http://svnckh.com.vn

39

2.2.4. FDIC sát cánh cùng bộ tài chính và cục dự trữ liên bang Mĩ, mua lại tài sản xấu để cứu vãn hệ thống tài chính: Các ngân hàng Mỹ hiện vẫn nắm giữ nhiều tài sản liên quan tới thế chấp mà không thể định giá hoặc bán. Việc có quá nhiều cái gọi là "tài sản xấu" đã hạn chế khả năng cho vay, khiến hệ thống tài chính Mỹ bị đóng băng và đẩy nền kinh tế nước này chìm sâu hơn vào suy thoái. Chương trình Đầu tư Nhà nước-tư nhân (PPIP), được thiết kế để mua toàn bộ các "tài sản xấu" làm ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng nước này. Điểm quan trọng trong PPIP là Bộ Tài chính, FED và FDIC sẽ cùng tham gia rót vốn hoặc bảo đảm, xác định giá trị và đấu giá số tài sản xấu. Để khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia chương trình, Chính phủ sẽ cung cấp cho họ các đảm bảo và các khoản cho vay lãi suất thấp thông qua FDIC24. PPIP gồm hai phần, phần một gọi là Kế hoạch Giải tỏa các Khoản nợ Tồn đọng (Legacy Loans Program - LLP), phần hai là Kế hoạch Giải tỏa các Chứng khoán Tồn đọng (Legacy Securities Program - LSP). FDIC được giao quản lí Chương trình thứ nhất, LLP với qui trình như sau: FDIC yêu cầu các ngân hàng chào hàng các khoản cho vay tồn đọng (legacy loans) muốn thanh lý và đứng ra tổ chức đấu thầu những khoản vay này. FDIC sẽ kêu gọi các nhà đầu tư tư nhân đấu thầu và người chào giá cao nhất sẽ cùng FDIC đứng ra lập một quĩ đầu tư liên doanh để mua số tài sản thắng thầu đó. Nhà đầu tư tư nhân và TARP sẽ bỏ mỗi bên 7.15% giá trị của số tài sản này vào quĩ, còn lại 85.7% sẽ đi vay từ các nguồn bên ngoài và FDIC bảo lãnh cho khoản vay này. Điểm mấu chốt của LLP là việc FDIC bảo lãnh 85.7% tổng số tiền đầu
24

ThS Nguyễn Thị Hồng Ngọc – Chi nhánh BHTGVN Khu vực Hà Nội - 17/12/2009
http://svnckh.com.vn

40

tư của liên doanh. Vì quĩ này có tỷ lệ đòn bẩy tài chính là 6:1 (=85.7:14.3), nên đòn bẩy tài chính của nhà đầu tư tư nhân là 12:1, nghĩa là nếu quĩ lời 1% trên tổng số tài sản thì nhà đầu tư lời 12% trên số tiền mình góp vào quĩ. Ngược lại, trong trường hợp quĩ bị lỗ thì tối đa nhà đầu tư chỉ mất số 7.15% của mình, phần còn lại TARP và FDIC sẽ chịu. Chính cơ chế lời ăn lỗ (quá 7.15%) chính phủ chịu này sẽ khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào LLP. Những hoạt động của Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) trong thời kỳ khủng hoảng cho thấy, FDIC đóng vai trò nhất định trong việc thực hiện các kế hoạch giải cứu thoát khỏi khủng hoảng của Chính phủ Mỹ.

CHƢƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM - DIV 3.1. Ảnh hưởng của khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam 3.1.1. Đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung Khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ không có nhiều tác động trực tiếp đến hệ thống tài chính Việt Nam bởi hệ thống tài chính Việt Nam dường như chưa hội nhập sâu rộng với hệ thống tài chính toàn cầu. Nước ta chỉ mới mở cửa tài khoản vốn vào mà hầu như chưa mở cửa dòng ra. Tuy nhiên trên từng lĩnh vực, khủng hoảng tài chính vẫn có những tác động nhất định như sau:
http://svnckh.com.vn

41

- Xuất nhập khẩu: Đây là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc suy thoái của Mỹ vì hiện nay Mỹ chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên những ngành như may mặc, giày dép và hàng thủy sản là chịu thiệt hại nhiều nhất khi phải cạnh tranh với những doanh nghiệp Mỹ và người tiêu dùng Mỹ thắt chặt chi tiêu. - Dòng vốn đầu tư: Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam vẫn cao qua các năm 2007-2009 do nó mang tính dài hạn, các nhà đầu tư chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII) có bị ảnh hưởng nhưng không nhiều. - Bất động sản: FDI vào lĩnh vực khu cao ốc văn phòng, resort cao cấp bị suy giảm, nhưng không phải là điều đáng lo ngại. - Đối với ngành du lịch: Khách du lịch vào Việt Nam không chỉ bao gồm khách cao cấp mà rất đa dạng nên ngành du lịch cũng không bị ảnh hưởng nhiều. 3.1.2. Đối với hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tài chính Đối với hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tài chính nói riêng bị ảnh hưởng không đáng kể vì : - Hầu hết các ngân hàng Việt Nam là ngân hàng thương mại, độ phân tán rủi ro cao và cũng không mua chứng khoán MBS, CDO của Mỹ, hơn nữa còn chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ Việt Nam. - Thị trường chứng khoán cũng bị ảnh hưởng nhất định vì tâm lý của nhà đầu tư Việt Nam bị ảnh hưởng, một phần do nhà đầu tư ngoại rút vốn về nước. Nhưng thực sự thị trường chứng khoán phản ánh yếu tố nội tại của nền kinh tế nên mặc dù hiện nay chỉ số chứng khoán duy trì ở mức thấp so với trước khi khủng hoảng nhưng không đáng quan ngại. Thực sự thì hệ thống tiền tệ và thị trường vốn, thị trường chứng khoán ở Việt Nam bị tổn thương, bất ổn chủ yếu là do các yếu tố trong nội tại như
http://svnckh.com.vn

42

thiếu tính công khai, thiếu minh bạch, tồn tại giao dịch nội gián...chứ không liên quan nhiều đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. 3.2. Thực trạng hoạt động của DIV : 3.2.1. Về những thành quả đã đạt được Qua hơn chín năm hoạt động, DIV đã có những đóng góp tích cực đến hệ thống tài chính ngân hàng quốc gia: Bên cạnh việc triển khai có hiệu quả DIV đã thực hiện công khai hóa chính sách BHTG theo quy định của pháp luật, qua đó góp phần củng cố niềm tin của người gửi tiền đối với tổ chức tham gia BHTG, thúc đẩy việc huy động tiền gửi cho đầu tư phát triển, tăng cường uy tín của các tổ chức tham gia BHTG. Tại khắp các quầy giao dịch của các tổ chức tín dụng đều niêm yết Giấy chứng nhận BHTG hay thông điệp “ tiền gửi được bảo hiểm”. Điều đó chứng tỏ một điều là chính sách BHTG đã thực sự đi vào cuộc sống và sát cánh cùng các tổ chức tín dụng. Hơn nữa, thông qua việc kiểm soát rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG bằng các hoạt động giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ, DIV góp phần thúc đẩy quá trình củng cố, chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức tham gia BHTG. Việc kiểm soát rủi ro được DIV thực hiện chủ yếu trên cơ sở tiếp nhận và xử lý các thông tin được cung cấp, trao đổi từ các nguồn khác nhau. Thông tin có thể được cung cấp trực tiếp cho DIV từ người gửi tiền hay từ tổ chức tham gia BHTG dưới dạng văn bản, báo cáo hay các file dữ liệu...theo quy định của Nhà nước về BHTG. Sau 5 tháng kể từ khi Quy định về thông tin báo cáo áp dụng cho các tổ chức tham gia BHTG (QĐ 191 – tháng 8/2006) của tổ chức BHTG Việt Nam có hiệu lực, DIV đã hoàn thành xây dựng hệ thống truyền nhận điện tử được thiết kế trên cơ sở website, để thực hiện việc truyền tin báo cáo điện tử và hướng dẫn thực hiện các quy định về thông tin. Các ngân hàng Việt Nam đã nhận thức
http://svnckh.com.vn

43

rõ được vai trò và trách nhiệm của mình trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, thể hiện rõ tinh thần sẵn sàng trong việc áp dụng các quy định chung của thế giới nên đã tích cực triển khai và rất có ý thức cung cấp thông tin cho DIV. Điều này tạo cơ sở tốt cho DIV thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát từ xa, cảnh báo kịp thời để tránh sự đổ vỡ cho các tổ chức tham gia BHTG. Hơn nữa, DIV cũng gửi những thông tin nổi bật và các số liệu chung về hệ thống ngân hàng mỗi quý tới các ngân hàng qua mục “thông tin khách hàng” với mục đích cung cấp thêm thông tin tham khảo cho những ngân hàng quan tâm tới công tác đánh giá và phân tích, góp phần làm tăng tính minh bạch và công khai cho hoạt động kiểm tra giám sát của DIV. Ngoài ra, DIV cũng có thể nắm được thông tin gián tiếp nhờ việc trao đổi thông tin với các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành cũng như các cơ quan có liên quan đến hoạt động BHTG. Theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về BHTG25
26

, việc trao đổi, chia sẻ thông tin giữa Thanh tra

Ngân hàng Nhà nước-Ban kiểm soát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước tại tổ chức tham gia BHTG với DIV được thực hiện bằng văn bản theo định kì và đột xuất (nếu có), thông qua hình thức khai thác thông tin cần thiết cho DIV đưới dạng truyền qua mạng tin học của Cục Công nghệ tin học Nhà nướcNgân hàng Nhà nước. Ngoài ra, DIV còn tiến hành kiểm tra đối với những tổ chức tham gia BHTG về việc chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng như: các tỷ lệ đảm bảo an toàn, các giới hạn đảm bảo an toàn, dự phòng rủi ro...Thông qua việc giám sát rủi ro của các tổ chức tham
25

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi.
26

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( 2005), Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/5/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 89/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về BHTG.

http://svnckh.com.vn

44

gia BHTG, DIV từng bước tiến tới thực hiện phân loại, xếp loại, cho điểm để đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động của từng tổ chức nhằm thực hiện lộ trình áp dụng loại phí BH điều chỉnh theo mức độ rủi ro. DIV cũng đã thực hiện nghiệp vụ hỗ trợ tài chính đối với một số tổ chức tham gia BHTG có khó khăn tạm thời về tài chính, tránh nguy cơ đổ vỡ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, sâu rộng đến sự an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng và sự ổn định chính trị, kinh tế- xã hội. Nghị định 109/NĐ-CP ngày 24/8/2005 ra đời là khung pháp lý cho hoạt động hỗ trợ tài chính của DIV trong trường hợp các tổ chức tham gia BHTG có khó khăn về chi trả. Với chức năng này, DIV đã thực sự trợ giúp các tổ chức tín dụng vượt qua khó khăn để phát triển. Sau sự cố xảy ra đối với một số ngân hàng TMCP vào năm 2005, ngoài việc triển khai nghiệp vụ cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi được BH cho người gửi tiền, DIV đã triển khai nghiệp vụ bảo lãnh để các tổ chức tham gia BHTG có thể vay của các tổ chức tài chính khác. Biện pháp xử lý đổ vỡ Ngân hàng hiện nay trong chính sách BHTG Việt Nam được áp dụng nhiều nhất là thực hiện chi trả tiền BH cho các khách hàng của tổ chức bị đổ vỡ. Một tổ chức tham gia BHTG bị coi là đổ vỡ khi tổ chức đó mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản chấm dứt hoạt động, bị giải thể bắt buộc hoặc bị phá sản, phải chi trả tiền BH. Sau khi đã chi trả BH cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG bị phá sản, DIV trở thành chủ nợ đối với tổ chức đó và có quyền tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức đó. Tiền thu hồi từ thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản được DIV chuyển vào quỹ dự phòng nghiệp vụ BH, làm tăng thêm nguồn vốn cho quỹ. Hinh thức xử lý đổ vỡ ngân hàng bị phá sản dựa vào trình tự xử lý của Luật Phá sản.
http://svnckh.com.vn

45

Tóm lại là DIV đã thực sự góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, duy trì sự phát triển an toàn lành mạnh của hệ thống các tổ chức tham gia BHTG, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, là nhân tố quan trọng trong việc phát huy nguồn vốn nội lực để phát triển kinh tế, giữ vững ổn định, an ninh kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội. 3.2.2. Những tồn tại và hạn chế: Tuy nhiên, hoạt động BHTG ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, cụ thể như: Thứ nhất, văn bản pháp lý điều chỉnh lĩnh vực hoạt động BHTG mới chỉ ở mức Nghị định, trong khi hầu hết các lĩnh vực về hoạt động tài chính – ngân hàng đều đã có luật điều chỉnh27. Điều này làm hạn chế địa vị pháp lý của DIV, chưa tương xứng với vai trò, chức năng trong việc phải điều chỉnh một lĩnh vực hoạt động rộng khắp, mang tính nhạy cảm cao, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của hàng triệu lượt người gửi tiền và hàng nghìn tổ chức tham gia BHTG, đặc biệt khi có sự kiện BH xảy ra sẽ nảy sinh xung đột về quyền lợi, mà vấn đề này lại có liên quan đến sự điều chỉnh của hầu hết các bộ luật, hiến pháp. Trong khi đó, tại hầu hết các nước trên thế giới có mô hình BHTG hoạt động hiệu quả thì khuôn khổ pháp luật cho chính sách BHTG đều là Luật. Có thể dẫn chiếu một số Luật như: “Luật BHTG” của Mỹ, “Luật BHTG Ngân hàng” của Canada, “Luật về ngành tín dụng” của Đức, “Luật BHTG” của Nhật, “Luật BHTG” của Đài Loan, “Luật DDOEF No 94-6” của Pháp28. Như vậy, Luật BHTG là khuôn khổ pháp luật, là nền tảng pháp lý để tạo dựng vị thế cho chính sách BHTG, cũng như cho sự phát

27 28

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Luật các tổ chức tín dụng. Philippe A.Goutin (2001), Hội thảo BHTG và kiểm soát Ngân hàng.
http://svnckh.com.vn

46

triển ổn định của hệ thống BHTG, góp phần thực thi hiệu quả các chính sách của quốc gia. Thứ hai, năng lực tài chính của tổ chức BHTG còn thấp so với thông lệ quốc tế. Tổng lượng vốn đầu tư của DIV tính đến 30/11/2009 là 4879 tỷ đồng trong đó phần chênh lệch 3879 tỷ đồng là do tích lũy trong 10 năm từ tiền lãi đầu tư vốn tạm thời nhàn rỗi và tiền thu phí BHTG
29

-

DIV DIV Thêm vào đó, việc cấp vốn cho tổ chức BHTG theo tỷ lệ bao nhiêu, phải duy trì tỷ lệ như thế nào và vốn cấp là bao nhiêu thì phù hợp cũng chưa được xem xét đầy đủ. Thứ ba, hiện nay Việt Nam vẫn đang áp dụng cách tính phí BH đồng hạng. Cách tính phí này tương đối phù hợp cho giai đoạn đầu mới thành lập. Tuy nhiên, hiện nay bắt đầu nảy sinh sự bất công cho phía các tổ chức tham gia BHTG hoạt động tốt, rủi ro thấp, đồng thời lại tạo cơ hội cho những tổ chức tham gia BHTG có mức rủi ro cao lạm dụng để trục lợi. Thứ tư, năng lực tiếp nhận và xử lý các tổ chức bị đổ vỡ của DIV còn rất hạn chế. Mặc dù đã đưa ra một đề án với 7 kịch bản để tiếp nhận và xử lý các tổ chức đổ vỡ dựa trên nguyên tắc thị trường, chi phí thấp nhất, thời gian nhanh nhất, thu hồi được tài sản cao nhất, có hiệu quả và chia sẻ được rủi
29

Nguyễn Thị Thuận (2009), “Nâng cao năng lực tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới”, Thông tin Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, (13), 12/2009, tr.34.
http://svnckh.com.vn

47

ro30 nhưng thực tiễn cho thấy, khi có một tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn thì vai trò của DIV mới chỉ dừng lại ở việc chi trả tiền BH cho người gửi tiền và tham gia vào quá trình thanh lý tài sản của tổ chức bị đổ vỡ. Tính đến nay, DIV đã thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho 1519 người gửi tiền với tổng số tiền là 18.700 triệu đồng tại 37 Quỹ tín dụng trên phạm vi toàn quốc31. Thứ năm, mặc dù DIV đang tích cực đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nhưng nhận thức của công chúng về BHTG và vai trò của tổ chức BHTG đối với người gửi tiền và hệ thống tài chính còn hạn chế. Đây là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro do sự cố rút tiền hàng loạt khi có những thông tin không chính xác gây hoảng loạn ngân hàng làm mất an toàn hệ thống. Bên cạnh đó, việc công khai, minh bạch về thông tin tài chính của các tổ chức tham gia BHTG còn ít được coi trọng, hoặc đã công khai thì số liệu cũng đã được chỉnh sửa, làm cho các thông tin cung cấp ra thị trường bị sai lệch. Đối với một số chức năng, nhiệm vụ như chức năng giám sát, kiểm tra tuy được giao nhưng lại không quy định chế tài xử lý nên hiệu quả không cao. 3.3. Bài học rút ra cho DIV từ vai trò của FDIC trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính Mĩ 2007-2010: Cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra tại nước Mỹ trong thời gian vừa qua được xem không chỉ là cuộc khủng hoảng lớn đối với nền kinh tế lớn nhất thế giới mà mức độ thiệt hại của nó còn có nguy cơ làm cho nền kinh tế toàn cầu suy thoái, hoạt động của nhiều ngân hàng trên thế giới có dấu hiệu suy giảm, niềm tin của người gửi tiền vào ngân hàng bị suy yếu. Mặc dù nền kinh tế cũng như hệ thống tài chính – tiền tệ của Việt Nam không chịu ảnh
30

http://vietbao.vn/Kinh-te/7-tinh-huong-khung-hoang-va-do-vo-cua-cac-ngan-hang-VietNam/65105541/91/
31

http://www.vnbaorg.info/index.php?option=com_content&task=view&id=547&Itemid=134
http://svnckh.com.vn

48

hưởng quá nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính này nhưng với việc chính thức trở thành thành viên của WTO (07/11/2007) thì tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng tự do hóa Tài chính – Ngân hàng sẽ khiến những bất ổn tiềm ẩn trên thị trường tài chính thế giới có thể tác động làm gia tăng rủi ro đối với hoạt động tài chính ở Việt Nam. Chính vì thế, một yêu cầu đặt ra đối với nước ta hiện nay là phải theo sát và nắm bắt cách thức tái cấu trúc hệ thống tài chính cũng như biện pháp giải quyết khủng hoảng của các quốc gia khác để rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Đặc biệt, như đã phân tích ở trên, trong giai đoạn khủng hoảng, BHTG đã chứng tỏ là một công cụ phát huy vai trò hiệu quả trong việc tạo lập niềm tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng; trong đó phải kể đến Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC). Từ vai trò của FDIC trong cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ 2007-2010, chúng ta có thể rút ra một số bài học cho Tổ chức BHTG của Việt Nam (DIV). 3.3.1. Tăng cường năng lực giám sát để ngăn ngừa và cảnh báo rủi ro đối với hoạt động ngân hàng Bài học được rút ra từ nguyên nhân của khủng hoảng tài chính 20072010. Ta có thể thấy trong cuộc khủng hoảng vừa rồi, việc các ngân hàng sụp đổ hàng loạt đã khiến cho hệ thống tài chính Mỹ điêu đứng. Và trong các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, nguyên nhân chủ yếu là do các tổ chức tài chính tín dụng này đã quá chủ quan và dễ dãi trong việc cho vay tiền mua bất động sản với những hợp đồng cho vay “dưới chuẩn”, cũng như là đầu tư vào các loại chứng khoán bị “nhiễm độc”, nói tóm lại là những khoản đầu tư không an toàn. Đến đây ta càng nhận rõ vai trò của việc giám sát rủi ro trong hoạt động cũng như việc tuân thủ các quy định của pháp luật của các ngân hàng. Ở Mĩ, FDIC dành rất nhiều quan tâm đến việc giám sát các ngân hàng. Nguồn nhân lực thực hiện công tác giám sát hoạt động ngân
http://svnckh.com.vn

49

hàng ở Mỹ được đầu tư đáng kể so với nhiều quốc gia khác. Ngay từ khi mới thành lập tổ chức này đã có hơn 4.000 ủy viên thực hiện công tác kiểm tra. Và cho tới năm 2008, con số này đã lên tới khoảng 8.000 người32. Nội dung kiểm tra giám sát gồm: Thứ nhất, kiểm tra việc đảm bảo là thành viên tham gia BHTG và bổ sung vốn nhằm đảm bảo quy định về vốn trong hoạt động ngân hàng. Thứ hai, kiểm tra khả năng đảm bảo hoạt động lành mạnh và an toàn của ngân hàng với 4 nội dung: xác định chất lượng tài sản hiện có; phát hiện các hoạt động tài chính phát sinh có thể dẫn đến khó khăn tài chính; thẩm định điều hành ngân hàng; phát hiện các hoạt động không bình thường và có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Như vậy, để xây dựng được một mô hình BHTG giảm thiểu rủi ro có hiệu quả thì tổ chức BHTG phải có thẩm quyền can thiệp vào mọi thời điểm trong quá trình hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, từ lúc ra đời, phát triển hay suy thoái nhằm kiểm soát và ngăn chặn rủi ro kịp thời. Trong suốt hơn chín năm hoạt động, BHTG Việt Nam không chỉ có vai trò chi trả cho các tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ mà còn phải giám sát thường xuyên, liên tục các tổ chức này. Giám sát liên tục bao gồm việc giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ. Cơ quan giám sát không có quy định hoặc không có đủ nguồn lực để kiểm tra tại chỗ định kì thì có thể thực hiện giám sát từ xa đối với các tổ chức tham gia BHTG, cách thức như đã được nhóm nghiên cứu phân tích trong phần thực trạng hoạt động. Vấn đề của DIV hiện nay là chưa xây dựng được một mô hình hoạt động theo nguyên tắc giảm thiểu rủi ro hiệu quả cũng như chưa được phép can thiệp vào hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, đồng thời, việc tiếp cận các thông tin về các tổ chức này còn nhiều hạn chế. Điều này đã gây trở
32

www.saga.vn http://svnckh.com.vn

50

ngại cho việc cảnh báo rủi ro sớm ngay từ bên trong để ngăn chặn những đổ vỡ đáng tiếc có thể xảy ra. Mục tiêu của chính sách BHTG ở Việt Nam là xây dựng hệ thống giám sát đủ mạnh theo thông lệ quốc tế cả về khung pháp lý và cơ sở vật chất kĩ thuật cho hệ thống nhằm quản lý các rủi ro để ngăn chặn, phòng ngừa và giảm thiểu tổn thất xảy ra với hệ thống BHTG. Để làm được điều này, trước hết nước ta cần nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động BHTG tại Việt Nam, trong đó cần xây dựng Luật về BHTG làm cơ sở cho DIV phát huy tốt nhất vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính ngân hàng. Các văn bản pháp luật để ban hành chính sách BHTG có "khung, hình" càng cao thì địa vị pháp lý của chính sách càng cao, từ đó, việc giám sát sẽ chặt chẽ và có hiệu quả hơn. Hiện nay, ở nước ta chưa có Luật BHTG mà các văn bản quy định quyền hạn và hoạt động của DIV chỉ dừng lại ở Nghị định và các văn bản dưới luật33; các văn bản dưới luật lại chưa thống nhất, đồng bộ nhau nên đã làm giảm năng lực hoạt động và đóng góp trong việc ổn định hệ thống tài chính quốc gia của hoạt động BHTG. Do đó, cần xây dựng Luật BHTG kế thừa những quy định tại các văn bản trước đây, học hỏi kinh nghiệm quốc tế nhưng cũng cần vận dụng phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và cần có sự tương thích với các Bộ Luật khác trong nền kinh tế mà trước hết là Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các TCTD và Luật Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng... Luật BHTG cần quy định rõ mối quan hệ và cách thức giải quyết các mối quan hệ giữa tổ chức BHTG, tổ chức nhận tiền gửi và người gửi tiền, quy định rõ chức năng giám sát của tổ

33

Nghị định số 89/1999/NĐ-CP (01/09/1999) về bảo hiểm tiền gửi; Nghị định số 109/2005/NĐ-CP (24/08/2005) Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi; Thông tư số 03/2006/TT-NHNN (25/04/2006) Về việc hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi và Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP… http://svnckh.com.vn

51

chức BHTG đối với hoạt động của các tổ chức tài chính – ngân hàng. Việc thực thi các quy định về BHTG là chưa hiệu quả. Các quy định về BHTG đều đã được ban hành nhưng việc thực hiện còn thiếu tính tự giác của các đối tượng liên quan. Trước mắt, trong khi hệ thống thông tin báo cáo và chia sẻ thông tin đầy đủ theo thông lệ quốc tế chưa được xây dựng thì việc thực hiện chia sẻ thông tin, báo cáo theo các quy định hiện hành giữa các cơ quan mạng lưới an toàn tài chính quốc gia là rất cần thiết và nên được quy định trong các văn bản pháp luật phù hợp. Cán bộ giám sát cần tăng tính tự giác trau đồi kiến thức đồng thời cũng cần đào tạo chuyên sâu và có hệ thống. Trong những năm gần đây, thị trường tài chính - ngân hàng đã phát triển nhanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đi kèm với sự phát triển nhanh của các tổ chức tín dụng là rủi ro tăng cao, công tác giám sát vì thế cũng cần được cập nhật liên tục với tính chuyên môn ngày càng cao. Một trong những lí do của sự kém hiệu quả trong công tác giám sát là sự phức tạp của trong hoạt động của các tổ chức tăng lên nhưng năng lực cán bộ lại không tăng tương ứng. Nước ta còn phải học hỏi rất nhiều từ các nước trên thế giới trong việc đào tạo cán bộ giám sát để theo kịp sự phát triển của ngành ngân hàng - tài chính nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. 3.3.2. Bổ sung vốn hoạt động để tăng năng lực tài chính của DIV cho phù hợp với thông lệ quốc tế và để dự phòng khi có rủi ro xảy ra Trong khủng hoảng tài chính 2007 – 2010, FDIC đã phải đối mặt với việc hàng loạt các ngân hàng phá sản khiến cho nguồn quỹ BHTG bị sụt giảm nặng nề và thậm chí bị thâm hụt. Tuy nhiên như đã nói ở trên, FDIC đã có những biện pháp kịp thời để khắc phục tình trạng thâm hụt này như là nâng mức phí đóng góp của các tổ chức tham gia BHTG và làm một việc chưa từng làm trước đó là yêu cầu các ngân hàng trả trước phí bảo hiểm trong vòng 3 năm 2010-2012 (khoảng 12 tỷ USD). Câu hỏi đặt ra là Việt
http://svnckh.com.vn

52

Nam có thể áp dụng biện pháp này nếu có khủng hoảng lớn xảy ra ở Việt Nam? Trước hết chúng ta cần phân tích những mặt lợi và hại của biện pháp mà FDIC đã áp dụng. Việc tăng mức phí lên gấp đôi đồng thời thu trước phí trước cho 3 năm thì sẽ nhanh chóng bổ sung được quỹ tiền BHTG đã bị cạn kiệt năng nề trước sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng nhưng đồng thời cũng đẩy các ngân hàng còn lại vào khó khăn vì phải chi trả sớm hơn và nhiều hơn. Như vậy có thể thấy biện pháp này của FDIC chỉ là một biện pháp mang tính chất đối phó với khủng hoảng thực tế đã xảy ra, là một biện pháp tạm thời giải quyết khó khăn do nguồn quỹ vốn bị thâm hụt. Tuy nhiên, cần phải khẳng định một điều là việc bổ sung vốn hoạt động cho DIV là hết sức cần thiết trong hiện tại cũng như lâu dài. Như đã nêu ở trên thì nguồn vốn hạn hẹp chính là một trong những hạn chế của DIV. Với nguồn vốn như vậy thì DIV mới chỉ dừng lại ở khả năng trợ giúp các Quỹ tín dụng nhỏ, chưa đủ tầm để sẵn sàng tham gia hỗ trợ các tổ chức có quy mô lớn hơn, chưa đủ khả năng đối phó với tình trạng rút tiền hàng loạt và chưa thể cùng Ngân hàng Nhà nước tham gia xử lí khủng hoảng lớn đối với các tổ chức tín dụng. Trong điều kiện kinh tế với nhiều rủi ro tiềm ẩn như ở nước ta hiện nay, năng lực tài chính của DIV như vậy là quá nhỏ bé so với trọng trách được giao. Bởi vậy, một trong những mục tiêu hoàn thiện chính sách BHTG là tăng cường năng lực tài chính cho tổ chức BHTG thông qua cấp vốn và hỗ trợ tài chính. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, cạnh tranh khốc liệt, vấn đề an toàn trong hoạt động BHTG không thể nói trước được điều gì. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro tổn thất luôn phải được chuẩn bị trước để có phương án thích hợp đối phó. Những tình huống đổ vỡ của các tổ chức tín dụng đặc biệt là của các ngân hàng trong hệ thống nếu không được chuẩn bị bằng các biện pháp có thể thì hậu quả có thể nói là khôn lường.
http://svnckh.com.vn

53

34

(so với 1000 tỷ đồng trước đó). Để nâng cao

năng lực tài chính cho tổ chức BHTG, Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 có quy định tại điều 19: Trong trường hợp vốn hoạt động của DIV không đủ để hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn về khả năng chi trả hoặc để chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG bị buộc giải thể do không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn hoặc bị phá sản theo quy định 16 của Nghị định này, tổ chức BHTG có thể huy động vốn bằng các hình thức sau: Vay hoặc tiếp nhận vốn hỗ trợ đặc biệt từ Chính phủ Phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu Vay của tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ Về hỗ trợ tài chính của chính phủ cho tổ chức BHTG, chúng ta cần quy định cụ thể những điểm sau: + Hạn mức tối đa là bao nhiêu trong điều kiện hệ thống BHTG có bất ổn lớn, nền kinh tế có nguy cơ cận kề một cuộc khủng hoảng? + Cơ cấu cấu của hạn mức hỗ trợ như thế nào? (bảo lãnh phát hành trái phiếu BHTG là bao nhiêu? Nguồn vay trong nước và nguồn vay nước ngoài là bao nhiêu?) + Quy định về quản lý nguồn vốn này như thế nào? Mặt khác, bài học rút ra từ khủng hoảng tài chính cũng cho thấy các tổ chức tín dụng phải tìm lấy giải pháp hữu hiệu để tự cứu lấy mình trước khi
34

http://svnckh.com.vn

54

nhờ vả đến các quan hệ quốc tế. BHTG Việt Nam cũng nên cảnh giác với các khoản hỗ trợ từ các tổ chức tài chính, tổ chức phi Chính phủ nước ngoài vì đôi khi trong việc nhận tài trợ, hỗ trợ hay vay vốn có một số điều kiện khắt khe hay những cân nhắc chính trị đi kèm. Tóm lại, chúng ta cần phải học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển trên thế giới trong việc bổ sung nguồn quỹ BHTG và phải áp dụng dựa trên cơ sở phù hợp với hoàn cảnh thực tế của hệ thống tài chính Việt Nam. Từ đó, bài học cho Việt Nam là cần phải xây dựng một năng lực tài chính vững vàng cho DIV để sẵn sàng giải quyết khi có rủi ro xảy ra, chứ không chỉ chờ rủi ro xảy ra rồi mới đưa ra giải pháp. Muốn vậy, DIV cần tính toán một lộ trình tăng vốn cụ thể phù hợp trong từng giai đoạn phát triển, đưa ra tỷ lệ mục tiêu cho quỹ dự phòng nghiệp vụ BHTG và các biện pháp tăng vốn thích hợp để đảm bảo được khả năng tài chính lâu dài, bắt kịp với tốc độ gia tăng vốn của nền kinh tế. Bên cạnh đó, không chỉ dựa vào nguồn vốn do Nhà nước cấp, DIV cần chủ động trong việc bổ sung nguồn vốn của mình như xây dựng được một danh mục đầu tư hiệu quả để thu lãi, đảm bảo việc thu phí BHTG chặt chẽ và kịp thời... Ngoài ra, Nhà nước cần xây dựng Luật Bảo hiểm tiền gửi có quy định cụ thể về việc tạo vốn để xử lý khủng hoảng hệ thống, các hoạt động đi vay của DIV khi cần thiết cũng như bảo lãnh của Chính phủ đối với các món vay. 3.3.3. Nâng cao nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý đổ vỡ để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, bình ổn thị trường tài chính Để đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, giải quyết êm thấm các vụ phá sản và rút lui của một số ngân hàng, hạn chế sự tác động của đổ vỡ ngân hàng tới tâm lý của người gửi tiền, FDIC đã thực hiện rất chuyên nghiệp nghiệp vụ tiếp nhận xử lí các ngân hàng đổ vỡ, tái cơ cấu hoạt động của hệ thống bằng cách thành lập một ngân hàng bắc cầu hay tìm
http://svnckh.com.vn

55

một tổ chức tín dụng mạnh có khả năng tiếp nhận các khoản tiền gửi và tài sản của các ngân hàng bị đổ vỡ. Đây là một trong những bài học thiết thực nhất đối với không chỉ Việt Nam mà còn với tất cả các tổ chức BHTG khác trên thế giới. Hiệu quả của nghiệp vụ này đặc biệt phát huy khi có khủng hoảng xảy ra. Trong khi đó, năng lực tiếp nhận và xử lý tổ chức bị đổ vỡ của DIV còn rất hạn chế. Mặc dù đã đưa ra một đề án với bảy kịch bản để tiếp nhận và xử lý các tổ chức đổ vỡ dựa trên nguyên tắc thị trường, chi phí thấp nhất, thời gian nhanh nhất, thu hồi được tài sản cao nhất, có hiệu quả và chia sẻ được rủi ro35 nhưng thực tiễn cho thấy, khi có một tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn thì vai trò của DIV mới chỉ dừng lại ở việc chi trả tiền BH cho người gửi tiền và tham gia vào quá trình thanh lý tài sản của tổ chức bị đổ vỡ. Ngay cả trong nghiệp vụ chi trả, chúng ta cũng có nhiều điểm cần rút kinh nghiệm. Khi xảy ra đổ vỡ, trước hết DIV cần công khai trên phương tiện thông tin đại chúng để người gửi tiền và những người có quyền lợi liên quan được biết. Mọi kiến nghị, chất vấn của khách hàng cũng cần được giải đáp đầy đủ và thỏa đáng để tạo niềm tin cho công chúng. Nên quy định thời gian bắt đầu chi tiền BH sớm nhất kể từ khi tiếp nhận xử lý đổ vỡ ngân hàng để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền. Đây là việc làm đảm bảo sự minh bạch, tránh hiện tượng bưng bít thông tin, tránh gây ra nhiều hậu quả không mong đợi khi thông tin bị sai lệch do không chính thức. Bên cạnh đó, cần đơn giản hóa các thủ tục, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền nhận tiền BH thông qua các hình thức thanh toán với các yêu cầu phù hợp quy định của pháp luật.

35

http://vietbao.vn/Kinh-te/7-tinh-huong-khung-hoang-va-do-vo-cua-cac-ngan-hang-VietNam/65105541/91/
http://svnckh.com.vn

56

Không chỉ hoàn thiện cách thức thực hiện chi trả cho các tổ chức bị đổ vỡ, DIV cần đa dạng hóa biện pháp xử lý đổ vỡ ngân hàng. Sự đơn điệu trong cách thức xử lý đổ vỡ sẽ làm mất đi tính linh hoạt, mềm dẻo và khả năng sáng tạo của DIV, đồng thời cũng làm mất đi cơ hội giảm bớt những tổn thất không đáng có cho nền kinh tế khi có đổ vỡ xảy ra. Cho đến nay, FDIC là một trong những tổ chức BHTG đa năng trên thế giới. Theo Luật BHTG Hoa Kì, FDIC được phép triển khai cả bốn biện pháp xử lý đổ vỡ ngân hàng sau: + Tiền gửi được BH sẽ được chi trả hết. + Chuyển nhượng các giao dịch bán và giao dịch đảm nhiệm: tổ chức BHTG sẽ giàn xếp việc chuyển tất cả các khoản tiền gửi được BH cùng với toàn bộ hay một số tài sản của tổ chức bị đổ vỡ sang một tổ chức khác hoạt động lành mạnh. Tổ chức tiếp nhận này sẽ đảm nhiệm việc thanh toán cho các khoản tiền gửi được BH. + Hợp nhất với ngân hàng lớn mạnh có sự hỗ trợ tài chính: Tổ chức BHTG sẽ thỏa thuận để một tổ chức có khả năng tài chính lớn mạnh mua lại tổ chức gặp khó khăn trước khi nó bị đóng cửa. Toàn bộ vị thế và tài sản của tổ chức bị đổ vỡ nói chung được chuyển thành chi nhánh của tổ chức nhận sáp nhập. Cùng với việc này, tổ chức BHTG sẽ hỗ trợ về mặt tài chính cho tổ chức nhận sáp nhập. + Thực hiện trợ giúp tài chính cho ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ nhằm ngăn chặn sự đóng cửa của ngân hàng này: Nếu một tổ chức chỉ đơn thuần là đang gặp phải vấn đề thanh khoản và không thể giải quyết được thông qua các khoản vay từ Ngân hàng trung ương hay từ các tổ chức khác, tổ chức BHTG sẽ trợ giúp bằng việc cho vay hay gửi tiền ở các tổ chức này. Tuy nhiên, khi một tổ chức tham gia BHTG đang lâm vào tình trạng vỡ nợ thì tổ chức BHTG có thể giúp tăng năng lực tài chính cho nó bằng cách bơm thêm
http://svnckh.com.vn

57

vốn cổ phần hay mua lại nhũng tài sản “xấu” của nó. Trong trường hợp cần thiết, tổ chức BHTG thậm chí còn thay đổi ban quản lý cũ của tổ chức này vì họ phải chịu trách nhiệm về tình trạng vỡ nợ của tổ chức. Đặc thù của hệ thống BHTG Việt Nam là có hai nhóm tổ chức tham gia BHTG với quy mô hoàn toàn khác biệt nhau: các Quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức tín dụng ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Bởi vậy, ta cần ban hành những cơ chế, chính sách phù hợp trong việc xử lý đổ vỡ đối với mỗi nhóm. Trước mắt, ta chỉ nên áp dụng nhiều hơn một trong số bốn biện pháp xử lý đổ vỡ đã nêu ở trên đối với các Quỹ tín dụng nhân dân để làm thí điểm khi nhân rộng cho cả hệ thống. 3.3.4. Bài học về cải cách hệ thống phí BHTG Mục tiêu của bài học này là vận dụng sáng tạo và chọn lọc phương pháp xác định phí BH và mô hình định phí bảo hiểm của các nước trên thế giới đã thực hiện thành công để áp dụng vào Việt Nam nhằm đảm bảo xây dựng một chính sách phí BH công bằng, hiệu quả và có tính thuyết phục. Hiện nay ở Việt Nam, tất cả các tổ chức tham gia BHTG dù xấu hay tốt đều áp dụng mức phí 0,15% trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm. Ưu điểm của cách tính này là nó thuận lợi và dễ dàng khi triển khai, tuy nhiên cách tính này đã bộc lộ rất nhiều hạn chế. Thứ nhất, nó không đảm bảo sự công bằng vì những ngân hàng hoạt động hiệu quả vẫn phải đóng phí bằng với các ngân hàng hoạt động có rủi ro cao; thứ hai, do tất cả các tổ chức tham gia BHTG đều chịu một mức phí như nhau, hệ thống tính phí đồng hạng không tạo được động lực thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tham gia BHTG; thứ ba, nó tạo ra tâm lý ỷ lại trong việc quản lý rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG. Cách tính mức phí đồng hạng này đã được FDIC áp dụng khi mới thành lập, theo đó các ngân hàng tham gia BHTG tại FDIC phải nộp một mức phí hàng năm như nhau là 1% số dư tiền gửi thuộc đối
http://svnckh.com.vn

58

tượng BH nhưng chỉ phải chi trả trước một nửa mức phí, phần còn lại là đóng khi FDIC yêu cầu36. Nhưng từ tháng 1/1993 đến nay, FDIC đã áp dụng cách tính tỉ lệ phí BHTG có phân biệt theo mức độ rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG. Mức phí hàng năm cho các tổ chức này dao động từ 0.001% đến 0,27% tổng số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm tại mỗi ngân hàng. Và trong đợt khủng hoảng vừa rồi, FDIC cũng đã nhanh chóng thay đổi tỉ lệ đánh giá các tổ chức tham gia BHTG và một số nội dung của hệ thống phí này. Những thay đổi này đảm bảo các tổ chức tham gia BHTG có rủi ro lớn hơn phải nộp mức phí cao hơn. DIV do đó cần phải cải cách hệ thống tính phí BHTG, chuyển từ cách tính phí đồng hạng sang cách tính phí trên cơ sở mức độ rủi ro. Tức là ta sẽ phân chia các tổ chức tham gia BHTG theo nhóm: +Nhóm thứ nhất bao gồm các NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty cho thuê tài chính, các công ty tài chính. +Nhóm thứ hai gồm các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Cách tính phí này có tác dụng như một tín hiệu phát ra để nhắc nhở cho ngân hàng biết mình đang ở vị trí nào. Nếu mức phí thấp có nghĩa là chất lượng hoạt động của ngân hàng tốt, còn nếu mức phí cao có nghĩa là chất lượng hoạt động của ngân hàng có vấn đề. Từ đó, khuyến khích các tổ chức hoạt động tốt để đóng góp mức phí thấp nhất đồng thời có thể khuyến khích các tổ chức đang đóng mức phí cao phấn đấu để chuyển sang mức phí thấp hơn. Quá trình đó được diễn ra liên tục và kết quả là mức độ rủi ro trong hệ thống tài chính ngân hàng được giảm thiểu, sự an toàn lành mạnh được cải thiện. Thêm nữa, theo kinh nghiệm của nhiều nước áp dụng phí

36

http://smartfinance.vn/bao-hiem/hoi-dap-bao-hiem/30449-bao-hiem-my-bao-hiem-tien-gui-cach-tinhphi-va-cac-tinh-han-muc-chi-tra-nhu-the-nao.html
http://svnckh.com.vn

59

BHTG tính theo mức độ rủi ro thì lượng phí BH thu được sẽ cao hơn so với đánh phí đồng hạng. Bên cạnh đó, việc triển khai hệ thống phí này còn giúp DIV nâng cao hiệu quả hoạt động một cách đồng bộ theo mô hình giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, cho người gửi tiền và cho chính quỹ nghiệp vụ BH. Đồng thời, tăng cường trách nhiệm của DIV trong việc quyết định các tình huống chính sách trong khung pháp luật quy định, chủ động hơn trong hoạt động và nâng cao năng lực tài chính. Từ đó, tạo cơ sở để DIV thực hiện tốt hơn chính sách bảo vệ người gửi tiền của Chính phủ, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. 3.3.5. Bài học về hạn mức chi trả BHTG Việc điều chỉnh kịp thời và hợp lý HMCT tiền gửi là một nhân tố rất quan trọng trong việc ổn định tâm lý của người gửi tiền, đặc biệt là khi xảy ra đổ vỡ của các ngân hàng nhằm tránh tình trạng người dân ồ ạt đến ngân hàng rút tiền do tâm lý lo sợ sẽ bị mất số tiền gửi vào ngân hàng. Hạn mức tiền gửi được nâng cao sẽ khiến người dân yên tâm do tổ chức BHTG cam kết sẽ trả cho những người gửi tiền một khoản tiền cao hơn tương ứng với số tiền họ gửi vào các ngân hàng. Trong cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, có thể thấy việc nâng cao hạn mức chi trả BHTG là một biện pháp được nhiều quốc gia áp dụng. Ở Mỹ, nếu như FDIC không kịp thời nâng hạn mức chi trả cho mỗi khoản tiền gửi của khách hàng từ 100.000 USD lên 250.000 USD thì chắc chắn các ngân hàng ở Mỹ sẽ phải đối mặt với tình trạng người dân đổ xô đi rút tiền và càng lấn sâu hơn vào khó khăn mất khả năng thanh khoản. Tại khu vực châu Âu, trong năm 2008, 25 trên tổng số 27 quốc gia thuộc cộng đồng châu Âu đã điều chỉnh tăng hạn mức chi trả BHTG hoặc chuyển sang chi trả không giới hạn. Tại châu Á, việc điều chỉnh hạn mức cũng được nhiều quốc gia thực hiện, trong đó Ðài Loan và Hồng Kông đã
http://svnckh.com.vn

60

chuyển sang chi trả không giới hạn. Hầu hết các quốc gia trong khu vực Ðông - Nam Á, là thành viên Ủy ban khu vực châu Á thuộc Hiệp hội BHTG quốc tế đã tăng hạn mức chi trả BHTG37. Mặc dù trong thời điểm hiện tại thì Việt Nam không bị ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng tài chính nhưng chúng ta vẫn nên cân nhắc vấn đề này. Hiện nay, DIV vẫn giữ nguyên hạn mức chi trả BHTG từ năm 2005 cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của mỗi khách hàng tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 50 triệu đồng (bao gồm cả gốc và lãi). Nếu khoản tiền gửi lớn hơn mức 50 triệu đồng thì sẽ được nhận tiếp phần vượt trên 50 triệu đồng trong quá trình thanh lý tổ chức tham gia BHTG bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật. Hạn mức BHTG còn được xác định dựa theo tình hình kinh tế và GDP bình quân đầu người của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, khi mà GDP bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước (GDP đầu người năm 2007 là 834 USD, năm 2008 là 1.034 USD và năm 2009 khoảng 1.100 USD) cộng với tốc độ trượt giá ngày càng nhanh thì có nhiều ý kiến cho rằng hạn mức chi trả 50 triệu đồng không còn phù hợp. Vừa rồi trong gói giải pháp về tài chính, DIV cũng đã đề xuất với chính phủ về việc nâng hạn mức BHTG lên 200 triệu đồng38 dựa trên cơ sở 4 căn cứ là tình hình kinh tế và hệ thống tài chính - ngân hàng đang phải chịu tác động xấu của thị trường tài chính quốc tế; GDP bình quân đầu người; số lượng người gửi tiền; năng lực tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và chính sách của Chính phủ về hoạt động này nhưng đến nay vẫn chưa có quyết định chính thức.
37

http://www.div.gov.vn/Default.aspx?tabid=120&News=1249&CategoryID=3

38

http://vneconomy.vn/20090120094741427P0C6/de-xuat-nang-muc-bao-hiem-tien-guilen-gap-4-lan.htm

http://svnckh.com.vn

61

3.3.6. Bài học về nghiệp vụ hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG Hỗ trợ tài chính là một biện pháp nghiệp vụ quan trọng đối với tổ chức BHTG theo mô hình giảm thiểu rủi ro. Hiện nay, hầu hết các tổ chức BHTG trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đều có chức năng này vì nó giảm thiểu chi phí, chia sẻ thiệt hại một cách công bằng và quyền lợi của người gửi tiền cũng như tổ chức tham gia BHTG được bảo vệ một cách tốt nhất. Nghiệp vụ hỗ trợ tài chính cho tổ chức vỡ nợ của FDIC quy định trong Luật BHTG Liên bang Hoa Kì đã được nhóm nghiên cứu đề cập trong phần bài học về đa dạng hóa các hình thức xử lý đổ vỡ đối với tổ chức tham gia BHTG ở phần trên. Để làm rõ hơn cho điều này, có thể minh họa bằng tình hình các ngân hàng Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua. Việc có quá nhiều tài sản xấu đã khiến cho các ngân hàng Mỹ gặp khó khăn trầm trọng về thanh khoản. Trước tình hình này thì FDIC đã sát cánh cùng Bộ tài chính Mỹ và Cục dữ trự Liên bang Mỹ (FED) trong chương trình PPIP phối hợp giữa nhà nước và tư nhân để mua lại các tài sản xấu của các ngân hàng như các khoản vay xấu, các chứng khoán đảm bảo bằng tài sản và một số tài sản xấu khác…Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều nghi ngờ về hiệu quả của biện pháp này trong việc giảm thiểu tài sản xấu trong các ngân hàng Mỹ, bởi thực tế số lượng ngân hàng bị sụp đổ vẫn đang gia tăng và dự đoán là 200 ngân hàng trong năm 2010. Joseph Stiglitz, nhà kinh tế học người Mỹ được Giải Nobel Kinh tế năm 2001 và từng là Phó chủ tịch của Ngân hàng Thế giới, nhận xét chương trình PPIP là một chương trình không hiệu quả, nó không thể đặt giá một mức giá cho các tài sản xấu của các ngân hàng. Kế hoạch này được đưa ra nhằm cứu một số ít những cổ đông và những người nắm giữ trái phiếu nhưng người dân có thể sẽ phải chịu thiệt hại lớn hơn39.

39

http://www.vntrades.com/tintuc/modules.php?name=News&file=article&sid=43474
http://svnckh.com.vn

62

Như vậy, chúng ta có thể thấy biện pháp hỗ trợ tài chính là một biện pháp sử dụng hết sức thận trọng bởi tính hai mặt của nó. Nếu như áp dụng không thỏa đáng thì nó vừa làm tiêu tốn ngân sách của Nhà nước lại vừa khiến cho các ngân hàng ỷ lại, hiệu quả kinh doanh không cao. Nó chỉ nên được áp dụng khi thật sự cần thiết và phải có sự tính toán thật kĩ lưỡng. Hỗ trợ tài chính của DIV đối với các tổ chức tham gia BHTG chỉ nên áp dụng trong trường hợp thiếu khả năng chi trả khẩn cấp do xảy ra các sự cố bất thường dẫn đến người gửi tiền đến rút tiền ồ ạt nhằm ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ ngân hàng. Thực tế ở Việt Nam thời gian qua, việc hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng đều do Ngân hàng Nhà nước trực tiếp xử lý. Nghiệp vụ hỗ trợ của DIV bao gồm các hình thức như: cho vay có cầm cố, thế chấp; mua lại các giấy tờ có giá, bảo lãnh để vay tổ chức tín dụng khác. Tổ chức tham gia BHTG trả nợ vay sau khi đã phục hồi khả năng chi trả. Tuy nhiên, đến thời điểm này thì hình thức hỗ trợ như thế không còn được khuyến khích vì một số hạn chế : chi phí lớn; tạo sự bất bình đẳng giữa các ngân hàng; làm tăng rủi ro đạo đức của ngân hàng được hỗ trợ. Do đó, bên cạnh hỗ trợ tài chính, DIV nên áp dụng hỗ trợ ổn định tổ chức, quản lí điều hành để sau khi được tái thiết các ngân hàng có thể trở lại hoạt động bình thường, bền vững cũng như có khả năng trả hết nợ cho DIV.

http://svnckh.com.vn

63

KẾT LUẬN Như chúng ta đã biết cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo khủng hoảng kinh tế từ năm 2007 đã ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ đến hệ thống tài chính Mỹ mà còn đến cả nền kinh tế thế giới. Các tổ chức tài chính Mỹ đặc biệt là các Ngân hàng phải cần đến rất nhiều sự trợ giúp của các cơ quan, tổ chức và Chính phủ Mỹ để vượt qua cơn bão táp này. Trong đó vai trò của FDIC là rất quan trọng trong việc giải quyết khủng hoảng bằng các nghiệp vụ tiếp nhận xử lý, mua lại tài sản xấu đảm bảo thanh khoản, kiểm tra giám sát các Ngân hàng, đặc biệt là củng cố niềm tin cho người dân vào hệ thống ngân hàng. Tuy Việt Nam hội nhập chưa sâu với kinh tế thế giới nhưng cuộc khủng hoảng này phần nào có ảnh hưởng đến nền tài chính Việt Nam, đặc biệt là các khoản đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp nước ngoài. Trong tương lai, trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế là rất lớn, nền kinh tế Việt Nam sẽ nhạy cảm hơn với những biến động của thế giới. Do đó phòng bệnh hơn chữa bệnh, Chính phủ cũng như DIV nên có những chính sách và hướng đi thích hợp để giúp đỡ, hỗ trợ và giám sát hiệu quả hệ thống tài chính. Đặc điểm nền kinh tế Việt Nam và Mỹ là khác nhau, bên cạnh những thành công của FDIC trong việc giải quyết, giảm thiểu tác động của khủng hoảng thì một số hoạt động của FDIC vẫn còn những hạn chế và không thể áp dụng cho Việt Nam. Do vậy lựa chọn cách thức đi cho DIV và xây dựng khung pháp lý như thế nào là một thách thức lớn cho các nhà quản lý Việt Nam để DIV phát huy tốt vai trò của mình trong việc sát cánh cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước giám sát, quản lý và ổn định thị trường tài chính.

http://svnckh.com.vn

64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Mạnh Dũng, Giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của Quỹ Tín dụng Nhân dân, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội, 2002. 2. Nguyễn Mạnh Dũng, Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTGVN, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Ngành Ngân hàng, Hà Nội, 2003. 3. Nguyễn Mạnh Dũng, “Kinh nghiệm tính phí BHTG căn cứ mức độ rủi ro của các Ngân hàng tại Canada”, Thị trường Tài chính Tiền tệ, 4(7) tr157, 2004. 4. TS. Nguyễn Ngọc Định, Lý thuyết bảo hiểm, Trường Đại học Kinh Tế, NXB Tài Chính. 5. TS. Nguyễn Văn Định, Giáo trình bảo hiểm, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, NXB Thống Kê. 6. GS-TSKH Trương Mộc Lâm, Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm hàng hóa, NXB Thống Kê. 7. Nguyễn Thị Kim Oanh, BHTG - Nguyên lí, thực tiễn và định hướng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2004. 8. Nguyễn Thị Kim Oanh, Giải pháp phát triển hoạt động BHTG ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội, 2004. 9. Gillian G.H. Garcia, Bảo hiểm tiền gửi thực tế và những định chế phù hợp, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Washington D.C, Emerald Group Publishing Limited, 2000. 10.David C. Parker, Bảo hiểm tiền gửi thông lệ quốc tế, CityGrid Publisher, 2004. 11.Tạp chí Bảo hiểm.
http://svnckh.com.vn

65

12.Tạp chí Ngân hàng. 13.Tạp chí Thông tin Bảo hiểm tiền gửi. 14.Các văn bản Luật về lĩnh vực tài chính ngân hàng và Nghị định về BHTG Việt Nam. 15.www.div.gov.vn (Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam). 16.www.saga.vn 17.www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com 18.www.vietbao.vn 19.www.webbaohiem.net 20.Andrew Campbell, John Raymond La Brosse, David G. Mayes, Deposit Insurance. 21. 22.Philippe A.Goutin (2001), Hội thảo BHTG và kiểm soát Ngân hàng. 23.Fredic S. Minskin (2001), Tiền tệ, Ngân hàng & Thị trường tài chính, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tái bản lần thứ 3. 24.www.adb.org (Ngân hàng Phát triển Châu Á). 25.www.fdic.gov (Bảo hiểm tiền gửi Mỹ). 26.www.iadi.org (Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế). 27.www.imf.org (Tổ chức Tiền tệ Quốc tế). 28.www.worldbank.org (Ngân hàng Thế giới).

http://svnckh.com.vn

66

http://svnckh.com.vn

67

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful