DANH SÁCH TỔ 3

1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12.
13.

14. 15. 16. 17. 18. 19.

Đinh Sỹ Duật Nguyễn Thanh An Tạ Thanh Tín Hồ Lê Đoan Phương Lê Thị Hà (10-5-1989) Đinh Thị Kim Lân Nguyễn Quốc Việt Đặng Thị Kim Hoàng Võ Ngọc Quỳnh Trân Phan Thị Loan Nguyễn Thị Ánh Nhung Phạm Thị Ánh Thuỷ Trần Thị Huyền Trang Trần Đình Học K’sor Nguyễn Thanh Cường Nguyễn Thanh Bửu Nguyễn Thị Chiến Nông Thị Kiều Đàm Thị Bích 20. Trịnh Quốc Bảo 21. Nguyễn Thị Xuân Dương

1

KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Lời mở đầu Phần 1: Cơ sở lý luận 1.1. Khái niệm 1.2. Phân loại 1.3. Vai trò của quỹ đầu tư 1.3.1. Đối với nền kinh tế 1.3.2. Đối với thị trường chứng khoán 1.3.3. Đối với người đầu tư 1.3.4. Đối với người nhận đầu tư Phần 2: Cơ sở thực tiễn 2.1. Sự hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán 2.1.2. Sự hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán trên thế giới 2.1.2. Sự hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam 2.2. Nguyên tắc hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 2.2.1. Nguyên tắc huy động vốn 2.2.2. Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ 2.2.3. Nguyên tắc định giá phát hành và mua lại chứng chỉ của quỹ 2.2.4. Nguyên tắc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư 2.2.5. Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ 2.3. Thực trạng của quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam 2.4. Những thuận lợi và khó khăn của quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam 2.4.1. Những khó khăn của các quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam 2.4.2. Những thuận lợi của quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam 2.5. Giải pháp thúc đẩy sự hình thành và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán 2.5.1. Về phía Nhà nước 2.5.2. Về phía các Quỹ đầu tư Kết luận

2

LỜI MỞ ĐẦU
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư được hiểu là việc cá nhân, tổ chức sử dụng tài sản để tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu thụ được nhiều tài sản hơn trong tương lai. Lĩnh vực đầu tư rất phong phú từ việc sản xuất kinh doanh hàng hoá đến việc góp vốn mua cổ phần hay đơn giản là việc gửi tiết kiệm tại Ngân hàng hay tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Một trong những lĩnh vực đầu tư rất hấp dẫn không những về khả năng sinh lời mà còn ở tính hấp dẫn của nó là đầu tư chứng khoán. Đầu tư chứng khoán được hiểu là việc một chủ thể nắm giữ chứng khoán để kỳ vọng vào lợi nhuận mà nó mang lại trong tương lai. Lợi nhuận có thể thu được từ lãi chứng khoán đang nắm giữ hoặc chênh lệch từ hoạt động mua bán chứng khoán. Trên thị trường chứng khoán hiện nay có rất nhiều hình thức đầu tư rất đa dạng, mỗi một hình thức đầu tư thì có những ưu nhược điểm khác nhau. Đầu tư chứng khoán thông qua quỹ đầu tư là một hình thức đang được nhiều cá nhân, tổ chức lựa chọn. Và nhất là trong những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển thì loại hình này ngày càng phổ biến và đóng vai trò như là người “dẫn dắt thị trường”, giúp bình ổn thị trường chứng khoán của quốc gia. Quỹ đầu tư là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, nó giữ vai trò là một trong những cầu nối giữa người cần vốn và người thiếu vốn, đặc biệt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức, các nhà đầu tư nhỏ không chuyên nghiệp đang có những ý muốn đầu tư có thể sử dụng vốn của mình hiệu quả hơn, mang lại lợi nhuận cao hơn. Chính vì những lý do trên, tổ 3 chúng em đã chọn đề tài “Quỹ Đầu Tư” là đề tài tìm hiểu và nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn nữa về quỹ đầu tư và tầm quan trọng của quỹ đầu tư đối với nền kinh tế đang tăng trưởng hiện nay, trên cơ sở đánh giá đúng tình hình thực trạng của quỹ đầu tư chúng em có thể đề suất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển quỹ đầu tư ở Việt Nam.

3

Nói cách khác. có thể được lựa chọn trước. . Những người tham gia góp vốn đầu tư không được phép rút vốn bằng cách bán lại chứng chỉ 4 . cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu.Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên) Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư. Với các tiêu chí phân loại sau • Căn cứ vào nguồn vốn huy động . 1.1.quỹ đầu tư dạng đóng có thể phát hành cổ phiếu thường. trung gian giữa người có vốn (thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn thông tin khác nhau) và người cần vốn (sử dụng các khoản tiền đó để đầu tư vào các tài sản khác nhau thông qua công cụ cổ phiếu. quỹ đầu tư là một định chế tài chính phi ngân hàng. là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn. giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại. do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Từ những khoản tiền tiết kiệm. • Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn . Các khoản tiền tiết kiệm này thay vì được các nhà đầu tư đưa cho môi giới chứng khoán để trực tiếp mua chứng khoán trên thị trường thì lại được góp vào quỹ đầu tư để thực hiện việc đầu tư tập thể. trái phiếu và tiền tệ).PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Phân loại Có thể chia quỹ đầu tư làm 3 loại. và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ.Qũy đầu tư dạng đóng Đây là qũy đầu tư mà theo điều lệ quy định thường chỉ tạo ra vốn qua một lần bán chứng khoán cho công chúng.2. Khái niệm Quỹ đầu tư là một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp do các nhà đầu tư cùng góp vốn. nhàn rỗi phân tán trong dân chúng được tập trung lại thành các nguồn lớn cho các nhà chuyên nghiệp sử dụng trong lĩnh vực đầu tư kiếm lời và phân chia cổ tức cho các cổ đông đóng góp vốn. Theo định nghĩa của Cadogan Fianacials. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư.Huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. quỹ đầu tư là một trong những cầu nối giúp người có vốn gặp người có nhu cầu về vốn. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn.

mở rộng quy mô vốn. người đầu tư có thể rút vốn bất cứ lúc nào nếu họ thấy hoạt động của quỹ không hiệu quả. Tất cả các cổ phiếu phát hành của quỹ này đều là cổ phiếu thường. hay phi chính thức (OTC) .Số lượng chứng khoán hiện hành .Gía mua là giá trị tài sản thuần .Cổ phiếu được phép giao dịch trên từ quỹ đầu tư.Lệ phí bán được cộng thêm vào giá trị tài sản thuần. do đó nó có tính linh hoạt hơn trong việc lựa chọn các dự án đầu tư. quỹ đầu tư dạng mở có lợi thế rõ ràng về khả năng huy động vốn.Số lượng chứng khoán hiện hành cố luôn thay đổi. . những người góp vốn vào quỹ trở thành các cổ đông và có quyền bầu ra Hội đồng quản trị quỹ.Qũy đầu tư dạng mở Quỹ đầu tư dạng mở còn được gọi là quỹ tương hỗ. sau đó lại dùng số tiền và vốn lãi thu được để đầu tư trực tiếp. quỹ đầu tư được tổ chức dưới 2 hình thức .Loại chứng khoán phát hành là cổ .Cổ phiếu được phép mua trực tiếp . so với quỹ đầu tư dạng đóng. Như vậy quy mô vốn của loại quỹ này chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu được mà thôi.Gía mua được xác định bởi lượng cộng với lệ phí bán (giá trị tài sản cung cầu. . Căn cứ vào mô hình cấu trúc tổ chức – điều hành. Sự khác nhau giữa quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở: QUỸ ĐẦU TƯ DẠNG MỞ QUỸ ĐẦU TƯ DẠNG ĐÓNG . Do đó giá mua có thể cao thuần được xác định bằng giá trị hơn hoặc thấp hơn giá trị tài sản chứng khoán trong hồ sơ) thuần. .Chào bán ra công chúng chỉ một lần. . . .Qũy đầu tư dạng công ty Theo mô hình công ty.Không mua lại các chứng khoán đã hành theo giá trị tài sản thuần. cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu. người bảo lãnh phát thị trường chứng khoán chính thức hành hay môi giới thương gia. quỹ đầu tư được xem là một pháp nhân đầy đủ. Quỹ đầu tư dạng đóng dùng số vốn của mình đầu tư vào các doanh nghiệp hay thị trường chứng khoán. định. Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng công ty thường • 5 . phiếu thường.Chào bán ra công chúng liên tục.quỹ đầu tư cho chính quỹ đầu tư. Mọi phí tổn mua lại phải công bố rõ ràng trong bản cáo bạch. .Qũy sẵn sàng mua lại cổ phiếu phát .Có thể phát hành cổ phiếu thường. phát hành.

Quỹ đầu tư chịu chi phí giao dịch thấp hay được hưởng những ưu đãi về phí giao dịch hơn các cá nhân đầu tư. ít có sự hiểu biết về chứng khoán yêu thích. kể cả những người mua bán thông qua những công ty môi giới có mức phí hoa hồng thấp nhất. Các quỹ tham gia bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp. Vì là những danh mục đầu tư lớn được quản lý chuyên nghiệp.3. Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng tín thác thường được sử dụng ở các thi trường chứng khoán mới nổi đặc biệt là các thị trường chứng khoán đang phát triển ở Châu Á. Các quỹ tạo một phương thức đầu tư được các nhà đầu tư nhỏ. Tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư. Vai trò của quỹ đầu tư 1.3. Bằng việc sử dụng tiền thu được từ những nhà đầu tư để đầu tư phân tán vào danh mục các chứng khoán. tiêu biểu là thị trường Mỹ và Anh. Quỹ còn hấp dẫn đối với nguồn vốn từ nước ngoài chảy vào nhờ vào việc phát hành các chứng chỉ quỹ có tính hấp dẫn cao với nhà đầu tư nước ngoài 1. Tiết kiệm chi phí đầu tư. Thay cho việc người đầu tư phải đi thuê tư vấn để quản lý tài sản của mình thì họ chỉ cần đầu tư 6 .2. Đối với nền kinh tế Quỹ đầu tư huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế ngay cả đối với nguồn vốn nhỏ lẻ và trực tiếp tiến hành đầu tư chứ không phải cho vay. mà chỉ là quỹ chung vốn giữ người đầu tư để thuê các chuyên gia quản lý quỹ chuyên nghiệp đầu tư sinh lợi. phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư làm tăng lượng cung chứng khoán trên thị trường chứng khoán.Qũy đầu tư dạng tín thác Theo mô hình tín thác. Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ 1. . Đối với thị trường chứng khoán Quỹ đầu tư góp phần vào sự phát triển của thị trường sơ cấp và ổn định thị trường thứ cấp.3. các Quỹ đầu tư làm giảm rủi ro cho các khoản đầu tư và làm tăng cơ hội thu nhập cho các khoản đầu tư đó. 1. tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường Nó góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp.3. giúp cho sự phát triển của thị trường này thông qua các hoạt động đầu tư chuyên nghiệp với các phương pháp đầu tư khoa học Quỹ đầu tư góp phần làm xã hội hoá hoạt động đầu tư chứng khoán.3. quỹ đầu tư không được xem là một pháp nhân đầy đủ. Đối với người đầu tư Đa dạng hoá danh mục đầu tư và phân tán rủi ro.được sử dụng ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển.1.

hệ thống ngân hàng chiếm vai trò thống trị nền tài chính. Đối với người nhận đầu tư Chi phí cho nguồn vốn phát triển thấp hơn khi vay ngân hàng. đặc biệt là các chủ thể có khả năng tài chính lớn như ngân hàng. Tiền tập hợp trong các Quỹ đầu tư chứng khoán được đặt dưới sự quản lý của các nhà đầu tư chuyên nghiệp là các công ty quản lý quỹ An toàn trước các hành vi không công bằng. 7 . các công ty bảo hiểm… đầu tư vào quỹ Tận dụng được những kiến thức quản lý đầu tư. Lợi ích này có được từ việc quỹ phát hành và giao dịch các loại chứng khoán này trên thị trường đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư. nhưng xác suất bị tổn thất do gian lận. marketing và tài chính từ các Quỹ đầu tư. Ngoài cung cấp vốn cho doanh nghiệp. Khuôn khổ pháp lý và việc quản lý chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền đối với Quỹ đầu tư đem lại những đảm bảo cơ bản. các tổng công ty.4. bê bối hoặc phá sản liên quan đến công ty quản lý quỹ là rất nhỏ. doanh nghiệp phải thoả mãn một số điều kiện nhất định và lãi suất vay cao.vào một quỹ với chi phí giảm đi rất nhiều. Quỹ đầu tư ra đời sẽ hạn chế được những nhược điểm của cơ chế cho vay của ngân hàng Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn. Tính thanh khoản của chứng khoán đầu tư. Trước đây. Các nhà đầu tư vào Quỹ đầu tư chứng khoán có thể bán chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu quỹ mình đang nắm giữ vào bất cứ lúc nào cho chính Quỹ đầu tư (trong trường hợp Quỹ mở) hoặc trên thị trường thứ cấp (đối với Quỹ đóng) để thu hồi vốn. marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính và doanh nghiệp khác. 1.3. Để vay được vốn. các công ty quản lý quỹ đầu tư còn có dịch vụ cung cấp các thông tin tài chính. tư vấn về kế hoạch tài chính. Người đầu tư có thể bị thiệt hại nếu danh mục đầu tư của quỹ bị giảm giá trị do sự biến động giá chứng khoán trên thị trường.

Tiếp sau đó là Quỹ tín thác đầu tư Thuộc địa và Ngoại quốc (The Foreign and Colonial Investment Trust) thành lập năm 1868 ở Luân đôn.1. một số nhà đầu tư đã lập ra quỹ đầu tư và thuê các chuyên gia hiểu biết về môi trường nước ngoài đứng ra quản lý.PHẦN 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.Bỉ. một lượng tiền khổng lồ của Anh đã đổ vào Mỹ. có các nguồn vốn lớn dành cho đầu tư trong khi các nước láng giềng châu Âu và châu Mỹ lại đang rất cần vốn. Vì vậy. một bộ phận không thể thiếu trên thị trường tài chính nói chung. Đây chính là hình thái ban đầu của các quỹ đầu tư phổ biến hiện nay. Tuy nhiên. Quỹ đầu tư Canada và Anh (Britist and Canadian Fund) thành lập năm 1880. Từ năm 1900 đến 1914. Quỹ tín thác đầu tiên do vua William I của Hà Lan thành lập tại Brusels . hoạt động đầu tư tín dụng chỉ thực sự phát triển ở Anh. các nước thiếu vốn đã phát hành rất nhiều công cụ nợ với lãi suất hấp dẫn nhằm thu hút vốn cho quá trình đầu tư ra nước ngoài. đặc biệt là đầu tư vào các chứng khoán của Mỹ với tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhiều.2. Các thương gia của Anh và Scotland ngày đó muốn tìm kiếm nhiều lợi nhuận hơn nên đã đem các khoản tiền đầu tư của mình ra nước ngoài. TTCK nói riêng tại các quốc gia có nền tài chính phát triển là một phát minh của người Châu Âu thế kỷ 19. Sự hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán 2. Quỹ này được lập ra để tạo điều kiện cho Hà Lan có thể đưa tiền đầu tư ra nước ngoài dưới dạng các khoản vay của chính phủ. Các quỹ đầu tư ban đầu được thành lập theo kiểu tín thác đầu tư (Investment Trust). Trước tình hình này. các quỹ tín thác kiểu Hà Lan được lập ra ở Anh và Scotland. chủ yếu là vào lĩnh vực đường sắt và năng lượng. nhưng việc đầu tư này rất khó khăn do việc thiếu các thông tin và kiến thức về môi trường đầu tư bên ngoài. Sự hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán trên thế giới Quỹ đầu tư. Hiệp hội tài chính Luân đôn (London Financial Association) và Tập đoàn tài chính quốc tê (International Financial Society) thành lập năm 1963 được coi là những quỹ tín thác đầu tiên của Anh. Cuộc cách mạng công nghiệp đã đưa nước này thành một quốc gia thịnh vượng. Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 19.1. 8 .

ở Mỹ đã có hơn 700 quỹ đầu tư khác nhau. Ở châu Á. Đến năm 1995. 6 công ty chứng khoán đã thành lập các quỹ đầu tư chứng khoán riêng và mỗi công ty chứng 9 . Cũng ngay sau đó. Sự bùng phát các quỹ đầu tư đã bị ngăn lại bởi cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933. Từ đó trở đi. người ta vẫn có thể tìm thấy một số quỹ đầu tư lâu đời nhất còn đang hoạt động như General American Investors hình thành từ hai công ty đầu tư là Lehman Brother và Lazard Frères thành lập ngày 25 tháng 1 năm 1927. Mãi cho đến sau đại chiến thế giới II. soạn thảo và cho ra đời Luật công ty đầu tư (Investment Company Act) năm 1940. Theo Viện công ty đầu tư (Investment Company Institute – ICI). một mô hình mới được xây dựng ở Nhật Bản đáp ứng tiêu chuẩn cho quỹ đầu tư chứng khoán. Quỹ tín thác bất động sản cá nhân Boston (The Boston Personal Property Trust). Năm 1941. luật này lại được sửa đổi và hoàn thiện nhằm đảm bảo an toàn hơn nữa cho các nhà đầu tư. Quỹ đầu tư chứng khoán ngành đường sắt và năng lượng (The Railway and Light Securities Fund) là quỹ đóng đầu tiên của Mỹ áp dụng các quỹ cho vay làm đòn bẩy để thâu tóm chứng khoán đã ra đời năm 1904. các quỹ mới được khôi phục và bắt đầu phát triển thành một ngành kinh doanh giàu mạnh như hiện nay. ngay từ năm 1937 ở Nhật Bản đã xuất hiện một số quỹ tương tự như quỹ đầu tư.SEC) đã bắt đầu nghiên cứu và rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc Đại suy thoái. Đây chính là mầm mống đầu tiên cho sự xuất hiện các quỹ đầu tư ở Nhật Bản sau này. giá cổ phiếu tăng mạnh đồng thời người Mỹ không ngừng đầu tư vào thị trường cổ phiếu.Sau thế chiến II. Hai dự luật làm cơ sở căn bản nhất cho hoạt động chứng khoán là Luật chứng khoán ban hành năm 1933 và Luật về Sở giao dịch chứng khoán năm 1934.Các quỹ tín thác của Anh chính là hình mẫu cho các quỹ tín thác được thành lập tại Mỹ sau này. Cho đến nay. tài sản của các quỹ đã tăng lên 10 lần. chính phủ Mỹ cũng dần hoàn thiện hệ thống luật khung pháp lý về quỹ làm cho các quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động lành mạnh hơn. mô hình quỹ tín thác đầu tư bùng nổ và đến năm 1929. các quỹ bắt đầu ra đời hoặc được tái lập nhằm đáp ứng các quy định của luật này. đồng thời cho phép các quỹ được áp dụng các nghiệp vụ đầu tư mới nhất. Điều này có được là do các chuyên gia quản lý quy đầu tư đã không ngừng cải tiến và nâng cao dịch vụ cũng như tạo ra các dịch vụ mới đáp ứng được nhu cầu của đông đảo các nhà đầu tư. Chỉ tính trong thập kỷ 1980. Đến những năm 1920. tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đã tăng từ 448 triệu USD năm 1940 lên 1065 tỷ USD vào năm 1990. một quỹ đóng đầu tiên được thành lập ở Mỹ vào năm 1893. Trong năm tiếp đó. Đó là một tổ chức do một số nhà đầu tư thành lập nên để lợi dụng các dịch vụ đầu tư do công ty chứng khoán cung cấp. Hơn nữa. Uỷ ban chứng khoán Mỹ (Securities Exchange Committee .

làm tăng hiệu quả hoạt động của TTCK. Quyết định số 05/1998/QĐ – UBCK ngày 13 tháng 10 năm 1998 về Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu 10 .khoán này đều có một công ty thực hiện việc bảo quản và giám sát tài sản của mình. Mỹ. mở rộng trên tất cả các TTCK thế giới. các quỹ đầu tư này cũng đã đạt được một số thành công nhất định. tổng tài sản của các quỹ mở đạt 6846.Việc phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở các TTCK mới nổi bắt nguồn từ nhu cầu của những nền kinh tế còn yếu kém nhiều mặt. các quỹ đầu tư ngày càng chứng tỏ vai trò của mình . lượng vốn đã tăng từ 100 triệu USD vào năm 1985 lên khoảng 5 tỷ USD vào cuối năm 1998. Tổng giá trị tài sản của các quỹ đầu tư ngày càng tăng lên. Investment Company of American (40 tỷ USD). và Luật kinh doanh tín thác (Trust Business Law). Đến năm 1999.2. nơi mà quỹ đầu tư hình thành trên một TTCK phát triển cao. Nắm trong tay một lượng vốn khổng lồ. đòi hỏi phải cải thiện khả năng thanh toán và trợ giúp phát triển cơ sở hạ tầng. Không chỉ có ở các nước có nền tài chính phát triển lâu đời như Anh. hoạt động của các quỹ đầu tư phát triển không ngừng. Nhật Bản đã có 16 công ty quản lý trực thuộc công ty chứng khoán trong nước.một định chế tài chính trung gian quan trọng đáp ứng nhu cầu của người đầu tư và người nhận đầu tư cũng như của cả nền kinh tế. Tính đến tháng 4 năm 1996. Tuy vậy. Hoạt động của các quỹ này đặt dưới sự điều chỉnh của các luật là Luật Tín thác (Trust Law). 9 công ty quản lý trực thuộc công ty tư vấn đầu tư trong nước . Sự hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam Việt Nam ngay từ TTCK ra đời đến nay. 11 công ty quản lý trực thuộc công ty nước ngoài được phép hoạt động theo Luật tín thác đầu tư chứng khoán với số vốn của các công ty thường từ 100 triệu yên đến 15 tỷ yên. Nhật Bản…quỹ đầu tư chứng khoán còn giữ một vị trí quan trọng trên các TTCK mới nổi. Tóm lại. với lượng vốn khoảng 300 tỷ USD. riêng ở Đông Nam Á. Janus Growth Fund (20 tỷ USD)… 2. quỹ đầu tư là một phương thức đầu tư hiện đại.1. Nghị định 48 ngày 11/7/1998 về Chứng khoán và TTCK và Nghị định 144 ngày 28/11/2003 thay thế Nghị định 48/1998/NĐ – CP cũng coi mô hình quỹ đầu tư chứng khoán là một bộ phận không thể thiếu. Thực tế đã chứng tỏ vai trò tích cực của quỹ đầu tư trong TTCK. Điều này hơi khác biệt so với nguồn gốc hình thành quỹ đầu tư ở các TTCK phát triển. trong đó.3 tỷ USD trong đó có những quỹ khổng lồ nắm trong tay hàng chục tỷ USD như Magelan của Fidelity (64 tỷ USD). Theo Công ty tài chính quốc tế ( International Financial Corporation – IFC) tính đến tháng 12 năm 1998 có hơn 1800 quỹ đầu tư đang hoạt động tại các TTCK mới nổi.

2.2.2. Nguyên tắc huy động vốn Việc huy động vốn của Quỹ đầu tư thông qua phát hành chứng khoán. Vietnam Infrastructure Ltd (VNI).1. trong đó có các quỹ lớn thuộc các công ty quản lý VinaCapital và Dragon Capital như Vietnam Opportunity Fund (VOF). Nguyên tắc hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 2. Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường mới được hình thành và phát triển cách đây không lâu nên môi trường đầu tư đang trong giai đoạn hoàn thiện đặc biệt là vần đề hành lang pháp lý cho nhà đầu tư. quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu tư. Do vậy. Ngoài ra. quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hầu hết là các quỹ đóng. Vietnam Enterprise Investment Ltd (VEIL) và Vietnam Dragon Fund (VDF). Hiện có 20 quỹ đang tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán VN. Do vậy. Quỹ không thể phát hành trái phiếu tức đi vay để đầu tư vào chứng khoán vì như thế sẽ tạo nên môi trường chứng khoán ảo. 2.tư và Công ty quản lý quỹ cũng nêu rõ những quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán nhằm phát triển quỹ đầu tư cho TTCK Việt Nam. Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn. Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ Tài sản của quỹ phải được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản. nguyên tắc chung là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu (mô hình công ty) và chứng chỉ hưởng lợi (quỹ dạng tín thác).2. Tổ chức này chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các nhà đầu tư.2. Tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để tạo thuận lợi cho việc quản lý của quỹ cũng như hoạt động đầu tư của những người đầu tư. Tài sản của Quỹ đầu tư chủ yếu để đầu tư vào chứng khoán chứ không phải trực tiếp đem vào đầu tư mở rộng sản xuất. Chức năng giám sát tuỳ từng mô hình quỹ mà pháp luật các nước 11 . Vietnam Growth Fund (VGF).

trên thế giới hiện nay thì các tổ chức bảo quản tài sản thông thường là ngân hàng.giao cho một tổ chức tín thác hay hội đồng quản trị.Tổng nợ phải trả NAV = Số cổ phần hiện có Đối với Quỹ đóng thì giá cổ phần của quỹ sẽ phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán. một số nước nghiêm cấm Quỹ đầu tư bán khống chứng khoán. nó lấy NAV làm cơ sở nhưng không gắn liền với giá trị NAV. Đối với Quỹ mở do chủ yếu đầu tư vào chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán nên giá trị tài sản được xác định theo giá trị của chứng khoán đó tại thời điểm đó trên thị trường. Nguyên tắc định giá phát hành và mua lại chứng chỉ của quỹ Khi các nhà đầu tư đầu tư hoặc rút vốn của họ từ một quỹ. Để đảm bảo an toàn cho tài sản của quỹ cũng như sự ổn định của thị trường chứng khoán. biểu quyết với các chủ thể khác như công ty quản lý quỹ… Riêng đối với hội đồng quản trị thì các tổ chức này có quyền tự quyết định nếu như nó không liên quan tới chuyên môn của hội đồng quản trị. việc xác định giá phải dựa trên nguyên tắc công bằng giữa các nhà đầu tư hiện tại với các nhà đầu tư mua hoặc bán chứng chỉ.2. Theo quy định của Mỹ thì tài sản của quỹ có thể được bảo quản bởi một ngân hàng. Điều này được thể hiện trong cách thức xác định giá trị tài sản của quỹ khi mua bán chứng chỉ.3. Sau khi xác định xong giá trị tài sản của quỹ sẽ được chia cho số cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đang lưu hành để xác định giá trị cho mỗi chứng chỉ. Tổng giá trị tài sản ròng của quỹ bằng tổng giá trị các tài sản có và các khoản đầu tư của quỹ trừ đi các nghĩa vụ nợ tại thời điểm tính toán. Nguyên tắc chung của hầu hết các nước là tổ chức bảo quản tài sản trong quá trình giám sát không có quyền quyết định hoàn toàn mà phải cùng bàn bạc. 12 . 2. Giá bán và giá mua lại sẽ bằng giá trị của mỗi chứng chỉ cộng thêm một số chi phí cho việc mua bán đó. Giá thị trường = NAV + chi phí giao dịch Trong đó NAV : Giá trị tài sản ròng (Net Asset Value). Giá trị tài sàn ròng trên một cổ phần của quỹ được tính bằng Tổng tài sản có của quỹ . Tuy nhiên. một nhà kinh doanh môi giới chứng khoán được đăng ký hay do chính quỹ đó quản lý.

4.3. Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo sự thống nhất dễ hiểu cho các nhà đầu tư. Do được cung cấp thông tin mà người đầu tư đánh giá đúng về thực trạng của các khoản đầu tư. Giao dịch giữa các chủ thể có liên quan là các giao dịch liên quan tới tài sản của quỹ giữa một bên là Quỹ đầu tư và một bên là chủ thể khác như công ty quản lý quỹ.Các khoản vay nợ của quỹ với chủ thể liên quan. 2. cổ đông…) . Nói chung mỗi nước lại có quy định cụ thể riêng để ngăn chặn hiện tượng này để đảm bảo hoạt động của quỹ được lành mạnh.Người có liên quan cam kết với người thứ ba tham gia giao dịch với quỹ. Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên quan với quỹ. Thực trạng của quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam 13 . nhà tư vấn… mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng đến lợi ích của người đầu tư hiện tại của quỹ. Nguyên tắc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư Việc cung cấp thông tin vừa có ý nghĩa là tạo cơ hội cho quỹ thu hút vốn đầu tư vừa để góp phần bảo vệ lợi ích của người đầu tư. công bằng bảo vệ lợi ích của tất cả những người đầu tư.2. . Thông thường tại thị trường chứng khoán các nước phát triển rất ít Quỹ đầu tư được giao dịch có mức Premium. Thường những quỹ được giao dịch có chỉ số ở mức Discount đều có thể đạt được mức Premium cao trong tương lai và ngược lại. mục tiêu đầu tư của quỹ… 2. đối tác. người quản lý. tổ chức bảo quản giám sát về chính sách.Việc mua bán tài sản của quỹ với người có liên quan (nhân viên.Khi một Quỹ đóng bán cổ phiếu với giá thấp hơn NAV thì được gọi là bán chiết khấu (Discount) và ngược lại nếu giá bán cổ phiếu lớn hơn NAV thì được gọi là bán có thu phí (Premium). .5. 2. Chỉ số này không ổn định mà biến động theo các điều kiện của thị trường. mà phần lớn ở mức Discount từ 15% đến 20%. khả năng chuyên môn của những người quản lý quỹ để có thể quyết định đầu tư đúng đắn. Các nước thường quy định Quỹ đầu tư khi gọi vốn từ công chúng phải làm Bản cáo bạch (Prospectus) để công bố toàn bộ thông tin về công ty quản lý. Các trường hợp được coi là giao dịch có liên quan như: . ngân hàng bảo quản giám sát. người làm thuê. người bảo lãnh phát hành.Một người có liên quan hành động như một đại lý đối với tài sản của quỹ trong việc mua bán chứng chỉ quỹ đầu tư.2.

3 31.835 tỷ đồng. trong đó lớn nhất là VOF với giá trị lên đến 771 triệu USD. Quỹ Đầu Tư Cân Bằng Prudential (PRUBF1)… Với khoảng 20 quỹ đang tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán VN như hiên nay. các công ty cổ phần Quỹ Vietnam Equity Holding (VEH) Bao Tin Equity Fund Bao Viet Investment Fund Blackhorse Enhanced Vietnam Inc BIDV-Vietnam Partners' Vietnam Investment Fund DWS Vietnam Fund DWS Vietnam Fund Vietnam Enterprise Investments Ltd.2 25. cùng với sự phát triển của quỹ đầu tư trong nước và quốc tế. và 29 văn phòng đại diện đang hoạt động. Nếu như trước đây chỉ có quỹ đầu tư VF1 là quỹ công chúng dành cho nhà đầu tư cá nhân.Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường mới được hình thành và phát triển cách đây không lâu nên môi trường đầu tư đang trong giai đoạn hoàn thiện đặc biệt là vấn đề hành lang pháp lý cho nhà đầu tư.1 39.thì hiện nay.3 14 . Theo báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tình hình thị trường chứng khoán trong năm 2009 tính đến cuối tháng 10/2009. thị trường đã có 46 công ty quản lý quỹ được cấp phép hoạt động với tổng số vốn điều lệ là gần 1.757 tỷ đồng. có 20 quỹ đầu tư chứng khoán (4 quỹ công chúng và 16 quỹ thành viên) với tổng số vốn huy động là 12.8 Tăng trưởng năm 2009 (%) 10.giá trị NAV trung bình của 20 quỹ này tính đến ngày 21/1/2010 là 147 triệu USD. (VEIL) Vietnam Growth Fund Limited (VGF) Vietnam Dragon Fund (VDF) Vietnam Equity Fund Golden Bridge Financial Group's Vina Blue Ocean Fund Hanoi Fund Indochina Capital Vietnam Holdings JF Vietnam Opportunities Fund JF Vietnam Opportunities Fund Kamm Investment Holdings Vietnam Growth Fund Worldwide Vietnam Fund China and Vietnam Fund Công ty quản lý Saigon Asset Management (SAM) Bao Tin Capital Bao Viet Fund Management (BVFMC) Blackhorse Asset Management BVIM Investment Management Deutsche Bank Dragon Capital Finansa Fund Management Golden Bridge Financial Fund Hanoi Fund Management Indochina Capital JF Vietnam Opportunities Kamm Investment Korea Investment Trust Management 45.9 27. Các quỹ đầu tư vào cổ phiếu niêm yết. nhiều quỹ ra đời đáp ứng nhu cầu cho các nhà đầu tư cá nhân như Quỹ đầu tư chứng khoán Sài Gòn A1 (SFA1).6 4. 3 quỹ do Dragon Capital quản lý có tổng NAV là 889 triệu USD.

500 tỷ đồng. Phần lớn tiền của các quỹ đầu tư được đầu tư vào cổ phiếu niêm yết với giá trị 7. trong đó chủ yếu nhận ủy thác thông qua các hoạt động quản lý danh mục đầu tư chiếm tới 87% tổng số vốn huy động thông qua các công ty quản lý quỹ.3 56. Nguyên nhân có sự tăng mạnh giá trị chứng khoán niêm yết là do TTCK quý 4/2009 sôi động.9 Viet Fund Management 48.7 39. chiếm gần 10% giá trị vốn hóa thị trường.KITMC RSP Balanced Fund KITMC Vietnam Growth Fund I and II KITMC Worldwide Vietnam Fund I and II Vietnam Oilfield Fund Lion Capital Vietnam Fund Manulife Progressive Fund (MAPF1) Vietnam Azalea Fund MekongEnterprise Fund Mirae Asset’s Mirae Asset Securities JSC Maxford Investment management Ltd’s Vietnam Focus Fund SP Orient Management Company’s Orient Fund 1 (OF1) Prudential Balanced Fund Prudential Vietnam Securities Investment Fund Vietnam Lotus Fund PXP Vietnam Fund Ltd Vietnam Emerging Equity Fund Saigon Securities Investment Fund A1 (SFA1) Saigon Securities Investment Fund A2 (SFA2) Viet Capital Fund Management’s Viet Capital Fund (VCF) Viet Fund 1 (VF1) Viet Fund 2 (VF2) Viet Fund 4 (VF4) Vietcombank Partners Fund 1 (VPF1) Vietnam Emerging Market Fund (VEMF) Lion Capital Manulife Funds Mekong Capital Mirae Asset Maps Investment Management Maxford Investment Management Cty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Phương Đông Prudential Fund Management PXP Vietnam Asset Management Thanh Viet Fund Management Cty quản lý quỹ Bản Việt 48.2 50.6 6. 15 . phần còn lại vào các tài sản khác.700 tỷ đồng tương đuơng 20% vào chứng khoán chưa niêm yết.3 20 quỹ đầu tư chứng khoán này được quản lý bởi 46 công ty quản lý quỹ.2 Vietcombank Fund Management Vietnam Asset Management 71. Tính đến cuối năm 2009. các công ty quản lý quỹ đã huy động vốn để đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và hoạt động quản lý ủy thác đầu tư lên đến gần 72 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 4 tỷ USD). 2. chiếm 54% giá trị tài sản ròng của các quỹ. giá chứng khoán tăng nâng giá trị tài sản đầu tư các quỹ vào chứng khoán niêm yết và các quỹ có xu hướng gia tăng đầu tư vào chứng khoán niêm yết. hoạt động ngành quản lý quỹ tại Việt Nam dần khẳng định vị trí của mình trên thị trường chứng khoán.

Theo khảo sát của tập đoàn đầu tư và tư vấn tài chính LCF Rothschild trong năm 2009. tính đến đầu năm 2008. Về tăng trưởng giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ cũng từng bước được cải thiện. thấp hơn mức tăng 48.4% của VN-Index.Tổng giám đốc Dragon Capital . Ngoài ra. vì thiếu linh động hơn trong điều hành và thích ứng với thị trường. VEEF . 16 .Vietnam Emerging Equity Fund và PXP Vietnam Fund có mức tăng trưởng NAV đứng đầu bảng xếp hạng các quỹ đầu tư có hoạt động tốt nhất tại Việt Nam do LCF Rothschild khảo sát. đơn cử là 3 quỹ do PXP Vietnam Asset Management (PXP) quản lý gồm VLF . vẫn được coi là mức chênh lệch thấp so với nhiều quỹ đầu tư khác tại Việt Nam.cho biết: “Tăng trưởng của các quỹ năm 2009 không theo kịp đà tăng của chỉ số VN-Index do các nhà quản lý quỹ đã quá thận trọng. Trong đó. theo ông.Vietnam Lotus Fund. các quỹ đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam có mức tăng trưởng NAV xấp xỉ 40%.Tuy nhiên.500 tỷ đồng. Cuối năm 2008.500 tỷ đồng. thay vào đó là mua trái phiếu hoặc giữ tiền mặt”. Theo ông Dominic Scriven . tính đến ngày 9/11/2009 có mức tăng NAV là 98. có nhiều mã tăng tới 500 -600% nhưng NAV của m ột số quỹ đại chúng lớn chỉ tăng chưa tới 8% do phần lớn danh mục vẫn "bảo thủ" với trái phiếu và tiền mặt. giá trị tài sản ròng của các quỹ là gần 10. Việc giá trị tài sản ròng(NAV) tăng lên cũng làm cho giá chứng chỉ quỹ của một số quỹ thấp hơn NAV. gần 23% so với năm 2008. Hiện tại Vietnam Enterprise Investments Limited (VEIL) đang gặp sức ép thoái vốn từ một nhóm cổ đông của quỹ . Tuy nhiên n ăm 2009 các quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam cũng gặp phải những khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế vào cuối năm 2007. cao nhất là quỹ VEEF. việc giá chứng chỉ quỹ VEIL thấp hơn khoảng 20% so với NAV/chứng chỉ quỹ. nhưng đến cuối năm 2009 chỉ còn 12. Hầu hết các quỹ đều đạt tỷ lệ tăng trưởng dương.3%. Trong khi đó từ tháng 2-10/2009 VN-Index phục hồi ấn tượng 116%. các công ty quản lý quỹ đã tạo ra được giá trị gia tăng đáng kể cho các nhà đầu tư là tổ chức và cá nhân. Với chiến lược đầu tư dài hạn và đầu tư vào sản phẩm chất lượng cao. các quỹ có quy mô lớn cũng tăng trưởng chậm hơn quỹ nhỏ. tổng quy mô các quỹ ở mức 12. ít đầu tư vào cổ phiếu rủi ro cao.600 tỷ đồng và duy trì đến quý 3/2009. thì đến cuối năm 2009 tăng lên gần 13.350 tỷ đồng do có 1 quỹ giải thể (Indochina Capital Vietnam Holdings Limited (ICV) giải thể tháng 9/2009). Điều này dễ dẫn đến sức ép thoái vốn của quỹ giống như Indochina Capital Vietnam Holdings Limited (ICV) đã tuyên bố thoái vốn hồi tháng 9/2009 khi giá chứng chỉ quỹ ICV thấp hơn giá trị tài sản ròng (NAV) trên mỗi chứng chỉ quỹ khoảng 15%.Về huy động vốn.

Các quỹ này có quy mô vốn từ 59 788 triệu USD. đạt trên 20%. Cụ thể.Theo số liệu từ tập đoàn đầu tư và tư vấn tài chính LCF Rothschild. giá chứng chỉ quỹ của 9 quỹ đầu tư đều thấp hơn trung bình 39% so với NAV trên mỗi chứng chỉ quỹ. Cụ thể. Tỷ lệ chênh lệch giữa giá chứng chỉ quỹ so với NAV/chứng chỉ quỹ của 13 quỹ đầu tư (đơn vị: %) .5% NAV trên mỗi chứng chỉ quỹ. giá chứng chỉ quỹ Vietnam Equity Holding đang thấp hơn 58. trong tuần từ 1/7 đến 8/7 năm 2010. giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ tiếp tục giảm với mức khá mạnh. Trong những ngày đầu tháng 7 năm 2010. trong khi tuần 17 . hoạt động của hầu hết các quỹ đầu tư có kết quả khả quan. tỷ lệ tăng trưởng NAV lớn. Với 4 quỹ đại chúng đang niêm yết trên sàn HOSE.2%). tính đến ngày 11/6. VinaCapital Vietnam Opportunity Fund Ltd (41.5%).4%)… Đến thời điểm tháng 6 năm 2010 thì trên thị trường hiện có 13 quỹ đầu tư tại Việt Nam đang niêm yết chứng chỉ quỹ trên thị trường chứng khoán đều có giá chứng chỉ quỹ thấp hơn NAV. tiếp theo là DWS Vietnam Limited (51.38 tỷ đồng.6%). NAV của Quỹ VF1 giảm hơn 20.Nguồn: LCF Rothschild Tính đến năm 2009. thông tin từ Sở giao dịch cho biết. Vietnam Infrastructure Limited (46. Vietnam Holding Limited (46. Đây thực sự là nỗ lực của ngành quản lý quỹ nói chung và các công ty quản lý quỹ nói riêng. giá trị tài sản ròng của các quỹ có sự thay đổi không ngừng.

2 tỷ đồng.5%. cùng với đó là sự xuất hiện của 1 số quỹ đầu tư đầu tiên như: Vietnam Fund(Tháng10năm1991). Điều này càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn của các quỹ đầu tư chứng khoán đối với nền kinh tế nước ta. từ mức 0.847 đồng. hàng loạt công ty đầu tư nước ngoài đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam.954 đồng.102 đồng. cho đến nay nước ta có khoảng 20 quỹ đang tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán. giá chứng khoán giảm sâu như cuối năm 2008 đầu năm 2009.5% GDP năm đầu tiên lên gần 50% GDP hiện nay. đặc biệt là kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành vào tháng 2 năm 1998. NAV của Quỹ PRUBF1 giảm 5. tỷ lệ thu nhập ròng /NAV bình quân là 5.VietnamKeppelFund(Tháng06năm1992).24 tỷ đồng. Xét chỉ tiêu về thu nhập. Xét chỉ tiêu chi phí. tỷ lệ này được đánh giá là thấp so với chi phí quản lý quỹ của ngành quản lý quỹ các nước. tỷ lệ lợi nhuận âm 40%. chiếm gần 10% giá trị vốn hóa thị trường tính đến cuối năm 2009. NAV của Quỹ VF4 giảm 19. tỷ lệ này là khá khả quan các quỹ đã có dấu hiệu thoát khỏi khủng hoảng. Xét về chỉ tiêu lợi nhuận (tổng thu nhập/NAV) cuối năm 2008. VietnamFrontierFund(Tháng 07 năm 1994) ….trước đó mức giảm là 9. Huy động vốn qua thị trường chứng khoán trong những năm gần đây đạt bình quân hơn 120. nền kinh tế còn đang phát triển và đang ở bên bản lề của cuộc khoảng hoảng từ cuối năm 2007. tỷ lệ này đạt dương được đánh giá là khả quan trong tình hình TTCK có nhiều biến động. Với Quỹ MAFPF1.46 tỷ đồng. NAV trên mỗi chứng chỉ quỹ là 6. NAV trên mỗi chứng chỉ quỹ là 10. Nhìn 1 cách tổng quan.000 tỷ đồng mỗi năm. 18 .758 đồng.22 tỷ đồng.1%.05 tỷ đồng. thị giá chứng chỉ quỹ VF1 là 12. VF4 là 7. nâng quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam tăng 30-40 lần. thì đến năm 2009 khoảng 29%. kể từ sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa.400 đồng. BF1 là 5.BetaViet namFund(Tháng 08 năm 1993). tương đương một phần ba tổng mức đầu tư toàn xã hội được công nhận là một kênh huy động vốn hiệu quả cho đầu tư phát triển đất nước. tỷ lệ chi phí/quy mô vốn bình quân năm 2009 đạt khoảng 3. NAV giảm 2. Đến cuối phiên giao dịch ngày 15/7.. đóng góp gần 72 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 4 tỷ USD). NAV trên mỗi chứng chỉ quỹ ở mức 24. trong bối cảnh nền kinh tế chỉ có 1 kênh huy động vốn duy nhất là ngân hàng.410.100 đồng.9 tỷ đồng.100 đồng. tương ứng với mỗi chứng chỉ quỹ là 8.000 đồng và MAFPF1 là 5. NAV của VF1 hiện còn 2. xuống 437.

các quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam cũng đã gặp không ít những khó khăn. 2. khó có thể tiếp cận với danh mục đầu tư đa dạng hơn. để đạt được thành công trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu và là một trong số ít các nước trên thế giới có tốc độ tăng trưởng dương ở mức cao trong năm 2009. Đặc tính này làm cho tính thanh khoản của cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ ít. Nhưng bên cạnh những điểm đạt được. tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt được các yêu cầu về lợi nhuận. tỷ giá hối đoái điều chỉnh chưa kịp thời. Làm cho quỹ đầu tư thật sự phát huy vai trò của người “dẫn dắt thị trường”. Hiện tại. kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa đạt được như: hoạt động xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do thị trường co lại. cần phải ghi nhận Chính phủ Việt Nam đã rất cố gắng và bản lĩnh trong hoạt động điều hành chính sách vĩ mô của mình. hiệu quả cho một kênh huy động vốn và rất phổ biến ở các nước. Những thuận lợi và khó khăn của quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam Quỹ đầu tư ra đời nhằm giúp cho các chủ thể đầu tư có thể giảm thiểu rủi ro. Và trên đà những thành tựu đã đạt được đó thì chúng ta phải cố gắng hơn nữa để đạt được mức độ tăng trưởng cao hơn trong năm 2010. Do đó các quỹ sẽ không được phép phát hành hoặc mua lại cổ phiếu/ chứng chỉ quỹ theo một chu kỳ nhất định (hàng ngày hoặc theo quy định ghi trong điều lệ quỹ) theo yêu cầu của nhà đầu tư. Những khó khăn của các quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam Quỹ đầu tư là hình thức đầu tư hiện đại. Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế như: ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. và giúp cho việc đầu tư qua quỹ đầu tư thật sự đạt được những hiệu quả của nó. kinh tế vĩ mô tương đối ổn định. sản phẩm đơn giản. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu trên. hoạt động của các tập đoàn Nhà nước chưa thực sự hiệu quả. 2. cho nên trong quá trình hoạt động các quỹ còn gặp phải những khó khăn..4.Năm 2009.1.. được giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền. Tuy nhiên. đạt tốc độ tăng trưởng hợp lý trong bối cảnh các nước trong khu vực đều gặp khó khăn. đã ảnh hưởng đến hoạt động chung của toàn bộ nền kinh tế. Riêng đối với việt nam thì đây còn là một hình thức khá mới mẻ. đa dạng hoá theo danh mục đầu tư. giúp thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng phát triển. đạt được tính năng động của quỹ đầu tư. trên thị trường chứng khoán việt nam mới chỉ vận hành theo loại hình quỹ đóng dạng thành viên của quỹ đại chúng. 19 . Phát huy tốt vai trò huy động vốn của quỹ đầu tư.4. các khoản đầu tư được quản lý chuyên nghiệp.

làm mức chiết khấu cao. Thị trường chứng khoán Việt Nam với hơn 9 năm hoạt động.9% đối với 5 quỹ bất động sản. Hơn nữa quỹ nội có 3 điểm yếu trong cạnh tranh: Thứ nhất. số lượng tài khoản lớn (khoảng 700 nghìn tài khoản) và nhiều công ty tổ chức tham gia(hơn 100 công ty chứng khoán ra đời hoạt động.8% đối với 4 chứng chỉ quỹ trong nước.Được sự quản lý chuyên nghiệp cũng như sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền nên hoạt động của quỹ đầu tư diễn ra được an toàn.chúng ta cũng có được một số điểm thuận lợi cho quá trình hình thành và phát triển của quỹ đầu tư. Do đặc điểm của tình hình kinh tế và tính hấp dẫn từ các quỹ đầu tư chưa cao nên chưa thu hút được nhiều nguốn vốn nhàn rỗi trong dân cư do đó các quỹ khó có thể tiếp cận với các cơ hội đầu tư lớn. Thứ hai. loại hình chủ yếu là quỹ đóng.. công ty tài chính. bảo hiểm) nhưng mức độ ảnh hưởng của thị trường chứng khoán đến nền kinh tế nước ta chưa cao. do còn non trẻ và bản thân thị trường có tính minh bạch kém nên phần lớn các quỹ trong nước chưa tạo dựng được uy tín trong việc huy động vốn dài hạn từ nước ngoài. 40% đối với 4 chứng chỉ quỹ đầu tư tư nhân và 47. 2.2. sản phẩm quỹ đơn giản và ít thanh khoản. các quỹ ở Việt Nam có mức chiết khấu lớn so với NAV và so với mức chiết khấu trung bình ở các thị trường khác: chiết khấu là 29% đối với 21 chứng chỉ quỹ nước ngoài. nhờ số lượng tổ chức đầu tư quá nhỏ bé so với lực lượng nhà đầu tư cá nhân nên TTCK không đóng vai trò là nhân tố ổn định cũng như dẫn dắt thị trường. hàng trăm tổ chức nhà đầu tư nước ngoài tham gia TTCK. phần lớn các quỹ nội không thể đóng góp tăng chất lượng kinh doanh và quản lý để trực tiếp nâng cao giá trị doanh nghiệp mà có lẽ chỉ giúp cổ phiếu doanh nghiệp giao dịch tốt hơn và sát với giá trị hợp lý hơn. Quy mô thị trường nhỏ. những điều kiện kinh tế vĩ mô vẫn được ổn định hoặc nền kinh tế không gặp khó khăn lớn. nhờ vậy mà tránh được những cuộc khủng hoảng lớn có thể tác động xấu đến tình hình đất nước như so với các nước khác. Thứ ba. kinh nghiệm đầu tư và sự chuyên nghiệp còn yếu. Những thuận lợi của quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam Bên cạnh những khó khăn mà các quỹ đầu tư Việt nam gặp phải. đồng thời hầu hết tổ chức tài chính trong nước như các ngân hàng thương mại.Vd: thời điểm "tiền đại 20 . 39.Ngoài ra những khó khăn quỹ đầu tư ở thị trường Việt Nam đang gặp phải còn do giá chứng chỉ quỹ trên thị trường thấp hơn nhiều so với giá trị ròng (NAV) của chứng chỉ quỹ.4. đảm bảo và đạt hiệu quả cao. khiến cho các quỹ là mục tiêu “tấn công” hấp dẫn cho các quỹ đầu cơ. Theo báo cáo của Tập đoàn đầu tư và Tư vấn tài chính LCF Rothschild.. khoảng 50 công ty quản lý quỹ trong nước.

1. Khi các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Một nền kinh tế ổn định còn giúp cho hệ thống doanh nghiệp có thể duy trì sự phát triển ổn định của mình. TTCK có hơn 300 nghìn tài khoản hoạt động song chỉ có chưa đến 300 nhà đầu tư tổ chức. khi đó các chứng khoán được phát hành ra sẽ hấp dẫn hơn đối với người đầu tư. Từ đó khuyến khích các tổ chức kinh tế tích cực hơn trong quyết định thành lập Quỹ đầu tư chứng khoán cũng như tạo ra môi trường tốt cho hoạt động của các Quỹ đầu tư phát triển. các chỉ số vĩ mô như lạm phát. tỷ giá hối đoái. Giải pháp thúc đẩy sự hình thành và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán 2. thiếu sự kiểm soát thì các nhà đầu tư không thể mạo hiểm tham gia vào thị trường chứng khoán vì họ không tin tưởng vào khả năng sinh lợi trên thị trường này.5. Về phía Nhà nước a. dè chừng khi tham gia vào một hình thức đầu tư mới. Phát triển lực lượng nhà đầu tư tổ chức là yêu cầu và xu thế tất yếu nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của TTCK. quan tâm tới việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. do đó sẽ làm tăng tính thanh 21 . Trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô có nhiều dấu hiệu bất ổn. Điều này vô cùng quan trọng bởi TTCK không chỉ là "hàn thử biểu" mà trước hết là kênh huy động vốn cực kỳ hiệu quả của nền kinh tế. Đây là xu hướng tất yếu của các doanh nghiệp trong một nền kinh tế phát triển. Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô Sự ổn định và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế vĩ mô có mối quan hệ mật thiết tới thị trường chứng khoán nói chung và sự phát triển của các Quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng.5. Đồng thời. tỷ lệ tăng trưởng. Việc các công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài chưa được phép thành lập ở việt nam cũng là một điều kiện thuận lợi giúp cho các công ty quản lý quỹ việt nam có thể khai thác được tối đa nguồn vốn huy động được từ các quỹ đầu tư. 2. do đó các quỹ sẽ có nhiều thuận lợi trong việc huy động vốn. thu hút được các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.khủng hoảng" năm 2008. Số lượng các quỹ đầu tư chứng khoán hiện tại được uỷ ban chứng khoán nhà nước cho phép thành lập là không nhiều. Như vậy. Chỉ trong một nền kinh tế ổn định. họ sẽ có nhu cầu về vốn rất cao và tìm cách huy động dưới nhiều hình thức trong đó có việc tham gia vào thị trường chứng khoán. mức lãi suất ổn định thì mới tạo lập được niềm tin và kích thích người đầu tư xoá bỏ tâm lý e ngại. nguồn cung hàng hoá cho thị trường chứng khoán sẽ phong phú. Điều này dẫn đến sự đình trệ trong hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung.

b. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý Việc hoàn thiện hệ thống pháp lý là để tạo hành lang cho các tổ chức tài chính và doanh nghiệp hoạt động một cách công bằng và hiệu quả. Luật dân sự… Các bộ luật này và các văn bản dưới luật đi kèm có một số điểm bất đồng. chúng ta đã có luật các tổ chức tín dụng nhưng chưa đề cập rõ về Quỹ đầu tư. Việc điều chỉnh các hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán chỉ dựa vào quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ kèm theo Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK ngày 13/10/1998. do Quỹ đầu tư chứng khoán có một số đặc điểm riêng so với các chủ thể kinh doanh khác trên thị trường nên nó chịu sự chi phối của nhiều bộ luật khác có liên quan như Luật doanh nghiệp.Thực hành tiết kiệm để tạo và nuôi dưỡng nguồn vốn cho đầu tư phát triển.khoản của các chứng khoán. cần nhanh chóng chỉnh sửa nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho các Quỹ đầu tư nước ngoài được nắm giữ một tỷ lệ cổ phiếu của một công ty lớn hơn tỷ lệ hiện nay là 30%. Luật các định chế tài chính trung gian khi thị trường chứng khoán Việt Nam dần đi vào hoạt động ổn định. hoàn thiện các bộ luật này để tạo nên một hệ thống pháp luật đồng bộ. Do vậy. Để có thể duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. có ưu tiên theo hướng chuyển dịch cơ cấu theo hướng kết hợp phát triển theo chiều rộng với việc hoàn thiện. Hiện nay. 22 .đầu tư qua quỹ. kiểm soát lạm phát trong điều kiện chịu sự ảnh hưởng của những biến động kinh tế thế giới trong xu hướng toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay thì Việt Nam phải thực hiện một số biện pháp cơ bản sau: . một yêu cầu đang được đặt ra là cần phải tiếp tục bổ sung.Đầu tư phát triển phải là vấn đề ưu tiên hàng đầu trong các quyết sách kinh tế quốc gia. Đầu tư phải có trọng điểm. Nhưng để các văn bản này đi vào thực tiễn và phát huy hiệu lực thì cần sớm đưa các nội dung này vào trong khuôn khổ pháp lý cao hơn dưới hình thức các luật như Luật về Chứng khoán và thị trường chứng khoán. cải tiến thiết bị công nghệ theo chiều sâu. các doanh nghiệp cũng như nhằm giải quyết một cách nhanh chóng khi có tranh chấp xảy ra. Ví dụ như đối với Luật đầu tư nước ngoài. Ngoài ra. ổn định. Chính sách tiết kiệm phải đi đôi với chính sách khuyến khích đầu tư và chính sách khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu. . làm cho hoạt động kinh doanh chứng khoán sôi động. chồng chéo nhau và chưa có sự bổ sung điều chỉnh đối với một hình thức đầu tư mới . tạo sự công bằng cho các nhà đầu tư. mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Thị trường chứng khoán chỉ có thể phát triển vững chắc trên cơ sở một hệ thống ngân hàng lành mạnh và được kiểm soát 23 . Các nhà quản lý hình như chưa có chính sách thông thoáng để thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp này. Chính vì vậy. Giống với Malaixia. e. d. một phần vì sợ các nhà đầu tư nước ngoài có quyền rút vốn ồ ạt gây khủng hoảng cho nền tài chính quốc gia tương tự như cuộc khủng hoảng khu vực xảy ra vào năm 1997. Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy trong giai đoạn đầu phát triển thị trường chứng khoán. Nhà nước cần khuyến khích và hỗ trợ tích cực cho việc hình thành và phát triển của Quỹ đầu tư.c. Việc mở đầu thành công có ý nghĩa rất quan trọng để khuyến khích. do vậy rất cần có sự trợ giúp của nhà nước. Tuy nhiên. Quỹ đầu tư chứng khoán còn là vấn đề rất mới và trong điều kiện hiện nay còn nhiều khó khăn để quỹ ra đời và hoạt động. Phát triển hệ thống ngân hàng ở Việt Nam Thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ và gắn bó hữu cơ với nhau. chính phủ Hàn Quốc đóng vai trò to lớn trong việc thúc đẩy trợ giúp sự hình thành và phát triển Công ty tín thác đầu tư. Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một hình thức đầu tư phổ biến trên thế giới và quan trọng không kém so với hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. sự trợ giúp của nhà nước thể hiện ở việc nhà nước cần đi tiên phong trong việc thành lập công ty quản lý quỹ và thiết lập các Quỹ đầu tư để mở đầu tạo niềm tin cho công chúng trong đầu tư. Khi thị trường chứng khoán đã đi vào hoạt động thì việc hình thành các Quỹ đầu tư là hết sức cần thiết để tạo điều kiện cho công chúng có thể tham gia vào thị trường chứng khoán. Thu hút đầu tư gián tiếp Chúng ta nên có chế độ ưu tiên đối với lĩnh vực đầu tư gián tiếp cũng được ưu đãi như đầu tư trực tiếp. giúp đỡ người dân mua các cổ phiếu của các công trình. tỷ lệ vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường Việt Nam hiện nay chiếm chưa đến 1% vốn đầu tư trực tiếp trong khi ở Thái Lan khi xảy ra khủng hoảng tỷ lệ này là 80%. thu hút các thành phần kinh tế và các tổ chức khác. Nhưng trên thực tế. công ty làm ăn có lãi. Tại Malaixia có Quỹ đầu tư chứng khoán do chính phủ thành lập tên là PNB. Do vậy. Nó có những quỹ chi nhánh theo chuyên ngành để hỗ trợ. ở Singapore chính phủ cũng thành lập một Quỹ đầu tư chứng khoán của nhà nước với mục đích tham gia vào các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Số vốn của các quỹ đó ngày càng tăng khiến cho quỹ có thể mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Việt Nam phải quan tâm hơn nữa tới kênh thu hút vốn này. Việt Nam đã rất thành công trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng xem ra việc thu hút đầu tư nước ngoài gián tiếp vẫn còn bị bỏ ngỏ.

Muốn trở thành ngân hàng giám sát. Bởi vậy. báo cáo tài chính kế toán. Đối với các Quỹ đầu tư. ngân hàng đóng vai trò là chủ thể giám sát. xây dựng các tiêu chuẩn hạch toán. Quỹ đầu tư chứng khoán là một loại hình tổ chức đầu tư còn rất mới mẻ. Nhà nước tích cực khuyến khích các ngân hàng tham gia tạo lực lượng nòng cốt cho thị trường chứng khoán. Đây là bước chuẩn bị nhằm tiến tới việc thành lập các ngân hàng giám sát khi các Quỹ đầu tư ra đời. ngân hàng không ngừng nâng cao nghiệp vụ. áp dụng các phương thức thanh toán… tạo điều kiện cho mọi hoạt động trên thị trường chứng khoán nói chung cũng như hoạt động của các Quỹ đầu tư nói riêng và nhất là có thể đáp ứng được các điều kiện để trở thành tổ chức bảo quản và giám sát tài sản cho các Quỹ đầu tư. Do vậy.Qua đó đã gián tiếp tạo điều kiện cho sự ra đời của các Quỹ đầu tư. Ngân hàng nhà nước nên có chế độ giám sát đảm bảo độ an toàn của các ngân hàng thương mại. Điều này đòi hỏi ngân hàng phải nỗ lực liên tục cơ cấu lại tổ chức.tốt. Một tin vui mới đến cho các ngân hàng là vừa qua Uỷ ban chứng khoán nhà nước đã ký giấy phép công nhận Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là ngân hàng lưu ký chứng khoán. f. Các ngân hàng thương mại là những tổ chức đóng vai trò tích cực trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ngân hàng nhà nước có thể dành một khoản chi nhất định cho việc thành lập các công ty chứng khoán hoặc tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại quốc doanh để tạo cơ sở cho các ngân hàng thành lập công ty chứng khoán hoặc thực hiện việc liên doanh với công ty chứng khoán nước ngoài. việc thực hiện ưu đãi về thuế đối với hoạt động đầu tư chứng khoán của quỹ là việc hỗ trợ hết sức quan trọng và cần thiết của nhà nước đối với sự hoạt động và phát triển của Quỹ đầu tư chứng khoán. Thực hiện chính sách ưu đãi về thuế đối với hoạt động đầu tư chứng khoán của Quỹ đầu tư. 24 . ngân hàng đó phải đáp ứng các điều kiện do Uỷ ban chứng khoán nhà nước đề ra. chắc chắn khi thành lập và những năm đầu mới đi vào hoạt động sẽ gặp nhiều khó khăn. chưa có bất cứ một quy định nào về thuế đối với Quỹ đầu tư. xây dựng các môi trường pháp lý chặt chẽ. hoàn thiện các nghiệp vụ phục vụ khách hàng và từng bước chuẩn hoá các quy trình nghiệp vụ. hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động lành mạnh và được ngân hàng trung ương kiểm soát và giám sát chặt chẽ sẽ có ảnh hưởng lớn đến tính lành mạnh của thị trường chứng khoán. bảo quản tài sản của quỹ. Hiện tại. kiểm toán rõ ràng và trung thực để các ngân hàng thương mại có thể đáp ứng một nghiệp vụ mới này. Bên cạnh đó.

nhà nước phải đảm bảo hoạt động của các quỹ này thông qua các biện pháp tăng cung kích cầu trên thị trường chứng khoán. Trên thực tế. thiếu tính ổn 25 . không thuộc sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp. việc đẩy mạnh hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam cũng là một nhân tố quan trọng. Điều này sẽ tận dụng được hết mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng. Để khuyến khích việc ra đời của các Quỹ đầu tư chứng khoán. Thực tiễn các thị trường chứng khoán thế giới đã chứng minh rằng một thị trường chứng khoán sẽ không thể hoạt động một cách lành mạnh và hiệu quả nếu lượng chứng khoán cung cấp cho thị trường không nhiều và số lượng nhà đầu tư nhỏ.Theo quy định tại Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán: Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của người đầu tư được uỷ thác cho công ty quản lý quỹ và đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán. g. Một thị trường như vậy được coi là một thị trường mỏng. Rõ ràng nếu thu nhập đầu vào và lợi nhuận của quỹ bị đánh thuế thì sẽ không khuyến khích nhà đầu tư đầu tư qua quỹ. việc nhà đầu tư thực hiện đầu tư qua Quỹ đầu tư và việc nhà đầu tư đầu tư trực tiếp không qua quỹ là tương đương nhau trên góc độ thuế. coi Quỹ đầu tư là phương tiện. Ngay cả trong trường hợp quỹ là pháp nhân. công cụ đầu tư cho các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức. chứ không phải là một pháp nhân kinh doanh. Mô hình về thuế với Quỹ đầu tư như trên nhằm khuyến khích sự phát triển của loại hình đầu tư ưu việt này. tích cực. vì vậy không phải là đối tượng đánh thuế của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Các biện pháp tăng cung trên thị trường chứng khoán : Để xây dựng một thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả thì việc cung cấp hàng hoá chứng khoán cho thị trường là một vấn đề rất quan trọng. trong khi chưa có thị trường giao dịch ngoài quầy. Ở nhiều nước như Pháp. Để Quỹ đầu tư hình thành và phát triển lành mạnh. Kết quả là nhà đầu tư thấy rằng việc họ đầu tư trực tiếp hay thông qua quỹ đều đem lại một mức thuế như nhau. một số nước cũng áp dụng chế độ miễn trừ nhất định để quỹ này được hưởng ưu đãi thuế hoàn toàn. Với quy định như vậy thì Quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân. mức cầu cũng không khả quan. Nhà đầu tư chỉ phải trả thuế thu nhập khi nhận lợi tức được chia từ các quỹ hoặc chia từ việc đầu tư trực tiếp không qua quỹ. Tạo lập thị trường hàng hoá cho thị trường chứng khoán bằng các biện pháp tăng cung kích cầu Quỹ đầu tư là một loại hình hoạt động gắn liền với thị trường chứng khoán. số lượng và giá trị của các cổ phiếu và trái phiếu được niêm yết trên thị trường tập trung là rất nhỏ. Các quy định về thuế đối với Quỹ đầu tư đảm bảo rằng. Nhật… họ áp dụng nguyên tắc không đánh thuế các Quỹ đầu tư.

Trong điều kiện lãi suất ngân hàng thấp như hiện nay. không đảm đương được vai trò là nơi huy động và phân bổ một cách có hiệu quả những nguồn lực trong xã hội. phần vốn thuộc sở hữu nhà nước của các doanh nghiệp cổ phần hoá chiếm tỷ lệ cao 35%. số lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường còn hạn chế. Nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế nên nhu cầu chi cho đầu tư của ngân sách là rất lớn nên việc vận dụng công cụ tín dụng nhà nước là rất cần thiết để bù đắp bội chi ngân sách. nhà nước cần trợ giúp hàng hoá chứng khoán cho sự hoạt động của các Quỹ đầu tư. Trong điều kiện hiện nay. Bên cạnh đó. phần bán cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp còn cao hơn 38% do đó tỷ lệ bán cho công chúng thấp. Thế nhưng. Hiện nay. phải tăng khả 26 .20% số cổ phiếu phát hành để bán ra bên ngoài cho công chúng. Nhà nước cần có những dự án đầu tư mang tính khả thi và có thể đẩy mạnh việc phát hành các trái phiếu trung và dài hạn. Sự trợ giúp được thực hiện bằng cách khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nên dành quyền ưu tiên mua cổ phiếu bán ra bên ngoài. dễ bị tác động bởi các yếu tố khách quan bên ngoài. thường dành một tỷ lệ từ 15% . nếu trái phiếu chính phủ dài hạn có mức lãi suất tương ứng thì sẽ ít hấp dẫn nhưng lãi suất trái phiếu chính phủ cũng không nên cao hơn lãi suất ngân hàng. Bên cạnh đó. Một trong những mục tiêu hàng đầu của Quỹ đầu tư là thực hiện đa dạng hoá đầu tư vào chứng khoán. Vì thế.định và ít có khả năng tự điều chỉnh. chính phủ đã ban hành Nghị định 01/2000/ NĐ-CP quy định hai hình thức mới của việc phát hành trái phiếu chính phủ: phát hành thong qua các nhà bảo lãnh phát hành và thông qua đấu thầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. thực tế cho thấy những doanh nghiệp cổ phần hoá có triển vọng làm ăn tốt thì các nhà đầu tư riêng lẻ là công chúng khó có thể mua được cổ phiếu của các doanh nghiệp này. đặc biệt là những trái phiếu công trình với lãi suất thấp hơn lãi suất huy động của ngân hàng. Vấn đề đặt ra cho việc phát hành trái phiếu chính phủ là phải đổi mới thực sự cơ cấu phát hành. mục đích tập trung thống nhất để trái phiếu chính phủ có thể giao dịch trên thị trường. vì trái phiếu chính phủ là một mặt hàng ít rủi ro dựa trên uy tín của nhà nước. không đáp ứng được một trong những điều kiện niêm yết là 20%. Có thể áp dụng các giải pháp tài chính thích hợp để tăng cung hàng hoá cho thị trường như tín dụng nhà nước và thuế. Hiện nay. khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. việc dành quyền ưu tiên mua cho các Quỹ đầu tư vừa tạo điều kiện cho các Quỹ đầu tư hoạt động lại vừa có thể thực hiện phổ biến rộng rãi cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hoá cho công chúng qua việc họ mua chứng chỉ Quỹ đầu tư của quỹ. Để tạo điều kiện cho Quỹ đầu tư bước đầu đi vào hoạt động có hiệu quả.

thế nhưng nguồn vốn này sẽ còn là quá lớn so với quy mô vốn giao dịch hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam. chưa nên đánh vào cổ tức thu được từ đầu tư chứng khoán. Bên cạnh trái phiếu chính phủ. nhanh chóng hội nhập vào thị trường vốn đang cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các nước. nhà nước cần cắt giảm triệt để bao cấp lãi suất. chính sách ưu đãi cho vay thương mại. tổng giá trị giao dịch của các công ty niêm yết vào khoảng 140triệu USD trong khi các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được đầu tư đến 20% cổ phiếu của các công ty niêm yết làm cho các nhà đầu tư có ít chọn lựa để đầu tư vào thị trường chứng khoán. Điều này thúc đẩy họ phải chuẩn bị các điều kiện để phát hành trái phiếu công ty. quy mô vốn của các Quỹ đầu tư nước ngoài đã giảm xuống còn 128 triệu USD. Chính vì vậy. Muốn vậy. 27 . trái phiếu cần phải được phát hành theo lịch biểu định kỳ thường xuyên. trước hết cần tiến hành giáo dục. Để đảm bảo khả năng thanh toán và nâng cao năng lực tài chính doanh nghiệp. một nguồn hàng hoá không nhỏ khác cho thị trường chứng khoán là trái phiếu công ty.Bên cạnh đó. chính sách cho phép đăng ký phát hành khung. chính sách khuyến khích phát hành ra công chúng của các doanh nghiệp cổ phần hoá và các công ty tư nhân. Nhà nước nên nghiên cứu ban hành các chính sách cho phép chuyển công ty liên doanh thành công ty cổ phần. tuyên truyền rộng rãi để thu hút sự quan tâm và nâng cao kiến thức của công chúng về chứng khoán. công ty liên doanh với nước ngoài như: chính sách ưu đãi thuế. Các biện pháp tăng cầu cho thị trường chứng khoán: Vấn đề đặt ra là phải tạo lập một cơ chế và môi trường đầu tư tốt để khuyến khích công chúng đầu tư vào chứng khoán. thị trường chứng khoán và đầu tư chứng khoán. Việc phát hành từng đợt phải thống nhất về mệnh giá. nguồn vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước.năng niêm yết của trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp. Nhà nước khuyến khích các công ty phát hành chứng khoán ra công chúng và niêm yết trên thị trường chứng khoán. hiện nay việc cơ cấu lại nợ cho công ty nhà nước đang được đặt ra. lãi suất và thời hạn thanh toán mỗi đợt phát hành phải có khối lượng tương đối lớn. Chưa nên áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập ròng từ đầu tư chứng khoán. Để kích cầu. Hơn nữa. chính sách niêm yết giữa cổ phần hoá và niêm yết chứng khoán… Hiện tại. Thực hiện miễn giảm thuế đối với các công ty chứng khoán trong vài năm đầu mới thành lập để tăng cường sức mạnh tài chính của nó. Có chính sách ưu đãi về thuế đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán trong giai đoạn đầu khi mới thành lập. việc gia tăng tỷ lệ cho các nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện cần để tăng nguồn cung của thị trường chứng khoán. Ngoài việc tăng về số lượng chúng ta cần phải nâng cao chất lượng chứng khoán thông qua việc tăng cường hoạt động quản lý phát hành và niêm yết để lựa chọn những công ty đủ chất lượng đưa vào thị trường.

Qua 3 năm hoạt động. muốn vậy nhà nước cần phải thực hiện một số giải pháp như: nâng mức vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại quốc doanh để tăng cường sức mạnh tài chính cho các ngân hàng tạo cơ sở thành lập các công ty chứng khoán con tại các ngân hàng thương mại. hệ thống giám sát và công bố thông tin thị trường tự động hoàn toàn. Có giai đoạn cầu vượt xa cung. có thể nhận thấy rằng việc đầu tư vào kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng khá lớn. ngân hàng. địa phương.2. doanh nghiệp… Tạo cầu nối giữa cung và cầu chứng khoán.Có chính sách cho vay đầu tư chứng khoán một cách hợp lý để người lao động có thu nhập thấp cũng có quyền sở hữu cổ phiếu của doanh nghiệp cổ phần hoá. Theo kế hoạch việc xây dựng thị trường cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội sẽ được xúc tiến.Chú trọng và đẩy mạnh việc đào tạo cơ bản đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư chuyên nghiệp 28 . thị trường chứng khoán Việt Nam diễn biến hết sức phức tạp. làm đẩy giá thoát ly giá trị thực tế vốn có của nó. Đa dạng hoá người đầu tư: công ty bảo hiểm. biểu hiện rõ nét nhất được thể hiện qua sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu chứng khoán. cá nhân. ngân hàng. Về phía các Quỹ đầu tư a. phải hình thành những kênh phân phối có hiệu quả đó là các công ty chứng khoán có tác dụng hướng dẫn và tư vấn cho người đầu tư về hình thức kinh doanh chứng khoán. các hội đoàn thể trong và ngoài nước… Đồng thời đa dạng hoá người phát hành như chính phủ.5. quỹ hưu trí. Mặt khác. bên cạnh thị trường tập trung phải hình thành một thị trường phi tập trung OTC để các loại chứng khoán không được niêm yết có thể giao dịch. 2. Chính vì vậy. có thể nói là cung cầu chứng khoán đã không gặp nhau. h. Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng thành Sở giao dịch chứng khoán với hệ thống giao dịch. Nhà nước đặt định hướng phát triển chung cho các Quỹ đầu tư Khi phân tích hoạt động của các Quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. chuẩn bị điều kiện để sau năm 2010 chuyển thành thị trường giao dịch chứng khoán phi tập trung. cung vượt xa cầu và cho đến nay thì cầu giảm xuống rõ rệt. Thực chất là người lao động được mua chịu một số cổ phiếu trả chậm với lãi suất ưu đãi Thúc đẩy sự ra đời của các trung gian tài chính với chức năng tạo lập thị trường. tổ chức tài chính phi ngân hàng. Điều đó là hoàn toàn bình thường vì các quỹ phải tập trung vào những ngành nghề phù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình với những dự.

một nhà quản lý chuyên nghiệp thực thụ của Quỹ đầu tư chứng khoán phải có một kiến thức sâu rộng và đạo đức nghề nghiệp trong sáng. Những điều kiện trên cho thấy. Sau đó các nhân viên này sẽ nhận được chứng chỉ và tham gia kỳ thi sát hạch để được cấp giấy phép hành nghề đầu tư chuyên nghiệp. vừa thực hiện chiến lược đầu tư. phân tích chứng khoán. các tổ chức thành lập Quỹ đầu tư chuẩn bị đội ngũ nhân lực cho quỹ theo các kênh: . về khung pháp lý cho hoạt động đầu tư và các kiến thức nghiệp vụ tài chính tín dụng.Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy. Điều đó đòi hỏi phải có kế hoạch. Hiện nay. vừa chịu trách nhiệm điều hành công việc hàng ngày. các nhà đầu tư riêng lẻ thường chọn Quỹ đầu tư dựa trên cơ sở xem xét tài năng của các nhà đầu tư chuyên nghiệp của quỹ. Đối tượng thu hút các nhà đầu tư tham gia vào Quỹ đầu tư chủ yếu là công chúng. Uỷ ban chứng khoán nhà nước đang có rất 29 . . bên cạnh các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho những người đi sâu vào thị trường chứng khoán. Thông thường ở một số nước Quỹ đầu tư do một nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp điều hành. người ta cũng sẵn sàng rút ra khỏi quỹ khi mà nhà quản lý chuyên nghiệp xuất sắc đó không còn làm cho quỹ nữa. học tập. sau đó tiếp tục bồi dưỡng và bổ sung nâng cao trình độ kiến thức cho các nhân viên này. cần phổ biến rộng rãi những kiến thức cơ bản và thông tin về Quỹ đầu tư cho công chúng qua sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. . một yếu tố có tính chất quyết định đến sự thành công của một Quỹ đầu tư đó là trình độ năng lực của nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp. tạo cơ sở niềm tin cho công chúng. nghiên cứu về hệ thống Quỹ đầu tư ở một số nước. một mặt cần tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của các nước trong việc phát triển hệ thống tín thác đầu tư. Hiện nay. chương trình đào tạo có hệ thống để xây dựng đội ngũ các nhà quản lý chuyên nghiệp cho quỹ. Mặt khác. Do vậy.Cử nhân viên ra nước ngoài khảo sát.Tuyển nhân viên có kiến thức về đầu tư hoặc có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính tiền tệ. b. Chú trọng nghiên cứu đồng thời phổ biến rộng rãi Quỹ đầu tư ra công chúng Những vấn đề về tín thác và Quỹ đầu tư là những vấn đề còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Hỗ trợ cho sự hoạt động của nhà quản lý chuyên nghiệp còn có đội ngũ chuyên viên phân tích tài chính.Cử một số nhân viên theo học các khoá đào tạo cơ bản về đầu tư. Vì thế sự thành công của quỹ phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết và tham gia của công chúng. Ở nhiều nước.

Các chương trình đào tạo vẫn còn quá ít và chỉ tập trung vào thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. các Quỹ đầu tư mới không bị trói buộc vào thị trường đầu tư của chính mình.nhiều hình thức để phổ cập kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho công chúng như tổ chức các bài giảng. các lớp học ngắn ngày cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này hay trang chuyên đề giải đáp trên các tạp chí chứng khoán. công tác tuyên truyền thời gian qua chưa được làm liên tục và có hệ thống. Tuy nhiên. tập trung tìm kiếm các dự án thích hợp với mục tiêu đầu tư của mình. Có như vậy mới giúp những người ít hiểu biết nhất vẫn tránh được rủi ro và việc quản lý thị trường được dễ dàng. do đó các Quỹ đầu tư cần xác định chiến lược đầu tư phù hợp. Có như vậy. Nhưng với vai trò là người quản lý thị trường chứng khoán. quy mô vốn của một dự án chỉ vào khoảng 10 triệu USD. Mặt khác. 30 . trung thực. c. Nhiều chương trình tuyên truyền mới chỉ dừng lại ở mức thảo luận và đề xuất ý kiến mà chưa được triển khai kịp thời và bài bản. chưa mở rộng sang các tỉnh thành khác. Chiến lược đầu tư thích hợp Tại Việt Nam. Tuy có một đội ngũ quản trị viên xuất sắc song chủ yếu là người nước ngoài vì vậy các quỹ nên tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư của Việt Nam hơn nữa nhằm có một chiến lược tương thích với môi trường đầu tư Việt Nam. Uỷ ban chứng khoán nhà nước cần phải đảm bảo các thông tin trên thị trường chứng khoán là chính xác. các quỹ nên hạ thấp yêu cầu về tỷ suất lợi nhuận của các dự án cho phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam hiện tại. chưa nhận được sự quan tâm thích đáng tương xứng với tầm quan trọng về yêu cầu phát triển của thị trường.

Theo chiến lược phát triển thị trường chứng khoán do Thủ tướng Chính phủ thông qua. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó. chúng ta mới có thể hình thành một hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam hoạt động một cách hiệu quả và chuyên nghiệp. chuyên nghiệp. 31 . tổng vốn hoá thị trường sẽ đạt 15% GDP vào năm 2010. tại Việt Nam. Chính vì vậy. Thế nhưng. Sớm vượt qua thử thách này. nhất là để thu hút những nguồn tiết kiệm nhỏ. Để đạt được mục tiêu trên. Quỹ đầu tư và Công ty quản lý quỹ cần được pháp luật điều chỉnh một cách chặt chẽ và hiệu quả để có thể phát huy được hết tính ưu việt của mình. các cơ sở pháp lý ban đầu của việc thiết lập thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã sớm đưa loại tổ chức này vào các quy định cơ cấu. vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán được nhấn mạnh là một kênh huy động và đầu tư vốn hiệu quả. xét về mặt thuận tiện.KẾT LUẬN Không giống như hoạt động tiết kiệm hay đầu tư vào thị trường chứng khoán. trong tương lai không xa. mang tính ổn định lâu dài nhằm thúc đẩy sự tham gia của các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức vào thị trường chứng khoán. ta thấy khó có một hình thức đầu tư nào có thể thay thế tốt hơn các Quỹ đầu tư chứng khoán. độ tin cậy và sự hấp dẫn. ngành Quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung là một lĩnh vực hết sức mới mẻ nên chúng ta gặp phải rất nhiều bất cập khi xây dựng khung pháp lý.

32 .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful