Lựa chọn cơ chế tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô

TS. Hoàng Công Gia Khánh* Bài viết này đề cập việc lựa chọn cơ chế tỷ giá của các quốc gia trên thế giới để đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong nước. Từ kinh nghiệm này, cùng với việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ chế tỷ giá, bài viết đưa ra các khuyến nghị trong việc xác lập cơ chế tỷ giá ở Việt Nam và gợi ý những hành động cần thiết để triển khai thực hiện cơ chế này. 1. Mở đầu Sau gần hai tháng kể từ lần mạnh tay điều chỉnh tỷ giá USD/VND vào ngày 11/02/2011 và quyết liệt triển khai các biện pháp kinh tế lẫn hành chính, thị trường ngoại tệ Việt Nam đã phần nào lắng dịu, đỡ căng thẳng hơn so với trước đây. Thế nhưng, có thể dễ dàng thấy rằng, sự “yên ắng” này sẽ rất tạm thời nếu như không giải quyết tận gốc rễ những vấn đề còn bất cập trong cơ chế tỷ giá ở Việt Nam: việc xác lập tỷ giá USD/VND theo thiên hướng của cơ chế tỷ giá cố định dù xuất hiện dày đặc các chỉ báo bất ổn trong kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát và thâm hụt cán cân thanh toán. Trừ phi chính thức bác bỏ lý thuyết bộ ba bất khả thi, Việt Nam cần sớm có kế hoạch tổng thể dài hạn mang tính hệ thống với những kịch bản chi tiết, chấp nhận đánh đổi hy sinh có mức độ sự vẹn toàn các mục tiêu của “bộ bất khả” để phối hợp hiệu quả chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ mới có thể ngăn chặn những bất ổn đã và đang hiện hữu. Một trong những vấn đề then chốt là phải lựa chọn và xác lập được cơ chế tỷ giá thích hợp, thay vì chỉ điều hành mang tính chất giải quyết tình thế như đã xảy ra không hiếm lần trong quá khứ. 2. Xu hướng lựa chọn cơ chế tỷ giá trên thế giới Ở các nước có nền kinh tế phát triển, sự phát triển đáng kể nhất là việc ra đời đồng tiền chung châu Âu năm 1999. Các nước thị trường mới nổi có ba xu hướng rõ rệt. Thứ nhất, khá nhiều các quốc gia lựa chọn cơ chế tỷ giá trung gian, do nỗi sợ thả nổi (fear of floating) một số các quốc gia này chấp nhận tình trạng lưỡng cực. Thứ hai, từ giữa thập niên 1990 đến những năm đầu thế kỷ 21, số lượng quốc gia lựa chọn cơ chế tỷ giá thả nổi cả trên pháp lý lẫn thực tế đã tăng gấp đôi và giảm phần nào, kể từ năm 2003 (xem đồ thị 1a). Thứ ba, có sự khác biệt rõ rệt giữa cơ chế tỷ giá theo pháp lý và cơ chế tỷ giá trên thực tế điều hành.
*

Trường Đại học Kinh tế - Luật

Ở các quốc gia đang phát triển, không có sự biến động lớn về số lượng quốc gia theo đuổi cơ chế trung gian (xem đồ thị 1b). Tỷ lệ giữa cơ chế cố định và cơ chế thả nổi theo phân loại pháp lý không có sự thay đổi đáng kể trong hai thập kỷ gần đây và cũng như nhóm các nước thị trường mới nổi, vẫn có sự khác biệt giữa cơ chế tỷ giá theo pháp lý và trên thực tế (xem bảng 1). Các quốc gia thuộc nhóm này thường có khuynh hướng để tỷ giá ít linh hoạt hơn so với công bố chính thức tức là việc công bố thả nổi chỉ là hành động mang tính miễn cưỡng.
Đồ thị 1: Cơ chế tỷ giá ở các nước thị trường mới nổi và đang phát triển

Bảng 1: Phân phối cơ chế tỷ giá

Đvt: Số quan sát
TT 1 2 3 Phân loại theo pháp lý (De Jure) Cố định Trung gian Thả nổi Tổng Tỷ lệ đồng nhất (%) Phân loại theo thực tế (De facto) Cố định Trung gian Thả nổi 1.588 92 19 477 1.677 53 81 392 476 2.146 2.161 548 74,0 77,6 86,86 Tổng 1.699 2.207 949 4.855 -

đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Điều đáng lo ngại nhất là sự thiếu minh bạch. vẫn công bố cơ chế thả nổi. thị trường mới nổi là rõ nét hơn so với các quốc gia có nền kinh tế phát triển. nhưng không có phản ứng dưới cơ chế cố định.Tổng thâm hụt của chính phủ. . thiếu tin cậy do không chính thức thừa nhận cơ chế cố định. tăng dần lên ở cơ chế trung gian và cơ chế thả nổi. Biến động vĩ mô dưới các cơ chế tỷ giá khác nhau 3.dù không công bố chính thức áp dụng cơ chế này.Nguồn: Exchange Rate Regimes: Choices & Consequence và IMF Occasional Paper No. có tỷ lệ lớn các nước đang phát triển và các nước thị trường mới nổi trên thực tế sử dụng cơ chế cố định . trung gian hơn là cơ chế thả nổi.Cơ chế cố định làm hạn chế đáng kể hiệu quả của các chính sách vĩ mô và là con dao hai lưỡi: có khả năng hữu ích trong bối cảnh các nước còn thiếu minh bạch. chênh lệch sản lượng dưới cơ chế thả nổi và trung gian. Kinh nghiệm thực tế cho thấy.270 Khảo sát của Atish R. Chính sách tài khóa ngược chu kỳ cũng ít xảy ra hơn dưới cơ chế cố định.2. “cưỡng bức” trong chính sách vĩ mô và dễ tạo ra các cú sốc ở các nước có đủ tính kỷ luật trong chính sách.Lạm phát . . kỷ luật kém.1. thiếu khả năng chống đỡ với các cuộc tấn công đầu cơ và ngân hàng trung ương không duy trì được chức năng người cho vay cuối cùng. chính sách tiền tệ phản ứng chậm trễ khi có bất ổn. nhưng không đủ sức hoặc không muốn duy trì. ở mức độ thấp dưới cơ chế cố định. sẽ khiến các nước này khó có khả năng tự động điều chỉnh trước các cú sốc thương mại. 3. nhìn chung. 3.Ghosh (năm 2010) cho thấy. tự do hóa tài khoản vốn và chính sách tiền tệ độc lập. một quốc gia không thể cùng một lúc đạt được ba mục tiêu: cố định tỷ giá. .can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại tệ . chênh lệch sản lượng và neo lãi suất trong nước dưới cơ chế cố định và cơ chế trung gian của Atish R.Sự kém chủ động trong chính sách dưới cơ chế cố định ở các quốc gia đang phát triển.Chính sách tiền tệ có phản ứng với lạm phát. cơ chế cố định sẽ làm hạn chế khả năng phản ứng của chính sách tiền tệ với các điều kiện kinh tế vĩ mô hơn là cơ chế trung gian hoặc cơ chế thả nổi. Kết quả hồi quy sự biến động lãi suất đối với lạm phát. ngược lại.Ghosh (năm 2010)1 cho thấy: . sẽ xảy ra tình trạng gượng ép.Chính sách kinh tế vĩ mô Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi.

7 6.5 2.2 13. nhìn chung. mức bất ổn cao ở những nước theo đuổi cơ chế cố định và giảm dần đi qua cơ chế trung gian.7 6.1 17.0 10. thả nổi.0 15. độ lệch chuẩn trong tăng trưởng GDP ở những nước theo đuổi cơ chế cố định cao hơn so với các nước theo cơ chế trung gian hoặc thả nổi. Bảng 3: Tăng trưởng GDP.4 8. sự bất ổn trong tăng trưởng. đầu tư. mối liên hệ giữa lạm phát thấp và cơ chế cố định trên pháp lý là mạnh hơn so với cơ chế cố định trên thực tế. theo đó.Kết quả khảo sát của IMF cho thấy.1 8.Tăng trưởng kinh tế và sự bất ổn trong tăng trưởng Bảng 3 cho thấy.9 17.3.5 9. thấp nhất là cơ chế thả nổi. sự bất ổn về tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ với cơ chế tỷ giá.4 Phân loại theo thực tế Cố Trung Thả định gian nổi 11. tăng trưởng xuất khẩu và cơ chế tỷ giá Phân loại theo pháp lý TT Chỉ tiêu Phân loại theo thực tế . các nước theo đuổi cơ chế cố định theo pháp lý có tỷ lệ lạm phát thấp hơn 4.9 Nguồn: IMF.5% so với các nước theo đuổi cơ chế trung gian.0 15. dân chúng có lòng tin lớn hơn về sự ổn định tỷ giá (hiệu ứng tin cậy) và độ tăng trưởng tiền tệ thấp hơn (hiệu ứng kỷ luật). Thêm vào đó. Có thể giải thích kết quả này là do trong cơ chế cố định theo pháp lý.6 2. Điều này cũng đúng với cả các nước đang phát triển dù mức khác biệt không cao. Mức khác biệt này càng cao ở những nước phát triển nhưng giảm đi ở những nước đang phát triển. World Economic Outlook Bảng 2 cho thấy.5 2. lạm phát thường thấp dưới cơ chế tỷ giá cố định theo pháp lý (xem bảng 2). ở các nước đang phát triển và các nước thị trường mới nổi. ngân hàng trung ương có cam kết chính thức rõ ràng hơn so với cơ chế cố định theo thực tế. Bảng 2: Lạm phát từ 1980 đến 2007 Đơn vị: %/năm Nước Tất cả các nước Các nước phát triển Các nước thị trường mới nổi Các nước đang phát triển Phân loại theo pháp lý Cố Trung Thả nổi định gian 8.8 11. 3.6 12.7 3.1 11. Như vậy. cuối cùng.8 13.5 10. các nước phát triển sẽ có sự ổn định cao khi theo đuổi cơ chế thả nổi hơn là cơ chế cố định. trong mối quan hệ tương quan. Kết quả này được giải thích là do khi áp dụng cơ chế cố định.6 11. Bên cạnh đó.2 15.

8 7. %/năm) Độ mở thương mại (%/GDP) Trung gian Thả nổi Cố định Trung gian Thả nổi 1.Các nước đang phát triển Sự bất ổn định trong tăng trưởng GDP (Độ lệch chuẩn) .7 2. theo cách phân loại pháp lý hay thực tế (xem bảng 4).3 6.5 1.9 20.5 1.9 76.6 1.7 1.3 2.0 4.Các nước phát triển .2 2.1 1. khả năng xảy ở nhóm nước đang phát triển.2 1.5 0.6 1.3 1.5 1.4 3.9 1.5 1.5 1.5 4.5 1. khủng hoảng tiền tệ có xác suất xảy ra cao hơn dưới cơ chế trung gian hơn là dưới cơ chế cố định hoặc thả nổi.5 3.4 3. Bảng 4: Khả năng xảy ra khủng hoảng phân theo cơ chế tỷ giá Phân loại theo pháp lý Nước Tất cả các nước Các nước phát triển Các nước thị trường mới nổi Các nước đang phát triển Cố định Trung gian Thả nổi Đơn vị: % mẫu quan sát Phân loại theo thực tế Cố định Trung gian Thả nổi 4.3 8. Đối với khủng hoảng tài chính.5 22.1 2 3.1 4.1 2.0 2.0 0.2 5.2 3.5 8.2 1.4 70.7 7.0 56.5 6.2 3 4 5 Nguồn: Atish R.9 4.4 1. Ghosh (2003) và IMF (2010) 3.2 0. %/năm) .3 2.4 3.6 5.6 2.Các nước đang phát triển Tỷ lệ đầu tư (% GDP) Tăng trưởng xuất khẩu (bình quân.4 1.Các nước phát triển .4 3.4 1.8 57.9 5.Tất cả . các nước thị trường mới nổi dù lựa chọn cơ chế tỷ giá nào.8 78.5 4.9 1.5 4.9 7.8 3.9 2.6 2.9 0.0 7.1 18.7 2.5 4.Tất cả .4 0.Cố định 1 Tăng trưởng GDP thực (trung bình.3 1.2 68.4 1.3 2.4 Khủng hoảng tiền tệ 4.0 2.1 22.6 1.0 4.5 .0 5.Các nước thị trường mới nổi .5 22.4.4 2.Khả năng khủng hoảng Số liệu thống kê cho thấy.9 3.2 2.8 21.

0 18.4 19.1 15. do ở những nước này thị trường tài chính đã phát triển. Ở các nước đang phát triển có mức độ luân chuyển với nguồn vốn quốc tế còn thấp thì cơ chế cứng với tỷ giá cố định hoặc ở mức trung gian kém linh hoạt sẽ giúp làm tăng độ tin cậy vào các chính sách. ngược lại. có thể thấy rằng sự linh hoạt tỷ giá sẽ trở nên giá trị hơn khi các nước đã có sự chuẩn bị kỹ trong việc gia nhập thị trường vốn quốc tế và khi hệ thống tài chính của họ đã phát triển tốt. có thể thấy các nước thị trường mới nổi với độ mở tài khoản vốn cao hơn có thể bị tấn công tiền tệ và khủng hoảng tài chính dưới cơ chế tỷ giá kém linh hoạt. giúp đạt được tỷ lệ lạm phát thấp với ít chi phí hữu hình như mất đi sự tăng trưởng. điều này đúng cho cả hai cách phân loại. Ngược lại. do đó.4 5. Điều này có nghĩa là các nước thị trường mới nổi nên lựa chọn cơ chế linh hoạt hơn. Như vậy. World Economic Outlook Về mặt tổng thể.1 18.8 22.4 16. nguy hiểm cho tăng trưởng cao và khủng hoảng thường xuyên hơn. đối với các nước thị trường mới nổi.2 14. Thực thi cơ chế cố định tốt cần cam kết thể hiện từ sự công bố rộng rãi trước công chúng về mục tiêu và sau đó là tiếp tục tăng cường thực hiện thông qua các chính sách vĩ mô nhất quán thì sự tồn tại của cơ chế mới có thể được dài hơn. các món nợ phổ biến bằng nội tệ đã . Tuy nhiên.6 18. mức độ luân chuyển với nguồn vốn quốc tế cao thì nên áp dụng cơ chế linh hoạt hơn (trung gian) là hữu ích hơn bởi vì nếu áp dụng cơ chế tỷ giá cố định thường sẽ gây nên hậu quả bất ổn cả ở khu vực tài chính lẫn cán cân thanh toán.3 29.4 20. Ở các nước phát triển.1 15.Tất cả các nước Các nước phát triển Các nước thị trường mới nổi Các nước đang phát triển 19.5 Khủng hoảng tài chính 19.8 30. cơ chế tỷ giá thả nổi cũng khó đem lại hiệu quả cao ở các nước thuộc khu vực này bởi vì nó có thể gây nên hậu quả xấu do sự lo ngại tỷ giá sẽ có những biến động lớn.4 16.6 18. nếu chọn cơ chế kém linh hoạt thì cần phải đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản để đủ sức cân đối khi xảy ra cuộc tấn công tiền tệ hoặc khủng hoảng tài chính. chính sách tiền tệ linh hoạt cao.4 18.4 16.9 14. thả nổi thường đem lại tăng trưởng nhanh hơn những cơ chế khác mà không phát sinh lạm phát cao. cơ chế tỷ giá cố định cũng không đem lại lợi ích rõ ràng cho việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp hoặc giúp tăng trưởng cao.5 11.7 8.0 12. sử dụng hiệu quả các công cụ phòng ngừa rủi ro.1 Nguồn: IMF.9 19. Hơn nữa.

Duttagupta và OtkerRobe (năm 2003). sẽ có xu hướng giảm đi theo thời gian. nếu mức độ đa dạng thấp thì tính linh hoạt của cơ chế tỷ giá sẽ phải càng giảm để đảm bảo an toàn cho chính nó. năm 2010) có thể phân tích hệ thống các yếu tố cần phải xem xét khi quyết định lựa chọn cơ chế tỷ giá như sau: Độ mở thương mại (Trade openness) và quy mô nền kinh tế (Size of economy): Độ mở thương mại được đo bằng tỷ lệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP còn quy mô nền kinh tế được dựa trên GDP. nhưng ngược lại. Trong trường hợp một quốc gia nhỏ đang trong tiến trình hội nhập. việc xác định cơ chế tỷ giá hữu hiệu là việc làm không mấy dễ dàng với hệ thống các yếu tố cần phải xem xét trong mối quan hệ đan xen tác động qua lại lẫn nhau. cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu để phân tích. do vậy. Ngược lại.giúp giảm đi đáng kể những hậu quả bất lợi từ những mất cân xứng trên thị trường. nó đủ khả năng để thực thi cơ chế linh hoạt. đầu tư nhờ vào việc giảm thiểu chi phí giao dịch và rủi ro tỷ giá. lúc này. 4. đánh giá trước khi quyết định lựa chọn. do vậy. Sự đa dạng trong cấu trúc sản xuất/xuất khẩu (Diversified production/export structure) . Từ các nghiên cứu của Masson (năm 2001). các quốc gia này sẽ vẫn khó có thể chuyển hẳn sang trạng thái có độ mở thương mại thấp. độ mở thương mại trong quá khứ thường ở mức cao hoặc rất cao. Frankel (năm 2003).được đo bằng tỷ trọng các đồng tiền dùng cho thanh toán với các đối tác chính: Nếu một quốc gia có cấu trúc sản xuất và xuất khẩu đa dạng thì nó sẽ dễ dàng hấp thụ được các cú sốc hoặc những biến động của thị trường/đối tác và không quá phụ thuộc vào một đặc trưng nào. Bên cạnh đó. Dựa trên hai lợi điểm quan trọng của cơ chế tỷ giá cố định là (i) cung cấp neo danh nghĩa cho chính sách tiền tệ và (ii) khuyến khích hoạt động thương mại. vốn dĩ là nguyên nhân gây nên nỗi lo sợ thả nổi. Rogoff và cộng sự (năm 2003. khi mức độ tập trung thương mại vào một quốc gia nào đó là lớn. thì việc neo vào tiền tệ đó là . Các yếu tố lựa chọn cơ chế tỷ giá Phân tích ở trên cho thấy. Tuy nhiên. sự chuyển đổi cơ chế tỷ giá cũng sẽ chỉ dừng lại ở mức kém linh hoạt sang mức linh hoạt hơn.được đo bằng tỷ trọng thương mại với các đối tác chính . chẳng hạn như trường hợp nền kinh tế quá nhỏ và quá mở nhưng lại chọn lựa cơ chế thả nổi hoàn toàn.và sự tập trung hoạt động thương mại theo vùng địa lý (Geographic concentration of trade) . nếu hoạt động thương mại chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế thì sự thiếu ổn định của tỷ giá sẽ gây nên vấn đề nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế. Có thể thấy. nếu hoạt động thương mại là đa dạng và phân tán với nhiều đối tác khác nhau thì nó không cần thiết phải neo vào một đồng tiền nào.

tiêu chí sự đa dạng trong cấu trúc sản xuất/xuất khẩu và sự tập trung hoạt động thương mại theo vùng địa lý thường là một trong những căn cứ để xem xét lựa chọn cơ chế tỷ giá đối với các quốc gia đang trong tiến trình hội nhập. Tuy nhiên. Chính các đặc điểm này làm giảm tầm quan trọng của tiêu chí di chuyển lao động đến việc lựa chọn cơ chế tỷ giá. áp lực phải thay đổi mạnh trong phương thức can thiệp thị trường sẽ ngày càng rõ nét theo hướng giảm nhanh các can thiệp phi thị trường. nếu độ lệch này cao thì đòi hỏi phải thường xuyên điều chỉnh tỷ giá. Tuy nhiên. Đối với các quốc gia đang phát triển. Ngược lại. Sự di chuyển lao động (Labor mobility): Nếu nền kinh tế có sự liên kết cao với các quốc gia láng giềng hoặc đối tác. Bên cạnh đó. sẽ làm giảm áp lực mở rộng chính sách tiền tệ và phá giá nội tệ. Chênh lệch lạm phát (Inflation differential): Nếu độ lệch của tỷ lệ lạm phát trong nước và lạm phát của các đối tác chính là không cao thì không có áp lực buộc phải điều chỉnh tỷ giá. mức lạm phát dù có thể được cải thiện đáng kể trong tiến trình hội nhập nhưng thường vẫn ở mức cao và kém ổn định so với các nước phát triển . người lao động sẽ có thể phản ứng lại với tình trạng suy thoái trong nước bằng cách di chuyển qua biên giới để làm việc: như vậy. các quốc gia sẽ rất khó khăn nếu muốn duy trì cơ chế tỷ giá cố định. Trong bối . các rào cản về ngôn ngữ cũng như trình độ sẽ khiến cho nhân công của các quốc gia này không dễ luân chuyển để phản ứng trước diễn biến của tình trạng kinh tế. nếu quốc gia rơi vào tình trạng siêu lạm phát thì tỷ giá cố định sẽ là lựa chọn khôn ngoan. Quá trình hội nhập và áp lực thực thi các cam kết hội nhập sẽ khiến các quốc gia đang phát triển phải theo xu hướng gia tăng độ mở cửa của vốn và dần dần hướng đến tự do hóa tài khoản vốn. càng dễ dàng. tiêu chí chênh lệch lạm phát đóng vai trò trọng yếu trong việc lựa chọn cơ chế tỷ giá. các quốc gia này thường tìm cách đa dạng hóa khách hàng và như vậy. sẽ hướng đến việc phân tán hoạt động thương mại cao. các quốc gia nhỏ đang phát triển thường đeo đuổi chính sách bảo vệ lao động của nước mình nên họ thường đặt ra các rào cản đối với lao động nước ngoài. từ xuất khẩu sản phẩm thô sang xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao. từ việc xuất khẩu một vài sản phẩm chủ lực sang xuất khẩu đa dạng sản phẩm nhờ vào việc dễ dàng hơn trong việc đổi mới công nghệ và năng lực sản xuất. dù điều này cần rất nhiều điều kiện và thời gian.điều đáng cân nhắc. Các quốc gia nhỏ có nguồn tài nguyên dồi dào trong tiến trình hội nhập thường có sự thay đổi lớn trong cấu trúc xuất khẩu. Vì những lý do đó. Hơn nữa.do vậy. lợi thế lao động chủ yếu vẫn nhờ vào nhân công rẻ. Đối với các quốc gia kém phát triển hoặc đang phát triển. Sự di chuyển vốn (Capital mobility) hay mức độ mở của vốn (Capital openness): Khi di chuyển vốn càng cao.vốn là các đối tác chính . Tuy nhiên.

bảng phân loại cơ chế tỷ giá của IMF xếp Việt Nam vào nhóm cơ chế tỷ giá thả nổi với mức phân định là cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý không định trước (Managed floating with no predetermined for exchange rate) cùng với các nước trong khu vực như Thái Lan. Dẫu rằng mỗi nước thành viên IMF đều có quyền lựa chọn cơ chế tỷ giá cho riêng mình trong phạm vi tuân thủ những cam kết của điều lệ IMF nhưng những công bố của IMF vẫn tạo ra những ảnh hưởng đáng kể . dưới góc nhìn của IMF. Một số các yếu tố khác như mức độ phát triển kinh tế được đo bằng GDP bình quân đầu người. việc lựa chọn cơ chế tỷ giá cần phải đặc biệt quan tâm đến tiêu chí này.cảnh có sự thay đổi mạnh. Sự hỗ trợ tài chính/Tấm lá chắn tài khóa (Fiscal cushion): Sự can thiệp của hệ thống tài chính vào những khu vực bất ổn nhằm mục đích giảm thiểu những biến động kinh tế vĩ mô sẽ là hỗ trợ đắc lực cho việc duy trì cơ chế tỷ giá cố định. dự trữ ngoại tệ.. 5. tăng trưởng tín dụng trong nước. Ấn Độ. các cú sốc từ nước ngoài và các yếu tố liên quan đến thể chế như sự bất ổn về chính trị. Malaysia và Trung Quốc vẫn được xếp vào nhóm cố định truyền thống (Conventional pegged arrangement) tức là có cơ chế tỷ giá “cứng” hơn so với Việt Nam. nhanh và kém ổn định của dòng vốn di chuyển (dễ dàng đảo ngược). Lựa chọn cơ chế tỷ giá ở Việt Nam Kể từ năm 1999. IMF chuyển Việt Nam sang nhóm nước có cơ chế cố định truyền thống vì nhận định rằng kể từ tháng 8/2004. Sự đối xứng (Symmetry): Nếu phạm vi những cú sốc xảy ra giữa hai nền kinh tế có mối quan hệ tương quan thì sẽ không cần thiết phải duy trì chính sách tiền tệ độc lập. Thái Lan.. có thể chia sẻ song hành việc mở rộng chính sách tiền tệ..kể cả về mặt tâm lý đến nhìn . Lào. NHNN công bố sẽ không để tỷ giá USD/VND tăng quá 1%/năm. Trong khi đó. Singapore. Có thể thấy. được xếp nhóm cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý không định trước cùng với Singapore. các cú sốc trong nước. Malaysia với sự cải cách cơ chế tỷ giá từ 7/2005 theo hướng “mềm hóa”. từ cuối năm 2004 trở lại đây. Trung Quốc dù có sự cải cách mạnh cơ chế tỷ giá vẫn được xem là nước thuộc nhóm cơ chế tỷ giá cố định truyền thống. khi Việt Nam có sự thay đổi lớn trong cơ chế tỷ giá. cũng được một vài tác giả sử dụng trong các mô hình lựa chọn cơ chế tỷ giá. Như vậy. sự bất ổn của tỷ giá hối đoái thực. IMF bám rất sát các thay đổi trong cơ chế tỷ giá của các nước dù đó chỉ là những công bố hoặc hành động điều chỉnh nhỏ. Việt Nam đã có sự chuyển đổi cơ chế tỷ giá theo hướng lùi về nhóm “cứng”. vì lúc này. nợ nước ngoài. Tuy nhiên. Ở cùng thời gian này. mức độ độc lập của ngân hàng trung ương. Miến Điện.

có quy mô GDP bình quân giai đoạn 2000 2010 chiếm chưa đến 1. Trong ngắn hạn và kể cả trung hạn. Tuy nhiên. Việt Nam khó có thể chuyển sang trạng thái có độ mở thương mại thấp nên nếu dựa trên yếu tố này. 5. bất kỳ một sự thay đổi hoặc điều chỉnh dù nhỏ trong cơ chế tỷ giá vẫn phải được cân nhắc hết sức thận trọng. IFS Với độ mở thương mại khá cao (xem đồ thị 2). Do vậy.nhận của quốc tế. Đồ thị 2: Độ mở thương mại của một số nước Châu Á và Úc Singapore Malaysia Việt Nam Thái Lan Campuchia Philippines Korea Trung Quốc Úc Nhật 411% 207% 133% 133% 128% 100% 80% 59% 42% 25% Tính toán của tác giả từ số liệu của ADB. nếu đeo đuổi cơ chế tỷ giá theo hướng cứng kém linh hoạt. Như vậy. sự thiếu ổn định của tỷ giá sẽ gây nên vấn đề nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. trong khi đó. điều đương nhiên là Việt Nam sẽ chưa thể lựa chọn cơ chế thả nổi. quy mô GDP khu vực châu Á chỉ chiếm vào khoảng 30% tổng GDP toàn thế giới.1.0% quy mô GDP khu vực châu Á.Độ mở thương mại Việt Nam là quốc gia nhỏ. Việt Nam sẽ đối mặt với . có thể thấy quy mô GDP của Việt Nam quá nhỏ bé so với quy mô GDP khu vực châu Á lẫn toàn thế giới.

Việt Nam nên sớm thay đổi cơ chế theo hướng gia tăng khả năng linh hoạt (flexible).03 11.67 2.30 2.68 10.95 9.02 13.27 9.79 6. Trong trường hợp Việt Nam. Kết quả là chính những lần điều chỉnh lớn “bất thường” như vậy sẽ làm gia tăng rủi ro tỷ giá.01 4.03 5. USD vẫn là đồng tiền chủ chốt mà Việt Nam sử dụng trong thanh toán.74 4. Theo thời gian.09 11.43 3.20 10. từ năm 2000 . xuất khẩu và sự tập trung hoạt động thương mại theo vùng địa lý Theo lý thuyết.99 7. giao dịch.15 5.65 5.16 11.68 4.12 United States 3.82 13.85 8.73 9.74% (xem Bảng 5).97 12.45 3. cho nên nếu dựa trên sự đa dạng trong cấu trúc sản xuất.81 10.43 10. không tập trung quá lớn tỷ trọng thương mại vào một số nước và ngày càng sử dụng nhiều đồng tiền mạnh khác USD để thanh toán.29 10.05 .2.25 9. tác động tiêu cực đến việc khuyến khích hoạt động thương mại và đầu tư.74 11.11 11.19 11. Đây cũng là diễn biến chung của tình hình trên thế giới khi mà các nước đều ngày càng đa dạng hơn trong cơ cấu dự trữ quốc gia.14 12. Bảng 5: Tỷ trọng thương mại của 10 đối tác có quan hệ thương mại lớn nhất với Việt Nam so với tổng quan hệ thương mại của Việt Nam Đvt: % Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 China 9.19 12. vì duy trì tỷ giá cứng khá lâu.83 3.87 6. hơn nữa. mức độ kém linh hoạt của cơ chế tỷ giá cũng sẽ phải cải thiện dần về hướng linh hoạt nếu Việt Nam ngày càng đa dạng hóa hoạt động thương mại.56 4.19 15.60 10.14 Thailand 3.72 4.15 Korea 6.56 12. 5.95 10.23 3.34 7.06 12.31 11.83 10.06 4.Sự đa dạng trong cấu trúc sản xuất. tỷ trọng thương mại của 10 đối tác có quan hệ thương mại lớn nhất với Việt Nam thường xuyên dao động ở quanh mức 73% .93 3.09 9.91 6. sử dụng đa dạng các đồng tiền trong định giá và thanh toán.57 3.83 Euro Area 11.áp lực điều chỉnh lớn “bất thường” (dù có thể không liên tục) khi nền kinh tế đối mặt với bất ổn trong cán cân thanh toán.98 7.18 9.01 8.54 9.59 8.68 4.55 14.12 5.89 11.64 4.61 5.54 6.69 14.90 2. thay vì cố định cứng rất kém linh hoạt như thời gian vừa qua.59 8.04 3.36 4.20 4.54 8.19 4.81 19.57 2.73 7.17 7.17 3.2010.99 11.30 3.76 9.15 3.62 3. tăng chi phí giao dịch. xuất khẩu thì cơ chế tỷ giá của Việt Nam sẽ phải theo hướng kém linh hoạt hơn.08 16. Vì lý do đó.57 11.88 8.84 Singapore 11.37 3.40 4.75 9. Điều này cho thấy mức độ đa dạng thương mại của Việt Nam không cao.88 Malaysia 2.29 4.72 Japan 16.55 4.24 3.93 Australia 5. khi một quốc gia có mức độ đa dạng thương mại càng thấp thì tính linh hoạt của cơ chế tỷ giá sẽ càng phải giảm để đảm bảo an toàn cho quốc gia đó.

56 -4.28 2.20 -4.91 -3. Nhật Bản. sẽ vẫn còn ở mức cao phổ biến từ 5% .54 -1.05 -8.20 Thailand 2.49 2.10%/năm. năm 2010 có mức chênh rất cao vì lạm phát ở Việt Nam có sự đột biến trong hai năm này.46 4. mức cao nhất phổ biến từ 5% .78 -6.36 72. mức chênh lệch lạm phát của Việt Nam với lạm phát của từng đối tác trong nhóm 10 đối tác thương mại chủ yếu thường rất cao.96 2.60 74.80 -3.05 -6.72 -8.68 -6.02 2010 -8.20 -2. Mức chênh lạm phát cũng rất cao đối với bốn đối tác thương mại lớn nhất là Trung Quốc.60 -2.00 -0.90 0.60 -1.49 -5.49 -5.56 -7.22 74.01 75.90 -5. nhưng nhìn chung.90 -3.88 -6.75 -1.7%.7%/năm trong các năm từ 2004 -2010.87 Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của IFS 5.31 -5. mức chênh lệch lạm phát của Việt Nam với các nước sẽ giảm.45 -10.30 -1. Lạm phát Việt Nam dù sẽ giảm mạnh trong những năm tới theo quyết tâm của Chính phủ nhưng khả năng cao vẫn sẽ dao động trong khoảng 8% .48 -6.48 -6.59 -3.43 75.24 2.90 3.02 -3.28 -5.32 -14.Chênh lệch lạm phát Bảng 6 cho thấy.39 -7.30 Đvt: %/năm 2008 2009 -14.45 -10.14 78.57 -6.25 -5.72 -13.00 Hong Kong -3.95 -4. Hoa Kỳ và khu vực đồng tiền chung châu Âu.00 Malaysia 2.30 0.55 United States 3.19 -3.67 73.82 -6.02 -3.80 Singapore 1.79 -6.10 -5.98 -6.47 -6.95 -9.20 -1.59 -6.03 2.98 -6.29 2.16 Korea 2.35 Nguồn: Tác giả tính toán tổng hợp từ ADB.92 -14. IFS Mặt khác.95 -9.05 -2.38 -4.40 -1.10 0.70 1.88 -18.01 -7.45 Japan -0.45 1. cá biệt hai năm 2008.30 Australia 5.Hong Kong Tổng 3.02 -7.74 3.38 -5.72 -8.30 -6.32 -4.05 -4.00 -5.11 -5.10 -5.59 -6. do đeo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nên Việt Nam sẽ vẫn phải gia tăng độ mở của tài khoản vốn để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài trong lúc tính độc lập của ngân hàng trung ương còn thấp và hiệu quả đầu tư công vẫn chưa kiểm soát tốt.22 -15. Bảng 6: Chênh lệch lạm phát hàng năm của Việt Nam với từng nước trong nhóm 10 đối tác thương mại lớn nhất Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 China 1.29 -5.45 -10.40 -7.67 -16.29 -5.22 -3.15 -8.78 -8.49 -4.11 -7.43 -7.92 -15.48 67.40 -2.43 75.10 -4.48 72.75 -8.36 Euro Area 2.10 3.22 -16.11 -12.77 -2.51 -6.41 -5.14 2.11 74.42 -0.11 -1.3. .99 2.20 0.00 -0.79 -2. Như vậy.72 -15.

Dòng chu chuyển vốn này sẽ bị bóp méo và biến tướng dưới các hình thức tiêu cực khác (chuyển lậu.Sự di chuyển lao động Mức di chuyển lao động của Việt Nam ngày càng có sự cải thiện rõ rệt.6 .2.Vì vậy. Như vậy. ước tính số lao động này chuyển từ 1. 5. Về lâu dài. Ở hướng ngược lại. Đài Loan. .4.5. ngay lập tức để lựa chọn cơ chế tỷ giá linh hoạt nhưng cơ chế tỷ giá theo hướng cải thiện để ngày một linh hoạt hơn vẫn tỏ ra thích hợp và hiệu quả hơn. Dù vậy. Hàn Quốc.Sự di chuyển vốn và ảnh hưởng từ các cú sốc Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu. 5. nguồn tiền chu chuyển một chiều từ các đối tượng này ngày một gia tăng rất đáng kể (và đặc biệt cao nếu tính luôn cả Việt kiều). chuyển sang đồng tiền mạnh khác ngoài USD) nếu chính sách tỷ giá vẫn tiếp tục cứng nhắc và không tạo điều kiện thuận lợi để thu hút dòng tiền này. Hàng năm. có vai trò khá quan trọng trong việc cải thiện tình trạng của cán cân thanh toán. Việt Nam hiện đã có mức độ liên kết ngày càng cao với các đối tác trong lĩnh vực lao động. đóng góp của số lao động Việt Nam ở nước ngoài là không nhỏ và khả năng sẽ còn gia tăng cao vì Việt Nam vẫn đặt mục tiêu đẩy mạnh hơn nữa việc đưa lao động ra nước ngoài. cơ chế linh hoạt hơn (more flexible) sẽ tỏ ra thích hợp hơn cho Việt Nam so với cơ chế cố định. Theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. mức tăng lao động Việt Nam ngoài nước ước từ 8% . trong đó.0 tỷ USD về cho thân nhân ở trong nước.000 lao động nước ngoài ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở lao động kỹ thuật cao và chuyên gia quản lý với mức thu nhập cao. trình độ lao động của Việt Nam được cải thiện rõ nét thì lúc đó lao động Việt Nam mới có khả năng phản ứng trước tình trạng suy thoái hoặc tăng trưởng kinh tế bằng cách di chuyển qua biên giới để làm việc. hiện có khoảng gần 100. theo yếu tố này. yếu tố di chuyển lao động không phải là tác động quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn cơ chế tỷ giá do hiện nay mức độ hội nhập ở Việt Nam chưa đủ điều kiện để người lao động Việt Nam hoặc người lao động nước ngoài di chuyển tự do qua biên giới làm việc để phản ứng lại với tình trạng suy thoái của nước mình. Như vậy. sự di chuyển vốn theo đó cũng sẽ gia tăng và độ mở cửa của vốn cũng sẽ tăng cao. Tuy nhiên. dựa trên chỉ tiêu chênh lệch lạm phát. có thể thấy trong giai đoạn hiện nay. nhất là lao động Việt Nam ra nước ngoài.10% trong 5 năm gần đây với tổng số lao động Việt Nam ở nước ngoài hiện nay khoảng hơn 500.000 lao động. Nhật Bản và một số lượng lớn lao động đã sang Đông Âu từ những năm đầu thập niên 1990. đông nhất là Malaysia. Việt Nam chưa phải chịu áp lực lớn. khi mức độ mở cửa thị trường lao động của Việt Nam cao hơn.

do không làm được những điều đã công bố hoặc công bố điều không làm. chính sách tiền tệ Việt Nam lại mang tính đa mục tiêu và liên tục thay đổi trong ngắn hạn nên giữa mục tiêu của chính sách tiền tệ và cơ chế tỷ giá lựa chọn thường xảy ra xung đột. Việt Nam cần cải cách cơ chế tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn. Một số gợi ý điều hành cơ chế tỷ giá ở Việt Nam Thứ nhất. cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn vẫn là lựa chọn thích hợp cho Việt Nam. nếu xét theo cách phân loại thực tế của IMF. nhưng cũng không kém phần quan trọng hơn là đối xử thế nào với cơ chế tỷ giá đã lựa chọn để đảm bảo cơ chế tỷ giá tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật nhằm đạt được mục tiêu đã chọn. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã xem tỷ giá là một trong các công cụ dùng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. 6. việc duy trì cơ chế tỷ giá theo hướng kém linh hoạt sẽ đặt Việt Nam vào thế bất lợi và rất có thể có nguy cơ đối mặt với tấn công tiền tệ nếu cán cân vốn được tự do hơn.Bên cạnh đó. Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng ngày càng lớn hơn từ tác động lan tỏa của các cú sốc bên ngoài. mặc dù có vài yếu tố cho thấy Việt Nam có thể lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái ở hướng kém linh hoạt và cải thiện dần mức độ linh hoạt. với mức độ liên kết ngày càng cao hơn. tỷ giá cần được xem là mục tiêu thay vì sử dụng như là phương tiện của chính sách tiền tệ Việc lựa chọn cơ chế tỷ giá đúng đắn là điều quan trọng. Trong bối cảnh đó. Trên pháp lý (Điều 10 Luật Ngân hàng Nhà nước) và thực tế điều hành cho thấy. NHNN đã ưu tiên điều hành tỷ giá cho mục tiêu chính sách tiền tệ thay vì tuân thủ cơ chế lựa chọn (theo hướng linh hoạt). giảm nhanh sự can thiệp phi thị trường của nhà nước. Nhưng tầm quan trọng của các yếu tố còn lại cho thấy Việt Nam cần duy trì cơ chế tỷ giá linh hoạt và ngày càng linh hoạt hơn. Tóm lại. Trong lúc đó. theo hướng này. Vì vậy. Hậu quả của chính sách này đã khiến Việt Nam đối mặt với nhiều bất ổn vĩ mô như đã thấy trong năm 2010 và đầu năm 2011 trong lúc chính sách tiền . vì quá ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng nên Việt Nam đã tìm cách thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài trong lúc lại vẫn muốn duy trì chính sách tiền tệ độc lập cùng với cơ chế tỷ giá cứng có vẻ như là tham vọng cùng một lúc đạt được cả ba mục tiêu vốn được xem là “bất khả thi”. Thế nhưng. Do đó. Mặt khác. các can thiệp hành chính hoặc phi thị trường sẽ ngày càng buộc phải giảm đi theo các cam kết trong quá trình hội nhập. Việt Nam cần minh bạch hơn trong tiến trình điều hành tỷ giá để tránh rơi vào tình trạng lưỡng cực tạo sự khác biệt xa giữa cơ chế tỷ giá trên pháp lý và cơ chế tỷ giá theo thực tế. Do vậy. Kết quả là cơ chế tỷ giá theo hướng linh hoạt đã không đảm bảo được như cam kết ban đầu. Trong những lần như thế.

vì buộc phải điều chỉnh mạnh tỷ giá càng khiến cho bất ổn vĩ mô gia tăng. cụ thể kỹ thuật xác định tỷ giá của VND dựa trên rổ tiền tệ (hiện NHNN công bố trước công luận. rõ ràng) để tính tỷ giá thực hiệu dụng (REER) nhằm một mặt. Mặt khác. nhất là kể từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ vào năm 2007. Việt Nam cần chấp nhận “đi hàng ba” theo hướng gia tăng mức linh hoạt của cơ chế tỷ giá.) và công bố công khai. rõ ràng rổ tiền tệ sử dụng trong xác định tỷ giá cũng sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam thay đổi hành vi sử dụng tiền tệ của mình. Kết quả là các hoạt động thương mại. Vấn đề này sẽ trở nên đơn giản hơn nếu Việt Nam chấp nhận hy sinh sự vẹn toàn của các mục tiêu: tỷ giá cố định. Vì vậy. Theo chúng tôi. vị thế của USD trên thị trường quốc tế cũng đã có những thay đổi lớn.tệ trở nên càng kém độc lập hơn vì phần lớn phải rơi vào trạng thái bị động. vẫn tiếp tục duy trì độ mở tài khoản vốn như hiện hữu nhưng phải chấp nhận chính sách tiền tệ kém độc lập để trung hòa với sự chu chuyển dòng vốn ngoại nhằm kiểm soát tốt lạm phát. được Chính phủ bảo lãnh đã không còn quá lệ thuộc vào USD (xem đồ thị 3).. Trong khi đó. tỷ giá đã tính theo rổ tiền tệ. nhưng vẫn còn neo khá chặt với USD. việc công bố cụ thể. Thứ hai.. Đồng thời. đầu tư của Việt Nam với các đối tác lớn khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng do tỷ giá VND với các đồng tiền của các đối tác đó không phản ánh đúng mối tương quan kinh tế giữa Việt Nam và nước đối tác. xác lập tỷ giá theo rổ tiền tệ Hiện nay. khối sử dụng Euro không đáng kể (xem bảng 5). dự trữ. cơ chế tỷ giá của Việt Nam dù đã được cải thiện theo hướng rổ tiền tệ. Hơn nữa.. cơ cấu nợ nước ngoài nói chung và nợ nước ngoài của Chính phủ. dao động ở mức 10% . quan hệ thương mại của Việt Nam và Hoa Kỳ dù chiếm tỷ lệ cao. tạo được niềm tin và sự giúp đỡ của giới kinh doanh và nhà đầu tư xác định được chiến lược kinh doanh và có những kỹ thuật đúng đắn để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh.11% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (14% . cần kiên định với cơ chế tỷ giá lựa chọn và cương quyết không sử dụng tỷ giá như là công cụ mang tính giải pháp tình thế phục vụ cho chính sách tiền tệ. đồng thời. Bên cạnh đó. NHNN cần phải xác lập một cách rõ ràng (được tính toán trên cơ sở tham khảo tỷ trọng thương mại và tỷ trọng của các đồng tiền trong thanh toán. Sự biến động thất thường của USD với các đồng tiền chủ chốt khác đã kéo theo sự biến động lớn của tỷ giá giữa VND với các đồng tiền mạnh khác vì VND được neo chặt vào USD. . để đảm bảo thu hút vốn đầu tư phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và trong bối cảnh lạm phát vẫn còn khá cao. tự do hóa tài khoản vốn và chính sách tiền tệ độc lập.15% tổng kim ngạch xuất khẩu của 10 đối tác lớn nhất) nhưng vẫn xếp sau Trung Quốc và hơn Nhật Bản. nhưng chưa xác lập công khai.

việc công bố và điều hành tỷ giá theo tỷ giá danh nghĩa và neo chặt vào USD đã gây ra khá nhiều bất lợi cho Việt Nam. điều chỉnh tỷ giá VND trên cơ sở tham khảo đến tỷ giá thực hiệu dụng (REER) Đồ thị USD/VND cho thấy VND mất giá liên tục so với USD. hậu quả là các năm này thâm hụt thương mại của Việt Nam tăng cao.không quá bị lệ thuộc vào việc sử dụng USD trong định giá. Tuy nhiên. trên danh nghĩa. Đồ thị 3: Nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến 31/12/2009 phân theo loại tiền Nguồn: Bản tin nợ nước ngoài số 6. trong lúc USD/VND vẫn tiếp tục tăng thì NEER giảm mạnh. Rõ ràng.2003. hàng ngày. Do vậy. SGD mất giá mạnh so với USD. Có như vậy. đổi mới trong việc công bố tỷ giá hàng ngày. chỉ tập trung duy nhất vào USD. Nhờ vậy. NHNN cần phải tham chiếu đến REER để thực hiện việc điều chỉnh tỷ giá công bố của mình. găm giữ USD trên thị trường. Bộ Tài chính Thứ ba. KRW. Từ năm 2000 . các doanh nghiệp có thể giảm thiểu ảnh hưởng nặng nề bởi chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ và sự biến động giá trị USD. đồng thời. Điều này sẽ góp phần đáng kể giảm đi tình trạng khan hiếm. điều này là do JPY. NHNN công bố tỷ giá USD/VND căn cứ vào tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân . thị trường ngoại tệ sẽ không còn cảnh quan tâm quá mức. REER bám khá sát NEER nhưng đến năm 2005 thì đi ngược hẳn với NEER. Hiện nay. điều này cũng khá tương đồng với NEER. gom vét. tỷ giá mới thật sự là công cụ hữu hiệu để tác động đến hoạt động của nền kinh tế và hỗ trợ cho các mục tiêu đã định. thanh toán và cất trữ. MLR. Đây là giai đoạn chênh lệch lạm phát của Việt Nam so với các đối tác thương mại chính trở nên rất cao trong lúc tỷ giá danh nghĩa USD/VND không được điều chỉnh tương xứng (vẫn định giá VND liên tục cao hơn so với USD) khiến cho khả năng cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam suy giảm nghiêm trọng. năm 2005.

nhất là ở những thời điểm thị trường rơi vào trạng thái “nóng” hoặc “lạnh”. phản ánh kịp thời. Hơn nữa. tỷ giá công bố của NHNN thường mang tính chủ quan theo ý định của NHNN và không phải lúc nào cũng chính là tỷ giá được tính trung bình thực sự trên cơ sở số liệu giao dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.hàng của ngày hôm trước. REER và VND/USD . đúng đắn quan hệ cung cầu về ngoại tệ và diễn biến của thị trường ngoại tệ. Sử dụng tỷ giá này để điều chỉnh tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại đã “bó chặt” hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại và hậu quả là sẽ bóp méo giao dịch trên thị trường ngoại tệ. người bán cuối cùng của NHNN là khá hạn chế. có thể nói. về bản chất tỷ giá công bố của NHNN đã không đeo bám sát. NHNN vẫn còn dùng biện pháp hành chính mạnh để can thiệp trực tiếp trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nên tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng không phản ánh đúng cung cầu thực sự. Đồ thị: Biến động NEER. Vả lại. Tuy nhiên. NHNN chỉ kiểm soát và thu thập được tỷ giá giao dịch giữa NHNN với các ngân hàng thương mại. quy mô giao dịch ngoại tệ giữa NHNN và các ngân hàng thương mại chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn (dưới 5%) so với tổng quy mô của thị trường ngoại tệ và sự can thiệp thông qua vai trò người mua. nhưng không kiểm soát hữu hiệu và thống kê kịp thời tỷ giá giao dịch giữa các ngân hàng thương mại với nhau nên tỷ giá mà NHNN sử dụng để tính bình quân chỉ là tỷ giá mà Sở Giao dịch của NHNN thực hiện với các ngân hàng thương mại. Như vậy. trên thực tế. Thế nhưng.

minh bạch năng lực của NHNN. Mặc dù. các ngân hàng thương mại tìm đủ mọi cách để lách biên độ như thu phí kiểm đếm ngoại tệ thậm chí từ chối không mua USD khiến thị trường đã có dấu hiệu dư thừa USD lại trở nên dư thừa trầm trọng hơn. Ngược lại.NEER. tỷ giá công bố của các ngân hàng thương mại tuy vẫn nằm trong biên độ cho phép.NHNN còn áp dụng thêm biện pháp hành chính xét duyệt bán USD cho những hợp đồng nhập khẩu nằm trong diện khuyến khích nhưng vẫn không giải quyết tận gốc vấn đề và tạo ra sự phân biệt đối xử thiếu công bằng. đảm bảo độ tin cậy của các phát ngôn và nới lỏng biên độ giao dịch Diễn biến vừa qua cho thấy. khi thị trường “nóng”. song song với việc bán USD . Không bù đủ lượng chênh lệch cầu/cung USD lúc thị trường nóng hoặc hút hết lượng chênh lệch cung cầu USD lúc thị trường lạnh. Cách can thiệp này đã khiến tỷ giá bình quân mà NHNN công bố mang nặng tính hình thức. Khi thị trường “lạnh”. khi thị trường nóng. nhưng tỷ giá giao dịch thực sự hoàn toàn khác xa. . trong một số trường hợp. NHNN đã chưa làm tốt vai trò người bán/người mua cuối cùng.đa phần là nhỏ giọt . các ngân hàng thu phí bán ngoại tệ. REER trục trái VND/USD trục phải Nguồn: Tính toán của tác giả trên dữ liệu của IFS Thứ tư. ngưng bán hoặc hợp thức hóa ngoại tệ trên thị trường tự do khiến cho tỷ giá đã cao lại càng bị đẩy lên cao hơn. nhưng NHNN vẫn kìm cương không cho tỷ giá vượt mức ấn định.

10% để tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại chủ động thật sự hoạt động của mình. NHNN sẽ đóng vai trò người mua/người bán cuối cùng để bù đủ hoặc hút hết lượng chênh lệch cung cầu và sau đó. Khi các ngân hàng thương mại có sự chủ động cao hơn. vai trò của NHNN trên thị trường sẽ được cải thiện và nâng cao đáng kể. Hơn nữa. ngay lập tức dùng công cụ nghiệp vụ thị trường mở để trung hòa với lượng VND đã thay đổi trước đó. Trong quá trình này. gia tăng niềm tin về sự ổn định của tỷ giá nhờ vậy sẽ tránh đi những cú sốc tức thời do đầu cơ tích trữ USD vì sự âu lo do thiếu thông tin hoặc phán đoán mơ hồ thiếu cơ sở từ những tin đồn trên thị trường. NHNN sử dụng ngay công cụ nghiệp vụ thị trường mở để trung hòa với lượng VND thay đổi và công cụ lãi suất chiết khấu (và trong trường hợp thật cần thiết. họ sẽ linh hoạt hơn và mạnh dạn hơn trong các quyết định kinh doanh để đương đầu tốt hơn với sự biến động tỷ giá.Nếu nhận thấy cần thiết và “đủ sức” can thiệp. NHNN chấp nhận giao dịch mua/bán ngoại tệ với tỷ giá được điều chỉnh tăng/giảm tương ứng với lượng chênh lệch chưa được bù đủ hoặc hút hết. thị trường sẽ không còn các trạng thái quá (cực nóng hoặc cực lạnh) vì các ngân hàng . Tất nhiên. tỷ giá hình thành trên thị trường này sẽ có tác động truyền dẫn theo cơ chế thị trường để ảnh hưởng đến tỷ giá giao dịch giữa ngân hàng thương mại với các cá nhân.Tình trạng này sẽ hạn chế được đáng kể nếu NHNN thay đổi chính sách điều hành theo hướng: . khi thường xuyên can thiệp trên vai trò người mua/bán cuối cùng và thực hiện đúng những gì đã công bố sẽ giúp gia tăng tính minh bạch.Nếu nhận thấy chỉ cần thiết hoặc chỉ có thể can thiệp một phần dư cung hoặc dư cầu. Đồng thời. từ đó. độ tin cậy của thị trường và làm cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trở nên sôi động. Như vậy. có thể thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngoại tệ) để tác động điều chỉnh tỷ giá. khi đã điều khiển. Về lâu dài. Nếu can thiệp với phương thức này. kiểm soát và can thiệp để tác động hữu hiệu đến thị trường ngoại tệ. gia tăng quy mô giao dịch. việc NHNN điều tiết trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng sẽ tác động hiệu quả đến hoạt động và hành vi của các chủ thể trên thị trường ngoại tệ nhờ vậy NHNN sẽ gián tiếp quản lý hiệu quả hoạt động của toàn bộ thị trường ngoại tệ. NHNN cần nới rộng biên độ tỷ giá cho các ngân hàng thương mại trở lại mức 5% và trong trung hạn. tổ chức được phép giao dịch. thông qua các can thiệp mang tính kinh tế này sẽ là thông điệp để thị trường nhận rõ ý đồ của NHNN và có thể an tâm. Khi quy mô giao dịch trên thị trường ngoại tệ tăng cao. . bất lợi là tác động điều chỉnh lãi suất sẽ có độ trễ nhất định mới ảnh hưởng đến tỷ giá nhưng ưu điểm của nó là tỷ giá sẽ được hình thành đúng quan hệ cung cầu thật sự của thị trường. có thể điều chỉnh lên 7% .

rõ ràng. Ngoài ra. chúng tôi cho rằng. cần xác định cơ chế tỷ giá trong mục tiêu dài hạn và chấp nhận hy sinh sự toàn vẹn của ba mục tiêu “bất khả thi” để xử lý hài hòa các mục tiêu này nhằm duy trì được cơ chế tỷ giá lựa chọn linh hoạt đã định. Các tổ chức tín dụng đủ điều kiện sẽ mặc nhiên được phép hoạt động kinh doanh ngoại hối và triển khai các sản phẩm. Khi các ngân hàng đáp ứng được phần lớn nguồn ngoại tệ cho nhà nhập khẩu và dung nạp hết nguồn cung USD từ xuất khẩu và đầu tư nước ngoài với tỷ giá cân bằng ngay cả trong trường hợp thị trường có sự biến động bất thường trái chiều thì thị trường tự do sẽ bị thu hẹp dần nếu có sự phối hợp đồng bộ từ những chính sách khác để uy tín của VND được cải thiện. NHNN cần thực hiện bãi bỏ ngay các quy định mang tính xin . Để làm được điều này.cho trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ thay vào đó chuyển sang cơ chế kinh doanh có điều kiện bằng cách ban hành các chuẩn mực cụ thể. kỹ thuật kinh doanh ngoại tệ và công bố công khai.không còn thụ động chờ đợi. việc đa dạng rổ tiền tệ để xác lập tỷ giá chính thức và điều chỉnh tỷ giá này về vùng mục tiêu tiệm cận với tỷ giá thực hiệu dụng cùng với việc minh bạch năng lực của NHNN. Bên cạnh đó. kỹ thuật kinh doanh (ngoại trừ những sản phẩm chưa cho phép). nghiên cứu lộ trình để cho phép triển khai nghiệp vụ hợp đồng tương lai đối với ngoại tệ nhằm giúp doanh nghiệp và ngân hàng có thêm công cụ phòng ngừa rủi ro. hợp lý cho tuyệt đại đa số các sản phẩm. Bên cạnh đó. Thực hiện được các bước đi thích hợp kể trên sẽ gia tăng khả năng giao dịch và nguồn cung ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. thăm dò phản ứng của NHNN và của thị trường trước các biến động tức thời mang tính thời cuộc. Lựa chọn cơ chế tỷ giá linh hoạt không mấy dễ dàng nhưng sẽ khó khăn hơn để duy trì nghiêm túc cơ chế đã lựa chọn với tính kỷ luật cao. đảm bảo độ tin cậy của các . góp phần lành mạnh hóa giao dịch trên thị trường ngoại tệ. ổn định và nâng cao. Kết luận Dựa trên xu hướng cơ chế tỷ giá trên thế giới. NHNN chỉ thực hiện hậu kiểm và có biện pháp chế tài đủ mạnh đối với các tổ chức vi phạm. trước hết. sự biến động của các chỉ số vĩ mô dưới cơ chế tỷ giá khác nhau cùng với các yếu tố để lựa chọn cơ chế tỷ giá. Việt Nam cần sớm từ bỏ cơ chế tỷ giá cố định hoặc theo hướng cứng và chuyển dần sang cơ chế trung gian theo hướng ngày càng linh hoạt hơn nhằm đảm bảo cho tăng trưởng ổn định trong điều kiện lạm phát kiểm soát dưới hai con số và không xảy ra bất ổn thường xuyên trong các chỉ số kinh tế vĩ mô khác.

Rogoff Kenneth S. Evolution and Performance of Exchange Rate Regimes. 3. Too sensational: On the Choice of Exchange Rate Regimes. Exchange Rate Regimes and the Stability of the International Monetary System. thả nổi cho cả phân loại pháp lý và phân loại thực tế. Mody Ashoka.. Ghosh. Ghosh. 6. 4.Ghosh (năm 2010): Nghiên cứu ở 150 nước phát triển. 5. Bordo Michael D.C 7. IMF. Washington. Gulde Anne-Marie. (2002). Bubula Andrea.phát ngôn và nới lỏng biên độ giao dịch là một trong điều kiện mấu chốt để đảm bảo duy trì được cơ chế tỷ giá linh hoạt. IMF. trung gian. Annual Report on Exchange Arrengements and Exchange Restrictions. The MIT Press. Masson Paul (2000). (2003). 1 Atish R. Exchange Rate Regime Transisions. Corden W Max (2002). Exchange Rate Regimes: Choices & Consequence.2007 theo ba nhóm cơ chế tỷ giá: cố định. Inci Otker-Robe (2002). Jonathan D. IMF. . D. thị trường mới nổi và đang phát triển trong suốt giai đoạn 1980 . IMF (2008). Exchange Rate Regime Choice in Historical Perpective. The MIT Press.. Ostry. Atish R. The Evolution of Exchange Rate Regimes Since 1990: Evidence from De Facto Policies. IMF. Wolf Holger C. IMF. Brooks Robin. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Charalambos Tsangarides (2010). 8. Atish R. Oomes Nienke (2003). 2. Husain Aasim M.