Chặng đường đỏ từ Stalingrad

CHẶNG ĐƯỜNG ĐỎ TỪ STALINGRAD
HỒI ỨC CỦA 1 NGƯỜI LÍNH TARTAR XÔ VIẾT
Tác giả: Bản dịch tiếng Việt: Mansur Abdulin Maseo, TieuNgocLang

Lời nói đầu
“Điều đó không được phép xảy ra lần nữa” Khẩu hiệu như vậy đã xuất hiện sau Ngày Chiến thắng, đã trở thành một quy tắc quan trọng trong chính sách đối nội và ngọai giao của Liên Xô. Khi chiến thắng, sát vai các đồng minh của mình, trong cuộc chiến tranh đẫm máu nhất lịch sử loài người, đất nước đã phải gánh chịu những tổn thất hết sức to lớn. Gần 27 triệu người chết (khoảng 15% dân số thời bình). Hàng triệu đồng bào tôi hy sinh trong chiến đấu, bỏ mạng trong trại tập trung của Đức, chết đói chết rét trong vòng vây Leningrad hay trên đường đi sơ tán. Chính sách “vườn không nhà trống”, vốn được cả hai đội quân sử dụng trong khi rút lui, làm hủy diệt những vùng đất mà trước chiến tranh nuôi sống 88 triệu người và sản suất tới 40 % GDP. Hàng triệu người mất nhà cửa và buộc phải sống trong những điều kiện không thể chịu đựng nổi. Nỗi sợ hãi rằng một thảm họa như vậy có thể lặp lại ám ảnh cả đất nước. Đó là một trong những lí do khiến các nhà lãnh đạo đất nước thông qua những ngân sách quốc phòng khổng lồ, trở thành gánh nặng đáng sợ cho nền kinh tế. Do chính nỗi sợ hãi thực tế đó, những người dân thường thường tích trữ trong nhà một lượng đáng kể những “hàng hóa chiến lược” – muối, diêm, đường, thực phẩm đóng hộp… Tôi còn nhớ khi mình còn bé bà tôi – người đã trải qua nạn đói trong chiến tranh – lúc nào cũng cố gắng ép tôi ăn thứ gì đó, và bà rất không vui khi tôi từ chối! Đám trẻ con chúng tôi, ra đời khoảng ba mươi năm sau chiến tranh, tiếp tục chơi đánh trận giả trên đường phố Cuộc Chiến tranh Vệ quốc. Chúng tôi chia ra “phe ta” và “quân Đức” và từ tiếng Đức đầu tiên chúng tôi học được là “Hände hoch”, “Nicht schiessen” và “Hitler Kaputt”. Hầu như mỗi ngôi nhà ta đều có thể tìm thấy một vài người còn nhớ về chiến tranh. Tôi vẫn giữ những huy huân chương của bố tôi và một cái thùng đựng mặt nạ phòng độc của Đức nằm trong góc hành lang căn hộ tôi – một thứ đồ tốt để ngồi lên khi ta phải buộc dây giày! Một mong ước quên đi những ám ảnh về chiến tranh càng nhanh càng tốt, để chữa lành vết thương – cũng như hàn gắn những sai lầm của ban lãnh đạo và chỉ huy quân sự của đất nước – dẫn tới một chiến dịch tuyên truyền dựa trên hình ảnh một người lính Xô viết vô danh, “gánh trên vai mình tòan bộ sức nặng của cuộc chiến chống lại phát xít Đức”, trong khi ca ngợi “chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Liên Xô”. Thái độ này có ý nghĩa tuyên truyền một lối hiểu giản đơn, về những gì thực sự đã xảy ra. Kết quả là, những hồi ức xuất bản thời Xô viết bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cả kiểm duyệt bên ngoài (của nhà xuất bản hay bộ văn hóa - ND) lẫn bên trong (của chính tác giả ND). Chỉ tới cuối thập niên 80 thì sự thật về chiến tranh mới xuất hiện. Đó là thập kỷ mà cuốn sách của Mansur Abdulin được xuất bản. Năm ngoái, khi tôi nhìn thấy nó lần đầu tiên, tôi nhận ra rằng tôi đang cầm một hồi ức của “nhân dân Liên Xô anh hùng”, được 1

Chặng đường đỏ từ Stalingrad viết bởi chính người thực về việc thực. Điều khiến những hồi ức này trở nên rất độc đáo chính là Abdulin đã tham gia các họat động ngoài tiền tuyến trong suốt một năm trời, trong khi thống kê cho ta biết trung bình một lính bộ binh Hồng quân chỉ sống sót trên chiến trừơng trong khoảng hai tuần, sau đó anh ta sẽ bị giết hoặc bị thương. Thời kỳ này cho phép Mansur thu nhặt những kinh nghiệm phong phú, mà ông có đề cập trong cuốn sách này. Là một người kể chuyện có tài, Abdulin, bằng lối khách quan và thẳng thắn, mô tả cuộc sống của mình trong chiến hào. Ông ý thức rõ rằng cuộc giao chiến mà ông phải tham gia, không cho ông cơ hội sống sót nào. Mục đích chủ yếu của ông là dâng hiến cuộc đời mình càng hữu ích càng tốt, tức giết chết những kẻ khác, tiêu diệt càng nhiều kẻ thù càng tốt. Chiến tranh ở Mặt trận phía Đông được đánh dấu bởi mức độ căm thù và khốc liệt đáng sợ, liên quan sâu sắc tới chính sách của Đức muốn tiêu diệt hòan tòan Liên Xô và bắt công dân của nó làm nô lệ. Các độc giả Phương Tây đã có cơ hội tìm hiểu về các kinh nghiệm từ phía Đức, nhờ đọc sách của các cựu chiến binh như Guy Sajer hay Gunter K. Koschorrek, trong khi hồi ức của các binh lính Xô viết hầu như không thể tiếp cận được. Đó là tại sao tôi luôn cảm thấy rất nhiệt tình để cho ra đời bản dịch tiếng Anh này. Nhưng làm sao tôi có thể tìm thấy tác giả? Cuốn sách được xuất bản 13 năm trước và Abdulin giờ hẳn không ít hơn 80. Ông còn sống hay không? Làm sao tôi gặp được ông? Trong cuốn sách có ghi rằng ông sống ở Novotroitsk, tại vùng Orenburg. Tôi gọi cho phòng thông tin của thị trấn nhỏ này nằm ở vùng Nam Ural. Co gái đầu bên kia điện thọai ban đầu nghe nhầm họ tên, và trả lời rằng cô không có người tên như vậy trong danh sách. Tim tôi như chìm xuống! “Anh nói tên ông ấy là gì?” “Abdulin”. “Ôi xin lỗi, tôi lại đang tìm Abdullin”. Chờ một lát… Vâng, chúng tôi có một Abdulin M. G.”. Tôi lập tức gọi cho Mansur và tự giới thiệu: “Ông thấy thế nào về việc soạn một bản dịch tiếng Anh cho sách của mình?” “Tại sao không? Cứ thử xem nào… “ Artiôm Drabkin, Maskva, 2004

2

Chặng đường đỏ từ Stalingrad

Chương 1: Mặt trận
Chiến tranh, mặt trận, nghĩa là bắn giết. Bằng cối, đại liên, tiểu liên hay đại bác. Tôi bắn phát đạn thật sự đầu tiên vào ngày 6 tháng 11 năm 1942 tại phương diện quân Tây Nam, từ một khẩu súng trường tự động SVT. Đây là điều đã diễn ra…. Vài ngày trước trận tấn công, mỗi đại đội tổ chức mít tinh trọng thể “Hướng về ngày kỷ niệm lần thứ 25 của Liên bang Xô Viết”. Chúng tôi tuyên thệ theo mệnh lệnh của Đất Mẹ – “Không lùi!”khi băng qua sông Đông. Dòng sông yên ả, hành lang di chuyển tốt, và với những nhịp vận động nhanh, chúng tôi đến một hẻm núi cao của phía bờ bên phải. “Đi cẩn thận!” chúng tôi luôn nghe lời cảnh báo này, và với những lính súng cối như chúng tôi, nó có ý nghĩa quan trọng, riêng biệt. Lính súng cối mang theo nòng, giá đỡ và chân đế: nếu đi nhanh và bị ngã hoặc chỉ loạng choạng, những thứ đó-theo quán tính sẽ đập bẹp sọ bạn. Tôi đã thấy nhiều thương vong do khinh suất ở những người lính bị vấp chân, chỉ do những thứ nặng nề vác theo. Chúng tôi tiến vào một vùng đất như bị bỏ hoang. Có lẽ chúng tôi đang bước trên những bao tải cũ và những bụi cỏ. Trong bóng tối, chúng tôi không thể thấy cái gì dưới chân chúng tôi. Có mùi gì đó thật khó chịu. Chúng tôi chạy tránh khỏi chúng, tiến lên, tiến lên! Một viên pháo sáng xuất hiện trên trời, và trong ánh sáng đó chúng tôi chợt nhìn thấy những gương mặt của xác chết. Cả quân ta và quân Đức. Có nhiều pháo sáng hơn. Tôi lén nhìn các bạn đồng đội: H có thấy không? Có, họ có thấy. Nhưng mọi người như lặng câm. Không ai mở miệng. Dù chỉ một tiếng rủa. Chiến tranh là chiến tranh. Là như thế. Và có gì tự nhiên hơn! Tôi vừa bước sang tuổi 19, tôi biết những người khác cùng tuổi. Mọi người đều có cùng một kinh nghiệm: một khóa học bắn ngắn gọn ở trường bộ binh Tashkent. Tôi nhảy qua vài thi thể, và trong đầu tôi loé lên một ý nghĩ: sao con người trở nên quen với điều này quá nhanh, tại thời điểm họ nhận thấy không thể tưởng tượng được. Một suy nghĩ khác – một suy nghĩ lạ lùng trong hoàn cảnh này – tôi hài lòng với chính bản thân mình. Nếu có một đồng đội nhìn tôi, anh ta sẽ không thấy gì chỉ là sự tập trung bình thường. Ở mặt trận, giống như mọi người khác – hoặc không tệ hơn những người khác – có nghĩa là giá trị của bạn được đảm bảo. Đó là điều chính yếu của lòng tự trọng. Tuy nhiên, tôi bị giật mình bởi cảnh tượng nôn mửa đó gây ra bởi ánh hoả châu (đây là mặt thật của chiến tranh, bản chất của nó, khi một thông báo đại loại như “Đã hi sinh anh dũng” đưa ra), tôi, tuy vậy, vẫn hoạt động bình thường như mọi người khác, cố không bị vấp hoặc chúi xuống khi nghe tiếng rít của một viên đạn bay đến. Chúng tôi gập người xuống khi chạy những mét sau cùng. Bờ vách thấp dần: tiếng đạn rít nghe rất chậm. Rốt cuộc, tôi nhảy vào được trong chiến hào: vẫn còn sống, không trầy da, ba lô và súng còn đây. Sau vài phút nghỉ thở, tôi đã sẵn sàng để bắn vào những gì theo lệnh. “Sao bọn ông chậm thế?” Chúng tôi nghe thấy giọng nói riết róng, thô lỗ vang lên, khi những người lính tuyến đầu đột ngột hiện lên trong chiến hào, như những bóng ma. Mang theo cối, súng máy, họ hành quân trở lại vào hẻm núi nơi chúng tôi vừa đi ra. Tôi đã tưởng tượng ra một cuộc gặp gỡ khác hẳn, và sự biến mất nhanh chóng của những người lính “tiền nhiệm” để lại một cảm

3

ánh lên trong nguồn sáng nhợt nhạt. chúng tôi đã thành những người lính tiền tuyến. vừa gửi vài tay đến vị trí quan sát. trong khi súng máy tiếp tục khạc đạn. tặc lưỡi nói “Họ phải qua sông Đông khi trời còn tối. Sự thể hiện đầy vui vẻ của Suvorov đã thuyết phục tôi một điều rằng: tại lúc mà chúng tôi nhảy vào đây. Chúng tôi ao ước sao mình được ra mặt trận. và anh thường hỏi chúng tôi cặn kẽ với nơi chúng tôi sinh và ước mơ trong đời của chúng tôi. đại đội trưởng của chúng tôi. và trong mắt anh ta. Đại uý Buteido.“Chúng ta giờ đang ở tiền tuyến” Buteido ghút lại. mỗi chúng tôi phải cố gắng trở thành một bánh răng hiệu quả trong cỗ máy chiến tranh. Đó là dành cho một cuốn sách anh ấy dự kiến sẽ viết sau này.“Tôi hỏi Mansur rằng có thấy nóng không?” Mọi người cười to. khẩu đội trưởng của chúng tôi. . Và dù việc gì xảy ra lúc đến. Thật ra. người Tartar hỏi. Các chiến hào trông cũ kỹ và mòn vẹt. và nó thường bị rách ở các đường may chỉ sau nửa tháng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad giác khó chịu. Anh ta dịch câu hỏi của anh ta sang tiếng Nga để Buteido và những người khác có thể hiểu: .“Điều này có nghĩa rằng chúng ta đã trụ ở đây khá lâu rồi !”. tôi sinh ra ở Siberia. Tất cả các khẩu đội trong đại đội chúng tôi đều học cùng trường. Vấn đề là. không ai sẽ nhớ. trong khi những tay pháo binh kéo khay đạn về phía khẩu pháo của họ. và Fuat Khudaibergenov cùng với tôi (trong khẩu đội Suvorov.“Hoặc vừa chiếm lại của bọn Đức” Victor Kozlov phản đối. Chúng tôi luôn nhớ lúc ở trường. soi sáng tận đáy chiến hào. Sự thật rằng chúng tôi chỉ là những học sinh sĩ quan mới tinh đến từ trường lính bộ binh. chỉ cho chúng tôi phải làm gì. Đó là điều quan trọng nhất.“Ôi. 4 . Khismatullin là giáo viên sử. Pháo sáng của bọn Đức tiếp tục phóng lên trời. còn lính súng máy thì lắp khẩu Maxim lên công sự. nóng à?” đại đội phó. Thật đáng kinh ngạc cho bản năng tự-duy-trì công việc ở người lính. có thể nhìn quanh một chút. hoặc suy xét lại. . Mansur. và báo tôi nên sẵn sàng để thay thế họ khi bình minh. nghe tôi không? Hết”. và trong các buổi tập tôi bị gục vài lần do cái nóng ở Tashkent. nó làm tôi câm lặng. “Sợ chúng ta tấn công đêm à?” Ivan Konski cười. chính trị viên đại đội Fatkulla Khismatullin. Dường như mọi người khác đều trải qua cùng một cảm giác như tôi: nhưng chúng tôi đã bắt đầu nghe lính thông tin gọi nhau. như thể họ đã chiến đấu cả đời rồi.“Cu làm tao mắc cười quá” Pavel Suvorov. Tôi đã từng sợ rằng nhà trường sẽ loại tôi. Nikolai Makarov – ở một khẩu đội bên cạnh – giải thích. chiến đấu như thế nào… . . “Khoá-nòng đây. và cần có thời gian để về tới hậu phương mà không bị bọn Nazi phát hiện”. những khẩu cối cũng đã sẵn sàng xung trận. Từ khi chiến tranh. Và khi đã xong các việc cần thiết. Anh ta đến với chúng tôi cùng chỉ huy. biểu lộ một bí mật. anh ta là người nạp đạn còn tôi là xạ thủ pháo) cũng đã chuẩn bị đạn dược đâu vào đó cạnh khẩu cối. Trong đại đội chúng tôi. chúng tôi phải luôn giặt áo choàng hằng ngày vì muối và mồ hôi. tôi đã mong rằng những “người cũ” sẽ ngồi lại với chúng tôi một chút. Trước chiến tranh. nhìn vào đồng hồ “và đừng quên những gì đã được dạy…”. Cả hai đều nói thầm thì. .

một gia đình có một cái lỗ ở góc phòng. Fuat ít nói. Trong nhiều thế kỷ. Những thứ như bánh mì. là thợ rèn hoặc thợ mộc. là nơi sống của những người Tashtagol bản địa. đại loại như sử dụng liều phụ nhiều lần để làm sạch nòng cối khỏi cặn thuốc súng sau khi bắn. bao quanh bởi những cánh rừng nguyên sinh rậm rạp. trong khi chúng tôi chìm trong hồi tưởng. Dịch từ tiếng Uzbek. đường hoặc makhorka (một loại thuốc lá rẻ tiền – NV). với cơm. đầu bếp siêu hạng. xi đánh giày.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Viên đại đội trưởng đầy kinh nghiệm. Anh ấy là một tay thợ may. quả cối bên trong sẽ di chuyển chậm lại. và khi cần. giữa những điều khác. và qua đó họ liên hệ trực tiếp với thần linh. bàn chải. trong khi một tay khác quay lại là nói “Ivanov”. sẽ có tình huống một quả đạn được tọng vào trong khi quả trước chưa được bắn. Cha Fuat là người Tartar còn mẹ là người Uzbek. Khudaibergenov nghĩa là “món quà thượng đế”. Tôi cố đuổi hình ảnh đó bằng cách hồi tưởng lại tuổi thơ. Còn đầu óc tôi vẫn tràn ngập hình ảnh đáng sợ: những gương mặt chết tím tái. sau chiến tranh. băng gạc. Chúng tôi biết rằng tay nạp đạn này (chỉ Fuat) luôn có trong quân trang những thứ người ta cần như: kim. Tôi thì có điều kiện thực hiện lời hứa hơn những người khác: trước chiến tranh. chỉ.lãnh đạo bởi Yemellian Pugachev (1773-1775). gia vị và nước xúp – NV). chính xác lúc đó là khoảng 2 tiếng trước khi tôi đi thực hiện nhiệm vụ của mình – tôi tràn ngập trong sợ hãi. Ngay bây giờ. và cả hậu duệ của những người Cossack vốn từng tham gia vào cuộc khởi nghĩa nông dân . trong khi Victor Kozhevnikov xin giấy và bút chì. xà bông. Nếu nòng không được thông. họ của anh. Nga-theo-đức-tin-cổ tự do và trốn chạy. gia đình khác thì có một cây thông nhỏ trong sân. rau. một tay nào đó lấy một phần và hỏi “Ai”. chỗ mà họ cho là linh thiên. Anh ấy cùng tuổi với tôi. thợ đóng giày. và như vậy. Tôi viết cả những điều đó vào lá thư gửi về nhà. nhưng có một lần anh làm chúng tôi ngạc nhiên khi mời mọi người. và khi một người nào lấy từ cái áo không thấm nước của anh ta một trong 40 phần được chia thì chắc chắn rằng những người khác cũng sẽ được đúng tầm ấy. Estionia. Họ trang trí cành lá với vài miếng giẻ và cầu nguyện. iốt v. dây giày. chúng tôi không bao giờ chia chúng như ở các trung đội khác vẫn làm. “Petrov” hoặc “Sidorov”. thì anh ấy sử dụng thời gian rảnh ấy để vá lại vết rách ở lần vải lót cái áo choàng của mình và xem xét vết vỡ ở gót đôi ghệt của Nikolai Makarov. Mỗi sắc dân có tôn giáo. vaseline. cúc áo. Ivan Konski như đang ngủ say và mơ về vùng quê Smolensk. Sergie Lopunov quay sang hỏi xin Fuat kim và một ít chỉ. Hungaria. Tôi ném lá thư lên chồng thư tín. Ngay lập tức. Fuat chịu trách nhiệm chia đồ. một đồng đội to lớn và khoẻ mạnh. chúa trời hoặc những thánh thần nào đó mà họ tôn sùng. Tôi sinh ra trong một gia đình thợ mỏ vào ngày 14 tháng 9 năm 1923. rồi cùng Khismatullin cúi gập người đi dọc theo chiến hào. Tỉ như. kéo. trong quá trình bắn chiến đấu. thịt sườn. người đã tham gia từ những ngày đầu chiến tranh dặn chúng tôi.“Bây giờ các bạn có thể nghỉ ngơi” Buteido nói. 5 . dao cạo. Đức. đến chơi nhà anh và thử dùng món cơm thập cẩm (pillaw – một món khoái khẩu của nguời Trung á.v… Fuat như luôn có mọi thứ dù yêu cầu đặc biệt. Chúng tôi đã phải hứa đến nhà anh ở Tashkent. và như vậy đường về nhà tôi có ngang qua Tashkent. dầu. những người Tartar. gia đình chúng tôi chuyển từ Siberia đến vùng mỏ Sargardon ở Trung á. Chúng tôi sống ở một ngôi làng người Tashtagol gọi là Sukhoi. và nó có thể gây nổ trong nòng… . Và anh ta không bao giờ ở không.

Tôi sinh sau ngày chế độ chuyên chế Nga sụp đổ và lực lượng bạch vệ cũng bị dẹp tan trong nội chiến 1918-1921. người nhập cư. mắt những người khách trợn lên như muốn nhảy ra khỏi hốc mắt. dù thuộc quốc tịch hay tôn giáo.Tiếc là không có Chúa trời – cha tôi nói – nhưng loài người luôn cần có một nhân vật đầy quyền năng. Dù rằng tôi chỉ mới 3 hay 4 tuổi khi đó. rất chú trọng vào đạo đức năng lực công nhân. em trai tôi và cha tôi) … !” Và vì cuộc sống kinh khủng mà mẹ tôi đã không xấu hổ hoặc dấu diếm .Chặng đường đỏ từ Stalingrad Những người đó có Chúa trời. dân địa phương kính trọng họ. và khi đó bà điên cuồng gào lên: “ Tôi treo cổ chết đây ! Tôi bỏ các người (chỉ tôi. và cầu thần hầm mỏ bảo hộ cho cha tôi khi ông vào hầm mỏ. Luận điểm này dường như đảm bảo cho mọi người và thêm vào hi vọng cho tương lai tươi sáng. hồ. chung sống hoà bình với nhau. vị thần đó chắc chắn sẽ dìm chết hắn ta mà không để lại dấu vết gì. nín thở chờ câu trả lời của cha tôi. Bố mẹ tôi đều là những người ngoài. Thường thì chẳng có ai làm mộ cho các trẻ chết. mà còn cho thấy sự vui mừng của họ khi bớt đi một miệng ăn phải nuôi. Tôi cầu nguyện với đấng tối linh (mà tôi tin là hiện hữu) ban cho cha mẹ tôi sức khoẻ. Nhiều người lớn – và cả trẻ em – có lối sống khác.“Con bà không bị bịnh gì. Những trẻ em Liên Bang Xô Viết thời đó phải chịu tình trạng đói kém kéo dài. sông. giúp ta không lạc lối và không bị diệt vong. thầy thuốc khám tôi và bảo mẹ tôi rằng: . . người sẽ trừng phạt kẻ xấu. Vì tôi sợ tôi sẽ chết do bị chảy hết máu. cha tôi nhanh chóng làm cho họ dịu lại. và khi đó mẹ tôi có dịp vui mừng vì bớt đi một miệng ăn !!! Dân địa phương thường ghé thăm bố mẹ tôi bởi lẽ họ là người có học duy nhất trong vùng. dù học ít.trước mặt anh em tôi – rằng bà ghen tỵ với những người bạn của bà: những phụ nữ mà con của họ đã chết cả. không thể! 6 . Vị thuốc tốt nhất là cho nó ăn!” Kể từ đó tôi sợ bị đứt tay. thưởng thiện – phạt ác. cũng đều thống nhất ở một ý niệm thần bí khác: rừng. Có một lần. thỉnh thoảng lại bị lên cơn cuồng hậu quả của việc thiếu đói và tuyệt vọng triền miên. đầm lầy hoặc mỏ đều có một vị thần sở hữu. nhưng tôi hiểu mẹ và không buồn với những cảm xúc khó khăn đó. đồng chí là đảng viên. Dân địa phương.Nhưng trên nhân loại. Những người khách hỏi han nhiều vấn đề quan trọng khác nhau như: . thay vì Chúa. luật lệ và nguồn gốc riêng. Bố tôi là kỹ thuật viên ở mỏ và là Đảng viên ĐCS. đồi. cai quản. nó chỉ bị thiếu máu và vì vậy nên yếu ớt. thêm vào là những dịch bệnh tệ hại như đậu mùa. Đảng viên – và không tôn giáo. Những phụ nữ nông dân chôn con mà không hề khóc lóc. Tôi cố chịu đựng những cơn đói kinh khủng mà không khóc. Nghe như vậy. Nhưng vì họ là những người duy nhất biết đọc viết. dịch tả và sốt phát ban.Đồng chí Abdulin. Những người khách gục gặc những bộ râu vĩ đại với vẻ hài lòng và nói: . do vậy họ hư cấu ra Chúa trời để mọi người trên thế giới này thấy hạnh phúc. lao phổi. Mẹ tôi. Họ có điểm chung là một cộng đồng mê tín: họ tin rằng tất cả được cai quản bởi đấng tối linh. . vị thần đó sẽ bảo vệ cho sự giàu có và sự sở hữu đó. có một đấng công lý tối linh bao trùm lên chúng ta. dạy hàng xóm viết – dù chỉ tên họ. thông hiểu mọi thứ. Nếu có ai thách thức làm điều gì xấu.Người ta chỉ có thể sống như vậy – Không đức tin. hãy thẳng thắn cho tôi biết – có Chúa trời hay không? Rồi họ im lặng. Mẹ tôi.

Tôi cũng là một thành viên tích cực của nhóm chơi tàu lượn và máy bay mô hình. nhưng tôi lại xoay sở để gia nhập quân đội. lái xe và sỹ quan Hồng quân. Và. tôi không có quyền!”. “Tay súng Vorosilov” (những huy hiệu này cấp cho những ai vượt qua các chỉ tiêu về thể thao và bắn súng). bởi lẽ một vài anh chàng khán giả đã xông lên sân khấu gào toán lên “Giết bọn Trắng!” doạ đánh tôi. Nhưng buổi diễn không bao giờ kết thúc. phụ nữ mỗi khi thấy tôi với cái đồ chơi đó. tôi đã thích vẽ. một kỹ thuật viên mỏ. tôi được phân một vai sĩ quan Bạch Vệ (đối thủ của Hồng Quân trong cuộc nội chiến 1918-1921 – ND). Tôi đã mơ mình sẽ trở thành một nghệ sỹ. để được cấp sổ gạo. chắc do tôi diễn quá đạt. đánh ngã tôi và lấy món đồ. nhưng anh ta vẫn khăng khăng: “Tôi không thể. chúng tôi tìm vàng: sàng những mẩu đất cát trong những chậu kim loại đơn giản hoặc những các xẻng đào vào. Ivan Vanshin. Hắn làm một cái đồ chơi tuyệt vời. Tôi cũng vẽ rất khá. Bốn chúng tôi là Nikolai Koniayev. Là một thợ mỏ. tôi đã có được các huy hiệu “Sẵn sàng lao động và chiến đấu”. tôi được lệnh từ Uỷ ban Quốc phòng. với một cặp kìm nóng đỏ tra tấn những người Cộng sản chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân bị bắt. rồi thì phi công. một thợ chụp ảnh. cả mùa hè từ sáng đến tối. véo mũi và gần như xé rách tai tôi.tôi nhớ lại điều đó với một nụ cườichúng tôi đe doạ anh ta rằng sẽ đột nhập vào một cửa hàng trong đêm: khi đó chúng tôi có khả năng 7 . Nhưng chiến tranh đã nổ ra ngày 22 tháng 6 năm 1941. và đã trang trí cho vài quyển tập viết (vốn được cung cấp rất ít) bằng những bức tranh của tôi. thích đục đẽo cưa bào và thích sáng tạo. làm một cái kính mờ mờ với tro. la hét hoảng loạn và cố chạy hoặc trốn đi. Từ khi còn bé con. Tôi cũng làm một cái lồng chim theo mẫu một căn nhà tranh của nông dân. Ttôi đã rất ngạc nhiên khi nhìn qua đó và thấy rõ ràng chú chó săn của tôi đang chạy ngang qua ở đằng xa. lũ chim sáo đá có một nơi ở tuyệt vời và chúng hay om xòmn với nhau vì một chỗ tốt trong đó. biết đến thứ đồ chơi mới mẻ của tôi đã rất nhiệt tình tán dương: “Cu nhỏ Mansur Abdulin thiệt khá. Cả thời thơ ấu của tôi ở khu mỏ Miasski. Và khi tôi còn là học sinh. Vì vậy. có lẽ là người tham gia bền bỉ và khá nhất trong đội kịch nghiệp dư. với công việc là đẩy xe gòong. Năm 1940. họ không mặc quần! Ha-ha!”. một thiết bị đơn giản được dùng rộng rãi trước thời máy chụp ảnh hiện đại ra đời ở thế kỷ 19). Khi lớn hơn một tí. Victor Karpov và tôi. toàn bộ đàn bà-con gái bị lộn ngược đầu xuống và váy bị tốc ngược qua đầu. Tôi phải chịu đựng khá nhiều cho ước mơ làm diễn viên của mình. tôi đã vào rừng với súng để săn gà rừng. tôi không bị động viên. Cùng đến phòng đăng ký tuyển quân và cố thuyết phục người cán bộ ở đó rằng nghiệp vụ mỏ của chúng tôi không ghê gớm đến mức phải giữ chúng tôi ở xa mặt trận. Năm 12 tuổi. Có lần tôi làm một cái camera bằng gỗ (nó đại loại là một cái camera đục lỗ. dù chỉ là một cặp mắt kiếng – và tôi đã dùng dùi nóng. làm những đồ vật khác lạ. Một dịp khác. và kết quả là cha tôi đã “trang trí” cho mông của tôi với thắt lưng da của ông thật lực đến nỗi mà cả tuần sau tôi vẫn phải nằm tênh hênh. nhìn qua đó. tôi bỏ học và đi làm trong mỏ. một diễn viên. Cuối cùng họ phục kích. camera thụ động. Nhưng con chó bị lộn ngược! Dân khu mỏ. nhưng không có gì để làm thấu kính. dùi một cái lỗ. Lúc này cuộc sống chúng tôi đã khá hơn: ít bị đói và có tiền để mua quần áo. tôi đã là một tay làm ván và giày trượt tuyết khá nghề. cùng với đám con trai và vài đứa con gái.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Họ cúi chào và ra về. sấp bụng giơ đít cho bọn gián xem…. Và lúc đó tha hồ ngắm nhé.

Chặng đường đỏ từ Stalingrad sẽ bị đưa đến một tiểu đoàn trừng giới.Không. Là một học viên gương mẫu. Tôi không biết đánh giầy. Tôi không mong muốn ở lại phía sau. sư trưởng đang chuyếch choáng say. gần như không đánh lưỡi: .Thưa. Và đồng đội ghen tị với tôi. Tất cả đồng đội đã vui mừng khi thấy tôi – ít ra là vì tôi hát hay nhất – và tôi thì nhận nhiệm vụ cùng với một đội 700 thiếu uý mới toanh. nhưng chúng ta thấy điều gì rồi đấy!”. tôi đang ở sở chỉ huy. Ông nhìn tôi bằng cặp mắt bò mộng của mình và lầm bầm một cách hách dịch. Sau khi tốt nghiệp ở trường. Tôi không can đảm hút thuốc trước mặt một vị tướng và chuẩn bị cho điều tệ hại nhất. các đồng đội của tôi được phân về các trung đoàn khác nhau. một lính bộ binh. Anh ta ăn một mẩu xà phòng giặt. tôi đã thề với bạn tôi là sẽ cùng chiến đấu. nhưng. Và ngay lập tức. 8 . Tôi sẽ không tệ với anh! . Không bao giờ.Nhưng tại sao? Ông ta nhướng đôi mày rậm rạp. Tôi âm mưu với một học viên ưu tú khác. Nhưng số phận đã định đoạn rằng. Câu trả lời thường là: “ Trong quân ngũ không có những thứ đại loại như tôi sẽ không. tôi cũng biết là ông đang tìm một sĩ quan phụ tá. ở toà.Tôi đề nghị được chuyển đến trung đoàn 1034. tôi không thể hay tôi không biết thế nào”. số khác thì lưu ý một cách hằn học: “ Hắn muốn ra trận biết bao nhiêu. Anh ta bị tiêu chảy. Dĩ nhiên tôi ghen tị với bọn họ. thật vô ích để van vỉ xin ra một trung đoàn tiền tuyến.Tôi đã không nghĩ rằng anh từ chối! Anh không tin là không có gì lãng mạn ở chiến tuyến à? Đó chỉ là một lò sát sinh! Hãy nói “đồng ý” và anh sẽ không hối tiếc vì điều đó. thưa đồng chí Tướng quân. tôi đã có kế. tôi đợi sự đồng ý của anh. Anh ta gọi thẳng cho ai đó để được phép. Hãy suy nghĩ. sống sót sau cuộc chiến. còn tôi thì đến trường bộ binh Tashkent (được mang tên V. Tôi tin là anh sẽ có được nhiều huân chương và thăng cấp. Chỉ có hai trong số chúng tôi được chọn: bạn thân nhất của tôi Nikolai Koniayev và Victor Karpov. tôi quyết định ký lệnh điều động anh làm sĩ quan phụ tá của tôi.Hôm nay. chúng tôi sẽ khai rằng vì thiếu tá Galkin cố ngăn chúng tôi ra trận! Vị thiếu tá giải quyết ngay vấn đề. nhưng tôi biết chiến đấu. . làm dự bị. . Khi chúng tôi đến sư đoàn. còn tôi thì ở lại sở chỉ huy. còn tôi thì đến gặp chính uỷ trường với một đề nghị: “Hãy để Taktzer lại. chỉ tôi. chúng tôi đã thấy mình trần truồng đứng trước những cặp mắt xăm soi của một uỷ ban tuyển chọn học sinh sỹ quan cho trường phi công. nơi những đồng đội của tôi đang phục vụ Tôi trả lời.Lenin). Như thường lệ. thành một vạch xám thẳng. một lần nữa lại bị cản trở đến với các hoạt động tích cực. . sư trưởng cho gọi tôi. . họ anh ta là Taktzer. tôi được gọi ở lại trường làm giảng viên. và giữ chúng lơ lửng đề phòng câu trả lời của tôi. và vào bệnh viện. Vào một ngày. anh ta đi đến trường xe tăng Chirchiks. Không để cho tôi báo cáo. Tôi hài lòng với kết quả học tập và trình diễn của anh. tôi. còn tôi thì chuyển vào danh sách ra trận!”. Vanshin và tôi trở lại phòng tuyển quân và cùng trong ngày. sư trưởng ấm áp cho tôi ngồi và đẩy một gói Kazbek đến bên ghế và bảo “ Hút thuốc đi!”. Tôi từng để ý những lúc ông ta nhìn tôi: kiểu như nhìn dân Gipsy trong phiên chợ hoặc ngắm con ngựa mà ông ta yêu thích.

anh sẽ chỉ cậu lối đi” Suvorov nói.dân thượng đẳng.Sẽ không ai trong số bạn anh từ chối lời đề nghị vừa rồi đâu. Suvorov hơn tôi 7 tuổi. Cậu thích như thế à? Và với mọi người chỉ có một con đường: chiến đấu. Anh chúc tôi may mắn và rời đi. sợ hoặc không…” Trời đã sáng. Tôi đã bảo với Chính uỷ trung đoàn rằng tôi muốn là một người lính thường và được rèn giũa. trước chiến tranh phục vụ trong Trung đoàn Mat-cơ-va số 1 và đã đựơc tặng thưởng huân chương Sao đỏ. Nhưng bạn không thể giải thích điều này cho mọi người. và đề nghị được đưa đến đó. Và tôi cũng chưa hề tưởng tượng ra một hình ảnh đặc biệt như thứ mà tôi vừa thấy ở dưới chân hẻm núi trong ánh sáng tím tái của hoả châu. đừng có xấu hổ” anh ta nháy mắt “ai cũng sợ cả”. cuối cùng. Một cuộc chiến lớn.“Cậu nghỉ là anh không muốn sống à?” Anh mỉm cười. nhưng vẫn đứng cạnh. và rằng tôi muốn có kinh nghiệm “nghe mùi thuốc súng”. Suvorov nhìn vào kính viễn vọng và sau đó nhường chỗ cho tôi. Và đó là là điều đã đưa tôi. Vểnh đuôi lên nào!”. Nhưng tôi muốn sống biết bao! Thật kinh khủng khi thành những xác ma ở một hẻm núi. người. có thể bằng cha tôi.cậu hiểu không? Chúng ta chỉ đáng để đánh giày cho chúng. tôi tự biết rằng. . “Nhưng chúng ta có thể làm gì hả cu Mansur? Chúng ta không bảo chúng. Mọi người không thể chỉ đứng và nhìn. Tôi hỏi anh rằng có khi nào anh quá sợ không? . dường như cũng không thể ngủ: . Tôi đặt điểm ngắm cố định cho khẩu súng trường tự động – lên đạn. trong khi những suy nghĩ khác nhau chạy qua tâm trí tôi.“Mansur à. Cứ nghĩ rằng tôi sẽ bị day dứt thế nào khi ở lại mỏ: tôi sẽ phải nói thế nào khi chiến tranh chấm dứt? Rằng tiến tuyến cũng cần những người có khả năng. cách hẻm núi đó hàng ngàn cây số. sợ không?” Tôi cảm thấy như ai đó đánh vào bụng. ở làng Brichmulla đầy hoa. Của cậu và của anh! Chúng là “Ubermenschen”. Cả những cô gái cũng đựơc gọi ra trận. Tôi thật tình không muốn chết. Và cũng không còn hoả châu. Những tay súng máy Đức đã thôi bắn. . đặc biệt là ở mỏ để phục vụ cho việc bảo vệ tổ quốc? Điều đó đúng. 9 . tôi vẫn sẽ hăng hái đến phòng tuyển quân. Do đã có đủ thiếu uý nên yêu cầu của tôi được chấp nhận. tỳ báng súng vào vai. Chúng bị ngược nắng.“Chúng cách khoảng 300m” anh nói ”và ngược nắng”. Tôi có biết rằng tôi đối mặt với tử thần không? Tôi có. Điều này có nghĩa là tôi có thể tự do quan sát vị trí của chúng. bởi tôi sẽ thấy ngại khi phải chỉ huy những người lính ở cái tuổi.“Nào. tôi không muốn sống với lương tâm bị cắn rứt.Chặng đường đỏ từ Stalingrad . Điểm quan sát được nguỵ trang cẩn thận. nhưng chúng đến (một đoạn lời trong bài hát phổ biến). đến với tiền tuyến cùng đám bạn học sinh sỹ quan. Chúng muốn đất đai. chiếu sáng bởi ánh tím hoả châu… Dòng suy nghĩ bị ngắn quảng bởi sự xuất hiện của Suvorov. nhưng cũng như vậy. một quân nhân chuyên nghiệp. Tôi thẳng thắn thừa nhận rằng đã nhìn những người khác nhưng không thấy gì. Đêm đã qua. thuyết phục mọi người. đi nào. “Nào. hạ giọng: . tôi cảm thấy được khẩu súng – mọi thứ ổn cả – và tôi ngắm vào chiến hào quân địch gần kề. Tôi vui vẻ trở lại. Nhưng con người thật lạ thường! Lúc này đây.“Họ cố không để lộ ra thôi” Suvorov giải thích với một giọng thân ái và nháy mắt lần nữa như chia sẽ một bí mật “Cậu cũng không để lộ ra.

Tôi nhớ hai tuần trước. Rốt cuộc. Tim tôi đập loạn. Lúc đó tôi thấy ghét mình vô cùng! Đồ thất bại! Một cơ hội ngon ăn bị trượt! Tôi tin là tôi đã quá sợ. Sau đó. chúng tôi bị máy bay địch ném bom. ràng bằng dây thắt lưng. Mọi vật vẫn yên lặng. vì trong rừng phải bắn rất nhanh: gà rừng sẽ không ở lại chờ. Những tay lái tàu đột ngột cho tàu chậm lại hoặc chạy nhanh lên phía trước. tôi bóp cò lần nữa với tất cả sức lực. Nhưng việc gì xảy ra đây? Tôi dường như không thể đưa khe ngắm. Khói TNT và than đá. Điều này có xảy đến với tôi không? Tôi có bị giết không? Tôi có chết một cách vô nghĩa không? Không thể! Chết mà không kịp thấy được kẻ thù sau bấy nhiêu cố gắng để được ra trận ư? Bây giờ điều duy nhất mà tôi thấy là thảo nguyên bát ngát đến tận chân trời. Bọn Đức ngay tức khắc biến mất. sau khi sư đoàn của chúng tôi vội vã lên một chuyến tàu quân sự (trung đoàn 1034 lên tàu ở một ga nhỏ tên là Koltubanka) và đi ra mặt trận. Tôi chả ra ôn gì cả! 10 . quá lo vì sợ tôi chết mà không kịp gây tổn thất nào địch. Cha tôi đang giục tôi: “ Đừng ngắm nữa. Sự thật là tôi đã trượt. nhưng không có gì xảy ra cả. Ông cười đến nỗi phải ngồi xuống và ngẩng đầu lên. chúng bay mất! Tôi bấm cò. Điểm ngắm và dấu X nằm ngay trên một đường thẳng. Chúng đang đi trong chiến hào. Một chạc cây Bu-lo chống trên đất đỡ cho cây súng săn nặng. Đột nhiên. tiếng rên: tất cả những thứ này tôi đã thấy. Những trái bom không làm hư hại đoàn tàu. nhưng người còn vui hơn. Tôi vui mừng. và bây giờ tôi có thể thấy 3 tên. Sự yên lặng bị tiếng nổ phá vỡ. như thể bị thương. Đột nhiên tôi bắn ra – không phải đạn – mà là một phát rắm to. Chúng quay lại. thấy như mình muốn nổ tung vì căng thẳng. và tôi – từ từ. nhưng những phi cơ bọn Đức. ông chỉ tôi thấy rằng tôi đang bóp cái kẹp thay vì cò súng. tôi kéo cò. tôi từng săn. dù rằng chiến trường còn cách hàng trăm cây số. tôi thấy nóng ran. bay thấp. Người dạy tôi cách ngắm. Một dấu X khắc lên thân cây thông làm đích ngắm. Tôi quyết định ngắm vào tên đi giữa. Phải chăng tay tôi quá yếu? Tôi ước rằng cha tôi hoãn việc dạy tôi bắn cho đến khi tôi lớn hơn! Đỏ mặt vì căng thẳng. Tôi vẫn là một đứa trẻ. bắn được vào vài toa bằng súng máy. với một âm thanh kinh khủng nghe như tiếng xé vải dầu mà chúng tôi thường dùng may đồng phục thợ mỏ. Giá mà tôi có thể giết một tên trong bọn chúng! Để cân bằng.tuột xuống đáy điểm quan sát. Khẩu súng của tôi rất tuyệt – tôi có thể bắn trúng một cái lon ở khoảng cách 100m. Chính suy nghĩ đó đã làm tôi run và bắn vội vàng sớm hơn khi chúng vào tầm. đã thở và đã nghe. Tôi toát mồ hôi. Bọn Đức. và ngắm như thế này này!”. Chúng đi theo chiến hào của bọn chúng dọc chiến tuyến. Bao nhiêu tên nhỉ? Chúng mang rơm trên vai. Nó chảy đầy vào mắt tôi. máu của người chết và bị thương. và tôi vụng về ghì lấy cây súng. có sự di chuyển đằng trước. làm cha tôi hiếm khi đủ thời gian để nạp đạn cho khẩu súng. Cha tôi cười nghiên ngả. Tôi phải bắn ngay. Đột nhiên. Mục tiêu rõ dần lên.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Tôi nhớ những cánh rừng Siberi quê tôi. Tôi được 8 tuổi và cha tôi đang dạy tôi bắn: “Con đến đây. Khẩu súng run rẩy trong tay tôi. Không một tiếng động. Nhiều đồng đội của tôi đã hi sinh mà chưa giết được tên Fritz nào. tôi có thể thấy rõ từng chiếc răng trắng khoẻ của ông. mùi đất cháy. đầu ruồi và mục tiêu vào thẳng hàng: nếu đầu ruồi và mục tiêu thẳng thì tôi mất khe ngắm! Nếu có khe ngắm thì mất đầu ruồi!. Tôi cố bóp và bóp. mà là con người? Và tôi nhớ vài điều khác. bắn đi!”. Tôi bối rối làm sao khi nghĩ rằng đây không phải là gà rừng. tôi bắt đầu bắn tốt. Tôi rất vội vàng.

chính trị viên thường nói với mọi người về mục tiêu hiện cần đạt được đó là: mỗi chiến sỹ phải tiêu diệt được ít nhất một địch quân để kỷ niệm ngày Cách mạng CNXH. học sinh sỹ quan Lê Nin. Tôi chuyển điểm ngắm cách vài căn-ti-mét về phía trước tên Nazi ở giữa và bóp cò một cách êm ả. Tôi viết cả những điều đó vào lá thư thứ hai gửi cho cha tôi. Mọi người nên nhớ rằng trung đoàn của chúng tôi chủ yếu là những học sinh sĩ quan thiếu kinh nghiệm. Chỉ một phút trước tôi đã nguyền rủa mình. Ông hẳng sẽ tự hào về con trai mình! Tôi đã viết rằng tôi đã giết một tên Nazi và vì vậy “ Con sẽ không thấy hối tiếc cho dù điều gì sẽ xảy ra…” và thêm vào “Đây là một nơi kinh khủng …” 11 . Mansur G.“Tốt lắm. tì báng súng vào vai. nhưng bây giờ tôi ngập tràn tự hào “ Giá như chỉ một tay trong chúng tôi có thể nhìn thấy”.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Tất cả những điều đó lướt qua óc tôi trong giây lát. Chetkasov bảo tôi rằng tôi là người đầu tiên trong cả trung đoàn hạ đựơc một kẻ địch. chính uỷ tiểu đoàn.ND) đại đội nhỉ?” Tôi thấy đại uý Chetkaxov. tiếp tục chạy. Chính uỷ tiểu đoàn Đại uý Chetkasov”. gần làng Kletskaia. chúng vẫn đang chạy trong hào. Khe ngắm. Và nhanh sau đó tôi gia nhập Đảng Cộng Sản và được bầu làm partorg (tức bí thư chi bộ . Lo nhìn nạn nhân của tôi chậm chạp ngã xuống.ND) đại đội. Mọi thứ sẳn sàng.“Cậu là người đầu tiên trong tiểu đoàn gây đựơc tổn thất lên quân địch”. Tôi nhớ anh ta như trong hình ảnh một bài hát. cúi người thấp hơn và đi chậm hơn. Nhưng tư tưởng chiến tranh là mối quan hệ vật chất. tại phương diện quân Tây Nam. Tên Fritz đi đầu gập đôi người đến mức chỉ còn thấy bó rơm trên lưng. Bỗng nhiên tôi nghe tiếng gọi: . nhưng tên thứ hai thì đứng thẳng người. Anh ấy nghe tiếng súng. Vị chính uỷ tặng tôi một cuốn sổ. xoay vòng rồi đổ sụp xuống như một con búp bê bằng giẻ. bọn Fritz đâu rồi? Dĩ nhiên là chúng chuồn rồi. mục tiêu thằng hàng. Không. Ồ. Abdulin. Trang đầu. và tôi sẽ được nhận một huy chương “Vì lòng dũng cảm”. MỘt giờ sau. Thật lạ. đầu ruồi. Anh hạ ống nhòm xuống và cười với tôi: . Ở mỗi đại đội. “ Mọi người biết chính uỷ. một người Bolshevik già. giết một tên Hít le để vinh quanh kỷ niệm ngày thứ 25 Cách mạng tháng 10 vĩ đại. anh đã chính tay viết những dòng trích sau: “ Ngày 6 tháng 11 năm 1942. và rằng trung đoàn vừa đến mặt trận. tôi không còn run. Chính uỷ chúng tôi là một người tốt. sau đó. Một suy nghĩ thoáng qua: “Bây giờ thì không thể bắn hạ được chúng”. Sau đó tôi lại đứng dậy. tôi đã làm được nhiều điều quan trọng hơn trong những tình huống phức tạp hơn là phát súng thành công đầu tiên này. tốt lắm! Sao cậu không là komsorg (nghĩa là bí thư chi đoàn – đoàn TNCS Komsomol . quay người bò đến điểm quan sát và thấy tôi hạ tên Đức. Tôi phải nói rằng. anh không trẻ không già…”. đầu hắn giật ra sau một cách bất-tự-nhiên. tôi quên không để ý tên thứ ba như thế nào. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là “Không có anh chàng nào sẽ tin là mình đã hạ được một tên Đức”. trường bộ binh Tashkent. và đó là yếu tố cần thiết để đưa chúng tôi thích nghi với điều kiện hoạt động càng sớm càng tốt. Abdulin. là người đầu tiên ở trung đoàn 1034 gây tổn hại cho địch quân. Và tôi không nhận được huân chương nào cho những điều đó.

Chặng đường đỏ từ Stalingrad

Chương 2: Trận đánh đầu tiên
Ở về phía thượng nguồn, phía sau chúng tôi, là vùng Kulikovo, nơi mà 6 thế kỷ trước, quân Nga đã đánh bại quân bộ lạc Mông Cổ Mamai. Còn ở trước chúng tôi, cách một khu phân tuyến rộng 300m, là bọn rợ Hitle mà chúng tôi phải tiêu diệt. Ngày 14 tháng 11 năm 1942, trung đoàn chúng tôi được lệnh đột phá và chiếm tuyến phòng ngự của quân Đức. Về cơ bản thì đây là một trận trinh sát chiến đấu: dù vào lúc đó, những người lính không được cho biết về chiến thuật của chỉ huy, chúng tôi không có nhận thức được về sự thật này. Không có pháo binh yểm trợ, chúng tôi ào lên vị trí địch, trong khi đó bọn Fritz – để chống lại bước tiến của trung đoàn chúng tôi- buộc phải bắn bằng tất cả các loại hoả lực, và như vậy làm lộ vị trí của chúng. Đó là yếu tố cần thiết để các chỉ huy xác định chính xác vị trí các mục tiêu cho cuộc phản công sắp tới. Và dĩ nhiên, chúng tôi thất bại trong việc xuyên thủng tuyến quân Đức nhưng đã thành công trong việc xác định hoả lực quân địch. Chúng tôi mất nhiều người trong trận đánh, khi kết thúc, ở tuyến trận địa của chúng tôi chỉ còn đúng một tiểu đoàn trấn giữ. Bức tranh tổng thể của trận đánh đầu tiên trở nên rõ ràng hơn trong đêm đó, khi trận đánh kết thúc, tôi với những người sống sót đứng nhìn gần khu phân tuyến. Đó là một đêm mưa phùn. Trời trở rét. Trong bóng tối, chúng tôi có thể nghe tiếng đá vỡ lạo xạo dưới chân. Và khi trăng lên, dưới ánh sáng lạnh lẽo, là một quần thể hàng trăm bức tượng mang dáng vẻ con người - những người lính chết cứng trong đá. Một số thì nằm ngửa một cách thẳng thớm, số khác thì xoắn người, vặn vẹo. Người thì ngồi nhổm với cánh tay giơ cao, như thể giục giã đồng đội tiếp tục tấn công. Những khuôn mặt hoá đá với cặp mắt mở trừng trừng và miệng như đang hét. Nhiều thi thể khác chất chồng trên dây kẽm gai, đè bẹp chúng sát đất với sức nặng của chính họ, làm lộ rõ một lối đi đến chiến hào bọn Quốc Xã. Tâm trí của con người không thể hiểu thấu được cảnh đó, khó chấp nhận cái quần thể đông cứng đó là sự thật cuộc sống. Như thể nếu ai đó đột ngột bật camera lên và những khung hình đông cứng có thể bắt đầu chuyển động. Tuyết bắt đầu rơi. Trận bão tuyết đã che đi những cảnh tượng kinh khủng của cuộc chiến khỏi mắt chúng tôi. Đến sáng, mặt đất như được phủ lên một tấm chăn trắng khổng lồ. Một tấm vải liệm. Và bấy giờ tất cả những gì có thể thấy chỉ là một thảo nguyên trải dài: không vết gợn, thanh thản. Như thể sự trong sạch nguyên thuỷ trị vì một cách bất diệt ở nơi đây. Và điều đó kéo dài đến tận ngày 19 tháng 11. Phần lớn số đồng đội học sinh sỹ quan của tôi đã hi sinh trong trận đánh đầu tiên đó, là tiền đề cho cuộc phản công thắng lợi của chúng tôi ở khu vực Stalingrad. Tôi tự hỏi Khismatullin có thể biết được rằng họ muốn làm gì trong cuộc đời không? Anh ấy, cũng đã hi sinh trong trận chiến. Sáng ngày 19 tháng 11 năm 1942, hàng tảng đất to đột ngột bị bẻ vụn từ những bức tường lạnh lẽo của các chiến hào; mặt đất dưới chân lắc lư như thể là một miếng cao su lớn;và không khí cũng rung lên, kích động bởi những thứ gì đó to lớn, một lực vô hình, như muốn xé màng nhỉ và phổi chúng tôi. Lúc đó, qua vùng-đất-không-người, mặt đất nổ tung, văng lên hàng cột sỏi đất lớn lên không trung và rơi xuống như một chiếc khăn trùm đen nặng nề, tối tăm lên chiến hào quân Đức: tiếng súng quân ta, cô đặc vào một tiếng gầm đầy sát khí đơn độc, những sứ giả của cuộc phản công mong đợi từ lâu ở Stalingrad. 12

Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chúng tôi muốn hét lên “Hurrah!” nhưng chỉ phát ra được những âm thanh như “a-a-a…”. Mọi âm thanh rung chuyển! Và thật là lố bịch khi nghe những tiếng be be đó của chính mình và người khác: chúng tôi tốt hơn là nên im lặng khi đại bác lên tiếng! Trong lúc đó, tấm rèm đen từ đất cát vỡ vụng vẫn bao trùng lên chiến tuyến bọn Quốc Xã: “Chưa đủ phải không?” một ý nghĩa chợt đến, “pháo thủ của chúng ta lãng phí quá nhiều đạn, họ phải tiết kiệm một ít!”. Nhưng có lẽ, làm quá một tý so với cái cách quanh đây là tốt hơn. Tiếng gầm của đại bác đột nhiên ngớt đi. Vào phút đó, từ vùng tuyết sau chúng tôi, hàng trăm chiếc tăng xuất hiện và băng về phía trước, vượt qua chiến hào của chúng tôi. Sau khi nằm xuống và chờ chúng vượt qua chiến hào, chúng tôi nhảy lên: Suvorov, chỉ huy pháo đội mang máy ngắm, tôi, nòng, Fuat Khudaibergenov, giá đỡ, số 4, chân đế và số 5, đạn. Chúng tôi chạy thẳng vào bức tường đầy bụi đen đang chậm chạp rơi xuống. Chúng tôi vượt qua tuyến phòng thủ của bọn Nazi, nhưng ở đó không còn gì cả trừ đất đá và khói. Không còn bất kỳ một người sống nào! Tốt, có vẻ như sự hi sinh của những đồng đội chúng tôi năm ngày trước đây không phải là vô giá trị: biết được vị trí của hoả lực địch quân, pháo binh phe ta hôm nay đã quét sạch các mục tiêu, và cuộc phản công thắng lợi. Chúng tôi không thể thấy thi thể của quân địch: chúng đã bị chôn vùi trong trận pháo kích. Tôi nhớ đám quân Rumani đầu hàng mà không chống cự, hô “Antonescu kaputt! Stalin gut! Rus Kamerad gut!” và tiếp tục chơi bài Cachiusa (một bài hát Nga rất phổ biến – NV) bằng đàn organhơi. Ngựa của họ cũng rất tuyệt: đẹp và chải chuốt. Những bộ yên cương làm bằng da tốt, không cốt yên hoặc vòng cổ mà chỉ là những tấm đai dày và rộng. Thùng xe (ngựa) thì trang trí theo kiểu người Gypsy. Một số trông rất sang trọng với cửa sổ, rèm và chạy bằng bánh cao su. Sư đoàn bộ binh chúng tôi tức khắc chuyển thành kỵ binh! Mọi người đều có một con ngựa! Nhưng sang ngày hôm sau bọn ngựa phải bị bỏ lại. Đám pháo thủ chúng tôi quyết định thay lũ ngựa lùn Mông Cổ bằng ngựa kéo xe của Rumani. Nhưng ngay hôm sau đã thay ngược trở lại: họ vui mừng thấy đám ngựa Mông Cổ bị bỏ rơi đó không hề chán nản mà vẫn chạy cùng, như những chú chó trung thành. Lông lá, nhỏ bé, tiều tuỵ và ít chăm sóc, lũ ngựa Mông Cổ rất dai sức và phục vụ chúng tôi đến cuối cuộc chiến. Trong khi bọn ngựa nòi Rumani lần lượt bị bỏ lại. Dù đẹp và đỏm dáng, chúng quá mỏng manh cho chiến tranh. Bạn đã từng thấy một con ngựa bị thương chưa? Tôi đã thấy. Đó là con ngựa tôi đã cưỡi được vài cây số, cho đến khi một quả đạn nổ cạnh chúng tôi. Tôi rớt xuống sau khi lộn vài vòng trong không trung. Khi đó tôi thấy con vật: chân trước cố chống lên, cử động giật cục như đang nhảy; toàn thân nó đẫm mồ hôi, các cơ rung lên với một cố gắng vô vọng. Con vật tội nghiệp không hiểu rằng nó không thể đứng dậy được nữa. Mũi nó phập phồng, hồng hồng và thấm đẫm máu. Nó rên rĩ như người, và nhìn tôi với cặp mắt mở to, nó khóc. Tôi đứng gần đó nhưng không đủ nghị lực để bắn. Vài người lính già đã dừng lại và chấm dứt sự đau đớn cho con ngựa tội nghiệp. Họ rút khẩu carbine dí vào tai nó và bắn. Tôi đang khóc khi viết những dòng này. Chú ngựa đã chết đó nghĩ gì khi nó nhìn tôi với cặp mắt mở tròn? Rằng con người là một giống loài bệnh hoạn, một quái trạng của tạo hoá? Không, quan điểm này chỉ được biết bởi chính con người. Ở thời khắc sau cùng, con ngựa đã mong đợi ở tôi – một con người – sự giúp đỡ và bảo vệ. Vùng Kalach bên bờ sông Đông được giải phóng bởi lực lượng tăng. Lũ bộ binh chúng tôi chỉ tiến vào thị trấn đã đựơc tự do đó một ngày sau. Chúng tôi không tham gia vào chiến dịch đó, 13

Chặng đường đỏ từ Stalingrad chúng tôi chỉ đi qua vùng này thôi. Trước khi vào Kalach, khi đơn vị chúng tôi đang hành quân kéo dài trên xa lộ - vài tay cưỡi ngựa, những người khác thì đi bộ – đột nhiên chúng tôi nghe tiếng hét… - “Máy bay oanh tạc” Máy bay nào? Hôm nay trời mù sương! Rồi tôi nghe tíêng động cơ ro ro. Tôi thấy bọn chúng: những chiếc máy bay ném bom bụng phệ của bọn Đức, bay thấp dưới 100m. Chúng ngay trên dòng người của chúng tôi, thảy xuống những món đồ của thần chết. Bom rơi như mưa trên lộ, nhưng chúng không nổ liền. Trong vài giây, tôi cố chạy lên phía trước, nhảy qua những người nằm chúi xuống đất khi nghe báo động. Tôi chạy tránh hoặc nhảy qua những quả bom vừa rơi xuống, có chừng mười quả trước mặt tôi. Tôi nghe những tiếng nổ phía sau – tiếng ầm vang liền nhau, vụn đất rơi trên đầu. Đột nhiên, trong đầu tôi loé lên rằng tôi phải chuyển hướng chạy, nên quẹo phải rời khỏi con đường. Và tôi đã làm như vậy. Nhưng ngay lúc đó, trước mặt tôi, tôi thấy một vật kim loại bự lăn tròn trong hào. Tôi không có thời gian để đi vòng qua nó. “Nó rơi xuống bao lâu rồi?” tôi tự hỏi “mình có làm được không?”. Tôi cảm thấy bực bội khi nhảy qua nó bởi vì tôi thấy mình chậm quá, như thể có một khối nam châm lớn đang hút tôi lại. Sau chừng nửa phút, tôi chạm được đến đất. Có thứ gì đó bay qua đầu tôi và rớt xuống phía trước. Tôi nhảy qua. Cái gì vậy? Một cái đầu ngựa cùng với dây cương: tôi nhận ra đó là con ngựa của trung đội trưởng. Tôi nhào xuống và dán người sát đất, tìm một chỗ trú ẩn. Sức nổ xé tan chiếc ba lô sau lưng tôi và ném nó đi. Đờ đẫn, tôi chệch choạng đứng lên, ho và nôn mửa như muốn dốc ruột ra. Đất đen quanh tôi – hoàn toàn không còn tuyết – những mẫu chân tay đẫm máu, mùi cháy khét, tai tôi đau nhứt. Trong đầu tôi, vẫn lưu một hình ảnh khi đang chạy theo bản năng: một quả bom tròn đáp đúng vào lưng ngựa trung đội trưởng chúng tôi. Anh ấy bị xé vụn, một chân rớt trên đất, chân kia còn trên bàn đạp. Con đường nhầy nhụa máu: những gì còn lại của những người đã nằm xuống khi nghe tiếng báo động. Chiếc cầu qua sông Đông, vốn được lính tăng dùng để đột kích vào làng, đã bị không quân Đức phá huỷ: chúng tôi qua sông trên mặt băng trơn nhẵn, hầu như không thể đi. Nặng nề với nòng, với giá đỡ, chân đế của khẩu cối, chúng tôi hoàn toàn có thể làm vỡ băng – đặc biệt nếu ai đó bị trượt ngã – và tất cả sẽ kết thúc trong dòng nước lạnh lẽo. Chúng tôi được lệnh mang đầy đất trong mũ, trong vạt áo khoát và ném chúng ra phía trước, mỗi người đi cách nhau 5m. Bằng cách đó, chúng tôi lần lượt vượt qua lớp băng mỏng manh, lấp lánh. Mặt băng võng xuống dưới chân chúng tôi, đe doạ sẽ vỡ bất kỳ lúc nào. Chung quanh tôi chỉ nghe những tiếng thở nặng nề và những tiếng càu nhàu khe khẽ. “Yên nào”, “Cậu đi nặng như voi ý!”,”Cẩn thận”. Cây cầu ở gần đấy. Đội công binh sửa trên đó trông như một bầy kiến. Xe hơi, xe ngựa dồn cứng trước cầu và vẫn còn rất nhiều đang đi đến. Pháo cũng phải chờ công binh sửa các nhịp cầu hỏng, vì lớp băng quá mỏng để có thể đi qua được. Nhưng còn chúng tôi, bộ binh thì đã sẵn sàng bên tả ngạn. Thiết giáp của chúng ta ở đâu nhỉ? Trên tất cả các ngả đường từ sông Đôn đến thị trấn – trong chiến hào, trong mương rãnh, dọc đường – chúng tôi thấy nhiều xác quân Nazi và những khí tài hỏng của chúng. Lực lượng tăng-thiết giáp hoạt động rất tuyệt. Chúng tôi đến Kalach vào lúc rạng đông. Những con phố vắng là chứng nhân cho các phi vụ ác liệt của quân địch. Mọi thứ đồ đạt, của cải, bị bỏ lại – rơi vãi chung quanh. Những cánh cửa sổ mở

14

Đầu óc tôi xoay sang những khả năng khác. tôi không có cách nào hơn là tuân lệnh. chúng tôi quyết định là sẽ đi xa chừng nào có thể trên chiếc xe đạp lấy được. tôi thuyết phục anh ấy rằng như vậy quá nguy hiểm. bởi tôi không muốn bị cho là một kẻ non gan. Nhưng Mayorov không nghe. và sẽ tốt hơn nếu hai người cùng đi trước-sau. và cũng vì mệnh lệnh không phải là thứ để tranh cãi. tựa vào bậu cửa… Quân địch ở đâu nhỉ? Cách đó tám kilomét là Illarionovskaia. như vậy người đi sau có thể yểm hộ cho người đi trước. Trong giây lát chúng có thể xuất hiện ở quanh đây.” nếu thấy xe của tôi còn ở đây thì đợi tôi chừng 15. trói gô tôi mà không có ai phía sau bắn chúng. một học sinh sỹ quan trường Không ảnh Orsk (Orsk Aerial Photography School). Và đây là cách tôi đi: cứ mỗi 200m. “Cậu sợ à?” anh ấy lên giọng hỏi. tìm hiểu xem bọn Đức có đó không và báo cáo lại. không hơn”. thì chúng sẽ đặt lính gác: ẩn nấp. Anh ấy được giao chịu trách nhiệm. Gượm đã. Chúng tôi được lệnh rằng chúng tôi có 4 tiếng đồng hồ để đến đó. đi và rồi lại nằm xuống… Đột nhiên tôi nghe tiếng ngựa ợ hơi. Tiểu đoàn trưởng Dudko và chính uỷ Alexander Chetkasov cho gọi tôi và một anh Mayorov nào đó. Tôi nằm xuống đất và cố tính xem tôi có thể thấy bao xa từ đây – có lẽ chừng 200m. Một lát chúng tôi đến một ngã ba đường. vượt qua những chốt tiền tiêu và biến vào bóng tối.3 tuổi. Bấy giờ. lộ rõ và không có yểm trợ: không phải như một tay trinh sát mà như một người tù chuẩn bị ra thẩm vấn – một con mồi dễ dàng cho quân địch. Nếu bọn Đức đang chiếm ngôi làng và đội tuần tra của chúng ở đâu đó gần đây thì sao? Tôi cho rằng cả hai con đường đều đến làng Illarionovskia nhưng từ các hướng khác nhau. để có thể rút chốt an toàn bằng tay phải. Tôi sẽ không để chúng bắt sống tôi. nguỵ trang và nằm chờ. Mayorov lớn hơn tôi chừng 2. tất cả đều xì xào “Hãy sẵn sàng hi sinh.20 phút. Mi thật may mắn. lắng nghe một chút. kính vỡ ở khắp nơi. Tôi thấy hai người đàn ông trên lưng ngựa. Tôi cầm quả lựu đạn chống tăng ở tay trái. mọi người có thể thấy một xác lính Đức mặc áo dài. Tôi không nghe thấy âm thanh gì đáng ngại (Tôi biết đất truyền âm tốt). Mansur! Ngộ nhỡ trực giác của mi sai. Còn tôi thì đi thẳng về bọn chúng. Nhưng lũ ngựa không phải loại dành cho kỵ binh mà ngựa kéo xe. một tay tráng kiện. chắc nịch và tầm thước. còn ở trường bộ binh Tashkent. Tôi bối rối. Thảo nguyên phía trước tôi phủ đầy tuyết. Cả hai người đó đều đội ushanki (mũ lông trùm tai truyền thống của 15 . Mansur ạ! Phát hiện ra kẻ thù trước là cứu được mạng! Tôi trườn về phía trước vài mét như một con rắn. Dường như bọn Fritz nhảy qua cửa sổ xuống đường. một ngôi làng lớn. Và sau đó anh ấy chọn đi một lối và tôi lối còn lại… Tình hình đột nhiên trở nên vô vọng. Tôi không biết Mayorov thế nào. và chuẩn bị cho mọi điều”. khẩu tiểu liên và lựu đạn sẵn sàng. “Chúng ta sẽ gặp lại ở đây!” Mayorov gầm gừ.Chặng đường đỏ từ Stalingrad toang. Nếu bọn Đức còn trong làng. họ dạy chúng tôi những điều cơ bản về một cuộc trinh sát đêm: vì thế khi anh bạn đồng sự quyết định rằng chúng tôi nên chia ra và mỗi người đi một lối. tôi áp tai vào đất. và đúng ra là chỉ có một con đường đến Illarionovskai thì sao? Như vậy rõ ràng là quyết định phân chia ra của Mayarov là đúng. rồi nhổm dậy. nhưng phải giữ tinh thần. Lúc đó là 8h chiều. Ở đằng kia. Để tiết kiệm thời gian. Nhưng tôi thấy bất an với hành động “trinh sát” điên khùng này. Chúng tôi đạp tốc lực trên đường mòn vẹt bởi bọn Đức rút lui.

đại đội hành quân từ ga Filonovo về phía Sông Đôn. Áo khoát cho thấy dấu vết của thắt lưng (anh ấy có một cái thắt lưng rất rộng theo kiểu Rumani) và chân vẫn còn giày. “Đứng lại. anh ta.. xà cạp. họ bắt đầu luyến thoắng: rằng họ từ làng Illarionovskaia và rằng bọn Đức đã thiết lập phòng thủ ở đó. Nhưng giờ thì đầu óc tôi quay mòng mòng! Giá mà lúc đó là mùa hè. Tay thượng sỹ lê vào giữa đám – đang nằm mê mệt trên mặt đất – mời đến nhận bánh mì. Có một câu chuyện kỳ lạ trong mối quan hệ của chúng tôi… Sau khi trận bom mà tôi đã kể trước đây. tôi sẽ kiếm vài thứ cỏ và rễ nào đó để ăn. Trong suốt cuộc hành quân chúng tôi không nhận được chút bánh mì nào. Tôi lục soát và tin rằng họ nói thật. Đói lả.nhiều đồng đội của tôi đã ngã xuống trước hoặc sau sự kiện này – nhưng cái chết của Mayorov ám ảnh tôi cho đến tận ngày nay. bọn ngựa trông béo tốt. và nếu không có bánh mì chúng không thể kéo 16 . Những tù nhân của bọn Đức chứng nhận rằng anh đã không hé nửa lời trong các cuộc thẩm vấn và sau đó anh bị bắn chết. tôi tưởng anh ta chả mang theo tý bánh mì nào bởi vì trước đây trông anh thường béo tốt hồng hào. Họ phi rất chậm và nói chuyện khe khẽ. Trong một đêm nào đó sau sự kiện làng Illarinovskaia. Chúng tôi chôn anh trên một quả đồi nhỏ phía bên phải ngoài làng. tuy thế vẫn rất lo lắng: vì lỗi của mình mà cả một đại đội bị bỏ đói cả tuần. sỹ quan quân nhu. Lúc đầu. Hai tay đó im lặng. giơ tay lên!” họ dừng lại và giơ tay ngay lập tức. Anh nằm úp mặt. vậy họ không phải là bọn Nazi. chúng tôi tiến công vào làng Illarionovskaia. rõ ràng là yếu đi bởi đói. Tôi chắc chắn sẽ tìm được chúng dù đây là thảo nguyên chứ không phải là rừng Siberi. Anh sinh ra ở vùng Oriol. Có thể chúng là bọn Politsai (lực lượng cảnh sát bản địa do Đức dựng nên – NV)? Nhưng tôi không thấy mang vũ khí. đến nỗi tôi bắt đầu nghĩ rằng chúng tôi sẽ bị chết đói hơn là bị bắn bởi quân Nazi. Chúng tôi có thể nghe thấy mùi bánh mì đen trong toa xe. Tôi biết là tôi không chịu trách nhiệm cho cái chết của Mayorov. một người lính trong đại đội tên là Nikolai bị thương. Trước đó. nặng trĩu. nhưng anh ấy đã không trở lại dù 20 hay 40 phút …. nhưng chúng tôi vẫn quyết định là sẽ ăn trước rồi chửi anh ấy sau! Mỗi người được một ổ bánh. Trên đầu còn một lớp lót nhưng không thấy nón. kéo theo một toa xe hai bánh lớn. đột nhiên lại xuất hiện. “Các ông là ai? Từ đâu đến và đi đâu?”. Tuy chả ai còn đủ sức để gắt gỏng. Tôi chờ Mayorov. tay lăm lăm khẩu tiểu liên. Viên thượng sỹ vội giải thích rằng anh đã phải cho ngựa ăn bánh mì. còn bây giờ thì hốc hác và tái nhợt. Hoặc lẽ ra tôi nên bỏ qua lệnh cuả anh và vẫn đi theo để yểm hộ anh? Đã quá trễ rồi cho việc suy xét các khả năng. và bắt đầu đến. Sau khi chúng tôi đến điểm tập kết. Tôi tiến gần họ. chúng tôi tìm thấy thi thể đầy thương tích của Mayorov gần sở chỉ huy bọn Nazi. Lẽ ra tôi không nên quá xấu hổ khi bị coi là một kẻ nhát gan? Lẽ ra tôi nên cố thuyết phục anh ấy rằng phương án của tôi là tốt hơn? (quả thật là cả hai con đường đều đến làng Illarionovskaia). Nhưng lũ ngựa của anh thì khoẻ mạnh. một thượng sỹ (có lẽ bản gốc là starshina-chức chuẩn úy quân nhu. mọi người đều nản lòng. anh em mong sớm qua Sông Đôn và có mặt ở tiền phương. béo đến nức vai. Anh em rất đói. Dù rất mừng đã tìm thấy được chúng tôi. nhìn tôi một cách nghi ngại. Bấy giờ họ đã đến trước mặt tôi. Khi nhìn thấy bộ quân phục Hồng quân. Khoảng 5 ngày sau. nhưng vẫn bị dày vò bởi sự lưỡng lự của tôi. tôi gửi họ về trung đoàn để báo cáo.Chặng đường đỏ từ Stalingrad người Nga-NV). Còn tôi thì quay trở lại nơi Mayorov và tôi để xe đạp lại. chỉ đủ sức lê bước thôi. makhorka. bởi vì bộ phận hậu cần bị lạc và không tìm được chúng tôi. Chúng tôi không trách. chúng tôi rời tàu. Danngoc). ở sông Đôn. Khi bọn Đức đã bị đá ra ngoài. Chúng tôi yếu đến mức không còn sức để chửi bộ phận hậu cần. đường.

tóc cắt ngắn và mặt đỏ như thể anh mới vừa từ bania (tức nhà tắm hơi kiểu Nga – NV) ra. tôi đọc được “Good man!” (chỗ này em không dịch vì để vậy hay hơn-Tieungoclang). Anh bỏ súng lại vào bao và không một lời. đừng ăn tham quá” anh ấy nói “sẽ bị đau đấy! Các cậu chỉ nên mút từng tý. những ngón tay tôi nhận thấy có hai ổ bánh mì. theo lệnh của tiểu đoàn trưởng. Tiếng la lối của anh em tới tai tiểu đoàn trưởng. trong khi đầu óc miên man nghĩ về việc bao giờ thức ăn đến và khi nào tôi trở về. và chủ nó dường như lo lắng phải mở nó ra. Anh bảo chúng tôi không nên ăn quá 100g cho lần đầu. Trong giây phút. Bất đắc dĩ. quay bước về lại sở chỉ huy. Sau trận đánh. nhưng rồi mất ngay. Tôi không tin vào mắt mình! Mọi người trong đại đội trở nên kích động. Chúng tôi cười nhạo tay thượng sỹ với vẻ mặt lo sợ khi nhìn thấy chúng tôi nằm thẳng cẳng trên đất. “Tên vô lại đó sẽ bị bắn tại chỗ!”. Chúng tôi có thể nghe tiếng rít không khí khi chúng vào ra ở ngực anh ấy. anh ta cuối đầu tránh những cái nhìn thấu xương của chúng tôi. nhưng cả đại đội đói!!”. và chúng tôi lại sốt ruột nằm chờ cấp dưỡng đến. Còn Nikolai thì lấy tay che mặt. Tiểu đoàn trưởng hỏi việc gì đang xảy ra. lúc ấy đại đội lại bị bỏ đói 24 giờ. Anh luôn đeo huân chương Cờ đỏ trên ngực. Pavel Suvorov gật đầu đồng tình: “Thượng sỹ nói đúng. “Tôi không đụng tới bánh mì”.Chặng đường đỏ từ Stalingrad xe. Hiểu rằng số mệnh đã định. Chuyện đó xảy vào một một đêm sau sự kiện làng Illarionovskaia. chúng tôi thuật lại. Ván trượt dưới 17 . nằm yên cạnh đồ đạt của anh xuống vài tiếng đồng hồ. từng mẫu một thôi!”. Gridasov đã bị thương. đẩy hắn sang bên. và trong mắt anh. Thực vậy. vốn thường nằm gần trung đoàn bộ – hơi xa. “Này các cậu. Và cũng cười vì một anh quân nhu béo tốt ngày nào giờ trơ xương như mọi người. như ăn kẹo ấy. Tôi muốn ăn thêm một miếng nữa nhưng ổ bánh trong giỏ của tôi biến mất. Không khí ẩm uớt của đầu tháng 11 loang đầy mùi chua của bánh mì đen. Nhưng lại có việc không vui. theo ý tôi! Bất hạnh thay. Trời sụp tối rất nhanh. và mỗi người cắt một mẫu bánh của họ. Mọi người trong đại đội vớ lấy ba lô và giốc ngược mọi thứ bên trong ra áo mưa. Tôi đứng dậy: lập nghiêm rồi báo cáo: “Không thấy ổ bánh bị mất!”. mang lại cảm xúc cho từng người. Anh em trong đại đội nhẹ nhõm thở phào. và nhớ rằng chúng tôi đã gần chết như thế nào. nếu chúng chết thì toàn bộ bánh mì chắc mất. Giờ thì mọi việc ổn cả và chúng tôi có một buổi tiệc thực sự. không thì sẽ bị đau dạ dày. dù gì thì tay thượng sỹ cũng là một người được! Anh ta cắt một mẩu bánh nhỏ từ ổ bánh và khuyên chúng tôi làm theo anh. gương mặt đại uý thoáng qua vẻ bối rối. Anh ấy lùn. Tôi lập tức lên đường. Hai hay ba tuần sau đó. Một người đã bị kết án với một cái chết thổ thẹn đã được tha thứ…. Chỉ còn một cái còn cài. vui vẻ với lương tâm trong sạch “Tôi no. Cuộc sống trở lại với chúng tôi. cúi xuống ba lô và ngay tức khắc đưa tay vào trong ba lô. anh tháo bao súng và lấy khẩu súng ngắn ra. sau một thời gian trong bệnh viện. Ở đó. tôi đeo đai của chiếc cáng tải thương tự chế có gắn ván trượt vào người. anh nói. chậm chạm kéo theo người bị thương nằm sóng xoài. “Soát cái đó!”. Mọi người chờ đợi trong yên lặng. Nikolai bị thương nặng ở phổi do một mảnh đạn pháo. Không ai nói gì thêm về ổ bánh bị mất. Anh bắt đầu (mở) khi nghe viên đại uý lên đạn súng lục. Không có quân y trong tiểu đoàn chúng tôi. Lúc đó chỉ huy là đại uý Feodor Gridasov. Chúng tôi gần như thở ra bánh mì. tiểu đoàn trưởng trỏ vào cái ba lô. cho vào áo tôi. Nikolai vẫn bất tỉnh. Dạ dày từng người tham gia vào việc hấp thụ nó. Tôi chen qua Nikolai (nên của người ăn cắp). anh ấy biết mình đang nói gì”. chúng tôi tự thu nhặt và mang thương binh đến các bệnh xá. anh vừa trở về trung đoàn chúng tôi. khi đó tôi lại được lệnh mang thương binh về tuyến sau.

rằng tôi có thể quay lại đúng lúc để có được một suất ăn nóng hổi. thơm ngát đặt ngay trước mặt tôi. nóng. anh vẫn còn nằm trên cáng.“Masur…. vì thương binh sẽ chết trước khi tôi kịp đưa anh đến trạm phẫu. Phải chăng tôi tưởng tượng? Không! Nikolai tỉnh lại. mắt như nhảy ra khỏi hốc. Chỉ là tôi cố gắng để có một lương tâm trong sạch. Nhưng tôi quyết đưa Nikolai đến trạm phẫu dù còn sống hay chết! Tôi không thể nói rằng tôi đã cứu sống anh ấy lần thứ hai bởi vì một sự ưa thích biệt lệ với anh. tôi nói dối ngay “ đây là một thương binh nặng!” (ghi chú: trung đoàn Mansur thật ra là 1034) Tôi bước sải vào trong hầm. thở khò khè. Đột nhiên tôi thấy rã rời. khi đó đột nhiên tôi nghe tiếng gọi: . Đêm xuống. tôi bắt đầu nghĩ rằng tất cả những cố gắng này là vô nghĩa. Một tay hộ lý có gương mặt mập bự đứng trước mặt tôi hỏi.“Chúng ta đúng chỗ rồi” Không chút lưỡng lự. quyết tâm chiến thắng con quỷ tồi tệ – điều mà tôi ghét – đang có trong tôi! Tôi như chìm ngỉm trong khe núi chen đầy những đơn vị thuộc tuyến sau. Tôi ăn và ngủ gục ngay trên chiếc bàn đó. như thể tôi trốn chạy khỏi những suy nghĩ tối tăm đáng thổ thẹn: như tôi đã thú nhận. không hề dừng lại. không thể kéo Nikolai đi cho dù chỉ một bước. Mùi thức ăn ngon hoà lẫn với mùi phân ngựa. cửa mở ra: tôi hỏi với một giọng khản đặc rằng tôi có thể đưa thương binh vào đây không.“ Trạm xá nào đấy” . Tôi hỏi: . mùi khí đốt. bắn tôi đi … hoặc để mặc tôi lại nếu anh không thể… tôi làm anh kiệt sức mất…” Nhưng lời anh ấy như làm tăng sức mạnh của tôi! Tôi tròng đai vào và tiến lên. Tôi cố cửi dây đai và đi lại chỗ anh ấy: . . Tôi dừng lại. làm đấu óc tôi choáng váng! Khi đến được khu hầm trú ẩn. . tôi thấy được ánh sáng hắt ra từ những ô cửa nhỏ. mùi cỏ khô sộc vào mũi. đến đứng cạnh một cái bàn như thể là chủ chỗ này. đây là trung đoàn 1026” và cánh cửa nặng nề đóng sầm lại. vì vậy tôi chỉ có thể xác định anh ấy còn sống không khi dừng lại. không nhìn lại phía sau.Một đĩa cháo lúa mạch đặc. Những cô y tá mang Nikolai vào. .“Trung đoàn nào?”. đâu đó trong óc tôi. Tôi tiếp tục đi. đầu chuyến đi.“Vậy thì anh phải đi tiếp thôi.”. . Tại sao điều xấu và điều tốt lẫn lộn trong tôi?! Tôi trông có vẻ kinh khủng trong đêm tối: răng nhe ra.“Masur. có hi vọng rằng Nikolai sẽ chết và tôi có thể thoát khỏi gánh nặng này.“Cho tôi chút gì để ăn với” tôi nói.“1034” Tôi trả lời . một làn hơi đầy mùi vị bao quanh. Tôi gõ cửa và lại một tay hộ lý khác xuất hiện.“1036” anh ta trả lời .“Mansur…”. Tôi thử vào một trong số các hầm. Tôi có thể làm gì với tay quan liêu kia? Tôi những muốn nã một phát đạn vào cái trán hẹp của hắn: nhưng khi đó tôi sẽ đối mặt với một phiên toà quân sự và một phát đạn để đổi lại! Đến một hầm trú ấn khác (những hầm này vốn được bọn Nazi dựng lên. . 18 . đẹp). cứ mỗi lần lại lắng nghe tiếng rít ở ngực người lính bị thương: anh ấy vẫn chưa chết. Tôi tự ép mình phải đi vòng qua những chiến hào và hố đạn pháo. Tôi dừng và lại dừng. Anh ấy đang rên rỉ và nói cuồng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad cáng tải thương gây ra tiếng động rào rào khi đi qua tuyết.

rộng bản. Với một thái độ nghiêm nghị anh ta đứng trước mặt anh nuôi với ‘cái xô’ ấy và yêu cầu: ‘Đổ đầy vào!’ Tsibulia không tranh cãi với anh ta. có lẽ chôm chỉa được ở đâu đó. để “nắn thẳng” một địa đoạn chiến tuyến. nhưng lặng lẽ đổ vào chỉ một phần cháo. vì anh ta đã hành động như một anh hùng… Đó là vào một ngày bộ chỉ huy sư đoàn lệnh cho đại đội chúng tôi tiến công quân địch. tôi sẽ không quên anh…. Trên ngực áo khóac của Tsibulia ta có thể thấy một chiếc huy chương. Tên của anh ta là Kuzma. trong tiếng Ukraina có nghĩa là ‘củ hành’. đánh cận chiến. mấy anh chàng này! Giá như tên của tớ khác đi. Chúa sẽ phù hộ anh an toàn trở về …”. một tay chuẩn hạ sĩ (lance coporal – khó dịch quá vì không có trong QĐNDVN) có cái họ ngộ ngĩnh: ‘Tsibulia’. mọi binh sỹ tiền tuyến bị cấm rút 19 . vì thế có thể sử dụng trong chiến đấu như một thanh kiếm. nơi cậu có thể chén thả cửa tùy thích phải không?’ Thành thạo đảo cái muôi cháo. anh ta mệt lử và hốc hác. Trong trường hợp ấy. sau đó.“Mansur. Một tay lính khác đi tới với chiếc cà mèn thiếc: khẩu súng trường lấp lánh.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Họ đánh thức tôi dậy khi trời vẫn còn tối vì biết rằng tôi phải về lại đại đội trước lúc rạng đông. chàng ‘bảnh bao’ có một cái hộp kim lọai tháo từ bao đựng mặt nạ phòng độc của Đức. Tôi đã ăn sạch phần cháo nên họ cho tôi nửa ổ bánh mì để đi đường. khi nào tôi còn sống. chỗ cháo này chắc chắn còn nhiều hơn cả mớ óc trong đầu của ku em đấy!’ Chúng tôi cười nghiêng ngả. trong balô anh ta có hai quả lựu đạn chống tăng và đầy một cơ số đạn. Suốt nửa chặng đường đến trạm xá tôi kéo theo sau một kẻ cướp đã đựơc tôi tha thứ. trêu chọc cái họ của anh. anh ta có thể phân biệt chính xác – thậm chí cả trong bóng tối – anh lính có tính cách ra sao đang đứng trước mặt: ‘Tớ có thể nhìn thấu qua cậu. khi nhận phần cháo đặc của mình. Rồi kế tiếp là một anh chàng ‘bảnh bao’: anh ta khóac một chiếc áo chòang sĩ quan và đeo một chiếc dây lưng sĩ quan còn mới. Anh ta có quyền tự hào về nó. khi anh ấy yêu cầu tôi bắn hoặc bỏ anh ta lại. mày có cả chảo đầy thế kia mà!’ ‘Ừ. giống như một nông dân quen lao động cực nhọc. Trong đó. có một tay anh nuôi tại tiểu đòan bộ binh chúng tôi. mặt luôn giữ một vẻ lạnh lùng với anh chàng ‘bảnh bao’ kia. lại đây…”. Cánh bộ binh chúng tôi. Tôi đến góc xa nhất của căn hầm: Nikolai của tôi vẫn còn sống! . Thay vì một cà men lính theo quy định. có thể chứa ít nhất bốn suất cháo. tôi nói lời chia tay với một đồng đội. Tsibulia khá hào phóng với món cháo và múc cho anh một suất thứ hai. chúng tôi bò đến sát chiến hào quân Fritz và ào lên tấn công. tớ hẳn đã không phải hùng hục làm cái công việc như nô lệ này!’ Khi Tsibulia chia cháo cho chúng tôi. hả đồ chó. nói thật cho chúng tớ xem! Cậu tự chế ra cái tên ấy cho mình là có mục đích. anh ta trả lời. và cầu mong rằng anh ấy sẽ sống và bình phục. cái họ dường như quá hợp với công việc của anh: ‘Kuzma. và tớ biết rằng cậu chưa nhận được phần cháo!’ Tay binh nhì xấu hổ và không thốt nổi lời nào. còn trên đầu là chiếc mũ lông Astrakhan. thắt lưng anh ta đeo một khẩu Parabellum lấy được của bọn Đức. Tôi nghe tiếng gọi: . Trong đêm. thườngcười trêu anh ta.“Mansur. anh ta thực sự xứng đáng nhận nó. tôi lại chạy trốn khỏi những ý nghĩ tệ hại của tôi: và bây giờ. Còn nói về xe nhà bếp. Anh kia không nhúc nhích mà khăng khăng: ‘Tại sao. để các thủ trưởng sẽ ban cho cậu một vị trí ấm áp. Quân ta hi sinh rất nhiều – bởi phe địch đông hơn chừng 3 lần – tôi đã tưởng chừng như cả đại đội sẽ bị xoá sổ. đến nỗi quân Đức nghe thấy thế liền bắn sang mấy lọat đạn. chiếc xẻng của anh ta sắc như lưỡi dao cạo. ‘Ô. dưới hoả lực hỗ trợ của pháo binh. như theo mệnh lệnh số 227 “Không lùi!” của Tổng tư lệnh tối cao (Mệnh lệnh số 227 của Stalin ban hành tương tự như mệnh lệnh “Trụ vững” của Hittler vào mùa đông 1941.

Vào thời khắc định mệnh đó. và lập tức tất cả bọn Nazi biến mất khỏi chiến hào! Sau đó. chính Tsibulia – tưởng như đang ngủ trong chiếc xe ngựa hậu cần hai bánh của anh ta – đã thâm nhập vào tuyến địch. đổi mạng mình với giá đắt nhất: chính hành động anh hùng đó đã mang lại cho Tsibulia huy chương Vì lòng dũng cảm. ít ra. bọn ngựa bị những phát đạn nổ gần làm hoảng sợ đã phi thẳng về chiến hào kẻ thù. vốn có quyền bắn bỏ những ai định làm như vậy – ND). mang theo tay anh nuôi đang ngủ gà gật. 20 . Chúng tôi nghe thấy tiếng tiểu liên ở sau lưng quân địch. nhận ra tình thế. và anh bắn ngay vào quân Fritz. Khi Tsibulia tỉnh dậy. một phép màu đã xảy ra. và được giám sát bởi các đơn vị đặc biệt. chúng tôi rất ngạc nhiên thì nhận ra rằng. Thì ra.Chặng đường đỏ từ Stalingrad lui. với hi vọng rằng.

một trong những cái máy khâu đó. Lữ đoàn tăng số 69 tham gia chiến đấu ở cùng khu vực của sư đoàn bộ binh 293 chúng tôi. cố dập tắt lửa trên người. bệ cối. anh cũng là một người công nhân tốt và là một người đàn ông tử tế với gia đình. hét lên “ Cứu lấy đại tá!”. Trong khi vẫn cố hét: “Này anh em. chiếm lĩnh vị trí. Bên lính tăng đã có một khoảng thời gian khó khăn. Mọi người cố chạy vòng chiếc tăng bị cháy. Chiếc xe bùng cháy dữ dội như thể làm bằng gỗ. một tay đào vàng. khi các lực lượng của phương diện quân Tây Nam tiến lên phía trước thì nhận được một mệnh lệnh mới: liên lạc với các đơn vị đang hành quân từ phía nam lên để cùng phối hợp. Tôi nhớ cái ngày này với một chuỗi hình ảnh các trận chiến không ngớt. Một lính tăng nhảy ra. Với anh. Ôi. Chẳng qua là anh bị trượt chân khi đang vận động và ngã xuống. Nó có thể nổ tung trong vòng vài giây. Anh muốn mang nó về sau chiến tranh để tặng cho vợ. Tôi phải nhanh lên – đây không phải là việc chậm buổi uống trà hay gì khác – mà tôi đang trong một trận chiến. Lúc đó. Quân Đức tăng cường mạnh mẽ cho lực lượng chống tăng đang phòng thủ và những chiếc tăng phe ta phải chịu đựng thêm nhiều quả đạn xuyên giáp. Một trong số chúng bắn trúng chiếc tăng mà đại đội tôi theo tùng thiết.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chương 3: Máy khâu giết người Ngày 23 tháng 11 năm 1942. Tôi muốn thoát ra như mọi người khác. hay một chiếc xe đạp là đã đủ hiếm rồi. còn với máy khâu. Anh nhào xuống tuyết và lăn tròn. Nhưng tôi không thể hiểu nổi cái vật nặng gì đã đập vào đầu anh chàng Siberia này. nguyên nhân thật sự của cái chết là đây! Tay Siberia này là một chiến binh quả cảm với cái đầu lạnh và mạnh mẽ. đã giết chết người đàn ông Siberia này: vì tôi không tìm thấy một vết thương nào trên người anh. tôi quay lại và nhanh chóng cửi ba lô ra khỏi thi thể anh ta. giá đỡ. Tôi không thể trèo lên và thấy không có thanh kẹp 21 . hãy leo lên chiếc tăng!”. Anh là một người Siberia chính gốc. chắc chắn đó không thể là một bộ phận nào đó của khẩu cối. Nhưng lương tâm đã chiến thắng. hãy cứu lấy đại tá!”. Trong số đó có một đồng chí tốt và khoẻ mạnh đến từ Bodaibo. Tôi lật tấm bạt của anh lên và kinh hoàng nhận ra rằng đó là một chiếc máy khâu (máy may) xách tay! Tôi cảm thấy đau khổ. và tôi đã cảm thấy sức nóng cùng tiếng rít sèo sèo của vỏ sắt chiếc xe dưới đôi găng ẩm ướt. Như thường lệ. tấn công kẻ địch đang chống cự mãnh liệt. Thật nan giải. Trí óc tôi thì bác lại: “Không thể! Không thể kịp”. Là bí thư chi bộ đại đội. và rất thân thiết với tôi bởi chính tôi cũng lớn lên ở khu mỏ vàng Miasski. tôi phải làm tròn cái nhiệm vụ không mấy vui vẻ của mình: thu thập thẻ quân nhân từ các tử sỹ. Và tôi lại thấy những lính cối ngã xuống. Nhưng là một người dân. Bộ óc láu cá của tôi nghĩ đến một lý lẽ bào chữa: những người chạy trước tôi có nhiều thời gian để cứu người bị mắc kẹt hơn. chiếc máy khâu chính là biểu tượng của sự phồn thịnh. Tôi đã không nói với ai trong đại đội về tai nạn này – vì không muốn người đã khuất bị chì chiết hay bị phán xét một cách khắc nghiệt – nhưng có lẽ tôi đã sai? Bởi lẽ đây có thể là một bài học tốt cho mọi người. người anh bị bén lửa từ đầu đến chân. nặng trĩu với nòng. Tôi nhớ lại cuộc sống trước chiến tranh: một chiếc máy hát. bởi một chiếc tăng thường sẽ nổ tung chỉ sau hai hoặc ba phút bắt lửa. Nhưng lương tâm tôi lại ở phía khác. thật kỳ lạ. nó bảo rằng: “Đừng để mất giây nào cả. thì chỉ có hai cái cho toàn bộ dân làng tôi! Và giờ đây. chúng tôi liên tục tiến lên.

Ba mươi năm sau. ít ra họ cùng tìm thấy những giấy tờ chứng thư của ông chứ? Mọi người bảo rằng tôi không gặp may. Tôi lướt qua. tôi nghe một tiếng rú kinh hồn. tôi chạy theo đồng đội của mình …. đôi bàn tay của người lính tăng bị kẹt túm chặt lấy áo khoát của tôi. đưa ông lên cáng trượt và kéo ông về phía sau …. đang di chuyển rất nhanh từ tuyến địch về hướng tôi. tôi nhảy lên cho đến khi thấy có thể xoay sở được chỗ trèo. Cho đến năm 1975. người trong những ngày đó chiến đấu trong thành phần của quân đoàn cơ giới 4 bên cạnh sư bộ binh 293. Tuy nhiên. trông như dài một cách bất thường. hãy giữ khẩu súng ngắn này…”. Vị đại tá ôm lấy tôi: “Ôi con trai ta! Ta sẽ không quên đâu! Tên con là gì? Abdulin? Ta sẽ không quên! Mà này. một màn khói nóng. Vụ nổ thật dữ dội. nhưng chúng tôi không thể ở đấy! Viên đại tá bị gãy cả hai chân. Tôi đồ chừng rằng người của quân chủng. Chắc chắn rằng chúng tôi đã không chiến đấu vì những tấm huy chương. tôi không nghỉ gì về việc thưởng công. Tại sao? Vì tôi không nhận được huy chương. cay xè sộc vào mặt tôi. rất êm ái. Nhưng đã quá trể để dừng lại. tôi lôi được ông ra và chúng tôi nhào xuống lớp tuyết êm ái. tôi thấy người lính ấy ngồi xuống. Nhưng thật sự việc gì xảy ra với ông sau khi chúng tôi tách ra. Lúc đó. nguyên soái Oleg Losik. Ivan Yevstigneyev. đến khám xét qua loa những gì còn lại của chiếc tăng. Vài tay lính tải thương chạy đến. vị đại tá bị mất tích được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Đong đưa một cách vô thức. lấy 22 . Sau chiến tranh. sau trận chiến. Nhìn lại phía sau. mang valenok (một loại giày nỉ truyền thống của Nga – ND). Tôi lôi ông xa chiếc tăng chừng nào có thể được. Những mảnh kim loại tung toé lên trời. Tôi chỉ nghĩ rằng “ Ta sẽ phải làm được trước khi nó nổ!”. lộn vòng và đâm sầm xuống đất. tôi mang hi vọng sẽ tìm thấy lại được vị đại tá đó. 30 mét. chừng 20. Tôi cúi xuống. anh ấy phục vụ trong cùng một trung đoàn và vẫn nhớ sự kiện đó) chúc mừng tôi. nó nảy lên dọc theo mặt đất mấp mô. Lúc đó. Một hình thù kỳ lạ trên 3 chân – thật ra là 2 khuỷu tay và một đầu gối – lắc lư dữ dội. Khi tôi trèo lên chiếc tăng đang cháy.Chặng đường đỏ từ Stalingrad hay một mấu lồi nào để bám. Nhưng đó không là một âm thanh gợi lòng thương sót khiến tôi dừng lại và nhìn trong nỗi kinh hoàng. Đột nhiên. đồng đội tôi (một trong số họ. Từ cửa sập trên đỉnh.V. Nhưng vị đại tá – nếu ông thực sự chết sau khi được cứu sống một cách phi thường – mới thật sự bất hạnh hơn! Sau khi chia tay vị đại tá. Vâng. làm cho cả thân hình rung lên. đưa về tuyến sau và sẽ sống. Tháp pháo bị bắn tung lên chừng 5 thước trong không trung. khi những người lính cứu thương đưa ông lên cáng thương và đi về phía trạm xá? Phải chăng ông bị pháo bắn trúng? Ông bị tan xác sau khi thoát khỏi một cái chết trong chiếc tăng cháy? Hoặc ông chết do mất nhiều máu? Và trong trường hợp sau. Provanov của Lữ tăng số 69. mong chờ tôi được nhận một tấm huy chương (có luật tặng thưởng cho người đã cứu chỉ huy khỏi tình trạng nguy hiểm tính mạng – ND). Cuối cùng (chưa bao giờ có một thân người nào cho tôi cảm giác nặng như vậy). tôi nghe rằng người của lữ tăng 69 tin là Provanov chết trong chiếc xe cháy và khẳng định không tìm thấy thi thể ông. hay ít ra. đưa ra kết luận rằng vị chính uỷ tiểu đoàn đã bị thiêu cháy bên trong. đưa tay vào sâu hơn – như vậy dễ lôi ông ấy ra khỏi cái cửa hẹp hơn – nhắm chặt mắt và quay mặt sang nơi khác: dù sao cũng không thể nhìn thấy gì qua làng khói dày đặc. nhưng anh sẽ được lính cứu thương tìm thấy. biết được ông đã như thế nào. đã giúp tôi xác định danh tánh viên đại tá: Chính uỷ tiểu đoàn G. Cái chân của người ấy bị gần đứt ra. Một chân khác. vẫn sống ở một làng thuộc quận Sterlitamak của Bashkiria.

cậu là một tay cứng đấy!”. và nó nổ ngay sau đó. cắt rời chân mình ra. trong sự im lặng hoàn toàn. Đột nhiên trận pháo tạm ngưng... một y tá của chúng tôi.”. bị thương ở cả hai phía và cho cả những ai đang tự trách mình.. chúng tôi chạy đến gặp nhau. Anh em hét lên “Hắn còn sống!” khi thấy tôi. hét lên với tôi như thể lời tạm biệt “ Chiến tranh đã hết với tôi rồi... Sau đó. cho rằng tôi đã chết. Tôi có nên giúp không? Nhưng đầu óc tôi như chết lặng.!”. nhưng đã có quá nhiều điều xảy ra.. Khi những hoạt động chiến trường giảm bớt chút ít. tôi lấy gói thuốc ra và đưa cho tay đó. Ở giữa trận chiến – không biết sự thật rằng chẳng còn bọn Nazi giữa chúng tôi – chúng tôi vẫn tiếp tục bắn: bắn lẫn nhau! Hoả lực dày đặt giúi chúng tôi nằm rạp xuống. chúng thâm đen.. nó cũng rời ra. Khi họ đến gần. Sau đó là một cuộc xung phong ào ạt. Và chúng tôi cũng khóc: khóc cho những người đã hi sinh. Tôi nhìn xuống và thấy hai ống tay áo khoát đung đưa. Tôi chỉ biết đứng lặng nhìn người lính.. khi thấy tôi trèo lên chiếc tăng cháy. Một người lính bộ binh khác cũng nhào vào cạnh tôi.. Gạt đất cát rơi bên trên. Quân Đức bị vây tròn trong một cái “túi” nhỏ (chừng 25 dặm chiều dài và 12 dặm chiều sâu .Chặng đường đỏ từ Stalingrad con dao nhíp trong túi và thử độ bén trên những ngón tay: nó cùn... Mansur. Anh cởi nón (mũ). Chỉ lệnh này rõ ràng đã làm cho những vấn đề đơn giản đi rất 23 . Anh man rợ hét “Cho tôi điếu thuốc!”.. Bây giờ tôi gặp lại đồng đội. chúng tôi thấy lúng túng vì trông dáng vẻ họ không giống bọn Đức. nhìn lại và chứng kiến vụ nổ. ôm chặt nó vào ngực như thể đó là một em bé.. Cuối cùng. Tôi gắn điếu thuốc vào môi anh và châm lửa. anh lính đứng dậy và chạy đi. Tôi cũng thấy Suvorov ứa nước mắt khi ôm ghì tôi: “Được.. Masha Lutsenco. chỉ nghe tiếng băng mỏng dưới chân: “Ôi anh em! Đồng đội! Chuyện gì xảy ra vậy? Chúng ta đã bắn lẫn nhau. các đơn vị của phương diện quân Tây – Nam chiến đấu trong khu vực của chúng tôi cũng đã gặp được các đơn vị tiến lên từ phía Nam. Sau đó người lính nhặt phần chân bị đứt. anh ấy hét trong tiếng nổ kinh tai “ Tay tôi bị đứt cả rồi!”. với nét cười hung bạo. Và trận chiến chấm dứt. Thời khắc của trận chiến Stalingrad lịch sử đã điểm. Phải chăng đây là một lời quở trách? Hay tôi nhận thấy sự đánh giá trong ngôn từ đó. người anh em. chúng tôi bàn với nhau về tầm quan trọng của mệnh lệnh 227 (“Không lùi!”). chệch choạng! Pháo bắn chặn! Tôi chỉ còn đủ thời gian nhảy vào một cái hố gần nhất và núp. Tôi ở chiến trường chỉ mới 3 tuần. những lần trở về – sau những tin tức về cái “chết” của tôi – làm cho mối quan hệ giữa anh và tôi thêm khăng khít. Khi dọn dẹp xong chiến trường. úp vào phần chân cụt và buộc chặt nó với chiếc thắt lưng. chân thật vì bạn còn sống. chúng tôi tránh nhìn vào mắt nhau. Anh em trong đại đội.ND). nghĩ rằng: “Abdulin tiêu rồi”. không nghi ngờ gì. tôi mừng như thể được về lại ngôi nhà của cha tôi. Với một vẻ hoang dại. Tôi đã làm cho Suvorov bao lần lo lắng vì tôi! Tuy vậy. chạy vội đến với anh. Đó là một điều tuyệt vời cho thấy mọi người thể hiện sự vui mừng đơn giản. anh lôi cái chân bị thương lại gần. Anh ta đáp lại bằng một giọng khó nghe và thô lỗ “. chiều hôm ấy. Bấy giờ chúng tôi đã gặp phương diện quân sông Đông và khép chặt vòng vây kẻ thù.!. Chúng tôi ôm nhau. bẩn máu.? Sau cùng.! Cuốn đi!”. mọi người nhận ra rằng quân ta đang tấn công quân mình và ngừng bắn. Một số. rơi ngay bên phải người ấy. Cuối cùng... Tôi có một con dao sắc bên mình.. Tôi cuốn một điếu thuốc và cố để hiểu lý do của cơn giận này. Nhiệm vụ hiện thời của chúng tôi là chống phá vây. và bắt đầu cắt phần gân lồi vốn dính lòng thòng vào phần chân. và tôi cố bước tiếp về phía trước.

Không còn tồn tại bất kỳ vấn đề không rõ ràng nào. chúng tôi mới phát hiện ra thật sự có tới 330. Đó gọi là “tra tấn kẻ thù”. phủ tuyết lên đó. Bằng cách đó. sau đó đào một cái ngách hang ở đáy hào. nơi các đơn vị Nazi khác nhau tập trung. và theo thời gian ngày càng nhiều thứ đựơc thêm thắt vào. trước khi nhào vào ngách hang vốn được giữ ấm bởi những đồng đội đang ngủ.000 sẽ không làm chúng tôi sợ. ngày 2 tháng 2 năm 1943. mọi người dừng lại. và chúng tôi chỉ việc chui vào đó rồi ngủ cho đến khi nhận lệnh chiến đấu. mệnh lệnh cho chúng tôi là chuẩn bị chống lại các nỗ lực phá vây của địch. nhưng chúng tôi thì xoay sở để ngủ một ít: mỗi thành viên khẩu đội làm chừng 1 giờ. một ngách hang có thể chứa 2 – 3 người: với cách này thì ấm hơn. và vâng vâng. Mọi người hẳn nghĩ rằng chúng tôi sẽ đào xong chiến hào và ngách hang nhanh chóng. sẵn sàng hi sinh ở đó và biết rằng sẽ không ai sẽ trốn chạy. chỗ chứa đạn.5m xuống lòng đất đóng băng. lệnh: “ Mang cối! Tiến lên!”. chúng tôi phải đục chừng 1. Cũng như thông tin về những đơn vị đặc biệt bố trí chặn hậu được phép bắn bỏ những ai rớt lại…. Cứ như vậy. chúng tôi sẽ cùng dừng. Chúng tôi muốn chỗ trú ngụ của mình tiện lợi hơn. Nhưng trường hợp này không đúng. Khi đó. và như vậy chúng tôi lại đào những hốc tường: chỗ dành cho thủ pháo. Mọi người lính đều biết rằng khi anh dừng lại. bắn tầm 100 quả. Vì lí do nào đó mà bọn Nazi không đào hào. khi bóng đêm vừa đổ xuống. Thực vậy. chúng tôi bắt đầu bắn cứ mỗi 5 phút. Nhưng chúng có bao nhiêu nhỉ? Không ai biết con số chính xác. Bởi những cái ngách ấy được làm cho phù hợp cho từng cá nhân. và tính toán chi tiết vị trí của chúng. Chúng tôi đã làm việc cật lực. chúng tôi làm cho chiến hào của mình ngày càng ấm cúng và thoải mái hơn. chúng dựng công sự phòng thủ bằng chính những xác chết đông cứng. “Chừng 40. Bọn Đức bị bắn cả đêm. do đó chúng khác nhau về kích thước và kiểu dáng. Chiến hào chúng tôi ở ngay tuyến đầu. Thỉnh thoảng. thì người bên cạnh anh cũng sẽ dừng theo. Tóm lại là.Chặng đường đỏ từ Stalingrad nhiều. Ban ngày. Có thể chúng hi vọng vào một cuộc phá vây thành công? Hoặc mặt đất đông cứng ở Stalingrad là hơi khó với chúng? Tôi không biết.000”. thường đi cùng với nỗi buồn và tiếc nuối khi phải chia tay với một phần mảnh đất mà như đã trở thành nhà. Mệnh lệnh đã khích lệ tinh thần của mọi người rất nhiều. Sau đó. Còn nếu phải để lại chiến hào cho bọn địch thì không còn gì để nói thêm!!! Lính cối chúng tôi “giúp” bọn địch không ngủ ban đêm. rằng thỉnh thoảng lính tráng tốt hơn là mù tịt. Họ bảo rằng con số 40. xác lính Đức lạnh cứng đã bảo vệ cho bọn còn lại sống sót khỏi đạn và mảnh đạn. 24 . Sau đó thì đến lượt chỗ để gà-mên (cà mèn). chúng tôi xác định toạ độ bắn vào hẻm núi. Chúng tôi hiểu rằng bọn Nazi không thể ngồi thụ động trong cái “túi” đó. Họ trả lời chúng tôi với một cái cười quỉ quyệt. Bốn mươi ngàn! Một con số khá ấn tượng. Nhưng tôi không hề đố kỵ với bọn Fritz khi nếu tuyết đột ngột tan! Bên cạnh đó. Để làm được việc này. Vào cuối tháng 11 năm 1942. lớp đất đóng băng bên trên bảo vệ chúng tôi tốt như thể là bê tông.000 quân bị vây! “Sao anh nói dối bọn tôi?” anh em hỏi chỉ huy. nơi đặt súng máy. đào thật sâu các chiến hào. Việc sẽ gì xảy ra nếu chừng phân nửa bọn chúng đột phá ra hướng tây. đúng vào khu vực trung đoàn chúng tôi trấn giữ nhỉ? Sự thật chỉ được sáng tỏ 2 tháng sau đó. và như vậy chúng đã có công sự để ngăn hoả lực phe ta. Thay vào đó. Khi có một người dừng lại. không thứ gì có thể cản được khẩu cối 76mm của chúng tôi. Chúng tôi hỏi các chỉ huy “Chúng có bao nhiêu quân trong túi đó?”. Chúng dựng một bức tường gồm hai ba lớp bằng những thi thể. “Có lẽ các anh đúng” chúng tôi đồng tình.

Một bó thuốc nổ nằm cạnh đó với một cái anten. vui mừng – cuộc tấn công của tăng Đức đã bị đẩy lùi – nhưng tôi đã khóc và nguyền rủa cuộc chiến tranh cũng những tên quái vật đã gây ra nó. Thế mà lúc này. Chú chó thứ nhất thổi tung một chiếc xe với một tiếng nổ kinh hoàng. Cũng ở Phương diện quân Sông Đôn. Thì ra bí mật thiên hùng ca là đây. và tôi kinh hãi khi biết về định mệnh của những sinh vật khốn khổ đó. Chứng cứ từ việc khai thác tù binh cho thấy bọn sĩ quan Quốc xã đã làm mọi thứ để giấu giếm sự thật kinh khủng này với quân lính: chúng vẫn tin vào chiến thắng và chiến đấu đến cùng. và nhận được hàng đống thứ ném vào chúng tôi: nào là bánh mì. tôi thích chó. Bọn tăng Nazi nhanh chóng quay đầu và chạy mất. Tôi được biết một trong số những người trông chó – có một bác trung niên. nhiều màu. Tôi trở về “nhà”. Nhưng còn câu “Gott mit uns” có nghĩa là gì? Câu này được khắc trên khoá thắt lưng bọn lính quốc xã. hàng đoàn máy bay vận tải của bọn Đức vận chuyển đồ tiếp liệu cho quân bị vây. lúc lắc đầu. Tôi tìm thấy lũ chó ở gần đó với những anh lính trông nom chúng. nhưng chỉ nhận được câu trả lời đại loại như: “Có quỉ mới biết” hoặc “Tớ chẳng màng đến!”. Không để đeo cái thứ gì mà mình không hiểu. Tiếp sau là hai tiếng nổ nữa. My god!). tôi tình cờ gặp một tay binh nhì – vốn là một cựu giáo làng – với cố gắng lớn. Chúng tôi nói chuyện một chút. xúc xích. luôn mồm càu nhàu: “Oh. Tuy nhiên có một chú chó cá biệt bắt mắt tôi. giày rơm (một loại giày đi tuyết to xù. mặc ra ngoài đôi bốt thông thường – ND). hi vọng sẽ có chút đồ ăn. ngoan cố kêu lên như một cái máy “Ichgehe nach Moskau!” – “Tôi đang đến Mát-cơ-va”. Nó có nghĩa là “ Chúa ở cùng chúng ta”. nặng chừng 8kg. “Gott” đương nhiên có nghĩa là Chúa rồi. tóc đỏ . thịt hộp. Với những gì xảy ra. tay ôm lấy đầu. Chúng tôi đánh lừa bọn lái máy bay bằng cách bắn lên những khẩu pháo sáng tịch thu được.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Bọn tù binh. Và theo sau là con thứ hai và thứ ba. đã xoay sở dịch những từ bí ẩn đó. Dây thắt lưng của chúng có chất lượng tốt. những câu chữ khắc đó nghe như một lời chế nhạo cay đắng. Khi những bức-tường-xác-chết rốt cuộc cũng bị tan băng. chờ đến thời khắc của chúng… Tất cả chúng đều đẹp và to. bọn lính trơn phe Đức không hề biết chúng đang bị vây trong túi. Bác ấy bảo rằng bọn chó đã được huấn luyện 3 tháng. làm tôi thấy bất an. bị hội chứng chiến tranh. Tôi thường nghĩ đến việc lấy một trong số những thắt lưng của bọn đã chết. bánh qui và linh 25 . yêu trẻ như chúng có thể làm gì với đống phân này? Chó là một người bạn trung thành. nhiều giống. nhưng còn hai từ kia thì sao? Tôi đi cả tá chiến hào để hỏi các đồng đội. mein Gott!”. Rất nhanh sau đó. lúc lắc ra phía sau rồi trước. chúng ta hình như lại đưa người bạn đáng tin cậy đó đến để chết dưới xích tăng quân địch! Tôi quyết đi tìm hiểu. nối vào kíp nổ. Ban đêm. làm từ da thật. như thể một câu văn bia trên mộ chí. và chúng tôi thấy một cái banh bù xù màu đen chạy nhanh về phía chúng. Cuối cùng. Những con vật nhu mỳ. thuốc lá. nhưng với cái câu được khắc nhìn thấy rất rõ ràng này. Đồng đội tôi hét lên “Hurrah!” và tôi cũng vậy. Như những người dân Siberia khác. Nó có vẻ như có một cá tính thật. Chú chàng trông có vẻ kỳ lạ với một tai cụp xuống còn tai kia lại dựng đứng lên. những chiếc tăng xuất hiện từ phía tuyến quân địch. vì vậy tôi quyết định tìm hiểu nó nghĩa là gì. Cái này thì rõ ràng có nghĩa là “Lạy chúa tôi!” (Oh.cũng lớn ở vùng Krasnoyarsk như tôi. tức cái hang của tôi và kể những gì thấy được với Suvorov. tháng 11 năm 1942. một badboy thật sự! Chú chó nhìn tôi. tôi lần đầu tiên được nghe về lũ chó chống tăng. chúng nhận thức ăn ở dưới những chiếc tăng đang chạy. Chính tôi đã thấy một tù binh Đức. vớ len.

Anh vẫn ngồi hoàn toàn bất động trên ghế xạ thủ. biến vào trong màn sương. đại đội tôi lại không may mắn với hội “tải lương”. Ghế cho xạ thủ ở phía sau. chúng tôi nghe thấy tiếng động cơ máy bay đang đến. ai lấy đồng hồ của lính Đức chết thì sớm muộn gì cũng sẽ chết. một lỗ hổng xuất hiện trên đó và những thứ bên trong bắt đầu rớt ra. có tiếng nổ. Do vậy.Chặng đường đỏ từ Stalingrad tinh khác. hướng cả bốn nòng về phía tiếng động. Quân ta đếm được hơn 30 xác sỹ quan Nazi cao cấp. chiếc vận tải cơ to lớn. một nhà chế tạo súng. Khi chúng tôi chạy đến. xét ra bánh mì của chúng ta là nhất quả đất! Vào lúc đó. bọn tôi nghe thấy có tiếng nổ khác lạ từ những động cơ của nó... rất “thơm” vớ được hẳng một balô đầy xúc xích. mặt đỏ bừng sung sướng. oằn xuống. Konski tiếp tục loay hoay với khẩu pháo. nhìn chúng tôi. từ ngày đầu ở tiền tuyến. một số người khác thì trông câm lặng. ngay lập tức anh xoay xoay các bánh đà và tay nắm. Trong khi toàn bộ anh em hét vang “Hurrah!” và chạy đến tìm xem những thứ gì có trong chiếc máy bay bị hạ. trên khu vực mặt trận của đơn vị. Chúng tôi sốt ruột chờ đêm xuống để đến “thăm” bọn Fritz với hi vọng tràn trề là sẽ xoáy được ít chiến lợi phẩm – đột nhiên ở hướng hầm của Marchenko. giải thích cái gì để làm gì. Chút ít trước giờ gặp thần chết. cho phép điều khiển súng bằng cả hai tay và chân một cách tự do. hoặc giả mất tự chủ hay không biết mình làm gì. Nó có thể xoay quanh trục trên mọi hướng. Với tôi. thân chiếc máy bay bung ra. chúng tôi thấy một khẩu phòng không bốn nòng tự động của Đức. đứng trên một cái giá. Đứng cạnh anh là Gennadi Manuilov. Cứ theo tiếng động thì nó đang bay rất thấp. Và ý tưởng này làm tôi thấy khó ở… Một ngày tạm yên ả trôi qua. Ngay lúc đó. Nhưng dường như Konski đã thạo cả mọi thứ rồi. tôi để ý rằng những đồng đội tôi. Lúc đó. Anh ấy còn đi tệ hơn nữa khi doạ bắn ai cố lấy túi của anh. như thường lệ. bay cực thấp. Nhưng trời mù sương nên chúng tôi vẫn không thấy gì. Một trong những đồng đội của tôi. một thiết bị phức tạp với hàng đống bánh đà và tay cầm. Victor Marchenko. Có tin đồn rằng loại bánh mì bọc trong plastic là được làm từ tận năm 1933! Nhưng bọn lính chúng tôi ít có nhiệt tình với chúng. Đúng vào lúc chiếc máy bay gần như biến mất trong sương mù. Cả chiếc máy thăng bằng một cách tuyệt hảo: bạn có thể nhắm vào bất cứ đâu bạn muốn. Mỗi nòng đeo một cái hộp rất to chứa một gắp 5 quả đạn và được nạp tự động. mọi người nhất trí để hắn một mình với đống xúc xích của mình và quên hắn đi. Tất cả giấy tờ và đồ có giá trị 26 . họ có thể thành một kẻ hèn nhát hoàn thành. Đó là một cổ máy quân sự tuyệt vời. Và trước mắt chúng tôi. rơi xuống đất. Đường đạn nối đuôi nhau lao tới. tiếng gầm gừ đang lớn dần. Chúng tôi nghe thấy một tiếng động trầm đục khi nó đâm xuống đất và theo sau là một vụ nổ. Ivan Konski. chỉ sau chừng 10 phút. anh ta thao thao nói về khẩu pháo như thể anh đã chế ra nó. Cũng như chiếc vận tải cơ. trong hơn một tuần. thùng hộp chứa đầy những thứ quí giá chúng cướp được của nhân dân Sô viết. Và có hàng trăm chiếc vali. Vì lí do gì đó – trái với lệ thường của chúng tôi – anh ta quyết giữ chiến lợi phẩm cho riêng mình mà không chia cho mọi người. nhưng rõ ràng là có điều gì đó xảy ra với anh ta: “Có lẽ anh ấy cảm thấy cái chết đến gần chăng?” tôi nghĩ như vậy. Vào một ngày. tả tơi mất độ cao và rơi xuống khỏi tầm nhìn. Trước đó Marchenko là một người hết sức đúng mực và là một người bạn chân thành. bên quân nhu. Konski nhanh chóng khai hỏa. lại lạc đâu đó. Một chiếc máy bay vận tải của Đức bất ngờ hiện ra. Tôi phải thú nhận rằng. Ivan Konski. hầm của Victor đã đổ sập và khói bốc lên từ đó. dường như có một giác quan thứ sáu và thường đoán được đúng ai sẽ chết trong vài giờ tới. một tay lính cối trong đại đội tôi là người đầu tiên nhảy vào. vút qua. bọc trong lưới.

Konski nhớ đến khẩu súng mới. Một ai đó cố nhảy giẫm lên nó. Bất ngờ. trong khi những người khác cố bắt lấy sợi “mì”. Và Ivan Konski. nhưng còn có những điều lộn xộn nữa. Nếu vệ binh biết được điều này. Vài người dùng gót chân. tôi không rõ. được nhận một huân chương cao quý.Chặng đường đỏ từ Stalingrad được chuyển về sở chỉ huy sư đoàn. Các bạn thấy đó. “Ồ. giữ nó có khoản cách an toàn với sàn nhà cho đến khi cháy hết. Thất thần. Cỡ nòng không dưới 400mm. nhưng nó phóng vụt đi dưới giày anh. anh em thấy vài cái hộp đan bằng cây liễu gai chứa đạn. Tai nạn hay cố ý. lòng bàn tay đẫm máu. Anh nhặt được một khẩu súng ngắn – có lẽ của Đức. sửng sốt. Có ai bị trúng đạn không? Và chỉ khi nhận ra viên đạn không gây thương tích cho ai. và cả tiểu liên MG-34 của Đức. Sau đó. Sau đó anh em giúp Ivan giấu bàn tay đó trong một chiếc găng tay to xù có cổ và thề không hé ra chuyện này với ai. Konski sẽ phải đối diện với toà án binh. Chúng tôi nhanh chóng băng bó vết thương và lạy Trời cho nó chóng lành mà không phải đi bác sỹ. Mở vài cái ra. Một vết sẹo nhỏ hiện ra trong lòng bàn tay. và dĩ nhiên. nhưng chắc chắn là đồ nước ngoài – Ivan cho nó vào túi và hi vọng có thể xem xét chi tiết cái vũ khí lạ lẫm này trước khi dùng. Một trong số chúng chứa một khẩu đại bác khổng lồ. mò bắt sợi “spaghetti”. còn Ivan thì xoay ngang xoay dọc khẩu súng cố tìm hiểu xem nó hoạt động như thế nào. Những ngày tiếp theo thì mang lại toàn điều không may cho Ivan Konski. anh em trong đại đội tôi được một bài học nhớ đời về vũ khí thu được. tất cả đều muốn biết nó làm việc ra sao. Gần đó. và xoay tít mù quanh những bao thuốc nổ và hộp đạn. Không suy nghĩ một giây. sợi “spaghetti” nhảy khỏi tay anh ta. Hình như bọn Đức định mang nó đến để bắn vào Stalingrad. Đêm đó. những vũ khí này cực kỳ hiệu quả trong chiến đấu. Hai tuần sau. nếu cả núi đạn này bắt đầu bùng ra. mỗi sợi dày bằng một ngón tay và dài chừng 70cm. Chúng tôi cùng ngồi xuống quanh một vòng tròn. nó xoay đi cố tìm lối giữa hai bao tải chứa đầy những thứ quái dị và bất ổn này. nhưng tiếc là Ivan Konski phải chia tay với nó và giao lại cho những tay chuyên gia súng ống. Đại đội cối chúng tôi có trong trang bị súng máy Maxim. Nhưng anh lính – người đã đoán chính xác – lấy một sợi “spaghetti” và tiến hành đốt “Wow! Trông cách nó cháy kìa!”. đó vẫn là việc tự gây ra thương tích. chuyền cho người khác. anh mới quay lại với bàn tay nhầy nhụa máu của mình. như tôi nhớ.nó là cháy bỏng những ngón tay tôi qua đôi găng – và đứng lên. Ồ. Đột nhiên. một tiếng nổ vang lên. nhưng chúng tôi không có cơ hội để bắn tăng. anh nhìn từng người chúng tôi. Thật tuyệt nếu được giữ khẩu cao xạ thu được nói trên cho đại đội. khi mọi việc lắng xuống. Konski tê cứng người. Khẩu pháo khổng lồ này mê hoặc chúng tôi! Mọi người đứng quanh nó. bên trong có cái gì đó trông như những bó mì ống spaghetti. đựơc gắn chặt lên sàn toa. tôi lao về phía những cái bao. Ivan Konski đã có thể tháo băng. 27 . và dù ngày hôm trước Ivan có bắn rơi máy bay thì điều đó cũng không giúp được anh. Mổi cái nặng 100kg! Chúng tôi cũng chú mục vào một đống bao gần đó. Nhưng người khác cười không tin. những ngón tay trên bàn tay trái xoè rộng ra. đó là thuốc súng!” một anh kêu lên. Lúc đó chúng tôi thật sự hoảng sợ. Và đây là một ví dụ khác mà lẽ ra có thể có kết thúc đầy bi kịch. Gần nhà ga xe lửa ở Karpovskaia chúng tôi bắt được một đoàn tàu với những toa hàng đặc biệt. thì hẳn – có thể nói bằng câu – “đã quá trễ dù bắt đầu chạy từ hôm qua!”. viên đạn đã xuyên qua phần mềm mà không tổn hại gì đến xương cốt. Chúng tôi cũng có một khẩu súng trường chống tăng với khá nhiều đạn: thỉnh thoảng chúng được dùng để diệt các ổ súng máy.

Chúng tôi uống nước bẩn từ những cái gà mên bẩn cũng không kém. thấy tôi bị như vậy. Cứ khoảng 5 phút là tôi phải đái một lần. nhưng tôi chỉ thấy xấu hổ. là con của một cục vàng mẹ. Tại mỏ. Trong giấc mơ. trực tiếp lên cơ thể tôi.ND). Chúng tôi nhìn nhau và thấy ai cũng bẩn thỉu và trông rất buồn cười. tôi tin rằng những mẫu vàng bé xíu mà chúng tôi tìm thấy. nằm trên cánh đồng. hoặc được đến một bania (nhà tắm hơi . Còn bọn rận thì gần như giết sống tôi! Trong mùa đông. Mặt mũi thì đen như bồ hóng. tôi không kéo khoá (cúc cài) quần. Hơn nữa. Những hình ảnh này bồng bềnh trong đầu tôi như những giấc mơ thần tiên ! Cả tháng rồi. Tôi đã cố diệt chúng bằng thuốc giết côn trùng. chừng sau 3 hay 4 tuần đến mặt trận. Một người bạn. Lúc đó. đâu đó một quãng . tôi lấy một gói thuốc diệt côn trùng ra và đổ cả vào cổ áo tôi.Tôi chắc là tôi mắc phải một căn bệnh trầm kha nào đấy. Bùn đất phủ khắp người chúng tôi. nằm dài trên băng ghế. Tôi thường nghĩ rằng:” Sao mình vẫn còn lành lặn trong cái địa ngục này trong khi hầu hết các đồng đội đã hi sinh hoặc mang thương tích?”. trẻ trung của tôi. Điều tôi kinh hãi nhất là nỗi sợ rằng căn bệnh này sẽ theo tôi suốt đời: thà rằng chết còn hơn. Đôi lần. Nhưng tôi. tôi xông lên. coi thường hoả lực bọn Đức. to như một quả núi. tôi thấy mình là một chiến binh bị giết một cách tàn bạo. anh em có được một trận cười nghiên ngả. mà chỉ có ráng chợp mắt một chút ở ngoài trời. ở thảo nguyên vào mùa đông thì dường như không thể chịu nổi.trong cái “túi”. thưởng thức hơi nóng. đoan chắc rằng: “Tao cũng bị như vậy rồi. ngay cả với cơ thể khoẻ mạnh. Tôi nhớ cách tôi làm: đẫm mồ hôi sau một trận chiến đấu. Tiếng đạn rít cao trên đầu chúng tôi. Sống như vậy. con sẽ an lành về nhà từ chiến trận. thiếu ngủ triền miên và lao động nặng không ngừng nghỉ cũng bắt chúng tôi phải trả giá. Đồng đội gọi tôi là một “người hùng” hoặc một “người-không-biếtsợ”. Một lính bộ binh già người Siberia. Cái đói. nhưng không có kết quả.có tiếng nổ lớn theo sau là quầng sáng rực ở phía chân trời… Trong lúc nghỉ ngơi.ND) ấm áp để có một giấc ngủ ngon. Và. và như vậy đó. trong một cảnh của bức vẽ Trận chiến Kulikovskaya. họ không tạo điều kiện cho chúng tôi ở sạch…. Như những chú vịt con. Ắt hẳn là chỉ huy muốn bọn tôi tề chỉnh? Nhưng. nhưng tôi thấy xấu hổ để báo cáo. nhưng thứ thuốc này không có ảnh hưởng gì tới bọn rận cả. Những anh em lớn tuổi râu ria xồm xoàn trông như một lũ cướp. ngồi trong chiến hào. nghe được giấc mơ của tôi và bảo tôi với vẻ ghen tị “Con trai. Khát khao lớn nhất là được về ngôi nhà izba (loại nhà truyền thống của nông dân . chúng tôi không có một giấc ngủ đàng hoàng. bọn trẻ đã biết đãi vàng. và mong rằng mình sẽ bị thương. lớn đến mức không tay đào vàng nào có thể nhấc lên nổi. chúng tôi xục xạo cả ngày trên con sông Miass với chậu đãi và gàu xúc. cũng ghen tị. Tôi mừng rằng râu tôi chưa mọc nhiều. giá rét. tôi là một thằng bé mơ mộng. đừng lo lắng về một giấc mơ như vậy”. một khối vàng tự nhiên khổng lồ. Làm thế nào con người chịu đựng được như vậy? Thật khó tưởng tượng. Khi tôi còn nhỏ. 28 . Tôi mơ mình tìm đựơc một thỏi vàng lớn. không cách nào để thoát khỏi chúng. Tôi rắc thuốc từ đầu đến chân. mọi người nghĩ về quá khứ.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Sau đó. nhưng sau lần bị thương. ở tuổi lên 8. khẩu đại pháo này hoạt động ở phía quân ta cả ngày và đêm. và để giữ cho quần được khô. tôi bắt đầu bị chứng đái giắt. giữa những lần giao tranh. bực bội với những người bị thương nặng. tao được đưa đến bệnh viện và không vòng một tuần nó trở lại bình thường”. Nước được lấy bằng cách nấu làm tan chảy những nắm tuyết dơ hầy.

Nhưng họ lúng túng và không thể trả lời. trên đồng hay trong rừng. Nếu ai đó gặp ác mộng thì những người đào vàng mê tín này sẽ quyết nghỉ một ngày. bọn trẻ chúng tôi phải làm việc luôn tay. trong nhà. chúng tôi lọt vào một khu đầy những hầm hào trú ẩn do bọn Đức bỏ lại.. cu thấy đó. có tin đồn là Stalin sẽ đến thăm Phương diện quân Sông Đôn!” “Tin nóng” này lan nhanh khắp các chiến hào như một đám cháy rừng (với tốc độ máy “điện báo mồm lính” mà!). Trong mùa nghỉ hè. chà bóp vào cổ mình và rên lên như cái kèn trumpet. trong vườn rau. Mỗi sáng. Đầu tiên tôi thấy sờ sợ. hoặc tắm. tôi đã tìm là một cách như thế này. Tôi cũng nhanh chóng chui vào một hầm và thấy một tay pháo thủ to con trong trung đòan đang quằn quại trên sàn. những người đào vàng bàn tán với nhau về giấc mơ của họ. và trong vòng một giờ. sau đó tôi xuất hiện trở lại với một điệu bộ quan trọng. ván trượt bị bỏ mặc. Khi đó. cha tôi sắp xếp cho tôi làm việc cùng với đội đào vàng. ít ra cũng để 29 . Tôi thích làm việc. Anh em lính tráng chỉ liếc nhìn tay pháo thủ ấy một tẹo rồi đi tiếp. Lẽ tự nhiên là chúng tôi cũng muốn vui chơi. Người “chết” ấy đang cố sức thở một cách đau khổ hết mức có thể. anh em. tôi tin rằng mình không thể bị lật tẩy và tôi quyết định hành động. Chúng tôi có một cỗ xe riêng của đại đội cối. bàn tán gì đó rồi tiến vào. Và thế là tôi tham gia ngay vào buổi nói chuyện. lạy chúa tôi! Lạy chúa tôi!” Tôi tìm thấy trong hầm còn rất nhiều hộp và cũng chứa đầy những chai có thứ rượu vàng đó. khi đại đội tôi đã tiến lên khá xa. Tôi để ý thấy mặt gã đỏ như cà chua. được kéo bằng một cặp ngựa. “Anh ta sao vậy?” tôi hỏi. tôi thấy mình như là một kẻ xuẩn ngốc khi lo lắng về hậu quả của trò đùa này: ngay cả khi tôi thú nhận mình chính là tác giả của tin đồn này thì cũng chả ai tin tôi! Một ngày nào đó. Tôi trông thấy một cái hộp có chứa 6 cái chai to. đưa ra một lô những giấc mơ sợ sệt – những cơn ác mộng của trẻ em đựơc xem là có ý nghĩa đặc biệt – và chú đốc công ngay lập tức cho nghỉ làm ngày: lúc đó tôi phóng vào rừng hoặc mò ra sông chơi. tay thì cố vá víu những lổ thủng trên quân phục. Bấy giờ thì tay Ukraina đó bắt đầu rên rẩm ”Bọn kẻ cướp. người cười đến chảy nước mắt! “Làm thế nào để khuấy động anh em trong đại đội nhỉ?” một ngày nọ tôi nghĩ “Mình có thể lấy lý do gì để làm mọi người kích động và bảnh choẹ một chút nhỉ?”. Tay thì gột những vết bùn ra khỏi áo choàng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Trong những ngày đó. Vậy phải làm gì để có một kỳ nghỉ? Ồ. Điều này càng làm lính tráng tin vào những lời đồn đại loại như: “Các tay sĩ quan được yêu cầu phải giữ bí mật thông tin vì lý do an ninh. Giày trượt. Nhưng những người tìm vàng thì làm việc không hề ngơi nghỉ trong mùa hè. nhưng sau khi nghĩ kỹ. Và phương án đến như một ánh chớp. Tay lính bất hạnh ấy quỳ dậy trên đầu gối. ở đó tôi có nhiệm vụ cầm cương ngựa. nhưng không có thời gian. không một ai trong đại đội tôi là không bận bịu với việc chỉnh đốn mặt mũi. Khi tôi kể với cha mưu mẹo này. Tôi thấy quân ta tụ lại gần đó. trước khi xe của pháo binh có thể đến. Việc này xảy ra thường mà. nín thở thông báo vài “tin” cực kỳ rằng: “Này. cạo râu ngay trên mặt tuyết: mọi người cố gắng điên cuồng để mình trông sáng sủa. Tôi nói nhỏ với một người trong đại đội để đưa chiếc xe đến càng nhanh càng tốt. “Đó. Tôi biến khỏi đại đội chừng khoản nửa giờ. trong đó đầy một loại dung dịch nhớt vàng vàng. trang phục. Sau đó lính tráng bắt đầu hỏi các cấp chỉ huy về “tin tức” đó. hắn háy mắt nhìn tôi và bắt đầu rên rỉ thê lương bằng tiếng Ukraina “Ôi. Và như bạn biết đó. nhưng tôi cũng muốn có thời gian cho cá nhân – ít ra là một trong mỗi mười ngày – để đi vào rừng chơi hoặc câu cá. nó uống cái quái quỉ gì đó từ một trong những cái chai kia”. Trông như thể anh ta đã ngẫu nhiên tự đầu độc mình.”. và nó đến ngay lắp tự.

Đồng đội tôi cười toe toét và bảo “Hê hê. lợi ích của chiến thuật “du binh” là hiệu suất chiến đấu. Anh em tôi có đủ kinh nghiệm để tính toán các phần tử bắn. Kết quả là các chỉ huy bộ binh. tờ Tiến lên. phải cẩn thận đừng để vỏ nòng súng rớt ra nhé. Buteiko. Ví dụ như nếu có một tay thiện xạ Nazi đang nấp sau một chiếc tăng hỏng: chúng tôi sẽ “chăm sóc” hắn cẩn thận với vài phát cối. Và thế là tôi nối một đoạn thừng vào rồi đi. và thật là vất vả khi phải lôi chúng đi. không có lười nhác nhé!”. hoả lực cối lại là cách giải quyết vấn đề tốt nhất. tay pháo thủ vừa hồi phục một cách kỳ lạ phản khán “thế thì tôi sẽ đi cùng các anh” Sau một thời gian. các cơ phận của khẩu cối khá nặng. Và cũng nhờ sự vận động mà chúng tôi tránh được hoả lực địch.Chặng đường đỏ từ Stalingrad lại tao một hộp chứ!” “Không hề” Bọn tôi cười “ở đây có ít lắm!” “Được”. chúng tôi có mặt ngay để dội đạn. Tổ chúng tôi: Suvorov. yểm trợ hỏa lực cho đại đội bộ binh và được chọn vị trí của mình theo tình huống chiến đấu. đại đội trưởng. Tôi mừng vì thấy đại đội trưởng có vẻ chấp nhận sáng kiến của tôi. Thường. và không chỉ nặng – tầm 20kg – mà khó nắm giữ. và tôi hiểu 30 . chân đế. và chiến thuật này được dùng ở tất cả các đại đội cối của sư đoàn. Mỗi lần đêm xuống là lực lượng tăng viện đưa đến nhiều hơn. ở tuyến đầu. mọi khẩu cối cũng đều phát hoả vào quân địch. Ngay khi quân địch lộ ra một mục tiêu mới. tuổi thọ một người lính chỉ một hoặc hai tuần. chúng tôi phi tới điểm đó ngay lập tức. Thật tuyệt! Buteiko để ý đến phát kiến của tôi và bảo rằng: .“Này cậu. Anh miễn cưỡng kết luận “Ở đâu có một gã Tartar thì một người Ukraina chả thể làm gì được”. Thật hiếm khi tổ chúng tôi có đủ 5 pháo thủ như theo điều lệ qui định. anh thường kể lại câu chuyện mà suýt chút nữa anh đã bịp được cả một đại đội. mang theo tin tức đại loại như một mục tiêu. chúng tôi hoạt động độc lập trong tiểu đoàn. Xin được nói lời cảm ơn với tờ báo của sư đoàn. Mà khi cần.“Có chút thay đổi. Từ khi đó. Bên cạnh khía cạnh hài hước thì đây quả thật là những điều khó nhọc. Để tăng hiệu suất chiến đấu. bây giờ pháo thủ số hai phải mang thêm hộp đạn”. Và giờ đây tôi có 20kg kéo đằng sau và thêm 22kg trên lưng. Thiệt hại của ta là rất lớn. Nhưng niềm vui của tôi ngắn chẳng tày gang khi nghe Buteito nói tiếp: . nó thường trượt khỏi tay tôi như một con cá nhớt nhợt. đại đội đã phải tái bổ sung lực lượng hai lần. Dù gì thì thiệt hại của chúng tôi cũng không bằng cánh bộ binh. một vị trí ẩn nấp phía sau những gì sót lại của một khẩu pháo: và như thể một đội cấp cứu. thường bắn trúng vị trí trong vòng 3 viên đạn. . và dù thế. Chúng tôi có cơ hội để có pháo thủ số 4 nhưng còn pháo thủ số năm thì đó là một giấc mơ lãng đãng. giá đỡ. Tuy vậy. có một điểm bất tiện. chúng tôi chỉ có 03 người để mang toàn bộ đạn dược. Mansur. Ở đó. Như tôi đã nói. quyết định rằng tổ chúng tôi trở thành một tổ “du binh”. thường dùng hoả lực cối áp chế mục tiêu trước khi tiếp cận. Theo tôi thì phần nặng nhất là nòng súng. chúng tôi cũng có thể xoay sở chỉ với hai người. Một giao liên chạy qua lại giữa chúng tôi và đại đội bộ binh. có tổ chúng tôi để sự dùng tuỳ ý. nó sáng loáng như được mạ kền. Fuat Khudaibergenov và tôi. không thì đất đá sẽ lọt vào và làm hỏng gương đó!”. Khi đánh bóng bằng vải thô. Hoặc phe Đức thiết lập một ổ đại liên mới: và một lần nửa. Chợt tôi nảy ra sáng kiến: tôi có thể kéo cái nòng súng trên tuyết và mặt đất đóng băng bằng một sợi dây.“Tuân lệnh!”. nhưng một tay “Tartar láu cá” đã nhìn thấu tim anh. tay pháo thủ (tên anh ấy cũng là Marchenko) đã trở nên quen thuộc với đại đội chúng tôi.

anh bỏ đi trong khi ra lịnh một cách cáu kỉnh và nghiêm trọng: . khi mọi thứ yên lặng trở lại. Và vì ống nòng cối trông như ống khói nên họ gọi bọn tôi là “hội Samovar”. Thật xúc động trước sự chăm sóc của các đại đội bộ binh dành cho cánh lính cối bọn tôi. trong khi Suvorov suy nghĩ phương án tốt nhất để dụ tên bắn tỉa khai hoả. nhưng đó là một việc khó khăn Mansur ạ!” Pavel cười bảo. tôi bắt đầu loại trừ một cách có hệ thống một số các vị trí ẩn nấp có thể.“Không ai bắt đóng thuế giấc mơ. Một ngày nọ. Chúng tôi quyết định là sẽ dùng khẩu súng trường của một bác lính già người Siberi: . Không phí phút nào. lấy kính ngắm và làm như cách của tôi. cố nhớ đặc điểm ở những gò đất trông đáng ngờ . Không rời khỏi kính ngắm. đội nón của anh lên đó và thận trọng đưa nó nhô lên mặt công sự. khi đó tôi có lợi thế khoảng 10 giây “chết” khi hắn phải lên đạn. chúng tôi thấy có hai dáng người bò như thằn lằn từ tuyến địch về phía cái “gò”. Tôi ngồi xuống cạnh thi thể bọn họ và nghĩ “Chúng tôi phải kết liễu tên bắn tỉa này!”. trao cho tôi vũ khí của bác “Bọ ước là họ cho bọ khẩu súng này khi kết thúc chiến tranh.“Hắn không thể ở ngoài lạnh mãi được” ai đó đằng sau tôi nói “hắn phải rời đi sớm hay muộn thôi!”. Pavel quấn một mẩu vải quanh chiếc xẻng quân dụng. cánh bộ binh cảnh báo chúng tôi rằng có một tay thiện xạ Nazi xuất hiện ở tuyến địch và hắn đã hạ bảy lính ta rồi. Chăm chú quan sát không ngừng nghỉ từ trái sang phải. Ngay lập tức tôi tỳ bám súng vào vai và bóp cò. . tôi thấy hứng thú với ý đồ này. Trong khi đó. từng đống vôi gạch… Để tìm được tên bắn tỉa trên vùng đất hổn mang này thì chả khác gì việc tìm kim trong đống cỏ! Tôi quét kính ngắm hàng trăm lần trên vùng thảo nguyên bất tận. và khi đêm xuống. Nhưng anh ấy nhanh chóng mệt mỏi vì phải nheo mắt. Tôi cẩn thận đặt khẩu súng lên bờ công sự. Rất nhanh. cố giữ ấm. tỉ mỉ trên khu phân tuyến: từng hố đạn. Chỉ có một cách để tìm ra vị trí tên bắn tỉa là dùng kính ngắm trinh sát.“Súng của bọ luôn bắn trúng” bác binh nhì nói.Chặng đường đỏ từ Stalingrad rằng cỗ máy quân sự của ta vẫn phải đào tạo người lính một cái sơ sài cho đến khi chúng tôi đến được đích cuối cùng – Berlin. Nhanh chóng. thu hẹp dần vòng nghi vấn. tôi biết được chi tiết mọi thứ trên mặt đất như thể trong lòng bàn tay tôi vậy. chỉ cần khẩu súng trường của bọ!”. tiếng súng tự động rộ lên từ phía địch và súng máy của ta cũng đáp lời. Tinh thần họ nâng cao khi có chúng tôi bên cạnh. Ngay sau đó. từng xác chết. Tôi lấy một cái và quay lại chỗ đại đội bộ binh. họ tìm những vị trí bắn tốt cho khẩu đội.“Cẩn thận đấy! Thấp người xuống! Hiểu không?”. khi một tay đại đội trưởng trẻ. tôi báo cáo lại tình hình. và bắt đầu một cuộc xem xét dài. đột nhiên nó chuyển động! Tôi không tin vào mắt mình – chính là hắn! Bây giờ thì tôi sợ rằng sau tất cả những cố gắng của mình. Bọn Quốc xã đó cũng nhận được cái mà chúng đáng nhận. tôi để vuột hắn mất. Họ mang đạn giúp. vài tay liều lĩnh hơn trong số chúng tôi tiến đến chỗ tên bắn tỉa đã bị hạ và mang về một ít 31 . Cái “gò đất” gục xuống. bọ mang nó về với rừng! Bọ không cần huân chương.Tôi trở lại đại đội và kể cho Suvorov về tên bắn tỉa và thật tốt nếu chúng ta có thể phát hiện ra hắn. Đến trưa tôi chú mục vào một “gò” đất cá biệt. vẽ mắt và mũi bằng bùn. làm ra vẻ của một người có nhiều thứ quan trọng trong đầu. Cái “gò đất” chộp ngay. và vớ lại chiếc kính ngắm lần nữa. và chiếc xẻng kêu lên leng keng. Việc gì sẽ xảy ra nếu hắn bò đi đến một vị trí an toàn trước khi chúng tôi có cơ hội làm điều gì đó? Suvorov xuất hiện đúng lúc đó. Tôi nhảy lên xuống chiến hào.

Và mình cũng không cần mình nữa! Tại sao mình có thể là một thằngkhông-ra-gì thế này? Nếu hai anh em có thể ra khỏi tình thế này và trở về lại tiểu đoàn. và kết luận là: “Ừ. tôi nhận thức được điều đó trong tâm trí như thể là một cơn mộng. Các đại đội bộ binh của ta rút lui. cố tự phân tích xem phải làm gì là tốt nhất. trong khi anh thận trọng đứng lên và thò đầu ra khỏi công sự. tôi thầm thì. ôi Suvorov tội nghiệp! Anh không trách cứ tôi. việc quái gì vậy? Sovorov cũng thức dậy và hỏi: “Mansur. Suvorov cẩn thận lắng nghe tiếng động bên trên chúng tôi. Phải chăng tôi lả đi sau một ngày mệt nhọc? Tôi không biết. nhưng điều đó không bao giờ xảy ra lần nữa… Bọn Đức ập đến như tuyết lở cùng với tất cả thiết giáp. mình sẽ không chơi với nó nữa. tôi đã đoán chắc việc gì đang xảy ra. chừng 2-3km về hướng tây. như thế cho phép pháo bắn tự do. Suvorov ngủ thiếp đi rất nhanh. phải ngồi và chờ một vài giờ. Nhưng khi đó tôi cũng hoàn toàn ngủ gục. nhưng bọn Frizt vẫn tiến lên. Sau đó anh bò trở lại và chúng tôi bàn xem phải làm gì.Chặng đường đỏ từ Stalingrad chiến lợi phẩm. thì chúng tôi sẽ phải cố tìm cách để về với anh em trong sự che chở của bóng đêm. Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi có nên tin điều này không? “Oh. Nhưng đâu đó sâu thẳm trong tôi vang lên một giọng cảnh giác “Thức dậy đi! Đây không phải là giấc mơ”. làm thế nào mà tôi có thể mất tỉnh táo quá nhanh và một cách hoàn toàn như vậy. xe kéo của chúng theo đội hình hàng dọc tràn qua đầu chúng tôi trong một nổ lực phá vây. tức ở đúng vị trí của tuyến phòng ngự thứ hai. Suvorov sẽ không cần một đồng sự như mình. Chả ai có thể tin nó cả. Vâng. Suvorov trở lại điểm quan sát còn tôi thì giấu mình dưới đáy chiến hào. tôi thấy mọi thứ như trong đã có trong giấc mơ! Chúa ơi. Quân ta khai hoả và tiêu diệt được một số xe trong đó có xe tăng. Và theo những gì mà Suvorov xoay xở để trông. đã rút lui chậm rãi một cách có phương pháp về trụ lại ở tuyến hai. như thế… Tôi ngồi đó. Làm sao tôi lại có thể “tắt điện” như thế và ngủ quên khi đang làm nhiệm vụ canh gác? Tôi căm ghét bản thân mình vô cùng! Nếu tôi một mình thì còn đỡ. BỌn Đức đang cố đi vòng tránh một chiếc tăng bị cháy trước chiến hào chúng tôi. nó ngủ trong khi cần có nó…”. và tôi đề nghị Suvorov ngủ trước để tôi đứng gác. Không cần thằng lười nhác vô tổ chức như vậy nữa. và nó không làm tôi tỉnh giấc. điều tệ hại nhất đã xảy ra. Trong số đó có một cuốn sổ trong đó ghi một con số tính toán ớn lạnh: 87 chiến tích. Nhưng lúc đó chúng tôi vẫn đang ngủ! Tôi thấy trận chiến này trong giấc mơ. Nhưng nhiều ngày qua mà không có dấu hiệu gì từ bọn Frizt và trong trạng thái lâng lâng sau chiến công giết tên bắn tỉa. nhưng thế chỉ làm mọi việc tồi tệ thêm. không thể trụ vững trước cuộc tấn công dữ dội có qui mô lớn của quân Đức. Cũng ngay trong đêm đó tôi mắc phải một vi phạm nghiêm trọng. Tiếng súng cách chúng tôi không xa mấy. “ và chúng ta thì ngủ quên!”. Chúng tôi luân phiên ngủ. Tôi mường tựơng ra rằng Suvorov sẽ nghĩ: “Mịe. Suvorov ra lệnh cho tôi ngồi yên. Số là cấp trên của chúng tôi dự đoán rằng bọn Đức bị vây sẽ cố gắng đột kích vào hướng tây – địa đoạn phòng thủ của chúng tôi. Chúng tôi không có nhiều lựa chọn. “Bọn Quốc xã chọc thủng tuyến phòng ngự của chúng ta”. hẳn tiểu 32 . Một thằng đầu đất. nếu trung đoàn không thể trở lại. và vì vậy chỗ chúng tôi hiện là một khu “đất chết” nên chúng tôi mới không bị phát hiện. chuyện gì thế?”. mình sẽ chỉ mở mắt ra thôi” cuối cùng tôi quýêt định như vậy. Nhưng khi chợt tỉnh. đằng này. ô tô. đó vẫn là một điều bí ẩn với tôi. thì bọn Quốc Xã đang dừng lại ở tuyến phòng ngự thứ hai. Nếu mình có thể ra khỏi tình thế này. Như thế. Trong giấc mơ. Sự thật là tất cả các đơn vị ở tuyến một. Mansur là thằng óc bã đậu. không có ý thức trách nhiệm.

tôi có thể nghe thấy tiếng nhạc Nga réo rắt. Chúng tôi không nhìn thấy được những quả đồi đó. Buổi sáng. chúng tôi đã ngủ vùi trong suốt trận tấn công: còn ngày nay thì chúng ta lại thấy khó chịu bởi tiếng xe chạy dưới cửa sổ!!! Đại đội trưởng vui mừng thấy chúng tôi còn sống: “Ít ra thì các cậu cũng không bỏ chạy về hướng ngược lại!” anh ấy cười. Tuyết chầm chậm rơi trên mặt đất. Và mỗi khi kết thúc. pháo binh khai hoả và các tiểu đoàn bộ binh vận động về phía trước. Bọn Đức chỉ đơn giản là đi vòng tránh chiến hào bọn tôi ở về cả hai phía. lại thấy mình ở hậu tuyến kẻ thù! Mệt mỏi trong chiến hào. Tôi những muốn tự sát nhưng tôi cũng không muốn bỏ rơi Suvorov. Đến giờ tấn công. đã bắn đạn phá và cối hạng nặng.v… Trung đoàn được lệnh tái chiếm và trấn giữ chúng. Bắc Karpov. Hoả lực của ta. những tiếng rên rỉ đau đớn. Chúng tôi cũng bất động. không ít hơn 40 cm. Quân Đức im lìm trong vòng vây. hãy chửi rủa tôi đi. 33 . Tôi vui mừng vì mọi việc kết thúc một cách nhẹ nhàng. dĩ nhiên. Mansur. hãy làm gì để tạ lỗi với anh em đi”. màu xám đang cuộn trở lại vào trong “cái túi”. chúng tôi trở thành đối tượng cho những trận cười nhạo liên miên. bọn Đức bị hất trở lại. sau khi mất một nửa quân số. Lúc đó là đầu tháng 12. đã trở lại vị trí ban đầu. Tôi không thể tự sát và để anh ấy một mình trong thời khắc nguy hiểm này.. Phía trước chúng tôi. Suvorov chỉ lắc đầu và bảo “Trong chúng ta. Trong những ngày sau đó. có năm quả đồi bị bọn Đức chiếm giữ. Nhưng tiểu đoàn trưởng thì bảo: “Cậu cũng sẽ không được nhận phần thưởng vì chiến công bắn hạ tên bắn tỉa”. tìm mọi cách đùa cợt có thể. hắn được sinh ra dưới vì sao may mắn” Trời rét. tôi nghe được những tiếng động hỗn loạn của sự lộn xộn đi cùng chúng ở phía trên đầu: những tiếng hét tuyệt vọng. Và tiểu đoàn. lí ra tôi phải nhận những hậu quả tệ hơn nhiều. thậm chí còn hơn ở những vùng trũng. Chúng không có thời gian để chống lại chúng tôi. tôi sẵn sàng chiến đấu. trong nổ lực chặn đứng quân thù. làm tôi nổi gai ốc! Ôi những người lính muzhik thân yêu của tôi! Này anh em. dăm băng đạn và nói một cách trang trọng: “Nào. Anh em. Cuối cùng. Mùa đông năm ấy tuyết rơi dày. những tiếng nổ inh tai. Bọn Frizt đang rút chạy và đến gần trong tầm hỏa lực: “Đến đi. dù không di chuyển. Trong khi đó. nhưng trên bản đồ. những đoạn hào bên cạnh đã được đồng đội tái chiếm. Chúng tôi đợi trong giây lát và đúng lúc khai hoả vỗ mặt quân địch đang rút lui. Với những vi phạm như vậy. Đó là điều đã diễn ra trong một đêm nào đó. khi mọi người phải đánh cược với số phận! Lính ta rất điên tiết – họ sẽ không tha thứ cho tôi cái tội ngủ quên! Suvorov trở xuống. vì tôi đang ngồi ở đây. chúng tôi quay ngược lại. sức nổ của chúng hạ gục nhiều lính thù và ắn hẳn cũng sẽ dễ dàng giết chết chúng tôi. tiếng động cơ gầm gừ. chúng được điểm danh với những cái tên như “cao điểm 126” v. Đứng cạnh Suvorov. Sau cùng. Tôi tham lam khuân theo cả một núi thủ pháo và đạn.Chặng đường đỏ từ Stalingrad đoàn trưởng sẽ chẳng cảm ơn mình! Họ chắc sẽ tước huy chương “Vì lòng dũng cảm” của mình và khai trừ ra khỏi Đảng”. Chừng nữa giờ sau. đồ vô lại!”. Trông như một cơn sóng lớn. Chúng ta đã trên cơ. mò tìm vài quả thủ pháo. trong vòng vây. nghe chừng bọn Đức vẫn tiến về hướng tây. bắn bọn Đức từ phía sau lưng. mà Suvorov và tôi. âm thanh hỗn loạn của trận đánh vọng đến. trên đầu tôi. Chúng tôi tiếp tục nã đạn: và lo ngại sẽ bắn phải quân mình – vốn đang gấp rút đuổi theo kẻ địch – đang nhanh chóng đến đằng sau bọn Frizt.

Họ trông sạch sẽ một cách đáng ngạc nhiên – bảnh bao – mặc áo choàng lông thú màu trắng điệu đà. từng cơn mưa đạn và đại pháo bắn vào chúng tôi. trung đoàn tiến đến gần mục tiêu. Bọn Đức rút lui như những kẻ hèn nhát: “Bọn Frizt kiệt quệ rồi. trong khi xe tăng của chúng – ẩn trong hố chỉ lòi tháp pháo ra – tuôn ra một cơn bão đạn. Và thế là anh em lính tráng theo nhau tụ tập lại từng nhóm. những quả đạn đó sẽ xé rách những ai ở gần chúng. tạo thành một đội hình hàng dọc lê thê. Từ mọi hướng. Đột nhiên. đang bám chặt những sợi thừng buộc vào xe thiết giáp. như một con vật sống khổng lồ. thì ít ra bọn địch cũng không còn bắn mọi người. chỉ huy bởi một đại uý. Nhanh chóng sau đó. Và để có thể đi nhanh hơn. là lính trượt tuyết trang bị bằng tiểu liên. nhưng ở đây. Đúng vào lúc đó. tôi sẽ chỉ miêu tả những gì đọng lại trong trí nhớ của tôi. Quân Đức không bắn vào bọn tôi. dường như xuất hiện từ thinh không. Trung đoàn tôi. thật là kinh khủng khi phải làm nhân chứng cho trận tàn sát đó: chúng tôi thấy thổ thẹn nhưng không thể làm gì được. chúng tôi lội đi trong vùng tuyết trắng trinh nguyên. có thể nói là. 34 . Bấy giờ. Suvorov và tôi lẩn sang một bên của khối người đông đúc và trốn khỏi vùng khói lửa. một người lính không thể thấy được bức tranh tổng thể của trận đánh ở qui mô. hi vọng rằng bọn Quốc xã sẽ không quấy rầy những mục tiêu lẻ!”. Các tiểu đoàn vùng dậy hét vang “Đất mẹ vinh quang!” và ào lên phía trước. Khoảng chừng một cây số nữa là những ngọn đồi sẽ nằm trong tay chúng tôi.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Trận pháo kích yểm trợ kết thúc bằng một pháo hiệu tấn công. chúng tôi tiến đến gần năm ngọn đồi. trong áo choàng ngụy trang mùa đông màu trắng. Họ chỉ có thể hiểu được những gì diễn ra trước mắt thôi. chúng tôi nghe thấy tiếng máy diesel gầm rú tới gần. các tiểu đoàn. Và vì vậy tôi sẽ không cố phác thảo diễn biến tổng thể của trận chiến mà tôi sẽ dễ gặp sai lầm nếu làm. “Nếu cứ như thế này thì trận chiến Stalingrad sẽ kết thúc trong vòng một tuần” Tôi nghĩ. và tôi nhanh chóng nảy ra một ý: “Tôi phải tìm cách chuồn khỏi đám đông và vọt lên một trong những ngọn đồi. tôi thấy sáng tỏ ra: đó là một biệt đội chặn hậu (một đơn vị lính riêng biệt phục vụ cho mệnh lệnh “Không lùi” của Stalin. Họ lại dùng những khẩu SMG mới nữa. Bằng cách như vậy. hoặc tốt hơn. Mọi người nghe thấy tiếng hú của những khẩu cối sáu nòng bên phe địch. cách chừng 100m. chúng tôi có thể nhìn thấy rõ ràng toàn cảnh của thảm hoạ này. ở từ khắp mọi nơi quanh chúng tôi. chạy lui. Thay vào đó. Bọn Đức đã khéo léo phục kích chúng ta. cấp sư đoàn. và đang tiếp tục bắn hạ anh em tỉ mỉ. lần đầu tiên chúng rút chạy mà không hề chống cự. pháo và đại liên quân Đức đột nhiên khai hoả trùm lên quân ta. còn sống. Một cảnh tượng thật đáng xem! Đội quân đó. bắt đầu xoay vòng vòng mà không biết đi đâu. cùng với khoảng 50 người khác. cố hành quân chỉ ở những nơi có lớp tuyết dày và cứng. chúng tôi phải cưởi ra cả áo khoát và áo vatnik (mọi loại áo bông – ND). Cuộc tấn công không hề bị một cản trở nào và cũng không thấy các ổ đề kháng của quân địch. phe ta dồn ép quân Đức một cách quá dễ dàng như vậy. Trung đoàn mất kiểm soát. Chúng tôi nhìn thấy xe tăng quân ta – chừng 20 hay 30 chiếc – đằng sau đó. Chúng tôi đã thoát khỏi cái bẫy. Chúng không muốn chiến đấu nữa” Tôi nhớ rằng mình đã nghĩ như vậy. Đột nhiên. đại đội ít có thèm lặn lội trong tuyết sâu. À. được bắn vào những quân sỹ tiền tuyến bỏ chạy – ND). Ở khoảng cách đó. vì không có sự kháng cự. dù người ướt đẫm mồ hôi như thể mới lội từ dưới nước lên. Có lẽ đây là lần đầu tiên ở phương diện quân Sông Don. Chân ngập sâu trong tuyết.

anh em nói cho chúng tôi biết về vị đại uý của họ. anh là một thiếu tướng hồi hưu. anh chặn một tiểu đoàn lại và tổ chức phản công. khi viên đại uý bắt tay tôi một cách thân tình và điềm tĩnh nói bằng một giọng mang khẩu âm Estoni: . Tôi nhớ đến tất cả những chỉ huy nồng nhiệt thi hành mệnh lệnh 227 “Không lùi”: quả thật không có một người Estoni nào cả.“Này Mansur. anh là người Estonia. đang loay hoay cùng cái áo mưa cố làm một thứ gì đó trông như chiếc lều. Sau này. và đúng như tôi đoán. Tham mưu trưởng trung đoàn Đại uý Pavel Bilaonov xuất hiện giữa họ. và đến hầm chúng tôi. Hiện nay. Hơn 100 lính Đức bị bắt. Mười ba xe tăng. Anh đã đọc sách của tôi và thấy tên mình trong đó.“Không” . Hai tiểu đoàn đang rút lui thấy hành động của Bilaonov cũng quay lại vị trí tấn công.“Tôi trả lời câu hỏi của cậu nhé: vì tôi là người Estoni”. nhưng lúc nguy cấp. Vài người lính kể chúng tôi rằng trung đoàn bạn ở bên cạnh cũng trong tình trạng khó khăn như vậy. Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi bị thay bởi một người khác. Đầu tiên. “Lúc đó. Thật là nhục nhã! Những sĩ quan chỉ huy đến thăm chúng tôi trong cả đêm. áo bành tô của người chết. sự nhẹ nhõng trong mỗi người biểu hiện thật rõ ràng. Anh tên là Yan Tukhru.“Hãy cho tôi biết vì sao anh không bắn những tay lính rút lui – trong đó có tôi và đồng đội – không như những đội “chặn hậu” khác?” . Chúng tôi rất khó khăn để tin vào tai vào mắt mình. còn áo thì thấp đẫm nước đến mức có thể vắt ra được.“Hãy lấy áo vanik. Sau khi cùng anh hồi tưởng lại những chiến thắng và cả những thất bại của quân ta – trong đó có tình tiết kể trên – tôi hỏi anh một câu hỏi đã theo tôi bao năm qua: . sáu pháo và 8 khẩu cối của quân địch bị phá huỷ. 35 . anh mời tôi đến thăm anh ở thành phố Tallinn. nhưng chúng tôi không thể nhìn mặt nhau. Mọi người tìm thấy thi thể anh ta dưới chiếc áo: người đồng chí tội nghiệp này đã bị chết ngạt. Cái giá của năm quả đồi đó thật quá mắc với chúng tôi. anh đã khiến cho binh sỹ vững vàng trụ lại và nằm rạp xuống. Bằng giọng nói như sấm rền và sắt đá của mình. Các cậu đã cố để thoát khỏi cái bẫy!”. cậu để ý có gì đặc biệt trong số những chỉ huy của đội chặn hậu không?” . Các quả đồi cuối cùng cũng đã chiếm được. Vị đại uý thấy hơi nước bốc lên từ chúng tôi như thể mọi người vừa bước ra từ nhà tắm hơi bania. Anh em thấy anh ta đêm hôm trước với một cái chậu đầy than đang cháy. Tấm gương anh hùng cá nhân của anh trở thành mẫu mực binh sỹ.“Không ai bắn cậu đâu! Các cậu không phải là những tên hèn. Trận chiến đấu kết thúc sau chừng một giờ. Một buổi sáng sau đó.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Tôi đã sẵn sàng nói lời từ biệt cõi đời. . cấp trên nghi ngờ về sự miễn cưỡng thi hành mệnh lệnh của tôi và cho rằng tôi là một kẻ quá cứng đầu”. chúng tôi mất một người lính tên là Akhmet Garipov. Ở đó có lò sưởi đấy” anh tử tế nói.

Nhiều kiện bị rách và trong đó tôi thấy chứa toàn quần áo. Nếu anh cho cả đầu vào trong sandal thì chết. một bác lính Uzbek già. ngày hôm qua. cũng có một bi kịch không ngờ khác. còn đầu thì thò ra ngoài để thở. Tôi sinh trưởng ở miền Siberi. Huống hồ là những người Uzbek. Những ai biết được về mối nguy này? Dĩ nhiên. Tôi tiếp tục chú mục vào vùng-đất-không-người và cầu mong có ai đó sẽ chạy đến chỗ các kiện hàng bị mắc kẹt đó: và nếu ổn tôi cũng sẽ tự mình đi. máy bay vận tải của bọn Đức thả xuống dăm kiện hàng rất có giá trị gần tiểu đoàn chúng tôi: một đống ủng ấm bằng nỉ với đế. nghe như mùi lò sưởi được sử dụng lần đầu. làm rất tốt. nhưng mọi người chỉ nên đưa chân và bụng vào sandal. Garib! Nó muốn làm một Tashkent thu nhỏ mà! Nó muốn làm một cái sandal của người Uzbek chúng tôi! Sandal là một cái hầm. Bọn Frizt tức điên khi thấy anh em lấy ủng của chúng. Ở đại đội bộ binh bên cạnh. Sandal sẽ tốt lắm.tôi thấy có vài kiện hàng bọn Đức thả xuống cho người của chúng. nên phần thân thể còn lại của mỗi người bị ẩm ướt bởi mưa và tuyết tan. Khi nào thì chúng tôi mới thôi dại dột?? Vài đêm trước. ấm và không thấm nước. Sau đó cả gia đình và khách nằm quanh sandal. nhưng quân thù gây sức ép từ mọi hướng. 18 binh sỹ đã nhảy xuống và đã ngủ một giấc ngủ vĩnh viễn. chúng tôi bị mất hầu hết áo mưa. Hơi ấm bốc lên từ đó. Họ nhận ra cái lỗ hố đó dẫn đến một căn buồng trông như một cái chậu có đường kính tầm 5-6 thước. Đầy than nóng. Anh ấy không nói gì. khi đã nuôi đứa con lên 15 tuổi. tạo ra từ vụ nổ. Những chiếc áo mưa mới toanh! Nếu như có ai đó có thể lấy …. Vào tháng 12 năm 1942. bọc da. cả áo mưa nữa. Garib. Vài cậu lính tìm thấy ở cạnh hào có một cái hố tròn cở cửa sập xe tăng. nhưng những điều kiện thời tiết ở đây cũng đã quá khắc nghiệt so với mình. nó được tạo ra bởi sức nổ của một quả bom. Garib chui đầu vào đó. là thợ mỏ. bởi việc đó có vẻ như là tôi bóng gió gợi ý cho anh ấy đi. Tôi chỉ những chiếc áo mưa cho Suvorov thấy. Bây giờ thì chân ấm rồi. con người có thể sống ở nhiệt độ âm 50 đến 70 độ C nếu không có gió. Và tôi 36 . Tốt nhất là nên im thôi! Giờ tôi phải đi nếu không thì bị xem như một thằng hèn. Đúng là tốt hơn loại ủng valenki truyền thống của chúng ta. ở trường lục quân. Bấy giờ tôi thấy xấu hổ. ở khu phân tuyến (hay vẫn thường gọi là vùng-đất-không-người) – chừng 200m từ chiến hào quân ta . nhiệt độ ở Stalingrad thỉnh thoảng rơi xuống đến âm 40 độ C. ôi cái đầu ngu ngốc mà thánh Allah đã ban cho mi. sẽ ấm lắm. Vâng. tôi là thợ mỏ: nhưng nếu tôi là người tìm được cái chỗ ngủ tuyệt vời đó. chắc tôi cũng sẽ là người đầu tiên nhảy xuống và chiếm lấy nó. Nitric Oxit. vốn sống ở phương nam. với những khe hở hẹp trên đó. mọi người rất vui vẻ dùng ngay.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Latyp-aka. Vài người quyết chui vào đó để đánh một giấc ngắn trong cái chỗ ấm áp dễ chịu này. Đất sét ẩm ướt bị nén lại rắn như gạch. tôi đã lả người đi như thế nào trong cái nóng mùa hè Tashkent. Chúng tôi phải làm gì bây giờ? À. nói bằng thứ tiếng Nga sai bét “Ôi Garib. lắc đầu một cách buồn bã. Đất nước ta rộng lớn biết bao! Một số nơi thì quen với cái lạnh còn nơi khác thì nóng. và tổ quốc đang cơn nguy khốn. đắp lên hàng lớp chăn. và chỉ có một nơi đển ẩn thân thôi: chiến hào. Dĩ nhiên. Garib. và bức tường của “cái chậu” rất ấm. không có chỗ cho sự thận trọng đó. Nhưng ở Stalingrad thì thật độc địa với những cơn gió thảo nguyên. Một cái chết thật tội. Chỉ nên chết khi già thôi. tiếp tục thấm qua từ các khe nhỏ nhưng sâu đó. nên chia sẽ với họ về cái lạnh. Phải chi chết vì một viên đạn trong chiến đấu thì tốt hơn…” Tôi lắng nghe bác người Uzbek nói và nhớ lại. trả valenki lại đây và lấy súng của bọn tao đi này!” (Chúng ta có khá nhiều tiểu liên Đức và hàng đống đạn của loại ấy). và gào lên: “Bọn Nga. Nhưng cũng vào thời điểm đó.

Chặng đường đỏ từ Stalingrad đã tự mình băng qua vùng phân tuyến. Tôi đến chỗ kiện hàng bị rách và nhìn quanh: chiến hào bọn Đức ở đâu nhỉ? Mình sẽ là một mục tiêu tốt cho một tay bắn tỉa! Dù sao, nếu hắn trượt viên đầu thì tôi sẽ có thể chuồn được. Nhưng mọi thứ yên tĩnh và tôi không thấy gì đáng ngờ. Tôi chộp một góc chiếc áo mưa và bắt đầu kéo nó ra khỏi một đống thứ linh tinh trong đó. Nhưng khi đấy, từ đâu vài tên phát xít xuất hiện. Tôi sợ đến mức thở không nổi và cho rằng phải có đến ít nhất là mười bảy tên. Nhưng hượm đã, tôi không có thứ vũ khí nào trên người! Cả khẩu súng lục, mà viên đại tá xe tăng đã tặng, cũng không! Bọn Đức đứng thành một vòng bán nguyệt, nhếch mép và cười nhạo: chúng thấy có một thú vui nho nhỏ. Hàng trăm suy nghĩ như chớp giật trong đầu tôi ở giây phút ngắn ngủi đó. Nhưng may mắn thay, nỗi sợ hãi không làm tôi mù loà: cách vài bước chân, là một cái hố trong đó có một hộp đã mở chứa đầy lựu đạn. Bọn Đức vẫn đứng cười: “Hê hê, thằng Nga Ivan!”, chúng xoay xoay ngón tay trên thái dương như thể muốn nói “đồ khờ, mày lê mông ra đây chỉ vì cái áo mưa à!”. Có lẽ bọn chúng đang buồn chán nên muốn kích động tinh thần đồng bọn một chút - những kẻ hẳn đang theo dõi tấn kịch này. Bọn địch vẫn nhìn thấy tôi, ôi tôi ước gì tôi có thể lấy được dù chỉ một trong chỗ lựu đạn kia. Mà này, mình có gì để mất nữa nhỉ? Thế là tôi áp chặt tay vào bụng và nhảy vọt vào trong cái hố. Vồ lấy một quả lựu đạn, tôi tin rằng bọn Đức đã không chú ý đến cái hộp, hoặc quá hưng phấn để e ngại một tay Ivan không tấc sắt. “Mình phải làm được trước khi bọn chúng bắn!” tôi nghĩ, trong khi tay tôi đã tự động làm việc, khi ấy bọn Frizt vẫn đang cười rộ “Ha-ha-ha”, “Ho-ho-ho” và “Thằng Ivan, đầu hàng đi, cửơi Valenki ra!”. Tôi chợt thấy có hai khẩu tiểu liên nằm cạnh đó, phủ một lớp băng mỏng. Nó có đạn không nhỉ? Tôi cúi gập người, đôi tay tìm kiếm ổ đạn. Tháo ra. Băng đạn ken đầy trong ổ. “Đi nào!” Những quả lựu đạn được tới tấp ném, nhanh đến mức quả đầu nổ khi quả thứ ba cũng đã được ném. Tôi tiếp tục ném chúng ra như những hòn than nóng đỏ. Sau đó, tôi nhảy khỏi hố với khẩu súng trên tay, không thèm nhìn để xem việc gì xảy ra ở cái chỗ mà trước đây vài giây bọn Frizt hăm hở cười, tôi lia vài tràn. Bấy giờ bọn địch gào lên cái gì đấy! Giận dữ, tôi lôi mạnh một góc chiếc áo mưa, và nhấc chân lên chạy, nghe tiếng đạn réo đằng sau… Tôi nhảy trở vào chiến hào cạnh Suvorov. Người chỉ huy thân thương rủa yêu và thụi, đá tôi vài cú. Kể từ ngày đó, cho dù đang đào hào, tôi luôn mang theo khẩu tiểu liên bên mình. Thật là bất tiện khi làm việc, nhưng sẽ không bao giờ tôi rời xa vũ khí nữa, dù chỉ một phút.

37

Chặng đường đỏ từ Stalingrad

Chương 5: Quà tết cho bọn Phát xít
Rồi một đêm, có một nhóm sứ giả đến trận địa chúng tôi. Chắc họ đến từ một lữ đoàn Rumani. Tiểu đoàn trưởng triệu tập tôi lên sở chỉ huy để những tay sứ giả ấy có thể nhìn tôi tận mắt: đó là vì họ đã thấy tôi cướp cái áo mưa ngay trước mũi bọn Đức. Cả nhóm 8 người đó đều mặc áo len bó màu đen, dày cộm. Bọn họ trông giống như người Armeni hoặc người Grudia ở nước ta. Dù ở sở chỉ huy khá tối – đèn là những chiếc hộp đạn chứa dầu – những tay Rumani vẫn nhìn tôi. Sau đó, họ bàn riêng với nhau, còn tiểu đoàn trưởng thì cho tôi về. Chắc là họ đến để bàn về các điều kiện đầu hàng, và dăm đêm sau, vài trăm binh sĩ từ lữ đoàn địch, hoạt động trên khu vực trận địa chúng tôi, hạ vũ khí. Những người điều đình đó cũng đã cung cấp cho chỉ huy quân ta khá nhiều thông tin có giá trị, và cả sơ đồ bố phòng của quân Đức trước sư đoàn chúng tôi. Mọi người thấy được kết quả bắn phá của pháo binh vào phòng tuyến địch vài ngày sau, khi chúng tôi tiến lên. Họ cũng cho tiểu đoàn trưởng tôi biết một vị trí mà hằng đêm, lúc 11h00, một bếp ăn dã chiến sẽ phục vụ đồ ăn nóng. Các khẩu cối được lệnh “chăm sóc” cho cái bếp ăn đó. Chúng tôi xác định vị trí bắn phá, và tính ra rằng chỉ cần tăng góc bắn lên vài độ, ở thước ngắm số 3 thì sẽ bắn trúng. Đạn cối chiến lợi phẩm được đưa tới điểm bắn: 30 viên cho mổi khẩu đội. Trung uý Stukach và tôi cẩn thận lên điểm quan sát, nhìn thẳng sang chiến tuyến địch. Mở to mắt và yên lặng, chúng tôi đợi. Trời hẵng còn sáng lắm, dù chỉ có trăng thượng tuần nhỏ xíu lơ lửng trên không. Đúng 11h00, như đã được báo, một bếp ăn dã chiến xuất hiện. Bọn Đức, mỗi tên mang theo 2-3 cái gà-mên bắt đầu tụ tập đến, từ khắp nơi. Không dưới 100 người xung quanh bếp ăn. Tên anh nuôi làm việc. Và chúng tôi cũng vậy. Cả chín khẩu cối cùng khai hoả. Chúng tôi không tiết kiệm khi “phục vụ” bọn Quốc xã bằng chính đạn của chúng. Không vui vẻ gì khi giết người. Nhưng tại sao quân Đức đến nhà chúng tôi? Tại sao chúng mang chết chóc, khổ đau cho đất nước tôi? Chúng muốn chúng tôi đầu hàng mà không chống lại chăng? Tôi thấy chúng sau đó, khi quân địch đã bị đuổi khỏi Stalingrad, những mảng tử thi đông cứng theo những hàng dọc ngả nghiêng. Ai trong số họ cũng có một người mẹ đang chờ đợi ở quê nhà. Đột nhiên, nỗi niềm trắc ẩn dâng nghẹn ngào trong tôi. Nhưng điều đó nhanh chóng tan đi. Những người mẹ đó đã nghĩ gì, chờ gì khi gửi những đứa con và cuộc chiến này? Và họ muốn gì ở chúng tôi? Anh em lại bị đói lần nữa. Nhà bếp quân ta bị bọn Đức thổi bay. Hơn nữa, khi đó Hitler lại ngưng tiếp viện thực phẩm theo cầu hàng không cho đội quân của Paulus, nên chúng tôi cũng không còn nguồn thức ăn chiến lợi phẩm. Tôi mò tìm đến một đồng đội, thượng sỹ Smirnov, trung đội trưởng trung đội hậu cần. Chúng tôi là bạn từ thời ở Malaya Yelshanka, nơi trung đoàn nghỉ chân vài ngày trong chặng đường hành quân ra mặt trận. Ở đó, tại Malaya Yelshanka, cùng với quân phục, chúng tôi cũng được phát xà cạp. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy vật này, vì học sinh sỹ quan chỉ mang vớ. Tôi tự hỏi: làm thế nào mà cái băng trơn tuột này có thể nằm yên trên bàn chân khi mà cẳng chân nhỏ dần về phía dưới?” Nếu cái xà cạp rộng dần về phía cuối thì đơn giản hơn nhiều. Bọn tôi không được dạy cách dùng xà cạp ở trường, nhưng tôi không muốn mình trông như một thằng khờ, và vì vậy tôi cột chỗ bàn chân lại chặt hết 38

Chặng đường đỏ từ Stalingrad mức có thể, với tất cả sức lực của một người thợ mỏ, cái xà cạp không bị tuột nữa. Bàn chân tôi trở nên tê buốt nhưng tôi quyết để như vậy. Lúc đó có lệnh tập hợp đội hình thực hành chiến đấu với mặt nạ chống độc, thứ này đã được phát trước. Tôi hành quân với đôi bàn chân không còn cảm giác nữa! Sau khi đi được chừng 1km, tôi nằm vật ra, rên rỉ vì cơn đau kinh khủng nơi bàn chân. Thượng sỹ Smirnov chạy đến bên tôi và hiểu ngay vì sao. Trong một giây, anh tháo ngay cái xà cạp ra và chỗ bị cột bung ra như một chiếc lò xo bằng thép. Chân tôi tái xanh trông giống như ống dẫn hơi gấp nếp của chiếc mặt nạ phòng độc. Sminov mát-xa cho cẳng chân và bàn chân tôi chừng mười phút, khi ấy tôi cảm thấy như có hàng triệu chiếc kim châm bên trong, màu da trở lại bình thường. Anh thượng sỹ tiếp tục xoa bóp và rủa như điên “Đồ khùng? Sức ở đâu mà cột chặt dữ vậy hả?”. Cả đại đội phải chờ nửa tiếng trong khi tôi ngồi xuống rồi nhảy lên theo hướng dẫn của Smirnov. Anh vui mừng vì mọi thứ ổn trở lại: nhưng anh hiểu rằng, anh đang phải đối diện với một đám học sinh sỹ quan vốn phải ngốn chương trình học ba năm trong vòng 6 tháng. Anh tự thân quấn lại xà cạp cho tôi một cách nhẹ nhàng, đính cái thìa phía sau chỗ cột và ra lệnh: “Đừng động vào đó!” Bây giờ thì tôi tìm thấy anh tại một hẻm núi sâu, một chốn trú an toàn cho anh và trung đội của mình, kể cả lũ ngựa cùng xe kéo. Thượng sỹ Nicolai Smirnov đang ngồi trong một căn hầm bê tông trông như một tiểu vương hay một gã tù trưởng, no đủ, râu tóc nhẵn nhụi, cằm nọng mỡ. Anh ném một tia nhìn e ngại về phía tôi và rồi nhận ra là ai: - Ồ, Mansur, vào đây, ngồi đi. Vẫn còn sống à? - Này Smirnov, cho tôi chút gì để ăn với. - Tớ chả có gì cả, cả bọn cũng đang đói chết đây này. - Đừng đùa mà. Ít ra cũng đưa tôi một mẩu bánh khô cho Suvorov chứ. - Tớ không còn gì, thật đấy. Cậu tự biết mà Mansur, cả đời tớ có biết từ chối các cậu bao giờ đâu! Tôi ngồi đó, suy nghĩ: anh ta có nói dối không nhỉ? Nhưng rồi tôi nhớ lại những lời khuyên đầy lo âu của anh lúc bên hữu ngạn sông Đôn trước trận chiến đấu đầu đời, khi anh thấy chúng tôi kiệt sức và nằm đờ ra “Này các cậu, đừng ăn tham quá! Sẽ bị đau bụng đấy! Đau dạ dày, Lạy trời đừng ...các cậu chỉ nên mút từng chút một thôi”. Tôi cũng nhớ rằng anh đã cho ngựa ăn bánh mì trong khi anh chịu đói để có thể mang các thực phẩm đến cho chúng tôi. Thật xấu hổ vì đã không tin tưởng anh ấy. Sau từng ấy việc chắc là anh không nói dối đâu. Lúc đó, Smirnov bật ra một ý tưởng: - “Tớ có thể cho cậu cỏ hỗn hợp. Đồ ăn của ngựa” - “OK” Năm phút sau, quân của anh mang ra một bao. Bên trong là những bánh trấu yến mạch trộn bột mỳ, trông xù xì như con nhím. Tôi nghĩ “À, khi trước bọn ngựa ăn bánh của ta, giờ ta ăn lại của chúng” - “Cho vào trong ấm với nước” Smirnov hướng dẫn “đun sôi, vắt trấu ra và uống nước. Nó sẽ làm dịu cơn đói”. Tôi vác bao cỏ hỗn hợp lên vai và về “nhà”. Cả đại đội tụ tập lại và nấu vài bánh. Chúng tôi quá đói đến mức ăn cả trấu luôn: nó dường như mềm đi, và chúng tôi mong rằng mọi người sẽ ổn cả.

39

Tôi cố làm dịu cơn đau. trung đoàn bị thương vong nhiều. Khi chúng tôi đào vào mặt đất đông cứng – những đôi tay bị phồng rộp – Đất Mẹ đã phải nghe hàng loạt từ ngữ nặng nề: nhưng giờ đây. nhóc! Đây là lúc ngươi tự khẳng định điều đó!”. Cánh hậu quân cũng bị đập nát. Cũng như bao đồng đội. nhưng thật là đau. tôi tự bảo rằng “Đấy. Lính thông tin thì hi sinh cả và đơn vị mất liên lạc với thế giới bên ngoài. tôi bò vào chiếc hang của tôi ở đáy chiến hào. Chúng tôi chứng kiến một cảnh kinh khủng ở khu phân tuyến: nhiều quân Rumani và Hungari giơ tay lên. đạn pháo đổ ụp lên chiến hào chúng tôi. ôm bụng rên rỉ. trong cái lạnh âm 30 độ. Họ không cần chôn cất. những người Uzbek. một cơn sóng thần của đạn cối. không nước. hàng thứ 3 là người Hungary rồi thứ tư lại là bọn Đức. Bọn Đức bị vây dù sao cũng tốt hơn. cũng bị tuyên một “bản án định mệnh” Cuối tháng 12 năm 1942. tai điếc đặc. Cũng từ ngày anh em đó đến với chúng tôi. Ôi thật dữ dội! Đau cào ruột. Lúc ấy tôi vọt ra khỏi hang như một con chuột chũi và dáo dác ngó nghiêng xem việc gì ở xung quanh. không bánh mì. nhỡ bị vùi trong đó khi đất lở xuống thì còn có thể tự nhoài ra. những tiếng nổ theo nhau liên tiếp. nhưng không thể. lúc rạng đông. dĩ nhiên. nhưng giữ chân ở bên ngoài. Biết rất ít tiếng Nga. Những người còn sống bò ra. bọn Đức bắn gục họ. Lớp lớp quân thù tiến đến gần: hàng đầu là quân Rumani. Tin tốt là lớp đất đá ở đây rất cứng và chiếc hang vẫn trụ vững. Khi nhìn thấy những anh em lân cận vẫn còn sống và không bỏ chạy. thế là chúng tôi không thể đun lên để lấy nước nữa. Một tay tháo vát nhất trong số 40 . Mọi thứ tối sầm trước mắt. Không khí khô bỏng tưởng chừng oxi đã bị đốt cháy hết bởi đạn và bom. tôi cầu xin Người tha thứ. trong một cử chỉ đầu hàng. ẩn mình trong chiếc hang. tôi cảm thấy như tất cả hoả lực đều hướng thẳng về hố của mình.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Ngày hôm sau những thứ hoàn toàn không mong đợi đã xảy ra: tôi muốn đi ị. Nhưng cũng không có thời gian cho việc biểu lộ tình cảm dù vui hay buồn – vì bọn Frizt và đồng minh của chúng bắt đầu tấn công. tôi lê trở về lại chiến hào như thể từ bệnh viện về sau một ca mổ khó. Sao mình lại ăn trấu nhỉ? Smirnov đã dặn rồi mà!”. sau đó là bọn Đức. Và tôi cũng nghe tiếng rên rỉ của những người lính khác đâu đó đằng cuối chiến hào: các đồng đội. vĩnh viễn. tôi gào lên như một con lợn trong lò mổ – chắc cả cây số cũng còn nghe được! Gập người. người Tadzhik và những người bạn khác đến từ phương Nam thấy chính họ – không chén chè xanh quen thuộc . dưới cơn mưa đạn pháo. không makhorka và dĩ nhiên là bếp ăn! Tuyết bị trộn lẫn với đất cát. Tiếng đạn réo man rợ đủ làm chúng tôi mụ người! Mặt đất đung đưa từ trước ra sau như làm bằng cao su non hay bằng thạch trái cây. tôi cảm thấy xấu hổ và lặn trở lại chiếc hang của mình lần nữa! Trận pháo kích đột ngột kết thúc như cách nó bắt đầu. Sau đó. tân binh bổ sung đến từ các nước cộng hoà Trung Á. giữa trận phòng ngự này. “Hic. Nhưng cũng rất nhiều anh em đã nằm lại trong chiếc hố của họ. Tôi cũng cảm thấy sợ: “Có lẽ chỉ còn mỗi mình ở đây!”. Và thường.chết lặng lẽ như những con thiêu thân. nếu bọn Đức không giết được mình” tôi nghĩ “ thì chính sự ngu xuẩn của mình sẽ làm việc đó. cuộc tấn công bị đẩy lùi. quân địch tụ tập lại và tiếp tục tràn lên. Đó. thêm vào đó là những trận bom. bọn Đức bắt đầu nhạo báng qua loa: “Này Ivan! Hãy đổi những thằng Uzbek lấy bọn Rumani này!” Sáng hôm sau. Trên đầu. Ngừng một chút. Đồng đội – cũng bị nỗi sợ tác động – nhô đầu ra với dáng vẻ tương tự. cứ như vậy mà chúng tôi đã bám trụ ở chiến hào trong mười ngày. một đợt pháo kích nữa lại chụp lên chúng tôi buộc anh em phải chui vào hang trở lại. bởi chúng ở trong làng và có giếng. Chúng tôi đón chúng với toàn bộ hoả lực cối và súng máy. Anh em thường an ủi nhau bằng một ý nghĩ kỳ quặc rằng “một hố đạn không thể bị trúng hai lần”.

nặng mùi đó đọng lại trong vũng. Những tay báo chí đó chụp một bức ảnh chung cả hội. Anh đợi cho dòng nước dơ. tận dưới đáy. chúng tôi đục cái khác và cứ vậy cho đến khi dưới đó lộ ra hàng đống thi thể bọn Đức. nhiếp ảnh tìm đến chỗ chúng tôi. trước lúc rạng đông.Chặng đường đỏ từ Stalingrad anh em chạy đến một hẻm núi. Mọi người quá yếu để diễn tả lại cảnh phòng thủ chiến tuyến của mình. Tôi thấy bệnh nhưng không chịu ngưng vì đã ba ngày rồi tôi chưa có một mẩu bánh nhỏ trong bụng. Dĩ nhiên rồi. ở đó. khi chiến đấu gần Stalingrad. trong khi anh em thì chộp ngay những cái túi thêu bởi các cô gái. như có thể thấy hộp sọ với hốc mắt đen to. chúng ta có thể sống đến 3 thậm chí 4 tuần. Anh chính uỷ giải thích “Góc ảnh không đẹp lắm…”. Với hầu hết anh em. “Chiến sỹ. cái vũng lúc đầu ấy bị đóng băng. Và chúng tôi. pháo. đều nghiêm túc làm những gì được bảo: mỗi tên phát xít bị giết coi như là thực hiện yêu cầu đặc biệt ấy. Cuối cùng. Rồi cũng trong đêm đó. Bạn sẽ là người hùng trong ngày nếu may mắn vớ được một cái như vậy! Tuy nhiên. hoặc một túi thuốc lá nhỏ nhét đầy makhorka. Tôi đưa gà-mên lên môi. “Lời chào mừng từ những nữ Đoàn viên Komsomol thuộc nông trang Bình Minh Chủ Nghĩa Cộng Sản”.Thần Chết của bọn xâm lược Đức – là đẹp”. thật lợm giọng: nghe như mùi trứng ung! Nhưng rồi chúng tôi uống cạn và tận dụng mọi cơ hội để quay hẻm núi đó để mang về nhiều hơn thứ nước ghê tởm ấy. “Hãy chiến thắng trở về!”. Sau đó. anh lấy về cho mọi người. răng nhe ra. trong các hộp chứa đạn. mọi người thường nhận được bưu phẩm mang theo quần áo ấm từ miền quê Siberia của tôi: vớ len. Cậu anh nuôi định quay lui và tìm đến chỗ của đồng đội mình. nơi dễ nhìn thấy. Những cái túi được thêu và bạn có thể ngay lập tức biết đó là sản phẩm của một thiếu nữ hoặc một em bé. chúng tôi đọc thấy những hành động anh hùng của mình trên báo nhưng hình thì không thấy đâu. Họ không bao giờ nhầm! Trong những cái túi ấy. vài tay phóng viên. khăn quàng cổ. có thể có cái chứa ảnh và thư. Một cậu bạn hay pha trò. tình cờ lạc đến chỗ chúng tôi trong đêm. Mọi người buộc những chiếc túi ấy vào đai trên đỉnh những bộ quân phục. Một cậu nhận xét rằng: . và trước ngực trương thêm bảng hiệu . Ngoài ra. múc vào gà-mên rồi uống thật lực. tin nhắn hay bưu phẩm từ nhà. Môi khô rộp. Sau đó. phát hiện đó chả là gì cả “Như nhau cả. đã đoan chắc với anh em như thế này: .“Con người có đến 80% là nước! Nhiều gấp 3 hoặc 4 lần so với lạc đà! Không có nước. Xuyên qua lớp da thịt mỏng dánh. thư ấy cho các đồng đội khác: bởi họ đã có gia đình hoặc đã hứa hôn. bom …. chết vì đạn hay vì ngộ độc cũng thế”. Còn nếu không có thức ăn thì còn lâu hơn! Bởi mỗi chúng ta có đến 50kg thịt!”. Mùa đông năm ấy. mà từ đó một ai có thể viết thư cho cô. chúng tôi cũng tìm thấy những khoản khắc dễ thương: một mẩu giấy mang địa chỉ một cô gái không quen. những ai có được chiếc túi như vậy. cũng có những “người hùng” phải chuyển các tấm ảnh. anh tìm thấy một dòng tuyết tan bẩn thỉu. chả thể nào đưa những bộ xương cách trí lên báo cả! Niềm vui lớn nhất của cánh lính tráng là được nhận thư. vét sạch nồi cháo vốn thuộc về người khác. Sau 10 ngày đó.“Chúng ta nên cầm thêm cái lưỡi hái trong tay. Ngày hôm sau. chúng tôi trở thành những bộ xương biết đi. găng tay hoặc áo len đan tay. “Hãy báo thù cho người cha đã hi sinh của em!”. một bếp ăn dã chiến của tiểu đoàn khác. Nhưng bị anh em túm lấy. Trên các túi có thể đọc thấy những dòng chữ như: “Cái chết cho bọn xâm lược Đức!”. 41 . Những bác lính muzhik già thích cái sau (tức makhorka) hơn. hãy trả thù cho em trai tôi!”.

để có thể triển khai tấn công phủ đầu các khẩu đội pháo địch. không đầy 8 tiếng nữa là trời sáng… Người đầu tiên động thủ là Pavel Suvorov. thế đấy!”. Hoặc với những ai không thường làm việc tay chân thì sao? Cuối cùng. Dường như cả nước đang cùng chúng tôi ở chiến trường. cùng những đám mây đen tả tơi đang trôi nhanh về phương nam trông như một đàn ngựa hoang Mông Cổ. tôi ngã dập mặt xuống. Mười lăm phút sau. nhờ có nó mà khẩu đội tôi luôn đào xong nhanh nhất. Nhưng Suvorv trông u ám và phiền muộn. một người hiếm khi mở miệng. lệnh cho chúng tôi nằm xuống. từng làm việc nặng từ thưở nhỏ. phía cuối được uống cong với một cái gọng theo chiều dọc làm cho cứng cáp thêm. Từ mọi hướng. như bị ai đó đâm bằng que thông nòng từ phía sau. họ trở lại. ngồi dậy và chuẩn bị đi tiếp. Mansur. chắc chúng tôi sẽ bị cuốn đi như những lá cỏ đến nơi nào chỉ có Chúa mới biết! Cát. Tôi muốn rơi nước mắt khi một ý nghĩ tồi tệ chạy trong đầu “Thà chết còn sướng hơn sống như thế này!”. Tôi liếc nhìn đồng hồ: đã 1 giờ đêm. dẫn đầu bởi đại đội trưởng. Tôi kéo một hơi thở dài. đầu gục vào ngực. Nó có cán bằng gỗ sồi. Nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh. bập nó vào mặt đất với tất cả sức mạnh. Cả hàng quân ồn ào như một bầy ong vỡ tổ. Do vậy.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Những bưu kiện ấy làm ấm lòng chúng tôi. chui vào. chỉ huy ra lệnh cho chúng tôi di chuyển đến vị trí bắn mới. chúng tôi tuân lệnh và bắt đầu gói ghém đồ đạc. Và thế là tôi nằm đờ ra với cơn đau – dạng như chứng đau dây thần kinh – mãi cho đến khi cảm giác đau đó tan dần đi. Và nếu với tôi. tôi ngẩng đầu lên nhìn trời: trên ấy là một vầng trăng tròn lạnh lẽo. mũi gần như chạm đất. cái rét len vào tận xương. Còn anh cùng cậu liên lạc biến vào trong bóng đêm. chỉ huy là Andrei Bogdanov) khai rằng bọn chúng dự định sẽ cho chúng tôi một món “quà năm mới” và lúc nửa đêm giao thừa. nói nhỏ vào tai 42 . cả đại đội. Fuat. Anh có một cây cuốc chim chiến lợi phẩm. Những người khác thì gào lên “Câm mồm! Không có mày thét lác thì mọi sự cũng đã đủ tệ rồi!”. Đột nhiên. dài gần 1m. Cảm ơn quả cuốc chim. Rồi anh vung cuốc lên. Tôi có cảm giác như mình hoàn toàn trần truồng. Ngày 28 tháng 12 năm 1942. xoay sở bám theo đại đội trưởng với chút sức lực cuối cùng. Nhưng khi ấy. một thợ mỏ 19 tuổi. Sau nửa giờ hành quân khổ sở. Lầm bầm chửi rủa cả thế giới này. tôi nghe như có tiếng sắt thép chạm vào nhau. tôi biết thế là thôi rồi. Nhưng trước hết. Phía dưới thì một đầu nhọn hoắc như cây giáo còn đầu kia như một cái đục. Trời lạnh âm 30 độ. chúng tôi chiếm được một khe núi rất tốt từ bọn Đức. bụi và những hạt băng nhỏ làm mọi người như mù đi. Cơn đau tệ hại đến mức tôi thở không nổi huống hồ là đi. Lệnh này đến sau một trận chiến gay go nhưng thắng lợi. chuẩn bị ngủ thì nghe khẩu lệnh của đại đội trưởng vang lên “Đại đội! Vác súng lên!”. Anh đứng đó. và thấy những tia lửa đỏ bắn ra từ chỗ nhát cuốc của anh vụt xuống. Để chống lại sức gió. Nếu không có những trang bị nặng nề trên người. Chúng tôi vừa đào hầm xong. bắt đầu leo lên sườn dốc đứng của khe núi. còn không chịu nổi thì những thanh niên mới qua tuổi 17. thấm vào cả áo quần. hét lớn. tôi cúi gập người. tiến về phía đại đội bộ binh để xác định vị trí của chúng tôi. đại đội trưởng ra hiệu bằng tay. cứ như thể cái “que thông nòng” được rút ra chầm chậm. những ngôn từ điên khùng.18 sẽ như thế nào. dưới xương bả vai. những tiếng càu nhàu đầy hiềm thù vang lên “Các cậu! Đây là sự bội tín hoặc ít nhất cũng là sự nhục mạ rành rành”. tựa cả hai tay lên cán cuốc. vào mồm. Một suy nghĩ lướt qua đầu: ”À. như những con hải mã trên tảng băng. trở lại thảo nguyên với những cơn cuồng phong dữ dội. Mọi người mệt rã rời. và anh lệnh cho mọi người đào hầm. một tù binh Đức (bị bắt bởi đội trinh sát trung đoàn. thất vọng ghê gớm. chúng chui đầy vào mũi. Mọi người khác cũng nghĩ như vậy. đúng ngay tim.

Mỗi bước chân là một cố gắng to lớn. Stukack và Isayev. mật ong. Mọi người dỡ chúng ra. chỉ là những tiếng rít trong cổ họng. cố lên. Fuat trông thấy làn hơi bốc lên. tôi thấy có cái gì đó như tấm nệm bông ở dưới chân. Thật huyền diệu! Tôi đã xẩy chân vào một cái hầm ủ phân. vớ len. tôi phải làm dịu anh xuống bằng cách thuyết phục rằng bọn Đức không dùng người thật để chụp ảnh mà 43 . Phải chăng đây là bước cuối cùng trong đời? Cái ô nhỏ trong óc tôi vẫn tiếp tục gào lên “Cố nào! Cố nào! Đi tiếp đi!”. nhúng tay vào đến tận khuỷu. mốc khác. mơ sấy. nhưng rồi khi nhận ra thì thật không thể tin vào mắt mình! Anh bạn người Uzbek thấy kinh hoàng. anh em bắn pháo hiệu cướp được lên. chúng tôi không để ý chúng đang làm gì. rượu mạnh. Chỉ đâu đó trong óc có hai ô còn hoạt động. Tôi hít. rượu sơ-náp. Trí não tôi sống lại theo từng hơi thở và rốt cuộc hơi ấm đã len vào cơ thể. Trong vòng một giờ sau. trong khi cái còn lại thì thét lên rằng “ Đừng làm thế! Nếu ngủ bây giờ thì sẽ chết!” tôi vẫn tiếp tục đi. tôi nuốt vào. Nếu Suvorov.Chặng đường đỏ từ Stalingrad tôi “Đại đội ta thế là hết rồi!”. giậm giậm chân để cố giữ ấm. Khó mà gọi tên đúng hết tất cả các loại: nào xúc xích. Tôi thấy buốt đến tận xương. anh cúi mặt xuống đám phân rữa. chúng bắt đầu đau nhức! Tôi gọi anh em lại. Tôi ráng thêm một bước nữa. Đầu tiên. nhưng không thể phát ra tiếng nào. Tôi trượt chân và khuỵu ngã trên hai đầu gối. Còn có cả quần áo lót mùa lạnh. động viên chúng tôi tiếp tục “Này các cậu. Tôi tự động chộp lấy chiếc xẻng rồi hung hăng gạt đi những lớp bên trên của “tấm nệm” cho đến lúc chạm đến phần phân chuồng ẩm nhưng ấm áp ở dưới. sâm-banh và nhiều thứ khác. nào bơ. một cái thì cố thuyết phục tôi nằm lăn ra đó và ngủ một giấc. nhưng cái lỗ anh tạo ra không lớn hơn một tổ chim sẻ. nước mắt ứa ra “Này các cậu! Này Fuat! Đến đây ngay đi!”. vài phút sau. Đúng là nó sinh ra dưới vì sao may mắn!”. kiểu như một tay pháp sư đang múa may để chống lại ma quỷ. Và dường như Fuat và anh em nghe được suy nghĩ của tôi: “Có việc gì đấy Mansur? Có phải cậu gọi chúng tớ không?”. Cố lên nào! Đào đi”. Suvurov chọc tôi rằng “Với cứt mà Mansur cũng có số hên. Những tay lính cối khác thì tụ tập lại. sô-cô-la. Các chỉ huy trung đội. Đột nhiên. "không đủ để thả vài cục đạm vào đó". Trong khi đó. nhưng Suvorov bảo họ tản ra và tìm những đống phân cũ. Trong khi súng cao xạ sẵn sàng. toàn bộ anh em được hưởng hơi ấm thoải mái từ lòng Đất Mẹ như thể đang nằm trong vòng tay của bà! Còn khá lâu mặt trời mới mọc thì chúng tôi đã chuẩn bị xong trận địa. từng đôi với nhau trong tư thế kiểu 69. cái này thì vô dụng với mặt đất đóng băng. Cả chiến hào tràn ngập với quà Giáng Sinh. có tiếng động cơ rần rần trong không trung: máy bay vận tải quân Đức mang quà lễ đến cho bọn chúng. túi ngủ và hàng ngàn bộ ảnh nam nữ trần truồng. trí não u mê trong cái lạnh và từ chối suy nghĩ. mùi hăng gay gắt của khí ammonium chloride xộc lên. Những tay lính cối khác cũng vội mò đến. những chiếc dù lớn mang theo nhiều kiện hàng to đáp xuống tuyến quân ta. Suvorov và Latypaka cũng chạy đến và “ôm” lấy đống phân ấm áp. Máu lại chảy trong huyết mạch nơi tay. và đoán ngay được thứ gì tôi đã tìm thấy. Anh bước ra và đứng lặng như một bức tượng đá với gương mặt mang nét Mông Cổ buồn buồn. một thợ mỏ chuyên nghiệp còn đầu hàng thì chắc những người khác chả thể làm gì được. Tôi thầm gọi họ trong óc. Tôi phải tham gia thôi – vì dù gì tôi cũng là một partorg (bí thư chi bộ) – nhưng tôi chỉ nhảy lên nhảy xuống như một cái máy để giữ ấm. tôi chỉ có thể nhấc những bàn chân tê cứng đi vòng quanh đám đông. Ngay lập tức. rồi nho khô. Đột nhiên. Một nhát! Rồi một nhát nữa! Buteiko cuốc một hơi. bánh quy. Gần như ngay tức khắc. Đột nhiên. Họ có những cái xẻng đào hào be bé.

Trong vòng nửa giờ. cái tẩu mới đã xong. trước trận chiến. hộp cứu thương và những thứ khác. Tuy nhiên. Thay vào đó là một cái mascot (vật lấy phước). Tôi vui mừng đồng ý rồi nhanh chóng chuồn về chỗ. Mọi người tò mò kháo chuyện với họ. Anh em gọi nó là “Passport thần chết”. Những quả đạn đó bay qua đầu đơn vị và nổ đâu đó trong khe núi mà chúng tôi đã bỏ đi. chứa thông tin cá nhân người lính. Tôi không muốn chết! Nhưng lúc đó. sách báo khiêu dâm hoặc dung tục bị cấm ở Liên Xô – ND). chứ còn của mình thì tôi lặng lẽ vứt bén đi. mình vừa cẩu khần rằng mình sẽ không để mất nó! Chắc mình không thể sống để trở về rồi!”. cùng với một cái lọ nhỏ bằng plastic có nắp vặn. Anh ta nhìn cái mới và đề nghị đổi với lời hứa sẽ cho tôi một gói markhoka. Còn ban ngày thì nguỵ trang. nhưng chúng tôi không bao giờ nói với nhau về những thứ ấy: một cái mascot chỉ có thể giữ được quyền năng khi nó không bị tiết lộ. Mọi người có một khoản thời gian vui vẻ. có một ý nghĩ vụt qua trong đầu: “Mình phải làm ngay tức khắc một cái khác. cuộc bắn phá kéo dài đến nửa tiếng. khai hoả hàng loạt vào các khẩu đội pháo quân Phát xít. Ở những chặng nghỉ. một cái đẹp hơn”. cố giấu động tĩnh và ngủ. Nhưng trước khi tôi có thể giấu nó vào trong túi quần thì một tay thượng sỹ đi qua. Tôi ngồi đó với ý nghĩ: “Mình không thể đánh nhau với cấp chỉ huy. Vài anh còn nhận nhau là đồng hương.“Cậu biết không. Tôi bảo anh: 44 . chúng tôi có nghe thấy có tiếng hú thê lương của một khẩu cối sáu nòng lẻ loi bên địch. lão ấy chắc cũng không trả lại cái tẩu đâu”. bí mật khâu ngay cái mascot này vào túi quần. mình sẽ sống sót trở về”. Đại bác quân thù không có cơ hội để bắn trả. ngày 31 tháng 12. đúng 11 giờ đêm. không biết mọi người thế nào. Lúc hành quân đến mặt trận Stalingrad. anh đột nhiên bảo tôi. Tôi tự làm lấy mascot của mình. mọi người thường mò xuống bếp dã chiến để hong xà cạp hay làm gì đó. tôi tự bảo lòng: . hôm nay. chúng tôi chia nhau những món quà Giáng sinh từ trên trời rơi xuống. chúng tôi thấy vài chiếc T-34 và KV chung quanh. sau khi xuống tàu. vài phút sau.“Trời ơi. Thật đau khổ và buồn bã. vồ lấy và lượn mất. Bên trong là một cái băng (tape) nhỏ. tại làng Malaya Yelshanka nơi mọi người được cấp quân phục mới. Hàng loạt chuyện cười đùa nổ ra như pháo. Khi hoàn thành. Cánh lính tăng đang lượn lờ bên ngoài để kiếm chút khí trời. Lính tăng thì quí bộ binh nên họ rất vui khi gặp chúng tôi. cậu bạn bộ binh. Tôi còn nhớ trên đường ra mặt trận. Tất cả các đồng đội cũng đều có một vật may mắn gì đó. để cho vui. tôi gặp lại tay thượng sỹ với cái tẩu trên môi. cà-mèn. và mong rằng sẽ an toàn cho đến khi kết thúc chiến tranh. Lúc ấy chúng tôi ở cách xa mọi người một tý. đơn vị chỉ di chuyển vào ban đêm. Tôi mừng khôn xiết! Tôi ắt phải được sống mà về nhà! Có một lần. Sau đó. Nhưng có một anh lái tăng trông rất ủ rủ . Mặt trận yên tĩnh và mọi người có hai ngày nghỉ ngơi. chúng tôi cùng với pháo binh sư đoàn. chống ẩm và đặt trong một cái túi con. Rạng sáng ngày 29 tháng 12.“Nếu mình không làm mất nó. tôi sẽ bị cháy”. Tôi chết lặng đi vì sợ hãi: .Chặng đường đỏ từ Stalingrad chẳng qua toàn là búp bê thôi. Cái lọ đó được đậy rất chặt. Không phải tiết kiệm đạn. Và đây cũng là lúc tôi biết đến các ấn phẩm khiêu dâm (Tranh ảnh. Tôi thì làm một cái tẩu thuốc bằng gỗ. và may mắn thay.

Và còn lại là những thứ mà mọi người đều cảm thấy thích thú: là ánh nắng. là nước sạch. không hiểu bằng cách nào mà anh ấy còn sống! Sau giây phút sửng sốt. Anh phải giữ vững tinh thần. là cánh rừng Siberi quê hương. Tôi nhớ rằng ngay lúc đó mình đã nghĩ “Ắt là trung uý Stukach có một cái mascot…” Tôi những muốn đi qua cả cuộc chiến mà còn sống. chỉ trừ cái chết. nó còn trườn thêm 10m rồi bốc cháy.. rồi ngồi nghệch ra toét miệng cười. Còn đây là một câu chuyện thú vị khác. Nhưng cái đêm mà tôi 45 . Rồi cùng thích thú hỏi: “Tại sao anh ấy không chết nhỉ?”. Vâng. Và vậy đó. tôi để ý thấy rằng ai phá luật này đều bị giết ngay sau đó. nhìn nó. Có những điều không nên làm. đặc biệt là lúc này”. Đột nhiên. Vài người bọn tôi trèo lên cỗ xe ngựa hai bánh. Nó vẫn đó. mọi người nhận ra anh còn sống! Stukach tìm thấy viên đạn trong mái tóc nhuốm máu. có lẽ tôi nên bắt đầu nghiệp vẽ? Tôi thích vẽ lắm! Và tôi cũng không cần bất kỳ sự tưởng thưởng nào: à.Chặng đường đỏ từ Stalingrad . Suvorov và tôi nhanh chóng tiếp cận để giúp đỡ.“Này cậu. cậu nghĩ cậu đang nói như kiểu chính uỷ phải không? Tôi đã lái tăng từ những ngày đầu của cuộc chiến. Tôi có thể lấy ra. không bao giờ lột đồng hồ của người chết. mọi người bắt đầu tung hê anh lên không và gào lên “Hoan hô! đạn không thể giết được trung uý!”. có lẽ một huy chương “Vì lòng dũng cảm!” là đủ. có tiếng rít của một viên đạn bắn vu vơ từ đâu đó. ngóng sang để theo dõi chiến sự ở khu vực sườn trái đơn vị. Anh lính đó thật biết chiến đấu! Đột nhiên. Tôi hụp người để tránh. nhưng bị mất thăng bằng nên nhảy xuống. Vài chiếc tăng phía trái. nhưng cũng đủ để đánh gục anh. một trung đoàn bạn đang chống lại một cuộc công kích của quân địch. nên không có thời gian né. tôi kể lại câu chuyện cho Suvorov để cùng cười nỗi sợ của anh lái tăng. Trong đó. Ngay trước trận đánh. bên đó. Bọn phát xít đang cố tái chiếm một cao điểm mà chúng vừa để mất. phía phải bùng cháy. hôm nay tôi sẽ kết thúc. Nếu kết cục là một phế binh. nhưng chỉ còn có thể nghe thấy những tiếng nổ đanh của đạn trong thân xe. Tôi sẽ đồng ý mọi điều kiện. Cả thảy là 6 hay 7 anh em gì đấy trên xe. để còn nhìn thấy cuộc đời về sau. rất duy tâm. cậu không hiểu đâu. Ví dụ. để mọi người biết tôi đã từng chiến đấu. cả chiếc xe nổ tung.“Mỗi người đều có cơ hội sống sót như nhau. Mắt tôi dính chặt với chiếc xe đang tiến lên. vận động. Anh lái tăng nhận xét một cách mỉa mai: . Tôi không tin vào thánh Allah hay Chúa Trời. do Stukach cố gượng để không bị rơi xuống. Đây là chiếc xe thứ năm rồi. tôi là người leo lên đầu tiên và trung uý Stukach sau cùng. nhưng không chỉ mình tôi như vậy. Có những mối liên hệ kỳ lạ. May thay. nó đã đuối tầm. Miễn là có chỗ cho tôi đánh một giấc ngủ ngon. Một đám đông ngay lập tức ùa quanh chúng tôi. Nhưng khá bất ngờ là Suvorov lại cho rằng mọi chuyện nghiêm trọng. tránh các viên đạn xuyên giáp. kéo theo cả hội – bởi chúng tôi bám vào đai nhau. cái sau cùng. hai chân và một mắt thì sao? Cái tình huống tệ nhất mà mình có thể chấp nhận để còn sống là gì? Tôi đồng ý với mọi thứ.. Loại đạn này bay với một tiếng gầm kéo theo một vòi lửa. Viên đạn tin ngay vào thái dương. Tôi vừa để mất mascot rồi…”. Thế là chúng tôi quyết định sẽ bám sát chiếc tăng đó trong trận đánh để phòng khi có gì xảy đến thì còn kịp giúp tổ lái. Nhưng nếu tôi mất một tay. Cậu còn trẻ lắm. Tôi đã bí mật ao ước như vậy và thỉnh thoảng sờ vào mascot. nhưng chiếc tăng này vẫn bắn! Tôi gần như đã cho rằng sẽ không có điều gì xấu sảy ra. Tuy vậy. Tôi thấy bao tử quặn lên nhưng ráng không để lộ ra. Theo quán tính. ngắm nghía và cất trở lại. dù đã thất tốc.

thánh thần đã phù hộ tôi. Và như thế tôi thường có thể đoán “Anh ấy sẽ chết”. tôi đến được chiến hào kế tiếp. đột nhiên bọn Đức giã cối vào đó. Thường như vậy. tôi tự bảo mình “Nikolai đang sợ. Tôi có thể kể ra đây một một chuyện về một đồng đội. Tôi hét lớn “Nikolai. anh khác trước rồi!”. anh đã bảo tôi bỏ anh lại. nhưng Nikolai đột nhiên quay lui. một xạ thủ súng máy tên là Nikolai Belozerov (đây là trường hợp duy nhất mà tôi đã đổi tên. Chỉ trả lời ầm ừ qua chuyện. Tôi nghĩ thầm “Bây giờ anh ấy là chỉ huy đại đội súng máy. cho gia đình anh”. nên tôi còn sống. Chúng tôi nhấm rượu. Anh có đến hai xạ thủ số 2. gương mặt anh trắng bệnh. Mọi thứ đồ của Belozerov – giấy tờ tài liệu. Mansur ạ. Một người lính dũng cảm và chưa bao giờ bỏ vị trí khi chưa có lệnh. Nhưng anh lặng im. anh bị thương nhẹ. Có vài người đã ở trong đó. cùng với một huân chương Cờ đỏ trên ngực. Nikolai bắn nhiều hơn bất kỳ ai. Cả hai nhảy vào một chiến hào gần nhất. Anh mặc quân phục thiếu uý. không hiểu sao mà tôi chắc rằng. tay bị chặt cụt. nổ bung ra những mảnh vụn nóng bỏng. bệnh viện trông ra sao?” Tôi hỏi với sự thèm muốn (vâng. Suvorov trông hết sức u sầu. bảnh bao. Rồi có lần anh lấy cả những giấy tờ của mình. hiếm khi sai. thì thần linh sẽ trừng phạt tôi. Thỉnh thoảng. Ít lâu sau tôi gặp lại anh ở trung đoàn bộ khi tham dự một cuộc họp Đảng uỷ. Khi băng qua một cánh đồng. Nikolai chụp nón sắt lên. dù rằng lúc ấy tôi chả có chút kinh nghiệm gì về phụ nữ. kết cục của anh đến gần rồi”. tôi nhào ra. “Cậu phải gửi cả những thứ này đến Kucklar. Một quả cối đáp đúng ngay bờ chiến hào sau lưng anh. Tôi cũng để ý một điềm khác: nếu ai đó cố ẩn núp như một kẻ hèn thì trước sau gì cũng bị chết. riết róng. Vài quả cối rơi gần. Tôi lắng nghe và cảm thấy cái mascot của mình – nó vẫn ở đây… Trong suốt vài tuần cuối cùng của cuộc đời. chúng đang chằm chằm ngóng ra ngoài. có gì đó không ổn rồi. Nhưng rồi tôi nhìn vào mắt anh. và chuẩn bị chạy lên tiếp. Vào một ngày. Belozerov trông mập ra. để phụ mang đạn cho anh. dù nó thật vô dụng”. vì vậy phải đội nón làm gương cho anh em. Chúng tôi nhảy ra và phóng lên phía trước. còn tôi thì cho anh biết những gì đã xảy ra trong những ngày anh không có mặt. tôi phải thú nhận là tôi ghen với những ai bị thương nhẹ – họ được ngủ giường sạch) ”anh có được ngủ đã không?" . anh cảm nhận được.Chặng đường đỏ từ Stalingrad kéo Nicolai – anh lính đã trộm bánh mì – về trạm phẫu. Đã bao lần cậu lẩn tránh được tử thần?”. Tôi vui mừng gặp lại anh “Kể nghe nào. nếu làm vậy. được đưa về tuyến sau. trong sách này). đi thôi!”. có người bị mất tinh thần sau lần bị thương. bày ra trước mặt và đọc to lên để tôi có thể nghe. Nón của Nikolai lỗ chỗ miểng đạn và dính đầy óc lầy nhầy. ăn chút ít. bạn tôi. Belozerov kể về những cô gái anh quen. Cùng với những người khác. Và bởi không bỏ rơi anh ấy. 46 . khi trở lại chiến trường từ bệnh viện. anh đọc địa chỉ nhà mình. À. Những tiếng nổ inh tai nối tiếp nhau. Nhưng tôi thì không. khẩu súng ngắn mới và cả huân chương Cờ Đỏ – tôi mang về cho chính uỷ tiểu đoàn. Một lần nữa. cho vào trong túi. Thận trọng và chậm rãi. Tôi chạy trở lui lại đó. nhảy trở lại chiến hào khi nãy. Tôi hỏi anh: ”Việc gì đang xảy ra với một người hài hước như anh vậy?”. Nhưng anh ấy đâu? Vẫn ở trong chiến hào sao? Không. Tim tôi chết lặng. như mọi người khác. Sau đó gói ghém tất cả những thứ đó lại trong một miếng vải. Suvorov một lần nữa lại bảo: “Cậu sinh ra dưới vì sao may mắn. Anh có một đứa con gái nhỏ. rồi cùng rời khỏi khe núi để về lại tiểu đoàn. “Mansur à. vợ và mẹ.

tôi không biết nó là cái gì. bắn vu vơ từ đâu đó với tiếng hú kéo dài. dạng như “Anh dũng hi sinh” cũng chẳng thể nào thay thế điều gì được. dây. như một phụ nữ khóc người tình chết. Khi bọn Đức ập đến và chia nhau bố trí trong các toàn nhà đó. Quyết định là đặt mìn những chỗ đó. Cầu chì. Tôi biết ơn tất cả những đồng đội. được mang tên là “Suvorovski”. Sau khi toàn bộ dân đã di tản. có lẽ Suvorov đánh mất cái mascot. Chỉ còn rất ít thời gian nhưng Suvoro đã xoay sở được. bệnh viện và nhà nghỉ. tôi làm mọi cách để anh hài lòng. Có lẽ anh đánh mất gì chăng? Tôi ngại ngùng không hỏi. Ngày 10 tháng Giêng năm 1943. Những người đã quan tâm chia sẽ với tôi. Đó là những ngày đầu cuộc chiến. Tất cả sĩ quan trong tiểu đoàn đều có mặt. Có thuốc nổ trong vài bao và một hộp thiếc an toàn chứa kíp nổ. Khi Suvorov còn sống. Không có công binh trong trung đoàn nên Suvorov đã nói rằng anh là một kỹ sư mỏ và tình nguyện dò xem toa xe. Không một kẻ địch nào bị hạ sau khi việc đó diễn ra. Tôi khóc. Anh có đủ dây để làm thành một hệ thống kích nổ hẹn giờ. Chắc nó dùng để đặt mìn. họ thấy một toa xe chứa chất nổ đang đổ trên một tuyến ray cụt. Anh đã có lần kể tôi nghe về huân chương Sao Đỏ mà anh đựơc nhận. Pavel là sỹ quan huấn luyện của đại đội cối. và khẩu đội chúng tôi là khẩu đội chính. Tại một nhà ga. nhưng dường như anh đã tự xây được một bức tường chắn quanh và thu mình vào đó. vài tiếng nổ khổng lồ làm rung chuyển cả khu vực… Chúng tôi an táng Suvorov cạnh làng Dmitriyevka. Anh trở nên xa lạ với mọi thứ. Bạn thấy đó. khi trung đoàn anh rút về phía Đông từ pháo đài Brest. ơn ở với nhau như những người bạn chí tình. như thể tôi sống và hành động chỉ với một lí do: để có được sự chấp nhận của anh. trung đoàn rời khỏi làng. sau trận giao tranh ở làng Dmitriyevka. Tôi gào lên như một đứa trẻ gào khi bị người khác xúc phạm. Một viên đạn lạc.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Tôi cố hết mức để làm anh vui. mà tôi sẽ không bao giờ có lại được. Nhưng bất kỳ thành ngữ nào bạn chọn để an ủi người khác. thiết bị điện được phân ra riêng lẻ. Chúng tôi viết thư cho gia đình Suvorov ở Kuchkar vùng Ural. Fuat và tôi như mất đi một người cha. khi mọi việc đã ổn. thì Pavel Suvorov bị một viên đạn trúng đầu. Trong làng có 03 ba toà nhà kha khá là trường học. 47 .

chỉ huy những người lính chết cóng ngoài phi trường kia. không thể mở nổi mồm. không tệ chút nào (và mãi cho đến gần đây) đó là cuộc sống của các sĩ quan. Mũi hắn hầu như bị lấp mất. quân ta tìm thấy hàng đống lớn bưu kiện. Chúng tôi có một ít xúc xích trong ba lô. Trí não đã gần như liệt đi và tim chỉ còn đập khe khẽ. một tay lính phe ta có thể bắn con vật tội nghiệp. Xe cộ còn trong tình trạng hoàn hảo và được đậu ngăn nắp từng hàng theo số hiệu đơn vị. lọ. vì đó là căn cứ của lực lượng vận tải cơ giới quân Đức. Tôi mở nó ra. nhưng trong cái hầm ấy tôi trông thấy một cái hộp viền nhung. chắc có cùng cảm giác như tôi. Một người hốc hác. đôi mắt mở to đùng đục. Cả hai cùng nhìn vào mắt nhau và rồi ngó sang khẩu súng ngắn trên tay anh lính. các chi đã bị đông cứng cả rồi. Bọn Quốc xã tập trung thương binh lại đó nhưng không kịp mang đi. Trong đó là một bộ sưu tập huân chương rất ấn tượng và tôi định sẽ mang nó về trung đoàn bộ (phía Hồng quân cấm việc giữ các loại huân/huy chương và các vật phẩm “tuyên truyền” của Đức . bình… Cà phê vẫn còn ấm. có lệnh của tiểu đoàn trưởng triệu tập tôi.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chương 6: Phi trường Pitomnik Chúng tôi đã đột phá được đến một ngôi làng nhỏ tên là Pitomnik. trong đó là những thứ đồ quí giá cướp được. đang nhìn vào mắt của một tên lính Đức đang bò trên cả tứ chi. Vì thật là không ổn nếu trong một giây phút nóng nảy nào đó. không thể đảo ngược được quá trình chết dần đó. tôi chui vào một hầm trú ẩn. Tên Đức bị tê cóng đến nỗi không thể gật đầu. chết cóng trong tuyết. Làng Pitomnik chỉ có một dúm nhà. nhưng không ngã ra. Hãy nhớ. như một chiếc băng ghế. tôi vừa mất một người bạn và tôi phải trả thù cho anh! Và lúc đó tôi thấy một người lính quân ta. Hắn chết. tôi xấu hổ vì lòng trắc ẩn vô ích này.ND). mặt phủ đầy băng tuyết. Không có gì để làm với những thứ ở đây. Người lính Hồng Quân đưa súng lên. chống tay nhỏm dậy. nhưng những ngón tay đã gãy rời ra … Một người lính Đức đang nhìn tôi. bờm xờm đang nằm. Cùng với Fuat Khadaibergenov. Con vật đang run rẩy. 48 . Hàng ngàn người bị rét đến chết! Một số như đang cố bò qua phi trường. Tôi mong rằng những người khác không để ý. Mắt hắn như nói thầm “Vâng…”. Vâng. Trên chiếc giường đôi là một chú chó nhỏ lông trắng tuyết. hắn đã bị đông cứng rồi. Trông như thể một thành phố nhỏ với những dãy phố và đường sá. Tôi không bao giờ quan tâm đến chiến lợi phẩm. và sẽ chìm vào sự yên lặng vĩnh hằng trong mười hoặc mười lăm phút. Tôi thấy xấu hổ về hành vi của mình. phòng ngủ và cả chỗ rửa mặt nữa! Có mùi nước hoa quanh quẩn. đã đóng sẵn sàng để chở về Đức.000 chiếc. Ngày hôm sau. Hắn nằm đó. đóng cửa lại và viết lên đó bằng một mẩu than “Đã gài mìn”. tổng cộng chừng 17. nhưng nó rất quan trọng. Thật không thể chịu nổi cảnh một người đàn ông cầu xin bằng ánh mắt để có một phát đạn ân huệ. trụ trên cả tứ chi. Rồi một người khác gục xuống. nhưng tôi đã không đủ dũng khí để cho hắn cái kết cục đó. Hai anh em cho nó một mẩu rồi đi ra. bắn vào thái dương. Và những thương binh người Đức ấy đã chết. râu ria xồm xoàm. Những thức uống khác nhau trong các loại chai. Ở đó có một phi trường mà miễn là còn sống tôi sẽ không bao giờ quên. Không thể cứu được họ. và từ vết đạn trên đầu không một giọt máu nào chảy ra … Cũng ở phi trường Pitomnik. Một chỗ ở tuyệt hảo với bếp.

Chúng tôi tiến vào trại tập trung tù binh Soviet. anh em tìm thấy một chiếc xe đầy Sô-cô-la. Được. tựa vào tay trái.000 tù binh Rumani – rồi trận đánh dẫm máu ở năm ngọn đồi bắc Karpovka. tôi ra lệnh. Gumrak chỉ còn cách Stalingrad 15 km. có một người đang nằm cuộn tròn. Chúng tôi tự hào rằng sư đoàn mình đã tham gia trong chiến thắng quyết định ở Stalingrad. tôi chỉa nòng khẩu tiểu liên vào tay hắn để ra ý rằng hắn phải đầu hàng. “Halt. Chúng tôi lại mò vào một căn hầm khác. Ngồi đi.“Thế sao cậu không mang nó lên cho cấp chỉ huy?” .. Làm sao tôi có thể qua được cơn ác mộng này? Nếu một viên đạn không tìm đến tôi. tuổi trung niên. Chắc là của bộ phận bảo dưỡng.“Được. . Cũng ở Pitomnik. giơ tay lên – em không biết tiếng Đức). đó là do mi tự chọn. huân chương của bọn Đức” .. chắc tôi sẽ mất trí…. tôi quay lại để lấy các bộ huân chương nhưng giữa cảnh tan hoang ấy thì còn chả thấy được chiến hào chứ đừng nói gì đến chi đến cái túi của mình: thật là “cậu sẽ ổn”. Hãy báo cáo với đại diện của đơn vị đặc biệt về cái thứ chiến lợi phẩm mà cậu có được ngày hôm qua” tiểu đoàn trưởng gật đầu về phía người lạ mặt. tôi thấy có một sĩ quan cao cấp lạ mặt. Mới liếc qua thì dường như không có gì đáng lưu tâm cả. Một loạt đạn ngắn đã ngăn hắn rút súng ra. Bọn Quốc xã rút chạy khỏi cứ điểm sau một trận xung phong ngắn gọn. Nhiều anh em đang cận kề cái chết: họ nhanh chóng được đưa đến bệnh viện. Mọi việc có thể sẽ kết thúc tệ hơn vậy. một trung sỹ 49 . Không biết để dành cho ai? Chắc chắn là không phải cho những người lính Đức đã phải ăn xác ngựa chương sình để không bị chết đói. chúng chỉ còn biết bỏ chạy. cằm nọng mỡ. Còn hàng ngàn thi thể khác xếp lớp ngoài trời. chúng tôi ngoan cường tiến về Stalingrad.“Nghỉ. đến trận tấn công gần Marinovka. Pavlov. địch tràn lên công kích nhưng bị hoả lực quân ta chặn đứng. Chúng tôi ra khỏi hầm và tự hứa sẽ cẩn thận hơn.“Thưa.halt”. tôi chưa có thời gian” .“Thưa. trong khi đó tay phải hắn đột ngột bổ tới bao súng. Sau vài loạt cối. Khi mọi việc lắng xuống. Tôi nhấc một đầu chăn và thấy một tên sĩ quan Đức với bộ quân phục mới tinh: “Halt! Hande hoch” (Chắc nghĩa là đầu hàng. tiếp theo đó là chiếm Kalach ở Illarionovskaia. Mọi người được biết rằng anh em ở đó đã chiến đấu cho từng mảnh đất nhỏ. Tên sĩ quan ngồi dậy. vậy hãy mang nó lên cho đồng chí đại tá và cậu sẽ ổn” (Lối nói này có nghĩa là ‘không bị phạt’ – ND) . Bọn Quốc xã không còn kháng cự nhiều. Sau Pitomnik là Gumrak. Tôi chỉ cho Fuat thấy và anh gật đầu.“Đi đi” Nhưng tôi vừa ra khỏi hầm thì bọn Frizt bắt đầu bắn phá chiến hào chúng tôi. trận chiến gần cứ điểm Raspopinskaia – nơi cả một trung đoàn Đức bị tiêu diệt và bắt được 3. dưới lớp chăn dày.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Lên đó. tôi nghĩ rồi lê bước quay lại BCH tiểu đoàn với đôi bàn tay không. Hắn đang nhổm lên. Nhưng ở trong một góc. . Tôi trình diện tiểu đoàn trưởng. Bắt đầu từ trận đột kích vào tuyến phòng ngự quân Đức ở gần Kletskaia ngày 19 tháng 11 năm 1942.“Cho phép tôi được mang chúng lên ngay bây giờ” . Những điều kinh khủng hiện ra nối tiếp nhau.

thượng uý Buteiko. còn cậu?” . một lần nữa gào vào tai: . tôi cảm thấy như mình bị dần một trận gần chết. anh trả lời: .“Mình ở Krasnoyask. Tôi bị xóc nảy tưng trong cabin mạnh đến nỗi và chỉ sau chừng 15 phút. Lúc đó sĩ quan tiếp liệu. giúp chúng tôi chạy ngoằn ngoèo quanh những đống máy móc méo mó. paria?” Vui mừng gặp được một đồng đội người Siberi. Ivan khó có thể nghe tôi nói gì dù đã hét sát vào tai anh.“Em thì từ vùng Kemerovo” . đại đội cối 82mm của chúng tôi đã hoàn toàn hết sạch đạn. vốn vừa xuống xong một đợt hàng đạn pháo và định quay lại khu kho dã chiến ở hậu tuyến để lấy thêm. cả máy bay và những thứ khác. Cả hai bên đường đầy xác xe tăng. Ở tốc độ cao nhất. Những luồng sáng nhảy nhót mỏng manh từ đèn pha. Tiếng dập đùng đùng từ chiếc cabin gỗ và tiếng nổ của chiếc động cơ cũ kỹ làm điếc cả tai. paria (paria là phương ngữ Siberi nghĩa là thằng cha (vui).“Vậy chúng ta là đồng hương rồi” . Khi đó.ND”). Trong những cung bậc âm thanh đó.“Rõ” Anh tài xế. giật lấy từng khoảng khắc phù du của hình ảnh con đường từ bóng tối. Cấp trên gọi tôi lên hầm trú ẩn và dặn: . cậu.“Mansur Abdulin” Tôi hét lại và Ivan lẩm nhẩm tên tôi hai lần. mò sang các đơn vị pháo bên cạnh. Chiếc xe của chúng tôi luôn phải đánh võng để tránh những con quái vật sắt thép bất động đó. đã phòng thủ trong một ngôi nhà ở trung tâm thành phố từ hồi tháng Chín và vẫn đang trụ vững…. cả đạn chiến lợi phẩm. Hàng trăm lần. cố để không đụng vào đống kim loại phế thải. cậu được lệnh phải đi với anh tài xế và quay lại với đạn dược trong vòng 03 giờ!” . thiết giáp. và rồi. và chọn tư thế ngồi thoải mái (ở đó có một cái thùng thay vì chiếc ghế). Đôi bàn tay mạnh khoẻ của anh dính chắc vào vô lăng rồi quay nó với sức lực mà tôi sợ rằng bánh lái sẽ bị gãy ra mất.“Mình sẽ cố hắng hết mức để giúp đồng hương! Chứ mình chả thèm gì cái đồng hồ chiến lợi phẩm của cậu!” Chúng tôi phóng với tốc độ cao nhất. xe cộ. Buteiko hứa cho anh một món quà – một chiếc đồng hồ chiến lợi phẩm – nếu anh có thể mang cho chúng tôi một ít đạn. anh tài xế phải ghé sát khuôn mặt lởm chởm râu của anh vào tai tôi và hét lên: . Nghe được cái từ paria của dân Siberi. tôi vui mừng nhảy lên cabin làm bằng gỗ. gã… Câu trên có thể dịch là “Đi nào cha nội” . sốt ruột giục tôi “Đi nào.“Đúng vậy!” Và rồi tiếng máy nổ vang.“Là bí thư chi bộ. chắc để nhớ cho kỹ. chúng tôi vút đi. hoà vào trong màn đêm. Nhưng có thể đi đâu trên thảo nguyên tan hoang này trong đêm tối mịt mùng. Còn cậu!” . và hỏi anh ấy: . một đồng chí đầy sức sống và vui tính chừng bốn mươi tuổi. Nỗi sợ và sự đau đớn làm tôi muốn nhảy ra khỏi xe lúc tốc độ cao.“Anh người ở đâu vậy.“Này đồng hương! Mình tên Ivan Sobolevski. lạnh lẽo? 50 . cha nội. với ngọn đèn pha phòng không và tiếng động cơ ầm ỹ. và chúng tôi vút về phía trước. lượn sang trái hoặc phải. trông như hai thanh gươm ánh sáng. Anh gặp được một anh tài xế của chiếc xe tải 3 tấn.Chặng đường đỏ từ Stalingrad bình thường. Ivan dồn tất cả chú ý vào con đường.

Tôi ngồi xuống một băng ghế bằng gỗ. được ký bởi Joseph Stalin. Ivan dừng xe lại và chúng tôi nhảy xuống. như đi trên ván!” anh trả lời . dẫn theo 1613 quân đến vòng cung Kursk. tôi tìm đến nhà của người đồng đội Ivan. Cứ như đang chạy trên những tấm ván hay phiến đá. Sau chiến tranh.“Xin hỏi có phải nhà của Ivan Sobolevski?” Chị không trả lời. Nhưng không biết vì sao tôi thấy xấu hổ vì mình còn sống còn Ivan hi sinh. Hãy nhìn bánh xe này. Tiếng bum. lòng dũng cảm.. Giao chiến liên tục…sư đoàn đã gây nhiều tổn thất lên các lực lượng Phát xít và bằng những cú đánh mạnh mẽ đã phá huỷ nhiều trang bị và nhân lực quân địch.“Không phải. bum vọng lên từ dưới các bánh xe phía trước rồi lại bum. đó là thây người! Chúng bị xe cán dẹp đi nên bây giờ nghe tiếng như vậy. bum từ bánh sau.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chiếc xe tải không hề giảm tốc độ. hầu hết trong số đó 51 . Anh ấy viết cho tôi về cuộc gặp của các anh. không như phủ đầy mỡ lên vậy. Ngôi nhà trông nghèo nàn và buồn thảm. những “phiến đá”: một người lính phe ta trong áo choàng xám. là một người phụ nữ. Trong sân. Chị lặng lẽ nói: . rồi thì cuối cùng chúng tôi cũng chạy được bình thường. Nếu muốn thay ruột xe. trung đoàn trưởng mới.“Có lẽ tôi biết anh. Ngày 21 tháng Một năm 1943 là một ngày đáng nhớ trong lịch sử sư đoàn: “Chiến đấu cho đất mẹ Sô-viết chống lại cuộc xâm lăng của bọn Đức. có cái gì đó đập vào bánh xe? Nghe như có người đem lát váng hay đá gì trên thảo nguyên hay sao ý?” . . đại uý cận vệ Pavel Bilaonov. Nhưng không còn nhiều những đồng đội cũ còn sống để cùng chứng kiến. tôi có dịp ở Krasnoyarsk.. Ivan giải thích: . Cậu thấy chứ? Đi thôi!” Sau khi trượt một lúc nữa.“Không thể nào!” Tôi hoàn toàn không tin và hét lên. Mansur à. “Vì đã dũng cảm trong chiến đấu cho tổ quốc. Rồi tôi nhớ lại hình ảnh kinh hoàng của những “tấm ván” trên đường…. nhưng gật đầu mời tôi vào nhà. làm tan nát quân Đức xâm lược …” Đây là một đoạn trích trong nhất lệnh số 34 ngày 21 tháng Một năm 1943. Vào ngày 18 tháng Một năm 1943.“Đấy. cậu tự nhìn đi Mansur!” Tôi bật đèn lên là nhìn những “tấm ván”. Như vậy chúng tôi trở thành lính cận vệ. Đó là một vinh dự lớn lao. sư đoàn bộ binh số 293 đã chứng tỏ sự gan dạ. vòng vèo tránh những chướng ngại vật chết người. Sàn nhà bẩn thỉu. Rốt cuộc thì chúng tôi cũng hoàn thành nhiệm vụ – nhưng Ivan từ chối không nhận chiếc đồng hồ – hai anh em trao đổi địa chỉ cho nhau.” .” nhật lệnh viết tiếp “sư đoàn bộ binh 293 được tái tổ chức thành sư đoàn bộ binh cận vệ số 66. một người lính Đức với áo xanh. Tôi thắc mắc. rồi âm thầm đưa cho tôi. Rồi tôi thấy mình đang tò mò về những tiếng động từ dưới các bánh xe. rộng nhưng lâu không chùi rửa. bếp lò phủ đầy bồ hóng và cần phải quét vôi.“Đó là vì mỡ. còn trung đoàn thì đổi tên thành trung đoàn cận vệ 193.. tính kỷ luật và tuân lệnh. thì phải rửa bánh xe bằng xăng trước rồi mới làm. Anh là Mansur Abdulin phải không?” Chị không khóc. Tôi thấy chân mình bất bình thường trên nhưng “tấm ván” đó. . Người phụ nữ ra khỏi phòng và nhanh chóng trở lại với một tờ giấy xám. Đó là thư thông báo cái chết của anh. nay trông già trước tuổi vì làm việc nặng và đói kém. Sau chiến dịch Stalingrad. băng nhanh về phía trước. và hét vào tai anh tài xế: .“Anh Ivan. chắc lúc trước khá xinh.

vô địch cử tạ hạng nặng của Uzbekistan và Dzhura Tuichiyev (anh em thường gọi vui là Palvan). Mọi người đều ghen tỵ với khẩu đội tôi.. Nghe thấy cái tên Trung Á đó. nhưng cũng là một thợ mỏ trẻ thường làm việc nặng nhọc và căng thẳng. Trong 25 cậu lính mới. Một khẩu cối 82mm thì khác hẳn một khẩu carbin hay một cây tiểu liên! Trong suốt cuộc chiến. mọi người đều vui vẻ! Anh em chúc mừng nhau! Còn anh thượng sỹ thì gắt ầm “Yên nào!”. có một anh chàng nổi bật với thân hình lực sỹ. Ánh sáng nhợt nhạt từ cây đèn tự tạo bằng vỏ đạn chứa đầy dầu với mẩu vải làm tim. Khi nhận tân binh.“Binh nhì Rashid Sadykovich Sadykov”. Mỗi khẩu chia thành 03 phần nặng không dưới 20kg. Nét mặt chân thật. chúng tôi luôn phải lôi chúng theo. Anh ấy có nhiệm vụ ghi lại thông tin cá nhân chi tiết của các tân binh vào hồ sơ đơn vị. cậu ấy cùng quê với tôi!” Mọi người cười ồ. đôi mắt xanh to và cái mũi hếch làm cậu ta trông giống như một thương gia điển hình của vùng trung tâm nước Nga: một mẫu tốt cho các hoạ sỹ thế kỷ 19. một người Siberi.. Cuối cùng cũng đến lượt cậu tóc đỏ. Một khoảng khắc yên lặng. Có bao nhiêu đồng đội tuyệt vời đã ngả xuống trên vùng đất giữa sông Đôn và sông Volga? Hiến dâng cuộc sống của mình. Tôi chuyển sang ngó nghiêng những tân binh khác và lựa ra một cậu trông tráng kiện. tôi như muốn nhảy lên vì kinh ngạc: . một người sống giữa dãy Urals và vùng Trung Á. đại đội cối chúng tôi nhận được tân binh bổ sung. đang lơ mơ ngủ một cách yên bình trong cái góc ấm áp của căn hầm. anh này thì vừa gia nhập chỉ một tuần trước đó. Cậu tóc đỏ tiếp tục: 52 . các tay lính cựu của đại đội tôi cố hết sức chiêu mộ các cậu lính mạnh khoẻ như người đồng đội tóc đỏ kể trên về khẩu đội họ. dù rằng không quá khoẻ. Vào một đêm cuối tháng 1 năm 1943. Và còn tôi nữa. cộng thêm các hộp đạn có trọng lượng chừng 25kg cho một hộp. những lá thư từ mặt trận (kể cả thư của tôi) sẽ được đọc trên đài.“Tại sao.Chặng đường đỏ từ Stalingrad mới được tăng viện. Tôi nhận được một lá thư từ Đài phát thanh Tashkent. dường như cũng bất động như thể chờ đợi câu trả lời. Cậu tóc đỏ vui vẻ đáp: . Trong ngữ cảnh đó thì tôi quả thật may mắn vì tôi là một người Tartar. tầm thước. Tôi nghĩ “tất cả chúng ta.. Vì có thoả thuận chung trong quân đội rằng nếu anh đến từ cùng một vùng thì được sắp xếp cho chiến đấu chung trong một khẩu đội hoặc một tổ. Bọn lính cựu chúng tôi thì vểnh tai lên để nghe xem những tay tân binh ấy đến từ đâu. Tôi chú mục vào anh chàng tóc đỏ và nghĩ: “Thật tuyệt nếu có tay khổng lồ kia trong khẩu đội”. thư không phát lên được cho vùng mỏ Sardagon trên dãy núi TienShan: và vì vậy. vô địch vật tự do Tadzhikistan. vì đã có hai tay bự con: đó là anh Fuat Khudoibergenov người Uzbek. dù ở hậu phương hay tiền tuyến đều cùng một lòng: giải phóng quê hương khỏi tay bọn xâm lược càng nhanh càng tốt”. khi anh thượng sỹ quản trị bắt đầu điểm danh. Một cô Radishova nào đó thông báo rằng vì lý do thời tiết. nhưng rất biết ơn anh em nhân viên đài phát thanh đã đặc biệt quan tâm. cùng với gia đình mình. tất cả lộn mèo gôm thành một cục! Nhưng tay lính Nga tóc đỏ kia thì chắc chẳng có tí gì chung với tôi cả. Đã có 5 anh lính tìm được bạn chiến đấu mới. và là một tín đồ Hồi giáo. Nhưng cơ hội xem ra rất ít. họ đã mang lại bước ngoặc quyết định của cuộc chiến. Anh thượng sỹ lại yêu cầu mọi người im lặng. Tôi thấy xấu hổ vì những lá thư riêng sẽ được những người lạ hoắc nghe được. với mái tóc và bộ râu rậm đỏ hoe.

Không biết ai là cha mẹ ruột của anh. rồi họ cùng nhau xây nhà với một mảnh vườn xung quanh. họ cùng nhau ra trận. Năm 1941. tôi ở Brichmulla!” Và Rashid trả lời: . chờ đợi một “sô” thông dịch.“Anh dân ở đâu?” . một thợ rèn. Chúng tôi cùng quê. đó là cách mà Rashid có được gia đình Uzbek của mình và người anh tên Usman. ông cũng mới vừa sinh được một cậu con trai trước đó không lâu. cùng với tiếng cười thân thuộc. Năm 1938. vì bà rất nhiều sữa. khu Nam Kazakhtan” Tôi không thể kiềm chế được: . Nhưng với sự xuất hiện của “đứa em” thì vấn đề này được giải quyết ổn thoả ngay. Cậu bé này thì không bú hết sữa mẹ. chửi rủa tay thượng sỹ với những từ thô tục nhất. và bắt đầu lăn ra cười.“Gượm đã. Và khi màn giới thiệu kết thúc. Chúng tôi mừng cuộc gặp gỡ với rượu và trò chuyện đến tận sáng. Ở đó. vì họ đã bỏ anh lại ở chợ Tashkent khi anh mới 6 tháng tuổi. Cậu có nói được chút tiếng Tadzhik nào không? Nếu có. Chúng tôi bắt đầu nói chuyện: .“Này.“Còn tôi thì Natkal!” Tôi chạy đến chỗ đại đội trưởng và anh thượng sỹ quản trị: . Nếu tay ấy mà hiểu được màn độc thoại của tôi chắc phải lăn đùng ra chết vì lên máu mất J. Usman. Người anh. Tôi chạy đến chào anh theo lối truyền thống của dân Trung Á.“Anh nói trước đi?” . cả hai anh em cưới vợ và đều có con trai. anh nồng nhiệt đáp lời tôi. tôi. chiến tranh nổ ra. Vui vì nghe được thứ tiếng quen thuộc. ở đó các khẩu đội trưởng tập trung đến để chọn lính tăng viện. Anh thật ra không phải là dân Uzbek mà là người Nga.“Tôi ở Brichmulla” . anh lính tóc đỏ. Tôi. ở đó đồng đội đang nóng lòng chờ tôi về cùng với “lính mới”. Rồi tất cả anh em lính cối trong hầm cũng bắt đầu cười và yêu cầu Dzhura dịch lại chính xác. vú bà nhức nhối. Như tôi. hi sinh gần Moscow.Chặng đường đỏ từ Stalingrad . Fuat và Dzhura rất vui khi thấy người anh em mới. Vợ chồng người thợ rèn mất sớm. bằng tất cả vốn tiếng Tadzhik của mình. cao chừng 2m.“… sinh năm 1918. Hoặc có thể họ chết cả rồi. quận Bostandykski. Nó diễn ra thế này … Tôi vào một căn hầm.“Tôi có nhiều bà con ở đó lắm” Tôi không nhớ cậu ta ôm tôi ra sao. rồi Dzhura sẽ dịch cho chúng tôi. Đấy. nhưng mọi người trong hầm thì có thể nghe thấy tiếng xương tôi kêu răng rắc. các cậu bé rời Tashkent về làng Gazyl-Kent. Dù sao đi nữa thì đứa bé cũng được mang về nuôi dưỡng bởi một người tốt bụng. địa chỉ nhà: số 15 đường Lênin. kể chúng tôi nghe về đời anh. Tôi sẽ kể câu chuyện về lần gặp đầu tiên với Dzhura. Nhưng anh lính rất nhanh trí trả lời với một giọng nặng trịch “Tôi không biết tiếng Nga”… Rashid. 53 . và ngay lập tức chú ý đến một tay người châu Á đen thui. họ làm việc trong một nông trường. làng Gazyl-Kent. nhưng ngay sau đó anh ấy hiểu rằng gã thượng sỹ không biết nửa chữ Tadzhik. Đầu tiên. Dzhura hoảng lên. Bằng cách đó cậu mới chứng minh được rằng bọn cậu cùng quê” Cả căn hầm trở nên im lặng. người Uzbek. kéo tay Rashid dẫn về chiến hào của khẩu đội. tôi mang cậu này về với tôi nhé. thì nói cái gì đi. Cậu ấy cũng đồng ý rồi” Nhưng tay thượng sỹ lạnh lùng trả lời: .“Chúng ta cùng quận.

Chặng đường đỏ từ Stalingrad Nhiều đồng đội đã ngã xuống trong các trận chiến đẫm máu. và không bao giờ tỉnh dậy. Chúng tôi không sợ chết. Rashid cố gượng dậy. đang chạy lên. Mái tóc đỏ hoe phủ đầy sương muối. cho đồng hương – những người bị tàn hại bởi chiến tranh – và cho Đất mẹ. tôi đưa Rashid vào trong một cái hố khổng lồ. Xương không bị thương tổn. ngay cả khi bạn đang tải nặng như một con lạc đà. Cánh tải thương hứa sẽ sơ tán toàn bộ số anh em đó đi trong vòng nữa giờ. Tôi nhảy khỏi nấm mồ chung và 54 . Khi tôi quay lại được chỗ ấy. hoặc cả khi bị sặc sụa bởi làn khói dày đặc. nhưng chúng tôi vẫn xiết chặt thêm bọn Frizt trong vòng vây. nhưng chúng tôi muốn sống. Nhìn cả sang phải lẫn sang trái. Ở nơi này của mặt trận. Tôi cũng liều lĩnh chiến đấu: để trả thù cho đồng đội. đạn địch không thể chạm vào. sau khi được phép của chỉ huy đại đội. tôi đi đúng hướng. và tôi. Bạn không nên rơi lại phía sau. anh ấy thậm chí có thể đi vài bước. Tôi lo lắng cho người đồng đội của mình. Ngày 30 tháng 1 năm 1943. Một nhóm bộ binh. và chạy trở lại để tìm Fuat và khẩu đội …. chạy bám theo những chiếc tăng để ở trong “vùng chết”. tiếng gầm của cuộc chiến bỗng dưng lặng đi. trong một cái sân cạnh ngôi nhà bốn tầng. nhưng rồi đột nhiên gục xuống. “Ổn!”. Tôi chào tạm biệt người bạn. Bên ta cũng vậy: đợi chờ những diễn tiến tiếp sau. cứu sống tôi… Khi tôi đến chỗ Rashid. Cả chín khẩu cối của đại đội nã đạn không ngừng vào bọn Đức. thấy những anh em thương binh khác cũng đang được tải đi. độc hại. Ném cả những trang bị nặng nề xuống. Sau đó. không thấy có dấu hiệu gì của ai. tuyết phủ đầy mặt họ. khẩu đội chúng tôi đã bắn vào quân thù với cường độ nhiều đến nỗi lớp sơn của súng cũng phải bốc khói! Dzhura đã hi sinh bởi một viên đạn địch. Nên nhanh chóng đưa Rashid đến được trạm phẫu. lộn về phía sau để coi Rashid thế nào. để nhìn thấy cuộc sống trên tổ quốc vĩ đại sau chiến tranh. tôi chạy ngược trở lại nơi Rashid đang nằm. Cuối cùng. Đột nhiên Fuat la lên: “Rashid bị thương rồi!”. Chiến tranh chứa đầy những điều lạ lùng. băng một miếng gạc vào trên vết thương để cầm máu. cao giọng gào hết cỡ: “Vì đất mẹ! Vì Sta-a-a-a-lin! Không được lui! Tao sẽ bắ-ắ-n-n-n mày!”. đã không còn chiến tranh. phía Bắc và phía Nam. Có lẽ một viên đạn quân Đức đã hạ viên trung uý trẻ. Dường như mọi người đã chìm vào giấc ngủ dưới âm. Yên lặng. Lại một lần thay đổi vị trí bắn. Tôi nhảy vào trong hố và đụng mạnh vào ngay vào vai một người lính gần nhất. anh ấy đang bị mất nhiều máu. các lực lượng Phương diện quân Sông Đôn đã chia cắt bọn Đức bị vây ra thành hai cụm. Tôi sợ cái gã này sẽ nhầm tôi là một tên đào ngũ và bắn ngay. Lúc đó trời vẫn chưa tối. dẫn đầu bởi một trung uý trẻ. Tôi hét loạn lên: “Các đồng chí! Trả lời tôi đi! Có ai còn sống không?”. tôi đặt anh lên một chiếc áo mưa và kéo anh về hậu tuyến. Rashid đã làm mọi thứ để trả thù cho người anh. 24/24. Anh được chôn vào một chiến hào cũ. ở đó có chừng 200 thương binh đang chờ đến lượt đưa đi. Rashid đâu? Đây rồi! Tôi giở nón của anh ra. Tôi xé vải quần anh. gây cho chúng những thiệt hại lớn. chúng tôi vượt qua một khu trống trải. chắc là bon Đức đã ngừng chống cự. Cậu ta vẫy khẩu súng lục. nơi đó. “Thế Rashid ra sao?” anh em hỏi tôi. đầu ngã ra sau. cố giữ chân anh trên đầu gối bằng cả hai tay. Trong suốt chiến dịch này. Nhưng tim tôi trĩu nặng. Với sự giúp đỡ của một anh tải thương. Sau lưng tôi. Phía bọn Frizt không có hoạt động gì. tôi cũng mang được người đồng đội đến một nơi có thể gọi là điểm trung chuyển. Tôi tưởng rằng tất cả anh em đã được di tản rồi. Tay trung uý đã bắn một phát súng cảnh cáo lên trời. thật kinh hoàng: 200 thương binh nằm yên lặng và bất động. Nhưng khi nhìn vào trong hố. Nhưng thi thể anh đã cứng thành đá rồi. như đang say ngủ.

Một khoản sân nhỏ. Khi qua Gazyl-Kent. Tỉnh táo lại một chút sau cơn choáng. mà điều này chỉ làm tệ thêm cho nỗi sầu muộn của họ. trong bộ đồ dân sự. có lẽ chú nhầm nhà” Câu bé trông buồn đi.Chặng đường đỏ từ Stalingrad trong cơn điên cuồng đi tìm bọn tải thương và chỉ huy của chúng. Trên đường về. tôi bảo cậu: . và dường như tôi thấy lại chính Rashid. với con anh.“ Không. Sau đó tôi mới về thăm Gazyl-Kent. Tôi nhanh chóng quay lại và đi xuống phố. một cánh cổng với số 15 vẽ bằng hắc ín. Có tiếng chó sủa đâu đó sau rào. Khi gần rẽ ngang ở góc đường. tôi đến phòng Quân vụ Bostandykski để báo cáo. Ruslan – một cậu bé cứng cáp với đôi mắt xanh và nụ cười thân thiện – chào tôi: . bị loại khỏi vòng chiến đấu. tôi liếc lại đằng sau và thấy Ruslan cùng mẹ. Xin lỗi. chỉ để nhìn thấy họ. Con trai anh ấy. Đó là sau khi nghỉ chừng 2 tuần ở Brichmulla. 55 . tôi trở về quê nhà ở Brichmulla. Hai mẹ con đứng đó. Tôi những muốn kêu lên “Rashid”. Mở ra. Còn tôi. Tháng 11 năm 1943. nhưng mới chừng 5. thì đơn giản là phải gắng sức tiếp tục. sau khi phải thấy quân ta chết một cách vô lý như vậy. tôi không dừng lại để thăm gia đình Rashid. tôi bị thương nặng. tôi dừng lại ở GazylKent. Rồi tiếng chân trần của một cậu bé chạy ra cổng.6 tuổi. Nhưng tôi có thể làm gì? Không có chút dấu hiệu gì của bọn họ cả. cháu sẽ gọi mẹ”. cảm ơn người anh em. nhìn theo tôi….“ Chào chú! Chú muốn gặp mẹ cháu ạ? Chút xíu mẹ ra liền. Tôi gõ cửa. bên phía đánh số lẻ. sau nửa năm nằm dưỡng ở các bệnh viện khác nhau. sau khi phải thấy những cảnh tượng kinh hoàng. tôi không đủ sức để che đậy bi kịch về cái chết bi thảm của người đồng đội với vợ. đi xuống đường Lenin. Tôi trở về đại đội và nói với mọi người rằng ổn cả: tôi không muốn họ đau buồn.

tế nhị như thể người nói sợ nó chạy mất. cả ghẻ rách màu trắng cũng được treo gọn gàng. đúng ra nên nói chính xác là trong đống đổ nát đó. Chỉ có sự yên lặng. Tôi đi rất chậm. Chúng tôi gửi nhau những cái nhìn ngượng ngùng về nhau. Nếu đó là một đề nghị đầu hàng thật sự thì sao? Đột nhiên tôi thấy sự ngượng nghịu hiện trên gương mặt của anh em. Không ai phản đối cả. Nhưng chúng đang ở đâu nhỉ? Ở phía xa xa.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chương 7: Chiếc đồng hồ vàng chiến lợi phẩm Ngày 31 tháng Một năm 1943. Cả cánh cối chúng tôi cũng được lệnh bắn không xa quá một ngôi nhà hoặc một con đường lân cận vì e rằng có thể trúng nhầm quân mình. Tôi có cảm giác rằng quân mình và quân địch đan xen nhau trong một vùng da beo ( nguyên văn là trên một bàn cờ vua . Đúng là không còn một ngôi nhà nào! Không nóc. Chúng tôi đến được vùng ngoại ô thành Stalingrad. chúng tôi sẵn sàng cho các trận cận chiến trên phố. trong ngôi nhà đó. họ đang phân tâm bởi những cảnh tượng. bọn Nazi đang ở đây rồi! Đằng kia.Vài mảnh vải trắng treo tòng ten trên cửa sổ. Nhưng sự tò mò trong chúng tôi quá mạnh. Chuyện gì vậy? Tôi bò ngang qua vài người để xem có việc gì. Liệu chúng ta có nên chấp nhận một sự đầu hàng có điều kiện? Và chúng tôi cũng cần một người có dung nghi tề chỉnh cho dịp trọng đại này. nhảy ra và đi ra giữa tim đường. Một sự ngạc nhiên đáng kể đánh thức tôi dậy. Vài anh em. bồ hóng phủ đầy. Tôi nghĩ. Mọi người đen như quỷ: bẩn thỉu. Lúc đó trời đã sáng hẵn rồi. Không một tiếng động. tựa vào nhau nhìn về phía bên kia đường. Ở đây không có đường phân tuyến rõ ràng. Liệu chúng tôi nên rời công sự không? Và nếu nó là một cái bẫy thì sao? Vì chỉ mới đêm qua thôi. Mọi thứ không cần thiết được bỏ lại phía sau. những người mà có vẻ ngoài đường bệ ý?”. Nhưng chúng ở đâu vậy? Với thủ pháo và lưỡi lê. tự biến mình 56 . thứ duy nhất có thể thấy là hàng đống gạch vụn khổng lồ. trên các đống gạch vụn. Nhưng phải chấp nhận thôi. Lần đầu tiên pháo binh phe ta phải thất nghiệp: vòng vây hiện quá nhỏ và nếu bắn vào thì thật là nguy hiểm. Có tiếng súng! Hà. “Và họ đâu rồi. Chúng tôi nhanh chóng triển khai khổi cối và “quà tặng” đáp ngay trên đầu bọn Frizt. Một thành phố đổ nát. Chỉ còn vài bức tường hiếm hoi cùng những khung cửa trống trải. Chân tôi như thể làm bằng gỗ vậy.ND). Họ đang nhìn nhau với những nụ cười hiền lành. Hãy cẩn thận từng phát đạn khi bắn! Ngày 1 tháng Hai năm 1943. Ba lô thì lèn chặt băng đạn. nhẹ nhàng. không sàn. Trông này! Những tay ngờ ngệch. “Đầu hàng” tôi không nhớ ai đã bật ra từ đó. Không thể tả được bằng lời quang cảnh đang mở ra trước mắt chúng tôi. nhưng rành rọt. Vải và ghẻ trắng hiện hữu trên rất nhiều ngôi nhà. Tôi nhìn qua những chiếc cửa sổ trống rỗng của ngôi nhà đối diện và vẫn không hiểu chuyện gì. tôi thấy những “sứ giả” khác cũng lo lắng nhìn quanh như tôi và cũng đang đứng giữa đường. và một số trong đó chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng có chứa quân Nazi. Chúng tôi tiến vào trung tâm thành phố. Anh em được thông báo rằng bọn Đức bị chia cắt thành 2 cụm nhỏ. bên Đức còn tổ chức được một cuộc chiến ra trò. không thì quân địch sẽ nghĩ ta e ngại và thay đổi ý định mất! Tôi trèo qua đầu anh em. Mọi người không dám bắn xa hơn vì ngại có thể trúng quân ta ở toà nhà kế cận.

Sau đó. và có thể hiểu được sự vui mừng của mọi người khi tại đó. Họ ném vũ khí và yên lặng sắp thành hàng. tôi là người đầu tiên báo cáo với vị tướng về tay thượng sỹ. Từ từ. một đại diện không đường bệ chút nào! Một khẩu súng lục rơi xuống dưới chân tôi. Vị tướng như bị xúc phạm và lệnh cho tay thượng sỹ phải nộp ra ngay chiếc đồng hồ. Cờ trắng ở khắp nơi trong thành phố. chầm chậm diễu qua trước mắt chúng tôi đi ra khỏi thành phố hoang tàn nhưng chiến 57 . Chúng tôi đến điểm qui định trước khi sang ngày mới.Chặng đường đỏ từ Stalingrad thành lộ tiêu! Nếu mà lúc đó có tiếng súng. Đại đội trưởng đề nghị tôi nên tự nguyện nộp nó vào quỹ Quốc Phòng. Đây là dấu hiệu cho biết người đã ném nó – một kẻ rách rưới tả tơi. Ít nhất là ở đây. dường như tự bắn vào tim… Một đại đội thuộc lực lượng đặc biệt đến trên những chiếc Jeep Willy. chúng tôi rà soát trên các con đường. Đột nhiên có một báo cáo đơn giản. góp tiền và những thứ đồ có giá trị cho các hoạt động chiến tranh. Tất cả. Tôi đưa nó cho anh ấy ngay lập tức. rất ấn tượng và bắt đầu trèo ra đường. chúng tôi sẽ không cảm giác gì trừ sự xấu hổ. đó là lần míttinh đầu tiên sau chiến tranh của trung đoàn chúng tôi. quỹ này thật ra có đến chừng 20 triệu rúp –ND). mà tôi đã tự nguyện đóng vào quỹ Quốc Phòng. Rồi sau đó. Chúng tôi xoay sở để nghỉ ngơi một chút. So với chúng tôi. Đồng đội nhìn một cách ghen tỵ khi tôi nhanh chóng tuồn đồ lấy được vào túi. nó lại nằm trong túi của tay thượng sỹ quản trị. trục bọn cuồng tín còn sống sót đó ra khỏi các cống rãnh. “Mày có thể điên nếu mày muốn” tôi nghĩ “nhưng phải đầu hàng” Quân ta. là hàng đoàn tù binh. quyết định bỏ đi mà không lấy đồng hồ. họ ném súng lên tuyết và giơ tay lên. thấy bọn Đức như vậy. tại Stalingrad. tối tăm: một sỹ quan. Cậu ta báo cáo với chỉ huy rằng tôi đã giữ lại chiếc đồng hồ tốt và đắt giá nhất cho bản thân. bọn họ xuất hiện từ sau các đống đổ nát. cũng có những lá cờ trắng! Xém chút nữa là chúng tôi ôm chầm lấy bọn Frizt chó má! Xuốt cả ngày chúng tôi mò đi xem cái siêu thị nơi mà Paulus đặt sở chỉ huy. đêm xuống thì lại nhận đựơc thông báo về các nhóm tàn quân Nazis đơn lẻ vẫn tiếp tục chống cự. chúng tôi có lệnh “di chuyển cả đêm đến cụm cánh bắc quân Đức. Họ như dửng dưng trước vẻ nhếch nhác của tôi. Cái viễn cảnh bị giết trong trận đánh sau cùng . tôi gặp lại vị tướng ở Poltava.thật là tồi tệ. Ngay sau sự kiện này. nhưng trong trường hợp chúng nổ súng thì không cách nào dùng kịp. Nhưng tôi cũng nghĩ đến họ – có chừng 17 người trong đại đội – mỗi người đều được một chiếc đồng hồ chiến lợi phẩm. Một viên đại uý trẻ cho phép tôi được lấy vài thứ cho cá nhân từ cái đống đồng hồ. Tôi rõ ràng là có mang khẩu tiểu liên trên vai. tôi phát hiện ra. phác ra những mục tiêu sắp đến của chúng tôi cho một sự sụp đổ không xa của cỗ máy chiến tranh Hít-le. lần lượt. người đang hiện diện tại đó.khi cuộc chiến đã gần như kết thúc . Năm 1975. chỉ trừ một cậu. Victor Kozlov. Ông diễn thuyết. chỉ huy sư đoàn tổ chức một buổi mít tinh cho những người tham gia trận đánh Stalingrad. bật lửa và đồ kim hoàn. chầm chậm bước ra khỏi các hầm hố. sau cùng. chúng vẫn còn cầm cự…”. Sau buổi mít tinh. Anh ta tuân lệnh và đưa nó cho vị tướng. Họ vây quanh bọn Frizt và bắt đầu tịch thu tất cả những thứ có giá trị cho quỹ Quốc Phòng (một loại quỹ tự nguyện. đã giữ làm của riêng chiếc đồng hồ vàng chiến lợi phẩm. hộp thuốc lá. quấn mình trong một tấm chăn – là một sỹ quan. và tôi thấy chiếc đồng hồ vàng trông giông giống… Đêm ngày 2 tháng 2. Tên lợn đó không để ý đến tôi. Thế là cả hơn một tuần. đột nhiên. Nhưng sau đó. quân địch trông như những kẻ đầu đường xó chợ.

và thế là mọi người được cấp cho quân phục mới tinh. còn bọn Đức chỉ là số 2. trong áo choàng. trông như một thứ dụng cụ. tay tôi cứ tự động theo bản năng mò đến những nơi khó đển nhất trên cơ thể. Dường như anh ta nghe được điều gì đó mà thợ máy chúng ta không biết. gải đến bật máu. trông như một bác sỹ. Vài người khởi động máy và dường như máy chạy trơn tru. xây xẩm mặt mày.. Thật là trời đánh thánh đâm! Chúng tôi phải làm gì bây giờ? Tôi bí mật bỏ một cái hộp quẹt (bật lửa) vào túi quần và cho củi nhiều gấp 03 lần vào lò. có rất nhiều máy móc công cụ thu được của địch. Đến cuối trận chiến. Vì vậy Fuat phải chuyển sang tiểu đoàn khác. ngay cả khi mệt muốn chết. Gương mặt anh. Tôi hỏi hội lính áp giải chúng: “Đi đâu vậy?” “Đến Gumrak” họ miễn cưỡng trả lời. Cuối cùng thì tôi cũng có được một giấc ngủ ngon! Ở binh trạm Karpovskaia. vì bọn rận tra tấn. Lúc này thì lực lượng đặc biệt chẳng để ý tí gì về trò này. Hằng ngày chúng tôi tắm rữa kỳ cọ toát mồ hôi trong các phòng xông hơi trong khi bên phòng sấy thì quân phục được hơ trên lửa đến khi bốc khói. Mà cách điều trị này làm tôi ngã bệnh. anh em quyết tâm tuyên chiến một trận không khoan nhượng với bọn rận và đã có được một cuộc phục hận đầy ngọt ngào! Mọi người nhanh chóng thiết kế và dựng lên các phòng sấy và phòng sauna hoặc bania (nhà tắm hơi kiểu Nga . Và sau đó. Một kỹ thuật viên cao cấp người Đức. Sau đó. Phòng sấy của chúng tôi cháy rụi hoàn toàn. vít trên các thanh truyền động. phản ánh chính xác chất lượng công việc. nơi sư đoàn Cận vệ số 66 tân lập của chúng tôi trú quân. trong nón. Tại làng Karpovskaia.Chặng đường đỏ từ Stalingrad thắng. Thật đáng nể! Có một cái máy đang được sửa chữa và cho chạy chế độ test đặc biệt. Bằng tiếng Đức. trong găng tay. Rận phủ đầy người từ đầu đến chân. áo mưa. Nhưng người tù binh Đức thì làm họ cụt hứng với một giọng cáu kỉnh “Nein!” (không). “Chúng hàng rồi” anh em đùa với nhau. tôi không bao giờ được gặp lại anh nữa. còn rận thì tấn công 24 giờ một ngày! Chúng cũng không hề sợ các loại hoá chất độc diệt côn trùng mà tôi đổ hằng ngày lên thân thể tội nghiệp của mình. Những kẻ bị ốm hoặc bị thương lê lết theo ở cuối mỗi hàng. Lực lượng đặc biệt tiến hành một cuộc điều tra. Họ gật đầu: “Russ Kamerad gut!” (Đồng chí Nga 58 .Thợ máy bên ta nghĩ rằng chiếc máy đã có thể đưa vào hoạt động rồi. “Hitler Kaputt? Stalin gut”. tôi và tất cả những anh em lính tráng khác đều bị bọn rận tấn công. và tôi có cơ hội để tận mắt thấy tù binh Đức lao động. lắng nghe tiếng máy cẩn thận từ nhiều góc khác nhau. tiếp tục phục vụ. chúng tôi phải chia tay nhau. Trong các chương trước tôi đã kể rằng sau khi tới mặt trận Stalingrad. Không chỉ chiếc nón mà cả đĩa bệ cối cũng dính đầy máu. nhưng không thể tìm ra chứng cứ của một cuộc hoả hoạn cố ý. Nhưng bọn rận vẫn tồn tại. anh giảng cho những phụ tá: họ một lần nữa tháo chiếc máy ra và xiết lại những thứ trông không quan trọng như đai ốc. rận mới chính là kẻ thù khát máu số 1. với mọi người chúng độc hại như bò cạp. Với chúng tôi. Vì bọn Frizt còn cho chúng tôi nghỉ ngơi đôi chút. Những âm thanh xa lạ. chỉ còn một dúm lính bộ binh mà đã cùng học trường Quân Sự Tashkent với tôi. Tôi dùng mọi cơ hội để nhét nón (mũ) xuống dưới đế khẩu cối và nghiền bọn rận bằng súng. lần lượt từ cái này đến các khác. Những anh em còn sống nhận được huy chương “Phòng thủ Stalingrad”. Kể từ ngày đó thì bọn rận mới thật sự bị tận diệt. quấn mình trong chăn từ đầu tới chân.chúng tụ lại thành tổ. Nhưng chúng tôi không còn bao nhiêu. Tôi không ít hơn một lần xém nhảy vào ngọn lửa của một chiếc xe tăng cháy. các phòng sấy của các đại đội khác cũng bị hoả hoạn. Bọn rận làm tôi không ngủ được.ND). Và có quyết định phân bổ chúng tôi về các đại đội mới tái lập.

từ dobry nghĩa là tốt. những đảng viên làm việc ở mỏ tự đề ra mức lương của họ – không quá 40 rúp một tháng. Cái tên làm chúng tôi để ý. tôi xin lỗi nếu những đoạn miêu tả dăm ngày tại Dobrinka lại mang một ấn tượng ngọt ngào quá mức. Chúng tôi có cảm giác rằng chiến tranh đã kết thúc. Vì ngày 12 tháng 12 ông mất trong một tai nạn ở mỏ. còn anh em thì chia cho các cháu thức ăn. Nhưng sau trận chiến Stalingrad. Nhà ga và ngôi làng kế bên đều mang tên Dobrinka (tiếng Nga. Cả đầu óc cũng vậy. Vào năm 1934. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn. Rồi đến một ngày. nhưng không khí lạc quan bao trùm lên khắp các nẻo đường. dành cho quân đội của chúng ta. Có một số lệnh mà các thợ mỏ thường dùng. phải tìm đến những nơi tẩy uế bằng lòng ân cần và tình người. sư đoàn Bộ Binh Cận vệ 66 của chúng tôi được đưa lên tàu và di chuyển qua Tambov. Ông chỉ mới bốn mươi lăm tuổi. Mỗi mẫu. như mút kẹo. Tôi tự hào được là con trai của người. Cha tôi là người nghiêm khắc nhưng công bằng. * Tôi yêu cha tôi hơn bất kỳ ai. Tôi nhớ như in cái nhà ga đáng yêu ở khu Lipetsk. mỗi cùi bánh mì được nhận với lòng biết ơn. vùng Voronezh. Lúc đó là mùa xuân. Thật cần thiết để tiến hành hồi phục linh hồn một con người. Thưa những độc giả thân mến. thời điểm mà khẩu phần lương thực xuống thấp nhất. ông có cơ hội để giữ 4kg vàng cho bản thân mà không bị nguy hiểm gì. Lipetsk. Lẽ nào họ chính là những người mà mới chỉ cách đây 2 tuần hung dữ chiến đấu chống lại chúng tôi? Anh em lính tráng hoàn toàn nghi ngại “Có thể nào như vậy!”.Chặng đường đỏ từ Stalingrad tốt – ND). Các cháu nhỏ không ăn ngay bánh mì. Nhưng kết thúc thật sự còn xa. Nhiệm vụ của tôi là làm sao cho con ngựa đi. thẳng hướng đến Kursk. Nếu hỏi rằng cha có yêu tôi không? Tôi nghĩ là có. Mẹ tôi có phần không hài lòng với cha. 59 . Ngay cả cán bộ thanh tra cũng bảo ông khờ khi giao nộp nó. rất xa! Có bao nhiêu người đã ngã xuống giữa hai mùa xuân năm 1943 và năm 1945? Nằm trong đội hình của Quân đoàn bộ binh cận vệ 32. nhưng ông đã không làm vậy. đó là việc điều khiển ngựa kéo thùng trong hầm mỏ. khi tôi viết về tên phát xít đầu tiên bị chính tay tôi diệt. để lấy lại thăng bằng. mến khách – ND). bởi những người thợ mỏ không-đảng có thu nhập hơn gấp đôi và như vậy đời sống khá hơn. Nhưng ông cố giấu tình cảm của mình với con cái: “Nếu bố nghe ai đó bảo rằng con nói tục. sau những điều kinh hoàng mang tên Stalingrad! Có lẽ ở tại nhà ga đó tôi nhận được tin tức từ nhà? Cha tôi đã không đọc lá thư đề ngày 6 tháng 12 năm 1942. mọi người tin rằng chiến tranh sẽ kết thúc không xa. để kéo dài niềm vui sướng. nơi đoàn tàu quân sự của chúng tôi dừng lại vài ngày. Tôi nhớ mang máng rằng trong thời điểm đó. nhưng điều quan trọng nhất là chúng tôi cảm nhận được tình yêu của họ dành cho anh em. Các cụ già và phụ nữ cố cho chúng tôi mọi thứ mà họ có thể. Tôi dễ dàng học chúng và bắt đầu kiếm cơm. cơ thể bẩn thỉu đầy rận của tôi cần nước ấm và quần áo cần giặt. cha tìm cho tôi được một công việc ở mỏ. Thưa những cư dân đáng mến của làng Dobrinka! Tôi muốn cảm ơn vì những ngày được ở cùng trong mùa xuân năm 1943. mà mút từng chút một. và vậy là anh em chia sẽ những phần thực phẩm đạm bạc của mình cho người dân Dobrinka. Ông là một người CỘNG SẢN. Các cháu thiếu nhi đặc biệt mến mộ chúng tôi. và mọi người đều muốn gần gũi hơn với dân địa phương. bố sẽ đánh đòn con một trận nên thân”. Nhưng cha tôi luôn thuyết phục mẹ rằng ông đã làm đúng. Bởi vì tôi tin rằng chỉ có người tốt mới chiến đấu được với loài ác quỷ.

Chặng đường đỏ từ Stalingrad Lúc đó tôi mười tuổi. Hôm ấy trời nóng. Con vật bướng bỉnh cứ dùng dằng, rồi bị lũ mòng chích. Ngựa là một loài vật thông minh. “Ồ, cu kia chỉ là một thằng nhóc, ta sẽ cho cu thấy”. Tôi sẽ đánh xe kiểu nào nếu chỉ ra lệnh cho con vật bằng giọng một cậu nhóc? Tôi không ngu hơn con ngựa của mình: thế là tôi biểu diễn kỹ năng. Tôi cố nói bằng một giọng trầm, bắt chước kiểu của vài tay muzhik, và sử dụng những từ ngữ tục tằng nhất mà tôi biết. Hơ, nó hiệu nghiệm! Con ngựa bắt đầu làm theo lệnh tôi. Tôi vui mừng vì đã có thể làm được như người lớn. Tôi thấy xấu hổ khi phát ra những từ tục tĩu, nhưng tôi phải thế vì lũ ngựa muốn thế. Ngoài ra, tôi hay thấy những người phụ nữ nông dân trước khi leo lên xe ngựa, thường rủa sả hàng tràn với những từ kinh khủng nhất cho số mệnh của họ và cho cả con ngựa nữa! Tôi làm công việc đánh xe được vài giờ rồi. Mọi thứ đều ổn cả. Tôi tiếp tục quát tháo tục tằng, la khản giọng. Đó là việc phải làm. Rồi tôi cảm thấy có ai nhìn gai gai sau lưng. Tôi quay lại… Đó chính là cha tôi, ông đang đứng và cố dấu nụ cười sau hàm râu rậm đen xì. Tôi sợ quá chừng và ý nghĩ đầu tiên là phải chạy trốn ngay. Rồi tim tôi chùng xuống, tôi cụp mắt mà không dám mở lên. Cha tôi đến bên cạnh, đưa cho nửa lít sữa cùng một ít bánh mì, rồi như thể không có việc gì xảy ra, ông bảo tôi vào trong bóng râm để ăn trưa – và trông việc giúp tôi khi tôi ăn. Tôi ngưỡng mộ nhìn cha tôi làm việc. Chỉ cần sự hiện diện của cha là đủ làm cho con ngựa phải đi. Nó ngước đôi mắt ranh mãnh nhìn cha tôi và như hiểu rằng người đánh xe mới chúa tể của loài ngựa. Rồi con vật quái quỉ này đi mà không cần quát một lời, một câu nào. Mỗi khi nó dừng một chút, cha tôi lại nhẹ nhàng vỗ vào hõm vai nó bằng chiếc bàn tay to lớn của ông. Tôi luôn muốn đỡ đần cha tôi bằng tất cả khả năng. Tôi không ngại bất kỳ việc gì. Mỗi khi cha hài lòng và khen tôi thì đó là phần thưởng quí giá nhất mà tôi có được. Giờ đây, tôi đã bị lấy mất đi những phần thưởng quí nhất đó. Cha tôi sẽ không bao giờ được biết rằng tôi đã được huy chương “Vì lòng dũng cảm”. Người đã đi rồi. Suvorov cũng đã hi sinh. Còn ai để dõi theo tôi? Ai quan tâm đến tôi? Và ai sẽ mong tôi thành người tốt? Tim tôi đau vì thèm khát một tình yêu. * Ngày 9 tháng Tư năm 1943, chúng tôi xuống tàu ở ga Davydovka và bắt đầu hành quân đến Stary Oskol. Bấy giờ chúng tôi ở vùng Voronezh. “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả vì chiến thắng”, “Quân phát xít xâm lược phải chết!”. Những khẩu hiệu này xuất hiện ở khắp mọi nơi. Nông dân ở đây trông hốc hác, trên người là quần áo xác xơ và đôi giày cũ nát. Chúng tôi vượt qua ranh giới vùng Voronezh, tiến vào vùng Lipetsk rồi hướng đến Belgorod và Kusk. Không xa thị trấn Stary Oskol, tại một khu rừng gần làng Tioply Kolodets, trung đoàn bộ binh cận vệ 193 của chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi. Tại đây, đầu tháng 6, chúng tôi được chính thức nhận lá cờ Cận vệ, cả buổi lễ đựơc nguỵ trang cẩn thận. Chính thân tướng Alexander Rodimtsev, tư lệnh Quân đoàn Cận vệ 32 trao cho. Tôi còn nhớ niềm phấn khích của mọi người khi được tận mắt thấy vị tướng nổi danh, Anh hùng Liên Xô từ thời chiến tranh Tây Ban Nha với ngôi sao vàng trên ngực (Đại tướng Alexander Rodimtsev được danh hiệu Anh hùng Liên Xô lần đầu vào năm 1937 vì những hoạt động trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha, và lần thứ hai vào năm 1945 vì đã phục vụ trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại – ND). Đại tá Cận vệ Ivan Tukhru, trung đoàn phó, quỳ một chân, hôn lên viền cờ. Chúng tôi cũng quỳ xuống để tỏ lòng tôn trọng. Đứng bên vị tướng trứ danh, là đại tá Cận vệ Pavel Bilaonov, trung đoàn trưởng, anh cao hơn một chút, tựa vào nạng.

60

Chặng đường đỏ từ Stalingrad

Chúng tôi được biết sư đoàn 293 của mình được trở thành sư Cận vệ 66 từ hồi ở Stalingrad, và giờ đây chúng tôi sốt ruột để đựơc nhận huy hiệu Cận vệ. Nó gần giống như Huân chương Cờ đỏ, chúng tôi mong có càng sớm càng tốt, để có thể khệnh khạng ra đường. Chỉ cần một đồng đội thấy một tay lính Cận vệ của đơn vị khác có đeo huy hiệu, thì tin tức sẽ có chân nó chạy và chúng tôi sẽ mò ngay đến, tận mắt nhìn cái vật xinh đẹp đó. Trong tháng Sáu, sau khi nhận được Cờ, cuối cùng thì huy hiệu Cận vệ cũng được gửi đến trung đoàn. Mỗi người được một cái! Hồi đó, lính hiếm khi có được huy chương chứ đừng nói chi đến huân chương. Với rất nhiều lính Cận vệ thì cái huy hiệu đó là thứ đồ trang trí duy nhất trên áo, và thường thì họ cũng chả cần gì khác thêm. Sau huy hiệu Cận vệ, chúng tôi được nhận huy chương “Phòng thủ Stalingrad”. Lúc ấy, với hai thứ huy chương đó, mọi người trở nên đặc biệt khấn khởi về khả năng chiến thắng và trở về với gia đình! Anh em bắt đầu sơn biểu tượng Cận vệ lên xe tăng, lên pháo, lên xe tải và cả trên thùng xe ngựa hai bánh. Chúng tôi cũng làm những biểu tượng đó bằng đồng thau và khảm lên báng súng trường, súng tiểu liên. Thế nào mà lính tráng có thời gian và tìm ra được vật liệu để làm, đó là bí mật! Vào mùa đông, chúng tôi đeo huy hiệu Cận vệ ra ngoài áo măng tô, như vậy để mọi người có thể biết được chúng tôi là lính Cận vệ! Đoàn viên đoàn TNCS Komsomol có thể đeo thêm huy hiệu đoàn; rốt cuộc là có ấn tượng rằng mỗi người đều có tới vài huy-huân chương, như vậy làm cho anh em tự tin hơn. Nếu có ai đó phải đi trinh sát, thì người ấy cẩn thận tháo các huy chương, huy hiệu từ áo trong, áo ngoài cùng với toàn bộ giấy tờ và giao nó cho chính trị viên giữ cho đến khi anh ta quay lại. Mọi người nghĩ rằng: chiến tranh đã xảy ra hai năm rồi, nếu không có được chiếc huy chương nào, đặc biệt là sau trận Stalingrad thì thật là xấu hổ. Anh đã làm gì để mà anh không nhận được bất kỳ một huy-huân chương nào? À phải, tất cả chúng tôi, những ai còn sống đều được nhận huy chương “Phòng thủ Stalingrad”. Tôi thì còn có thêm chiếc huy chương “Vì lòng dũng cảm” khi giết tên phát xít đầu tiên. Nhưng có bao nhiêu tên Frizt bị diệt giữa hai lần nhận thưởng đó nhỉ? Khi còn ở gần Stalingrad, mỗi chúng tôi được cấp cho một chai nửa lít chứa một loại dung dịch cồn lỏng nặng mùi, cái này được dùng trong trường hợp bị nhiễm hơi độc Yperít. Chất lỏng này không thể uống, nhưng nếu dùng để nhóm lửa thì thật hữu dụng. Và rõ là chúng tôi được lệnh không được dùng cho việc ấy. Anh chính trị viên – tôi không nhớ tên anh, nhưng anh thay cho Fatkulla Khismatullin, người đã hy sinh ngay trong trận đánh đầu tiên – thì đặc biệt nghiêm khắc với những trường hợp không tuân theo lệnh này. Nếu anh thấy được ai đó sử dụng sai mục đích, thì người ấy có cơ phải đối diện với toà án binh. Nhưng mệnh lệnh của cái lạnh, cái đói còn ghê hơn, và chúng tôi cứ tiếp tục tìm cách đốt cái chất lỏng đó. Và đến một lần nọ, anh chính trị viên không thể trụ nổi lâu hơn trước cái giá rét, thế là anh chui vào hầm và quyết định sẽ sưởi ấm. Anh rắc một ít cái chất lỏng ấy vào lò, nhưng vì quá vụng về nên cái tay đang cầm chai bị bắt lửa, bùng lên. Theo bản năng, anh giật mạnh tay, làm cho cái chất lỏng ấy tràn ra nhiều thêm, có thể dễ dàng đốt chết anh ta. Sau đó, khi chúng tôi băng bó cho anh chàng bất hạnh này, tôi không thể không điểm một câu chế nhạo “Đừng bao giờ tự phá luật của chính mình!”. Anh ấy không bao giờ tha thứ cho câu châm biếm này của tôi. Nhưng tôi vẫn nghĩ là tôi đúng. Thật không khôn ngoan và không đúng khi cấm những người khác làm điều gì đó, hãy tự đi làm lấy! Và đó là nhiệm vụ của tôi phải nói với anh vì dù gì tôi cũng là bí thư chi bộ của đại đội. 61

Chặng đường đỏ từ Stalingrad Trong suốt cuộc chiến, tôi có dịp gặp nhiều chính trị viên. Nhìn chung, họ là những vị chỉ huy giỏi và có khả năng sư phạm. Các chính trị viên giữ cho tinh thần binh sỹ được vững vàng và giáo dục họ bằng cách bản thân thị phạm. Tôi cũng phải lưu ý rằng, với binh sỹ, đặc biệt là với những người giản dị, họ kính trọng người chính trị viên, những người có thể giải thích rõ ràng về mục đích của cuộc chiến, và về tình hình ngoài mặt trận cũng như tình hình thế giới. Với một người lính, những gì là quan trọng nhất? Đó là được ăn uống tốt, là được biết họ chiến đấu vì cái gì, và tôn trọng cấp chỉ huy. Ngay như bản thân tôi, tôi được giáo dục rằng về nguyên tắc người Cộng sản phải làm gương cho những người chưa vào đảng. Chính vì vậy mà tôi khó chấp nhận một sự thật là có một chính trị viên không xứng đáng với vị trí mà anh ta có được. Bất hạnh thay, tôi gặp phải một anh chính trị viên khác trong đại đội. Tên anh ta là Snesar hay Snesal gì đó, tôi không nhớ đích xác... Một ngày nọ, hắn ta thấy chiếc đồng hồ đeo tay chiến lợi phẩm của tôi. Hắn bảo: - “Cho anh đi!”. Tôi hông có tham lam, nhưng có điều gì đó trong giọng điệu của hắn làm tôi không thích - “Thôi, tự tìm lấy từ bọn Nazi khi chiến đấu đi, như tui nè” - “Đưa cho anh rồi anh sẽ thưởng cho chú” - “Bằng cách nào” tôi ngạc nhiên hỏi lại - “Anh sẽ đề nghị thưởng huy chương cho chú” Tôi nghĩ “Có nên đấm hắn một cú không?”. Nhưng rồi tôi hình dung ra toà án binh, với quan toà và câu kết luận “Án tử hình”. Không, tốt hơn là không đấm hắn, vì mình có thể trả giá đắt hơn cho việc này! Và rồi tôi lớn tiếng: - “Mày là một thằng phe phảy bần tiện! Đồ cức đái! Mày đang buôn bán cái gì vậy hả? Tổ quốc sẽ tặng thưởng huy chương cho tao nếu tao xứng đáng chứ không phải là mày”. Tôi ngạc nhiên là hắn ta im lặng nghe những câu chửi đó và chỉ bảo tôi là “Thằng khùng” cùng với một cái mỉm cười khinh thị. Đó là đoạn trao đổi hay ho mà chúng tôi có với nhau. Tổ quốc tặng thưởng huy chương cho mọi người, nhưng đặc biệt là nếu có người tiến cử!!! Tôi không thể nói rằng tôi làm mất uy tín những tấm huy chương mà chúng tôi có được ở khu rừng thưa cạnh Stary Oskol, vốn mang lại sức mạnh cho những trận chiến về sau. Tôi chỉ tin rằng trong khi hầu hết các đồng đội cũ của tôi đã phải hy sinh thì tôi, còn sống, là một phần thưởng lớn nhất. Tại trường quân sự Tashkent tôi là một ca sỹ có hạng “có chất giọng chỉ huy”, giảng viên bảo thế. Tôi không trở thành một sỹ quan chỉ huy, nhưng khá thành công với “sự nghiệp” ca hát. Mọi người đều thích ca bài “Katiusha”, “Tachanka-Rostovchanka”, “Ba chàng lính tăng”, “Hởi pháo thủ, Stalin đã ra lệnh”, “Cuộc chiến thần thánh”. Có một bài hát khác, chúng tôi gọi là “Kalinka”. Giai điệu thì theo một bài hát nổi tiếng còn lời thì chúng tôi tự chế. Nó nói về một người chở nước ở Vologda. Lời bài hát vừa trào phúng, vừa trữ tình, lại vừa hóm hỉnh, dí dỏm. Nó thật là đỉnh. Chúng tôi “phối nhạc” bằng tiếng sáo miệng và nhịp vỗ tay. Đầu tiên, chúng tôi thường làm cho thính giả (chính yếu là phụ nữ, thiếu nữ, các cụ và các cháu thiếu nhi) nhỏ nước mắt bởi những bài hát đại loại như “Có cô thiếu nữ đáng yêu ở cạnh nhà, có một người vợ quí” hoặc “Bên khung cửa, nàng treo một ngọn đèn”. Và sau khi họ thút thít một chút, chúng tôi trỗi bài “Kalinka” của anh em lên, và thế là họ cười đến tận mang tai. Rồi những thính giả ấy nhanh chóng vung tay về phía chúng tôi, đồng thời kéo khăn che mặt, bẽn lẽn. Những 62

“Mansur. thì tôi biết mặt anh từ hồi ở Buzuluk. Điều này giải thích cho dáng điệu mạnh mẽ của người kỵ sỹ sôi nổi này. và Đại uý Cận vệ Ivan Tukhru. Bilaonov xuất hiện bất ngờ và ngăn các tiểu đoàn rút chạy. quốc tịch Estonia. giọng chỉ huy mạnh mẽ và một huân chương Cờ đỏ trên ngực. nhưng nó sẽ giúp cho lính tráng chịu đựng được những điều kiện khó khăn ngoài chiến tuyến. . Chúng tôi học biết những cơ phận chính của các loại tăng Tiger. Còn chúng tôi thì hát cho đến khi khàn cả giọng. Cánh pháo thủ nhận những vũ khí chống tăng mới. Bấy giờ tôi là khẩu đổi trưởng khẩu đội cối chính số một và là phụ tá trung đội trưởng. và thân hình trông rất thể thao. Chúng tôi xem như trung đoàn là của Bilaonov. Bấy giờ. thì dáng điệu. trán cao. Nhưng họ thì vẫn cứ yêu cầu chúng tôi bản “Kalinka” thêm lần nữa. trung đoàn chúng tôi được lãnh đạo bởi ba đại uý Cận vệ. Và như vậy. Pavel Bilaonov nhớ mặt tôi giữa hàng ngàn chiến sỹ khác chỉ vì cách hát nghịch ngợm của tôi. ở Osetia…”. Khi đó anh là một thượng uý. tất cả lính tráng đều muốn chiến đấu dưới sự chỉ huy của Chapayev. “Anh ấy là ai nhỉ” một tay lính thầm thì. và tự gọi mình là “Lính Bilaonov”. đôi lông mày trông như cánh chim ưng. sức hấp dẫn. Kotovski hoặc Blukher (những anh hùng của Hồng quân thời Nội chiến – ND). Cuối tháng Sáu năm 1943. chỉ vậy! Nhưng bên cạnh các điều lệ. quê Caucasus. cái nhìn đầy quyền lực. không một giọt mưa. tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ với lũ tân binh chúng tôi. là thợ mỏ” Trung đoàn trưởng. Nhanh chóng sau đó “điện báo lính” trả lời ngay: “Anh ấy là Pavel Bilaonov. tóc rậm. Budionny. cương quyết trong chiến đấu thì lính tráng sẽ theo anh ta vào cả địa ngục ghê gớm nhất. Cả ngày đằng đẳng trung đoàn chúng tôi để hết tâm trí vào huấn luyện chiến thuật. Anh có hai cấp phó. nếu nghiêm khắc mà nói thì chỉ huy là ai cũng không có vấn đề gì: đơn giản. tại thời khắc nguy cấp nhất. Họ không thích chiến đấu những nơi không có người kiểu Chapayev! Dĩ nhiên. Trời rất nóng. đồng thời học những thứ mà chúng tôi không có đủ thời gian ở trường Quân sự Tashkent. Còn với tôi. một cách đầy tự hào. Ferdinand và những loại tăng. giọng nói. cậu là nghệ sỹ à” họ hỏi . Phải nói rằng. pháo tự hành khác của phe địch. binh lính muốn yêu mến cấp chỉ huy của họ. Không khí đông đặc và khô khốc. Anh ấy rất thích bài “Kalinka” đó và thường yêu cầu chúng tôi hát cho anh nghe. Và nếu vị chỉ huy của bạn không chỉ bảnh trai mà còn can đảm.“Không. Tất cả đó. đó là Đại uý Cận vệ Vladimir Yegorov – kiêm chính uỷ trung đoàn.Chặng đường đỏ từ Stalingrad người gan dạ nhất thì bất đầu nhảy múa. Chúng tôi huấn luyện tân binh. tất cả đều quan trọng với người chỉ huy. Tình cảm đó khó nói rõ hoặc kể ra. Lính bộ binh thì có đủ vũ khí chống tăng đáng tin cậy: lựu đạn chống tăng cùng vô số chai Molotov cocktail. người lính được đòi hỏi tuân thủ các điều lệ của quân đội. trưởng phòng Tác chiến sư đoàn. Chúng tôi cũng làm quen với loại pháo tự hành 152mm (Su-152 ND). cùng với vẻ tự tin. chia sẽ những kinh nghiệm ở Stalingrad. Anh em để ý ngay đến anh trong số những sỹ quan sư đoàn đến đón chúng tôi khi mọi người vừa xuống tàu. Anh khá cao. Còn bây giờ thì Đại uý Cận vệ Pavel Bilaonov là trung đoàn trưởng trung đoàn Bộ binh Cận vệ số 193 của chúng tôi. 63 . Không một bóng mây trên trời. dù chúng tôi có thích hay không. Những tay lính Stalingrad cựu chúng tôi thường kể cho lính mới về trận công kích Năm ngọn đồi. Panther. rồi hích khuỷu tay người khác để nhìn. cách bảy mươi kilomét về hướng đông bắc của chúng tôi là làng Prokhorovka.

. Hai tay đó có chân như chân voi. Mọi người học cách ném chai cháy và những quả lựu-đạn-đập (percussion grenades ) nặng nề. khi ấy. Panther. nhưng anh em vẫn cặm cụi cho đến tận tối. 64 . trong cơn mưa trút nước và trời tối đen? Hay trên cánh đồng trống trải giữa hàng đống đất đá nằm quanh các chiến hào? Tình thế trông như vô vọng. Có mối liên hệ thực thụ nào giữa cái vật bé tý đó với cuộc sống của mình đâu nhỉ? Tại sao mình lại đặt niềm tin vào nó? Nhưng có một sức mạnh vô hình nào đó ra lệnh cho tôi: “Hãy đi tìm nó đi!”. Tôi thấy một dấu chân bự chảng. Cái mascot của tôi! Quay trở lại hầm. tay chân duỗi thẳng ra. Trong mơ. Sau đó tôi bắt đầu nghĩ lại. Tôi dí đèn vào gần hơn và ngửi nó. Đất sét ẩm ướt khắp mọi nơi với vô vàn vết giày lõm bõm nước trong đó. Trời đột nhiên tạnh mưa. đúng vậy. nó bị đạp và vỡ thành 4 mảnh. Anh em chuẩn bị ngủ. tôi cẩn thận mò tìm kỹ hơn trong vết chân. buộc chặt bốn mẩu đó lại với nhau. còn người kia ném thủ pháo hoặc chai cháy. Ắt là của Ivan Konski hoặc Sergei Lopunov đây. đẹp và khô ráo. lôi nó ra. Rồi giấu nó vào trong túi quần. Nên hành động theo từng cặp. tôi kiểm tra lại cái mascot may mắn của mình: nhưng túi quần tôi trống trơn. Và như thường lệ. Những trái thủ pháo như vậy nổ trong tay bạn nếu bạn vô tình đập nó vào vách hào khi ném. và nhặt ra được ba mẩu nữa. Nhưng nếu ném trúng chiếc tăng. Đầu óc của con người mới bí ẩn làm sao! Tôi ngồi đó. tôi thấy mình nằm chết. Mọi người trong hầm vẫn còn ngủ ngon. Rồi tôi đột nhiên trông thấy một thứ gì đó giống như một cái que mảnh. Và cũng kể từ đó mình đã kết liễu bọn chúng khá nhiều rồi! Nhưng tôi muốn sống biết bao. và thấy đó là một cái đót mảnh có lỗ. mọi người có một bữa ăn ngon lành. thì sức nổ của nó có thể làm chiếc tăng chết dí. Hãy để tăng địch chạy qua mặt. Hằng ngày những chiếc tăng T-34 giúp chúng tôi thực hành. hoàn toàn sững sờ. Vì những bài huấn luyện chuyên sâu liên quan đến tăng. Người được phân công trực cũng đã lên chốt gác. Tôi giật mình tỉnh giấc. Có mùi nicotin. Chắc mình nên tìm lại nó? Nhưng ở đâu? Trên mặt đất ẩm ướt và bị khuấy tung bởi hàng tá dấu giày nhà binh? Trên đồng cỏ mọc cao. Rồi một ngày. Tay tôi run rẩy! Cố vượt qua cái niềm vui hoang dại dâng tràn trong tim. tôi lấy một đoạn dây.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chúng tôi không để phí thời gian. vượt qua hào của bạn. Ferdinand v. đó chính là cái đót thuốt lá của tôi. Cuối cùng thì trời cũng đổ một cơn mưa to. trong căn hầm và cố tự nhủ mình nhiều lần rằng chết bây giờ thì cũng không tệ như hồi mới bắt đầu.v. khâu kỹ lại. Đầu tiên thì tôi ngồi vật xuống. Tôi bò ra khỏi hầm. Khi xe nhà bếp đến. Rằng dù gì cái mascot đó chỉ là một cái thứ đồ mà mình tự hư cấu ra thôi mà. Và dừơng như chiến tranh đã gần kết thúc rồi… Tôi cố tự thuyết phục rằng cái nỗi sợ đẫm chất mê tín đó là vô lý. trước khi tôi hạ được tên Phát xít đầu tiên. sau khi rời vị trí bắn. một cái ngòi trong cái vết gót chân. Cánh cựu binh chúng tôi cũng giảng giải cho hội lính mới những điểm yếu riêng biệt của từng loại tăng Tiger. “Mình có lẽ sẽ bị thương nặng đây” tôi nghĩ. Trời vẫn tiếp tục mưa to. Tôi đã làm mất lá bùa may mắn của mình! Có nghĩa rằng tôi sẽ bị giết. Tôi cúi xuống. trước khi nằm xuống. tôi thấy buồn ngủ và lăn ra ngủ ngay. chúng tôi bắt đầu đào hào. Đặt biệt là còn sống sót sau trận Stalingrad. Chúng tôi đã thực hiện các bài huấn luyện rất nghiêm túc! Nhưng cũng còn đủ sức làm một cái hầm có một lớp đất dày trên nóc. một người bắn yểm trợ. Nhưng tôi thật sự không có hi vọng tìm thấy được cái mascot của mình. Sau sự căng thẳng và sợ hãi quá mức do cái mascot bị tạm thời thất lạc. nên chúng tôi tin rằng mình sẽ sớm tham gia vào những trận chiến ác liệt giữa các lực lượng tăng –thiết giáp. Vâng. Không ai thấy gì. Nó thật sự là một chỗ trú tiện lợi.

đã phải rất khó khăn để tìm vị trí đặt bắn mà không ảnh hưởng đến các quân bạn đóng cạnh. Ở mặt trận. nơi kia. làm nhiệm vụ của mình một cách có hệ thống. trong khi phía sau chúng tôi (và cả bên quân Đức cũng vậy). Cứ như thế. “Mình sẽ bị giết hay không?”. trong một cuộc chạm trán. Sức nóng của trận đánh có thể minh hoạ bởi một hiện tượng là dọc theo chiến tuyến mây tụ lại và đổ thành mưa. Chỉ huy của các đơn vị pháo binh với nhiều cỡ nòng. thật khó mà làm điều này khi đang chiến đấu! Thế mà khi chiến đấu gần Prokhorovka. trong một ngày không biết bao nhiêu lần hai bên lao vào nhau? Ai sẽ thắng? Đây là một trường hợp sức chọi sức. ném các đơn vị đóng phía trước ra đằng sau. thuộc Tập đoàn quân Cận vệ số 5. giữa những chiếc tăng cháy. bạn có thể bị giết bởi một chiếc máy bay rơi! Những tay phi công nhảy dù ra ở nơi này. người đẫm mồ hôi. như thể đang làm việc trong một công xưởng khổng lồ. Không có đủ không gian cho cánh pháo binh trên chiến trường! Tiếng gầm của đại bác liên tục xuống cả ngày. Mọi người muốn giúp đồng đội. Chỉ còn mỗi màu trắng ở nơi răng và trên mắt. ngăn không cho chúng lẻn vào phòng tuyến quân ta. không ngớt. giữa những quả đạn đại bác nổ tung và giữa ánh lửa của các loại vũ khí tầm ngắn. Chúng tôi thường thấy những phi công nhảy dù tiếp tục chiến đấu với địch bằng những khẩu súng ngắn. tài chọn tài. nhưng hãy coi chừng. Chúng tôi tiến lên bằng những bước chạy mạnh mẽ. quân Đức bắt đầu tổ chức một đợt tấn công dữ dội khác. Phương diện quân Steppe) đóng ở tuyến hai. người phủ đầy bồ hóng – trông như những tay thợ đốt lò cần mẫn. thì chúng tôi triển khai chiến đấu ngay rạng sáng ngày 12 tháng 07 năm 1943. anh không thể làm gì để tự cứu mình cả. dù rằng chúng tôi thường phải thay đổi vị trí và để cánh pháo binh lại một mình đối mặt với quân phát xít. Cảnh đã quen thuộc. cách chừng 70km về hướng Bắc làng Prokhorovka. tôi đã xoay sở để làm được một bức poster: những khẩu pháo chậm chạm nghiền nát tăng Đức. Cả ngày dài diễn những trận không chiến của hai bên. Mọi người phải cẩn thận để không nhầm phi công ta với bọn giặc lái Đức. quên đi nỗi sợ hãi và phó thác mọi hi vọng của mình cho thần may mắn. Không. Trong cuộc chém giết này. Trong rất nhiều trường hợp. Những đám mây xám xịt cũng cong vòng theo hình dáng của giới tuyến. trời hoàn toàn trong xanh. Hàng loạt mảnh vụn và đạn. Tôi không bao giờ được nhìn thấy một cảnh tượng như vậy lần nữa! Đó là hoả ngục và hơi nóng bốc lên cả ngày lẫn đêm. Bị đẩy lùi. nó thường được đưa lên cùng tuyến với cánh bộ binh. sư đoàn Bộ Binh Cận vệ số 66 của bọn tôi (nằm trong Quân đoàn Bộ Binh Cận vệ số 32. nếu không phải pháo cỡ từ 152mm đổ lên. Khi thấy bức vẽ của tôi. Mọi chiến sỹ. tôi chưa từng thấy nhiều đại bác như thế. mọi cánh tay chỉ biết làm những gì cần thiết một cách tự động. Cho đến giờ. Nhưng khi bọn Đức chọc thủng tuyến phòng ngự quân ta.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chương 8: Chiếc Tiger của Kostia Trước khi trận Kursk diễn ra. Ngày 12 tháng 7. và một lần nữa không thành công. một anh lính giật lấy trong 65 . trung đội Leonid Nochovny diệt được năm chiếc tăng Tiger. nhưng bằng cách nào bây giờ? Giá mà những chiếc dù phe ta có vẽ ngôi sao hoặc làm bằng một loại vải có màu riêng biệt. tôi hiếm có cơ hội để vẽ. Mọi người không nên có ý niệm sai lầm là đại bác chỉ bắn từ những nơi được bảo vệ và ở phía sau hoả tuyến. Anh em bộ binh chúng tôi – chìm trong đám khói đen kịt.

chỉ biết lặng im với cái vẻ thảm sầu. không trả lời nổi những câu hỏi của anh em. rồi cười như một người điên. Sau đó anh được truy tặng huân chương Cờ đỏ. xe tăng và đại bác bị hạ gục. Shamrai hụp sâu vào vị trí trú ẩn. Những tay tân binh của chúng tôi. Đúng lúc đó. Những gói như vậy phải đựơc ném từ khoảng cách không dưới 50 mét. chúng tôi thấy Kostia nhảy khỏi chiến hào và ném cái gói chất nổ ngay dưới vành xích của chiếc tăng. Quân ta thì có 10 người hi sinh trong đó có Kostia và 20 bị thương. cố tiến lên. Và nó được dẫn tới ngay. giữa những đống thây người. chiếc Tiger của Kostia tiến đến gần hơn. Chiếc Tiger mất một bên xích. anh dự kiến từ đó có thể ném cái gói nặng nề của mình vào được dưới xích xe tăng địch. Rồi một ngày anh có cơ hội … Quân Đức quyết định cố đánh chiếm một vị trí được gọi là “cao điểm khống chế” của chúng tôi (dù rằng nó thật sự không quan trọng với quân ta). Kostia sinh năm 1925 ở quận Miasski vùng Cheliabinsk. rồi dừng lại. 40 mét. quân ta làm những gói đặc biệt trong đó gồm 02 quả thủ pháo và một chai cocktail Molotov (thứ mà anh em gọi là “chai Sâmpanh-để-ói”). Chúng đưa tăng lên tấn công cùng với 100 bộ binh tùng thiết trang bị tiểu liên. Aleksei Yanson và vài cậu khác. Anh ta nói lảm nhảm. Matvei Yershov. tiểu đoàn trưởng. Kostia lại muốn chính tay mình tiêu diệt một chiếc Tiger. Vasili Shamrai. Cuối cùng thì chúng tôi cũng bẻ gãy được cuộc tấn công của quân Đức. Sự việc diễn ra sau đó thì thật tình chúng tôi không tưởng tượng nổi! Trong vòng 15 phút. Còn những tay lính gầy gò như Kostia Martynov hay Piort Shkolnokov thì phải bằng lòng với việc sản xuất ra những cái gói đó. Anh ấy luôn giữ con ngựa của mình gần bên. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh: “Mang ngựa lại đây”. quay tròn. bằng những sợi dây điện thoại cứng cáp thu được. Một chiếc tăng trong số đó nhanh chóng lăn đến hướng trực diện với đoạn hào dự bị của Kostia.Chặng đường đỏ từ Stalingrad một cơn loạn trí “Làm sao nó có thể vẽ ở đây nhỉ?”. vì sức nổ của nó quá mạnh và có thể làm bạn bị thương. Tôi thấy một hàng những gương mặt tái nhợt như ma. Vào một buổi sáng. Để chống lại tăng địch tốt hơn. Thế này thì tiểu đoàn tấn công cái nỗi gì? Và nếu chúng tôi đưa đám này tiến lên cùng thì trông mong gì được ở cái đám lính đánh cận chiến trong lúc họ hoàn toàn mất tinh thần? Vì không thể nghĩ ra cách để làm cánh tân binh hết sốc. Anh em tìm thấy Kostia nằm đó với máu trào ra từ hai tai còn con ngươi thì gần như rơi ra khỏi hốc mắt. Hai chiếc tăng Tiger và chừng 50 lính phát xít bị tiêu diệt. inh tai vang lên. Trong khi đó. Trông như Kostia có đủ thời gian để nhảy về chỗ nấp trước khi nó nổ. bị sốc trước cảnh tượng của hàng đàn tăng cháy cùng những đống xác người ngang dọc (cả với cái mùi kinh khủng từ đó nữa). chuẩn bị huỷ diệt các vị trí của quân ta bằng pháo trên xe. Thấy như vậy. Có không nhiều anh em trong đại đội đủ sức khoẻ để làm việc đó: Sergei Lapunov. Nhưng chỉ còn một bên xích nên nó quay ngang và đổ nghiêng một bên. Chẳng qua là người lính ấy không thể chấp nhận được bằng cách nào mà một người có thể vẽ trong một cảnh như vậy. Cần phải làm gì đó ngay vì bọn Frizt có thể tấn công bất cứ lúc nào. đại uý của chúng tôi ngồi trên yên và liều lĩnh thúc ngựa ra 66 . Vasili Shamrai tách bọn bộ binh ra khỏi chiếc tăng bằng cách nổ vài loạt dài từ khẩu trung liên làm chúng phải nhảy đi tìm chỗ nấp. anh ấy chộp lấy cái gói thủ pháo và cố hụp người thật thấp trong hầm. Đã vài lần. tôi cùng các bí thư chi bộ trong tiểu đoàn duyệt qua lực lượng tăng viện. Rồi một phát nổ cực lớn. cứ như những người câm điếc. anh đào một đoạn hào dự bị chỉ cách khu phân tuyến chừng 30. Nhưng người đồng đội của chúng tôi. chúng tôi phải báo cáo lại tình trạng này cho đại uý Cận vệ Feodor Gridasov. Anh em mang thêm lên một ít chai “Sâm-panh” và chiếc Tiger nhanh chóng chìm trong lửa.

Lúc ấy thì bọn Đức. anh phi nước đại trở lại. tôi phóng đến một chiếc tăng Đức bị cháy. Trong giây phút ngắn ngủi. anh cảm giác và tin rằng mình đang bị quân địch bao vây.. Giữa tháng 07 năm 1943. Thật vô lý phải không? Nhưng còn các nào khác để lập tức đưa 100 con người ra khỏi tình trạng bị sốc tệ hại ngay trước trận đánh? Làm một bài diễn thuyết lâm ly ư? Nó chả giúp gì được! Và như vậy là anh em lính tráng đã lấy lại tinh thần. cuối cùng cũng khai hoả. nghĩ rằng nếu anh ấy đã chết thì thi thể ắt phải trương lên trong các thời tiết nóng này. Họ thấy xấu hổ khi nhìn vị chỉ huy của mình thể hiện rằng anh không chút nào sợ hãi. sáng sớm. chúng tôi nhìn ra. Họ đột nhiên quên cả hết những nỗi sợ hãi. tung ra một làn khói trắng dày. hoàn toàn lộ liễu ngay dưới mũi quân địch. Sức mạnh siêu nhiên nào đã giúp anh tồn tại trong suốt năm này mà không có một giọt nước. kỳ bí. đã cảm thấy rằng màn xiếc này nên kết thúc ngay nên lập tức biến mất khỏi “sân khấu”. khi tiểu đoàn anh rút lui. anh em được biết là Feodor Ignatov đã tỉnh lại. Tôi bò tới. tiến lên. chúng tôi kinh ngạc khi nghe tiếng hô vang “B-r-r-r-a-vo!”.. hét vang để ủng hộ tiểu đoàn trưởng như thể những fan bóng đá trong trận chung kết Cúp. Tôi quay nhìn vào đám tân binh. nhưng gió có thể đổi hướng bất kỳ lúc nào! Mà chúng tôi lại vứt bỏ mặt nạ phòng 67 . Anh em cứu thương mang cáng đến và kéo anh lính kia ra. Chúng tôi nghĩ là bên chiến hào quân Đức sẽ rộ lên tiếng súng máy. Anh ấy vẫn còn mang giày và chân không bị tổn hại gì. Tôi rất vui mừng khi biết anh còn sống. Tôi cũng phải nhắc rằng cái “xác tươi” ấy đã nằm đó. Anh ấy còn sống không? Anh ấy sống ở đâu? Tôi đã cứu anh. Tôi không biết người đàn ông phi thường ấy có thể sống thêm bao nhiêu giờ nữa. thì pháo của chúng bắt đầu nhả đạn vào khu phân tuyến. nhưng chậm mất rồi. Anh thấy chiếc tăng – bị bắn cháy trước đó – và để ý rằng lửa đã gần tắt. Sau cùng. ở vùng đất trong tay bọn Đức tới 5 ngày. Chúng tôi hoảng sợ và nghĩ đến một trận tấn công bằng hơi độc. đại uý của chúng tôi do bản năng. Anh tên là Feodor Ignatov. Tôi chạm vào chân anh và kéo nhẹ. nên anh quyết định bò vào dưới đó. Tôi cẩn thận ghi nhớ vị trí của chiếc tăng. Dĩ nhiên là tình cờ. Tôi chính mắt đọc thấy trên thẻ quân nhân. tôi những muốn đến trạm phẫu để chúc mừng anh được cứu sống một cách kỳ diệu. Tôi làm lại đến chỗ chiếc tăng đó. tôi trông thấy một người lính Nga nằm bất động. Những quả đại bác nổ tung trước khi chạm đất.Chặng đường đỏ từ Stalingrad khu phân tuyến! Ở đó. Khi đang bò dưới đó. Không có nhúc nhích. Anh nói với bác sỹ rằng anh bị thương vào đầu trong ngày 06 tháng 7. Cả cánh đồng được che phủ bởi hàng đống lớn các bó lúa mỳ! Chúng tôi đang cố tưởng tượng xem bọn Phát xít muốn cái gì khi gặt lúa cả đêm rồi sắp lại như vây. Nhanh chóng. Khi chúng tôi vừa mới bắt đầu chuẩn bị cho các vị trí mới thì quân Nazi bắn đại bác hạng nặng đến. Vì không có thời gian để đào hào cho mình. mang về trạm phẫu. nhưng không thể. tôi để ý thấy ngực anh ta còn nhô lên hụp xuống. Gió đưa làn khói đó dọc theo tuyến quân ta. tôi nghe thấy tiếng tim đập. Ghé tai vào chiếc áo choàng của anh. tiểu đoàn chúng tôi phản công quân địch. Sau đó anh chẳng nhớ gì nữa. sau cùng đã khôi phục được tuyến phòng thủ hồi 06 tháng 7 của các đơn vị tiền tiêu. Chúng tôi đã đẩy lùi được cuộc phản công và giữ vững đựơc trận địa. phía bên quân Đức có cái gì đó lạ lùng. một sự trợ giúp nào? Hôm sau. tôi trườn lên phía đầu anh và sửng sốt trước một cảnh tượng kinh tởm: một bầy giòi trắng như trứng kiến hay gạo! Mặc cho tiếng nổ của đại bác quanh chiếc tăng. nhưng thay vào đó. với dáng vẻ cả quyết.. trận chiến lặng đi. Khi đêm đến. dấu hiệu cho thấy một cuộc tấn công khác.. Trong khi đó. thắng lợi.

Tiếng máy gào lên dữ dội. Khi ấy. tôi giúp anh vào một hố nấp. hét lên trong hoảng loạn: . . tôi hét to vào tai: .“Tôi nhận ra giọng anh! Anh là bí thư chi bộ! Đúng không?”. Những chiếc mũ trận mới tinh trên đầu. thánh Allah đã nghe thấy lời cầu nguyện. Chúng tôi phải làm gì bây giờ? Tôi có thể tìm được mặt nạ phòng độc ở đâu? Ôi. trên đó lủng lẳng bao súng cùng những khẩu súng ngắn lóng lánh. Anh chộp lấy ống tay áo blu của tôi và nói: .“Bên nào thắng? “ anh hỏi . Giữa cái địa ngục đầy tiếng đạn nổ và xác xe thiết giáp. dù gì thì xe tăng cũng tốt hơn là hơi độc! Khi màn khói nhấc lên được chút ít. Được. chúng tôi hứa chắc sẽ đem cậu đi cùng! Hãy bình tĩnh để anh em chiến đấu!” Anh dịu xuống. nhưng chiếc xe bị kẹt cứng. Một người trong số đó hỏi chung chung anh em với một thái độ uy quyền: . chiến trường đột nhiên yên lặng. Một ngọn lửa bùng lên và sau đó lặn sâu vào trong.“Hiện giờ là quân ta” tôi trả lời một cách quả quyết Anh để tôi đi và ngồi lại đó: yên lặng.“Ai chỉ huy ở đây?” Anh em liếc nhìn tôi: nên trả lời họ không? Tôi nhè nhẹ lắc đầu: không! Lúc đó Boris Polyga trả lời: . Thật sự là chúng tôi không thể nhìn thấy gì nữa. . ẩn sau màn khói. làm điếc tai mọi người. Bọn Frizt sẽ làm gì? Chỉ có tiếng gầm của động cơ báo cho mọi người biết rằng xe tăng quân Đức đang tiến lên. Vệt xích của chúng làm sụp lở các mép hào. ngay lúc nó lăn quá chiến hào của bọn tôi. Về chiều. đáy xe tựa vào gờ. Khi đêm vừa đến. xuất hiện vài sỹ quan ở chiến hào chúng tôi. chạy đi làm phận sự của mình. nhìn thẳng ra phía trước.”Bình tĩnh nào!”. Anh em bắt đầu mò ra khỏi chiến hào – dù vẫn còn nguy hiểm – và nhìn xem kết quả của trận đánh. Để làm anh dịu lại. Chiếc tăng đi tiếp và theo sau là vài chiếc khác. chúng tôi không thể nói ai là người chiến thắng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad độc từ lâu rồi (nhiều tay chỉ giữ lại cái túi để chứa băng đạn và thủ pháo). râu ria nhẳn nhụi. Họ đi bộ đến chiến hào. Một người lính bên ta xô vào chiến hào. thoang thoảng mùi nước hoa và những chiếc áo choàng mới tinh với thắt lưng rộng bản. tôi cảm thấy tai mình phần nào bớt ù và thật vui sướng khi nghe được lần nữa tiếng gầm khủng khiếp của những cỗ máy. anh ngồi xuống và nhấp một ngụm nước trong bi đông của tôi. thảy một chai cháy vào phía sau nó. Boris Polyga xuất hiện từ đâu đó. lom khom một cách nhút nhát. Tiêu diệt những chiếc tăng! Thỉnh thoảng. Họ mang theo camera. một chiếc tăng bị trượt một bên xích vào chiến hào. mình đã thật ngốc khi vứt nó! Anh em ngồi đó. chúng tôi có thể thấy những bó lúa mỳ kỳ dị kia biến thành những chiếc tăng! Một chiếc khai hoả. Nhiều anh em suýt gục khi nghe thấy mùi khủng khiếp từ những chíêc tăng cháy (cùng với tổ lái của chúng còn kẹt bên trong).“Ừ. Ngay khi tôi vừa rời đi chút xíu. Khi chúng tôi xoay sở để thoát ra được đống đất cát rơi xuống. bình tĩnh. mọi người chộp lấy thủ pháo và chai cháy. anh em không để đồng đội lại phía sau đâu. Tai anh em đau khủng khiếp. Đạn pháo rơi nhiều hơn – bang! bang ! – và khói cũng dày thêm. biến mất. Anh bị mất thị lực.“Đừng bỏ tôi lại ở đây! Hoặc bắn tôi đi!”. Chúng tôi ngã chồng lên nhau bởi sóng âm làm choáng váng.“Bí mật quân sự!” 68 . băn khoăn.

nhảy lên tàu quân sự. Cậu ấy đến với đại đội hồi tháng 7. Tôi không nhớ nơi trường đó được sơ tán đến. Và trả lời những câu hỏi về bọn Phát xít. Tôi cảm thấy không có tội lỗi gì ở đây cả. Cậu ấy giấu giếm điều gì đó. 69 . tôi khuyên Boris viết thư cho lãnh đạo trường. chỉ huy sư đoàn đã nhận được một danh sách những người xứng đáng để đề cử tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng Liên Xô”. thay cho cả ba người! Tôi muốn nói vài lời về Boris Polyga. bọn Đức thì không còn như xưa. năm sinh thật là 1927. cậu quýêt định sẽ tự trở thành một người lính. Chúng tôi hỏi chuyện hậu phương. Lực lượng tăng viện tiếp tục đến từ những vùng nội địa phía trong đất nước. Cậu thích thú ở trong môi trường đại đội chúng tôi. Trung uý Stukack. Ba mươi năm sau chiến tranh. Boris lấy một tuần phép. tên Aleksei Yanson. Tên tôi có trong danh sách đó. Thế nào mà 18 tuổi nếu bé tý thế kia? Và chúng tôi không thể dùng cậu ta như một lính cối được. Cậu ta trông như một lực sỹ cử tạ hoặc một đô vật. Thật dễ để có được sự tin tưởng của những người mới. Chúng chiếm phân nửa châu Âu chỉ với một cú đánh – trong một năm và mười tháng – mà không gặp nhiều khó khăn. chúng buộc phải bước vào các trận chiến đẫm máu nối tiếp nhau. dù ngày sinh được khai là năm 1925. Hoặc giả cậu ấy là một thợ mỏ? Là gì đi nữa thì cậu ấy cũng giống như một chàng khổng lồ trong truyện cổ tích! Và trông như cậu được giáo dục tử tế. vờ như sẽ về thăm bố mẹ. Từ nhỏ. Một cậu dân gốc Krasnoyarsk. hiệu trưởng một trường quân sự.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Cùng với tràng cười rộ của anh em. Boris cũng thú nhận với tôi rằng đã khai man thêm hai tuổi. Nhưng Boris chưa viết và tôi cũng chẳng bao giờ nhắc cậu ấy. Boris chỉ mới 16 tuổi. Boris lớn lên cùng với các học sinh sỹ quan của bố cậu. Đoàn viên Komsomol Polyga đã làm công tác giao liên và thực thi các nhiệm vụ khác một cách rất cần cù. còn Boris thì rất vui. Tôi đã hứa không kể cho bất kỳ ai về vị tướng bố cậu ấy và việc Boris đã trốn khỏi trường quân sự. đại đội trưởng đồng ý. Rồi. Dĩ nhiên. Điều này giải thích vì sao cậu ý trông khá thấp bé. nhưng ông ta đã không ký vào vì tên ông ta không được nhắc đến. Có thể dùng cậu ấy vào việc gì nhỉ? Tôi đề nghị là dùng làm giao liên. Tôi tìm những người đồng hương. Trong khi ấy. Nhưng cũng không thể để cậu ta bị gọi là một kẻ đào ngũ hoặc bỏ đơn vị không xin phép. Có chúa biết được thế nào! Chúng tôi sẽ tìm hiểu sau. cậu vào một trường quân sự ở một nơi khác. những người khách rút đi. Boris ở trong một tình trạng khó. Tôi ngờ rằng có chuyện gì đó không đúng: cậu ấy trông quá trẻ. cho dù chỉ với một cậu bé. tôi giao cho cậu ta những thứ trang bị của tôi! Cậu rất khoẻ: tôi chắc là cậu ấy có thể mang cả khẩu cối một mình. trong cuộc gặp đầu tiên của anh em cựu chiến binh tại Poltava (sư đoàn chúng tôi được mang tên thành phố này). Tôi không tin. Tôi là một kẻ rất tò mò và cũng là một người rất yêu thích các cuộc đối thoại ngay thật. Nhưng cậu bị nhận biết ngay là “con trai vị tướng” và mọi người gợi ý cho bố cậu tìm cho cậu một nơi dễ chịu như tuỳ viên các tướng hay những thứ đại loại như vậy. Anh em kể tôi nghe những điều mà họ cũng không thể tưởng tượng là sẽ nói với cả những người trong gia đình! Tại sao vậy? Bởi tôi tôn trọng chuyện riêng tư của họ và có thể giữ miệng. Trong các trận đánh sau đó. Nay thì lại là một câu chuyện khó nhằn: trong hai năm trở lại đây. vào mò ra mặt trận. để liên lạc với các đài quan sát. nhưng trước chiến tranh nó ở Leningrad. bạn tôi. Boris Polyga kể với tôi rằng bố cậu là một vị tướng. Bây giờ thì cậu ấy lo lắng là sẽ bị xem như một kẻ đào ngũ hoặc bỏ đơn vị không phép. mặt đối mặt. Và dường như trưởng thành hơn. ở Siberi. Nikolai Korsunov – sĩ quan quản trị trung đoàn – nói rằng sau cuộc chiến ở vòng cung Kursk. gia nhập vào đại đội cối chúng tôi. tôi không thể làm gì cho cậu. Tôi thường có những mối quan hệ thân tình với tất cả anh em lính mới. Và khi trưởng thành.

Địch phá huỷ mọi thứ có thể.“Việc gì vậy nhỉ?” Rồi anh quay sang tôi cáu kỉnh nói: . Chúng tôi gần sát bọn phát xít đển nỗi thỉnh thoảng mọi người có thể nghe cả những lần chúng hạ giọng nói chuyện với nhau. một phụ nữ . Nhưng tâm lý phải vững vàng khi hạ cần an toàn và đợi hai giây đó. những nhà kho chứa thuốc lá ở đó bị đốt cháy. khóc như điên và van vỉ: . Tôi lùi lại ba bước và bắt đầu đào: chị yên lặng rồi quay vào nhà. và khi bắt gặp tia nhìn. giữ quả lựu đạn đang rít xì xì trong hai giây. Nhưng đột nhiên. chúng xây dựng một tuyến phòng ngự nhiều lớp. Bọn Đức phòng thủ rất chặt chẽ. Chúng tôi giấu bọn Đức từ mùa thu trước. tôi cho rằng ngôi làng đó tên là Dragunsk. Và đột nhiên. khi thiếu lựu đạn. Bây giờ thì tôi có thể cứu các con tôi khỏi chết đói rồi” Tôi không nhớ đích xác. chúng tôi tiến hành đào chiến hào để chuẩn bị phòng ngự phản kích.chủ nơi đó . rồi hẵng ném. Những ngôi làng.“Giải quyết vụ này đi” Người phụ nữ nhìn thẳng vào mắt tôi.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Sau một loạt các trận đánh ác liệt. Trong suốt ngày chiến đấu đầu tiên ở Dragunsk. Tamarovka và Borisovka.chạy tới chạy lui.“Đừng đào ở đây! Có mìn đấy! Thật mà” Nhưng chính chị thì chạy qua chạy lại không ngừng: .“Chị giấu cái gì trong sân vậy?” . Lúc này thì những khẩu đại bác vô dụng. Nó phải được ném sau hai giây. 70 . chúng thực thi nghiêm túc mệnh lệnh “tiêu thổ”. Đôi khi tôi lo rằng nhỡ mà người công nhân lắp kíp nổ có sai sót thì tiêu tùng mặt mình! Nhưng nó luôn đáng tin cậy. Tôi luôn nhớ về những người ở hậu phương ngày đêm sản xuất ra những quả lựu đạn F1 “quả dứa” với lòng biết ơn chân thành. Để tấn công. tôi chợt thấy có ba đứa bé gầy còm phía sau ô cửa sổ. tôi đến gặp chị và hỏi: . Chúng tôi hành quân xuyên qua những đám khói dày đặc không ngớt. Những đứa bé vẫn nhìn chòng chọc nhưng có vẻ yên tâm. Nhưng ném lựu đạn cũng cần có kỹ năng đáng kể. bắn thẳng vào chúng bằng súng máy. Lựu đạn nổ sẽ tung mảnh lên đầu quân địch.“Không. Nhưng sau đó thì mọi người đã có đủ lựu đạn. Đây là một cuộc chiến của lựu đạn. nhưng chúng bắt đầu đốt phá mọi thứ trên đường. quân địch sẽ có thời gian để ném trả! Làm thế này này: đầu tiên rút chốt ra. quân Đức rút lui. không! Đừng đào ở đây” Điều này trông có chút đáng ngờ và chúng tôi không thể hiểu. Đến đêm. thế là mọi người đều hưởng khói thuốc cho dù kẻ đó có hút thuốc hay không! Khi đuổi được bọn Đức ra khỏi làng Tamarovka. chúng tôi tìm cách xâm nhập từng phần. Ngay cả đại đội trưởng cũng tò mò: . tôi hiểu ra nỗi lo âu của chị. Họ nhận thức rõ rằng dù chỉ một sai sót nhỏ trong kíp nổ có thể trả giá bằng mạng sống của người chiến sỹ. Khẩu đội chúng tôi được lệnh đào trong một cái sân nhà nào đấy. Cảm ơn anh. chúng tôi phải trục bọn Nazi ra khỏi những tuyến mê cung của chúng bằng xẻng đào hào.“Mỡ lợn. sau hạ cần an toàn (safety switch???) . những cánh đồng ngập trong lửa. nếu bạn ném ngay. chúng tôi phải sử dụng đến cái mà anh em gọi là “pháo bỏ túi”. Quân ta giải phóng được hai làng lớn. hơn là đánh thọc qua rồi lại tự thấy vướng mình vào một mạng lưới chiến hào phức tạp. Tôi biết rằng chính anh cũng đói. súng ngắn và cả pháo sáng.

tôi lập tức quay phone cho bên cối. con đã tiêu diệt một hoả điểm đại liên. Khi tôi chạy lên được chỗ cậu ta. Ban đêm. Vâng. Tiểu đoàn tôi bây giờ vấp phải một lô cốt súng máy. Đột nhiên. nhưng Boris vẫn nghiên cứu kỹ lưỡng vùng phân tuyến qua ống nhòm. 71 . vừa có vẻ như đã làm điều gì sai trái. một anh chàng dễ mến. chúng tôi nghe rằng trung đoàn trưởng Bilaonov đã đề nghị tăng huân chương Cờ đỏ cho cậu bé dũng cảm. sau đó có cho tôi xem một lá thư. cái lô cốt ngăn chặn mọi cuộc xung phong của bộ binh ta. nhưng chừng đó khoảng khắc đủ cứu mạng Boris: anh em bộ binh từ các đại đội hô vang “Hurrahah-ah” và thu hút hoả lực quân địch. chúng liên tục bắn pháo sáng. Tiểu đoàn trưởng không tán thành sáng kiến của cậu bé dũng cảm: một mình trong sứ mệnh như vậy thì thật là vô vọng và cầm chắc cái chết. sỹ quan bí thư của trung đoàn trưởng Bilaonov được lệnh xuống sở chỉ huy tiểu đoàn. Nằm ngay trên vùng phân tuyến bằng phẳng. bò ra khỏi sườn quân địch. họ xung phong lên vùng phân tuyến. Chúng tôi không nhận chúng làm tù binh… Dragunsk vẫn còn chống cự. Nhận thấy rằng cái lô cốt có thể tiếp cận được từ phía quân Đức. bí mật lủi vào phía sau bộ binh quân Đức. Không hiệu quả. Chúng tôi cũng đụng trận với lực lượng Quân đội Nước Nga tự do của tên phản bội Vlasov. Cái lô cốt chiếm vị trí rất đẹp: không có tý lồi lõm nào quanh đó. Cuối cùng thì tiểu đoàn tôi cũng dọn quang con đường phía trước. báo họ rằng Boris đang cố cho nổ lô cốt và rằng họ phải kìm chế bắn vào hướng đó. Pháo binh ta không giúp gì được bởi sợ bắn nhầm anh em. nhỏm dậy. Dù không có trách nhiệm. Dù cỏ xung quanh bị cắt trụi bởi cối quân ta. Tôi nhớ hai dòng đầu “Chào cha! Con viết cho cha từ tiền tuyến. ném từng quả lựu đạn vào lô cốt. Nhưng Boris có kế hoạch riêng. Tôi sục sạo để tìm Boris qua ống nhòm. trung uý Nikolai Korsunov. Chúng tôi thử dùng một khẩu chống tăng bắn vào đó. Cậu đã chắc rằng mình sẽ chết khi hạ cái lô cốt. Đại Đức và Đế chế của quân Đức. Cậu vui mừng nhưng mắt đẫm lệ. Nhưng nó vẫn tiếp tục bắn… Đến một ngày tôi làm nhiệm vụ ở điểm quan sát với Boris Polyga. rõ ràng là cậu biết. Cuối cùng tôi cũng nhìn thấy cậu ta trong ống nhòm. Hôm nay. Bọn lính Vlasov biết chúng tận số rồi nên chiến đấu rất liều lĩnh. Bọn Đức phản ứng lại sau vài giây. quân đoàn Cận vệ số 32 của chúng tôi liên tục tham chiến với các sư đoàn SS. Sức mạnh nào đã tạo nên người anh hùng từ người lính trẻ này? Cậu ta không có lấy một cơ hội sống sót sau khi ném quả lựu đạn đầu tiên. Boris trông vừa có vẻ tự hào.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Bắt đầu từ Prokhorovka. Rồi tôi nhận thấy Boris biến đâu mất khỏi điểm quan sát. có tin báo từ đại đội bộ binh rằng binh nhì Polyga mang theo sáu quả lựu đạn và bò lên từ hướng chiến hào quân Đức. viết cho cha cậu. Boris. Và hai bên cánh được quân Đức yểm trợ kỹ lưỡng. Sau đó. Nikolai. trình diện với tiểu đoàn trưởng và họ bắt đầu bàn cách tiêu diệt cái lô cốt. Boris-nhỏ-xíu của chúng tôi. cố liều mạng tìm cách giải quyết cái khẩu đại liên đó. nhưng không thấy đâu. Nikolai Korsunov và các sỹ quan khác bu quanh Boris nên tôi không có cơ hội nói bất cứ gì. và khi Boris. Khẩu đại liên vẫn là mối đe doạ chết người. Còn đạn cối thì không đủ mạnh để diệt cái lô cốt đó. không ai có thể bí mật bò lên để chọi lựu đạn vào. một lô cốt của bọn Hít-le…” Và tôi có thể nhớ lại một câu khác dưới đó: “Bây giờ con không còn xấu hổ nếu có ai đó gọi con là con trai vị tướng”. Cùng lúc đó. tiểu đoàn trưởng. cậu đang trườn lên lô cốt từ phía quân địch! Chỉ huy ra lệnh cho các đại đội sẵn sàng xuất kích. Đại uý cận vệ Ignat Dudko. Ngay lúc nghe tin đó. Totenkopf.

tư lệnh tập đoàn quân. với những mẫu rác rưởi và giấy các loại nằm rải quanh. những sĩ quan đại diện nhanh chóng quay về để báo cáo những gì họ thấy với Zhadov.“Nó kia kìa. Và những chiếc phi cơ. Những vị sĩ quan cao cấp đại diện của tập đoàn quân nhanh chóng xuất hiện sau đó. Lúc ấy máy bay quân ta xuất hiện. chỗ những cây dương nẻ đó …” Ngại nhìn vào mắt nhau. rồi nhìn nhau. Những con phố vắng lặng. súng ống và những thứ tạp nham khác. Một y tá mà tôi quen. tôi không thể giải thích nỗi điều này! Trong số các sĩ quan. mất một chân trong tai nạn đó. Một tân binh – một chàng trai trẻ – gào lên chói lói “Mẹ ơi! Mẹ ở đâu?”. vôi vữa và cả nỗi ê chề cay đắng rơi trên đầu tôi…Tôi tưởng như làn khói sấm sét sẽ không bao giờ ngưng. những người còn sống hiện ra. trung đoàn trưởng. người đầu tiên xuất hiện là thiếu tá Bilaonov. Đất cát. Boris Polyga bị thương nặng vào đầu bởi một mảnh đạn pháo và được đưa về hậu phương. xé ra và đưa cho mọi người để lau mặt. Nén lại nỗi sợ. Tôi gật đầu. tựa vào tôi. Con phố trông như một con hào bây giờ là một ngôi mộ tập thể. Tôi cảm thấy có lỗi vì đã có phép màu nào đó cứu mạng tôi. một đồng chí người Siberi. Những quả rocket như một trận mưa lửa và sấm sét bay qua đầu chúng tôi. tiểu đoàn bị dính Cachiusa. Quân Đức đã rút lui trong đêm. cơn cuồng nộ của núi lửa chấm dứt. Anh nhìn tôi rồi quay đi. một trong những người vừa mới đến tăng viện tối hôm qua. Chúng tôi thường bị dính đạn từ phía sau bởi pháo tầm xa và cả Cachiusa nữa. ở khu vực Stalingrad. đầy những mảnh xác người. bổ nhào xuống. Tôi không thể nhận ra ai dù nghe giọng nói rất quen.“ Sao anh không giương cờ hiệu của đơn vị cho phi công thấy ?” . Ivan Borodin. Họ xé nát trung đoàn chúng tôi rồi an toàn trở về căn cứ. Ngay lập tức. hướng thẳng vào tôi. Anh gào khóc như 72 . trên mặt đất chỉ còn lại những hố đạn bốc khói khắp nơi. Họ điên à? Bây giờ thì tôi chỉ có thể thấy những chiếc cánh và mũi máy bay. Chúng tôi tiến vào Dragunsk lúc sáng sớm. không biết vì sao mà tôi cảm thấy rằng mình phải chịu trách nhiệm cho cái thảm hoạ này. Bilaonov trông quẫn trí hết sức đến mức mà tôi sợ là anh sẽ tự bắn vào tim mất. cặp mắt dài dại nhìn không chớp. lại khai hoả vào chúng tôi bằng súng.“Mansur? Anh còn sống thật đấy chứ? Trả lời em đi!”. chúng tôi thận trọng nhìn quanh. Cô lấy một ít gạc từ túi. tôi nghe những tiếng nổ phía trên đường ngay trên đầu tôi. Khung cảnh tàn phá toàn diện hiện ra trước mắt. Trông như không còn nguy hiểm. Khi dứt. Chắc họ sẽ bắt kịp quân Đức đang rút lui và xé chúng ra từng mảnh! Những chiếc “xe tăng bay” của quân ta đảo một vòng ở phía đường chân trời như thể để chọn ra một mục tiêu tốt nhất. tiến đến. sau khi bắn hết số tên lửa họ. như thể từ thế giới khác. Chúng tôi vui vẻ hành quân vào trung tâm làng. Dường như cánh bộ binh của trung đoàn tôi phải chịu số phận bất hạnh là làm mục tiêu cho các loại vũ khí hạng nặng quân ta. Nhìn anh nhợt nhạt như xác chết. Họ khám nghiệm hiện trường trong yên lặng. Miễn cưỡng tin rằng không quân ta tấn công quân mình. Một người trong số đó sủa vào mặt anh thiếu tá của chúng tôi như thể giáo viên khiển trách học sinh: . không một ai hay vũ khí còn tồn tại. tôi ước rằng mặt đất có thể nứt ra và nuốt tôi đi. xác ngựa trộn lẫn với xe cộ. sau chừng một phút. Và đâu đó. rồi quay lại. kiếng vỡ. Bạn tôi. Tôi nhớ có một lần. tôi – trong lúc đó – nhào đại qua một cái cửa sổ của tầng hầm căn nhà gần nhất. thầm thì: .Chặng đường đỏ từ Stalingrad Vài hôm sau. Tôi xoay sở để bò ra khỏi chỗ trú ẩn với chút ít khó khăn.

sẽ tập hợp lại và làm một buổi họp mặt nho nhỏ. Ngay sau khi tôi vừa mang hòm đầu tiên lên. Cô ta trâng tráo trả lời: 73 . Lúc đó trận chiến đang tạm lắng. đã tống viên đạn thứ hai vào khi quả thứ nhất chưa được bắn ra. những người đã sống sót sau trận Stalingrad. quay lại để lấy thêm. Ivan thấy buồn cho tôi vì tôi phải tiếp tục với cuộc sống nơi chiến hào đầy gian khổ. Tôi ném thuổng qua một bên và nhảy lên khỏi chiến hào. thường thiếu 2 đến 3 người cho mỗi khẩu đội. lúc ở nhà. Nhưng cũng lúc đó. Anh em thoả thuận với nhau là khi làm xong việc đó. giờ tôi được về nhà! Sẽ ổn thôi! Rừng sẽ nuôi sống một người dù có bị mất cả hai chân” Nghe Ivan nói. họ đặt cánh quạt của chiếc máy bay bị bắn hạ lên trên mộ. khi đó tôi nghe tiếng đạn rít. Sau khi tốt nghiệp ở trường. chúng tôi ôm nhau mừng như anh em ruột thịt. hiện vắng mặt. vì quá vội. Sau đó. Zina ở Tiumen và Shura là người Novosibirsk. đồng hương! Có lẽ tôi sinh ra dưới vì sao may mắn! Mọi người. hiểm nguy với cái đói và rận rệp. Thế mà luôn cần phải duy trì chín khẩu đội chiến đấu liên tục. Khi tôi leo ra. thẻo đất sét bằng lưỡi lê. nóng lòng để đến ăn cùng anh em. các khẩu đội cối luôn bị thiếu quân số. Mansur. tôi quay lại chỗ khẩu cối và thấy nòng cối bể tan hoang. Vài mảnh vụn réo lên rơi vào phía đối diện của đoạn hào của tôi. Kozhevnikov. thường bảo tôi có phước! Đúng. tôi lại trải qua một cú sốc khác. họ qua một khoá huấn luyện y khoa ngắn và được gửi ra trận. một khẩu đại bác của quân Đức ở phía trước vị trí của chúng tôi bắn. Chúng tôi chọn địa điểm picnic dưới gốc một cái cây lớn đứng cô độc. những đồng đội của tôi – bảy người cả thảy – hoàn thành phần chiến hào của họ và bắt đầu tụ lại dưới gốc cây đợi tôi đến. xoè ra như cánh hoa cúc. tôi cảm thấy vui. còn anh ấy thì làm thay nhiệm vụ của pháo thủ số 2. Trong tiểu đoàn chúng tôi. Anh cố an ủi tôi rằng kể từ ngày hôm nay.“Đấy. Anh em. Khẩu cối bị phá huỷ hoàn toàn bởi sức nổ của cả hai quả đạn. Tôi mong nó sẽ bay qua tuyến quân ta và nổ đâu đó ở phía sau. rằng tôi đã vượt qua cái địa ngục này một cách bình yên (tôi tréo tay cầu!). Với tư cách là bí thư chi bộ đại đội. Tôi đến giúp một khẩu đội cối. Tôi nghe mọi người la lên “Mansur! Lại đây thôi! Mọi người đợi nè!”.Chặng đường đỏ từ Stalingrad một đứa trẻ hư: không hẳn vì đau. mà còn vì nỗi niềm chua xót rằng anh đã mất chân vì chính Cachiusa của chúng ta. tôi thấy ghen tị với anh. mọi người tháo bình rượu ra (chứa Vodka Narkom) và bắt đầu công việc đào hào. khẩu đội trưởng lệnh cho tôi mang lên vài hòm đạn đang ở trong kho. nhưng quả đạn rơi ngay đoạn giữa. anh sẽ cầu nguyện tất cả các thánh thần để phù hộ tôi sống sót! Ít lâu sau đó. thay thế cho pháo thủ số 2 của họ. Lúc ấy. thấy cái cây bị chẻ làm đôi. Một phát đạn lẻ loi đã giết chết bảy cựu binh của trung đoàn. trong trường hợp này thì chúng tôi thường gia cố lại công sự của mình. Galia đến từ Penza. Rất nhanh. Một trong số những “tay Stalingrad” được chọn ra để chuẩn bị cho bữa tối bằng những khẩu phần khiêm tốn của chúng tôi. tôi có trách nhiệm gặp họ để lấy thông tin đăng ký. Tôi gấp rút làm việc. gần cái cây nơi bạn tôi đang ngồi chờ. người nạp đạn. giống như cánh phi công. anh không giấu diếm một niềm vui hoang dại: . Nhưng cũng lúc đó. Ngần ngừ một lúc. chiến tranh kết thúc với tôi rồi! Tạm biệt nhé. những cựu binh của trận Stalingrad gặp lại nhau. Ở dưới đó là những thi thể bất động của đồng đội tôi. Tôi yêu cầu giải thích. thì nghe một tiếng nổ ghê sớm ngay sau lưng. Có năm cô y tá trẻ đến cùng với lực lượng bổ sung. Tôi biết đựơc tên và quê quán của họ. Tonia từ Riazan. Nhưng trên thẻ đoàn viên Komsomol của Shura lại ghi là Matriona. Chúng tôi chôn những anh em hi sinh trong chiến hào và đặt chiếc nòng cối bị hư hại lên trên. mọi người để balo với mọi thứ cần thiết ở đó.

hai tay áp chặt vào vết thương nghiêm trọng. nhưng Shura dễ dàng mang theo chiếc túi cứu thương lớn với dấu thập đỏ trên đó. trung đoàn phó phụ trách chính trị. bị trúng một viên đạn địch. Shura cột chặt túi cứu thương vào chân. Shura toàn mò mẫm bò đi! Làm thế nào để có thể nhớ nỗi một đoạn đường gấp khúc dài cả trăm mét? Ngay cả những tay lính kỳ cựu cũng không thể hiểu nổi! Chính bản thân Matriona cũng không thể giải thích được: . nhưng tôi muốn mọi người gọi tôi là Shura. Và được biết có vài người có trao đổi thư từ với Matriona. đại đội trưởng đại đội quân y sẽ đến giúp cô y tá bị thương và chuyển em về trạm phẫu tiểu đoàn.“Anh băng vết thương cho em nhé” Cơn đau rất ghê gớm. Anh hứa sẽ cho Sviatnenko. Tôi biết nơi em bị trúng đạn và rụt rè đề nghị: . Dù khá thấp. tôi cũng là người vùng Kemerovo đấy. Khi trận đánh kết thúc. dù hiểu rằng. kể tôi rằng rốt cuộc thì vết thương của cô cũng được băng bởi một người đàn ông. Ngay lập tức. Tôi hỏi thăm xem Matriona có liên lạc gì với ai trong số các cựu binh bọn tôi không. nó nằm đâu đó phía dưới dạ dày. chỉ huy của đơn vị quân y. cô hiện đang số tại Novosibirsk. tôi chạy đến và giải thích mọi việc.“Em không thể để thương binh nằm đó đến tối được” Rồi đến một ngày. Vladimir Sviatnenko. Vài bận anh em cố cản Shura làm điều đó: . hãy nói cho tôi biết vì sao nào?”. một lần nữa quân ta ép được kẻ địch lùi về phía tây. Tôi hỏi được địa chỉ và gửi thư cho cô. Cô đáp lại với kiểu như cũ: . Sau đó. đó là biệt hiệu của tôi. nhưng tôi tò mò hỏi lại lần nữa: . nhưng khi nói nhỏ hoặc thì thầm vào tai em. chọn một lối an toàn nhất dựa vào những khe. 74 . rằng cô ấy ổn và cô gửi đến tôi lời chào thân mến. Trước khi bò lên. sau một trận đánh ngắn. tôi trở lại tiến công cùng đồng đội. với sự hướng dẫn của em. đã lập gia đình. Thủng chưa. Matriona. có 03 con và 02 cháu. rảnh be bé trên mặt đất. bò đến chỗ anh lính bị thương. đồng hương?” Kể từ sau lần gặp đầu tiên đó. tôi có dịp đến Tashkent và ở đó với vài người bạn thời chiến tranh. nhưng em thẳng thừng từ chối. Vài người có mặt ở đó cười rộ lên. em có thể bò lên chỗ người lính bị thương nằm ngay trên khu phân tuyến và cứu anh ta trước mũi bọn Đức! Chúng tôi chỉ có thể giúp Shura bằng hoả lực súng máy và cối mà thôi. Và em cũng có – không như những cô y tá khác – một khả năng đặc biệt: giữa ban ngày ban mặt. Với cảm giác khuây khoả. . được biết Matriona đã được đưa ra khỏi chiến trường.“Như thế nào à? Em cũng không biết nữa! Nhưng em chưa bao giờ lạc trong rừng rậm” em nói. Đến năm 1980.“Không phải việc của anh”. Cô trả lời. mà không bị địch quan sát được. họ nối máy đến sở chỉ huy trung đoàn.Chặng đường đỏ từ Stalingrad . tôi gọi em là “Matriona” và em dường như không phiền mấy. em thường tìm hiểu kỹ địa thế. đang chạy cạnh tôi. tôi có thể băng lại vết thương và cầm máu. tôi vẫn chào cô y tá là “Shura”. không hề phải ngẩng đầu lên để xác định hướng.“Anh nên đi tìm một đứa nào trong số bọn em” Tôi nghĩ rằng Shura xấu hổ trước mặt tôi.“Đừng vậy nữa! Ngoài đó trống trải! Bọn Frizt có thể nhìn thấy và bắn chết em đó!” Nhưng em luôn bướng bỉnh từ chối: . Tôi nói chuyện với Đại uý Yegorov. nhưng không thành. nên vội chạy đi tìm những y tá khác.“Này đồng hương. tôi gọi về sở chỉ huy trung đoàn. Em ngã xuống. Rồi chợt thấy cánh thông tin đang triển khai nối dây.“Anh bị cái gì vậy? Trên giấy tờ tên tôi là Matriona.

Ngay lúc trời vừa chạng vạng tối. chính uỷ trung đoàn. Nhưng hoả lực địch mãnh liệt đến nỗi nhiều lính bộ binh không có đủ thời gian để đào được một hố cá nhân và bị giết ngay. Rất nhanh sau đó. Tốt nghiệp học viện Kỹ thuật Lâm nghiệp với bằng Ph. về điểm “con nhà Kulak”. Aleksei Yanson muốn gia nhập Đảng Cộng Sản. Họ không phải đợi lâu. bọn Đức bất ngờ mở một trận đánh với xe tăng. chiếc thứ ba. Ai mà sợ cối chứ?! Nhưng đột nhiên một chiếc tăng bốc cháy. điều mà chàng “viện sỹ” mong đợi. Rồi một hôm. chúng tôi nhận thấy mình đang ngay dưới hoả lực tầm ngắn của địch. trinh sát trung đoàn về báo cáo với tiểu đoàn trưởng Kartoshenko rằng hai kilomet phía trước không có địch. Bọn Frizt nhanh chóng nhận ra sai lầm của mình. Vào một ngày. Để làm việc đó. chuẩn bị hành động. Sau cùng chỉ có 5. bắt đầu đào hầm. tôi phải lưu ý với đại uý Cận vệ Yegorov. đột nhiên. Rất khó để diệt nhưng lô cốt như vậy. dù đựơc miễn trừ quân dịch” Là bí thư chi bộ đại đội. Vâng! Vẫn những chiếc tăng đó tấn công tiểu đoàn tôi lần nữa.6 chiếc trong số bọn chúng xoay sở trốn thoát. Aleksei Ivanovich Yanson là con của một Kulak [địa chủ]. Quân ta tạo áp lực rất nặng lên bọn Đức. Đúng trình tự. Còn những ai có thể ẩn thân được thì không thể ló ra nhìn được. còn chúng tôi có thêm được thời gian. Mà khốn khổ là cánh chống tăng vẫn còn đang ỳ ạch mò lên từ phía sau để tới các vị trí bắn mới với đống trang bị nặng nề của họ. tin rằng sẽ không gì có thể đẩy lùi được cuộc tấn công của chúng. Họ cũng báo với sở chỉ huy trung đoàn tình hình như vậy. Anh bảo tôi rằng điều đó chả có vấn đề gì cả. ngay cả 75 . Đúng ra là mảnh cối chả ăn thua gì với vỏ thép xe tăng. Chỉ có thể nhìn thấy tháp pháo nhô lên trên mặt đất. là hiệu ứng tâm lý. Rồi chiếc thứ hai. đã có vợ và hai con. Tiểu đoàn tôi bị tấn công bởi chừng hai tá xe tăng cùng với lính bộ binh tháp tùng. Aleksei giữ chức trưởng khoa tại trường Đại học kỹ thuật lâm nghiệp Krasnoyarsk. Đó chính là những chiếc tăng đựơc nguỵ trang khéo léo! Mọi người nằm rạp xuống. chúng tràn lên nhanh hơn lúc trước. nhưng không còn cách nào khác! Chúng tôi khai hoả một loạt và điều kỳ diệu đã xảy ra: tăng địch bỏ đội hình tấn công và bắt đầu rút lui! Vài quả đạn đã rơi trúng tăng Đức và sức nổ của nó đã làm bọn lính lái tăng lùng bùng. Vì phải băng qua vùng địa thế rậm rạp nên chúng tôi hành quân theo đội hình hàng dọc. từ mọi hướng. chàng “viện sỹ” của chúng tôi đã chứng tỏ rằng anh xứng đáng với biệt danh đó. Bọn tăng Nazi tiến lên ào ào. Bọn Phát xít xuống tinh thần và quay lui. Tôi phụ trách mảng giấy tờ nên thấy những dòng sau: .Chặng đường đỏ từ Stalingrad Một anh lính cối bọn tôi. Tự nguyện xin ra trận. chúng thường dùng những chiếc tăng đặt ngầm dưới đất. cảm ơn “viện sỹ” mưu trí của chúng tôi. Cái hiệu ứng của hoả lực chúng tôi. Thế là Yanson đề nghị chúng tôi nổ cối vào bọn tăng đang tiến đến. nhưng bấy giờ thì pháo ta đã xuất hiện và thiết lập xong súng ống.“Sinh năm 1906. trong khi có chừng 18 chiếc bị hạ. lúc đó. Khi ấy tôi còn trẻ và ngờ nghệch. Các đại đội súng trường và các xạ thủ súng máy kìm được bọn lính bộ. nhưng tăng địch vẫn tiến lên. nhưng chúng vẫn rút lui một cách có tổ chức và cố phục kích chúng ta với khả năng tốt nhất có thể. Thế là các đơn vị chúng tôi được lệnh tiến lên phía trước. như những con chuột chũi. tôi cho rằng nếu một ai tốt nghiệp ở một học viện thì ắt phải là một viện sỹ hàm lâm. Rồi mọi người trong đại đội cũng nhắc đến Yanson với kiểu như vậy. Aleksei Yanson được biểu quyết nhất trí trở thành đảng viên mới. và bắn vào ta bằng đại bác và đại liên trên xe.D vào năm 1932. Chúng tôi nổ cối vào chúng để dụ quân địch rằng quân Nga ở đây không có súng chống tăng.

anh hi sinh sau đó vài ngày trong trận xung phong khác) xoay sở áp sát được tuyến quân Đức và phá huỷ một chiếc tăng Tiger bằng vài chai Molotov cocktail. anh ra tín hiệu “tấn công” bằng pháo hiệu. Còn bên cạnh Yegorov. được trao tặng cho tiểu đoàn trưởng trước đó không lâu… Cuộc tấn công của chúng tôi bị đẩy lùi. quân ta vẫn dồn lên. bác nào giúp em với. Cảm giác đó mỗi lúc một mạnh hơn và không gì tôi có thể làm cho nó! Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi. Thực ra. tôi có thể thấy thượng sỹ Nosov! Họ có bùa à? Bấy giờ tôi cảm thấy xấu hổ vì đã nấp trốn. tôi nhô đầu lên để tự quan sát. Những đơn vị của chúng tôi được bổ sung người cứ mỗi 3 hoặc 4 ngày. dẫn đầu bởi thượng uý Yundendorzh (một người Mông Cổ. liên tục nhận những đại đội mới từ hậu phương lên. bạn sẽ bị mất nó ngay! Tôi choáng váng bởi ý nghĩ: “Việc gì nếu mình chỉ còn lại một mình?”. Nguyên văn: And so. dẫn đầu bởi Bilaonov. và đầu còn băng bó – là Nikolai Korsunov đang vội vã cho kịp bước chân vị chỉ huy. thiếu tinh thần để vùng lên tấn công. anh nhảy lên chiếc Willy jeep của mình và phóng vụt lên phía trước. Cả tiểu đoàn lập tức vùng dậy. những “lính cựu”. Nikolai Dolinny. Tôi cũng không có gì để nói về tình trạng này.như thể đang chú tâm vào bài thuyết minh. Chúng tôi cũng không bao giờ đổ lỗi cho ai. Những bộ binh tuyến đầu như tôi. mở con đường tiến lên phía trước bằng mọi giá. Khi trời tối hẳn thì quân địch ngừng bắn. đi lên dưới làn đạn! Bên cạnh Bilaonov – vẫn còn dùng nạng. nhưng ngay trong đêm. Nhưng nếu nó trở thành một động cơ mạnh hơn trong bạn thì bạn sẽ không bao giờ bước ra khỏi chiến hào! 76 . Lẽ tự nhiên là muốn sống. anh em tìm thấy chiếc Huân chương Sao đỏ. our officers showed the rank and the file that the desire to survive at any costs was not only path to follow). Sau khi chọn cẩn thận thời điểm. và không đủ can đảm để can thiệp. Rồi chúng tôi thấy chiếc jeep nổ tung. vô nghĩa lại giúp quân lính được những điều kỳ diệu: nhưng điều này có lẽ vô hiệu trong hoành cảnh thông thường. Sau đó. Trông kìa! Ban tham mưu trung đoàn. rồi có vài tin tức không thể tin nổi lan khắp chiến hào. một đại đội tiểu liên tìm được một kẽ hở để tiến lên và tiêu diệt một chiếc tăng khác. những sĩ quan của chúng tôi đã làm gương cho binh lính thấy rằng khát vọng đựơc sống bằng mọi giá không chỉ là đi đằng sau (câu này em dịch lủng củng quá. là một bản năng gốc. Nhưng chúng tôi không tin vào sự yên lặng đó. hoả lực quân Đức mạnh mẽ một cách khác thường. Các đơn vị chạy ngay sau vị chỉ huy đang nhanh chóng tiến sát vào tuyến địch. không thể tiếp tục nấp lâu hơn nữa. chỉ cần bạn giơ ngón tay lên. dĩ nhiên. vút ra từ sở chỉ huy. Tôi nhớ có một ngày. Và như thế. Bọn Nazi kinh hoàng và tháo chạy khỏi vị trí của chúng. Sau đó. Yegorov và Tukhru. Tự tồn tại. Có những lúc mà một hành động dường như điên rồ. Chiến tranh là chiến tranh. vài người lính tiểu đoàn. không bao giờ bực bội trước nhưng sai lầm và những thất bại không bào chữa được.Chặng đường đỏ từ Stalingrad chỉ để biết việc gì đang diễn ra. Quân Đức đã hành động rất tốt: chúng lùa quân ta vào một cái bẫy được chuẩn bị chu đáo. hét vang “Hurrah! Vì đất mẹ!” và lao lên. by personal example. quân Đức có thể đã đi khá lâu rồi để chuẩn bị một cái bẫy chuột tương tự ở đâu đó phía trước chúng tôi… Dù bị như vậy. Đôi khi tôi nghĩ rằng chúng ta không thể chiến thắng cuộc chiến dễ sợ đó nếu chúng ta sa lầy vào những nguyên tắc.

Tôi không thể giấu cảm xúc của mình. Có lần. tôi phải làm gì đây? Ai cũng phải chết. bí thư chi bộ đại đội. tiểu đoàn tôi có chừng 240 đến 280 đoàn viên Komsomol. Theo chính sách chung. theo thống kê. tôi không hi vọng sống sót trong cái lò sát sanh đó. chính uỷ trung đoàn. Tôi khóc. đa cảm. Có cách nào khác để chúng ta chiến thắng? Không còn con đường nào khác. anh cũng sẽ không trách gì chú”. không bao giờ có đủ thời gian. Tôi không bao giờ là một hooligan hay một kẻ lắm mồm. mạng sống con người mong manh theo từng phút. Yegorov sắc sảo nhìn tôi. Nhưng khi tôi tham gia vào cuộc chiến tôi muốn giết bọn Frizt “Giết hoặc bị giết”. tiến vào Ukraina. Cái triết lý đánh nhau này được chấp nhận rộng rãi mà không ai nghĩ khác cả. Chính uỷ trung đoàn. Anh thành thật nói với tôi rằng. Tuy nhiên. . Còn nếu không. lưu ý tôi về vị trí mới được bổ nhiệm. đợi câu trả lời. Đó là một con số lớn. Tôi bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng khi còn được sống. nhưng chỉ một lần thôi! Tôi cảm thấy cái mascot may mắn của tôi – nó còn đây. và với tôi. tôi phải bắt bọn Đức trả giá nhiều hơn. với sự chủ động của mình. chúng tôi nhận tăng viện.“Nếu chú nghĩ chú có thể. Anh ấy biết là có thể hiểu được tôi. Sau khi Nikolai Dolinny hi sinh. Tôi có nhiều việc phải làm trong những trận đánh ác liệt và thương vong cao. đại uý Cận vệ Nikolai Kartoshenco lên nhận chức tiểu đoàn trưởng. trung bình một bí thư đoàn thanh niên tiểu đoàn thường sống không quá 2. nói rằng giờ chúng tôi sẽ giải phóng Ukraina khỏi quân Đức xâm lược. Tôi có những nỗi đau đớn và niềm tuyệt vọng to lớn khi chứng kiến những cái chết của lính ta. Tôi được bổ nhiệm làm bí thư đoàn thanh niên tiểu đoàn còn Aleksei Yanson thì thế cho vị trí cũ của tôi. Trong trung đoàn luôn phải có một bí thư đoàn thanh niên. bởi trách nhiệm của vị trí đó yêu cầu anh ta phải là người đứng dậy đầu tiên khi nghe được lệnh tiến lên. Tôi không muốn bị xem như một thằng chết nhát. 77 . Ít nhất. thì hãy nhận vị trí này. 3 trận đánh. Những lời của chính uỷ làm tôi bối rối. và cả bị chết hoặc bị thương mà không có cố giết được dù chỉ một tên Đức (đôi khi còn chưa kịp thấy kẻ thù). Trung bình. Mỗi đoàn viên Komsomol phải được đăng ký. phần lớn lính ta thụ động. Bản chất tôi là một con người dễ bị tổn thương. Đó là thông điệp của tôi gửi cho những tân binh. những người mới được đưa đến từ hậu phương. tôi cũng biết rằng trước mình đã có những người khác sẵn lòng nhận nhiệm vụ này. “Được” Yerogov gửi tôi một cái nhìn khoan khoái.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chương 9: Nghĩa trang người say Trung đoàn vượt qua ranh giới của vùng Belgorod. hãy giết được một tên Phát xít! Có lẽ là hai nếu bạn may mắn. và đầu tiên tôi không biết phải làm gì. Vladimir Yegorov. Mansur. Đại uý Cận vệ Vladimir Yegorov. chúng tôi đã bắn hạ không dưới 200 tên phát xít ở trong các kho nông sản. Cứ mỗi 3 hoặc 4 ngày. họ cũng như mọi người khác: làm nhiều nhất những gì có thể vì trong chiến tranh. tôi phải viết ra đây với lòng ân hận. một cho chính bạn và một cho những ai không có cơ hội hạ được tên con hoang nào! Ở cương vị komsorg (bí thư đoàn) tôi truyền đi cái triết lý của mình “Giết ít nhất một tên phát xít” cho toàn bộ đoàn viên thanh niên Komsomol của tiểu đoàn.

hét lên với những ai có thể nghe và theo tôi: để dành lại một cao điểm không tên. Kobylin lạnh lùng báo thù cho những người anh và diệt được vài trăm lính Đức. và cậu. Tôi có thể nhắc đến một đoàn viên Komsomol khác. cậu nghiên cứu khu vực hoả lực của mình và đặt súng ở điểm thích hợp. chứa 250 viên. Nhỏ hơn tôi đôi tuổi. còn Shamrai thì ở quận Kremenchug vùng Poltava. Tôi muốn nói đến một xạ thủ đại liên tên Nikolai Kobylin. Xạ thủ đại liên quân ta thường bị trúng đạn khi thay đổi vị trí bắn. Khi đêm đến. bởi tôi có thể để lộ ra nỗi sợ hãi của mình và làm những đoàn viên Komsomol theo tôi thiếu tin tưởng. Ai cũng muốn gia nhập đoàn Komsomol và thường những đoàn viên mới không có cơ hội được nhận thẻ đoàn của họ. Hiện anh sống ở Rostov-on-Don. Tôi thường muốn quay nhìn lại phía sau: có ai theo mình không? Nhưng tôi không cho phép mình làm vậy.4kg. chạy thật nhanh lên. dịch từ tiếng Tartar. Kobylin ở Izhevsk. là một thợ mỏ. một gã Tartar. Tôi cũng làm nhiệm vụ phiên dịch. tôi đứng dậy vào hết sức thét vang: “Tiến lên! Vì tổ quốc! Vì Stalin!” Tôi phải gào lên. Khi di chuyển đến một điểm bắn mới. Là bí thư. Mọi người phải đi theo. Nhưng lúc tấn công thì thật là khó khăn khi vác nó chạy. lúc bọn phát xít xuất hiện trong khu của cậu. nhiều sợi: như vậy khẩu Maxim của cậu ta như thể tự hành. Kim Dobkin. Những trận chiến khốc liệt.”Lựu đạn ở đâu?”. thi sỹ của chúng tôi. và chỉ trong một tháng thực tế cả danh sách tổ chức có thể chứa toàn những cái tên mới toang. biết quá nhiều thứ tiếng. Với cậu. Nếu một bí thư đoàn hay bí thư chi bộ khởi đầu cho trận xung phong thì không ai có quyền ở lại phía sau. Và Andrei Bogdanov thì ở đảo Sakhalin. Thế là tôi chạy vụt lên phía trước. hay đánh bật bọn Đức ra khỏi một ngôi nhà dân hoặc đoạt lại một con đường. anh sinh năm 1923. không ngừng “họp hành”. Nó nặng 65kg [khẩu đại liên Maxim gồm hai phần được chia ra khi hành quân: phần thân súng nặng 24. Cách sinh hoạt đoàn Komsomol rất sâu sắc và không cần nhiều thời giờ.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Tuy nhiên có nhiều trường hợp ngoại lệ. Nikolai đặc biệt muốn trở thành một xạ thủ đại liên. [Đoạn này em dịch mà không rõ nghĩa lắm-ND]. ép lên. Bashkir và Kirghiz sang tiếng Nga. anh ta thật may mắn. nhưng tự nguyện xin ra trận. không có gì tốt hơn là đại liên. trong tình trạng như mọi người. Tất cả các đồng đội ghen tỵ với tôi. Là lính trinh sát. tình nguyện ra trận. cậu ta bỏ khẩu Maxim lại phía sau và đầu tiên. Tôi có trách nhiệm là người nhổm dậy đầu tiên. “Sao xe nhà bếp tối nay không đến?”. như thể đang đẩy một chiếc xe goòng 78 . Khi phòng thủ. Và cả hai cậu đều còn sống cả. hai người anh trai của cậu đã hi sinh trong chiến đấu.5kg]. không có sự hình thức. Kazakh. theo chân chủ nó! Nikolai Kobylin có thể bắn cả ngày lẫn đêm. ”Sao vẫn chưa nhận có thư từ gì nhỉ?”. Nhưng Nikolai phát minh ra một chiến thuật đơn giản mà thú vị. tổ chức Đoàn Komsomol của tiểu đoàn. nặng 7. Như tôi. Nikolai có thể khai hoả.8kg. Xuốt cả ngày. các cuộc tấn công của quân phát xít bị chặn đứng chỉ bởi lòng dũng cảm của hai đoàn viên Komsomol này. khi đó họ thành mục tiêu tốt cho quân địch. Sau đó kéo khẩu súng lên vị trí mới bằng một cái dây mảnh. cũng là một xạ thủ đại liên. “Chúng ta còn ít đạn pháo lắm!”. và cả tiểu đoàn chờ đợi thời điểm đó. Bí thư đoàn không bao giờ tập hợp mọi người để họp hành cũng không có phút nào để dành cho việc diễn thuyết hay nghe tranh luận. tôi liên tục phải nghe hàng tá câu hỏi và yêu cầu như: “Chúng tôi sắp hết đạn rồi!”. Maxim là một vũ khí lợi hại nhưng nặng nề. và phần đế nặng 29. Uzbek. Vượt qua nỗi sợ. Hộp đạn. Cùng tham gia chiến đấu. Nhiều lần. được miễn trừ quân dịch. “Chúng tôi không có thuốc lá”. cũng còn sống. Vasili Shamrai. Tôi vẫn nhớ những cảm xúc của tôi trong một trận đánh.

đồ hèn…”. cho thấy không còn rượu nữa. thay vì vậy. rã rời. dừng một tý để thở. du dương như tiếng nhạc trong tai. mình đớp phải miếng mồi câu rồi. Và tôi lại cố gắng đứng lên. nằm kẹt trên khu phân tuyến. hoặc thấy như cái chết đến với mình trong từng giây.“Đừng đi. suy nghĩ: . với từng trận chiến. Mansur?” . rồi cẩn thận nhìn quanh.“Làm 100 nữa chứ. bí thư” Họ rót cho tôi 100gm rượu sơ-náp và đưa một mẩu xúc xích. Tôi nhảy ra khỏi hào. tôi đang ở trong “vùng chết”.“Thôi. Rồi bất cứ khi nào tôi cảm thấy không thể tiếp tục. là một trảng cỏ rộng chừng 100m. nỗi sợ hãi trong tôi tan biến đi cùng với những phần sinh lực cuối cùng của mình. tôi ở trong một tình huống gay go. Nhưng tất cả anh em ở đó đều lớn tuổi hơn tôi. lại hỏi: . Có hai cậu bên ta đã bị giết rồi đấy. Lúc đó. dồn dập của những đồng chí chạy theo sau.“Không còn chai nào à?” Lý ra tôi nên yên lặng. nó là đồ đồng bóng. Lúc bọn Đức khai hoả. tôi có thể nghe thấy một tiếng thét hoang dại “Bí thư đoàn bị giết rồi!”. tôi ngã xuống như bị trúng đạn. Nếu mà mình không đi thì chúng nó lại bảo mình hèn” Anh em cố khuyên tôi: . Mà lúc ấy. không ai được phép nghi ngờ bí thư đoàn của họ. yên lặng nhá rượu sơ-náp với xúc xích chiến lợi phẩm. và lục lọi lung tung trong dãy ba-lô của họ. thì tiếng hét “Hurrah-ah-ah” lại cuốn tôi theo. Chúng tôi uống và nói chuyện chút đỉnh. Danh tiếng của mỗi người phải được gầy dựng từng ngày. Tôi chộp lấy hai chai từ một cái hộp tìm thấy ở đó. và đều có hai. cảm giác y như được nhận huy chương. tôi nghe được những tiếng thở nặng nề. đồng chí bí thư” Nhưng tôi đọc được trong mắt họ: . Rồi có một lần. Khi ấy. nó chỉ là một dạng đồ cá cược… Giữa tôi và chiếc xe bọc thép.“Các anh lấy thứ đó ở đâu vậy?” Một trong các anh em đó chỉ: . .“Ồ. ba huy chương trên ngực. rồi ngay sau đó. . Nên đây không phải là chuyện vài chai rượu sơ-náp. thật không gì tệ hại bằng nếu nghe anh em nói về mình kiểu như: “Thằng cha bí thư.“Sao không?” Nhưng anh em ngưng uống. trong khi tôi chỉ mới có một cái “Vì lòng dũng cảm”.“Chú hiểu là chú phải làm mà!” Những anh chàng này là những tay lính dũng cảm hàng đầu. Khi nghe như thế. Mình phải trả lễ bằng một chầu rượu. chạy lắt léo thiệt nhanh như một con thỏ.Chặng đường đỏ từ Stalingrad quá tải của thợ mỏ lên đồi. hết tốc lực phóng đến chiếc APC. Tôi đang đi ngang qua một nhóm chiến sỹ ngồi trong hào.“Ở kia kìa. Sau trận đánh. Mansur! Ngồi với chúng tôi này. Lẽ ra tôi nên từ chối và nói đại loại như: “Tôi không thích cái rượu Đức quỉ quái này!”. tôi thường nghe anh em nói về mình: “Anh ấy sinh ra dưới vì sao may mắn”. nhưng bọn Frizt đang canh chừng. Rồi ai đó hỏi: . tiến lên phía trước trong cuộc tấn công.” Tôi ngồi đấy. Tôi phải tìm một lối khác để chạy nhanh về 79 . Còn nhiều ở đó.

khi quân ta giải phóng được một ngôi làng tên là Chervonny Prapor. Câu chuyện hoá là ra những đồng đội đó cũng nghĩ là tôi chết rồi. Điều này có nghĩa là chúng muốn đợi để hạ tôi ở cùng vị trí đó. Súng máy rộ lên. kết quả là phải ngưng thói hay uống rượu. bằng ba bước nhảy. ở đó có một nhà máy chưng cất rượu. đừng có pháo bắn chuẩn bị! Chúng tôi không muốn có những tổn thất không cần thiết”. Nhưng họ cũng tán dương cái thủ đoạn trở về của tôi. làm như mình vừa bị bắn chết vậy. Nhưng không biết chúng dự đoán tôi chạy về lối nào nhỉ? Và hai anh em bị hi sinh kia đang nằm ở đâu? À. Tôi hoàn toàn thích thú với kết quả đó. nhưng làm ơn. tôi chạy xuống các chiến hào để tìm những chiến hữu đó. cánh trinh sát bộ binh và kỵ binh cẩn thận rà soát quanh làng nhưng không tìm thấy gì. Đó là một hình ảnh thú vị! Một dàn kèn đồng chơi nhạc đám ma. Bọn Đức đang chờ tôi. ở đó có một “nghĩa địa người say”. Rồi cả tiểu đoàn nhanh chóng biết rằng “Bí thư đoàn của chúng ta không phải là thằng hèn”. “Ồ. Những nấm mồ với những cây thập giá. Nó đang bò đi làm việc của nó. an toàn và lành lặn. là một con sâu nhỏ nằm trên giày của xác một trong hai người lính kia. tiểu đoàn tôi biết rằng cái nhà máy ấy vẫn hoạt động tốt. Tôi nằm đó. nhưng quá muộn rồi. cười tủm tỉm và đùa: “Chúng ta sẽ làm mọi thứ để chiếm cái nhà máy rượu đó. Lo rằng có những cái “bẫy chuột” của bọn Đức. Khi còn bé. không động đậy dù mi mắt mở he hé. những bài thuyết châm biếm được đọc lên. Nhưng mấy anh em kia ở đâu nhỉ? Đi cả rồi à! Chỉ còn xúc xích để lại. Thông qua “điện tín lính tẩy” vô hình. Tổng quát mà nói thì tôi không chỉ bàng quan với rượu sơ-náp và còn với tất cả các loại rượu cồn. sống lại à! Cậu bảnh thật đấy! Cậu nên làm diễn viên thôi! Cậu ngã khéo tới mức mà chúng tớ cứ tưởng cậu tiêu rồi!” Ngày hôm sau. Chiếc hộp được hạ xuống huyệt. có lỗi trong cái chết vô nghĩa của người bí thư đoàn trẻ tuổi và họ không còn tâm trí nào để tiếp tục chè chén! Giũ sạch bụi bặm và chộp lấy cái túi. rồi nấm mồ được lấp đất. nhưng không thấy. 80 . những vỏ chai rỗng và những cái chốt cùng tấm ván ghi tên của người say. Ồ. mọi người sẽ để ý vào tay “xác chết” nghiện rượu. anh em cười nhạo về việc tôi đã chạy lắt léo và nhảy nhổm như một con thỏ để đến chỗ chiếc xe (mọi người có thể cười người sống sót). là bí thư đoàn của chúng ta đây mà! Ôi. gần chiến hào. Gần kề mũi tôi. sao. người. Trở lại với thời thơ ấu. Sau đó. cùng với một đám đông mang một chiếc hòm đến nấm mồ. Suy nghĩ nào Mansur! “Được. có thể kết thúc cuộc sống của mình ngay bây giờ. Và nó cũng cứu tôi khỏi sự cộng đồng truỵ lạc. đáp lễ lại với họ. Người già và trẻ con đến đây để thưởng thức sô tuyên truyền cho việc chôn cất một thợ mỏ say xỉn. và rằng người đàn ông nó đang nhìn kia. đến lúc rồi” tôi xông thẳng tới hướng của hai chiến sỹ đang nằm kia: họ chính là tuyến đến của tôi. Nhưng “show” trình diễn liên quan đến rượu sâu sắc và đáng tin cậy nhất mà tôi được chứng kiến là ở mặt trận. tôi thường lên bãi khu mỏ. điều này nghĩa là ở đó có cả một biển rượu! Thậm chí trước trận đánh lính tráng nháy mắt với nhau. mà không biết rằng đang có chiến tranh.Chặng đường đỏ từ Stalingrad tuyến quân mình. Tôi đến được điểm quyết định – đạn bắn găm vào mặt đất trước mặt – lao mình xuống cạnh hai thi thể đó. không biết là tôi đã làm cho tên Frizt tin tôi là một cái xác chưa nhỉ? Tay hắn còn trên cò súng không? Nó đã quay đi chưa? Rồi tôi búng dậy như một chiếc lò xo bằng thép. vọt sâu vào trong chiến hào của quân ta. Anh em đây rồi. Họ cảm thấy buồn. Nấm mộ (giả) của anh ta sẽ được huỷ ngay khi anh ta trở lại cuộc sống bình thường! Lối tuyên truyền này ảnh hưởng đến tôi rất nặng. kia rồi.

anh em lính tráng đã bí mật quay lại. xuất hiện ở phía chân trời. Tôi cho rằng cái lỗ đen của ru lô súng có kích cỡ của một khẩu 45mm! Nó hướng thẳng vào sống mũi tôi. Chúng tôi tản ra. nên đã sắp xếp một kế hoạch tấn công hợp lý! Lúc màn đêm vừa buông xuống. hoàn toàn biết được bản tính và niềm đam mê rượu chè không biết mệt mỏi của quân ta. theo đúng nghĩa đen! Chúng tôi lại nhận được lệnh từ sở chỉ huy trung đoàn: “Tiểu đoàn nên tấn công lực lượng Hítle không đông!” Nhưng chỉ có một phần tư số bộ binh của chúng tôi có thể đứng dậy để xung phong! Và rất nhanh. Trung đoàn trưởng nhìn thấy những tay bộ binh đứng gần đó hạ cơ bẩm khẩu tiểu liên. bọn Đức nã đạn vào đội tiền vệ bằng cối sáu nòng. cách xa nhà máy rượu nhất. quát tiểu đoàn trưởng: . trước bình minh không lâu. vài chiếc tăng và xe bọc thép chở lính. Nên chúng tôi quyết định dừng lại. Đêm xuống. và trong bóng tối trút đầy vào bình. Sau đó. bộ phận gần nhất cách nó khoản 2km. Thật là nguy hiểm khi đi lung tung ở Chervonny Prapor bởi có mìn cài chung quanh. Đó là thời khắc mà chúng tôi nên cố gắng tiến lên. chạy tới nhà máy rượu. chúng tôi đi qua nó mà không có tai nạn nào. Chúng tôi tiếp tục di chuyển. Một số tử thật. Khi rời làng được chừng 2km. bí thư đoàn thanh niên: họ phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu có bất kỳ người lính nào bị phát hiện say xỉn. Tuy vậy. các chỉ huy tiểu đoàn tôi nhận được lệnh với lộ trình hành quân chính xác qua làng: xuống một trong những con đường chính. chờ đợi và hi vọng rằng qua ngày mai anh em sẽ giã rượu. nhưng có tin nghiêm trọng đưa đến từ các đại đội: lính đang say chí tử. sự cực nhọc và những đêm dài không ngủ! Tôi đã chiến đấu liên tục từ tháng 10 năm 1942! Tôi hướng mắt vào bàn tay được cắt móng của thiếu tá và nhìn ngón trỏ rung rung trên cò súng! Không biết cánh thư ký sẽ viết gì trên thư báo tử của tôi? Mẹ tôi chắc sẽ đọc được rằng: “Con bà đã bị bắn chết như một tên tội phạm”. .“Tiểu đoàn trưởng như vậy xứng đáng bị bắn cùng với bí thư đảng bộ và bí thư đoàn thanh niên” Anh rút súng khỏi bao và chỉ thẳng vào tôi. Trong khoảng khắc. Chậm rãi di chuyển. rồi bị lửa nuốt chửng như 81 . Vậy đó! Kết thúc rồi! Như thế! Dù sao thì tôi cũng chán ngấy cái cuộc chiến này rồi! Với rận rệp! Với cuộc sống nơi chiến hào cùng cái đói. được trang bị súng phun lửa. Có thể thấy anh em. cũng như các bí thư chi bộ. Vài tay súng tiểu liên của chúng tôi vẫn ngà ngà đang loạng choạng đến từ phía sau. chiếc Willy jeep của ban tham mưu cùng trung đoàn trưởng xuất hiện ngay cạnh tuyến chúng tôi. cả tuyến quân ta chìm trong lửa. toàn thân như một bó đuốc. va vào nhau. nên quyết định ngưng “biểu diễn” và bỏ đi theo đúng hướng mà anh tới. cuộc bắn phá chấm dứt. Vì thế. Quân Đức. Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi Kartoshento mất phương hướng hành động. đại đội và trung đội trưởng. chúng tôi cảnh báo rằng rượu có thể đã bị tẩm độc. Nhưng phát súng đó không bao giờ nổ. Đột nhiên. vào cà mèn bất cứ thứ gì có mùi tựa tựa rượu. chúng cưỡi lên lính ta đang say chí tử và lạnh lùng phun lửa.“Này! Chuyện gì vậy? Tiểu đoàn ở đâu? Cả đám say đứ đừ hoặc chết mẹ nó cả rồi! Trả lời tôi đi!” Tôi đứng cùng bí thư đảng bộ cạnh tiểu đoàn trưởng. Rõ ràng là trong cả đêm. Vị thiếu tá tức điên. Chúng tiến ập đến theo hai hàng so le. dưới sự điều khiển nghiêm khắc của các sỹ quan hành quân. theo sau các nhóm tuần tra tiền vệ và hai bên sườn. cúi thấp người và bắt đầu đào hào. Nhà máy rượu nhanh chóng bị bỏ lại phía sau.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Ban tham mưu và bộ phận chính trị đã cho những chỉ thị rõ ràng xuống tiểu đoàn.

anh dũng đã chết đau đớn trong ngọn lửa của súng phóng hoả. Chỉ có vấn đề là không biết có ai đã được thưởng huân chương và kỳ nghỉ nào chưa. Chúng tôi mong có lực lượng tăng viện mới. chán ngấy với màn bắn của tôi. Một tuần nữa trôi qua. Tôi thú thật rằng lúc đó. khi nhìn thấy chiếc phi cơ lỗ chỗ đạn xuyên giáp PTR. Tuy nhiên. Nhưng làm cách nào để tôi chứng minh được chiếc máy bay này bị hạ bởi tôi? Vài đồng đội chúc mừng tôi: . cảm ơn khẩu PTR của cậu nhé! Giá mà cậu bắn nó ở chỗ khác nhỉ!”.Chặng đường đỏ từ Stalingrad những con thiêu thân. rút về mà không bị tý tổn hại nào. Bây giờ cũng những tay ấy trông sửng sốt. chúng bị bắn hạ. Tại đó tôi thấy “thằng gù” của tôi dính lỗ chỗ vết đạn PTR và cháy rụi. tôi lại giận dữ tiếp tục. Anh em gọi nó là “thằng gù” [Henschel HS126 là một chiếc máy bay cứng cáp có hai chỗ ngồi. lửa cháy cả đêm mãi đến khi những gì cháy được đã cháy hết. nhưng giá chỉ được rời khỏi đây chừng 10. chúng nhanh chóng biến mất phía sau đường chân trời. dường như.“Có thể người khác cũng đã bắn nó chứ?”. tôi tin vậy. tôi chán ngấy việc đánh nhau rồi. không có chút nghi ngờ nào rằng kế hoạch của chúng sẽ thực hiện được. Cỗ máy này một động cơ. trong khi ở tuyến quân ta. tốc độ bay chậm. tôi bắn vào nó bằng khẩu PTR. và sau đó là ở cấp sư đoàn. vốn rút chạy khỏi Chervonny Prapor. Tuy thế. pháo binh địch được dẫn bắn bởi một chiếc phi cơ đặc biệt. Ngoài ra có một điều lệnh rằng. đứng vững được trên hai chân. chỉ vòng lại. Cánh lính cối lúc trước đã chỉ trích tôi vì việc bắn dường như vu vơ đó quá chừng! . Lũ con hoang đó bắn như thể chúng có thể nhìn thấy bọn tôi. cậu là người hạ nó!”. Đầu tôi muốn banh ra bởi tiếng nổ! Nhưng cứ sau mỗi lần bắn trượt. bởi các đơn vị thiếu người trầm trọng: mỗi đại đội chỉ còn 15 đến 20 tay súng. Tôi không thích nhớ lại tình tiết này. hạ một chiếc máy bay sẽ được thưởng cùng một thời gian đi phép. Khẩu PTR giật rất mạnh. Chúng tôi phát hiện ra rằng.ND] bởi nó thật sự có một cái bướu. ngưng phun lửa.vai đau tưởng chết được! Mỗi lần bắn bạn bị ném ra sau cả nửa mét. nó trở thành một phương thức truyền thống để đánh máy bay Đức. thì người đó có thể ẩn núp hoặc chạy trốn. chiếc máy bay đột nhiên lao bổ xuống và biến mất mà không có biểu hiện tổn hại nào. những xạ thủ chống tăng của chúng tôi đựơc hướng dẫn bắn máy bay bằng PTR. 20 ngày để có vài giấc ngủ ra trò. Mọi người. Điều nhục nhã nhất là bọn phát xít. Vài lần. kể cả tôi. cũng khó khăn lắm mới thoát được cái địa ngục này! Thiết giáp quân Đức. lượn lờ trên các vị trí quân ta để xác định điểm đạn pháo rơi… Trong đại đội cối chúng tôi có một khẩu súng trường chống tăng PTR.“Bọn mình điếc cả rồi. Nhiều người lính tuyệt vời. .“Mansur. Tôi. Cả thể xác lẫn tinh thần đòi hỏi đựơc nghỉ ngơi. tự mình. đánh bật bọn phát xít ra khỏi chiến hào và tiến xa về phía sau của chúng. không thể rời khỏi cuộc chiến. Nếu một ai tỉnh rượu. điều quan 82 . Tôi rất muốn bắn hạ chiếc phi cơ này để cho các chỉ huy quân ta biết về nó. Nhưng những người khác nghi ngờ thành tích của tôi. Tôi hẳn đã bắn trúng nó hàng trăm lần! Tôi rất vui khi biết mình đã thực sự tiêu diệt nó. sử dụng tuyến hành lang khi nãy. Đầu tiên là trung đoàn. Ngay cả những người tỉnh rượu. Khi thấy “thằng gù” xuất hiện trên đầu chúng tôi. Quân Đức thì không ngừng giã đạn vào chúng tôi. được uống sữa tươi và đi câu cá… Tôi tiếp tục xả súng vào “thằng gù” đến khi tai điếc đặc và làm cả đại đội tức điên. Thỉnh thoảng. dù rằng đó là một việc tương đối khó. được thiết kế cho trinh sát đường không . sau cùng chúng tôi cũng được bổ sung lính.

đồng đội lại chúc mừng tôi. Tuy vậy. trung đội. Các bí thư chi đoàn đại đội rơi rụng thường xuyên và cần được thay thế nhanh chóng. bí thư đảng bộ tiểu đoàn. đang nhìn theo hướng tôi đi. trong khi anh. Chúng tôi ngủ rất ít và đồ ăn cũng rất ít. rít lên như rắn.G Abdulin đã đựơc đề nghị tặng thưởng Huân chương Sao đỏ. Khi ngưng tiếng súng. và Peter lo rằng con anh đã hi sinh. Trong trường hợp chỉ huy đại đội tôi bị thương vong. Các đề tài đại loại như Chúa có tồn tại không. hỏi bí thư đảng bộ rằng: 83 . được nuôi chiều. Peter và tôi nấn ná ở một đại đội bộ binh nào đó. Hằng đêm. Chúng tôi bò qua khu phân tuyến. Con trai cả của anh. là nguồn gốc của con người. vốn nằm ở khu phân tuyến phía trước tuyến quân ta. Bởi cả sĩ quan phụ tá lẫn ban tham mưu của anh cũng phải xuống dưới ở cùng mọi người. trong khi những quả pháo sáng của quân phát xít rơi kề bên. cũng đang ở mặt trận. sau đó tất cả chúng tôi đều có được một “kỳ nghỉ phép”. Tôi có thêm một lý do để phải đi cùng trung uý Peter Vasiliev.Chính uỷ trung đoàn.“Với các bạn. ắt ít học. tôi nghĩ bác tên là Afanasi Kudriatsev. gục gặt đầu. thì tôi phải chịu trách nhiệm thay thế cho đến khi một sỹ quan khác đến. chúng tôi ăn mọi thứ có thể tìm thấy được. Vladimir Yegorov thường bảo chúng tôi: . Tôi không nhận được gì cho việc hạ “thằng gù” vì khó để chứng minh rằng tôi là người đã vít cổ nó xuống. như với những tay bộ binh này. Một trong những bác lính già. có một thông báo từ sở chỉ huy trung đoàn rằng bí thư đoàn M. duy chỉ có chiến tranh không phải là đề tài ưa chuộng. Nhưng đừng quên đề nghị thứ đó cho binh sỹ đã có hành động anh hùng!” Chính bản thân của Vladimir cũng không có mấy huân/huy chương. ánh hoả châu như tia hàn quang chạy ngoằn nghèo trên mặt đất. tôi luôn nhớ về cái lần tôi ngủ gục ở Stalingrad và như thế nào mà tôi cùng Suvorov dù không di chuyển tí ti cũng bị rơi vào hậu tuyến quân địch… Rồi đến một lần. Kartoshenko luôn ở một mình ở sở chỉ huy. tôi làm việc với 4 người khác). Rồi chúng tôi lên sở chỉ huy.“Tại sao cậu chỉ mới có một cái huy chương Vì lòng dũng cảm nhỉ? Không thể được” Tôi cảm thấy xấu hổ và bỏ đi. thực hiện theo mệnh lệnh nghiêm khắc của tiểu đoàn trưởng về việc nắm rõ tình hình thực tế. vốn có vài năm học hành. Gần đây. là anh ấy bị cận thị. khi chiến đấu tại vòng cung Kursk. lúc mặt trận tạm yên. tôi cũng nhận được huân chương đó. báo cáo riêng với tiểu đoàn trưởng Nikolai Kartoshenko mỗi ngày một lần để thảo luận về các nỗ lực hiện tại. Cùng với bí thư đảng bộ tiểu đoàn (khi là bí thư đoàn. Chỉ một chuyển động sai là cả một băng đạn súng máy sẽ đục lỗ trên người bạn. tiếp tục nói về tôi với những người đồng hành. sau chiến tranh. anh em binh sỹ thường thích tán chuyện về những vấn đề khác nhau. xuống các vị trí tiền tiêu. Ít lâu sau. vào năm 1948. công việc của tôi là cùng bí thư đảng bộ tiểu đoàn. trong một lần anh ấy gặp tôi. mang ngày Chiến thắng đến gần hơn. Còn những cậu lính trẻ. chúng tôi cố ở cả ngày lẫn đêm với các đại đội. những bí thư đảng. đoàn của tiểu đoàn. Nhưng đã bao lần tôi được nghe như vậy rồi nhỉ?! Cuối cùng. Những bác lính già nghe chừng thích thú. có xu hướng cười nhạo những người đồng đội có tuổi. Hay. phần thưởng quan trọng nhất chính là sự kiện các bạn đã giữ vững vị trí! Hãy khiêm tốn và đừng nghĩ về huy chương cho các bạn. Một lần nữa. anh đã bình luận với giọng ngạc nhiên : . Khi bò lên để kiểm tra các điểm tiền tiêu.Chặng đường đỏ từ Stalingrad trọng nhất là nỗ lực chung của chúng tôi để diệt máy bay phát xít. anh không nhận được thư từ gì của cậu ấy. trạc tuổi tôi.

chỉ cần cho tôi quyển sách đó!” Lúc đó. loài người cũng ăn lông. Mọi người cũng chờ để xem Peter xoay sở với câu hỏi láu cá ấy như thế nào. Vì chúng tôi đã nghe thấy một mệnh lệnh vang lên: “Đại đội chú ý! Hành động! Có xe tăng!” Trong một giây. lẽ nào tôi có trong mình máu của loài khỉ?” Vài người quanh chúng tôi bật cười . những viện sỹ của chúng ta nằm trong số những loài khỉ! Và các cậu tin vậy! Này. tìm cách làm ra công cụ đá.“Có gì vui nào? Tôi cũng như các cậu! Tôi tiếc rằng những cậu trẻ thông minh. tôi biết. tôi sẽ lên Moscow nay để gây với những viện sỹ đó! Tôi sẽ chỉ cho họ thấy! Tôi không ngại đâu! Hãy để họ tự cho rằng chính họ thoát thai từ loại khỉ. Và mọi người cũng hiểu rằng đồng chí bí thư sẽ không trả lời ngay để kết thúc cuộc nói chuyện. các cậu lính trẻ trở nên kích động. Lúc đó. Sau đó họ học được cách nấu chín.Chặng đường đỏ từ Stalingrad . Nhưng tôi có thể thấy anh đang tập trung suy nghĩ những gì cần nói với bác Afanasi. Dường như quân Đức triển khai một đợt tấn công trên toàn tuyến sư đoàn tôi. tạo cơ hội cho anh bày tỏ tâm tư của mình.“Tôi đã bảo gì nào?” bác la lên và tôi nghĩ bác sẽ ôm chầm lấy Peter. nhìn Peter. sáng dạ này lại cùng với những khoa học gia. tiếp tục giòng suy nghĩ của mình: . bên quân bưu không có chút tin tức gì về cậu cả của Vasiliyev.“Loài vượn đã tồn tại hàng triệu năm rồi. như đồng chí đã giải thích! Tôi không cần huy chương gì cả. đã có những dấu hiệu hỗn loạn và hai trung đoàn bên cạnh bắt đầu rút lui. Trong hằng triệu năm đó. mà sẽ để mọi người nói thêm.“ Thế tại sao họ dạy chúng tôi rằng “bắt nguồn từ loài vượn” ở trường” Nhưng không còn thời gian cho cuộc thảo luận. “thưa đồng chí bí thư. Những chiếc xe tăng nhanh chóng xuất hiện. vẫn còn rất nhiều loại khỉ vượn sống từng đàn?” Bác lính ranh mãnh liếc nhìn anh bí thư. 84 . Trong khi loài vựơn vẫn là chúng như cả triệu năm trước đây” Afansi trông hứng chí: . nhưng đừng xét đoán điều đó với người dân thường!” Afanasi liếc về phía đồng chí bí thư để anh có cơ hội lên tiếng. nhưng không theo cái cách đã dạy trong nhà trường: . Chúng bắt rận và ăn luôn! Ồ. lại một lần nữa. yêu cầu được trả lời: . cuốn một điếu thuốc và xúc động chờ câu trả lời. Rồi ngạc nhiên đến với những người lính trẻ khi Vasiliyev trả lời. những nhà khoa học của chúng ta cũng có nguồn gốc từ loài khỉ? Loài vật đó thật là trơ tráo và láo xược. Còn con người cũng đã có hàng triệu năm rồi – các nhà khoa học đã nhất trí như vậy. Rồi năm mươi hoặc một trăm năm nữa con người sẽ bay lên mặt trăng cùng những hành tinh khác.“ Cớ sao tất cả lũ khỉ lại không biến cả thành người? Hở? Nếu con người bắt nguồn từ loài khỉ thì hẳn sẽ không còn cái loài quỉ quái trơ tráo ấy tồn tại! Nhưng sao ở các nước xứ nóng. Và chúng sẽ như vậy trong hàng triệu năm tới. cũng giống như loài đang sống hiện nay. đợi một câu trả lời thuyết phục. chiếm lĩnh vị trí trong chiến hào và chuẩn bị thủ pháo. Anh trông phờ phạc. chúng ta mới ngu làm sao! Cái nỗi thổ thẹn này tự chúng ta chất lên mình! Úi chà! Tôi không đồng ý! Nếu bây giờ không có chiến tranh. viện dẫn Darwin và những sách giáo khoa của họ. Afanasi. chúng tôi tản ra. ở lỗ. hãy tìm giúp tôi cái quyển sách thông thái đã viết lên điều đó.“Chẳng nhẽ những viện sỹ.

chí khí của anh ấy vẫn đọng mãi trong tôi. anh đã hi sinh ba ngày trước. qua hàng chục năm rồi. còn vội vã ném lựu đạn nhưng không rút chốt. sĩ quan cần vụ. Dù tôi cảm thấy được an ủi vì rằng tôi không còn phải chịu trách nhiệm cho tình hình. và mở khoá nòng để xem nó được nạp đạn chưa. hãy nhận nhiệm vụ! Làm điều gì đi!”. Nó dừng lại. xuất hiện. thì sẽ khó ngăn chính bạn cũng theo họ. “Vậy đó. hãy giữ vững!” Đúng lúc đó. như một mục tiêu di động trong trường bắn. Những trung đoàn bạn tiếp tục lui lại phía sau. Đúng lúc đó. cẩn thận nếu nó chạy về phía bạn! Bilaonov không thể tìm một vị trí bắn tốt cho anh hơn là bên cạnh một cây sồi cổ thụ. làm tăng nguy cơ hai bên sườn chúng tôi. Mãi đến nay. chúng ta sẽ bị giết cả hoặc bị bắt!” Bilaonov là một người dũng cảm không tin nổi. đại đội trưởng đại đội thứ nhất sẽ chịu trách nhiệm chỉ huy tiểu đoàn trong trường hợp này.“Anh em. Ai cũng có thể tin là sức ép ghê gớm thể nào. đại đội trưởng đại đội hai gào lên. Không ai. Anh đặt khẩu PTR lên một tay và ngắm vào hông chiếc tăng. rồi chúng tôi rời nhau. Đúng vào thời khắc nguy kịch đó. Ở một vị trí. Lúc này.“Này đồng chí bí thư đoàn. Anh ấy bị thương” Còn tiểu đoàn phó. Tôi nhớ tôi đã nghĩ: “Lại một bí thư nữa hi sinh! Chào nhé Peter!”. Trong những trường hợp đó. Tôi thấy anh nhặt một khẩu súng trường chống tăng mà tay lính nào đó ném đi. . Những chiếc tăng giờ đã đến rất gần. Hãy để ai đó bắt đầu. nhưng tôi không hề vui vẻ khi gặp thiếu tá. vì nếu không bạn sẽ có nguy cơ bị bao vây. có thể làm anh lùi bước! Người đàn ông này sẽ hiến dâng thân mình và chúng tôi sẽ cùng với anh. không lùi” Giọng Bilaonov như sấm rền vọng khắp các chiến hào. Hai khẩu 45mm của chúng tôi khai hoả nhưng trượt cả. Nhưng giác quan thứ sáu bảo tôi rằng hãy còn quá sớm để rút lui. rồi mình sẽ liệu…” Peter và tôi quyết định một người sẽ lo cánh trái còn người kia ở cánh phải. chúng tôi bắt đầu một trận cận chiến. một bí thư chi đoàn đại đội chạy đến bên tôi và đưa tôi chiếc túi trận và thẻ đảng của trung uý Peter Vasiliyev. và cùng với anh là trung uý Cận vệ Nikolai Korsunov. Khoảng cách không quá 50 thước. nếu không thì tăng địch sẽ nghiến nát họ. hết rồi” tôi nghĩ “Bây giờ với cái “không lùi!” của anh ấy. Lúc ấy. tôi thấy Peter Vasiliyev còn sống. chúng tôi thấy một chiếc tăng lăn bánh trước mặt. đánh tăng Đức bằng thủ pháo và dùng súng chia cắt bộ binh địch với xe tăng. Quân ta ném thủ pháo. anh em sẽ nghĩ như sau: “Mình không thể là người đầu tiên rút lui. Nhưng lúc này không có thời gian để tìm đồng chí đó! . nhưng chẳng đựơc gì.“Thế tiểu đoàn trưởng đâu?” . dưới bất kỳ hoàn cảnh nào. Tôi nhào về phía đó và bắt họ trở lại chiến hào. Có hai cậu lính. Tình hình xấu đi từng phút. khai hoả khẩu pháo và bắn vài loạt đại liên. Theo điều lệ quân đội. Rồi tôi hỏi: .“Họ mang anh ấy về phía sau rồi. hình dáng to lớn của thiếu tá Cận vệ Bilaonov. Tôi không muốn bị vây vô ích! Tôi cũng biết rằng quân ta đang cạn dần đạn dược. Ai chạy trước sẽ phải ra toà án binh. Rồi cả hai khẩu pháo đó bị loại khỏi vòng chiến bởi hoả lực xe tăng. tôi không biết rằng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Nếu đồng đội của bạn bên cánh trái và cánh phải lùi lại. Tôi hét lên ở mọi hướng: “Anh em. 85 . Vâng! Anh đặt một băng đạn vào ổ. rêu phủ đầy. như bước ra từ không khí. đó là lần sau cùng. lính bộ binh ta bắt đầu dao động.

Có điều là lạ. nhưng anh từ chối. Sư đoàn lấy lại được các vị trí trước đó. Trung đoàn trưởng tiếp tục ngắm. Bọn phát xít cố thoát thật nhanh ra khỏi chiếc tăng cháy. mà là ai đó với khẩu PTR thì tôi đã phóng nhanh khỏi chỗ ấy! Nhưng ảnh hưởng của anh thật ghê gớm. Quân Đức lui lại! Các trung đoàn bạn cũng xoay sở đánh lùi cuộc tấn công. trên đường lộ. nhưng những tràn đạn của quân ta đã hạ gục chúng như những con búp bê bằng giẻ. Ngay lập tức. về báo cáo sở chỉ huy: “Stanitsin Kazachiok trống trải. Không còn một bóng người quanh đó. Cả tháp pháo với khẩu cà nông và khẩu đại liên bắt đầu xoay về hướng chúng tôi. Sau cuộc họp. Khẩu PTR hay chiếc tăng? Nhưng nếu tôi đang hỏi câu hỏi này thì rõ là tôi còn sống! Cả trung đoàn trưởng và Nikolai cũng vậy! Chắc Bilaonov đã nhanh hơn? Thiếu tá bắn một phát nữa và tôi nhận ra tay phải anh đã bị thương. trong tầm nhìn”. và tôi bên cạnh. trắc vệ tiếp tục quan sát phía trước đội hình. và chúng tôi băng bó cho anh ngay tại chỗ. chúng tôi tận mắt thấy hai kỵ sỹ ngã khỏi lưng những chú ngựa hoảng sợ của họ. không có dấu hiệu có người”. Thiếu tá cận vệ Pavel Bilaonov với cánh tay phải còn băng bó. Trung đoàn được tạm thời chỉ huy bởi vị phó của anh. Chúng tôi được lệnh “Đội hình tiểu đoàn tiếp tục tiến lên phía trước. mọi việc diễn tiến theo một hướng khác. Sau khi hành quân không quá 2km mà không có vấn đề gì. sau khi thám thính xa về phía trước lực lượng chính. tôi nằm gần chân Bilaonov. Đó cũng là một dạng thành tích. Một giây sau thì người thứ ba bị hai tên Frizt lôi xuống và kéo đi mất. để “chụp” chúng tôi chính xác hơn. Ngôi làng bị phá huỷ hoàn toàn. cùng với sự dũng cảm của anh khi hạ gục một chiếc tăng địch là giúp tiểu đoàn chúng tôi làm được điều không tưởng. cái “thùng” chuyển động của khẩu pháo tăng dần ngắn hơn khi nó quay. Ngày hôm nay tôi được mời đến dự một buổi họp chính trị trung đoàn. đầy khói. Cùng với Nikolai Korsunov. nhanh chóng năm chiếc tăng địch rút lui. Ivan Tukhru. thật không chịu nổi để tưởng tượng rằng ý nghĩ sau cùng của anh ấy với bạn sẽ là “Đồ hèn!”. lên trên rồi đi xuống. bọn Đức nhận thấy một sỹ quan Soviết đang hướng khẩu súng chống tăng vào chúng. ngồi trên bàn chủ tịch đoàn. Tôi là bí thư đoàn sống sót lâu nhất của tiểu đoàn. ở đó tên tôi được biểu quyết nhất trí ghi vào chiến sử anh hùng của trung đoàn. Ba lính trinh sát cưỡi ngựa của chúng tôi (do thượng uý Vlasov chỉ huy). Tiếng nổ thật to và đầu tiên tôi không hiểu ai đã bắn ai. Cả ba chúng tôi sẽ bị hạ nhanh. Làng bị cháy rụi.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Dĩ nhiên. Đây là một ví dụ rõ ràng cho chính sách “tiêu thổ”! 86 . Cái “đồng tử” nhích sang trái. Những con ngựa kinh hoảng chạy về phía đơn vị chúng tôi và phải mất chút thời gian mới bắt chúng lại được. Đội trinh sát chào tạm biệt và chạy lên phía trước. Chiếc tăng bốc cháy! Nikolai và tôi muốn đưa người bị thương đến chỗ an toàn. trong khi chúng tôi tiến sau họ. Ngay lúc này. Nhưng tôi còn trụ được bao lâu đây? Một buổi sáng nọ. đến khi nó nhòm thẳng vào tôi với cái lỗ đồng tử đen ngòm của nó. Quân ta tiến vào ngôi làng bị đốt. chúng tôi dãn ra và tiếp tục hành quân mà không thấy có sự kháng cự nào. Tôi tin là chết chắc. Vâng sự xuất hiện của Bilaonov tại thời khắc nguy hiểm. Nếu đó không phải là thiếu tá. chúng tôi thấy anh về bệnh xá. Tôi sẵn sàng chấp nhận cái chết với anh cùng người sĩ quan cần vụ. cố bắt được hình ảnh chúng tôi. sang phải.

Gương mặt với đôi mắt mở to ngã ra sau và đôi tay thỏng xuống như những ống tay áo rỗng. há hốc “mồm” và những con “mắt” vuông. chúng tôi cũng nhìn thấy vài chiếc giường kim loại tự tạo với hình trang trí ở mặt sau. Chúng tôi đến được cái giếng. Anh em phủ tạm những tấm áo mưa lên họ và tiếp tục hành quân. Cô trả lại chiếc ly rỗng. Quanh các bếp lò là tàn tích đã thành than của những cây lớn. làm liên tưởng đến một nhóm người khốn khổ. nhưng các anh đã đến muộn chút ít”. phủ đầy bồ hóng. Nó chưa chết. mang ra khỏi làng và chôn gần đấy. bị lửa làm hư hại. và giờ chúng đứng trơ trơ đó như chứng thực rằng thượng đế không tồn tại! Gần vài bếp lò. nhưng không đủ can đảm. có thể thấy lờ mờ những bức tranh chất phác. Nhưng kìa. Người ấy dường như đợi chúng tôi bên đường. Anh em đến và vây quanh người phụ nữ. tôi thấy một chú mèo xám bự. Da dính chặt vào xương sọ. Nhưng nó va phải cái gì đó là lạ. . Dù đã hoàn toàn kiệt sức. Nhìn mái tóc màu xám tro dày. có thể nói rằng cô còn trẻ. phải chăng cái giếng đã bị khô cạn? Chúng tôi kéo gàu lên. đứng đó như bia mộ giữa đống gỗ đang âm ỉ cháy nhắc nhở chúng tôi rằng ở đây từng là một ngôi làng. Khi chúng tôi đã gần vượt qua vùng đất tro tàn đó. dưới lớp bồ hóng. trong bi đông còn chút nước. Hai chiếc tai trên cái đầu to. Nói xong câu. Chúng tôi biết. Chỉ còn một tia sống sót lại trong cơ thể cô. Cô đón lấy bằng những ngón tay gầy run run rồi chầm chậm uống. Tôi rất muốn đến vuốt ve nó. gợn sóng thả dài đến eo. Rõ là bọn Đức đã ném xác người xuống giếng. Những gì còn lại của anh được đưa vào xe ban tham mưu. thả gàu xuống. Chúng tôi ào đến. chân thu vào phía dưới. đôi mắt sâu hoắm. Chúng tôi e ngại không dám hỏi điều gì. “Gà chọi” hoặc “Gà mẹ và đàn con”. anh em thấy một hình dáng phụ nữ trông như một bóng ma. cành cây giơ lên như những cánh tay. Một bác bộ binh già. dù đã sống sót một cách kỳ diệu trong cái thảm kịch này. Ở bên hông và mặt trước các bếp lò.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Trời nóng và không một ngọn gió. 87 . Chắc hẵn không phải là mặt nước. anh em tìm thấy xác của thượng uý Vlasov. bên một vệ đường. nhưng cô vẫn cố đứng thẳng. Dường như chúng đã bị đốt rụi trước khi có sự giúp đỡ. Với cảm giác đau khổ và nỗi muộn phiền thiêu đốt. Con mèo không thèm chú ý đến tôi và cũng không hề bỏ chạy. Trước khi đến giếng. Những chậu hũ bằng gang. cảm động với những dòng chú thích víêt bằng bút chì không phai: “Những giỏ hoa hướng dương”. tôi quay khỏi chiếc lò đó. chân tay cô gầy gò và suy kiệt. cầu xin thượng đế cứu rỗi. Những làn khói đắng nghẹn phủ lên không trung. Hắn đang nằm bẹp trên bụng với một tư thế truyền thống. Chúng tôi muốn biết thông tin về những gì đã xảy rà từ một nhân chứng sống. ẩn hiện trong làn khói. bởi tôi không xứng đáng. Một chiếc gàu gỗ rỗng treo cạnh.“Cảm ơn rất nhiều. đuôi vắt dọc thân. Chỉ còn những chiếc bếp lò lớn. bác rót ra một cái ly nhỏ và đưa cho cô. cô chết. Làm mặt trời như một chiếc chảo rang bằng gang khổng lồ. thông minh hơi gập xuống và ngả về phía sau một ít như muốn nói lên những nỗi niềm nghiêm trọng. “Chàng nông dân cùng cô bạn gái”. đi khỏi ngôi nhà bị tàn phá. khỏi chú mèo “chủ nhân” nhưng giờ đã mồ côi. Chúng tôi chầm chậm đi trên đường… Như đa phần những ngôi làng khác. Ở trong một chiếc lò. Rồi cách đó không xa. Đôi mắt buồn của con vật dường như khác biệt với thế giới ngoài kia. những giọt nước mắt lớn lăn trên mắt nó. Tôi ngờ là nó không còn sống. và nhìn thấy máu bên trong. ở trung tâm là một giếng nước. cô đổ ập vào tay người lính gần nhất. bằng gốm đủ loại to nhỏ nằm rải rác chung quanh. “Chú mèo con giỡn banh”. mong có một ngụm nước mát lạnh. phát âm từng từ. chúng tôi thấy những xác phụ nữ loã lồ và cả những em gái còn rất nhỏ.

Tất cả dân làng nằm dọc theo con đường. Chúng tôi cảm thấy xấu hổ.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Hi vọng rằng những điều kinh khủng đã bỏ lại phía sau. chầm chậm đi qua hàng trăm người già. Tôi tự hứa với lòng sẽ báo thù cho những người này. Tôi xúc động mãnh liệt. phụ nữ và trẻ em bị bắn chết. sẽ giết bọn phát xít và những tên Ngagian nhiều như tôi có thể! Và phải làm ngay điều này trước hết! 88 . khi chúng tôi đến được cuối làng. Anh em bộ binh ngã mũ. Nhưng những gì tồi tệ nhất vẫn chưa hết. Tất cả họ đã bị bắn chết. trong người tôi tràn đầy giận dữ và căm hận.

bác đã có cả cuộc đời mình gắn liền với lũ ngựa. Không một đồng chí nào có tâm trạng tội tình. Tôi hẳn đã chạm đúng chỗ ngứa của bác bởi bác nói với một giọng ân cần và tin tưởng: 89 . Nhưng nếu tốc độ tăng gấp đôi thì khung đường nguy hiểm chỉ còn 3 phút. con phó thác hi vọng của con cho lũ ngựa à?” Bác vỗ vào cổ con vật . Cháu đã từng làm lái xe ngựa ở mỏ và biết chúng rất rõ. Sẽ rất khó để sống sót dưới hoả lực phòng ngự dày đặc ngày mai.“Vâng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chương 10: Chặng đường gian khổ Quân đoàn bộ binh Cận vệ số 32 của chúng tôi nhận được một mệnh lệnh mới: Nỗ lực băng qua bờ sông Vorskla để tiếp cận Poltava từ hướng Tây. Chúng tôi cũng tổ chức vài cuộc họp Đảng và Đoàn viên Komsomol để thảo luận về phương thức tốt nhất để thực hiện mệnh lệnh với ít thương vong nhất có thể.“Này. Nhưng nó lại bị bao quanh bởi vùng đầm lầy rộng đến 1km. Số mệnh đã quyết định rằng trung đoàn chúng tôi được chọn để là đơn vị đầu tiên vượt sông và thiết lập một đầu cầu ở hữu ngạn. Mọi người hiểu điều đó nhưng vẫn đi lanh quanh như thường lệ. chúng tôi nhận xe ô tô và những chiếc xe song mã hai bánh. Tôi cảm giác từng tế bào sống trong cơ thể mình. và chỉ những ai may mắn nhất mới có thể tồn tại. Tôi chọn một đôi ngựa Mông Cổ với một cổ xe cứng cáp. 6m với với những mô dốc. Vậy chúng tôi phải băng qua bằng cách nào và tại chỗ nào? Lực lượng trinh sát. con trai. Ngay cho là tối đen như hắc ín thì chúng cũng không bao giờ bị lạc! Và như vậy bọn ngựa sẽ không bao giờ rời con đường cho dù đạn nổ quanh chúng. định ra nơi tốt nhất là một con đường sỏi với một chiếc cầu vốn trải dài qua khu đầm lầy. tiến lên phía trước. Chúng tôi phải vận động dưới hoả lực pháo nặng nề: bọn Phát xít. Chúng tôi tính rằng nếu khoảng cách 1. Chỉ có một con đường. Và cũng không quá sâu để lội qua. với sự giúp đỡ của dân địa phương.000 thước này được đi với tốc độ 15km/giờ thì mỗi người lính phải mất 6 đến 7 phút để vượt qua. dĩ nhiên. Dòng sông đó không rộng. bạn sẽ bị đầm lầy nuốt chửng ngay. Tôi đã nghĩ rằng có thể đây là ngày cuối cùng mình còn được thở khí trời. Chúng tôi tiến hành các công tác chuẩn bị. Chọn gì đây? Bạn không thể nhảy khỏi con đê. bởi cả bên trái lẫn bên phải đều là đầm lầy. Tôi biết đặc điểm quan trọng nhất của loài ngựa: chúng không lạc lối trong những cơn bão tuyết nặng nề nhất. Chắc chắn là chúng không tiết kiệm đạn với chúng tôi. đã hướng tất cả các loại pháo của chúng vào con đường và chiếc cầu. Đường nằm trên một con đê cao chừng 5. Tôi lục lọi trong óc những thước phim của những kinh nghiệm đã qua. Đó là lần đầu tiên tôi đối mặt với tình cảnh như vậy! Đây chính là giờ khắc mà mọi người sẽ thử với vận may của mình. vâng” tôi trả lời “ngựa rất đáng tin cậy. Ta có thể luôn tin vào chúng! Ngựa là loài vật thông minh nhất” Moiseev rất vui khi nghe tôi nói vậy. Nhưng như thế nào? Vượt qua bức tường lửa khói? Rồi tôi quyết định sẽ dùng một cỗ xe ngựa hai bánh để vượt cung đường nguy hiểm này. Những lối dẫn vào cầu phải được chiếm giữ để bọn phát xít không thể phá hoại nó. Nếu bạn ngã xuống. Người đánh xe tên Moiseev bảo tôi: . chừng 100 đến 120m. Từ sở chỉ huy sư đoàn. nếu là phe ta thì cũng sẽ không làm thế.

Tôi sẽ chạy theo. Tay trinh sát ấy mạnh mẽ vỗ vào vai những chú ngựa Mông Cổ của chúng tôi “Ôi. con đã từng ở Stalingrad rồi phải không?” .“Tên con là Abdulov phải không?” . Gregory Ambartsumiants. Chính anh cùng những đồng đội của mình đã sang trinh sát bên bãi lầy của dòng sông và không thể tìm bất kỳ chỗ nào để vượt. Và bởi có tuổi nên bác được chuyển từ đại đội cối sang tổ cứu hộ” Bấy giờ tôi nhớ ra: . Tôi đề nghị anh tham gia vào đội đổ bộ của mình. bùn lầy ở mọi chỗ. vì anh chỉ nhắc nhở những người có trách nhiệm rằng họ phải thực hiện được công việc một cách tự nguyện và bằng mọi giá.“Ôi.“Được.“Này.Chặng đường đỏ từ Stalingrad . Dù không cao.“Đúng rồi. đặc biệt là những người lính tiền tuyến. một đầu buộc quanh cổ tay mình. con trai ạ! Ngựa còn thông minh hơn cả con người.“Còn cậu thì thế nào hả Mansur? Phóng nhanh qua với bọn ngựa thì tốt hơn phải không?” Anh mở to mắt rồi chầm chậm nháy với tôi. Một tay trinh sát đến với chúng tôi. Cặp mắt to của anh cũng rất gây ấn tượng. đúng không? Bác nhớ có cậu Suvorov. đạn dược và thủ pháo được đặt trên xe. người có một hàm râu nhỏ. Nhưng chúng hiểu biết mọi thứ tốt hơn chúng ta!” Chúng tôi có đủ thức ăn trong ba lô. tiểu liên. con trai. Mỗi khi Ambartsumiants xuống thăm tiểu đoàn thì cánh hậu cần sốt vó nếu đạn dược hoặc thực phẩm không đến đúng hạn! Anh ấy chả hỏi câu nào. những chú ngựa của tôi” anh lẩm nhẩm một bài hát quen thuộc. rồi nhìn cỗ xe bằng gỗ sồi . nên cùng ngồi xuống dưới cỗ xe và bắt đầu ăn. Gregory chừng cùng tuổi hoặc hơn tầm 2 tuổi so với tôi. đầu kia cột vào xe. Anh đi vòng quanh lũ ngựa. tôi không vui thấy con đường của tôi và Moiseev lại gặp nhau trước trận công kích đầy chết chóc qua dòng Vorskla. những ngay lập tức thấy những thứ cấp cho đơn vị bị trễ. Cậu đi cưỡi lên hay chạy theo?” Tôi bảo anh rằng tôi sẽ chạy bộ. chúng chỉ không biết nói thôi. người Armenia. Đột nhiên Moiseev liếc tôi đầy nghi vấn rồi hỏi: . Nhưng toà án quân sự cũng không bao giờ được giở ra.“Vâng” Mắt bác mở to đầy kinh ngạc: . cũng đã hi sinh cả ở trận Kursk.“ Được. xem xét bộ móng. chúng ta cùng chung một đại đội cối!” bác kêu lên “bác còn nhớ đại đội trưởng của chúng ta.“Cậu đúng đấy. tớ đi với cậu. Nói thật là. cầm sợi thừng này.“Họ hi sinh cả ở vòng cung Kursk rồi” Ngay lập tức tôi cũng nhớ đến bảy người bạn từ Stalingrad. Gregory lắng nghe và bảo: . tớ sẽ chạy cùng” 90 . lại là một người quen khác từ hồi Stalingrad. . ba lô. là Abdulin” . Anh em rất vui khi gặp Gregory. nhưng anh rất khoẻ.Không phải Abdulov. lúc ấy các bác có 4 người có tuổi chuyển đi khỏi đại đội!” Moiseev đột nhiên sầm mặt: . cậu ấy tên là Buteiko. Chúng tôi biết là anh đang thuộc bộ phận đặc biệt của ban tham mưu quân đoàn. trong khi đó Moiseev ngồi trên xe. vâng. những chú ngựa.

Nhưng dòng vận động vẫn tiếp tục. phi xuống. và đường. Gregory và tôi nhảy xuống. chúng tôi phải giữ khoảng cách không ít hơn 20m.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Đó là cách mà ba cựu binh Stalingrad chúng tôi. Quân ta bắt đầu vận động. thấy tôi thức giấc. cối. Những chiếc xe ngựa bắt đầu lịch kịch. Rồi đạn quân Đức bắt đầu nã trúng vào những bộ phận đang đứng đợi đến lượt. chỉ buộc vào xe. Bây giờ thì không còn gì có thể ngăn cản được. đã sống nhiều rồi. Trước mặt chúng tôi là một chiếc xe ngựa đầy lính khác. nắm chặt lấy sợi thừng. Đầu chúng treo là là trên mặt đất. Khi tôi ngồi dậy cạnh bác. Sau đó. Trong cuộc chiến. Đừng sợ hãi!” Tôi nằm lăn ra đất. chạy cạnh chiếc 91 . chết nhiều lần. như thể quân thù muốn san bằng nó cho ngang với đầm lầy. Moiseev cũng thức cả đêm. Cả năm sinh vật chúng tôi cùng đối diện với một thách thức to lớn. Số mệnh của chúng tôi bấy giờ gắn chặt cùng với những con vật đến từ thảo nguyên Mông Cổ xa xôi. đồ đạc vất cả trên xe. Moiseev buông lỏng giây cương và như một con bọ. 2 cây số.“ Bác không lo cho mình. Những chú ngựa. cùng chạy hai bên thành xe. Tôi bình tĩnh. bám chặt vào thành xe để không bị ném ra ngoài khi ở tốc độ cao nhất. ẩn sau các bụi cây. Thấy có vài sỹ quan tham mưu đang cưỡi ngựa ở phía đầu hàng quân. Còn Greogory và tôi. chỉ lệnh. chúng tôi lao trên con đường sỏi. Chúng tôi vẫn còn cách con đường gian nan chừng 1. Chúng tôi cố hết sức giữ yên lặng khi tiếp cận con đường bằng cách dùng các lối mòn. phải không?” Rồi cha của bảy cô gái lắc lắc đầu… Trời sáng. Bác đã thấy. Mọi người chờ tín hiệu. gia tăng tốc độ và sức ép. cùng với những tiếng rú. tập hợp lại thành một đội. đi vào nơi chưa biết. Chiếc xe được kéo bởi một cặp ngựa tuyệt vời. để đề phòng. Thời khắc của chúng tôi đã tới! Không ngừng chút nào. Bác đã sống đủ rồi. như người. chìm đắm trong những suy nghĩ của mình. Tất cả đã sẵn sàng. các vườn rau. Chúng rên rỉ như con người và đôi mắt van xin được giúp hay được chết. tôi đã từng thấy ngựa bị thương. Chúng tôi để dành một ít đồ ăn cho buổi sáng. Tôi lấy cho chúng ít nước từ giếng. ngay cả cái chết. cháo yến mạch. Chúng tôi hiểu. pháo. Tôi nghe có tiếng chửi thề từ anh em phía trước. Có 7 cô con gái. Có chuyển động ở phía trước. chúng tôi hiếm khi bắt kịp chúng. Nhưng cháu và Gregory hãy còn nhỏ. bác nói: . Bác có gia đình. khi vừa đến đầu con đường tử thần. có lẽ chúng đang nghĩ về cuộc đời mình. và phần còn lại cho ngựa. Điều gì đó như một lời cầu nguyện xoay vòng không ngớt trong đầu tôi: “Những chú ngựa thân yêu của ta. Đó là những tiếng rên xuất phát từ ngực. Chúng tôi đóng yên cương. Tất cả cùng chia sẽ chung một định mệnh! Phải chăng cả ba anh em sẽ bị hạ vào ngày mai? Chúng tôi cùng ăn tối với nhau và mang một ít cỏ cho lũ ngựa. ngày mai đừng làm ta ngã xuống nhé. hãy chạy nhanh hết sức về phía trước. nhưng không thể ngủ. chúng vẫn chưa được đóng cương. Xe. Tôi nghe thấy những mệnh lệnh. Tôi đến cạnh lũ ngựa. Âm dương cân bằng trong tôi. càng nhiều xe cộ đổ lên phía trước con đường đê. ngựa và người không kìm chế. Chỉ còn giây lát nữa là mọi người xông lên phía địch. sau khi dừng một chút. Các cháu chưa có được những phút giây hạnh phúc của đời người. Chúng ăn tất: bánh mì. Cả ba chúng tôi ngồi trên xe. rít kinh hồn đập vào con đê. Những đơn vị đổ bộ tiên phong đang lao nhanh về phía trước. lập tức hiểu ra chúng phải làm gì và chuyển ngay sang nước đại. Các cháu chưa từng choàng tay quanh người một cô gái! Bao nhiêu chàng rể bị giết rồi. Bọn phát xít triển khai bắn chặn từ tất cả các cỡ pháo của chúng. đuôi ngắn ngủn vểnh lên. Đạn pháo. Anh em đều biết mình phải chạy theo sau ai khi đến giờ.

Một chiếc đầu ngựa. một loại khí rất độc. vẫn riết chặt phát đau tay tôi.Chặng đường đỏ từ Stalingrad xe. bị đấm. mở ít nhất có thể. Một mớ hỗn độn lớn xe. lần nữa. Cả đầm lầy rền rĩ. rơi lộn xuống đám bùn xanh đen của đầm lầy. nhưng thở thiệt khó! Không đủ dưỡng khí. Dọc theo nó. Tay chúng tôi cũng bỏ những sợi thừng ra và chúng tôi gieo mình lên lớp cỏ dày. như thể bị quỉ lùa. như thể có vài cửa cống khổng lồ. Moiseev giật cương và gần như rơi xuống. Nó có thể vỡ ra bất cứ lúc nào. của một ai đó. nhưng con đê vẫn còn dưới chân. chỉ một nước phi nữa thôi. ngựa vẫn lăn lên phía trước. pháo và xe ngựa nằm đầy trên dốc. Những hố đạn pháo chi chít khắp nơi. Tôi không thể ngăn mình nhìn xem những anh em phía sau vượt qua như thế nào. 92 . người. Chạy thì được. ba lô từ xe xuống. nửa trần truồng. Mồm thì đầy đất cát. xuống vệ sông. pháo. Nên tôi một lúc lại mở mắt ra một tý để nhận biết lờ mờ những gì đang xảy ra. Những con ngựa vận động quá mức và lại sợ hãi nữa. Tôi vẫn cố bảo vệ mắt mình. phổi thì khói và khí ga đầm lầy bốc lên tràn ngập. tôi chỉ thấy lờ mờ bụng chúng. Dù rằng. bị đập và rơi tõm. lao nhanh theo sau vào làn khói cũng biến mất. Khói độc từ TNT cháy dở làm héo phổi tôi. tôi có thể không thấy gì hết! Ơn Chúa. Nhưng thế nào nếu có chứơng ngại vật nào đó phía trước và lũ ngựa sẽ vọt qua? Tôi sẽ làm ổn chứ? Cơ thể tôi như lò xo thép. Vài cảnh tượng loáng qua trước tôi: những mẩu vụn của ôtô. Sau cùng! Cũng có âm thanh của ván cầu! Chúng tôi đã gần tới đựơc hữu ngạn! Ôi. cát và rong tảo đầm lầy đổ xuống đầu chúng tôi. miệng há ra. Bằng cách nào đó. Trong màn khói bụi dày. chúng tôi xoay sở để rời khỏi con đường. vẫn lôi tôi về phía trước và tôi tiếp tục chạy vào nơi nào đó không biết.“Moiseev” tôi gào lên “cầm cương nào!” Chúng tôi cũng phải cẩn thận để không phi thẳng vào tuyến quân địch! Chúng tôi phải rẽ sang trái hay phải gì đó ngay chỗ cây cầu kết thúc. nằm dán lên mặt đất lạnh vài giây. rẽ ra bên trái và bên phải rồi tan biến vào trong cỏ. rồi lũ ngựa của chúng tôi. lũ ngựa và phóng biến mất và chúng tôi sẽ tận mạng! Những chú ngựa phóng nhanh và nhanh hơn nữa. Từ không trung. bọn ngựa của chúng tôi vẫn an toàn và phóng như điên. Không nghỉ. Phải chăng cỗ xe đã bị trúng đạn rồi? Nhưng sợi dây. tôi không muốn khói và bụi làm mù mắt. mất cả đầu lẫn tay… Cổ xe trước mặt biến mất. Mũi tôi đầy bụi đất. Dòng chảy đó khi đến bờ phải chúng tôi. Chúng tôi sẽ làm được chứ? . Chứ nếu chiếc xe rớt ra. Và bay ra đằng sau tôi – ôi Chúa ơi – là một thi thể đẫm máu. nhưng tôi vượt qua nỗi nguy hiểm này và bây giờ thì hết sức tập trung như chưa hề có trước đó. ngô hoặc lúa mì. Những tiếng nổ nối đuôi nhau nhanh đến mức mà bất cứ cái gì bắn lên từ đất không có thời gian rơi xuống vì những phát nổ mới sẽ hất tung lên. nhảy và phi nhanh. Chúng tôi chạy. chiếc xe ngựa nảy tưng tưng. Điều quan trọng nhất là không được ngã xuống! Tôi nên chú ý đến những hố đạn! Một chân tôi thụt vào trong một cái hố hoặc cái gì đó. đất. Cả con đường hoàn toàn bị che phủ bởi những cụm khói và những ánh lửa từ những tiếng nổ không dứt. thế là chúng tôi bị phủ đầy phân từ đầu tới chân! Tôi chạy với đôi mắt nhắm tịt. bị đứt lìa. có thể thấy những cột đen ngòm phóng lên và rơi xuống lại đầm lầy. Gregory và tôi lôi súng. Tôi chợt nghĩ rằng chúng tôi nhẽ ra nên cột dây thừng vào bộ cương. nên chúng ị ra trong gió. những người đẹp của tôi. tôi nghĩ tôi có thể nhảy qua được bất cứ thứ gì. rồi lần nữa. Đó là Nitric Oxít. kéo mạnh sang bên trái hết sức.

Nửa giờ sau. chỉ còn da bọc xương. Trong vòng một giờ. dùng cà mèn của họ để mang bột đến người dân. với những chú ngựa đáng yêu đã cứu mạng chúng tôi (chiếc xe chạy ra xa dọc theo bờ). Phụ nữ và người già chào mừng quân ta. Nhưng họ hạnh phúc. anh như có bùa vậy. Kia là một cô y tá tôi quen! Có phải là Tonia? Và Ania. Lính ta tìm thấy một nhà máy xay bột bị hư hại. nhưng quân ta tiếp tục đà di chuyển trên con đê mới được làm từ xe hỏng. năm 1709. Tất cả họ đầu hốc hác. chính uỷ trung đoàn cũng còn sống. tiến lên. Nhưng còn những pháo thủ khác ở đâu? Chiếc cầu giờ đây đã bị sập. họ đã đãi quân giải phóng bằng galushki (bánh bằng bột mì luộc truyền thống người Ukraina – ND) 93 . tiểu đoàn trưởng. ngựa và người…. cũng xoay sở vượt được qua với ban tham mưu của anh! Tôi mừng khi thấy được bất cứ ai. Galia! Cả những cô gái cũng làm được! Tay điện báo của chúng tôi Vladimir Semionov cũng sẵn sàng tháo cuộn dây ra. và xuất hiện ở bờ bên này. đúng vào chỗ Peter Đại Đế đã cùng lính của ngài vượt qua trong cuộc chiến Phương Bắc vĩ đại. Nhưng tôi cũng không thấy nhiều người khác. Tiếng hô vang dội “hurra-a-a-h!” chạy từ cánh này sang cánh khác. xe ngựa. Còn nọ là Sergei Lopunov với bệ súng. sau khi chạy qua khỏi con đường tử thần. với vài tay mang giá đỡ đi bên cạnh. không một vết trầy! Anh ấy cũng là một lính “Stalingrad”. chúa Allah phù hộ. với Moiseev. Đây rồi. Và thật là vui khi thấy những tay pháo thủ Leonid Nochovny và Ivan Yemelianov chỉnh khẩu pháo 76mm chuẩn bị bắn phát đầu. Chúng tôi lội qua sông Vorskla lần nữa. có tín hiệu tấn công. phi thường. hoặc thực ra. gầy mòn. chàng “viện sỹ hàn lâm” của chúng tôi. Gregory và tôi chạy theo những hướng khác nhau để tới vị trí của mình. Đại uý Cận vệ Vladimir Yegorov. không một viên đạn hay đại bác nào có thể chạm vào anh! Đại uý Nikolai Kartoshenko. Còn chúng tôi thì tiến vào thành phố đó vào ngày 23 tháng Chín.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Không có thời gian để nói lời tạm biệt nhau. được dựng lên kỷ niệm chiến thắng của Người Nga trước quân Thuỵ Điển ở trận chiến Poltava. Tôi thấy thiếu tá Cận vệ Ivan Tukhru. Kìa Vasili Shamrai! Nikolai Kobylin! Cùng với khẩu Maxim của họ! Họ lủi đi và giờ đã sẵn sàng khai hoả khẩu đại liên. vốn chuẩn bị để di tản về Đức. pháo hư. ngang cây thập giá bằng đá hoa cương. Yanson! Gập người thấp dưới sức nặng của nòng cối. còn bột. Tôi thấy hoang mang quá: “Sao họ sống được nhỉ?” Cú vượt sông thành công chính mình đã gây ấn tượng trong tôi như là một thứ gì đó độc nhất. và trung đoàn tôi bắt đầu xung phong để xây dựng đầu cầu ở hữu ngạn không Vorskla! Quân đoàn Cận vệ chúng tôi mạnh mẽ tiếp tục tiến bước.

binh sỹ. Một đơn cử là. Ở vệ đường. chỉ còn một cái hố lớn nơi trước đây là một hàng rào liễu gai. có một anh bí thư đoàn của tiểu đoàn bạn nhặt một chiếc đàn balalaika lên: và một vụ nổ làm anh cùng 17 người khác đứng quanh đó thiệt mạng. Tro. Một tên Nazi. Tôi luôn có một ước muốn rất trẻ con là có một chiếc xe đạp để cưỡi. cố cưỡng lại la lên: . nơi này. Dù chúng tôi đã cố đẩy quân Đức về phía tây nhanh nhất có thể. Dưới hoả lực à? Này. nhưng rồi tôi thấy một tay thượng uý cũng hướng về đấy.“Thế còn chúng tao thì sao? Mày nghĩ chúng tao là đồ bỏ à? Ném nó xuống!” Không có sức mạnh nào trên thế giới có thể làm tôi ngăn hành động trừng phạt này với bọn đồ tể phát xít.100 mét. Ví dụ như các giá treo ở đây rất khác thường. bọn Đức dùng những cái móc kim loại để treo người lên đằng chân. Tất cả bị huỷ hoại. Chúng tôi xoay sở để đưa xuống khoản một tá anh em còn sống. mà điều này chưa từng được thoả mãn. Trẻ em. truyền đơn chúng tôi đọc những lời kêu gọi của Tổ quốc. Đột nhiên. nơi kia. Và giờ đây chúng tôi đang đứng ở bờ con sông vĩ đại này! Rộng 1. tôi thấy một chiếc xe đạp mới dựng tựa vào hàng rào liễu gai. Cư dân Kremenchug ra khỏi những nơi ẩn náu liền vội vã quay về thành phố với nhà cửa của họ. tất cả đều bị nổ tung… “Hữu ngạn Ukraina đang đợi ta!”. Trên mọi tờ báo. với rìu. tôi quay ngoắc lại và đi. Quân ta giải phóng được một trại tù binh. cố thắng tôi. Có chừng 100 nạn nhân bị treo lên theo cách ấy. Bọn phát xít đã dùng nhiều phương pháp tàn bạo để hành hạ tù binh. nhưng thế rồi lại nhận ra mình không thèm. và vì vậy khắp nơi quanh chúng tôi luôn nghe tiếng mìn nổ. Tôi thất vọng. Chúng tôi tiến vào Kremenchug ngày 29 tháng 9 năm 1943. Tôi bước nhanh đến. thế là tôi đi thẳng về chỗ đó. que cời. hét to bằng tiếng Ukraina. khắp nơi quanh chúng tôi đầy những khẩu hiệu đó. “Tiến qua dòng Dnieper!”. Những chị phụ nữ rất phấn khích. than và khói mọi nơi. một tiếng nổ vang lên! Tôi quay lại. chạc. tay. Những anh em du kích bị bắt cũng giam giữ tại đây.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chương 11: Cuộc chiến này dài bao lâu? Tả ngạn Ukraina (tức phần đất Ukraina nằm ở bờ Đông sông Dnieper – ND).“Mein in Haus drei Kinder!”. ở đó địch đã tra tấn và hành quyết hàng ngàn chiến sỹ Sô viết. (Ở nhà tôi có ba đứa con) Nhưng chị em trả lời: . Người dân Ukraina phải rất nỗ lực rất nhiều để cuộc sống có thể hồi sinh trên vùng đất này. “Trả lại Dnieper!”. Chỉ những chiếc bếp lò vẫn còn tồn tại ở chỗ vốn là các ngôi nhà. Lát sau họ dừng lại cạnh một cái hố và đẩy bọn tù binh xuống. mi 94 . làng mạc và nông trường. nhưng chúng vẫn có cơ hội để đốt phá nhiều thị trấn. Sau đó chính tôi đã tận mắt thấy một cảnh tượng mà tôi không bao giờ quên. Mansur. bơi qua dòng Dnieper! Sẽ mất chừng 3 giờ bồng bềnh để đến bờ bên kia. Tại Kremenchug quân Đức cài mìn bất kỳ thứ gì có thể gây chú ý. Chúng tôi sẽ phải vượt qua như thế nào? Chúng tôi sẽ dùng các bó rơm. Tôi không thật sự cần nó. hoặc gậy gộc trong tay. Vì thế. dẫn vài tên Đức và những tên phản bội xuống phố. Những nữ nông dân. Chiến tranh đi qua chỉ để lại tro tàn phía sau. Quân Vlasov làm công tác đao phủ. sườn và cả cằm nữa. phụ nữ. Những gốc cây cháy thành than. từng chút một. không còn chút dấu vết gì của người sĩ quan kia cùng chiếc xe.

tôi chợt nhớ lại. cạnh làng Vlasovka. Tên mã của đảo này là Helmet. Cụ tu sỹ không mặc áo lễ mà mặc một chiếc áo len bông cũ kỹ và trông không giống người tu hành tí nào. Tôi thì là một tay bơi có kinh nghiệm. tôi bước vào một ngôi nhà thờ bằng đá nhỏ ở Kremenchug.“Chừng 48 tháng” Không biết cụ tu sỹ này lấy thông tin đó từ đâu? Chắc chắn không từ Kinh thánh. Tôi cũng mang khẩu SMG. Vài người còn khâu kín cả ba lô và thử nó dưới nước. Đêm ngày 5 tháng 10 năm 1943. không xa về phía thượng nguồn Kremenchug.“Thưa cha. đúng không?” .“Ta là một tu sỹ” Chúng tôi ngồi xuống và nói chuyện với nhau. Mỗi lính bộ binh được trang bị một thiết bị đặc biệt để nổi: một bó rơm đặt trong áo mưa vào cột chặt lại bằng dây thừng. sư đoàn tôi chuẩn bị lực lượng vượt sông. Chúng cố làm nổ tung nó lên và đốt cháy. chúng bó đặc biệt chặt. Toàn cát xám… Trước đó.“Đúng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad sẽ đánh liều lần nữa chứ? Hở? Tốt thôi. Tôi cũng lưu ý rằng tôi là người rất tò mò và thích nói chuyện với người lạ. hầu như nằm ngang mặt nước. Giờ đây. không bị chết đuối. vì lí do không rõ. mục tiêu của chúng tôi là đảo “trung lập” Peschany.“Nếu mọi thứ được tiên tri trong kinh thánh” tôi bắt đầu “vậy cuộc chiến này ắt hẳn phải được nhắc đến. Không một bụi cây. ngồi bên tả ngạn dòng Dnieper và nghĩ về con số “48 tháng” tôi tính ra rằng nếu nó chính xác. bắt đầu vượt sông với đích tới là đổ bộ lên đảo Peschanny. quân đoàn bộ binh Cận vệ số 32 có sư đoàn cận vệ số 66 của chúng tôi trong đội hình. Tôi mang một đôi ủng vải bạt bó chân. mọi vật làm từ gỗ đều bị cháy. Tôi lớn lên ở vùng Cheliabinsk. Khả năng lớn nhất là từ trực giác của cụ. chúng tôi bắt đầu vượt sông Dnieper. Và cũng có khá nhiều hồ quanh đó. bởi chúng tôi phải vượt sông với đầy đủ quân cụ. khi đang quan sát bãi cát đó từ phía tả ngạn. Nhưng chúng tôi nói về gì nhỉ? Khi còn nhỏ tôi được nghe rằng Kinh thánh cho chúng ta biết những gì sẽ xảy ra trên thế giới và những gì đã và sẽ đến cũng được tiên tri trong Kinh thánh. nếu ngươi không đánh mất tất cả sự may mắn của mình? Nhưng ngộ nhỡ không còn chút may mắn nào sót lại thì sao? Đã bao lần mi đối mặt với tử thần rồi? Có còn chút vàng nào trong kho báu vận mệnh của ngươi không? Đêm ngày 5 tháng 10 năm 1943. Không một ngọn cỏ. Trong sân chầu tôi gặp một cụ già: . hai trống đạn. Nhưng cụ nghĩ một lát như thể tính toán hay nhớ lại điều gì. Nó trông như một cái trụ bự. từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 4 tháng 10. rồi trả lời: . tôi biết thế. cha là ai?” . hai quả thủ pháo và khẩu súng 95 . Khi bị ướt. Bên trong. cạnh dòng sông Miass. nhưng ngôi nhà thờ vẫn đứng vững. Một câu hỏi thuần tuý về quan điểm: . Bọn Phát xít đã cố phá huỷ nó vài lần. cạnh làng Vlasovka. thì bây giờ là đoạn giữa của cuộc chiến! Trong năm ngày. Đảo khá rộng – diện tích 5 km vuông – tuyệt đối bằng phẳng. Nhưng tôi cũng cần phao.“Vậy cuộc chiến này dài bao lâu?” Tôi chắc rằng cụ sẽ nhún vai thay cho câu trả lời. vì vậy tôi đặt cho cụ câu hỏi mà tôi quan tâm nhất: . Tôi tắm ở cả những chỗ đó và cũng có những cuộc bơi thi khá xa với chúng bạn. đúng vậy con ạ” Tôi ngạc nhiên rằng cụ không cố làm tôi rối trí bởi một cuộc nói chuyện thần học. Chúng tôi thực nghiệm thiết bị này trong nước và thấy rõ là có thể chịu được.

Anh chàng mới quen nới lỏng tay ôm. và không cách nào thoát ra khỏi cái ôm của họ. Được. rồi lên phía trước thể như tôi đang trong một trận bão. phía hữu ngạn hấp dẫn. tất cả các đơn vị chúng tôi yên lặng theo con nước ngược lên đảo. thì rộng chừng 700m. Giờ đây. Đêm tối mịt mùng. Những quả đạn pháo nổ làm nên các con sóng từ mọi hướng. gậy. Nó bằng phẳng. nhưng không những hẹp hơn mà còn cạn hơn. Quân địch yên lặng. Rất chậm chạm. màng nhỉ như bị đục thủng bởi tiếng động của một tá vụ nổ. như một trong số những chú cá bất hạnh đó. không gian bùng cháy và tôi nghe tiếng rít quen thuộc của pháo. cối từ phía hữu ngạn. Tay anh ta ôm chặt cái ba lô. Dòng sông đen kịt. Tôi tính rằng tôi đã qua được phân nữa chặng đường. Quân phát xít lội qua dễ dàng và chuẩn bị để “đón” chúng tôi. chính tôi. giẻ rách. Đôi mắt nhìn quanh không chớp như thể anh ấy mới nhìn thấy thế giới lần đầu tiên. Bảy trăm thước và thêm chừng 400 vì bị dạt theo dòng. sợ hãi nhận ra điều đó. nhưng tôi có thể xoay sở được. trong khi tôi bắt đầu đẩy anh ta một chút từ phía sau.Chặng đường đỏ từ Stalingrad ngắn TT. Tôi nhìn thấy toàn bộ đồng đội trong tiểu đoàn bắt đầu vượt sông. Người chết đuối như những con bạch tuộc nằm chờ nạn nhân. Tôi bắt đầu bơi. vui vẻ nhìn nhau. ván. Tôi không mấy e ngại về hòn đảo. Tôi cố đánh tay. Tôi bơi ngửa. Tôi cảm thấy. Nhưng chúng tôi không biết điều này vào lúc đó… Theo hướng dòng chảy. Còn rơm. khi tôi rơi xuống. không biết vì sao. Và khi chỉ còn lại tôi sau cùng trên bờ. Tôi bơi tiếp. Tôi sợ những người chết đuối sẽ lôi tôi theo. chúng đào những đoạn hào phòng thủ khá tốt và nguỵ trang tiệp với màu cát. anh nói: “Cảm ơn anh bạn!”. nhưng những con sóng cứ xoáy tròn tôi đi đi lại lại. Không một ngôi sao trên bầu trời. Tôi vui vì có được một người bạn mới màôi đã cứu mạng. Dòng nước chao ném tôi về phía sau. dù rằng hàng trăm khẩu pháo của quân thù đang nhả đạn từ phía ấy. và bắt đầu giữ phao bằng tay trái. Tôi nhét vào đó rơm mới và khô ráo. Một ấn tượng kinh khủng! Anh ấy dường như lấy lại hơi thở và bắt đầu hiểu ra việc gì. trong khi chèo bằng tay phải. tôi thấy mình đang bơi ngược lại phía tả ngạn. đẩy nhẹ anh lên phía trước. Một tiếng nổ! Rồi một tiếng nữa! 96 . Vào lúc đó. Con người mới lạ lùng và đáng yêu làm sao! Trong cảnh địa ngục này vẫn cho những phút giây vui vẻ bình dị. Tôi thấy một anh lính đầu cứ hụp xuống nước và thở hỗn hển. Cái ba lô của tôi thì làm chức năng của phao. Tôi trong số những người sau cùng vượt sông. Tôi bơi cạnh anh. Tôi cảm thấy anh không còn nguy hiểm nữa nên đặt một tay lên chiếc ba lô. Tôi có thể giúp anh chàng tội nghiệp bằng cách nào nhỉ? Tôi thận trọng bơi lên phía anh ta và chạm vào tay anh bằng cái phao. Rồi đột nhiên. chừng 300-400mét. Anh rên rĩ và thở nặng nhọc. chúng bung ra từ những cái phao bị xé toạc bởi đạn nổ. chìm xuống. Thật đáng sợ! Tôi bơi một mình giữa tiếng gầm hỗn mang. Hòn đảo này chia dòng Dnieper ra làm hai. Sau cùng chúng tôi cũng thấy đáy dưới chân mình. Thật khó. Chớp sáng của đạn nổ cho thấy hình bóng của quân ta chạy từ phía bờ về trung tâm hòn đảo. Không có lối thoát cả trên hay dưới mặt nước! Tôi chợt nhớ cách tôi đánh cá bằng thuốc nổ. rồi cẩn thật khâu kín lại và bôi mỡ lên bằng một mẫu mỡ Mỹ. dù tôi vẫn không biết là bọn Đức đã ở đó. như bèo tấm. tôi cũng bắt đầu lội xuống dòng nước lạnh. còn phía bờ phải còn trong tay bọn Đức. Bây giờ mặt sông phủ những thứ vụn vỡ. Dường như anh cố bơi tiếp nhưng hết sức rồi. Ở phía chúng tôi. Chúng tôi tiến tiếp. Rồi một cột nước phóng tôi lên. rải đầy mọi nơi. tôi sẽ làm được. tôi quay lại về phía bờ phải. tôi. Thời tiết lý tưởng cho quân ta. quẫy mạnh nhanh rồi nhanh hơn để có thể đến được hòn đảo.

hét với bất cứ ai đang chạy hay nằm dưới đất: . Họ còn sống hay chết? Tôi chỉ thấy đầu của họ ngẩng lên. cố cho bớt ù tai. Nhưng không ai chạy khỏi hòn đảo. trông như những quả dưa hấu trong vườn. Không có lấy một chiếc phi cơ trên trời. Lựu đạn cũng vậy. Chúng bắn mà không bị trở ngại gì. Những khúc gì ấm và ẩm ướt rơi cùng với cát từ trên không: những mẫu thi thể người. Được không? Nếu có gì thì chúng ta sẽ giúp nhau. Nấp kín trong cát. theo hướng hữu ngạn sông Dnieper. quân ta chờ đến lúc hành động. tôi sẽ không ra khỏi được. Tôi xoay người dũi vào cát ướt như một con cua.“Đồng ý” tôi hét lên.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Một đám cát phủ lên tôi. chỉ còn thấy gót giày của anh ló ra trên cát. Alex Kolesnikov. Hoả lực địch càng mãnh liệt hơn. lúc lắc theo mọi hướng. Hơi nổ dúi tôi xuống. pháo binh địch bắn vòng qua đầu bộ binh chúng! Vậy đó! Bọn Đức đang có trên đảo! Chúng tôi nên thật cảnh giác nhưng pháo địch làm anh em điếc đặc. cúi thu lu trên cả tứ chi. Đâu đó có câu trả lời điên khùng: .“Sư 13 ở đâu vậy? Sư 13 ở đâu vậy?” Khi vượt sông Dnieper. Tình hình thật tệ. nhảy qua những người khác nằm như những con hải cẩu bị mắc cạn. Nhưng quân địch mà chúng tôi định chiến đấu đang ở đâu? Pháo địch từ phía bờ kia của sông Dnieper? Phía bờ mà chúng tôi bị làm đôi! Alex và tôi quyết định sẽ đi lên về phía trung tâm hòn đảo. Trời sáng. Tôi chỉ muốn nằm xuống không đi nữa. nhưng không thấy. nước và bùn phủ lên thân thể rã rời và kiệt lực của tôi. Chúng tôi phải đề phòng rắc rối nhưng thứ cát chết tiệt làm mù mắt anh em. Đi cùng nhau nhé. với gương mặt điển hình của người Cossack. Tôi cố bò ra! Người đồng đội ở sư đoàn cận vệ 13 vẫn tìm đơn vị. Chúng tôi có thể làm gì? Tiểu liên thì không hoạt động: cát lấp kín mọi ngóc ngách. nên không ai tìm ra đơn vị. anh nằm xuống cạnh tôi và hét vào tai: .“Mình tên là Alex. thứ vũ khi duy nhất chúng tôi có mà không bị cát làm hư hại. Chúng tôi chạy lên. 97 . Cát đập lên người cố chôn tôi xuống. Bọn phát xít đang nã pháo dữ dội lên đảo. Cả trong mồm. Đồng ý chứ?” . . trong khi anh. Tôi thấy một khẩu Maxim chìm phân nửa trong cát. Chỉ có những chiếc xẻng đào hào.“Anh em đâu? Chỉ huy ở đâu nhỉ?” Tôi tự hỏi mình. Bộ ria hải mã của anh quặp xuống cằm. Không quân ta ở đâu? Pháo binh ta ở bờ trái cũng yên lặng! Tôi có cảm giác rằng chúng tôi bị bỏ mặc cho Định Mệnh. Nhưng nếu tôi bị thương. Một anh lính. Từ phía bờ cao hữu ngạn. Rất rất tệ. ngóc lên. Người tôi phủ đầy cát.“Nhìn trên cát ý!” Mọi nơi chung quanh. Anh vẫn lúc lắc đầu. Hỗn hợp cát. Chúng làm tướt da tôi như bột mài. Tôi không đủ can đảm để tiếp tục nhìn anh. Dừng nào! Không còn ai ở phía trước. Nhưng khi tôi liếc lại chỗ đó chừng vài phút sau. Tiếng nổ nhảy múa quanh anh. Người bạn mới tiến lên bên cạnh tôi. không đạn nổ: vùng chết. địch có thể trông thấy rõ cả quân ta lẫn các đơn vị của chúng nổi bật trên nền sáng của cát. Nhưng gì vậy? Chúng tôi chạm phải hoả lực súng máy! Chúng tôi có thể thấy lưỡi lửa đỏ rực từ nòng súng! Bọn phát xít đã ở trên đảo? Đó là nguyên nhân tại sao không có tiếng nổ ở phía trước. Ở đây yên lặng hơn. tôi thấy quân ta. Tiếng súng không dứt. các trung đoàn và sư đoàn trộn lẫn vào nhau. trên cát.

Cứ hai mươi phút nã thì có năm phút ngưng. Một số thì nghĩ rằng nó hão huyền. Trời vẫn còn tối. không thể thấy gì cả. tối đen. chắc không ít hơn một tấn cát! Nó làm tôi dập mặt xuống đất và tôi không kịp nhắm mắt. tôi đào một cái 98 . dũi sâu vào trong cát. ít ra. mắt cay nhức. mù loà. dù đã cố.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Đạn quân phát xít tiếp tục rơi xuống như mưa. với tôi. họ còn ở phía sau. lúc bình minh. trận Chervonny Prapor. ở Kalach-sông-Don và vòng cung Kursk! Nhưng đây! Hòn đảo trên dòng Dnieper! Một hòn-đảo-âm-ty! Quá đáng sợ. lần nữa. chỗ thương binh đang nằm. vì chỉ có một lựa chọn khác là cái chết. trận Dragusk. vô nghĩa và hoàn toàn vô vọng. Vài người còn chút bánh mì và chia nó cho chúng tôi. hành động nào cũng tốt cả. Ở đây. Hoàn toàn mù tịt. mà tôi không thể. nhưng mọi người đồng ý tham gia. nhưng tôi ngại. đuổi nó đi: ai đó đã tổ chức nên một chiến dịch sai lầm một cách tệ hại. choáng váng và bị cô lập với đồng đội! Chúng tôi không có lựa chọn nào ngoài việc bỏ mạng dưới làn mưa đạn địch! Tôi có suy nghĩ. tham gia cùng chúng tôi. Họ có thể nghĩ rằng tôi là một thằng hèn. ở Kletskaia. Còn về phần ban tham mưu sư đoàn. Prokhorovka. Một cú đánh mạnh thốc vào phía sau đầu tôi. Nhưng làm thể nào để tấn công mà không có súng máy. để bùng ra. quân phát xít ngừng bắn. Tôi bị giúi vào cát mà đang mở mắt! Tai ù. điếc đặc. Họ cũng có thể kết tội tôi là một kẻ gieo hoang mang. rồi sau đó chuyển làn về phía trung tâm hòn đảo. lựu đạn? Tiểu liên của chúng tôi sẽ bắt ánh mặt trời chiếu vào mặt quân Đức! Lựu đạn của ta sẽ là các nguyên tố bất ngờ và tốc độ! Chúng tôi sẽ nhảy lên đầu bọn địch đang ngồi trong chiến hào! Sẽ xéo chúng bằng giày và xé chúng bằng răng! Chúng tôi sẽ chiếm đại liên. Và chết trong khi chiến đấu thì tốt hơn là nằm chờ trên cát ẩm ướt. Trong đầu tôi. ít ra thì chúng tôi cũng an toàn với hoả lực pháo. Tín hiệu tấn công là nhóm tôi đứng dậy. còn di chuyển được. Cả cơ thể tôi lắc lên trên. Chúng tôi nhanh chóng tập hợp đội ngũ. Alex và tôi bắt đầu tìm kiếm đồng đội một lần nữa. Anh đấy đúng. trên hòn đảo này. chỉ có ánh xám chút ít ở đằng đông. chúng bắn về phía xa đằng sau chúng tôi. tôi thấy mình như nằm dưới một chiếc máy ép khổng lồ. trông kém khủng khiếp hơn. Những người lính khác. Vì thế tôi đề nghị một kế hoạch khác. Pháo địch ngưng chừng năm phút rồi rồi lại tiếp tục bắn chặn. chúng tôi sẽ tấn công các vị trí quân Nazi ở bờ kia của đảo. Đầu tôi dễ dàng cất lên được và chỉ sau đó tôi biết là không còn gì đè lên mình. Chúng tôi không vũ khí. trận chiến này làm lu mờ mọi trận từ dòng Volga đến Dnieper. Đêm xuống. Bọn Frizt lại khai hoả lần nữa. không có lần nào tệ hại như lần này! Tôi cho rằng mình đã để lại phía sau những trận đánh kinh hoàng nhất: ở Stalingrad. Giá mà có ai đó thông báo cho chỉ huy của chúng tôi về họ! Alex đề nghị rằng tôi nên bơi trở lui và tìm sở chỉ huy. Nhưng tôi không thể nghe. Không. Hơn 500 người! Chúng tôi lặng lẽ tiến lên gần tuyến quân Đức hết mức có thể rồi nguỵ trang. Sau đó. Ở đó. cố ý chuồn khỏi hòn đảo và dùng anh em thương binh như một cái mộc để giải thích. chỗ chúng tôi. Tôi giải thích kế hoạch của mình cho nhiều chiến sỹ khác. quay lại cảnh các kinh nghiệm chiến tranh của mình: trận vượt sông Vorskla. Kế hoạch như sau. hầu hết thương binh bò xuống mép nước. Nhưng sau đó thì sao? Hi vọng rằng sẽ được sơ tán về phía tả ngạn. trung đoàn của họ. tiểu tiêu của chúng rồi tổ chức phòng ngự vòng tròn! Và hẳn ở đó cũng sẽ có thức ăn. bên bờ trái Dnieper. Họ cũng hi vọng sẽ tìm thấy tiểu đoàn. nhưng một số anh em vẫn còn sống. Chúng tôi không đi tìm đơn vị nữa – mọi người ở đây đều là chiến hữu – và tổ chức ra một nhóm xung kích chừng 500 tay súng. Đầu tiên.

Tôi cố nháy mắt. Mỗi khi cần chúi xuống. Alex lại nhấn đầu tôi vào cát. 99 . Sau cùng. bị loá mắt cũng không thể bắn trúng. và không thể nghe được. Tôi thấy có một tên nhìn tôi. đồng thời hai ngón tay khác làm động tác “chạy” trên cát: đến giờ rồi. quân thù ném mình vào chúng tôi từ cả cánh phải và cánh trái. anh bạn! Tôi không thể nghe được. Không ngạc nhiên tí nào khi thấy chúng hoảng sợ. bọn Nazis mệt mỏi đành từ bỏ cuộc tấn công. Vốc trong tay đầy một dung dịch với bùn và cát. bằng tay. Nhưng một gã sỹ quan gào lên với hắn. những lính Nazi khác đã bò ra được và chạy mất dạng. Chúng tôi ném những xác chết ra khỏi hào rồi băng bó thương tích cho nhau. cướp tiểu liên của chúng. CÒn tôi thì dùng khẩu súng bị tắc như một cái dùi cui. nhưng chính tôi cũng cảm thấy khiếp đảm dù biết rằng tôi là nguyên nhân của cơn hoảng sợ đó. Tôi thấy những mồm mở ra hét vang. tôi vọt thẳng đến bọn Đức đang kinh hãi. Và sau cùng. tôi cố giương mắt rửa. Alex. cỡi lên vai những tên lính Đức liều mạng hoặc đơn thuần là kinh sợ đến cứng người lại. Rốt cuộc. Alex chìa ngón tay cái của bàn tay phải dưới mũi tôi. Dường như sự xuất hiện tràn ngập của chúng tôi làm chúng rùng mình. Tôi phải nhìn thấy! Tôi lau vết thương và đôi mắt đau nhức bằng thứ bùn loãng đó và rốt cuộc cũng thấy được chút ánh sáng lờ mờ. thân hình không còn sự sống của tên lính ngã gục xuống. bởi chúng tôi xuất hiện khắp nơi. Có một cậu quân ta đang cưỡi trên vai một tên Đức. nhưng phần lớn hoàn toàn bất động. Chúng tôi nhảy xuống. Như một đàn chó dại. Có nước. tất cả chúng tôi cũng chiếm được được súng của bọn Đức và quét sạch một khu vực nhỏ cho mình. Chỉ trong vòng 3 bước là một loạt các anh em xuất hiện ngay phía sau chúng tôi. đỏ như máu! Đầu tiên nó đỏ sẫm rồi sau đó sáng dần lên! Alex đào một ít cát lên thêm và vốc được một chút thứ tạm gọi là nước sạch. Thật khó giải thích. cũng tước được một khẩu SMG từ một tên địch bị giết. chạy tới chạy lui. Tôi làm theo cử động của những người khác. Tôi gật đầu đồng tình. Tôi nổ súng vào bọn Đức đang bỏ chạy. Tôi thấy một tên Frizt đang cố bỏ chạy. Cổ họng tôi đau rát. Giẫm.Chặng đường đỏ từ Stalingrad lỗ nhỏ trước mặt mình. Đau quá! Tôi thử lần nữa. Nhưng hắn không thể bắn hết tất cả được. rồi giúp tôi rửa mắt. hắn sợ đến cứng người. họ hụp đầu xuống đất là tôi làm theo ngay. rồi lần nữa. Chỉ còn sự yên lặng chết chóc trong tôi. Không chịu nổi cú giao nhãn đó. mình chết rồi” tôi nghĩ “Vậy đó. vui mừng thấy chân mình vẫn có thể chịu được! Chúng tôi đứng dậy. Dường như đỡ hơn. Giết hắn ! Tôi sẽ luôn bảo rằng đó là một cuộc chiến đáng nguyền rủa. nghiền bọn chúng bằng chân. nhưng bây giờ thì chúng tôi đã có lựu đạn và súng rồi. Rồi cơn nguy qua đi. dù tôi không thể nghe thấy chính mình. Trượt trên cát. đúng kế hoạch. Tôi cũng gào lên. không có cậu mình biết làm gì? Giúp tôi nào. “Mình chết rồi. rồi cơn sợ đó cũng lây sang tôi. Đạn pháo vẫn rơi khắp mọi nơi. chừng mươi hay mười lăm người cùng lúc. Vài tên hấp tấp lên đạn súng tiểu liên. Phải chăng mình bị mất giọng. Tôi nhổm lên. Bấy giờ tôi có thể nhìn rõ nhưng vẫn không nghe được gì. tôi chạy nhanh rồi nhanh hơn để để kết thúc cái cảm giác không thể chịu đựng nỗi càng lúc một tăng này. nhưng còn mạnh hơn gấp bội. hắn đang trèo lên ở phía đằng kia của chiến hào. hết rồi” Tôi nhìn về đằng đông và thấy vầng dương ló dạng phía chân trời. Thật lạ. Nhiều anh em chạy cạnh tôi đã ngã xuống. nhưng tôi hiếm khi thấy chúng. anh lại lôi tôi lên bằng cách kéo cổ áo! Ôi Alex. miệng mở to. Tên sỹ quan vẫy một phát súng lục. Alex mang lại cho tôi một gà-mèn nước sạch và tôi cố rửa mắt lần nữa. Nhưng quân Đức. một cơn thuỷ triều đen của 500 kẻ liều mạng phóng về phía chiến hào quân địch. như mọc lên từ cát và giờ đây tràn lên đe doạ chúng.

“Đi nào. Mùi vị tuyệt vời. Đúng. Dòng sông yên lặng. ăn tất cả những thức ăn của bọn Đức mà anh em tìm thấy. chừng 15 hay 20 người. Không có chút vinh dự hay vẻ vang nào với chúng tôi trong tình trạng lộn xộn này: chúng tôi chưa được lệnh rời đảo. Trên đảo.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Anh em đang nhóp nhép và cẩn thận nghe ngóng xem việc gì sẽ xảy ra. Mọi nơi cũng lặng yên. tôi. mẹ nó! Mùi xác người ở giai đoạn phân huỷ làm chúng tôi muốn bệnh. Rồi chúng tôi thấy vài tay lính đang tụ tập quanh một bếp dã chiến. Cậu nhìn vào tai tôi và ra cử chỉ: “Không có gì cả”. nhưng cùng với Alex. Không biết có còn cần chúng tôi trụ ở đây nữa không? Dường như là không. hòn đảo-nấm mồ! Chúng tôi không được nhận bất kỳ một lệnh nào cho việc rời hòn đảo. Alex. tôi thấy từng nhóm quân ta. Alex ra dấu với tôi: “Yên tĩnh.“Đã có lệnh từ ngày 10 tháng 10” Tôi nhìn những người sống sót khác bước vào sở chỉ huy và từng người bắt đầu bùng ra với cùng một câu hỏi: 100 . như thể muốn hòi: “Việc gì vậy? Sao bọn Đức không bắn nhỉ?” Hòn đảo trông như bề mặt của mặt trăng với chi chít những hố đạn. Cái giây phút mà cậu ta ra cử chỉ. và chậm rãi vắt cho kiệt.“Có lệnh rời khỏi hòn đảo chưa nhỉ?” Bondarenko an ủi tôi: . cháo lúa mì với dầu hướng dương thiệt ngon! Chúng tôi được một ít. Không có hoả lực!”. không. Rồi anh em nổi lửa. Alex vung quả đấm lên và nói: “tình hình bình thường!”. tự chúng muốn được lắng nghe không khí yên tĩnh này! Không có chuyển động của quân địch ở hai cánh. Chiến hào bên địch trống trơn! Có lẽ chúng có thủ đoạn gì chăng? Hay bọn Đức bỏ đi để pháo binh của chúng có thể bắn chúng tôi? Mọi người cố gắng ngồi ở cạnh tuyến quân mình để phòng khi có điều gì xấu thì có thể trú ẩn ngay. Chúng ta phải tìm chỉ huy và báo cáo thôi”. tham mưu trưởng: . Không một phát súng. Họ đang xoay đầu tứ phía. tôi sẽ viết về hòn đảo-nấm mồ này. chúng tôi trút bộ đồ ra. pháo bọn phát xít đã làm việc rất tốt. Đầu họ thì thụp đâu đó nơi này nơi kia. thò ra khỏi chiến hào với vẻ tò mò. Trong năm ngày liền chúng tôi phòng thủ trong chiến hào. tôi nhào xuống nước và bơi thẳng về phía bờ phải. xác người và xác người. hơ khô. thì sự điếc của tôi bỗng nhiên biến mất. Trong những hố đó đầy máu cùng xác người. Không ai nói một lời. tôi thấy anh em có gì đó là lạ. Nếu tôi trụ đựơc qua cuộc chiến này. Sở chỉ huy trung đoàn 193 của tôi hoá ra ở rất gần. anh em ngấu nghiến với niềm say mê. Chỉ một thứ mà chúng tôi không còn e sợ là hoả lực pháo địch. Khi đến bờ. Tôi không tin nổi “Làm thế nào mà mình sống sót được nhỉ?”. Rồi sáng ngày 12 tháng 10. nhìn quanh một cách tò mò. Ồ. Quân phát xít ở cả hai bên cánh chúng tôi nên pháo địch không dám bắn vào. Chúng tôi tiếp tục giữ thế trận phòng thủ vòng tròn. Chào biệt nhé. Người đầu tiên tôi gặp là đại uý Bondarenko. không phải là nấm mồ mà là – hòn đảo tử thần. Dường như tai tôi. cùng vài anh em khác bò ra và cẩn thận trinh sát quanh vị trí của mình. Mọi người bước theo một hàng dọc. Như thể đang tụ họp trong một đám ma. giặc giũ cẩn thận. Alex ném cho tôi một cái nhìn ngờ vực: “Mình không biết tại sao cậu không nghe được?”. Nhưng tôi vẫn cảm thấy như có một cái nút gỗ đang bịt vào tai tôi. Nhóm nhỏ những người sống sót vội vã về lại bờ sông Dnieper.

Những đội viên du kích này hoạt động trong vùng làng Beletskovka và Malamovka. đào sâu vào đất địch. Chừng ba mươi năm sau. một là trong đó là một người dũng cảm tên là Timonin. từng người bấy giờ lại muốn tìm về sư đoàn. Có vài anh em trong trung đoàn tôi còn sống trong chiến dịch đó: xạ thủ đại liên Vasili Shamrai (anh ấy còn xoay sở để không mất khẩu đại liên trong đám lộn xộn đó).“Đã có lệnh chưa?” Bondarenko cố an ủi mọi người: . chàng “viện sỹ hàm lâm” của chúng tôi. Sau đó một chút. lội sang bờ phải. tôi mới biết rằng quân đoàn mình đã triển khai một cuộc vượt sông giả. Anh là người sau cùng rời hòn đảo. cá nhân tôi biết rõ anh. Nhưng mọi người không còn sức để nói nữa. Anh luôn hành động như sau: là người đi đầu tiên khi tấn công. Quân cận vệ của Dmitriyev được hỗ trợ bởi một nhóm đoàn viên Komsomol hoạt động bí mật mang tên “Tocsin” do Vasili Us lãnh đạo. công binh đã bắt thành công một cầu phao và những người sống sót còn lại băng qua từ hòn đảo của chúng tôi. anh em bọn tôi bị cánh phóng viên chiến trường trong đồng phục sỹ quan áp sát và hỏi: “Cho chúng tôi biết về…”. Khi pháo địch túi bụi bắn vào chúng tôi thì những đơn vị khác xoay sở vượt dòng Dnieper an toàn ở cả về phía thượng nguồn lẫn hạ lưu. Chừng 60 cây số về phía hạ lưu Kremenchug. trung tá Dmitriyev được nhận danh hiệu Anh Hùng Liên Xô. hai tay xạ thủ đại liên khác. Họ cũng đến cạnh đồng đội và lo lắng hỏi: “Có lệnh không?”. trung đoàn trưởng. 101 .“Lệnh di tản đã có từ ngày 10 tháng 10” Chỉ khi đó thì những đồng đội tôi mới thư thái và tự cho phép họ khuây khoả. Và chỉ khi nhận được câu trả lời khẳng định. thì những quân Cận vệ đó mới đi và tìm cho mình một ít cháo. trung đoàn. Tôi nói rõ điều này vì tôi biết! Chỉ huy tiểu đoàn Nikolai Kartoshenko và Feodor Gridasov cũng sống sót một cách kỳ diệu. Vì hành động anh hùng. Nhưng kỳ diệu nhất là những gì đã diễn ra với trung đoàn Cận vệ số 145 của sư 66 chúng tôi. “Nói cách khác. và là người sau cùng khi rút lui. cạnh làng Deriyevka và Kutsevolovka. Tôi thông báo cho vài anh em biết về những gì Bondarenko đã bảo. tiểu đoàn hay đại đội của mình càng nhanh càng tốt. chúng ta phải bơi trở lại” chúng tôi nghĩ. Trung tá Cận vệ Aleksei Dmitriyev. một pháo thủ cối là Aleksei Yanson. tập hợp quanh anh những người sống sót. các tay trinh sát Kim Dobkin và Gregory Ambartsumiants và chính uỷ trung đoàn Vladimir Yegorov.Chặng đường đỏ từ Stalingrad . Từ khi chúng tôi biết rằng đã có lệnh rời đảo.

Tuy vậy. Họ đã ngăn bọn phát xít cướp phá làng và bắt dân cư đi lao động cưỡng bức ở Đức. Khi quân ta tiến về hướng Kirovograd. Cảm giác thật sự của một người lính chiến đấu trong cuộc chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại là một điều hết sức thú vị để tìm hiểu. gia nhập vào trung đoàn chúng tôi. Dĩ nhiên.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chương 12: Phát súng sau cùng Tôi đã là bí thư đoàn của tiểu đoàn được bốn tháng rồi. Anh em du kích thu thập được thông tin rằng quân địch đã chuẩn bị phục kích quân ta khi tiến đến một làng nhỏ tên Dacha. chưa bao giờ tôi được một giải xổ số nào. chúng tôi tiếp tục hành quân. Xe tăng của quân ta bị hạ bởi đạn xuyên giáp và mìn chống tăng. và đón chúng tôi với một trận bão hoả lực dữ dội. chúng tôi đến một ngôi làng lớn không bị tàn phá tên Deriyevka. nơi chúng tôi phải đột chiếm. nó thật là ngờ ngệch. tôi mới tự cười mình vì cái sự tự tin quá lố ấy. Để đùa giỡn. Và chỉ có cách đó thì chúng ta mới thắng được trận thắng quyết định. Dĩ nhiên. Trong một địa đoạn. Rồi quân Đức phản công. thì có vài điều mà chúng tôi thú nhận sẽ trông hết sức ngây ngô. ở đó chúng tôi gặp được quân của đội du kích “Tocsin”. Cũng trong ngày đó vài người tình nguyện địa phương tham gia trung đoàn tôi. họ cũng chỉ cho chúng tôi cách vượt qua các vị trí quân Đức: quân địch rút lui về tuyến đã định của chúng. Mỗi người phải tự dựng lên trách nhiệm của mình với vận mệnh của tổ quốc. khoảng ngày 20 tháng 10 năm 1943. Những người mới gia nhập này còn mặc đồ dân sự. chúng tôi đặt anh em tân binh một tên chung là “dân ngô”. Và chỉ sau khi quân ta giải phóng được đất nước mà không có tôi. rồi khi họ tiến vào Berlin. Nhưng bọn Frizt đã thíêt lập vững chắc tuyến phòng ngự thứ hai. Tôi phải chăng là một người thật sự may mắn? Tôi nghĩ đúng vậy. sư đoàn Cận vệ số 66 chúng tôi (chỉ còn không quá hai đại đội) qua cầu phao vượt sông Dnieper ở cạnh làng Kutsevolovka và Deriyevka mà không có thương vong nào. làng Uspenskoye. tôi luôn sợ rằng nếu tôi chết thì tổ quốc của chúng ta cũng sẽ bị huỷ hoại luôn. nhưng trên chiến trường không một viên đạn hay lưỡi lê nào đụng vào tôi. tôi trở nên hoảng sợ thật sự: “Mọi thứ sẽ ra sao nếu không có mình? Ai sẽ tiếp tục chiến đấu nếu mình bị thương nặng?”. Họ. cũng như những người nông dân. lúc đó khá thiếu quân phục nên chúng tôi trông giống như một đơn vị du kích lớn. gần Znamenka. nơi họ trốn những đơn vị trừng phạt của phát xít. Pháo binh và không quân ta dội lửa lên quân thù trong vòng một giờ đồng hồ và dường như đã quét sạch lối tấn công cho chúng tôi. trừ một lần được đúng 1 rúp. Vài người nói rằng tôi là người quá may mắn! Nhưng sau chiến tranh. Như tôi. Rồi vào ngày 28 tháng 11 năm 1943. sau khi vượt qua sông Dnieper. Sau chiến dịch “Hòn đảo tử thần”. Ở bờ phải. Một ngôi làng khác được giải phóng mà không phải đánh nhau là Kutsevolovka. Đựơc tiếp tế galushky và varenniki (những loại bánh bao với nhân khác nhau-ND) từ dân địa phương. các đơn vị quân ta đã xây dựng xong một đầu cầu khổng lồ để tiếp tục tấn công Ukrain. tôi bị trúng đạn ở gần Znamenka. Nhưng đó chỉ là một nỗi sợ hãi trẻ con mà tôi không thể bỏ nó ra trong một khoảng thời gian. thậm chí là điên điên. Đã bao trận đánh! Và tôi vẫn sống. đến tận bây giờ tôi vẫn tin rằng đấy là một cách suy nghĩ đúng đắn. Nếu bất kỳ cựu binh nào nói thật. Những cư dân của làng vừa quay về từ rừng và những cánh đồng ngô. chúng tôi phải đánh bật bọn địch ra khỏi cùng một vị trí hai lần trong một ngày! 102 .

Trong hai giờ liền. lệnh cho họ ra trận và phòng thủ tuyến trận địa của chúng. thay vào đó là những nhạc cụ. khi trời sáng chúng tôi nghe những tiếng động của xích xe chạy và rồi trông thấy cả bảy chiếc tăng của quân ta. quân địch quyết định “chào mừng” chúng tôi nhân dịp lễ Cách Mạng tháng Mười Nga lần thứ 26. và bom. bắt đầu chơi bài Cachiusa bằng đàn hơi. Gần như là một cậu bé. Cánh lính tăng không có cơ hội để nói chuyện với chúng tôi. Đôi tay cậu gầy gò với những ngón thanh mảnh. Ngày 7 tháng 11 năm ấy. tiền duyên quân ta đột ngột chìm trong dòng thác cối . Đồng đội tôi thấy tên Frizt bé con này đáng thương nên cho nó ít bánh mì và một miếng mỡ lợn. nhưng bọn phát xít. schnell… Mein kommen Russ general!” (Tôi đến chỗ tướng Nga… nhanh. chừng 8 hoặc 10 người nhảy xuống từ mỗi chiếc tăng. Tôi chỉ có thể bắt đựơc vài từ mà tôi hiểu: “Musik … ich bin Musik…”.“Guten Tag” (Chào) Cậu ta trả lời và lầm bầm: .“Hitler Kaputt! Stalin gut! Russ Kamerad gut!” (Hitler dỏm! Stalin tốt! Đồng chí Nga tốt!) Lúc đó tên Frizt bé nhỏ trông vui vẻ và rất náo nhiệt. anh em tìm thấy trong chiến hào một tên Đức còn trẻ măng. Khi đến gần những chiếc T-34. Trong đêm đó bảy chiếc T-34 mới tinh đến tuyến giao tranh của chúng tôi. quân địch lại tấn công. là tóc người. thì rốt cuộc quân ta vẫn phải rút lui về vị trí cũ. những con quái vật đen đúa. một nhạc sỹ… Trong lúc đó. tóc đỏ. cậu bé chơi một cây violin tưởng tượng. an toàn và khoẻ mạnh. Mọi người cũng nên nhớ rằng góc nhìn của tôi khá hạn chế – “tầm nhìn từ chiến hào” – và tôi chỉ có thể đoán rằng đó là một ban nhạc quân đội. cầu vai. Thật là một cảnh tượng đáng ngạc nhiên! Tôi không viết tiểu thuyết. khi tái chiếm đoạn hào đó. tôi chỉ mô tả lại chính xác những gì mình thấy tận mắt ở chiến trường. cậu ta cố nài: “Mein kommen Russ general … Schnell. thì vẫn thấy tên Frizt bé con đấy ngồi đúng chỗ cũ! Anh em nói: . chúng tôi cẩn thận lắng nghe và chờ đợi. nhanh… tôi đến chỗ tướng Nga) Vậy chắc là nó muốn nói chuyện với tư lệnh của chúng tôi! Mọi người nhanh chóng gửi hắn về sở chỉ huy. đầu cúi xuống buồn bã. những chiếc tăng của ta chạy về phía quân địch.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Khi trận xung phong đầu tiên của chúng tôi thắng lợi. Trong cả đêm dài. Và chúng tôi quên bẵng đi tên tù nhân mới đó! Nhưng có thể tưởng tượng ra sự ngạc nhiên của chúng tôi. Tiếp tục ra những cử chỉ mau lẹ bằng tay. đeo một đôi mắt kiếng dày cộm (khả năng là cận thị không dưới 6 độ). tụ cùng với những người lính Đức lạ lùng. Dù rằng chúng tôi đã bắn như mưa từ những vũ khí tự động vào chúng. Hàng cột đất thảo nguyên đen ngòm bắn tung lên trời. trộn lẫn với bùn đất và một ít dây điện thoại. Cậu chàng tham lam ngốn lấy rồi lầm rầm điều gì đó bằng tiếng Đức. tôi chùn bước bởi một cảnh tượng tởm lợm: giữa xích xe. phù hiệu chữ thập ngoặc. pháo địch. Cuối cùng. Khi đêm xuống. cả tay tù binh cũng chỉ vẫy tay từ xa. rực 103 . Những người lính Đức. trong những ngày đánh nhau cật lực này. Sáu giờ sáng. Cậu ta ngồi đó. rồi những vụ nổ mới giữ chúng lại trên đó. À thì ra cậu ấy là một tay chơi Violin. Và bằng những ngón tay thanh tú của mình. và một lần nữa anh em lại thấy tên Frizt bé nhỏ ngồi trên chiếc xe dẫn đầu. Họ không có vũ khí trong tay. Dường như trời tối trở lại.“Guten Morgen” (Chào buổi sáng) .

Trong tình hình này. tôi biết đây sẽ là ngày tôi bị thương. những hố bốc khói khắp mọi nơi. Nếu.Chặng đường đỏ từ Stalingrad lửa múa điệu múa chết chóc và ma quỉ trên đầu chúng tôi. và lệnh cho quân Rumania. Bọn Frizt bắt đầu xung phong. có người còn chưa kịp bắn phát súng nào. tôi chuẩn bị cho mình. Tôi chắc rằng đại uý cận vệ Nikolai Kartoshenko. Nhặt ba lô của bọn phát xít bỏ lại. Quân số mỗi đại đội chỉ còn chừng 15 đến 20 người thay vì 100 đến 120 như tiêu chuẩn. ắt bị tử thương nên chạy về phía đó. mọi cỡ súng tự động và súng trường của quân ta lại cất tiếng. Tôi nghẹt thở dưới làn khói cay sè. cảm giác như vừa kết thúc một trận động đất. Tôi cửi ghệt ra. chỉ còn chừng 7 người trang bị súng trường và SMG trong mỗi đại đội. Tôi mừng khi thấy anh còn sống. tôi bị đính đạn súng máy. Tôi ló đầu ra khỏi hố và nhìn ra trông như bề mặt mặt trăng. Hungary. cái này khi bật mặt trên ra sẽ thấy hình phụ nữ khoả thân. tôi lấy ra từ đó (mình sẽ cần nó ở bệnh viện). nhưng anh không nghe thấy gì vì bị choáng pháo. một mẻ giấy viết thư dày và một cây bút “lifetime”. Đột nhiên. Tôi rất muốn chồm tới hôn họ. tôi thấy một nhóm lính phát xít. trông còn tốt. trong khi chờ một sỹ quan được phân công đến từ lực lượng dự trữ của trung đoàn. Từng đợt công kích của quân ta bị đẩy lùi. Nhưng chỉ sau khi có pháo yểm trợ. rồi cậu ta lại hét vào phone. cảm thấy gót trái bị một thứ gì đó như một cú đấm mạnh. Sáng sớm. Khi tôi chạy lên trong một nổ lực ngắn. có thể nhìn trận địa tốt hơn từ trong chiến hào. tiểu đoàn trưởng. sau đó nghe lệnh từ ban tham mưu trung đoàn. Lực lượng bổ sung đến hằng đêm. như thể là bà con rất yêu quí. Trong số thương vong của tiểu đoàn. từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 1943. Nhưng những người còn sống đã báo thù cho họ: qua ống nhòm tôi thấy hàng đống xác địch ngổn ngang trên khu phân tuyến. Khi pháo dứt và máy bay địch cũng bỏ đi. trong khi đó tôi có cơ hội quan sát chiến trường. sau đó nhanh chóng tê đi. bạn thực sự bắt đầu có cảm nhận rằng bạn là người duy nhất còn sống… Dường như lạ lùng. không khoan nhượng nghiến ngấu ăn người. Anh đại uý tiếp tục hét lên với cậu thông tin. Cuộc chiến tàn nhẫn. nhưng đều bị đánh bật lại. Nhưng một phút sau. lại giữ vị trí của họ. có vài đại đội trưởng. Những hàng quân tấn công đầu tiên nằm rạp xuống và bắt đầu bò lui. Bọn phát xít nhận thấy điều đó và chúng quyết định phản công. Bulgari và Nam tư đi lên trước chúng. tân binh từ vùng Poltava chiếm số đông trong sư đoàn. Trong bóng tối. Khi ấy tôi thấy ghen tỵ với người chết. nhưng gót chân tôi vẫn ổn! Tôi mang vào lại và xông lên cho kịp đồng đội! Lúc giữa ngày. Khẩu súng đặt gần đến nỗi tôi có thể trông thấy cái nhìn từ khuôn mặt hiểm ác của tên Frizt. thân thuộc. Tôi ngã xuống. Từ điểm quan sát ở tiểu đoàn bộ. Chúng tôi xông lên hai lần. tôi thấy vài đồng đội cử động. Thị trấn Znamenka còn cách chừng 20km và bọn phát xít làm mọi thứ trong khả năng để làm chậm bước tiến quân ta. Tôi tận mắt thấy công sự nổi chỗ ban chỉ huy tiểu đoàn bị đạn pháo bắn tung. MỘt lần nữa. Lúc đầu tôi sợ hãi bởi ý nghĩ rằng mình là người duy nhất còn sống sót. tôi. Phía sau bị xé từng mảnh. 104 . một bộ dao cạo đóng trong một hộp nhựa nhỏ. nhưng chúng tôi vẫn trụ vững. Nhưng không có thời gian cho việc đó. Chúng ngắm bắn rất khá. nhưng vào ngày 28 tháng 11 năm 1943. nhưng cứ đến chiều hôm sau thì từng đơn vị lại thiếu người. Có thêm hai đợt tấn công nữa trước khi đêm xuống. Chúng tôi bị thiệt hại rất nặng nhưng vẫn chưa đến được Znamenka. Nên cứ mỗi ngày mới. tôi thấy những bóng lửa đỏ tung lên từ những hố đạn pháo. tai điếc đặc rỉ máu và tiếng nổ làm phổi rung lên trong ngực như hai chú chim trong lồng. Nhiều lính bộ binh ta đã hi sinh trong ngày đó. “Bị thương rồi! Mình nên bò xuống hố đạn này và chờ”. thì cuối tháng 11 chỉ còn một dúm những “dân ngô” đó còn lại trong các đơn vị. bí thư đoàn thanh niên tiểu đoàn.

Mắt tôi tìm kiếm ít nhất một viên đạn để hạ tên sĩ quan địch nhô ra từ hố pháo. Tôi phóng nhanh khỏi hào. khi đó quân địch thay đổi ý định và quyết định dừng lại. Với tay này. bởi anh em cạn đạn và thủ pháo. chộp khẩu súng và lăn về lại chỗ nấp. tôi vọt ra lần nữa. dập lên những thân ngô khô. Tôi kéo tiểu đoàn trưởng chú ý vào đơn vị quân Đức đó rồi chạy dọc theo chiến hào để cảnh báo quân ta.phát đầu. hi vọng lấy được ít đạn cho mình. ắt định làm quân ta bất ngờ với cuộc tấn công của chúng ngay khi đại bác vừa dứt. Anh ấy chắn hẳn sẽ lấy được trước. Tôi nhảy ra và chạy bổ về phía anh xuyên qua vùng trống. Hắn quì trên một chân. lù lù trong ruộng ngô đằng trước. Tôi định nhảy ra. . Tôi gửi một thông điệp lên tiểu đoàn trưởng rằng chúng tôi cần ngay đạn dược bổ sung. Anh có hiểu biết to lớn các loại quân cụ khác nhau. nếu cần thiết. Tôi cho rằng chân mình bị đứt ở rất 105 . tôi quay lại nhìn về hướng khẩu súng trường: anh trung uý đã chết. cạnh Znamenka. Mặt khác. Cậu thông tin gọi phone cho tôi rằng lính bổ sung và đạn dược đang trên đường tới. vào ngày 28 tháng 11 năm 1943 – bắn không phải từ một khẩu cối. Ngay sau chiến hào. lính ta. Giá mà tôi có gì đó để bắn! Lần nữa. nhưng chúng tôi phải trụ thêm chừng 2 hoặc 3 mươi phút. chốt lại giữa hai phát súng. anh có thể. Tôi ngắm và bắn. Giờ tôi đã có vũ khí. trong khi chân trái của mình thì bay sang hướng khác. mà là từ một khẩu SVT. Quân Nazi bị ép dính vào mặt đất. Tôi thấy mình bay lên khỏi mặt đất và ném ra một bên. mọi người ở trung đoàn bộ được huy động để hỗ trợ chúng tôi: mỗi người ở sở chỉ huy được lệnh vác đạn dược xuống. thượng sỹ Nosov có bằng thạc sỹ luật và giữ vị trí trong Đảng Cộng Sản. Tên sĩ quan tiếp tục vẫy lính tiến lên. Lính bộ binh Nazi tiến lên một chút. lưng đưa ra trước mặt tôi. Tôi không biết rằng với tôi.Chặng đường đỏ từ Stalingrad trang bị tiểu liên. gần Kletskaia vào ngày 6 tháng 11 năm 1942. Trong ngày đó. Tôi ngắm lên là bắn. tiến đến gần chiến hào. Chúng tôi đã gần hết đạn. Chúng tôi khai hoả vào địch và ném lựu đạn. mình sẽ không uổng phí viên đạn sau cùng. có một khẩu súng trường đã mở sẵn khoá nòng và còn đạn trong ổ. Thật đúng lúc! Tôi vẫy anh nhưng anh không thấy tôi. Anh ấy làm công tác văn phòng rất tuyệt! Đó chính là Nosov. dễ dàng sử dụng đại liên. họ đến rồi. Tôi không hề nhận thức rằng đó là phát súng sau cùng của tôi trong chiến tranh. Một sĩ quan chuẩn mực. người được chính uỷ giao giải thích cho tôi về nhiệm vụ của một bí thư đoàn thanh niên tiểu đoàn 4 tháng trước. Hắn chắc chắn không phải là lính trơn. súng chống tăng. Giờ ngay cạnh tầm đại bác của chính bọn chúng. Ngay lúc đó. Tôi quay lại và thấy tên sĩ quan Đức ở hố pháo kế tiếp rất gần chúng tôi. chạy về hướng tôi với một chiếc thùng trên vai! Nosov luôn đi cùng với chính uỷ Yegorov. Lực lượng tăng viện đâu? Kìa. Thân hình hắn đột ngột chìm xuống và biến mất trong hố đạn pháo. lắc đầu. nhưng rồi thấy trung uý Ivan Yakovlev đang bò về phía khẩu súng. Tôi thấy thư ký ban tham mưu. Một tên Đức khác. và được pháo bắn che. chiến đấu qua bốn mặt trận trong cuộc chiến tranh Vệ Quốc Vĩ Đại. e ngại trận bão lửa. không thể ló mũi ra để nhìn địch. một pháo thủ cối. và phát chót. Ngồi đó mà không vũ khí là tự sát. Vẫn còn một viên đạn nữa trong khẩu súng trường: “Đây chắc là viên cuối của mình”. Thân hình đen ngòm của tên phát xít loạng choạng và ngã sóng soài trên đất. Hai hay ba mươi phút? Quá dài! Dường như đó là lần đầu tiên trong đời tôi ước pháo bắn chuẩn bị của địch nên tiếp tục thêm. Trận pháo kích sẽ kết thúc bất kỳ lúc nào và bọn Đức sẽ xông lên chiến hào của quân ta ngay. có một tiếng nổ điếc tai như sấm ngay sau tôi. thượng sỹ Nosov. Trong khi đó. đang vẫy lính của hắn tiến lên. vung tay một cách bồn chồn.

Tôi thật may mắn khi thấy bạn tôi. cùng với Tarasov. cả hai đến được “vùng chết”.Tôi tuột mất chiếc ủng trái ở đâu và khi nào không biết. thì chân bạn treo lủng lẳng như một miếng giẻ. Không ai trong tầm mắt. tôi nằm trên chiếc “giường” này. Mi sẽ bị mất máu đến chết thôi. tôi có thể thấy mình ở hậu tuyến quân Đức. Tôi ngồi xuống trong khi Tarasov đứng cạnh. chạy tiếp ra con lộ: “Có chiếc ô tô hoặc xe ngựa nào đó sẽ đón mình lên” Ống quần trái tôi ướt nhẹp và dính dáp. Còn tại lúc ấy. và nếu chúng tổn thương. Mansur. Nhưng lúc này. khi đã đến bệnh viện. Sau cùng chúng tôi nghe thấy tiếng ngựa khịt mũi và tiếng bánh xe cót két. Tôi hét lên với và anh nhào bẹp xuống cạnh tôi. ném vài bó rơm lên thành một kiểu nệm dày. tôi sẽ nhanh chóng yếu đi vì mất máu. Một mảnh đạn đại bác trúng vào tay trái của anh. Con đường đây rồi. nhưng nó còn đó! Nhưng cái quái gì mà tại sao chân mình không thể nhúc nhích? Thì ra một mảnh đạn pháo đã cắt đứt dây thần kinh vận động ở hông trái. chạy ù qua mặt. đạn vẫn nổ rền vang quanh chúng tôi. Chúng tôi bị nhồi như những khúc gỗ. tôi nhận ra ngay chân mình! Nó đây! Hông tôi trơn tuột. Cuối cùng. cùng với một bên mông. tôi chỉ hãi nhất là mình bị bọn Đức bắt sống. đầy máu. nhưng phải cố chịu đựng. Ngay cả ruột cũng không giữ được. Chân tôi tê liệt hoàn toàn. cả hai chân anh trông vẫn ngon lành. Nó thật nặng. trúng đâu? Chân à? Đứng dậy đi. nhưng chúng tôi phải chạy ở tốc độ cao. Khi đến sông thì trời đã tối. Con đường trong tình trạng tệ hại. tôi nằm trên đất. trung uý Aleksei Tarasov.Chặng đường đỏ từ Stalingrad cao. để tránh bị bom. vài suy nghĩ lướt qua như chớp trong đầu: “Mi không thể dùng ga rô được. Chúng tôi không còn sợ những cú lắc hoang dại này mà chỉ 106 . Nếu tôi không đến trạm phẫu nhanh. Lúc đó chỉ một suy nghĩ làm tôi bận lòng: nếu cuộc tấn công của quân địch thành công. Chúng tôi gần hết hi vọng. Dường như không thể tin được là tôi có cơ hội gặp lại bác và một lần nữa. Còn thương binh thì đi về hướng ngược lại bằng thuyền. rồi chạy xa con sông Dnieper cành xa càng tốt. Bác cũng nhận ra tôi và chúng tôi ôm hôn nhau như người một nhà. Mình chết thôi. Con người có những dây thần kinh vận động đó. Tôi cố cầm máu bằng ga rô nhưng vô hiệu bởi trên phần mông bị thương là phần bụng. chiến tranh. Anh tài xế cố qua được càng nhiều cây số càng tốt. vậy đó. chiếc xe tải chở chúng tôi lên đường và băng băng về phía đông. Lúc chạm đất. Một cỗ xe ngựa vận tải. Bởi ban ngày. mi không thể bị thương một cách đúng đắn sao!”. Sau đó tôi mới biết như vậy. Khi tôi rơi xuống. cạnh một hố đạn pháo khổng lồ nghi ngút khói. to đủ để giấu cả một bếp ăn dã chiến. Chiếc cầu phao chỉ dành cho dòng di chuyển từ bờ trái sang bờ phải. Tôi đã không thể không nhớ lại anh lính gần Stalingrad đã tự cắt chân mình như thể là một thứ gánh nặng không cần thiết. Cậu trung uý cố động viên tôi: “Đừng lo. Vài chiếc xe tải đợi chúng tôi ở phía tả ngạn. Ôi Mansur. trong khi chiếc xe ngựa phóng nhanh về phía sông Dnieper. Cánh tài xế nôn nóng chờ chất lên và đi trước bình minh. sàn xe phủ đầy rơm. Cỗ xe dừng lại và tôi nghe thấy bên tai một giọng nói quen thuộc: thì ra người đánh xe là bác Moiseev. một con ngựa lại cứu mạng tôi. ủng trái chứa đầy máu. không quân phát xít ném bom vào hậu phương ta. Ba chân là đủ cho cả hai thằng mình! Chúng ta phải ra khỏi đây thật nhanh khi vẫn còn sống!"” Thế là cả hai cùng nhau chạy về phía sau. gần xương chậu. Tớ sẽ không rời cậu”. đầy vết lún và lỗ đạn pháo. Ở đó tôi từ biệt bác Moiseev và không bao giờ còn gặp lại được bác. sau khi nghỉ một lát. bạn đồng hành ở lần vượt sông Vorskla. Và thế là tôi bắt đầu bò đi. “Ừ. Không phải chỉ một mẩu nhỏ chân trái bị đứt. Bác Moiseev dỡ đồ xuống xe. lê theo chiếc chân trái bất động. Sau cùng.

Tất cả cư dân địa phương. tôi tạo nên một hình ảnh. quan trọng nhất là tôi không vùng vẫy. không yêu cầu phải hội chẩn nhiều. phụ nữ và trẻ em. lồng lên. ai có thể làm việc được. rồi vết thương được băng lại với một miếng băng rộng. Tôi không nhớ số bệnh viện. Nếu tôi có la lên thì nó sẽ bóp nghẹt tiếng động. Trong lều. Nó được tổ chức với sự giúp đỡ của dân địa phương – phụ lão. Trong tưởng tượng. như vậy mỗi binh sỹ giờ đây trông như một đứa bé: sạch sẽ. cố tìm để lấy mảnh đạn lặn sâu bên trong. Với ông. chăm sóc cẩn thận và được ăn no. Anh em ráng chịu đựng. Một y tá nhanh chóng khám tôi và bảo vài cậu tải thương mặt-béo cáng tôi đến bàn phẫu thuật. Tôi lại được đặt về cáng thương cùng tư thế nên không thể liếc nhìn cô gái. nhưng cậu sẽ sống. Vị bác sỹ cũng không làm gì để tôi bớt hét. Máu dính cả trên nón. hơn hàng trăm lần khi xung phong. ở làng này giữa Poltava và Kremenchug. và giờ anh phải chất đạn lên xe và chạy trở lại Dnieper. bởi tôi nằm úp mặt. lấm tấm máu. chúng tôi lại được đưa lên xe và chuyển về bệnh viện tiền phương. cái mà ông sẽ mổ. Những tiếng hét xé tai của tôi không là vấn đề. Chúng tôi được đặt lên cáng và đưa xuống đất. Hãy nằm yên để tôi làm việc nhé! Hiểu không?” Tôi nằm và nghĩ rằng bác sỹ phẫu thuật nói đúng: cái mông thì có gì đặc biệt đâu? Chỉ là một chỗ mềm mềm trên cơ thể thôi. Dường như vị bác sỹ không cắt mà xé.“Sẽ đau đấy. lượn vòng. Rồi tôi nghe tiếng loảng xoảng của mảnh đạn rơi vào trong chậu. Thế là kết thúc cuộc phẫu thuật. Anh lái xe ngừng lại chút xíu để kiểm tra xem mọi người thế nào: . Tôi gào cho đến lúc bị mất giọng. Tất cả mọi thần kinh cảm xúc trên cơ thể tội nghiệp của tôi cảm nhận thấy bàn tay một cô gái trẻ. Nó thể bị cắt mà không có nguy hiểm cho tính mệnh bệnh nhân dù rằng: . đặt tại trung tâm hành chính địa phương. Họ tắm rửa sạch sẽ. Chúng tôi đến được tiểu đoàn phẫu. Tôi được đặt nằm úp mặt lên bàn. mà chặt tôi ra thành từng mảnh. bạn sẽ làm mình dũng cảm hơn và địch sợ hãi hơn. Tất cả anh em đến đây đều hết sức bẩn thỉu. từ cái đụng chạm của những ngón tay xa lạ. Cũng là vì an toàn của anh em” Rồi chiếc xe tải lại phóng tới. Vị bác sỹ phẫu đứng đó. tôi gào để giảm cái đau ghê gớm trong thân thể đang bị bác sỹ rạch bằng dao. Còn giờ đây. Bác sỹ phẫu thuật cố an ủi tôi bằng cách bảo rằng mông tôi. râu tóc lu bù. Anh lái xe chào từ biệt. ngồi hoặc nằm chờ phẫu thuật. đến để giúp thực hiện các việc khó khăn. Bác sỹ phẫu thuật báo rằng sẽ không có gây tê. tiếng thương binh gào nghe rất to. làng Novye Sanzhary. một hình ảnh rực rỡ của một cô gái tóc vàng xinh đẹp. nhưng tôi có thể hồi tưởng lại lần đầu đến nhà tắm hơi (bania). Tôi hét lên như thú. Khi ấy.Chặng đường đỏ từ Stalingrad mong đến được trạm phẫu tiểu đoàn càng sớm càng tốt. Cơn đau bùng lên tới mức cao nhất. Lúc chiến tranh. Tôi không nhìn thấy cô. Mọi người sẽ phải chịu đau. cắt tóc tai và cạo râu. Đôi bàn tay ông khoẻ mạnh trông như là của một thợ mỏ hay một pháo thủ. trong chiếc áo blu trắng. Khi đó có những cú chích như muỗi cắn từ kim khâu. trên khẩu trang và cả trước ngực ông. mọi người hiểu nhau mà không cần lời nói. nhưng ta phải vượt qua chừng 150 cây số trước lúc trời sáng. Cạnh một chiếc lều khổng lồ là hàng trăm thương binh. Lúc căng lồng ngực thét vang. chúng tôi hét để xua tan nổi sợ của mình và làm kinh hoàng quân địch. người đầu tiên chạm vào trái tim mình. chân và tay nhanh chóng bị trói chặt vào đó bằng băng. Sau đó. tôi vùi đầu sâu thật sâu vào đống nệm len. 107 . Đến sáng. cực nhọc là tắm rửa cho thương binh tiền tuyến.“Cố lên anh em! Mình biết là ngồi ở đằng sau cực ghê lắm.

chà xà bông. làm bắn bọt ra và tiếp tục nhìn ngắm. Từ đâu nhỉ? Có phải từ dòng Vorkla? Từ đó những người trẻ. Đúng là hạnh phúc! Ngay cả khi mất một chân. Anh ấy cảm thấy quá tuyệt! Có cơ hội nhìn rõ tất cả chị em. Có những phụ nữ. những bếp lớn đun nước trong những chiếc ấm to hoặc trong những thùng sắt. Anh em nhìn những người phụ nữ chung quanh. hoàn toàn thoả mãn! Ngay cả xà bông cũng không làm anh ta nhắm mắt. nhưng cánh lính thì cố hỏi han với nước mắt trên mi để được tắm táp lâu hơn một chút. phụ lão và những cô gái bận rộn làm việc bên cạnh: họ không chút xấu hổ chà xà bông lên các cơ thể bằng những miếng xơ lớn và tiếp tục chà xát. Nhưng tôi vẫn chiêm ngưỡng tất cả và trí tưởng tượng hình dung nốt những gì không nhìn thấy. băng ghế. Những người phụ nữ rất hối hả: tắm. mọi người có thể chiêm ngưỡng thân hình xinh đẹp của các bạn. Nhưng qua lớp xút cay xè. Ôi những phụ nữ yêu quí của tôi. Và lính ta thì chỉ nằm đó trong niềm hạnh phúc. Trông như của một em bé. anh em vẫn thích thú ngắm những hình dáng phụ nữ. úp mặt xuống. với bania. Nhưng lính ta lúc lắc đầu. ngọt ngào của chúng tôi” họ lầm rầm trong miệng. nên xà bông chả ảnh hưởng gì. trên băng ghế. Rồi được mang vào trong. thiết tha. dù rằng chân chỉ còn một mẩu. nghe như một kiểu cầu nguyện vui vẻ. ướt. ở đó thương binh trần trụi nằm như nhộng. Chị em dội nước để trôi xà phòng trên mặt anh em: “Đừng mở mắt!”. và rồi mỉm cười. Đây là đôi chân của một phụ nữ trẻ. Còn các cô gái. Khắp mọi nơi trong phòng. mà là một kiểu văn phòng hay trường học chi đó. Nhưng anh ta vui vì còn được sống. bụ bẫm. cọ xát. “Ôi. MỌi người mang thật nhiều nước đến. Đó là một anh chàng đẹp trai dưới 40 tuổi. Vì vài lý do mà chỉ có các cụ bà ở quanh cậu chàng. Cơ thể họ rất khao khát được tiếp xúc với xà bông. Họ muốn làm xong càng nhanh càng tốt. đậm mùi. là bàn. cả trước lẫn sau này. nên tất cả những gì tôi có thể thấy là những đôi chân trần. các chị em thật xinh đẹp và ngọt ngào với chúng tôi ở bania tại Novye Sanzhary! Không ai trong các chị em là không xinh! Ai cũng dễ thương! Tất cả mọi người! Các bạn mặc áo dài trắng của bệnh viện. Nọ là đôi chân khác.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Chỗ đó thật ra không hẳn là một bania. với nước. Vài người không được thấy gương mặt phái nữ đã hai năm nay rồi! Chị em bắt đầu xoa xà bông lên đầu thương binh. vệ sinh. vui vì phụ nữ chạy trốn anh. Giá mà tôi có thể nhìn cô ấy một tý! Nhưng nằm úp bụng nên tôi không thể. như một cậu bé. họ di chuyển trông như một đàn kiến. Cậu chàng bảo là cậu không sợ xút. Anh em không biết phản ứng thế nào – vì cơn đau của vết thương hoặc vì nhột do bị cù bởi miếng xơ mướp và bàn tay nữ giới. Và trong sân. Nhưng cô ấy trông thế nào nhỉ? Chắc chắn là một người rất tốt. Tôi quá không may rồi! Đến khi bị thương thì lại trúng chỗ không đúng đắn! Những gì tôi có thể làm là nhìn vào sàn nhà. dù rằng vết thương đau nhức. Một chân bị mất và tay thì còn băng kín. Họ chạy đi cùng những tiếng cười vui vẻ và lanh lảnh! Cậu ta thì cười đến tận mang tai. đi lại như lướt. Qua làn vải mỏng. Tôi có thể phát biểu một cách tin tưởng rằng: những người phụ nữ tuyệt vời nhất đã – và đang sống – ở Novye Sanzhary! Và các bạn đã phủ mắt anh em tôi bằng xà bông nên chúng tôi không thể nhìn! Tôi nằm đó. để cánh ta không thể nhìn họ với những cặp mắt van nài. Anh lính không rầu chút nào vì các cô gái chạy mất: 108 . người lính vẫn vui. các phụ nữ trẻ chạy biến cả. Người phụ nữ đó hẳng chừng 30 xuân xanh. Có một người lính nằm ngửa không xa tôi. những đồng chí thân mếm! Những chàng lính tốt đẹp. Còn các cụ thì sao? Các cụ cũng vui vì ít ra cũng còn có Chúa hiện hữu: Người đã cứu gã đàn ông mạnh khoẻ này và từ đó có thể có được những đứa con xinh xẻo. khoẻ mang nước bằng thùng và đòn gánh. nơi những chiếc lò sắt đang làm nóng không khí. và giường phủ khăn trắng. Còn kia thuộc về một cô gái trạc tuổi tôi. Tôi chưa từng thấy gì đẹp như thế.

Ba mươi lăm năm sau ngày chiến thắng. Anh ấy sẽ kể cho cậu nếu cậu không tin tớ”. Trí nhớ tôi còn cường kiện. bằng tiếng Ukraini: “Hãy hỏi bí thư chúng tớ về “hòn đảo tử thần” đi. Vasili trông hốc hác nhưng giọng nói nghe còn khoẻ khắn lắm. Mình có đủ thời gian để hoàn thành cuốn sách này không? Vasili Shamrai có còn đủ thời gian để đọc nó không? Anh ấy luôn phàn nàn về vấn đề tim mạch: “Như thể có cái dùi đâm xuyên trong đó vậy!” 109 . Cái đói dựng tôi dậy. Tay xạ thủ đại liên Vasili Shamrai là người đầu tiên gặp tôi. để kể lại câu chuyện của chúng tôi. mùi và tất cả những thứ tôi đã nghĩ tại thời khắc đó. từ phát súng đầu tiên gần Kletskaia đến lúc kết thúc trong các bệnh viện. Hoặc ngày tháng bị sai biệt. các toà nhà trong bệnh viện ngõ hầu tìm ra ai đó từ trung đoàn hay tiểu đoàn mình. Sau cùng. Cuộc sống vẫn tiếp tục! Tôi nằm đó và nghĩ… Họ tắm rửa tôi sạch sẽ. mong có đồng đội nào đó sẽ làm điều đó. Rồi khi đã ngủ đủ. Tôi rất vội. Tôi không chắc rằng nó có kết quả. Tôi ăn. Thật ra. xoay vòng trên giường của mình. Tôi đã xoay sở như vậy. Nhưng cả trước và sau chiến tranh. bạn hồi phục mọi thứ thành công. đó là bí thư đoàn chúng tớ! Chúa ơi. làm việc ở các mỏ khác nhau. Tôi cũng nghĩ: giá mà có tác giả nào đó ở vị trí của tôi! Cả một kho nguyên liệu quí! Tôi đã nhìn thấy quanh mình vô số những điều kỳ diệu cả tốt lẫn xấu. trong lần gặp kế tại Kremenchug vào tháng 12 năm 1981. Và cũng bắt đầu đi thăm các khu bệnh khác. Bạn tôi. Tôi ngủ xuốt 24 tiếng. Nhưng mọi thứ bạn diễn tả. Nhưng tôi không dám hé lộ bí mật của mình: tôi bắt đầu viết một quyển sách về anh em lính cận vệ chúng tôi. hỏi tôi lần nữa: “Vẫn chưa có ai viết phải không?”. Cậu ta mang 3 huy chương trên áo và phô ra. chính xác nơi chốn và thời điểm xảy ra. khu sỹ quan. Nhưng anh đã hi sinh. có thể viết được một quyển sách về chúng tôi. Cậu mất một chân. Khi đó bạn phải nghiên cứu cẩn thận bản đồ chi tiết hoặc viết cho bạn bè để nhắc lại. tôi không gặp được nhà văn nào. chìm đắm trong cảm giác hạnh phúc mà tôi chưa bao giờ có. đó là bí thư đoàn chúng tớ!”. Bản thân tôi cũng đợi một thời gian dài. đó cũng là một phần không thế thiếu của cuộc chiến. tôi chỉ ngủ mà không có mơ mộng chút gì. chưa có ai”. Tôi muốn đưa chúng cho một cây bút thực thụ. Tôi chỉ có thể an ủi cậu rằng sau chiến tranh. các cậu. tràn ngập tâm hồn tôi. Cậu chàng la lên hoan hỉ: “Bí thư! Bí thư đoàn chúng ta! Này. bạn hồi tưởng lại lần nữa: như vậy tim tôi lại bắt đầu nhức nhối. Tôi yêu và đã được yêu! Những ấn tượng mà không ai biết ngoài tôi. Tôi đến thăm người bạn này mỗi ngày. Anh tên là Edward Bartashevich. sẽ có ai đó hẳng sẽ viết về hòn đảo của chúng tôi cũng như về những trận đánh đẫm máu của quân ta. Sau khi từ bania ra. tôi đã thấy nhiều thứ đẹp đẽ phi thường. Mặc đồ lót. Thật khó chiều! Tôi có thể nhớ từng chi tiết vài sự kiện. nhớ cả tiếng động. Tôi có biết một tay lính cối ở tiểu đoàn. Tôi sợ nói trước bước không qua.Chặng đường đỏ từ Stalingrad “Bây giờ họ chạy đi! Nhưng hãy chờ đến khi vết thương tớ khỏi hẳn xem! Họ sẽ bổ lại ngay ấy mà! Dù tớ chẳng gọi tí nào”. Tôi đã sống và có kinh nghiệm trong cả chiến tranh và nghề mỏ. tôi bắt đầu tập đi bằng nạng. Anh mỉm cười. Tôi cố thử mọi thứ. rồi lại ngủ nữa. áo và quần mới cho tôi. Vasili chỉ buồn một nỗi về việc anh ta tiếc rằng không có một cây bút nào có thể mô tả lại những gì thực sự diễn ra trên “Hòn đảo tử thần”. Tôi đã đợi quá lâu rồi. tôi gặp lại Vasili Shamrai và cậu ta hỏi tôi: “Đã có ai viết về Hòn đảo tử thần chưa?” “Chưa. Nhưng tôi không thể nhớ nổi địa danh đó! Hoặc là tôi đọc sai nó. Shamrai thường nói với người bên cạnh. Rồi tôi được mang đến bệnh viện. trí nhớ là một thứ gì đó lạ thường. Một con mèo đeo chuông thì không thể bắt được dù chỉ một con chuột ngu xuẩn nhất. đến từ Omsk. Chỉ vào tôi. Trong cả hai tuần đầu. vì tôi mới được phong hàm thiếu uý. những ai mà tôi có thể nói chuyện riêng và thích thú tìm hiểu về quá khứ của tôi. Vasili Shamrai. tôi ngủ say như chết. Tôi hiểu ý của anh.

Tôi thấy góc áo dài của cô và cả bàn tay cô mà tôi đang xiết chặt. Vết thương của tôi thường được băng bởi một cô gái tên là Alla.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Tôi không nằm nhiều ở bệnh viện dã chiến tại Novye Sanzhary. rồi dịu dàng bào tôi đừng vặn vẹo. tế nhị nhất. tôi ước mình có thể duỗi người ra. nhưng những phụ nữ này thật láu cá! Giọng nói dịu dàng của họ – “Anh thương binh à. Bác sỹ phẫu nhìn thân hình thợ mỏ của tôi và ra lệnh: “Chuẩn bị thuốc tê cột sống!”. bị thương vào đầu gối. không thể nhấc nổi cái đầu nặng nề. Nhưng anh bị thương trước chiến dịch “Hòn đảo tử thần” nên không biết bạn tôi Alex Kolesnikov. nhiều nhất mà mình có thể. Tôi được đưa đến một khu có 17 giường bệnh. Nhưng tôi không dám nhìn cô lấy một cái. Pavlovo-on-Oka nằm tận sâu trong nội địa nước ta. Không chỉ có chiến tranh. Tôi nằm bất động. Đúng vậy. Một trong số đó dành cho tôi. Sau khi xong. Cô ấy yêu cậu!” Mọi người trong phòng ghen tỵ vì Alla quan tâm tôi nhiều hơn người khác. tôi vẫn bất động. Nhưng cậu vẫn sống. Nửa giờ sau. tôi sợ rằng cô có thể chú ý thấy sự kích động của mình và sẽ bỏ đi mà không giúp tôi. Alla. Sao mà cậu cứng quá vậy? Cô ấy là cô gái đẹp nhất. Mansur à. Chỉ một tháng. tôi quay nằm một bên. nghe tiếng động chúng tôi gây ra. Thì ra vẫn còn một mảnh đạn nữa. như thể không nhận thấy gì. chậm rãi băng lại vết thương cho tôi. đây là vì anh thôi mà” – thật sự đã an ủi tôi và tôi sẵn sàng vượt qua mọi thứ. dù chỉ một lúc ngắn thôi. thầm thì với tôi: “Ở chỗ cậu. những đồng đội tôi ngồi yên lặng hàng phút sau mỗi lần như vậy. nhưng tôi không có quen với họ. Có bao nhiêu giọt nước mắt bí mật đã rơi trong căn phòng đó. Cũng có hai người trong khu này là từ sư đoàn tôi. Thật khó cho tôi khi ngồi ở vị trí như vậy. Thấp và thấp hơn nữa! Tôi gập đôi người lại. những y tá kinh hãi bổ vào phòng. Một đồng đội khác đến từ sư 13 thuộc quân đoàn 32 chúng tôi. Alla cũng gần đó. giở chăn ra. hay thậm chí vào đầu. khi tôi giấu mặt vào trong gối! Rồi lại có vấn đề mới. Chúng tôi tốn hàng giờ để ngồi hồi tưởng. giúp lẫn nhau bằng mọi cách có thể. Tôi ước gì mình bị bắn vào tay. mềm mại và cũng lấm tấm tàn nhang. vào chân. Tôi để lại câu chuyện hòn đảo đó vài lần. Phía sau đầu. nhưng tim đập mạnh như trống làng. Tôi sợ ánh mắt của cô gái nhưng đồng thời tôi cũng bị hấp dẫn bởi chúng đến nỗi mà tôi đã khóc trong nỗi tuyệt vọng. Alla đẩy tôi lên phòng phẫu thuật. giúp nhau ngồi bô và giúp nhau tập đi. Một chuyến tàu đưa tôi đến quân y viện ở Pavlovo-on-Oka. Vết thương của tôi chảy máu trở lại. lúc đó tôi tự bảo mình: “Hai quả đạn pháo chả bao giờ lần lượt bắn trúng cùng một chỗ”. Cô biết băng của tôi luôn bị tuột. nếu bạn không cố liều mạng! Giường tôi nằm trong góc. Chúng tôi sống cùng nhau như một gia đình. Tôi cũng chắc rằng thật không thể chết bởi vết thương mình đang mang. Vài ngày sau. Dây thần kinh vận động hông của tôi không nối lại được và chân tôi vẫn không nhúc nhích được. Cạnh là một anh người Azerbaijan tên là Yaroliyev. Chúng tôi giúp nhau ăn. Bởi vì vị trí mà tôi bị thương. Cô có mái tóc đỏ rực và đôi mắt xanh to cùng hàng mi như cánh bướm. Tôi thấy Yaroliyev. Tay cô trắng. Thỉnh thoảng. Đáng buồn là cô phải cùng chịu đựng (với tôi)! Tôi nghe có 110 . Tàn nhanh vàng vàng phủ lên gương mặt trắng trẻo. Họ dùng băng để trói chặt tôi ở vị trí này và đồng thời dùng thân mình họ ép vào tôi. Cô y tá bảo tôi cúi gập xuống càng sâu càng tốt. Dù tin dị đoạn. tôi cảm thấy xấu hổ vì tôi quá nhạy cảm. lặng lẽ rời đi. Rồi cô phủ lại cho tôi. Dĩ nhiên. Người nằm trước đó đã chết sau một cuộc phẫu thuật nghiêm trọng. cô đến bên giường tôi. váng vất sốt. Sáng và tối. tôi có thể cảm nhận được gương mặt xinh đẹp của cô quay lại nhìn tôi. tớ thèm muốn chết ngay.

tôi chỉ có thể ngủ được khi trời rạng sáng. Mình nên chọn ai? Tôi yêu cả hai cô! Tim tôi đập dữ dội và muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Giờ đây. chúng ta đã khác biệt nhiều những người tiền sử đó. Tôi nhớ cái cách ở trạm phẫu tiểu đoàn lúc họ lấy một mảnh đạn ra khỏi mông tôi mà không có thuốc tê. tôi thấy một cô gái trẻ trong số những người đến thăm. Rồi cô trở lại lần nữa để cột lại băng cho tôi. chúng ta loài người. thêm vào đó là làn da cô trắng lạ thường và mịn. Chúng tôi cố an ủi họ hết mức. sống trong hang động và ăn thịt sống từ thú hoang. Dường như cô ấy cũng hiểu và cảm thấy tương tự. Tôi thật khốn khổ! Tôi thấy bình tĩnh một chút khi chợt nhớ rằng mình chưa nói với ai trong số hai cô về tình cảm của mình. Bạn cùng phòng tôi bảo rằng đôi mắt xanh của cô còn sâu thẳm hơn cả mắt Alla. chồng và con của họ cũng đã hi sinh ngoài chiến trường. Họ kể chúng tôi nghe về những điều hạnh phúc trong cuộc sống của họ. đựơc làm đặc biệt từ bàn tay con người để giết người khác. đã quyết định ở lại Pavlovo-on-Oka. hoặc như chúng tôi. Cô kiểm tra nhiệt độ mỗi người. với mái tóc nâu đã khuấy động tính hiếu kỳ của mọi người. Có thể vì vậy mà nó lặn vào sâu hơn. Tôi nhìn cô và gửi gắm trong ánh mắt rằng cô là người tôi chọn cho cả cuộc đời mình. và biết rằng thân nhân của họ cũng được thăm viếng tương tự như vậy bởi cư dân địa phương ở nơi nào đó. Trông như cô gái này. thế mà ở đây tôi đang chọn lựa cô nào! “Mi điên thật. Dường như muốn hỏi 111 . Họ thường mang thứ gì đó đến cho chúng tôi ăn. Tôi nằm đó trong im lặng và ghen tức khi nghe những lời đó. thì nó trông khá bé. Nhưng chỗ mũi tiêm xương sống thì đau kinh khủng. Rồi đến một lần. những rủi ro. nằm trị thương trong những bệnh viện. không sáng chói mà mờ mờ và mềm mại. Nhiều anh đã cưới vợ và sống hạnh phúc ở đó. Những con người thông thái. Đó là những gì thượng uý Cận vệ Peter Vasiliyev. bị giết bởi một mảnh sắt tương tự. Ở trạm phẫu thì tôi không thấy cái mảnh đạn đầu. có lẽ trong ngày đó – cô sẽ dứt khoát đến gặp tôi vào lần sau. Alla nhìn thẳng vào mắt tôi. cũng như những vấn để. Lúc đêm xuống. Nhưng tuy thế. Vài anh lính trong bọn tôi. văn minh cân nhắc kỹ lưỡng về nó: thiết kế tốt nhất là gì để có thể đâm xuyên vào sâu hơn? Vâng. Tôi chắc rằng – nếu không. cô liếc nhìn tôi vài lần. Thật là một thứ lạ lùng: nó được phát minh và chế tạo trong những nhà máy với mục tiêu đơn giản: xé thịt người. bí thư đảng bộ tiểu đoàn. Cha. Họ cũng cố tổ chức kết hợp cho chúng tôi. nói với anh em binh sĩ trong ngày cuối cùng của cuộc đời anh. hàng triệu năm trước. Trong vài triệu năm chúng ta đã thay đổi chỉ nhiều như vậy. Còn mảnh này. Có thể họ chẳng ai thích tôi. đến từ đâu và đã có gia đình chưa. Alla trông u buồn khi cô vào phòng chúng tôi buổi sáng hôm ấy. Cô sắp đi nhưng không thể kiềm lại để nói với tôi rằng một cô gái trong số những người đến thăm đã hỏi tôi là ai. Tim tôi như chìm xuống và rung động dữ dội. Mansur à” tôi tự bảo. Hai gương mặt hiện lên trong đầu tôi: Alla và cô gái đó. Đó là một thị trấn nhỏ. Tôi nhìn nó rõ ràng: một mảnh kim loại nhỏ gọi là “đạn pháo”. Anh chết với niềm tin này. Phụ nữ và trẻ em ở Pavlovo-on-Oka đến thăm chúng tôi mỗi tuần. Anh có thể tin rằng trong tương lai chúng ta sẽ tốt hơn. Tôi không biết cái nào tệ hơn: lúc đó hay bây giờ? Rồi tôi không còn thấy đau nữa. ấm cúng và sạch sẽ. Có rất nhiều công việc cho mọi người. ghi lại rồi đi ra mà không thèm nhìn tôi. nên chúng tôi không thấy cô đơn. có một cuộc tranh luận khá nóng giữa các anh em. Khi ngồi trong phòng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad tiếng rắc rắc khi họ chọc một mũi kim lớn vào giữa hai đốt sống lưng tôi và phần thân dưới bắt đầu tê đi. không thể tiếp tục phục vụ vì lí do sức khoẻ.

còn Liudmila thì ở đợi bên ngoài cửa. em nháy mắt và cười với tôi. ở đây. Rồi một lần nữa. người thường yên lặng lắng nghe các trận tranh luận. Bác sỹ trưởng khoa giải thích: “Chúng tôi phải nối dây thần kinh của cậu lại. thiệt khó khăn cho tôi lúc đó. Liudmila phải dừng lại ở hành lang. về con sông. Yaroliyev ghen tỵ với tôi. Một lần nữa tôi lại được mang đến phòng phẫu thuật.“Chào anh Mansur! Tên em là Liudmila. Thế rồi cô lặng lẽ đi ra. Bằng giọng thấp. Chào tạm biệt. Em cười. đầu hoặc ngực tôi. “Cô ta không thể làm một người vợ. trong khi tôi sẵn lòng đóng vai bệnh nhân cả 24 giờ một ngày. Tôi không biết phải làm gì. mắt cô gắn chặt vào tôi. họ trói tôi. Các câu chuyện mà cánh “Máy bay bổ nhào” nói ra thì toàn bịa ít 112 . Cậu ấy đưa ngón cái lên chót mũi khoằm. Tôi không tin vào tai mình! Tôi chỉ biết lắng nghe và chớp mắt một cách ngu ngốc. Cùng lúc cô gái tóc nâu bước vào. Liudmila kể cho tôi nghe về cô. Còn tệ hơn ở chiến trường! Sao tôi lại gặp Alla trước rồi mới đến cô gái kia? Sao cô ấy không xuất hiện sớm hơn? Cô có thể sẽ là tình yêu đích thật duy nhất của tôi và tôi sẽ không cần thêm ai khác. Và kể từ thời điểm đó về sau tôi lo rằng sẽ mất Liudmila! Bạn cùng phòng chùng xuống khi thấy việc gì đã xảy ra. một tay Azerbaijan. Đầu tôi quay cuồng. Em đến thăm tôi mỗi ngày. trừ người bạn nằm cạnh. ở phòng hậu cần. Đó. Một tuần nữa trôi đi và ngày thăm hỏi lại đến. đè lên người tôi. Em băng bó tay. Có một chút trầm trong quan hệ giữa tôi và bạn chung phòng. Cô ấy đẹp quá”.Chặng đường đỏ từ Stalingrad điều gì đó. Lúc đầu họ không thể tiêm đúng chỗ nên phải chọc kim vào lưng tôi vài lần trước khi phần thân dưới tôi tê đi. Tôi không thể gào lên: Alla đang đứng đầu bàn mổ. Bác sỹ quyết định sẽ mổ cho tôi lần thứ ba. Phụ nữ thích đàn ông thật thà và giản dị. và tôi giúp em thực tập. nhưng phải hoàn thành lớp học y tá trước đã. Còn cậu là ai? Một thiếu uý quèn”. Nó sẽ không hoạt động liền được. Cô ấy nên là vợ một vị tướng. về cuộc thị trấn. họ nói vậy đó. chân. trêu chọc những người còn lại. nó bị mảnh đạn cắt đứt. trên chiếc giường sạch sẽ này? Tôi thấy có gì đó bùng cháy trong tôi. Mansur ạ. Ít lâu sau ảnh hưởng của thuốc hết đi. nhưng cần thế”. Không ai nghỉ rằng tôi có cơ hội với cô gái ấy. Cả Alla và Liudmila giúp tôi đến đó. Tôi đã làm gì để xứng đáng cho tất cả những điều này. Cô đã viết mười đơn xin ra trận. Còn Alla thì ở lại bên tôi. nhưng cũng vui và tự hào cho tôi. Cô gái mới dường như nhẹ nhàng đẩy Alla sang một bên và đến cạnh tôi: . trong vùng nội địa. Một sỹ quan có tuổi. Tôi biết được rằng cô ấy làm việc trong bệnh viện. người mẹ tốt được. em đùa. Tôi không thể bỏ Alla! Đêm đó cô không phải trực. Tôi không muốn cô rời đi. Dân địa phương mang cho chúng tôi một ít nấm ngâm và trái việt quất. cuối cùng nói: “Anh đã biết là Liudmila và Mansur sẽ thân thiết nhau. Tôi cảm thấy buồn. Tôi còn đủ sức để nháy mắt với em và đưa ngón cái lên: mọi thứ ổn cả. nhưng cuộc phẫu thuật vẫn còn tiếp tục. Anh có vui khi gặp lại em không? Em đã nghĩ về anh cả tuần” Cô ấy trông có chút bồn chồn khi nói với tôi. “Tớ không thấy Liudmila có gì đặc biệt cả”. Lúc đó tôi hiểu rằng anh em chỉ đơn giản là là cố quên đi những điều khủng khiếp ở chiến trường. Bác sỹ còn làm thêm chừng 50 vết khâu nữa. Còn 3 tháng nữa là cô tốt nghiệp. Còn các cậu nghĩ các cậu là ai? Máy bay ném bom bổ nhào! Các cậu chỉ tìm cách nhảy vào” cả hội cười ồ với giọng điệu lên lớp của anh. Nhưng tôi nhìn đi chỗ khác. Một lần nữa tôi lại nhói đau trong tim: “Ai là người mình yêu?”. xoè những ngón tay còn lại ra vẫy tới lui. Sau đó mới kết thúc. nhưng vì tôi cô đã có mặt ở đây. tôi thấy Liudmila còn ngoài hành lang. “Cậu tốn thời gian vào Liudmila.

“Tôi đã chán ngấy việc đánh nhau rồi”. mời vị thiếu tá (thành viên trong hội đồng y khoa) đến phòng tôi và nói: “Thiếu uý này bị đứt dây thần kinh vận động trái. dù được miễn trừ quân dịch. Bằng cách bí ẩn nào đó. khi Liên Xô tuyên bố chiến tranh với Nhật. Về cơ bản là chân tôi chả làm được tích sự gì nữa. Vị thiếu tá lệnh cho tôi cưởi đồ ra và xác nhận chân trái của tôi vô dụng. một nhà thần kinh học. tháng 11 năm 1942. lựu 113 . nơi tiền duyên. Tuy vậy. Người duy nhất mà tôi cần là người mà tôi sẽ nhận ra được ngay.3 trận đánh” không biết bản thân chính uỷ còn sống không? Và ai trong số những đồng đội còn sống”. Cậu ta không thể tham gia chiến đấu được! Mời anh xem xét”.! “Giờ ai là bí thư đoàn của tiểu đoàn ta nhỉ?” tôi tự hỏi với lòng ghen tỵ. Nhưng tôi. Cũng không biết màu mắt. Chỉ mới hai thôi à? Thế mà tôi thấy như đã sống cả cuộc đời! Chiến đấu trên bốn mặt trận khác nhau: Stalingrad. Nhưng rồi một cụ bà. Dnieper và Ukraina. chỗ chúng tôi trú thân vào những lúc ngừng bắn ngắn ngủi. cũng được đưa vào danh sách “phù hợp”. “Ai là người kế tiếp nghe những lời kinh khủng từ chính uỷ: Trung bình một bí thư đoàn chỉ tồn tại từ 1 đến 2. Và đó là cách mà vị thiếu tá quân y vô danh nọ đã cứu tôi khỏi một cái chết không thể tránh khỏi. Sau này.Chặng đường đỏ từ Stalingrad nhiều. một cựu tình nguyện viên. tuyên bố trước hội đồng: “Tôi sẽ không cho phép các người gửi người tàn tật này ra mặt trận với một chân bị liệt”. Nhưng lúc đó có một việc không tin được xảy ra: một bạn cùng phòng. Trong tưởng tượng. Quân ta đang ép mạnh bọn phát xít và sẽ sớm chiến đấu với chúng ngay trên đất Đức. ngay cả giữ một chiếc ủng. Trong chiến hào. vòng cung Kursk. một Đảng viên. Trong suốt 5 tháng tôi nằm trong viện. gồm cả một thư ký và một nhiếp ảnh – cũng vũ trang giống như bọn tôi. Họ mang cho tôi quân phục “Nhanh nào! Có một đoàn tàu chạy ra tiền tuyến trong nửa giờ nữa”. buổi lễ kết nạp đảng viên gắn liền với hình ảnh của những toà nhà đẹp đẽ. Tôi ngại rằng mình. Đó là một ngày mùa đông lạnh giá. một sỹ quan có kinh nghiệm chiến trường. nó chết hoàn toàn. những gì vinh dự và tốt đẹp nhất trong cuộc đời đều liên quan tới Đảng. bị gán cho cái mác hèn nhát. quân ta đã giải phóng hoàn toàn hữu ngạn Ukraina. Tôi thấy xấu hổ để phản ứng dù rằng chân tôi nó vẫn thế. Chúng ta đang tiến công để giải phóng nốt những vùng còn lại của đất nước. và giờ mọi người có cơ hội được kết nạp vào VKP. Đã gần hai năm kể từ ngày Nikolai Koniayev. Một nhóm 3. lại được đưa trong danh sách “phù hợp cho các hoạt động chiến tranh”. Vết thương trên mông tôi đã lành lại. tê bại. chỉ là những chiếc hầm đầy bùn ở đầu các chiến hào. hội đồng y khoa tuyên rằng tôi đã phù hợp cho các hoạt động chiến tranh. Trong thâm tâm tôi. anh em binh sỹ bảo nhau một tin đặc biệt: một nhóm cán bộ đảng đến địa đoạn của chúng tôi ở tiền duyên. Nhưng tôi chắc rằng cô đang ở đâu đó đằng ấy. dưới những cơn bão tuyết liên miên. tôi. Tôi phải thú nhận rằng tôi thấy tiếc vì giấc mơ của mình đã thành hiện thực trong khung cảnh chẳng có chút lãng mạn này. Ivan Vanshin. Lúc đó là tháng 4 năm 1944. Và thế là tôi lại được cứu khỏi chết lần nữa. Tôi không biết tên cô.4 cán bộ. tắm mình trong nắng. trông ra bộ phận chính trị của chúng tôi cũng nhận thấy cảm giác đó. tôi biết rằng người trong mộng của tôi còn đợi tôi ở quê nhà. Cũng đã gần hai năm kể từ khi tôi rời Brichmulla đến trường Bộ Binh Tashkent. Tôi luôn nhớ ngày tôi được kết nạp Đảng Cộng Sản. không còn ham quay lại chiến trường. thảo nguyên Stalingrad trở thành một vũ đài ở đó bước ngoặc của cuộc chiến được định đoạt. và rằng mỗi người chỉ mơ được gặp tình yêu đích thực của mình. Trong khi ở đây. Victor Karpov và tôi. thế mà lại xoay sở để được tuyển vào huấn luyện.

thì cái ngày chúng tôi gia nhập Đảng là rất đáng nhớ. Nếu bác ấy có một chiếc Lada [một nhãn hiệu đắt hơn-ND] thì ắt bác chẳng ngại chạy 25km vì vài con bò”. Hoá ra con bò đã bị lạc và mọi người cảm ơn chúng tôi rất nồng nhiệt. Họ bận rộn điền vào các mẫu đơn cho chúng tôi và đưa ra một tờ giấy trống để chúng tôi viết đơn xin. tôi lái một chiếc xe đi cùng với vợ.. lễ lạc cho cánh lính tiền phương. Nỗi đau của trận đánh ngày hôm qua. họ mang theo tất cả các thứ cần thiết. SMG. 114 . Tự nhiên chúng tôi lái xe quay lại một nông trại gia súc và báo việc đó. Những đôi mắt to. Tôi bổ đến ga Kazan để kịp giờ chuyến tau Tashkent. Có rất nhiều trẻ em. Đây là cái cách mà hàng triệu lá đơn từ tiền phương đã viết. vội vã đến nơi nào đó. Sân ga thật đông đúc. những ai từng ở chiến trường cố gìn giữ một phẩm giá đặc biệt nào đó trong cuộc đời còn lại. Như tôi thấy. bất cứ ai mà tôi gặp. Nhưng chuyến đó bị huỷ nên tôi đi chuyến khác. Trong trường hợp của tôi thì có thêm một điều khác. * Nhiều năm sau chiến tranh. chúng tôi thấy một con bò vừa mới đẻ. Và nếu bạn sẵn sàng cho cái chết. tôi sẽ không bao giờ tìm được những người bạn thân thiết như những người tôi đã có nơi chiến trường. “Phải viết thế nào nhỉ?” Chúng tôi hỏi. bệnh viện… Trước lúc rời viện. Tôi cảm thấy hối hận vì mình đã sống sót trên “Hòn Đảo tử thần” trên sông Dnieper. những vũng nước mùa tháng Tư lỏng bõng khắp nơi. nó ám ảnh tôi suốt đời: một cảm giác về lương tâm rất mạnh (hoặc tôi có thể nói là ốm yếu không nhỉ?). Trong xà cột. Quan điểm này được chứng minh. dù sự thật là cuộc sống nơi chiến hào có tệ ra sao. và những giấy tờ đều được làm xong ngay tại chỗ. Trái tim chúng tôi mách bảo nhiều điều: Căm thù quân xâm lược. Và một điều khác. bọn trẻ ùa đến quanh tôi như một đàn bồ câu. Tôi mở ba lô ra. Mong muốn được chiến đấu giải phóng tổ quốc. nơi bạn mất bạn bè. Anh em trút vào đó những dòng chữ nói rõ tất cả suy nghĩ và cảm nhận của mình. Các cháu đều gầy gò. Chắc chắn đồng chí là một cựu chiến binh tiền tuyến. Bằng trực giác tôi biết dù trong tương lai có ra sao. tôi xin một vé tàu đi Moscow. * Không biết sao tôi lại thấy rằng những người may mắn nhất trong chúng tôi là những ai phục vụ cho đến cuối cuộc chiến. thì bạn muốn chết như một người Cộng Sản. ngay tại hoả điểm. Nhưng người từ bộ phận chính trị nói: “Hãy viết những gì trái tim các bạn nói”. nhân dân vẫn đánh giá cao cựu chiến binh chúng tôi. Tôi đến được thành phố Volga hơn 24 giờ một tý. để giúp người khác bởi một cảm giác tình anh em. Không phải là những người đã bị rơi lại giữa chừng trong các trạm phẫu. trong khi hầu hết đồng đội đã hi sinh. nhưng mùa xuân của tôi thì vẫn đang chờ tôi quay về nhà. Con nghé còn ướt đẫm và mắt không có hồn. Ở thủ đô. Ở một chỗ hoang vắng. túi xách. và cảm thấy chắc phải viết theo một chuẩn mực nào đó. quay đi. dưới lửa đạn. Một người bảo: “Các bạn thấy đồng chí đây lái một chiếc Zaporozhets [loại xe hơi rẻ nhất sản xuất bởi ngành ô tô Soviet -ND]. Đó là một khả năng để hiểu những gì người khác cần. suy nghĩ. tất cả chúng trông đói ăn.Chặng đường đỏ từ Stalingrad đạn. quân phục đàng hoàng. Mày râu nhẵn nhụi. Và cuối cùng. đã làm mọi thứ để tạo không khí vui vẻ. Và mỗi người. cho đến tận ngày chiến thắng. chỉ cần viết vài từ nguyên tắc như: “Tôi muốn đứng vào hàng ngũ VKP…”. chỉ còn da và xương. những người đó làm nổi bật sự xuất hiện của họ. súng lục để sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào. Tôi cảm thấy rất tự hào (đặc biệt khi có vợ tôi hiện diện) rằng sau chừng ấy năm. Bởi thế nên đích đến của tôi lúc đó lại là Kuibyshev. Ai đó còn mạnh mẽ cầu chúc tương lai tốt đẹp cho công dân Soviet.

Cha tôi bảo chúng tôi rằng ông muốn đưa chúng tôi về đây bởi ông muốn “cho chúng tôi ăn táo và nho”. yêu cầu được ra trận. là con nước của dòng Chatkal đang réo sôi. Tartar đó lách chách nói như chim ác là. Có thể chăng sau hai năm bôn ba dặm trường. 115 . Chúa ơi. Rồi tôi thấy một chiếc xe tải chạy nhanh theo hướng ngược lại. nơi khai thác quặng vonfram. đứa bé nhất mới vừa lên năm. gia đình Koniayev nhận được giấy báo tử rằng Nikolai đã hi sinh. tiếng Tartar và tiếng Tadzhik rằng anh Mansur của nó là một anh hùng. tôi đi về đâu và gia đình nào đã có người con. người anh trở về từ chiến tranh. định mệnh của mình: Nadezhda của tôi. Những người phụ nữ tò mò muốn biết về tôi. còn tôi là mũ trận. và rằng hiện giờ Nikolai đang còn ở nhà tại Brichmulla. Chúng tôi đã vượt qua Khodzhikent. Bây giờ. còn Nikolai quay lại chiến trường. Nikolai Koniayev. Nơi này nằm cạnh một mỏ quặng thạch tín. mẹ và hai em trai đang đợi tôi. Gia đình tôi đã chuyển đến đây từ Altai trước chiến tranh không lâu. Anh im lặng nhìn tôi với vẻ tò mò ghê gớm một lúc. vốn đã nhồi đầy phụ nữ Uzbek và Tadzhik.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Tôi ngạc nhiên khi thấy rất nhiều cháu kiên nhẫn chờ để được chia phần. có việc gì!”. cuối cùng một cô gái cũng cho tôi biết là Nikolai Koniayev còn đang trong kỳ phép. Tuy nhiên. Nó cũng lèn đầy phụ nữ trong các bộ áo váy màu sáng và giữa họ. cạnh những ngọn đồi. Tôi có thể hình dung ra nó vui thế nào: anh cả về từ chiến trường! Và nó sẽ kể thế nào với bọn trẻ khác trên đường bằng tiếng Nga. “Ồ ! Đó chính là cậu Mansur!”. và nếu không có những hành khách khác chia cho tôi những phần ăn đạm bạc của họ thì chắc 3 ngày trong chuyến hành trình này phải khó khăn nhiều. tiếng Uzbek. Và cũng chính thiếu tá Galkin ấy đối diện với tôi. chính tướng Cherniakhovski đã cho cậu ta một tháng phép và mang theo một vài chỉ thị đặc biệt. thấp bên dưới. Họ nhường cho tôi một chỗ gần cabin. nhớ lại rằng tôi. họ ngắm lại tôi. Và thể là tôi lên tàu Tashkent với cái túi rỗng mà không có lấy một phiếu thực phẩm nào. rồi sau cùng bảo: “Được rồi. Tôi nhìn những bạn đồng hành. Tôi vui vô cùng khi nghe tin đó. Tháng 5 năm 1944. nơi gần hai năm trước tôi đã đấm xuống bàn. tôi đến trình diện tại phòng đăng ký quân sự Bostandykski quen thuộc. rằng anh Mansur “đã giết hàng trăm hoặc hàng ngàn tên phát xít” Tôi leo lên một chiếc xe tải. Sau một hồi nói bất tận. Tôi không bao giờ được gặp lại cậu. Cậu ấy với mũ lưỡi trai trong tay. Mansur nè” cậu ta cũng nhận ra tôi và hét lên thứ gì đó. nhưng vẫn vẫy nhau một lúc lâu. tôi lại lên tàu lần nữa để đến thị trấn Chirchik. “Về Brichmulla” tôi hét lên cái từ yêu dấu của mình và bắt đầu nói chuyện bằng tiếng Uzbek và tiếng Tartar. làm bốc lên đằng sau một đám mây bụi mịt mùng. đó chính là Nikolai! Hai chiếc xe vượt qua nhau. tôi chỉ có một giây để hét lên: “Nikolai! Mình. tôi sẽ tìm thấy ở gia đình người bạn này. rồi Charvak. thật quá tốt để tin rằng sự thật. khi tôi đã làm việc lại trong mỏ. một cô gái và là duy nhất. 4 người đã tự nguyện ra trận hai năm về trước. Ở đằng kia. Tôi rời gia đình sống ở vùng đó. Những cặp mắt đen của họ mở bừng với sự kinh ngạc. Nhưng đây là một câu chuyện khác. số phận lại cho chúng tôi gặp nhau? Nhưng không! Chiếc xe tải chạy nhanh về phía trước. Và rồi những phụ nữ Uzbek. Victor Karpov và Ivan Vanshin. tôi để ý thấy một dáng người trong quân phục mùa hè. trên núi là mỏ Sardagon. Dù rằng chúng tôi không thể nhìn thấy nhau bởi bụi tung mù. Còn ngược dòng lên. Dường như giờ đây tôi cũng ngồi vào đúng chiếc ghế đó. bên bờ thượng nguồn sông Chatkal. Tại Tashkent. sau đó tôi dự kiến sẽ vẫy xe đi nhờ đến làng Brichmulla. Giờ đang chạy qua một vùng đất mỡ màng. Trong khi đó. Những chiếc xe tải nhanh chóng đưa chúng tôi theo hai hướng khác nhau: tôi về Brichmulla.

nhưng tay tôi cứ trơn tuột. nhưng tôi. Đột nhiên. đang ngồi trong lều chứa dụng cụ. chiếc thùng gàu mà tôi đang đứng.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Phần kết Rất nhanh sau đó. tôi vui vẻ quay lại mỏ và nhận lại phiếu bánh mì. tại nhà. Tôi không có bà con hay bạn bè còn lại ở đó. nhưng tôi chắc là tôi có thể sống được. Nhưng ngay tức khắc. được kéo lên. nấm và quả hạch. Chiếc gàu vẫn đi lên. còn tôi thì nguyền rủa mình đã lãng trí. Nhưng khoảng cách đến hố nổ xa thêm và tôi hi vọng sống sót sau vụ nổ. Tôi đến thị trấn Kansk tuộc vùng Krasnoyarsk và đề nghị cán bộ Đảng ở địa phương gửi tôi làm việc “càng xa trong rừng càng tốt”. Vụ nổ chắc chắn sẽ giết tươi tôi! Chỉ nếu tôi có đủ thời gian leo lên chừng 3 mét trên hố nổ thì tôi có thể sống sót! Tôi quyết định dùng một sợi cáp 8mm đang treo đó để vượt qua 3 mét. lúc ngày làm việc gần kết thúc. Sáng hôm sau. Trông ra thì có một vụ nổ lân cận đã cắt mất một phần mạch an toàn. Cuộc sống rất khó khăn và luôn thiếu thực phẩm. tôi bảo một đồng nghiệp. Là một cựu chiến binh chiến trường. tôi nghe một tiếng nổ. Bởi tôi biết là những người thợ mỏ khác. dựng lên để tránh cái lạnh âm 30 độ. Khi chỉ còn chừng 1. một khoáng chất hiếm. Vấn đề là có một trong số 20 lỗ nổ có vấn đề về thiết bị nổ. tôi nhận ra là mình quên ra hiệu cho anh em bên trên kéo tôi lên! Tôi giật mạnh dây nối vào cò búa tín hiệu trên mặt đất. nhưng nó bị đứt ở đâu đó khúc giữa và rớt vào chân tôi: tín hiệu đã không được báo! Bề ngang hố nổ chỉ dài chừng 5m. nơi đó họ bắt đầu khai thác gần đây loại monazite. đang bóc đá trong hầm. Tôi phải thực hiện nhiều ca nổ. có chứa đến 20 phần trăm chất phóng xạ Thori. Cạnh những thứ khác. Rồi một lần. 20m dưới mặt đất. không thể nghe được. Anh ta vui vẻ cho tôi một công việc trong mỏ Tarakstroi. Cậu ta hét đến khản giọng. “Để giữ cho quần khỏi tụt” như cách nói trong những ngày đó. tôi châm ngòi để đốt phần còn lại. Đó là một công việc nguy hiểm. dù chỉ bằng khoai tây.5m đến miệng hầm. Siberi” Tôi gần như không thở được bởi làn khói dày. tôi có nhiệm vụ đi xuống một hầm lò có triển vọng bằng một thùng gàu. Sóng xung kích phóng tôi ra khỏi hầm lò như một viên đạn cối ra khỏi nòng! Khi tôi có cảm giác trở lại. không nghe được chút gì! Cả những thợ mỏ khác cũng vậy … 116 . ngột ngạt của bột dẫn hoả và nhựa đường. tôi lấy những giấy giới thiệu cần thiết từ đảng bộ địa phương và nhanh chóng đến mỏ. tôi hỏi anh em – họ trông còn kinh khủng hơn tôi – “Tại sao cách cậu biết đường mà kéo thùng nhỉ?” “Bọn tôi nghĩ là nghe anh hét Vira-a-ah nên chạy tới và bắt đầu kéo lên…” Tôi nhớ hoàn toàn rõ là tôi không hề la “Virah” khi ở dưới đó. Và cũng tìm cho tôi một phòng nhỏ trong trại. công việc mới của tôi là chỉ đạo khoan và nổ phá đá. Tôi nhanh chóng tìm ra nó. ngồi cạnh lều hoặc bên trong. Nên tôi quyết định quay lại về vùng Siberi. nhưng giờ lại bị chết ở đây. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là: “Sao chậm thế?”. Mọi người phải được cảnh báo và cảnh giác luôn. đoạn dây cháy chậm cháy với mức 1cm một giây và khoảng cách đến kíp nổ chỉ còn chừng 30 hoặc 40 cm! “Ôi chúa ơi” tôi nghĩ “mình đã sống sót qua chiến tranh. không cần nghỉ ngơi. Một cách tự động. họ cấp cho tôi 50kg khoai tây và một thùng nấm ngâm. mắt tôi ứa lệ vui mừng. Giá mà có một sợi thừng! Trong khi đó. gào ‘virah” to hết cỡ. và là một đảng viên.

mỗi cái làm tôi bị vô hiệu một phần cơ thể. Tôi mời thượng sỹ Kozlov. Tôi ngừng anh lại và nhanh chóng bảo anh đưa súng. Chúng tôi cảm ơn nhau vì đã cứu mạng nhau. thì tôi lại sống để mừng ngày sinh nhật thứ 81 của mình. một căn bệnh tim đã buộc tôi rời vị trí giám đốc một mỏ quặng và khu chế biến. Anh em chạy tới chỗ hắn và tôi giúp buộc garô trên đầu gối hắn. lưng tôi đẫm mồ hôi. luôn nhìn thấy tôi trong tầm mắt khi tôi ở giữa đám tội phạm. Tôi thấy vừa sợ vừa bực bội “Mình làm gì với chúng nhỉ?” Và rồi tôi có một lựa chọn để thực hiện: hoặc là tôi tránh không ra khu vực bọn tội phạm làm việc. tôi không có rắc rối gì với họ. Tôi vọt ra và thấy một tên tội phạm đang tìm cách trốn. Tôi biết bọn tội phạm thích “vui” với những ông “sếp” tự do. tôi có vài công việc toàn là việc nhẹ. Là cựu chiến binh. Tôi chạy đến sau một vệ binh đang định nhả đạn hạ hắn. mỏ tôi làm việc được điều hành bởi NKVD [tiền thân của KGB]. Mạng tôi hình như vừa bị “mất” khi chơi bài [bọn tội phạm chơi đặt bằng mạng sống của một ai. người cùng tôi tình nguyện ra trận và đã hi sinh trong chiến đấu. tôi có thể nói là tôi đã làm tròn bổn phận của mình. điều này thực sự có nghĩa là mất việc. Vừa khi tôi ngồi trong văn phòng. phần lớn trong đó là cảnh bần hàn. dù những khó khăn và mất mát. Những người phạm tội làm công tác đào mỏ. tôi trải qua một ca mổ tim và sau đó cho đến tận ngày nghỉ hưu. tôi bận rộn kiểm tra công việc của chúng. Tuy nhiên. trưởng đội bảo vệ an ninh NKVD đến văn phòng và cho anh biết rằng bọn tội phạm đe doạ tôi. Năm 1963. chúng giờ cũng thành ông thành bà cả rồi. Số mệnh đã định rằng tôi sống sót trong chiến tranh. một chiếc xà beng hoặc một cái rìu. Giờ thì không an toàn cho tôi vào khu làm việc. Là quản đốc. giải thích cho anh rằng tôi phải tiếp tục công việc và giám sát chúng làm. tôi không hối tiếc gì. đó là tín hiệu báo động. Rồi một lần. Khi tôi đi ra khỏi khu đó.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Lúc đó. sẵn sàng bắn bất kỳ giây nào từ bốn phía. vũ trang bằng SMG. Mọi người bọn chúng. Trong khi những người tôi quen hoặc đồng nghiệp có sức khoẻ tốt hơn thì đã chết. 117 . nhưng tôi vẫn còn sống. Thật đáng ngạc nhiên là với vết thương nghiêm trọng và mổ tim. không để ý tới những đe doạ và che dấu nỗi sợ. đói kém và chiến tranh. khi ngày làm việc mới bắt đầu. vài người thợ mỏ bảo tôi rằng tôi đang nguy hiểm tính mạng. bạn đang có trước mặt. Đó là tên chịu trách nhiệm giết tôi. một chiếc búa tạ. đều có một cái cuốc chim. điều tôi sợ hơn tất cả là thành mục tiêu chế nhạo hoặc ai đó có thể xem tôi là một thứ hèn nhát. chừng 24 tuổi. Một tiếng nổ ngắn và hắn ngã xuống đất. Một giờ sau. Sau 18 năm làm việc trong điều kiện như vậy. người thua phải làm sát nhân]. Tuy vậy. Tôi ngắm thấp xuống. Nhìn lại cuộc đời mình. chúng tôi không thể nói ra lúc nào chúng đùa và lúc nào chúng nguy hiểm. Kỷ niệm về họ luôn trong tim tôi và trong quyển sách này. cố đe doạ họ bằng những nỗi sợ khác nhau bao gồm cả cái thứ bài “thua cuộc” này. hoặc tiếp tục như thường. Tôi yêu cầu anh thông báo cho đội của mình. Năm 1946 tôi cưới em gái của người bạn thân Nikolai Koniyaev. Cùng với Nadezhda tôi có năm cháu nội ngoại và 5 cháu cố. khi rất rất nhiều đồng đội và bạn bè thời niên thiếu đã hi sinh trên chiến trường. thì nghe tiếng kẻng kêu. Tôi để ý nhìn thấy các vệ binh ở mọi góc. Chúng tôi có 03 người con.

Thậm chí khi đã tách thành từng phần loại súng này vẫn quá nặng để mang vác bằng tay. phần lớn binh lính 2 phe trong các cuộc Đại chiến thế giới vào trận mà chỉ được bảo vệ bởi quân phục và áo khoác vải.600 mảnh đạn có khả năng sát thương trong vòng 6m. giờ đây họ phải mang những vũ khí cộng đồng. kết hợp giữa đạn mạnh và khả năng vận chuyển bằng mang vác là cối cấp tiểu đoàn (82mm). đây là vũ khí cơ bản của Hồng quân. thường còn kèm thêm 1 túi nước làm mát nòng súng to tướng nữa. vì vậy người ta phải gắn thêm bánh xe vào để có thể kéo bằng xe hoặc ngựa.1943 Hồng quân sử dụng 3 kiểu súng cối chủ yếu là cối cấp đại đội. Khi tấn công các vị trí phòng ngự súng cối cũng có thể dùng để pháo kích quân địch núp dưới hầm hố hoặc sau công sự. Giống như xe tăng. loại vũ khí mà Mansur Abdulin là pháo thủ số 2. Không tính trọng lượng nước. Loại cuối cùng (cối 120mm cấp trung đoàn) là 1 vũ khí có hiệu quả cao khiến cho quân Đức đến năm 43 cũng copy lại. Ngoài các bộ phận của bản thân khẩu cối. 1 khẩu súng máy Maxim chưa lắp đạn nặng 20. súng cối hiện đại xuất hiện lần đầu trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất. Những người lính phải mang cái giá kềnh càng cùng bản thân khẩu súng. Cối cấp đại đội (50mm) là loại nhẹ nhất. Súng máy đã chứng minh hiệu quả to lớn của nó nên mỗi tiểu đội bộ binh đều có 1 súng máy hạng nhẹ (các đơn vị xe tăng và bộ binh cơ giới Đức có tới 2 khẩu mỗi tiểu đội). Đạn của nó nặng 3. súng cá nhân và đạn. Thay vì những bộ áo giáp. SƯ ĐOÀN 293 BỘ BINH Không giống như những chiến binh thời cổ. giám đốc điều hành 1 công ty sản xuất bơm. Giữa 2 loại trên. Trong giai đoạn 1942 . các pháo thủ còn phải mang thêm đạn. chỉ có 14kg. Cối 82mm Soviet Model 1937 trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu nặng 56kg và khi phải di chuyển sẽ được chia làm 3 phần: nòng. Phần thứ nhất nặng 19kg. Đầu tiên đạn cho cối chỉ là những quả lựu đạn thông thường chưa có hình dáng khí động học. phần thứ hai 22kg và phần thứ ba 20kg. được làm thành hình giọt nước và đặc biệt là có thêm kíp nổ. Cũng phải luôn nhớ rằng đó là những phần phải mang thêm ngoài số trang bị tiêu chuẩn của 1 người lính: tư trang.31kg với 400g thuốc nổ.3kg. Đạn được gắn cánh đuôi. mỗi thùng đạn 3 viên nặng 12kg. đạn của nó chỉ nặng 922g và mang được có 90g thuốc nổ. mặt nạ phòng độc. Thế nhưng nói đến những chuyên gia cử tạ thực sự phải kể đến các chi đội súng cối cấp tiểu đoàn. 1 số trong đó thậm chí phải tháo rời để vận chuyển. cấp tiểu đoàn và cấp trung đoàn. Súng cối được sáng tạo bởi 1 người có liên hệ không nhiều với công việc nhà binh. Loại cối này đặc biệt hiệu quả khi bộ binh đang tấn công mà bất ngờ gặp phải hoả điểm súng máy. đế và giá súng. Tuy nhiên trong thời gian giữa 2 cuộc đại chiến. Chúng trở thành vũ khí bộ binh quan trọng trong WW2. Mỗi khẩu súng máy như vậy có thể chặn đứng cuộc tấn công của cả 1 đại đội thậm chí 1 tiểu đoàn nhưng nếu có 1 khẩu cối 82mm gần đó có thể dễ dàng làm chúng câm họng. súng cối đã có bước phát triển lớn. Wilfred Stokes. van và các thiết bị dẫn khí. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là khi hành quân hoặc trên mặt trận họ không phải mang theo nhiều kg kim loại. Trong băng giá mùa đông hoặc cái nóng mùa hè những người lính cối thường 118 . Tuy nhiên loại cối này không hiệu quả lắm. khi nổ sẽ tạo ra 400 . 1 ví dụ được biết đến nhiều nhất trong các loại vũ khí kiểu này là súng máy hạng nặng. đồ ăn. nơi không thể bắn được bằng súng máy. Đây là loại cối được sản xuất tại Liên Xô theo mẫu súng cối của Stoke (81mm) thu được trong cuộc xung đột biên giới với Trung Quốc năm 1929.Chặng đường đỏ từ Stalingrad PHỤ LỤC 1. Tuy nhẹ hơn pháo nhưng trọng lượng của súng cối vẫn là vấn đề thực sự cho những người lính phải mang vác chúng.

5mm. nơi Abdullin phục vụ. Còn lại là người đến từ vùng Trung Á. Trong trận thảm bại khi mặt trận Kharkov vỡ tháng 5/1942. Sư đoàn bảo vệ 1 đoạn chiến tuyến tương đối yên tĩnh. Ukraina và Byelorusia) có tổng cộng 5748 người. Vào thời điểm năm 1942. trang bị của 1 sư đoàn Hồng quân khác nhiều so với 1 sư đoàn Đức. Mùa xuân năm 1942 Sư đoàn được phối thuộc vào Tập đoàn quân 21 và chiến đấu trong đội hình Tập đoàn quân gần 1 năm.2mm cấp sư đoàn. Người Nga chiếm gần 1 nửa (4523 người). Ngoài ra còn có 269 người Do Thái. 3 người từ các nước cộng hòa vùng Baltic và 1 người Chesnia. phần lớn trong số đó là người Kazakh với 2280 người. Thông thường việc 119 . Trước đó vào tháng 7/1941. hạ sĩ quan và sĩ quan.chiếm hơn 1 nửa quân số . Mỗi sư đoàn có 1 trung đoàn pháo trong đội hình với 12 lựu pháo hạng nhẹ 122mm và 20 pháo 76. đây chính là nơi vào năm 1943 sẽ diễn ra những trận đấu tăng ác liệt. Để so sánh. Sư 293 đã được bổ sung đầy đủ nhân lực gồm tân binh. 1 trong các đơn vị bộ binh như thế là Sư đoàn Bộ binh 293. kết quả là toàn bộ đội hình Tập đoàn quân gồm 4 sư đoàn bị bao vây. Mùa đông 1941 . nhờ đó có thể sử dụng chúng cho những đòn đánh quyết định. Thành phần dân tộc của các binh sĩ phản ánh sự đa dạng sắc tộc trong Liên bang Soviet. Sư đoàn đã có quân số 10420 người so với quân số chuẩn của 1 Sư đoàn là 10868. Chỉ có 1/3 binh lính và sĩ quan dưới 25 tuổi. Chúng ta nên nhớ rằng phần lớn binh sĩ cả 2 bên Đức và Soviet không nằm trong các đơn vị tăng hay cơ giới mà là những bộ binh và phải di chuyển bằng chân. vượt qua vùng Prokhorovka mà không gặp trở ngại gì. Lịch sử Sư 293 Bộ binh bắt đầu vào năm 1941. Để chống lại xe tăng đối phương Sư đoàn cũng có trong đội hình Tiểu đoàn chống tăng 331 trang bị 12 pháo chống tăng 45mm và 36 súng trường chống tăng 14. Moscow và Kharkov. Trận Stalingrad? Trong 3 tháng rời xa mặt trận. may mắn thay Sư đoàn đã không rơi vào bẫy là 1 cái túi lớn do các mũi tấn công của quân Đức tạo ra. Sư đoàn rút lui về nơi phát tích của mình là Sumy và đến tháng 11 thì chuyển tới khu vực Kursk. Ngày 30/6 quân Đức tiến hành Chiến dịch Blau nhằm mục tiêu chiếm Caucasus và sông Volga. Tập đoàn quân 40 với Sư 293 trong đội hình đã thất bại trong cố gắng ngăn cản bước tiến của đoàn thiết giáp Nazi. Sự khác biệt này được giải thích bởi thực tế là 1 trong các nguyên tắc cơ bản của chiến lược quân sự Soviet là tập trung pháo hạng nặng (từ 152mm trở lên) dưới quyền điều động của chỉ huy cấp cao nhất. Thoát khỏi vòng vây. Ảnh hưởng của các Đảng viên không lớn như mọi người vẫn nghĩ. 1 đầu mối đường sắt lớn ở Nam Ural. Nhóm tuổi lớn nhất . Tuy nhiên thật kỳ diệu là Sư 293 đã thoát được và 1 lần nữa không bị tiêu diệt. tại thị trấn Sumy. trận đánh đầu tiên của nó diễn ra tại Ukraina trong những ngày bất hạnh tháng 9/1941 khi Kiev bị những cỗ xe tăng của Guderian tấn công. 1 sư đoàn bộ binh Soviet còn được trang bị nhẹ hơn vì như vậy dễ quản lý hơn. sau đó được chuyển cho Phương diện quân Stalingrad đưa về hậu tuyến để phục hồi và bổ sung quân số. các dân tộc Slav (Nga. chỉ có 2/3 sĩ quan Sư 293 là Đảng viên hoặc Đoàn viên Komsomol. tỷ lệ này ở binh sĩ là dưới 20%.Chặng đường đỏ từ Stalingrad phải mang vác nặng hành quân hàng tá km mỗi ngày. Tập đoàn quân sau đó cũng vượt được sông Đông rồi tiếp tục rút về phía đông. 1 sư đoàn bộ binh Đức có tới 36 lựu pháo hạng nhẹ 105mm và 12 lựu pháo hạng nặng 150mm.1942 Sư đoàn chia ra đóng gần Kursk và trên thực tế không tham gia vào các cuộc phản công lớn của quân đội Soviet gần Leningrad.có tuổi đời từ 25 đến 40. Tập đoàn quân 21 bước vào những trận đánh ác liệt. được nhận danh hiệu Cận vệ. Sư đoàn được tái tổ chức tại Buzuluk. Vào ngày 24/10/1942 khi quá trình tái tổ chức hoàn tất. Tình trạng Sư đoàn như thế nào trước khi bị ném vào 1 trong những chiến dịch quyết định của WW2.

52 súng máy hạng nhẹ. nhiều nhất là trong khoảng thời gian từ 1 . Theo báo cáo của Sư đoàn. Lực lượng chiến đấu chính của 1 sư đoàn bộ binh Soviet là 3 trung đoàn bộ binh. Những hành động anh hùng của Sư đoàn đã được những người có trách nhiệm đánh giá xứng đáng: sau trận Stalingrad Sư đoàn được nhận danh hiệu Cận vệ. ngày 20/12 sau khi được bổ sung khoảng 500 người quân số Sư đoàn là 3797 người. Vào ngày 10/11/1942. số bị thương hoặc bị sức ép là 15 sĩ quan. Trong 10 ngày đó Sư 293 Bộ binh mất. 27 cối cấp đại đội 50mm và 27 cối cấp tiểu đoàn 82mm. M.7mm. 140 hạ sĩ quan và 315 binh lính chết.5mm. theo hồ sơ Sư đoàn còn 6113 người. cả chết lẫn bị thương. Số lượng chính thức cần có là 1800 con nhưng trong thực tế Sư đoàn chỉ có được 1016 con. lực lượng của Sư 293 teo lại dần nhưng họ không được tăng cường. Các đơn vị Cận vệ Nga có hệ thống số thứ tự riêng. Abdulin thuộc 1 trong các kíp pháo thủ của loại vũ khí cuối cùng kể trên. Sau những trận đánh ác liệt với đối phương là những chiến binh kỳ cựu của các Sư đoàn Xe tăng 14 và 16 Đức. Ngày 1/12/1942. 27 hạ sĩ quan. Vào thời điểm tham chiến trung đoàn đã thực sự có được đầy đủ sức mạnh. thương vong của Trung đoàn 1034 trong ngày 14/11 như sau: số chết tại chỗ hoặc sau khi bị thương là 8 sĩ quan. theo hồ sơ Trung đoàn 1034 Bộ binh của ông có 2130 người. đạn 7. đến ngày 20/11 là 8069 người. Khoảng 2/3 sĩ quan và binh lính Sư đoàn đã chết hoặc bị thương. 6 súng phun lửa chống tăng. ít hơn 1 chút so với quân số chuẩn là 2532 người. khoảng 1/3 quân số (2102 người): 60 sĩ quan. 71 binh lính. đến 10/12 còn 4142 người. băng đạn tròn 71 viên). 2 súng máy phòng không 12. tức là gia nhập vào lực lượng ưu tú của quân đội Soviet. vì vậy Sư đoàn đổi tên thành Sư đoàn Bộ binh Cận vệ 66. vào ngày 10/11 danh sách quân số là 9274 người. Tập đoàn quân 21 dàn quân ở phía tây vòng vây nằm trên tuyến đường vượt thoát ngắn nhất đã phải hứng chịu đòn đánh mạnh nhất. Trận đánh kịch tính nhất diễn ra vào ngày 14/11 khi toàn bộ đội hình Sư đoàn được lệnh tham chiến. Ngay vẻ bề ngoài 1 lính Cận vệ đã khác với các đơn vị thường với huy hiệu tương tự như 1 chiếc huân chương 120 . Các đơn vị của nó cũng đổi tên: Trung đoàn 1034 của Abdulin trở thành Trung đoàn 193 Cận vệ. 54 súng trường chống tăng 14. số còn lại bị thương. 8 hạ sĩ quan và 39 binh lính mất tích.2mm. 6 pháo chống tăng 45mm. Mansur Abdullin đã bước vào trận chiến từ 1 trong các trung đoàn như vậy. 4 pháo cấp trung đoàn 76. 6 cối cấp trung đoàn 120mm.20/11.Chặng đường đỏ từ Stalingrad di chuyển pháo được tiến hành bằng ngựa nhưng số ngựa luôn luôn thiếu. cả chết lẫn bị thương. Sư 293 Bộ binh đã có những cuộc chạm trán đầu tiên với quân địch vào đầu tháng 11/1942. Trung đoàn có những vũ khí sau: 1655 súng trường. Theo kế hoạch hành động của chỉ huy cấp cao. Tại khu vực Stalingrad các chỉ huy Soviet đã lần đầu tiên thành công trong cố gắng tổ chức bao vây quy mô lớn lực lượng địch.10/12 khi quân Đức cố gắng chọc thủng vòng vây. Toàn Sư đoàn mất 1183 người trong khoảng từ 10 . Sư đoàn nằm trong lực lượng dự bị của Tập đoàn quân 21 được giao 1 nhiệm vụ không ai thèm muốn là tạo 1 mấu lồi đâm sâu vào quân Đức trong vòng vây và sau đó là ngăn quân Đức phá vỡ nó.62mm. 39 hạ sĩ quan và 223 binh lính.62mm). Tổng thương vong. 222 PPSh (loại tiểu liên do Shpagin thiết kế. Tập đoàn quân 21 nói chung và Sư 293 nói riêng đã góp phần quan trọng trong chiến dịch khi đẩy lùi các đơn vị cơ giới Đức. Ngoài ra Sư đoàn còn có gần 100 xe ô tô. của trung đoàn chiếm khoảng 20% quân số theo danh sách ban đầu. 20 súng máy hạng nặng Maxim (đạn 7. Abdulin đã mô tả lại sự khủng khiếp và ác liệt của trận đánh ngày hôm đó nhưng chúng tôi cho rằng đó chỉ là ấn tượng của 1 người lính trẻ còn chưa có kinh nghiệm chiến trường.

2mm so với thông thường là 20. thay vào đó là chuyển sang tập trung đánh vào 2 cánh. Ngày 10/7/1943.2mm được kéo bởi 4 con ngựa mỗi khẩu. Trong khi số sĩ quan của Trung đoàn vượt quá số cần thiết thì số hạ sĩ quan chỉ có 701 người so với yêu cầu là 770. Chỉ có 1 ngoại lệ là súng trường tự động: thay vì 788 khẩu trung đoàn chỉ có 295 khẩu. đến 20/7 còn 6931 người.là cấp giữa sư đoàn và tập đoàn quân trong các mắt xích tổ chức chỉ huy. Sư 293 được tái tổ chức. Số tăng cường trong giai đoạn này không nhiều: 62 người trở lại sau thời gian trị thương tại bệnh viện. Để thay thế cho nó người ta cấp thêm tiểu liên PPSh. tức là qua Oboyan. trang bị 1006 súng trường. súng trường. Trung đoàn có 6 xe ngựa kéo và 234 con ngựa (so với số tiêu chuẩn là 363).Chặng đường đỏ từ Stalingrad đính trên đồng phục. Vũ khí chính của của bộ binh 2 phe trong các cuộc thế chiến. lực lượng dự bị cỡ lớn trong chiến dịch quan trọng này. Những dấu hiệu tương tự cũng được sơn lên trang thiết bị của họ. 17 người (trong đó có 10 sĩ quan) được thiên chuyển đến từ Quân đoàn và Tập đoàn quân nhưng cũng có 4 sĩ quan chuyển lên cấp Tập đoàn quân và vì nhiều lỗi khác nhau 2 sĩ quan. Vào lúc này Hồng quân đã quay trở lại biên chế quân đoàn. Ô tô thường được dùng để kéo cối 120mm.chẳng hạn như Quân đoàn 32 Bộ binh Cận vệ . cũng thiếu. chúng tôi không thể tượng tượng rằng lên cấp Cận vệ có nghĩa là trung đoàn lập tức được chuyển sang dùng xe tải Studebaker. khi Trung đoàn 193 Cận vệ của Abdulin đụng độ với đối phương. Tuy nhiên. số binh lính là 1321 người thay vì tiêu chuẩn là 1748. Quân số tiêu chuẩn của 1 trung đoàn bộ binh Cận vệ là 2713 người. Súng trường tự động khó sản xuất và là 1 vũ khí đắt đỏ trong khi Liên Xô còn đang thiếu nhiều thứ cho 1 cuộc chiến tranh tổng lực. Theo cách này những người lính chứng tỏ mình là tinh hoa của Hồng quân. 8 cối hạng nặng 120mm. Việc thiếu súng trường này có nguyên nhân trực tiếp từ việc thiếu binh lính. còn ít hơn cả tiểu liên. 27 cối 82mm và 18 cối 50mm. Ngày 10/7 có 8744 sĩ quan. Sư 66 Cận vệ là 1 bộ phận của Tập đoàn quân 5 thuộc Phương diện quân Steppe. 121 . Kết quả là thương vong của Sư 66 Cận vệ phòng thủ Oboyan không quá nặng. bị thương và mất tích của Sư đoàn tổng cộng là 1879 người. Vào thời điểm bắt đầu trận đánh tại vòng cung Kursk. Thí dụ 1 trung đoàn pháo của sư bộ binh Cận vệ có 24 pháo 76. cấp tổ chức đã bị bãi bỏ vào năm 1941: 1 quân đoàn . 788 súng trường tự động và 344 tiểu liên. Ngựa vẫn được giữ lại để vận chuyển như trước. Các vũ khí nặng khác như pháo 45mm và 76. 2 hạ sĩ quan và 5 binh lính bị tống vào tiểu đoàn trừng giới. 12 pháo 45mm. Pháo binh trung đoàn thì vẫn như cũ: 4 pháo 76. trở thành Cận vệ có nghĩa là được nhận được những trang bị tốt hơn và có thêm quân số cũng như vũ khí. khi cả 2 bên không tiến hành những cuộc tấn công quy mô lớn nào mà chỉ chuẩn bị cho những trận chiến quyết định sắp tới. Cuối cùng đến khi Sư 66 Bộ binh Cận vệ tham chiến thì các chỉ huy quân Đức đã thay đổi kế hoạch đánh thẳng vào Kursk theo tuyến đường ngắn nhất. Trong giai đoạn phòng ngự của trận Kursk Quân đoàn 32 Bộ binh Cận vệ triển khai tại 1 đoạn chiến tuyến tương đối yên tĩnh đối diện với điểm tiếp giáp giữa 2 Quân đoàn Thiết giáp SS là 48 và 2. Trung đoàn cũng có 161 súng máy hạng nhẹ và 53 súng máy hạng nặng.2mm cấp trung đoàn. Trung đoàn đã được bổ sung đủ người và trang bị. hạ sĩ quan và binh lính trong danh sách Sư đoàn. thay vì 344 khẩu như tiêu chuẩn Trung đoàn 193 Cận vệ được cấp tới 680 khẩu. trước hết là đánh vào Prokhorovka. Trong thời gian chiến dịch tạm ngừng vào mùa xuân và đầu hè 1943. Thương vong cả chết. Thiết thực hơn. chỉ có 610 khẩu so với 1006 khẩu theo yêu cầu. 2 loại cối cỡ nhỏ hơn được các pháo thủ của chúng mang vác.

Chỉ còn chưa đầy 4000 người trong số gần 7000 người trước trận Kursk còn sống sót tới được bờ sông. 2 sĩ quan và 4 lính cũng được liệt vào danh sách "mất tích". Các đầu cầu ở gần Kremenchug do các Tập đoàn quân 4. 5 Cận vệ và Tập đoàn quân 52 của Phương diện quân tạo ra không có triển vọng. Thiệt hại của Sư 66 Bộ binh Cận vệ trong trận đánh vượt sông Dnieper không quá cao nhưng cũng là đáng kể nếu so sánh với tổng quân số Sư đoàn lúc đó. Ngày 29/9/1943 quân số Sư đoàn là 3965 người. Đánh giá kết quả. Tuy nhiên. không phải tất cả các đầu cầu đó sau này đều được sử dụng. đến ngày 19/10 là 4160. 26 súng trường tự động. nhiều lần đụng độ ác liệt với những đơn vị Đức tuy đã bị hao hụt nhưng vẫn còn sức chiến đấu. số bị thương là 18 sĩ quan. cả chết và bị thương. thường phải đối mặt với các quân đoàn xe tăng Đức. tức là vùng đất của Liên bang Soviet nằm trên bờ trái sông Dnieper. Trận đánh vượt sông Dnieper. Trong số đó Trung đoàn 193 Bộ binh Cận vệ có 202 ngựa và 8 xe tải. quân Nga đã chiếm giữ được tới 2 tá đầu cầu. chiến dịch này đã dẫn tới việc giải phóng vùng tả ngạn Ukraina. 40 hạ sĩ quan và 220 lính. Thực tế là trung đoàn đã biến thành 1 tiểu đoàn với 1 nửa quân số là sĩ quan và hạ sĩ quan: trong tổng số 609 người còn lại. 172 người là hạ sĩ quan và chỉ có 296 lính. 7 cối 120mm và 3 cối 82mm. Trong lúc đó.2mm. Sư 66 Bộ binh Cận vệ mặc dù thiệt hại nặng nề sau 10 tuần lễ đánh nhau liên tục nhưng vẫn còn sức chiến đấu. Trong tất cả các Tập đoàn quân của Phương diện quân Ukraina 2 (tên mới của Phương diện quân Steppe sau khi đến được sông Dnieper). Có tất cả 240 súng trường. Cũng may là theo các ghi chép trung đoàn pháo của sư đoàn vẫn còn gần như nguyên vẹn. Đầu cầu này đã đóng vai trò quyết định trong mùa đông năm 1944 khi 1 trong 2 mũi tấn công nhằm bao vây quân Đức gần Korsun . 141 người là sĩ quan. 7 súng máy hạng nhẹ và 4 súng máy hạng nặng. Pháo binh gồm có 4 pháo 76. Trong giai đoạn quyết định của trận vượt sông Dnieper. Bờ tây cao và dốc. tại Kursk vào ngày 10/7 trung đoàn pháo có 12 lựu pháo và 24 pháo. 1 trong những con sông lớn nhất Châu Âu. quân số tăng thêm là do trong khoảng thời gian 20 ngày đó lực lượng tăng cường gồm tổng cộng 1041 người đã tới. tuy nhiên các binh sĩ đã rất kiệt sức. ngày 9/10/1943 Sư đoàn chỉ có 3756 người thay vì quân số tiêu chuẩn là 10596 người.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Tiếp sau giai đoạn phòng ngự là chiến dịch phản công của Trận đánh Vòng cung Kursk. chúng tôi phải nhắc lại rằng lực lượng Soviet. Loại vũ khí chiếm số lượng vượt trội trong các đơn vị "toàn sĩ quan và hạ sĩ quan" này là SMG. bao gồm cả Tập đoàn quân mà Sư 66 Cận vệ nằm trong đội hình. vì vậy từ đó dễ dàng quan sát mọi chuyển động bên phía bờ đông. Các đơn vị vẫn còn phải dựa nhiều vào ngựa: có tới 703 con ngựa cùng với 7 xe con. 122 . 5 hạ sĩ quan và 30 lính chết. Tập đoàn quân 5 Cận vệ đã đến được sông Dnieper. Sau 1 cuộc tiến quân đến kiệt sức vượt qua 350km. Vào ngày 9/10/1943 nó được trang bị 11 lựu pháo 122mm và 17 pháo 76. pháo binh tham chiến ở vị trí ngay sau bộ binh nên cũng mất 1 số lượng đáng kể khí tài.Shevchenkovski đã xuất phát từ đây. Nếu 1 trung đoàn bộ binh chỉ còn 20% quân số còn chiến đấu được thì trung đoàn pháo còn tới 65%. là 821 người. Như chúng ta thấy. Cũng trong khoảng thời gian đó thiệt hại. 114 xe tải và 4 xe đặc chủng (xe thông tin).2mm cấp trung đoàn. Số lượng pháo thủ còn khả năng phục vụ cũng tốt hơn các trung đoàn bộ binh nhiều. là 1 chiến dịch rất khó khăn. 259 PPSh. Trong 3 tuần chiến đấu đó riêng Trung đoàn 193 Bộ binh Cận vệ có 3 sĩ quan. Để so sánh. 4 pháo 45mm. Quân số Trung đoàn 193 Bộ binh thì chỉ còn 609 thay vì 2713 người theo quy định. chỉ có Tập đoàn quân 37 thiết lập được 1 đầu cầu có khả năng mở rộng sau đó. đầu cầu qua sông Dnieper đã được mở rộng và đạt chiều sâu tới 90km.

Những trạn ác chiến dẫn tới thương vong cao. vì vậy 1 trung sĩ cũng có thể rất thường xuyên làm những việc như 1 người lính thường. trải dài từ sông Volga đến miền đất bên dòng Dnieper. gây cho ông ấn tượng về thương vong nặng nề trong suốt quá trình phục vụ trong quân ngũ. Tuy vậy trong giai đoạn cuối chiến tranh. đó chỉ là những thiếu sót nhỏ không thể tránh trong trí nhớ mỗi người. Sư đoàn giành thắng lợi không phải bằng cách xua những đợt sóng người vô tận về phía trước để dìm quân địch trong máu của chính mình mà bằng những hành động đầy kinh nghiệm của những sĩ quan và hạ sĩ quan được chuẩn bị tốt với sự yểm trợ đáng tin cậy của pháo binh. Theo cách đó Sư đoàn tiến về phía trước cùng các đơn vị khác của Quân đoàn 5 Cận vệ. Các sư đoàn Soviet thường xuyên thiếu quân số đến mức tuyệt vọng. khi quân đội Soviet tung ra hàng loạt cuộc tấn công nhằm mục tiêu tối hậu là tiêu diệt hoàn toàn phát xít Đức. Trong nhiều trường hợp tiểu đoàn của ông đã phải đối mặt với sức mạnh ghê gớm của lực lượng thiết giáp Đức. Nếu khảo sát 1 sư đoàn điển hình vào năm 1943. thực tế Sư đoàn đã thay hoàn toàn quân số nhiều lần. bao vây từng đơn vị lớn của chúng. Tác giả cũng có vẻ phóng đại số lượng và tần suất được tăng cường.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Sư đoàn Bộ binh Cận vệ 66 là 1 đơn vị Hồng quân điển hình trong giai đoạn giữa 1943 và 1945. ta có thể thấy đội hình của nó bị cô đặc lại chỉ còn 1/3 so với mức tiêu chuẩn. lội qua những dòng sông và đẩy lùi những đợt phản công bất tận của xe tăng và bộ binh Đức. 123 . số sĩ quan và hạ sĩ quan chiếm tỷ lệ lớn. Những chương hấp dẫn nhất của cuốn hồi ký này là những sự kiện khủng khiếp hằn sâu trong tâm trí tác giả trong quá trình tham chiến. Tuy nhiên. Đó là 1 bước ngoặt mà 1 người lính bộ binh phải trải qua: chặn đứng các đơn vị xe tăng địch để các quân đoàn và tập đoàn quân xe tăng Soviet thọc sườn quân Đức. Các sư đoàn bộ binh chiếm 80% số lượng các sư đoàn Hồng quân. được trang bị 1 số lượng lớn vũ khí tự động và được yểm trợ bởi 1 quả đấm pháo binh mạnh. Tốc độ tiến quân của họ là khá cao nếu tính đến việc họ phải di chuyển bằng chân. danh tiếng của lực lượng bộ binh bị lu mờ trước các đơn vị thiết giáp. Các sư đoàn bộ binh dù vậy vẫn là nền tảng cho thành công của các quân đoàn và tập đoàn quân xe tăng. Nhiệm vụ của họ là tiêu diệt những "cái túi" quân địch đã bị các đơn vị thiết giáp Soviet bao vây. Tuy nhiên. Tác giả cuốn hồi ký này đã trải qua 1 quãng đường khổng lồ để trở thành 1 bộ binh tiền tuyến kỳ cựu. không làm giảm ý nghĩa cuốn hồi ký này. số lượng thương vong đôi khi khác với những lời kể của Abdulin. tấn công các đô thị lớn như Poltava và Kremenchug. Trong vòng 28 ngày của tháng 9 Quân đoàn 5 Cận vệ đã vượt gần 200km. Phần lớn các hạ sĩ quan trưởng thành từ những người lính kiên cường và tháo vát. 1 lời chứng vô giá của 1 người lính bình thường đã gần như hàng ngày đối mặt với cái chết nơi tiền tuyến và đã sống sót qua những trận chiến lớn nhất của Đại chiến Thế giới lần thứ 2. vượt các con sông như Vorskla và Psel. trong khi đó số lượng vũ khí nặng lại rất gần với trang bị tiêu chuẩn.

Nhà máy Máy kéo Stalingrad là nhà máy duy nhất trong cả nước được lắp đặt dây chuyền sản xuất xe tăng T34 ngay từ trước chiến tranh và chưa từng phải trải qua giai đoạn di tản hỗn loạn. Quân tiếp viện cho lực lượng bảo vệ thành phố phải vượt qua con sông lớn nhất Châu Âu trên những chiếc sà lan và thuyền. việc chiếm được nó sẽ gây hiệu ứng tâm lý mạnh. lao vào trận chiến ngay khi vào đến bờ. Trong khi chiến sự ác liệt bùng nổ khắp trong và xung quanh Stalingrad. Stalin sẽ phải mất mặt nếu rút quân khỏi thành phố mang tên ông. Nó cũng là con đường thuận lợi nhất để tới sông Volga. "Người bảo vệ Tsaritsin" (tên thành phố trước năm 1919) là 1 trong những huyền thoại của chế độ mới: các bộ phim. Stalingrad nối với miền nam Nga bằng nhiều con đường và nó là mục tiêu tự nhiên cho bất kỳ đội quân nào muốn tiến đến biển Caspian. làm nản lòng hàng triệu công dân Soviet. Vào lúc máy bay Đức bắt đầu đánh bom Stalingrad và những tiếng súng đầu tiên của trận chiến đường phố vang lên. Việc này tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các đơn vị thiết giáp thọc sâu để cắt đứt và bao vây quân địch trong và xung quanh Stalingrad. Các chỉ huy Soviet dự định thử sức với quân Đức. STALINGRAD. bài viết và sách vở kể về nó. 1 lý do nữa ngoài tầm quan trọng về kinh tế và chiến lược là đánh vào Stalingrad sẽ mang ý nghĩa biểu tượng quan trọng. Thiếu các sư đoàn quân Đức buộc các chỉ huy phát xít phải dùng các tập đoàn quân Romania và Italy để bảo vệ các cánh.Chặng đường đỏ từ Stalingrad PHỤ LỤC 2. Dù sao. 1 phần khác là thành phố cũng là 1 trung tâm công nghiệp quan trọng sản xuất trang thiết bị cho Hồng quân. các chỉ huy Soviet đã lập kế hoạch tổ chức 1 chiến dịch bao vây các đơn vị của Tập đoàn quân 6 và Tập đoàn quân Xe tăng 4 Đức khi chúng đang bị mắc trong các trận chiến đường phố. KURSK VÀ DNIEPER Stalingrad và Kursk là những thành phố được nhiều người biết đến cả ở bên ngoài nước Nga. Nếu trong năm 1941 mục tiêu chính của hắn là thủ đô Soviet thì mục tiêu của chiến dịch mùa hè năm 1942 là dầu của Caucasus và tuyến vận chuyển chính của nước Nga: sông Volga. Dưới chế độ Soviet nhà máy được đổi tên là "Chiến Luỹ". củng cố niềm tin vào chiến thắng cho người Nga và gióng lên hồi chuông báo động cùng cảm giác bất an vào tương lai cho người Đức. dưới làn đạn pháo và những cuộc không kích của quân thù. Trên các bình nguyên sông Đôn và 124 . Mũi tiến công của địch hướng về phía sông Volga bị kéo căng trên 1 khoảng cách khổng lồ lên tới 800km. Chúng liên quan đến 2 trận đánh được xem là bước ngoặt của Đại chiến Thế giới lần thứ 2. Binh lính Đức xuất hiện gần Stalingrad bởi sự thay đổi cơ bản trong các kế hoạch của Hitler. sản xuất các loại pháo cỡ nòng tới 203 280mm. Trong thành phố còn có 1 nhà máy sản xuất pháo. Tên của chúng vang động mạnh trong trái tim cả người Nga và người Đức. 1 trong những nhà máy lâu đời nhất nước Nga. tất cả đều nhằm mục đích ca ngợi vai trò của "Lãnh tụ". quân đội Soviet cũng không thể bảo vệ thành phố khỏi sự chết chóc và tàn phá. những đơn vị này thiếu kinh nghiệm và kém huấn luyện hơn quân Đức rất nhiều. Các nhà máy vẫn tiếp tục sản xuất máy móc thiết bị cho đến khi chiến trận lan tới tận phân xưởng. Stalingrad là nơi ông đã từng chiến đấu trong Nội chiến Nga. sử dụng 1 chiến thuật vốn là hòn đá tảng trong tư tưởng quân sự Đức. Thành phố được đặt tên để vinh danh người đứng đầu Liên bang Soviet. Những chiếc T34 cuối cùng xung trận chỉ ít phút sau khi được các công nhân Nhà máy Máy kéo lắp ráp xong. nhân dân vẫn chưa được sơ tán.

Bước tiến của quân đội Soviet trong chiến dịch đông xuân 1942 . Model đã thuyết phục được Hitler lùi chiến dịch đến tháng 7 để có thời gian tăng cường đầy đủ sức mạnh cho các sư đoàn của ông ta. Ngay ngày 23/11 Quân đoàn 4 Cơ giới của Phương diện quân Stalingrad đã hội quân được với các quân đoàn tăng số 4 và số 26 của Phương diện quân Tây Nam. Bộ chỉ huy tối cao Đức quyết định báo thù bằng cách mở 1 chiến dịch quy mô lớn bao vây lực lượng Soviet tại mấu lồi Kursk.1943 đã phải dừng lại gần Kharkov bởi 1 cuộc phản công của Quân đoàn 2 SS Thiết giáp . Dù vậy.Chặng đường đỏ từ Stalingrad Volga. Ngày 2/2/1943. loại quân tương đương với bộ binh cơ giới Đức. 8 sư kỵ binh được biên chế thành 3 quân đoàn kỵ binh.000 quân địch đã bị vây trong cái túi. Chiến dịch được thực hiện bởi lực lượng của 3 Phương diện quân: Tây Nam. Thảm bại tại Stalingrad đã làm sụp đổ kế hoạch tấn công Caucasus. Chiến dịch mang bí danh "Citadel". Kiev. Tuy nhiên.3 lần về xe tăng và 1. Viazma.M. 4 quân đoàn xe tăng. chỉ có pháo binh là mạnh hơn gần 2 lần. kết cục là hàng loạt những cái túi gần các thành phố và thị trấn như Minsk. Chiến dịch mở màn ngày 19/11 bằng 1 trận pháo phủ đầu dài 80 phút và phát triển thuận lợi. đẩy lùi nhiều cuộc tấn công ồ ạt của quân Soviet. Lực lượng của viên Thống chế này đã phòng thủ thành công mấu lồi Rzhev trên con đường tiến thẳng đến Moscow trong suốt 1 năm. Tuy nhiên. không ai có thể nói rằng quân Nga vượt trội đối phương. Don và Stalingrad.3 lần về máy bay. dùng 1 khối quân chống lại quân địch bị chia cắt). Theo kế hoạch các quân đoàn xe tăng của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và Cụm Tập đoàn quân Nam sẽ vòng qua mấu lồi từ phía bắc và phía nam để cắt 1 lực lượng lớn quân Nga thuộc các Phương diện quân Voronezh và Trung tâm. 1808 máy bay lãnh trách nhiệm yểm trợ đường không (chỉ có 1349 chiếc trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu).Vasiliyevski. 1 trong những chỉ huy xuất sắc nhất của quân đội Soviet.G. Sau thất bại Stalingrad. 14 lữ đoàn tăng và 4 trung đoàn tăng. Đó cũng là mục tiêu của Tập đoàn quân 21 có tiểu đoàn của M. 1 trận đánh bao vây điển hình. A. 91. Cuối cùng các sư đoàn bộ binh thiết lập chiến tuyến đối mặt với quân địch đã bị vây trong cái túi. 1 125 . với nhiều người. Nỗ lực tiếp vận bằng đường không và sau đó là phá vây kết hợp với 1 cuộc tấn công từ bên ngoài của quân Đức thất bại. đã lập kế hoạch cho toàn bộ chiến dịch. 15 lữ đoàn bộ binh. Kỵ binh. 3 lữ đoàn bộ binh cơ giới. tên thường được biết đến của chiến thuật này là Blitzkrieg. Tháng 5/1943. người Nga cố gắng tái hiện trận Cannae lịch sử: vận động với mục tiêu quyết định là bao vây quân địch.Abdulin trong đội hình. 1.000 binh sĩ dưới quyền ông ta trở thành tù binh. Hồng quân chỉ hơn quân địch 1. Sau đó mặt trận yên ắng 1 thời gian. Cho đến trước đó chỉ có quân Nga là nạn nhân của "chiến thuật Cannae" này (Cannae là nơi diễn ra chiến thắng của Hannibal trước quân La Mã đông gấp nhiều lần năm 216 trước Công nguyên. Briansk và Kharkov.đơn vị vừa mới tham chiến. Kế hoạch của ông là các quân đoàn tăng sẽ hội quân gần thị trấn Kalach trên sông Don. vào lúc đó quân Đức cũng đã bắt đầu hết hơi sau 2 năm không ngừng đánh nhau ác liệt trên Mặt trận phía Đông. mấu lồi này xuất hiện do kết quả của cuộc tiến công thắng lợi trong mùa đông 1943.2 lần về người. nhờ đó quân Đức sẽ không thể chọc thủng vòng vây trở về với lực lượng chính của chúng. quân đội Đức vẫn duy trì được khả năng mở các cuộc tấn công mạnh mẽ. Vào thời điểm trước chiến dịch các Phương diện quân này bao gồm: 71 sư bộ binh. gần 330. Tập đoàn quân 9 của Walter Model phụ trách mũi tấn công từ phía bắc mấu lồi là 1 đơn vị đã rất kiệt sức. nó là biểu hiện rõ ràng cho thấy người Đức đang thất bại. Thống chế Von Paulus của Tập đoàn quân 6 buộc phải ra hàng. sẽ tấn công nhiều mũi thọc sâu để thiết lập những cụm vây vành ngoài đẩy 2 tập đoàn quân địch trong vòng vây càng xa nhau càng tốt.

Đầu tháng 8. đã nhận đòn đánh chính của Tập đoàn quân Xe tăng 4 Đức do tướng Hoth chỉ huy.Chặng đường đỏ từ Stalingrad lý do nữa khiến cuộc tấn công bắt đầu chậm lại là để chờ các loại xe tăng mới đến nơi: tăng nặng Tiger và tăng hạng trung Panther. Chiến dịch Citadel mở màn vào chiều ngày 4/7 khi quân Đức chiếm 1 loạt vị trí có lợi ở phía nam vòng cung. bố trí có chiều sâu và lập những đơn vị dự bị lớn để chống đỡ bất kỳ mũi thọc sâu bất ngờ nào. Đó là do thực tế địa hình phía nam Kursk rất bằng phẳng. Không đủ thông tin về hướng tấn công chính xác của mũi tấn công từ phía nam mấu lồi nên tại khu vực thuộc trách nhiệm của Phương diện quân Voronezh này.Đức trở nên yên tĩnh. Tại Prokhorovka. rút kinh nghiệm từ trận đánh Kharkov không thành trước đó. 6 Cận vệ và 7 Cận vệ. tất cả khoảng 100. việc phòng thủ phải bố trí dàn trải với 3 Tập đoàn quân: 40. Lực lượng tấn công chính của Tập đoàn quân 4 Xe tăng .Quân đoàn Thiết giáp 2 SS di chuyển đến sông Mius. Tập đoàn quân 40. Tập đoàn quân 6 Cận vệ. Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 5 phản công vào Sư 1 Thiết giáp SS "Grenadier Leibstandarte Adolf Hitler" dẫn tới 1 trận đấu tăng ác liệt chưa từng thấy. được tăng cường sau những trận 126 . Sư đoàn "Đại Đức" thiện chiến được phái đến vòng cung Oriol để giải cứu lực lượng của Model. Các đơn vị của Quân đoàn này đã cùng với 1 số chiến xa của Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 1 phản công vào Quân đoàn Thiết giáp 48 Đức khi chúng đã mất hầu hết số tăng Tiger và Panther. 1 phần của Tập đoàn quân 7 Cận vệ cũng phải chống lại lực lượng bổ trợ của Cụm Tập đoàn quân "Kempf". Đó là lúc Sư 66 Bộ binh Cận vệ. Sáng 5/7. chỉ đôi khi bị phá vỡ bởi những đụng độ lẻ tẻ mang tính trinh sát.Abdulin tham chiến. Cùng lúc đó. Cánh phải của Tập đoàn quân Cận vệ 5 thuộc khu vực trách nhiệm của Quân đoàn 32 Bộ binh Cận vệ thì may mắn hơn. Các chỉ huy Soviet có được những thông tin tình báo khá chính xác về kế hoạch của người Đức.thiết giáp. Việc các lực lượng dự bị rất mạnh tham chiến đồng thời với việc Chiến dịch sông Mius bắt đầu ở phía nam Mặt trận Phía Đông và quân Đồng minh đổ bộ vào Italy đã buộc lãnh đạo Đức dừng chiến dịch Citadel. chiến dịch sắp tới chính là cuộc thử lửa đầu tiên của chúng. Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 5 đã đánh vào điểm tiếp giáp giữa Quân đoàn 2 Thiết giáp SS và Quân đoàn 48 Thiết giáp.G. đã quyết định đương đầu với quân Đức trên 1 trận địa đã được chuẩn bị sẵn. Tuy nhiên. cánh trái của Tập đoàn quân không có lực lượng thiết giáp nào đã đụng độ với Sư đoàn SS "Totenkopf" có 13 xe tăng Tiger. Họ được lệnh chặn bước tiến của Quân đoàn Thiết giáp 2 SS tại khu vực Prokhorovka và Oboyan. Ngay sau đó mũi thọc sâu của các Quân đoàn Thiết giáp 48 và 2 SS Đức đã buộc các tướng lĩnh Soviet phải sử dụng lực lượng dự bị chiến lược của họ: Tập đoàn quân 5 Cận vệ và Tập đoàn quân Xe tăng 5 Cận vệ. các lãnh đạo Soviet chuẩn bị 1 tuyến phòng ngự gồm nhiều lớp. Trong vài tháng mặt trận Xô . Gần bờ sông Psel. đơn vị mạnh nhất. cuộc tấn công dữ dội bằng xe tăng được không quân yểm trợ ồ ạt bắt đầu đánh vào các vị trí của Phương diện quân Trung tâm và Phương diện quân Voronezh. thì lại không hề bị tấn công.000 người. bào mòn dần các đơn vị thiết giáp Đức và sau đó phản công. Ở cả 2 phía của mấu lồi. các tướng lĩnh Đức đã không thể ngăn chặn các chiến dịch tấn công được tổ chức đồng loạt của Hồng quân. từ đó chúng có thể dùng pháo bắn thẳng vào các vị trí Hồng quân. của M. 67% chiến tuyến tức khoảng 164km rất phù hợp cho các cuộc tiến công của tăng . Cuối cùng 1 khu vực mà 1 trong 3 tập đoàn quân đó bố trí. chỉ có không quân 2 bên là hoạt động mạnh để phá hoại các tuyến vận tải và thông tin của đối phương. Do lực lượng của Phương diện quân Voronezh bố trí không dày đặc lắm nên tuyến phòng ngự tại khu vực của Sư 6 Cận vệ bị chọc thủng và Ban Chỉ huy Phương diện quân buộc phải tung lực lượng dự bị của mình vào trận: Tập đoàn quân Xe tăng 1 và 1 số đơn vị của Tập đoàn quân 40. đơn vị trực thuộc Quân đoàn 32.

quân đội Soviet đã chiếm được 23 đầu cầu qua sông Dnieper và 2 qua phụ lưu của nó là sông Pripiat. Đến 10/10 nó đã được mở rộng ra 35km và sâu 6 . 1 yếu tố có thể giúp những người lính tiến lên là sự hiện diện của nhiều hòn đảo nhỏ đủ hình thù giữa dòng cho họ cơ hội vượt sông thành 2 giai đoạn. Nó cũng tạo cơ hội tìm ra điểm yếu nhất trên tuyến phòng ngự Đức và quân Nga có thể đợi đến sát nút để tung 1 lực lượng lớn vào đó. phần lớn là các trung đoàn bộ binh hành quân bằng chân. Việc tiếp vận được tiến hành qua 2 cầu phao và 4 chiếc xà lan. Phương diện quân Voronezh trở lại tham chiến. Bờ phải. Hồng quân đã có thể bắt đầu giải phóng vùng Tả ngạn Ukraina tương đối dễ dàng.12km. 1 chiến dịch được trông đợi sẽ bắt đầu vào mùa đông 1944. Từ đầu cầu này. do đó Tập đoàn quân Cận vệ 5 trong đó có Sư 66 Bộ binh Cận vệ đã vượt sang bờ phải và tham gia vào trận đánh mở rộng đầu cầu. Cuộc chiến để tới được Belgorod . Chiếm được Kharkov. Tại khu vực của Phương diện quân Steppe nơi có Sư 66 Cận vệ của Abdulin. Ví dụ các đơn vị của Phương diện quân Steppe đã vượt trung bình 9km/ngày. tức bờ tây. Các chỉ huy Soviet quyết định thử tung 1 số lượng lớn các trận đánh vượt sông ngay trong quá trình hành tiến. Đó là 1 trong những con sông lớn nhất Châu Âu với chiều rộng lên tới 4km. đặc biệt là phà tự hành cỡ lớn. 127 . không thể xác định vị trí nào cuối cùng sẽ được sử dụng làm bàn đạp cho 1 cuộc tiến công quan trọng. Cuối tháng 9/1943. Các trang thiết bị của công binh cũng bị rớt lại phía sau. đó quả là 1 cuộc hành quân hết tốc lực. cầu cống bị tàn phá và việc tiếp phẩm cho họ là cực kỳ khó khăn. 1 đầu cầu có khả năng phát triển cao đã được Tập đoàn quân 37 thiết lập phía nam Kremenchug. Như vậy nỗ lực của người Đức dự định ngăn chặn những người lính Soviet bằng chướng ngại vật là con sông ghê gớm này đã không thành công. Kế hoạch này có lợi điểm là chỉ huy quân Đức sẽ bị mất phương hướng. Ngày 30/9/1943. Tình trạng thường xuyên diễn ra trong toàn quân là: sẵn sàng đánh vượt sông mà chỉ có 3 chiếc phà.Kharkov từ tháng 5/1942 đến mùa đông năm 1943 đã khiến quân Nga phải trả giá rất đắt nhưng cuối cùng cũng thành công. những chiến binh đi qua những đường sá. quân đội Soviet tiến tới bờ sông Dnieper. dẫn đầu là Tập đoàn quân Cận vệ 5. Các đầu cầu do các tập đoàn quân khác tạo ra được quyết định bỏ.Chặng đường đỏ từ Stalingrad đánh phòng thủ đẫm máu. dùng bất cứ phương tiện gì có thể để chiếm lấy càng nhiều đầu cầu càng tốt. các lực lượng chính di chuyển tới đầu cầu nam Kremenchug. Cũng có những lý do thô thiển hơn để quân Nga lựa chọn chiến lược kỳ cục này: chúng ta nên nhớ là các đơn vị Hồng quân. đã tiến thẳng đến Dnieper với tốc độ rất cao. dốc và cao tạo thành 1 chướng ngại vật ghê gớm cho quân Nga đồng thời ngăn họ quan sát các vị trí phòng thủ của quân Đức. không đủ làm 1 chiếc cầu phao bình thường mà chỉ có thể làm 1 đoạn cầu.

Chiến dịch tấn công nước Anh bắt đầu. Úc. Hy Lạp đầu hàng có điều kiện. 7/9.Đức về biên giới và tình hữu nghị. 17/4. 10/7. đây chính là kế hoạch xâm lược Liên Xô 1941 5/4. 10/6. trong khi đó tại Anh Thủ tướng Chamberlain từ chức. 21/6. 3/9. 128 . Đức và Liên Xô thoả thuận phân chia Ba Lan bằng việc ký kết Hiệp định Xô . 26/6. Quân Đức chiếm Vilnius và Kaunas. 15/6. Đức xâm lược Na Uy và Đan Mạch. BIÊN NIÊN CÁC SỰ KIỆN CHÍNH 1939 1/9. Đức xâm lược Ba Lan dẫn tới WW2 bùng nổ. Liên Xô xâm lược Ba Lan. 13/4. Winston Churchill lên thay. 12/5. 1940 12/3. 13/6. 30/11.Chặng đường đỏ từ Stalingrad PHỤ LỤC 3. Belgrade thất thủ. 24/6. Warsaw thất thủ. Chiến dịch oanh tạc London bắt đầu. 18/12. Liên Xô chiếm đóng Bessarabia và Bukovina. Liên Xô xâm lược Phần Lan. 26/5. New Zealand tuyên chiến với Đức. Nam Tư đầu hàng có điều kiện. Anh. Liên Xô và Nhật Bản ký hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau. Pháp. 17/9. Pháp xin được giảng hòa. 22/6. Hungary tuyên chiến với Liên Xô. 27/9. Quân Anh bắt đầu di tản khỏi nước Pháp qua ngả Dunkirk. 23/4. Ý tuyên chiến với Anh và Pháp. Đức xâm lược Liên Xô. Roosevelt được bầu làm Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 3. 27/6. Quân đội Đức tiến vào nước Pháp. Lithuania và Estonia. Liên Xô chiếm đóng các nước Baltic gồm Latvia. 5/6. Đức xâm lược Hà Lan. 5/11. Quân Đức thực sự bắt đầu chiến dịch tấn công nước Pháp. Phần Lan xin được giảng hòa. 29/9. Hitler cho phép thực hiện "Chiến dịch Barbarossa". 10/5. Đức (được Ý và Hungary hỗ trợ) xâm lược Nam Tư và Hy Lạp. Paris thất thủ. 9/4. 12/4.

Quân Đức chiếm Minsk. 129 . 12/10. 31/8. đây cũng là lần đầu tiên cuộc chiến được gọi là Chiến tranh Vệ Quốc Vĩ đại. Quân Đức lần đầu tiên không kích Moscow. 8/7. Quân Đức và Romania chiếm Odessa. Trận công phá Smolensk bắt đầu. 30/10. 29/6. 17/8. cảnh báo rằng chiến tranh sẽ kéo dài và gian khổ. Kiev thất thủ. 3/11. 2/7. 30/6. 10/7. Quân Đức phá vỡ tuyến phòng thủ Soviet quanh Smolensk. 16/10. Mùa đông Nga đã tới làm cản bước tiến quân Đức. 6/11.000 quân Soviet trong những cái túi phía tây thành phố. 14/10. 30/8. Không quân Đức mở 45 cuộc không kích khác nhau vào Moscow. 25/8. Tổng thống Roosevelt tăng quyết định viện trợ tài chính và vật chất cho Liên Xô theo luật "Lend . Quân Nga lần đầu tiên không kích Berlin. Xe tăng Đức tiến tới sát Kiev. Kursk thất thủ. Stalin tuyên bố tình trạng chiến tranh tại Moscow. 12/7. lãnh đạo là Stalin. 7/11. 14/8. 21/8. Lễ Kỷ niệm lần thứ 24 Cách mạng tháng Mười được tổ chức tại ga tàu điện ngầm Mayakovsky. Quân Đức khép kín vòng vây quanh Leningrad. 15/9. Quân Đức chiếm Tallinn.000 tù binh. 19/9. bắt khoảng 650. Tại Moscow. chỉ còn cách thành phố 10 miles. 3/10. Liên Xô và Anh chiếm Iran. Quân Đức chiếm Novgorod.Chặng đường đỏ từ Stalingrad 28/6. 22/7. Quân Đức chiếm Riga. ký hiệp định ngừng bắn hoặc hiệp ước hòa bình trừ phi được nước kia đồng ý". 3/7. Đoàn convoy đầu tiên chở trang bị chiến tranh của Đồng minh cập cảng Archangelsk. Liên Xô và Anh ký hiệp ước khẳng định cả 2 nước sẽ "trao cho nhau sự giúp đỡ và hỗ trợ về mọi mặt trong cuộc chiến chống lại nước Đức phát xít" và tuyên bố rằng "họ sẽ không đàm phán. Quân Đức chiếm Viasma và Kalinin. Ủy ban Vệ quốc Soviet (GKO) được thành lập. 11/7. Quân Nga mở cuộc tấn công ở bắc Gomel. Quân Đức tiến đến Kharkov. cùng lúc trận Công phá Sevastopol bắt đầu. 8/8. Quân Đức chiếm Pskov và chuyển hướng về phía đông bắc nhằm vào Novgorod và Leningrad. Hitler tuyên bố nước Nga đang tan vỡ và "sẽ không bao giờ hồi phục được". 19/10. Các trận đánh vào Leningrad và Kiev bắt đầu. 23/10. Quân Đức chiếm Lvov. 27/8. Tổng thống Roosevelt và Thủ tướng Churchill ký Thoả ước Đại Tây Dương trên boong tàu HMS Prince of Wales.Lease" lên 1 tỷ đô. Quân Đức mở Chiến dịch Typhoon tấn công Moscow. Quân Đức bao vây các đơn vị Hồng quân gần Viasma. bao vây khoảng 200. 2/10. Stalin đọc thông điệp trước quốc dân Soviet sau 10 ngày im hơi lặng tiếng. 31/10. 5/8.

Bản Tuyên ngôn Liên Hợp Quốc được ký tại Washington. Trận tấn công Kharkov chính thức bắt đầu. Trận El-Alamein lần thứ nhất bắt đầu. Quân Nga phản công tại khu vực Moscow. 8/11. 29/11. 16/9. Quân Anh rút lui từ bán đảo Mã Lai về Singapore. Nhật xâm lược New Guinea trong khi quân Anh di tản khỏi Rangoon. Quân Nga mở đợt phản công ở phía nam mặt trận. Quân Nga mở chiến dịch Kharkov. 15/2. 27/1. Nhật hoàn tất việc xâm chiếm Philippine. Hạm đội tàu sân bay Mỹ đánh bại hạm đội tàu sân bay Nhật trong Trận Midway. 24/8. 12/8. Quân Đức giành thắng lợi tại Kharkov. Những trận ác chiến diễn ra liên tục ở Stalingrad. 13/11. 4/7. 11/12. Không lực Hoàng gia Anh tiến hành 1. Mỹ tuyên chiến với Nhật. Quân Đức chiếm Sevastopol sau 250 ngày công phá. 25/12. 1/7. 19/11. 28/6. 27/7. Bộ Chỉ huy tối cao Soviet báo cáo tình hình diễn biến thuận lợi trên khắp các mặt trận khi quân Nga tiếp tục tiến lên và Hồng quân đã giải phóng được Kalinin. Stalin ra Mệnh lệnh số 227 tuyên bố "Không lùi 1 bước!". 7/12. 20/11. 23/11. 17/5. 28/5. 24/7. Hongkong đầu hàng quân Nhật. 8/12. Nhật hoàn tất việc xâm chiếm Miến Điện. 14/11. 3/6. Quân Đức chiếm Rostov. 19/12. 20/5. Hitler nắm quyền chỉ huy trực tiếp quân đội Đức. 7/7. 12/5. 130 . 9/7. Quân Anh chiếm Tobruk. 7/3. Singapore thất thủ trước lực lượng Nhật Bản. Quân Đức lại mở những đợt tấn công dữ dội về hướng Moscow. 9/6. Thủ tướng Churchill thăm Moscow.000 cuộc không kích vào Cologne. 5/12. 30/5. Quân Đức tại Nga mở cuộc tiến công trên tất cả các mặt trận. Đức và Ý tuyên chiến với Mỹ. Quân Nga mở Chiến dịch Sao Thổ (Operation Uranus) phản công tại Stalingrad. Quân Đức bắt đầu tiến về hướng Rostov và Stalingrad. Quân Nga giải phóng Rostov. 16/12. Trận El-Alamein lần thứ 2 bắt đầu. Quân Đức chiếm Rostov nhưng sau đó vẫn bế tắc tại Leningrad. 1942 1/1.Chặng đường đỏ từ Stalingrad 15/11. 23/10. Quân Đồng Minh mở Chiến dịch Ngọn Đuốc (Operation Torch) đổ bộ vào Bắc Phi. Quân Nga hoàn toàn bao vây Tập đoàn quân 6 Đức tại Stalingrad trong khi 5 sư đoàn quân phát xít Romania đầu hàng. 27/11. Quân Nhật mở cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng. Quân Đức áp sát ngoại ô Stalingrad. Quân Đức vượt sông Đôn và chiếm Voronezh. Trận công phá Stalingrad bắt đầu.

Vòng vây quanh Leningrad bị phá vỡ với việc mở màn Chiến dịch Spark theo đó 1 tuyến hành lang hẹp được thiết lập ở nam hồ Ladoga. Persia. Trận Kursk bắt đầu với chiến tuyến kéo dài 200 mile. 19/4. 1944 8/1. Quân Đức bắt đầu rút lui khỏi vòng cung Kursk. 3/8. giải phóng khoảng 240 thành phố và làng mạc. 1943 12/1. 10/3. Quân Đồng minh đổ bộ vào Sicily. 28/11. Các lực lượng phe Trục tại đông bắc Tunisia đầu hàng. Stalin công bố việc tái chiếm Smolensk. Hồng quân chiếm Kharkov. 25/9. chỉ huy quân Đức tại Stalingrad. Churchill và Stalin gặp nhau tại Tehran. Người Do thái tại Warsaw nổi dậy. 1 cuộc tấn công lớn từ Smolensk ở phía bắc tới biển Đen ở phía Nam. Hồng quân giải phóng Kirovograd. Quân Nga đánh tới sông Dnieper. Các lực lượng Soviet bắt đầu các trận đánh tiêu diệt quân Đức bị vây tại Stalingrad. Phe Đồng minh bắt đầu cuộc hội nghị ở Casablanca. Hồng quân giải phóng Kharkov. Roosevelt. 5/8. 13/10. 16/1. 26/1. Von Paulus. nhiều đơn vị Hồng quân chỉ cách trung tâm thành phố 6 mile. 10/7. Hồng quân thuộc các Phương diện quân Tây và Briansk mở chiến dịch Kutuzov. Quân Nga tiến công trên toàn mặt trận. Hồng quân thuộc các Phương diện quân Voronezh và Steppe mở chiến dịch Belgorod Kharkov. Quân Đức tái chiếm Kharkov. 12/7. 16/5. 23/8. Ý đầu hàng. Đồng minh bắt đầu tấn công "Chiến tuyến mùa đông" (Winter Line) tại Ý. 1/12. Hitler nói rằng "Tập đoàn quân 6 sẽ giữ nguyên vị trí tới người cuối cùng và viên đạn cuối cùng". 2/2. Quân Đức tại Stalingrad đầu hàng. 5/7. 131 . Hồng quân giải phóng Kiev. 10/6. 9/5. Hội nghị Đồng minh tại Cairo bắt đầu. 12/9. 2/9. 14/1. 16/7. Các lực lượng Soviet tiếp tục gây áp lực lên quân Đức trong cái túi Stalingrad và 1 số nơi khác. 3/12. Hồng quân giải phóng Orel và Belgorod. đề nghị Hitler cho phép đầu hàng. Hitler quyết định mở chiến dịch Citadel nhằm tiêu diệt quân Nga tại vòng cung Kursk. Mussolini từ chức. Quân Đức dưới quyền chỉ huy của Manstein cố gắng giải vây cho Tập đoàn quân 6 tại Stalingrad nhưng không thành công. 8/9. qua tuyến đường này đồ tiếp phẩm được chuyển vào thành phố.Chặng đường đỏ từ Stalingrad 12/12. 24/1. 7/11. 14/2. Quân Đức phá hủy hoàn toàn các khu của người Do thái tại Warsaw. 16/2. Ý tuyên chiến với Đức. Hồng quân giải phóng Rostov và Voroshilovgrad.

Eisenhower trở thành Chỉ huy tối cao các lực lượng viễn chinh Đồng minh.Kishinev. Quân Đồng minh tấn công vào Miến Điện. 6/3. Người Romania nổi dậy chống Đức. kết quả hơn 50. Quân Đồng minh chiếm đóng miền nam nước Pháp. Quân Nga tiến vào Tiệp Khắc. Quân Đồng minh giải phóng Paris. 27/1. 13/10. 23/8. phía tây sông Dnieper. 6/6. Warsaw bắt đầu nổi dậy. 20/7. Hồng quân mở các cuộc tấn công tại Novgorod và Leningrad. 11/10. 3/2. Chiến dịch đánh chiếm Rome của quân Đồng minh bắt đầu với việc tấn công Phòng tuyến Gustav.Shevchenko. 22/6. Hồng quân thuộc các Phương diện quân Ukraina 1 và 2 bao vây 2 quân đoàn Đức tại Korsun. Hồng quân giải phóng Lvov. trong thời gian bị vây khoảng 1 triệu công dân Soviet đã chết. Quân Nga bắt đầu các trận đánh tiêu diệt Tập đoàn quân 8 Đức tại khu vực Kirovograd. 24/1. 3/9. 4/6. 11/5. 24/8. Nga tuyên bố đã hoàn toàn giải toả vòng vây quanh Leningrad. Tập đoàn quân 15 Nhật tiến đến biên giới Ấn Độ.Chặng đường đỏ từ Stalingrad 15. bao vây Cụm Tập đoàn quân Bắc của Đức tại Courland. 15/8. Hồng quân giải phóng Vilnius. Quân Mỹ tiến vào Rome. Kế hoạch ám sát Hitler của 1 số sĩ quan cao cấp Đức thất bại. Quân Nga mở chiến dịch Bagration tại Mặt trận Trung tâm. 15/3. 22/1. Quân Đồng minh mở chiến dịch Overlord đổ bộ vào Normandy. 23/1. Hồng quân giải phóng Sevastopol. 20/3. Hồng quân bắt đầu tấn công tại Korsun . Hồng quân giải phóng Riga. Cuộc đổ bộ vào Anzio của Đồng minh bắt đầu. Bulgaria tuyên chiến với Đức. Các lãnh đạo Đồng minh cho mở cuộc tấn công đường không ồ ạt chống lại nước Đức. Hồng quân tái chiếm Odessa. Quân Nga mở chiến dịch Yassy . trong khi đó cuộc tấn công Ấn Độ của Nhật bị chặn đứng tại Imphal. Cùng lúc Bộ chỉ huy Tối cao Soviet thông báo thời tiết xấu làm cản trở các chiến dịch tại khu vực Vitebsk. 9/2. Các binh sĩ Hồng quân thuộc Phương diện quân Ukraina tới được biên giới Liên Xô trước chiến tranh. 15/10.000 quân Đức. 4/4. kết quả tiêu diệt hơn 500. 20/8. 25/8. 1/8. 10/4.16/1.000 quân Đức bị bao vây. Quân Đức chiếm Hungary. 9/5. 10/10. Quân Đồng minh giải phóng Brussel. 132 . 17/5. 13/2. 27/7. 23/3. Quân Nga tiến tới sông Nieman. Romania tuyên chiến với Đức. 13/6. Phương diện quân Ukraina phá vỡ vị trí quân Đức ở đông nam Lvov. Monte Cassino rơi vào tay quân Ba Lan.

8/8. 3/3. Churchill từ chức Thủ tướng Anh. 20/1. Phần Lan tuyên chiến với Đức. Quân Anh vượt sông Rhine tại Rees. 26/7. 12/4. Phương diện quân Ukraina 2 được các du kích Nam Tư giúp đỡ đã giải phóng Belgrade. trong khi đó Không lực Hoàng gia Anh oanh tạc hủy diệt Dresden. Quân Mỹ vượt sông Rhine tại Remagen. Quân Đức phản công tại Ardennes. 30/4. lần đầu tiên quân Nga và Mỹ đã gặp nhau. 14/8. 19/1. Hungary ký thoả thuận ngừng bắn với Đồng minh. Quân đội Soviet mở cuộc tấn công cuối cùng vào Berlin. 5/5. 23/3. 16/4. Quân Nga mở cuộc tổng tấn công mùa đông. Quân Mỹ hoàn toàn chiếm đóng Okinawa. 7/5. trận đánh nổi tiếng tại Bulge bắt đầu. 16/12. 22/6. Mỹ thả bom hạt nhân vào Nagasaki. 9/4. 25/4. Mỹ thả bom hạt nhân vào Hiroshima. 9/8. Hồng quân chiếm Konigsberg. Đại chiến Thế giới lần thứ 2 kết thúc. Hội nghị Đồng minh tại Potsdam bắt đầu. Clement Atlee lên thay. 19/2. 2/5. 25/7. Hội nghị Yalta giữa các nước Đồng minh bắt đầu. Nội chiến nổ ra tại Athens. Cuộc nổi dậy ở Prague bắt đầu. Quân Đồng minh chiếm Bologna. Hitler tự sát. 30/3. 13/5. Hồng quân chiếm Budapest. Quân Đức chấm dứt kháng cự tại Tiệp Khắc. Hồng quân chiếm Vienna. Quân Mỹ xâm chiếm Okinawa.Chặng đường đỏ từ Stalingrad 20/10. Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Quân Anh chiếm Rangoon. Hồng quân chiếm Warsaw. 13/4. Truman lên thay. 7/3. 16/7. Tại Torgau trên sông Elbe. Harry S. HẾT 133 . 13/2. Nhật chấm dứt kháng cự tại Philippines. 21/4. chiến tranh kết thúc tại Châu Âu. 3/5. Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Hồng quân hoàn toàn chiếm Berlin. Phương diện quân Ukraina tới biên giới Đức. Toàn bộ các lực lượng Đức đầu hàng không điều kiện. Quân Mỹ chiếm đóng đảo Iwo Jima. 17/1. 6/8. 1945 12/1. 4/2. Hồng quân chiếm Danzig (Gdansk) 1/4. Tổng thống Mỹ Roosevelt chết. 3/12.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful