NGUYỄN ĐÌNH HOÈ - VŨ VĂN HIẾU

TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Giới thiệu chung

Vài nét về lịch sử của Tiếp cận Hệ thống Năm 1927 là một mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử tư duy hiện đại: đó là năm Einstein đưa ra lý thuyết Trường thống nhất và nhóm khoa học Copenhagen công bố chính thức về lý thuyết Cơ học lượng tử. Theo thuyết Cơ học lượng tử, thế giới khách quan không gì khác hơn là sự chuyển động của các luật quark có kích thước 10-18 mét, tuy nhiên cái gọi là "hạt" quắm này là không tồn tại như những vật thể, mà chỉ là hệ quả của các mối tương tác giữa các trường phi vật chất. Từ các “hạt" quark, những vi hệ thống đầu tiên được hình thành (proton và nơtron) để sau đó xuất hiện hạt nhân nguyên tử có đường kính 10-14 mét. Sự kết hợp giữa hạt nhân với các electron đã làm nảy sinh các hệ thống khác nhau: đó là các nguyên tử (d = 10-10 mét). Một hệ thống gồm 2 nguyên tử hyđrô và 1 nguyên tử ôxy xuất hiện, đó chính là phân tử nước - H2O một hợp phần cơ bản của thế giới sống có những tính chất đặc biệt mà các yếu tố tạo nên nó không có. Thế giới khách quan ngày nay trên Trái Đất chỉ bao gồm toàn là các hệ thống có cấu trúc, tính chất và quy mô rất khác nhau, từ những hệ thống vô cơ đơn giản cho đến các hệ xã hội nhân văn phức tạp. Các hệ thống xuất hiện. tiến hóa, suy thoái, tan rã... theo những quy luật riêng. Tuy nhiên, con người nhận diện và hiểu biết về hệ thống lại rất muộn. Sự nhận diện các hệ thống khá muộn màng là hệ quả của một quá trình lâu dài mà khoa học đã kiên trì việc chia nhỏ sự vật để nhận thức (tư duy phân tích), từ đó mà hình thành ra các lĩnh vực chuyên ngành và các chuyên gia có chuyên môn sâu về một lĩnh vực hẹp.
2

Các hệ thống - ngược lại - là những tổng thể, chỉ có thể nhận diện trên cơ sở phân tích liên ngành, đa ngành và gian ngành Năm 1956 đánh dấu sự xuất hiện của tiếp cận hệ thống với công trình của nhà sinh vật học người áo có tên là Ludwig von Bertalanffy, “Học thuyết chung về hệ thống”. “Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó” . Học thuyết của Bertalanffy chỉ rõ cách thức đúng đắn mà con người xây dựng khái niệm về thực tại xung quanh mình, đồng thời cũng là một tiếp cận sắc sảo để giải quyết các vấn đề được đặt ra. Tiếp cận hệ thống không chỉ sử dụng kiến thức chuyên sâu của một ngành khoa học, mà còn sử dụng kiến thức đa ngành và liên ngành. Ở đâu có sự đa dạng kiến thức khoa học được sử dụng chồng chập trong cùng một hệ phương pháp để giải quyết cùng một vấn đề, ở đó tiếp cận hệ thống được ứng dụng và phát triển. Những lý do trên cho thấy tại sao tiếp cận hệ thống lại phát triển mạnh khi nó gắn với lĩnh vực nghiên cứu môi trường và phát triển - mảnh đất đa dạng đòi hỏi của các kiến thức liên ngành và đa ngành. Công trình của Clayton và đồng nghiệp, 1997 [7] chính thức mở đầu cho giai đoạn này vì nó cung cấp một bộ công cụ sắc sảo dựa trên tiếp cận hệ thống cho phát triển bền vững. • Những nền tảng khoa học - góp phần phát triển Tiếp cận Hệ thống Tiếp cận Hệ thống, nhiều trường hợp còn được gọi là Tư duy Hệ thống, là một lĩnh vực mới mẻ và đang được hoàn thiện rất nhanh do tính thực tiễn cao của nó. Tiếp cận Hệ thống không hình thành một cách đơn độc. Một số thành tựu khoa học sau đó đã xuất hiện góp phần cho "Học thuyết chung về hệ thống" của Bertalanffy phát triển. Đó là lý thuyết Nhiễu loạn (chaos) và Hình học Gồ ghề (fractal geometry).
3

Vào đầu những năm 1970, một số nhà khoa học Âu, Mỹ bắt đầu chú ý đến hiện tượng mất trật tự của khí quyển, đặc tính sóng gió của mặt nước, sự tăng giảm số lượng cá thể trong các quần thể sinh vật hoang dã, biến động giá cả của các mặt hàng, các vụ kẹt xe trên đường giao thông... Đây là những hệ động lực mà sự tiến hóa của nó không thể xác định được bằng các định luật vật lý. Các hệ thống này có lính chất nhiễu loạn hoặc hỗn độn (chaos), tức là tính chất đặc trưng cho một hệ động lực mà hành vi của nó trong không gian pha phụ thuộc một cách cực kỳ nhạy cảm vào các điều kiện rất mờ nhạt, rất tản mạn ban đầu. Lý thuyết Nhiễu loạn là khoa học về các quá trình chứ không phải về các trạng thái cụ thể, về cái sắp hình thành chứ không phải của cái đã xác lập (Nguyên Ngọc Giao, 1998, [2]). Lý thuyết Nhiễu loạn được coi là cuộc cách mạng khoa học lớn đứng hàng thứ ba sau thuyết Tương đối và Cơ học lượng tử thuyết Tương đối phá bỏ quan niệm về không gian, thời gian tuyệt đối; thuyết Cơ học lượng tử phá bỏ quan niệm về thế giới vật chất có thể cân, đong, đo đếm; còn thuyết Nhiễu loạn phá bỏ quan niệm về tính tất định trong tiến hóa của các hệ thống (tính tất định là tính chất của một hệ thống động lực theo thời gian hoàn toàn có thể xác định được nếu ta biết được trạng thái ở một thời điểm trước đó thông qua các định luật vật lý). Lý thuyết Nhiễu loạn đánh dấu việc chấm dứt sự phân cách giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau, nó đòi hỏi cách nhìn thế giới như một tổng thể, đó chính là bậc thang cơ bản dẫn đến sự phát triển mạnh của lý thuyết hệ thống sau này. Lý thuyết Nhiễu loạn có quan hệ khăng khít với Hình học Gồ ghề tức là hình học về các hình dạng đặc trưng bằng thứ nguyên thập phân. Đó là những hình dạng lớn hơn một điểm nhưng nhỏ hơn một đoạn, lớn hơn một đường nhưng nhỏ hơn một mặt, lớn hơn một mặt nhưng nhỏ hơn một khối... Từ hình học gồ ghề, phát triển thành lý thuyết về các hệ thống gồ ghề, đa chiều với số thứ nguyên
4

là số thập phân. Đó chính là hình ảnh của các hệ sản xuất. Chính các hệ gồ ghề mới là dạng tồn tại thực tiễn và tạo ra sự đa dạng của môi trường. Các hệ thống gồ ghề nằm trong khoảng trung gian giữa thế giới các nhiễu loạn không kiểm soát được và thế giới có trật tự thái quá, cứng đọng của hình học Euclide. Thuật ngữ gồ ghề (fractal) do Mandelbrot đề xuất lần đầu năm 1977, hơn 20 năm sau khi "Học thuyết chung về hệ thống" ra đời. Chính nhờ lý thuyết của Mandelbrot mà lý thuyết hệ thống từ mức độ chỉ áp dụng cho sinh học và sinh thái học trở nên có khả năng áp dụng sang các hệ thống đa chiều của xã hội. Ở đây chúng ta thấy một quy luật: không nhất thiết các lý thuyết nền tảng phải xuất hiện toàn bộ trước một lĩnh vực khoa học mới, chúng có thể xuất hiện sau để hoàn thiện thêm cho lý thuyết khoa học mới này. Tuy nhiên, việc mở rộng lý thuyết hệ thống sang lĩnh vực xã hội (môi trường và phát triển) còn phải chờ đợi thêm sự xuất hiện của một hệ phương pháp nữa, đó là hệ phương pháp kiến tạo chỉ số. Thập niên 1990 được đánh dấu bằng sự xuất hiện các chỉ số đo lường sự tiến bộ xã hội của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc UNDP. Đó là các chỉ số như HDI (chỉ số phát triển nhân văn), HPI (chỉ số nghèo nhân văn), CPM (độ đo nghèo tiềm năng), GDI (chỉ số phát triển giới) v.v... Đây là một hệ phương pháp xác định gần đúng chất lượng của các hệ thống xã hội bằng một số tối thiểu chỉ số định lượng, được đo đạc thông qua một số ít tiêu chí đặc trưng, đơn giản và dễ xác định. Các chỉ số phát triển của UNDP đã mở ra phương hướng mới nhằm đo lường chất lượng một hệ thống xã hội đa chiều bằng một số ít chiều đặc trưng, mỗi chiều được xác định qua tỷ lệ giữa mức độ đạt được so với mức độ kỳ vọng. Đây là một hệ phương pháp có ý nghĩa thực tiễn rất lớn: đánh giá một hệ thống phức tạp, hỗn độn bằng một con số đơn giản, và do đó mà một hệ thống không thể quản trị được trở thành một hệ
5

thống mà nhà quản lý có thể ảnh hưởng được. Tóm lại: lý thuyết Nhiễu loạn, lý thuyết về các hệ thống gồ ghề và hệ phương pháp kiến tạo chỉ số là những hòn đá tảng của sự phát triển lý thuyết hệ thống trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và quản trị phát triển hiện nay. • Tiếp cận Hệ thông ở Việt Nam Tập tài liệu mỏng và không được phát hành rộng rãi "Về hệ thống và tinh ì hệ thống" của Phan Dũng (1996) [1] có lẽ là tài liệu đầu tiên về lý thuyết hệ thống ở Việt Nam. Đây là tập tài liệu sử dụng lý thuyết Hệ thống làm cơ sở của sáng tạo khoa học chứ chưa nhằm ứng dụng vào các hệ thống thực tiễn. Lý thuyết Hệ thống được Nguyễn Đình Hoè (1998, 1999, 2002, 2005) [3, 4, 5, 6] sử dụng để nghiên cứu cáo hệ thống chăn thả gia súc có sừng, nuôi trồng thủy sản, các hệ thống sinh thái nhân văn nhạy cảm và đánh giá các dự án phát triển bằng sơ đồ khung logic. Trên cơ sở này, môn học "Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển được đưa vào giảng dạy tại khoa Môi Trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 2002. Qua mỗi lần giảng dạy, giáo trình được cập nhật và bổ sung thêm trên cơ sở các nghiên cứu thực tiễn cũng như nguồn tài liệu tham khảo mới ngày càng phong phú hơn. Đáng chú ý có các tài liệu về tư duy hệ thống của ứng dụng lý thuyết hệ thống vào quản trị doanh nghiệp [12, 19]. Như vậy, những năm đầu thế kỷ 21 đánh dấu bước phát triển ứng dụng ồ ạt của tiếp cận hệ thống vào các hệ sản xuất, vào nghiên cứu phát triển. Mỗi bước phát triển đòi hỏi lý thuyết hệ thống phải được hoàn thiện thêm và ngày càng được các nhà khoa học, các nhà quản lý tài nguyên, môi trường và các hệ sản xuất chú ý rộng rãi. • Cấu trúc của giáo trình Giáo trình được cấu trúc thành 4 chương
6

Chương 1 - Đại cương về hệ thống, trình bày khái niệm về hệ thống và tính các chất chung của hệ thống. Người đọc cần nắm vững những khái niệm cơ bản ở chương này để có thể đi tiếp vào những chương tiếp theo. Trên đại dương mênh mông của các khoa học phân tích, chia nhỏ và xây dựng luận đề xung quanh các định luật tất định, các khái niệm hệ thống lý giải cái tổng thể, cái nhiễu loạn... sẽ trở thành một thách thức với người đọc, bởi vì "tư duy hệ thống là tư duy phi truyền thống dành cho những độc giả phi truyền thống" (Gharajed8ghi. 2005 [12]). Chương 2 - Đại cương về Tiếp cận Hệ thống, trình bày những định hướng chung của tiếp cận hệ thống như là một cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc, động lực của chúng. Các cách tiếp cận mềm và cứng, mô hình và mô phỏng, những rủi ro và những điểm cần lưu ý khi sử dụng tiếp cận hệ thống . . . được trình bày ở chương này. Chương 3 - Một số công cụ của Tiếp cận Hệ thống trong nghiên cứu môi truvng và phát triển. Đây là chương quan trọng nhất của giáo trình, cung cấp cho người đọc các công cụ có thể áp dụng vào nghiên cứu các hệ thống khác nhau trong lĩnh vực có con người tham gia. Chương 4 - Các hệ thống sản xuất. Phần này trình bày các nghiên cứu trường hợp, sử dụng tiếp cận hệ thống để nghiên cứu các hệ sản xuất khác nhau khi chăn thả gia súc có sừng ở vùng khô hạn, nuôi trồng thủy sản, xác lập các điểm tái định cư, phòng trừ dịch hại cây trồng v.v... Những nghiên cứu trường hợp ở chương này có thể chưa thực sự điển hình mà chỉ là những gợi ý cho người đọc. Phân công trách nhiệm giữa 2 tác giả của giáo trình như sau: Vũ Văn Hiếu tham gia soạn thảo một phần chương 2 và mục 4.6 chương 4. Nguyễn Đinh Hoè chịu trách nhiệm biên soạn toàn bộ phận còn lại của giáo trình. Nhóm biên soạn xin cảm ơn những
7

nhận xét, góp ý quý báu của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản. Bộ thuỷ sản và của TS. Nguyễn Xuân Cự, khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhờ những góp ý sắc sảo của hai nhà khoa học nói trên mà bản thảo giáo trình đã được hoàn thiện lên rất nhiều. Sự biết ơn sâu sắc của nhóm biên soạn cũng xin được gửi tới Th.S Trần Phong, Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Ninh Thuận, về những hỗ trợ quý báu mà Sở đã tạo điều kiện cho nhóm biên soạn trong việc ứng dụng tiếp cận hệ thống vào nghiên cứu một số vấn đề bức xúc về môi trường và phát triển của Ninh Thuận - Không có những nghiên cứu ứng dụng này, nội dung của chương 2 và 3 sẽ nghèo nàn đi rất nhiều. Nhóm tác giả mong nhận được ý kiến phê bình của các đồng nghiệp và người đọc để có thể tiếp tục hoàn thiện giáo trình trong tương lai. Nguyễn Đinh Hòe

8

Chương 1 Đại Cương về hệ thống

1.1. Định nghĩa “Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó” (L.v.Bertalallffy, 1956). Các yếu tố của một hệ thống thường tham gia vào nhiều hệ thống khác. Điều này đòi hỏi mỗi một thành tố phải thực hiện tết vai trò của mỗi hệ thống mà nó đóng vai. Tiếp cận hệ thống không hoàn toàn đồng nghĩa với phương pháp phân tích hệ thống vì ngoài phần phương pháp (còn đang được phát triển và hoàn thiện), tiếp cận hệ thống còn đề cập đến vấn đề về lý thuyết hệ thống cũng như phương hướng ứng dụng lý thuyết này trong thực tiễn. 1.2. Các đặc tính và chức năng của hệ thống Tiếp cận hệ thống nhấn mạnh vào việc xác định và mô tả mối liên kết giữa các yếu tố cấu tạo nên hệ thống và tương tác giữa chúng. Một hệ thống là một tập hợp các thành tố tương tác với nhau. Sự thay đổi một thành tố sẽ dẫn đến sự thay đổi một thành tố khác, từ đó dẫn đến thay đổi thành tố thứ ba... Bất cứ một tương tác nào trong hệ thống cũng vừa có tính nguyên nhân, vừa có tính điều khiển. Rất nhiều tương tác có thể liên kết với nhau thành chuỗi tương tác nguyên nhân - kết quả. 1.2.1. Chức năng của hệ thống
9

Một hệ thống thường có nhiều chức năng, trong đó có ít nhất một chức năng chính và nhiều chức năng phụ. Ví dụ một hệ cửa sông vừa có chức năng thoát lũ, vận tải thủy, nuôi trồng thủy sản hoặc cấp nước... Các thành tố tạo nên hệ thống cũng có những chức năng riêng thuộc hai nhóm cơ bản: - Chức năng kiểm soát (gây biến đổi thành tố khác). - Chức năng bị kiểm soát (bị các thành tố khác gây biến đổi). 1.2.2. Mạng phản hồi Còn được gọi là hiện tượng đa nhân tố (Multi - factionality). Đó là một chuỗi tương tác nguyên nhân - kết quả có thể đan xen lẫn nhau. Điều đó có nghĩa là mỗi thành tố của hệ thống có thể khởi đầu một chuỗi nguyên nhân - kết quả đan xen, làm cho mỗi thành tố trong mạng lưới trở nên có khả năng gây ảnh hưởng gián tiếp lên chính nó. Cấu trúc này được gọi là mạng lưới phản hồi. Một hệ thống có thể chứa nhiều mạng lưới phản hồi, một số hay tất cả các mạng phản hồi này đan xen với nhau, trong đó một thành tố bất kỳ hoạt động vừa với chức năng kiểm soát, vừa với chức năng bị kiểm soát. Hành vi của mỗi thành tố, vì thế, là kết quả của hàng loạt các yếu tố cạnh tranh. Mạng phản hồi được gọi là mạng kích động (hay tích cực), khi tác động phản hồi lại thành tố ban đầu có tính kích thích nghĩa là làm cho thành tố ấy khởi phát một chuỗi các sự kiện tương tự tiếp theo; Mạng phản hồi sẽ được gọi là triệt tiêu giun hãm, tiêu cực) khi tác động phản hồi trở lại thành tố ban đầu có tính kìm hãm, nghĩa là có xu thế kìm hãm thành tố ban đầu không cho nó khởi phát chuỗi sự kiện tương tự tiếp theo. 1.2.3. Tính trồi Là đặc tính quan trọng nhất của hệ thống. Tính trồi là tính
10

chất có ở một cấp hệ thống mà không có ở các hệ thống cấp thấp hơn nó hoặc các thành tố tạo ra hệ thống, ví dụ chiếc đồng hồ có thể chỉ giờ chính xác trong khi từng bộ phận của nó không có khả năng này. 1.2.4. Tính kiểm soát thứ bậc Thứ bậc là các cấp độ phức tạp của một hệ thống. Một hệ thống luôn luôn được tạo thành từ các hệ thống con (bậc dưới), và chính nó lại là thành tố của một hệ thống lớn hơn (thượng hệ - bậc cao hơn). Vì thế hệ thống luôn có tính thứ bậc. Kiểm soát thứ bậc là sự áp đặt chức năng mới, ứng với mỗi thứ bậc, so với các thứ bậc thấp hơn. Sự kiểm soát có tính kích động (khi một số hoạt động được hoạt hóa), hoặc có tính kìm hãm (khi một số hoạt động trở nên trì trệ). Một trong những thách thức của các hệ thống môi trường là sự tự kìm hãm quá đáng (tạo ra khả năng thích ứng kém trước những hoàn cảnh mớn và sự tự kiểm soát hời hời (giảm năng suất của hệ thống, có thể tạo ra rủi ro do các quá trình nội lực của hệ thống vượt ra khỏi ranh giới hệ thống, gây tan rã hệ). 1.2.5. Tính lan truyền thông tin Lan truyền thông tin nhằm gây tác động điều chỉnh và phản hồi. Thông tin được lan truyền từ tác nhân điều khiển đến tác nhân bị điều khiển để thực hiện chức năng kiểm soát của tác nhân điều khiển. Thông tin cũng cần phải lan truyền ngược từ tác nhân bị điều khiển đến tác nhân điều khiển làm cho tác nhân điều khiển có khả năng giám sát sự phục tùng của tác nhân bị điều khiển, từ đó có thể điều chỉnh hoạt động giám sát trong tương lai. Mạng phản hồi kích động và kìm hãm, do đó, là cốt lõi của quá trình lan truyền. Nếu tác nhân bị điều khiển không tạo được sự đáp ứng phù hợp trước tín hiệu cuối cùng phát ra từ tác nhân điều khiển, thì tác nhân điều khiển phải phát lại tín hiệu hoặc tăng cường tín hiệu. Nếu tác nhân
11

bị điều khiển đáp ứng thái quá thì tác nhân điều khiển có thể phải gửi những tín hiệu điều chỉnh để kìm hãm bớt. 1.2.6. Tính ì và tính hỗn loạn Tính ì là sự ổn định của một trạng thái giúp hệ thống tách khỏi các trạng thái khác. Khi ở trong trạng thái ì. một hệ thống có xu thế duy trì nguyên trạng cho đến khi có một tác động bên ngoài đủ mạnh hoặc một biến đổi bên trong đủ mạnh để chuyển hệ thống ra khỏi trạng thái ì ban đầu. Lực ì có thể rất mạnh hoặc rất yếu. Một hệ thống có thể vận hành qua một loạt trạng thái ì, lần lượt vượt qua từng trạng thái một (mỗi trạng thái ì đòi hỏi hệ phải dừng một khoảng thời gian). Tính hỗn loạn là hành vi hỗn loạn không thể dự báo được xảy ra bên trong một hệ xác định. Những hành vi như vậy cực kỳ nhạy cảm với các thay đổi nhỏ, khiến cho chỉ có thể dự báo được các hành vi dài hạn của hệ một cách không mấy chính xác. Bertalanfyy (1969) là người đầu tiên xây dựng các khái niệm về hệ cô lập và hệ mở [9]. Sự phân biệt giữa hệ cô lập và hệ mở phụ thuộc vào tính chất nhiệt động lực học. Ở đây cần phải nhắc lại một trong những quy luật vật lý quan trọng nhất, đó là định luật thứ hai về nhiệt động lực học. Định luật này cho rằng, "Nếu không được cung cấp thêm năng lượng, toàn bộ hệ thống sẽ chuyển từ trạng thái có trật tự sang trang thái hỗn loạn". Đây là một định luật cốt lõi của lý thuyết Hệ thống. Rõ ràng là, trong số tất cả các cách có thể có dùng để sắp xếp các tổ phần tạo ra hệ thống, bất kể hệ thống đó là một bông hoa hay một chiếc máy tính, thì các dạng hình thái - vốn là cấu trúc có trật tự nhất và tạo ra các hệ thống con có chức năng riêng biệt - lại là không điển hình nhất, và phần lớn các dạng hình thái thực ra chẳng có gì hơn là những mớ hỗn độn của các phần tử riêng biệt. Định luật thứ hai chỉ rõ rằng, theo thời gian, ngay cả các hệ thống có trật tự cao cũng sẽ bị xuống cấp thành các hệ thống có trật tự thấp hơn. Lượng "vô trật tự” trong một hệ thống
12

có thể được đo lường và được gọi là entropy của hệ thống". Định luật thứ hai nói rằng, entropy của bất cứ hệ thống nào không được cung cấp năng lượng, chắc chắn sẽ tăng theo thời gian. Điều đó giải thích tại sao vật gì rồi cũng sẽ bị phân hủy và bị tiêu vong. Sự sống là một quá trình giảm entropy. Hệ thống sống có khả năng xây dựng, tái sinh và tạo ra trật tự, lý do cho rằng sự sống có thể tồn tại là bởi vì trái Đất luôn luôn dược mặt trời cung cấp năng lượng. Chính năng lượng Mặt lời cho phép entropy giảm đi hơn là tăng lên. Xuất phát từ phân tích trên, chúng ta sẽ phân tích sự khác biệt giữa các hệ cô lập và hệ mở. Hệ cô lập có những thành phần không thay đổi, không tương tác với mới trường ngoài. Chúng cuối cùng sẽ đạt đến một trạng thái cân hàng, nhưng luôn vận động theo hướng có entropy cao hơn vì không được cung cấp thêm năng lượng. Nói như thế có nghĩa là các hệ cô lập thường đạt đến một điểm mà tại đó sẽ không có thay đổi gì nữa. Hệ mở, ngượi lại, trao đổi liên tục với môi trường của nó. Sự trao đổi này bao gồm vật chất, năng lượng và thông tin. Hệ mở có thể đạt đến một trạng thái ổn định tuỳ thuộc cao mối quan hệ trao đổi liên tục với môi trường được duy trì, khiến cho hệ có khả năng tạo ra và duy trì trạng thái có entropy thấp. Điều này có nghĩa rằng một số hệ mở có thể duy trì tính toàn vẹn của chúng mặc dù điều đó luôn luôn kèm theo sự gia tăng enlropy ở đâu đó. 1.2.7. Cân bằng hệ thống Cân bằng là sự ổn định. Với hệ thống mở đó là sự cân bằng động. Toàn bộ các hệ thống sống đều là hệ mở. Tất nhiên môi trường trong đó các hệ thống sống tồn tại, tự nó không bao giờ hoàn toàn ổn định, do đó các hệ thống sống buộc phải cố trao đổi ổn định hợp lý với các nguồn tài nguyên vốn luôn biến động theo
13

thời gian. Điều này có nghĩa rằng các hệ thống sống và các thứ bậc sinh thái của các hệ thống sống phải duy trì các quá trình lan truyền và kiểm soát sao cho chúng có thể giám sát và ứng xử với sự xáo trộn của môi trường sống thực tế. Cần chú ý rằng việc kiểm soát có hiệu quả, trong một môi trường dầy biên động, đòi hỏi hệ thống phải có một cơ chế kiểm soát với nhiều kiểu ứng xử thích hợp với các kiểu đa dạng của thông tin môi trường. Hiện tượng này đôi khi được gọi là định luật về các biến đổi cần thiết. Các biến đổi này được gọi là cần thiết để duy trì ranh giới/ ngưỡng an toàn của hệ thống. 1.3. Xác định hệ thống Có một số bước cần tuần tự điểm qua khi xây dựng mô hình của một hệ thống: 1- Xác định các yêu tố gắn kết của một hệ thống và xác định các nguyên tắc gắn kết. Một số hệ thống chức năng được tổ chất trên một cơ sở đặc biệt, có thể có các thành tố khác nhau tuỳ thuộc vào mục tiêu của hệ thống. 2- Xác định các cơ chế kiểm soát, nhờ đó mà hệ thống duy trì được sự gắn bó giữa các yếu tố cũng như khoảng giá trị mà các cơ chê đó vận hành. Các hệ thống sinh thái và môi trường thường được đặc trưng bằng tính rườm rà, vốn thường dùng nhiều cách kiểm soát khác nhau. Ví dụ hệ thống môi trường có các cách duy trì cân bằng: hướng dẫn, chế tài, kinh tê, quy hoạch, v.v... 3- Xác định ranh giới hệ. Ranh giới hệ quyết định các nguồn vào là nguồn ra của hệ, cũng như ngưỡng an toàn của hệ. 4- Xác định các phân hệ của hệ, hoặc các thượng hệ của hệ (thượng hệ là một hệ thống cấp bậc cao hơn mà hệ đang xét là một phân hệ của nó). Không có một sơ đồ phân loại hệ thống nào được coi là khuôn
14

mẫu mặc dù thường các hệ thống cũng giống như hệ thống kinh tế vậy. Đôi khi người ta phân biệt ra các hệ thống sống và hệ thống không sống, hệ thống trừu tượng và hệ thống cụ thể, hệ mở và hệ cô lập. Cũng có thể chia thành các hệ cơ sở, hệ điều hành, hệ mục tiêu và hệ kiểm soát. Các hệ thống được gộp thành 5 nhóm là: (1). Các hệ tự nhiên. (2). Các hệ cơ khí (máy móc). (3). Các hệ trừu tượng toán học). (4). Các hệ nhân văn. (5). Các hệ huyền ảo (các hệ ngoài tri thức). Các hệ thống thuộc các nhóm trên đây thuộc các kiểu hoàn toàn khác nhau. Đặc biệt các hệ 2 - 3 và 4 lại hoàn toàn khác với các hệ tự nhiên. 5. Xác định chức năng. Xác định chức năng chính và các chức năng phụ của hệ thống bằng cách trả lời các câu hỏi: hệ thống có những vai trò gì, có mục tiêu gì trong thượng hệ. 1.4. Mô hình hóa các hệ thống Nhìn chung, một mô hình tốt phải là mô hình rẻ tiền và có tính dự báo cao. Điều đó có nghĩa là mô hình phải bao gồm tất cả các thành tố có ý nghĩa, bao trùm mọi khoảng giá trị và phản ánh xác thực hành vi thực tế của hệ thống, đồng thời phải loại bỏ các thành tố không có giá trị và không thích hợp. Một vấn đề quan trọng khi mô hình hóa hệ thống là làm thế nào để xác định các thành tố phù hợp. Thường không thể có được các từ số đối với tất cả các thành tố cho việc mô hình hóa. Do đó, người ta thường phải làm việc chỉ với các thành tố đã được xác định. Sau đó, cần làm rõ mỗi thành tố có vai trò gì trong hệ thống,
15

điều này cũng rất khó. Kết quả là các thành tố có thể có tương quan phi tuyến, hoặc có tương quan gãy khúc do đột biến tính chất ở các ngưỡng hoặc thậm chí là tương quan chậm trễ (lùi). Ngoài ra, số liệu nhiều khi không chính xác khiến cho kết quả bị nhiễu. Có 4 phương diện cơ bản để đánh giá mô hình: Tính thống nhất về cấu trúc. Mô hình phải phản ánh cấu trúc cơ bản của hệ thống, cấu trúc đó phải phản ánh các yếu tố, mối liên kết tương hỗ và mạng phản hồi tồn tại trong thực tế. Tính thống nhất về hành vi. Mô hình phải có hành vi cùng một kiểu như hệ thực tế, biểu hiện cùng một dạng nhiễu loạn, ngưỡng, tính không ổn định, biến đổi, trạng thái cân bằng... Sát thực tế. Mô hình phải phản ánh giống như hệ thực tế, có cùng các thông số và điều kiện, có tính thực tiễn, có tính phù hợp địa phương. Dễ áp dụng. Mô hình phải trả lời được các câu hỏi đặt ra, cung cấp được thông tin có giá trị. Mô hình hệ tuyến tính thường cung cấp các đặc tính khá chính xác của một hệ thống thông qua một bộ phương trình phản ánh hành vi của hệ thống. Ví dụ các mô hình kinh tế kinh điển có thể gồm hàng trăm phương trình. Một trong những đặc trưng của mô hình phi tuyến, ngược lại, là ở chỗ động lực cơ bản của hệ đôi khi được thu gọn trong rất ít, đôi khi chỉ 2 ÷ 3 phương trình. 1.4.1. Hành vi của hệ thống động lực Các hệ thống thích ứng hoặc động lực ví dụ như thời tiết, quá trình tiến hóa, hoặc vận hành thị trường . . . tạo ra những vấn đề mới của mô hình hóa. Rất khó mô hình hóa và dự báo hành vi của những hệ thống phức tạp như vậy. Cho đến bây giờ vẫn chưa có được các công cụ và kỹ thuật cần thiết cho mục tiêu này. Tuy nhiên
16

nhìn chung, có thể thấy rằng kiểu liên kết giữa các yếu tố của một hệ động lực tập trung vào việc xác định hành vi của hệ thống đó. Hành vi của một hệ động lực thường gồm 4 nhóm như sau: Nhóm 1: Gắn kết nếu hệ "đóng băng" do sự tự kiểm soát quá mức. Nhóm 2: Định kỳ nếu hệ vận hành qua một số chu kỳ xác định. Nhóm 3: Hỗn loạn nếu hệ là không thể xác định dù bất cứ mục tiêu thực tiễn nào. Điều này cũng có thể nảy sinh ở các hệ thống vốn tuân theo một bộ xác định các quy tắc - được gọi là "sự hỗn loạn được xác định". Bất kể sự hỗn loạn là được xác định hay thực tế không được xác định, thì hành vi cụ thể của loại hệ thống này cũng không thể nào dự báo được. Nhóm 4: Gần hỗn loạn, nếu hệ nằm ở vị trí giữa ổn định và biến động. Đây là một đội hẹp nhưng rất quan trọng nằm giữa các nhóm hành vi 2 và 3. Các loài sinh vật thường có hành vi ở nhóm 4. Một hệ thống chỉ có một vài mối liên kết giữa các yếu tố sẽ biểu lộ hành vi theo nhóm 1 . Nếu một hệ thống như vậy bị xáo trộn trong một phần của hệ, thì hậu quả thường có tính cục bộ vì tác động sẽ không lan truyền trong toàn hệ. Một hệ thống có mức độ gắn kết đa dạng giữa các yếu tố thì có hành vi ở nhóm 3. Bất cứ sự biến động nào cũng lan toả toàn hệ thống, có thể dẫn đến điểm mà hệ trở nên hỗn loạn. Nhóm 4 có cách ứng xử khó dự báo hơn. Nếu một hệ thống nhóm 4 bị xáo trộn, thì hoặc sẽ ít phản ứng, hoặc phản ứng sẽ rất rộng rãi, thậm chí rối loạn tùy theo điều kiện nội tại của hệ thống lúc đó. Các hệ thống có tính trồi, là hành vi của toàn hệ mà các thành phần riêng biệt của nó không có, các thành phần này cũng có hành vi mà các yếu tố nhỏ tạo ra chúng không có. Một nét đặc trưng của
17

các hệ động lực là chúng có thể được sắp xếp (được điều khiển) và ổn định. Tính ổn định cổ thể là tính trồi của hệ, một chức năng chỉ nảy sinh do tương tác giữa các yếu tố trong hệ. Ví dụ một hệ sinh thái có thể duy trì trạng thái ổn định do sự tương tác giữa các loài có mặt trong hệ. Trong xã hội, hành vi tổng hợp của các công ty, người tiêu dùng, thị trường có thể là ổn định mặc dù quyết định mua bán của các cá nhân tạo nên cộng đồng có thể không dự đoán được. 1.4.2. Các hệ thích ứng phức tạp Có một nhóm gồm các hệ thống phức tạp rất đặc biệt và rất quan trọng, được gọi là các hệ thống thích ứng. Đặc điểm duy nhất phân biệt loại hệ thống này với các hệ thống thuộc kiểu khác là ở chỗ, các hệ thích ứng, bằng cách nào đó, tương tác với môi trường và thay đổi hành vi tùy theo sự thay đổi của môi trường. Ví dụ các hệ thống sống là những hệ thích ứng. Chúng có một kho lưu trữ các hành vi giúp cho chúng thích nghi với sự thay đổi của môi trường. Sự thích ứng này có thể diễn ra qua nhiều thế hệ, hoặc thậm chí chỉ trong phạm vi cuộc đời của một cá thể. Tất nhiên có những biến đổi môi trường quá nhanh và quá mãnh liệt khiến các loài hoặc cá thể không tài nào thích ứng được. Điều này thường dẫn đến sự hủy diệt. Chính cái gọi là "kho lưu trữ hành vi" hoặc quy trình ứng xử tạo điều kiện cho các sinh vật này thích ứng, nhưng nhiều khi cũng không lại so với sự biến động nhanh của môi trường. 1.5. Tiến hóa và thích ứng của hệ thống Tiến hóa và thích ứng là hai hiện tượng đặc biệt quan trọng và liên kết chặt chẽ với nhau, rất phổ biến trong các kiểu hệ thống. Nhà sinh vật học tiến hóa Richard Dawkins (1982, 1988) đã khái quát yếu tố cơ bản của tiến hóa là "bản sao tích cực" . Ý tưởng của ông như sau: Một "bản sao" là bất cứ hệ thống nào có khả năng tự tái tạo hoặc được tái tạo. Quá trình tái tạo này không nhất thiết đòi
18

hỏi phải hoàn hảo, tuyệt đối không có sai sót, bởi vì trên thực tế không có quá u uất tái tạo nào là không có sai sót. Ví dụ điển hình cho các bản sao là các cơ thể sinh vật và cơ quan di truyền của chúng. Các bản photocopy, bản fax cũng là một loại bản sao. Dawkins coi các đơn vị thông tin cũng là bản sao vì khi giao tiếp giữa con người với nhau, thông tin được chuyển giao. Bản sao thông tin được Dawkins gọi là "me me" (từ chữ memo memory). Sau khi xây dựng khái niệm về “bản sao", Dawkins tiến tới phân loại chúng thành 2 nhóm: nhóm chủ động và nhóm bị động tuỳ thuộc vào chất lượng của bản sao tác động đến độ chính xác của quá trình sao chép như thế nào. Gái là các bản sao chủ động vì các đen tốt thường được sao chép tết trong các cá thể con cháu, làm cho thế hệ con cháu duy trì và cải thiện được khả năng sinh tồn và tránh được kẻ săn mồi, kiếm mồi tốt hơn hoặc có sức hấp dẫn hơn với bạn tình. Meme cũng là loại bản sao chủ động, vì trong quá trình truyền thông, các thông tin tốt, có ích được chọn lọc và truyền bá tốt hơn các thông tin vô ích. Trong khi đó, một bản photocopy lại là loại bản sao bị động vì dù nó có nội dung gì cũng không thể quyết định chất lượng bản copy. Dawkins phân loại các bản sao thành hai nhóm ngắn hạn và dài hạn tùy thuộc vào việc chúng có khả năng được sao chép mãi hay không. Các tế bào sống của con người (trừ tế bào sinh sản) là nhóm ngắn hạn, dù rằng chúng có thể được sao chép trong thời gian một đời người, nhưng chỉ có tế bào sinh dục mới được tái tạo trong các thế hệ sau. Meme và bản copy thuộc loại dài hạn vì chúng có thể được tái sinh qua rất nhiều thế hệ. Bởi vì không có quá trình sao chép nào là hoàn hảo tuyệt đối, do đó hệ thống qua mỗi lần sao chép lại xuất hiện các biến dị (các
19

sai sót do nhân bản). Mặc dù đa phần các biến dị là gây hại cho các thế hệ sau, nhưng một số trường hợp cũng nảy sinh những biến dị có lợi, điều này chỉ xảy ra trong trường hợp nhân bản chủ động. Nếu bản sao thuộc nhóm dài hạn, thì rất có thể các biến dị có lợi sẽ được tích lũy để nâng cấp chất lượng của các thế hệ mới. Đó chính là hiện tượng tiến hóa. Tiến hóa giúp cho tăng cường khả năng sinh sản một số lượng đông con cháu khoẻ mạnh và có khả năng sinh tồn. Trong trường hợp các hệ thống có khả năng nhân bản (tái sinh), có hai tổ phần tách biệt của "tính chính xác sinh sản" là: - Tính hiệu quả của quá trình nhân bản, có thể tiến hóa được. - Bất cứ yếu tố nào làm cho quá trình nhân bản được thích hợp hơn, giúp cho việc tăng cường khả năng bắt mồi, thích nghi với môi trường, thu hút bạn tình... Cần phải hiểu rằng tính tiến hóa chính xác của một cá thể sinh vật là không bất biến, mà thay đổi do tự thân tiến hóa, và góp phần làm thay đổi các thông số môi trường trong đó quá trình nhân bản xảy ra. Điều đó dẫn đến sự xuất hiện rất nhiều biến thể tiến hóa. Trong đó có cả hiện tượng chạy đua vũ khí khi vật dữ và con mồi cũng phải tiến hóa để săn mồi hoặc chạy trốn tốt hơn... Tiến hóa cũng nhằm để thích ứng, nhưng là một dạng thích ứng quan trọng và đặc biệt của quá trình thích ứng rộng rãi hơn. Không giống như tiến hóa, thích ứng nói chung không đòi hỏi hiện tượng nhân bản dài hạn chủ động. Ví dụ quá trình học tập ở con người và các động vật khác, sự phát triển cơ bắp, các quá trình sinh học nhằm duy trì sự cân bằng ôxy của khí quyển, sự móc nối của các mạng phản hồi ổn định v.v... Tất nhiên, thích ứng cũng có nét tương tự như tiến hóa ở chỗ nó cũng không yêu cầu các nguyên tắc tổ chức cao hơn, tri thức (nhận thức) cao hơn và sự có chủ định sẵn. Cả tiến hóa lẫn thích
20

ứng đều là những "quá trình mù”. Sự đánh giá cốt lõi của một hệ thích ứng là tình ổn định hơn là tình nhân bản (sao chép) chính xác. Ổn định giữ một vai trò rất quan trọng. Vì các hệ thống thường không cô lập, các biến dị liên tục được nhập vào khi hệ bị nhiễu loạn do những ảnh hưởng bên ngoài. Một vài trạng thái của hệ có tính ổn định hơn các trạng thái khác. Điều này có thể là do chúng không hàm chứa các động lực nội sinh cho sự thay đổi, hoặc bởi vì chúng bao gồm các cơ chế kiểm soát có tính chu kỳ. Cũng còn có thể là do chúng có khuynh hướng kháng cự lại những ảnh hưởng bên ngoài. Cơ chế của tính ì được tạo ra do các hiện tượng phản hồi triệt tiêu, cũng như các hiện tượng kháng cự số lớn với những tác động bên ngoài. Có sự liên hệ chặt chẽ giữa tính thích ứng và tiến hóa: - Khả năng tiến hóa đôi khi cũng có thể giúp tăng thích ứng, ví dụ não người tiến hóa làm tăng cường khả năng học tập. - Các hệ thích ứng phức tạp có thể hàm chứa các phân hệ tiến hóa. Cuối cùng, "sự tiến hóa" của các trạng thái trong một số hệ thống thích ứng, có nghĩa là mỗi trạng thái có thể "nhân bản" một cách không hoàn hảo để hình thành một trạng thái tiếp theo của hệ thống. Theo ý nghĩa không chính tắc này, trạng thái hệ cũng sẽ được phân biệt thành các trạng thái chủ động, dài hạn... Như vậy, có thể định nghĩa lính thích ứng của một hệ thống là sự chọn lọc, sắp xếp lại các hành vi và cơ cấu tổ chức của hệ thống nhằm thích nghi tết với một kiểu môi trường nhất định. Sự chọn lọc và sắp xếp này là những biến đổi nội tại, không làm tăng tính phức tạp, không làm nâng cấp quy mô tổ chức và không tăng quá mức độ trật tự sẵn có của hệ thống. Trái lại, tính tiến hóa của hệ thống là sự thay đổi về chất của hệ thống, định hướng vào việc xay dựng một hệ thống có cấu trúc ở
21

trình độ cao hơn, phức tạp hơn, trật tự hơn, có do lưu trữ hành vi đa dạng hơn, và hiệu quả của chúng là tạo ra một cơ hội thích ứng rộng rãi hơn. Thích ứng tạo cơ hội cho một hệ thống ổn định, còn tiến hóa tạo cơ hội cho một hệ thống thay đổi theo hướng hoàn thiện hơn để thích ứng lợi hơn. Một ví dụ kinh điển là dù có biến đổi để hình thành hàng ngàn loài cá thích ứng tốt với những sinh cảnh khác nhau, nhưng chỉ có loài cá vây tay di chuyển dược trên mặt bùn và có khả năng hấp thụ ôxy trong không khí bằng chiếc bong bóng bị biến đổi thành một loại phổi đơn giản, mới có khả năng tiến hóa thành động vật lưỡng cư sau này. Một hệ thống nhân bản để thích ứng luôn luôn lưu trữ các biến dị. Một số ít các biến dị đó sẽ là mầm mống của tiến hóa. Vì thế một hệ thống có khả năng tiến hóa luôn luôn phải có nhiễu loạn, luôn luôn có entropy ở một giá trị mà hệ thống có thể kiểm soát được. Những hệ thống ổn định cao, có entropy tháp thường là một hệ thống có tính thích ứng hơn là có tiềm năng tiến hóa. Các hệ thống "đóng băng" là những hệ thống không có khả năng tiến hóa. Vì thế, có một nguyên tắc trong điều khiển hệ thống là "không gắn kết quá chặt để tạo tiền đề cho những thay đổi". Xác định tiềm năng "không gắn kết quá chặt" cần thông qua những hành vi, những cấu trúc "lệch chuẩn" không gây hại cho hệ thống. Nguyên tắc "phân quyền và uỷ quyền" cho các đơn vị quản lý cấp dưới trong quản lý môi trường chính là khung pháp lý cho phép các thành tố của một hệ thống phát huy tính chủ động và sáng tạo. Cũng từ đó mà hình thành các nguyên tắc khác như "phi tập trung hóa", "xã hội hóa" trong quản lý môi trường.

22

1.6. Các ngưỡng của hệ thống và hệ sinh thái toàn cầu Toàn bộ các hệ thống sinh thái và sinh học đều có tính co dãn (đàn hồi). Chúng có thể thắng được một số loại sức ép hoặc phá hoại và duy trì khả năng tự phục hồi. Ngay cả khi một số yếu tố đơn lẻ của hệ bị phá huỷ, chúng cũng thường được khôi phục khiến cho hệ thống được duy trì. Tuy nhiên sự bành trướng hoạt động nhân sinh đã dẫn đến việc phá hủy cả các yếu tố của hệ hoặc toàn bộ hệ, làm giảm tính đàn hồi của hệ. Có một số quá trình sinh học có vai trò duy trì các điều kiện sinh thái hiện tại. Ví dụ hoạt động sinh học góp phần duy trì khối lượng, tỉ lệ và cân bằng các loại khí tạo nên khí quyển Trái Đất. Tỷ lệ các loại khí trong khí quyển Trái Đất hiện nay là ở trạng thái không cân bằng hóa học, và khí quyển được duy trì như vậy là do mạng phản hồi sinh học. Nếu các quá trình sinh học chấm dứt, khí quyển của Trái Đất dần dần sẽ tiến đến trạng thái cân bằng hóa học khiến cho không có dạng sống nào có thể tồn tại. Các quá trình sinh học là những quá trình động lực, phản ứng trước một môi trường đầy biến động. Ví dụ, khoảng 4,5 tỷ năm trước khi hệ Mặt Trời mới hình thành, nhiệt bức xạ từ Mặt Trời chỉ cỡ 70% so với ngày nay. Từ bấy đến nay, lượng nhiệt toả ra từ Mặt Trời đã tăng thêm 30%. Chỉ cần mỗi bán cầu thu được lượng nhiệt từ Mặt Trời bớt đi 2% đã đủ tạo ra khí hậu băng hà. Nếu khí hậu Trái Đất chỉ do nhiệt Mặt Trời quyết định, thì nhiệt độ bề mặt Trái Đất sẽ có giá trị âm (<0oC) cho đến cách ngày nay khoảng 2 tỷ năm, tức là bao gồm cả 1,5 tỷ năm đầu tiên của lịch sử sự sống. Tuy nhiên thực ra khí hậu trên Trái Đất đã không có biến đổi nhiều trong suất thời kỳ này. Trái Đất không hề đóng băng ngay cả khi nó tiếp nhận một lượng nhiệt Mặt Trời ít hơn ngày nay 30% [9]. Lí do cơ bản là ở chỗ khí quyển Trái Đất có đặc tính "nhà kính", mặc dù hiệu ứng này rất biến đổi tuỳ theo thành phần của khí quyển. Ví dụ vào thời gian Tiền Cambri (cách ngày nay trên 550
23

triệu năm), khí quyển Trái Đất có khoảng: • 19 % N2 • 0,1% O2 • 98% CO2 Trong khi khí quyển ngày nay có gần 79% N2, gần 21% O2 và 0,03% CO2. Chính CO2 và một số loại khí khác (NH3) đã hấp thụ bức xạ hồng ngoại phát ra từ Trái Đất và do đó kìm hãm nhiệt thoát vào khoảng không Vũ Trụ, tạo ra hiệu ứng nhà kính nguyên thuỷ. Những dạng sống nguyên thủy của Trái Đất đã hấp thụ C, N và H ra khí quyển. C và N đã được lưu trữ trong cơ thể sinh vật rồi lắng đọng dưới đáy biển dưới dạng các mùn bã hữu cơ (xác chết của sinh vật) đồng thời NH3 bị phân hủy, giải phóng H để tạo thành nước hoặc gia nhập vào khí quyển. Nếu không có cơ chế kiểm soát, sẽ xuất hiện sự thiếu hụt CO2 trong khí quyển, làm cho nhiệt độ sẽ giảm đi, tạo ra khí hậu băng hà. Băng tuyết có tính phản xạ cao càng làm nhiệt độ mặt đất giảm đi, thậm chí dưới Oo C. Tuy nhiên may mắn thay hiện tượng đó đã không xảy ra. CH4 xuất hiện giúp gia tăng hiệu ứng nhà kính. Sự bùng phát các vi sinh vật nguyên thùy màu sẫm cũng giúp cho việc hấp thụ nhiệt. Sự duy trì cân bằng ôxy trong khí quyển ngày nay là một trong những quá trình sinh học đặc biệt quan trọng đối với nhân loại. Khí quyển hiện nay chứa khoảng 21% ôxy. Giả sử hàm lượng ôxy tăng đến 25%, thì chỉ cần một tia lửa nhỏ cũng đủ đất cháy ngay cả cỏ tươi và gỗ ướt lạnh, toàn bộ nhiên liệu hóa thạch trên Trái Đất sẽ cháy hết. Nhưng nếu hàm lượng ôxy giảm đi, thì khả năng sản xuất của các dạng sinh vật cạn ưa khí sẽ suy giảm đáng kể. Sinh vật biển có thể sẽ đỡ chịu tác động hơn vì đại dương còn tàng trữ nhiều ôxy hoà tan, tuy nhiên nếu hàm lượng ôxy trong khí quyền giảm mạnh thì rồi sẽ đến lúc nước biển cũng trở nên thiếu ôxy và sinh vật biển sẽ bị huỷ diệt hàng loạt, giống như thảm họa
24

đã từng xảy ra vào ranh giới giữa kỷ Pecmi và kỷ Triệu (250 triệu năm trước), đã tiêu diệt 95% tổng số loài trên Trái Đất. Tuy nhiên cũng có cả mạng phản hồi tích cực. Ví dụ nếu nhiệt độ tăng làm tan băng hà, thì độ phản xạ của Trái Đất sẽ giảm đi, điều đó lại thúc đẩy nhiệt độ càng tăng thêm. Vấn đề trở nên phức tạp và đa dạng hơn nếu hai hay nhiều yếu tố có quan hệ thuận nghịch tích cực, sự tăng tiến của một yếu tố sẽ gây ra sự tăng tiến của yếu tố khác và ngược lại. Mạng phản hồi tích cực nhiều khi bị bao vây trong một mạng phản hồi tiêu cực rộng hơn để tạo ra mối cân bằng tổng thể. Cũng có khi mạng tích cực một khi đã khởi động sẽ vận hành hoặc là cho đến khi hiện tượng phản hồi tích cực trở nên bão hoà, hoặc cho đến khi tự thân hệ thống bị biến dạng. 1.7. Tính ổn định của hệ thống Nói chung, hệ thống càng phức tạp, các hệ thống phản hồi càng đan xen, thì các hệ thống càng khoẻ mạnh và càng có khả năng chống lại sự biến đổi tốt hơn. Trên thực tế, các hệ thống phức tạp có tính ổn định cao hơn. Một lí do minh chứng cho điều đó là một số hệ thống phức tạp (ví dụ các hệ thống sinh học) sử dụng các cách kiểm soát đa diện chứ không phải cách đơn giản, và vì thế có nhiều cơ hội sống sót hơn. Tương tự như vậy, sự đa dạng gen tạo cho hệ sinh thái có khả năng thích ứng tết hơn đối với sức ép môi trường, đa dạng văn hóa cũng giúp cho xã hội bền vững hơn. Các hệ phức tạp thường thường tiến hóa lừ các hệ đơn giản hơn. Tính phức tạp sẽ phát triển nếu tạo ra sự thích ứng ưu thế hơn thế hệ đi trước. Các hệ thống phức tạp hơn chỉ có khả năng sinh tồn nếu hệ thực sự khoẻ mạnh, vì thực tế chúng phải chịu đựng nhiều can thiệp hơn trong quá trình tồn tại. Một số vấn đề cần lưu ý. • Các hệ sinh thái khu vực và toàn cầu bao giờ cũng nằm trong các ngưỡng an toàn, bên ngoài ngưỡng, hệ sẽ biến đổi để đạt
25

tới vị trí cân bằng động lực mới. • Vì vậy nếu bị khai thác quá mức, rất có thể các hệ sinh thái khu vực hoặc thậm chí toàn cầu sẽ trải qua giai đoạn chuyển tiếp sang một trạng thái ít thuận lợi hơn đối với con người. • Đã có rất nhiều ví dụ về tác động nhân sinh đã gây biến động sâu sắc các hệ sinh thái khu vực khiến cho cuộc sống của con người gặp khó khăn hoặc không thể tiếp diễn được, ví dụ sự ô nhiễm hóa chất hay phóng xạ, sa mạc hóa, axít hóa, nhiễm mặn... • Hãy còn chưa rõ là hoạt động nhân sinh nào khiến cho hệ sinh thái toàn cầu chuyển sang trạng thái không thể tiếp tục tồn tại được: Phát xả khí nhà kính? Phát xả CFC làm thủng tầng ôzon? Hay là bùng nổ dân số? • Một số hệ sinh thái trở nên kém ổn định hơn khi bị làm nghèo đi hoặc bị phân rã mạnh so với các hệ thuộc thế hệ trước. Các hệ sinh thái bị phân rã tới điềm mà chúng chuyển sang một pha không ổn định, sẽ có xu thế biến đổi cho đến khi chúng đạt được trạng thái cân bằng mới. Việc đạt đến trạng thái cân bằng này có thể dẫn đến những mất mát tiếp tục khó kiểm soát. • Rõ ràng rằng các hoạt động nhân sinh đang gây biến động sâu sắc đến các hệ sinh thái và các hệ thống khác trong sinh quyển và khí quyển. Một số những biến động này là rất rộng lớn, một số đang diễn ra ở lốc độ khiến cho không có quá trình tiến hóa hay thích ứng theo kịp. • Nếu mức độ tác động môi trường, bao gồm cả việc giảm đa dạng đen, còn tiếp diễn với lốc độ này, có nhiều khả năng tính bất ổn sinh thái toàn cầu và khu vực sẽ còn tăng lên. Con người và xã hội phải đối mặt với cuộc đại khủng hoảng về môi trường vượt quá tầm mọi phát minh công nghệ và trình
26

độ quản lý xã hội. 1.8. Rủi ro của hệ thống Tát cả các mô hình về hành vi của các hệ phức tạp, ví dụ các hệ thống môi trường hoặc hệ thống kinh tế, hoặc sự tương tác giữa hai loại này, là không bao giờ chính xác và không chắc chắn, hoặc rất hạn chế về phạm vi. Những hạn chế và sự không chắc chắn này tạo ra rủi ro. Rủi ro hệ thống là những hành vi của hệ thống ngoài dự tính của chúng ta (nhà phân tích), xuất phát từ thuộc tính bất định của hệ thống. Lí do: - Sự hiểu biết về các hệ thống này chưa hoàn hảo. - Sự hiểu biết về hành vi của các hệ thống phức tạp là chưa toàn diện. - Hành vi của các hệ thống phức tạp, ít nhất cũng tại một số diện tích của không gian pha là không xác định được. Điều này có nghĩa là hành vi của những hệ thống như thế chỉ có thể mô hình hóa theo xác suất, trong một phạm vi nào đấy, hoặc trong khoảng thời gian rất hẹp. Toàn bộ những đánh giá này được áp dụng cho các hệ phức tạp, ví dụ các hệ môi trường, xã hội và kinh tế, vốn tạo ra thế giới mà chúng ta đang sống. Điều đó có nghĩa là cần phải đánh giá các sai sót hoặc rủi ro đi liền với tất cả các kết quả được dự báo. Việc tính toán các rủi ro tự nó đã đi kèm với các sai sót. Những chỗ mập mờ như vậy có thể là khá rộng, và có thể ảnh hưởng đến các kết quả của các quyết sách. Ngoài ra, mỗi kết quả lại có thể chứa những rủi ro khác nhau tuỳ theo sự phân bổ khác nhau về chi phí và lợi ích. Điều đó có nghĩa là cần phải xem xét về mặt kỹ thuật và chính trị trong bất cứ phép phân tích nào về xác suất và rủi ro.
27

Có những vấn đề kỹ thuật đi kèm với việc đánh giá rủi ro, kể cả đối với các hệ thống nhân tạo vốn được cơi là dã biết rõ. Trong trường hợp các hệ thống tự nhiên phức tạp và thường không được hiểu rõ, việc đánh giá rủi ro thực sự là khó khăn. 1.9. Phi tuyến và điểm tới hạn Phân biệt giữa hệ phi tuyến và hệ tuyến tính là vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên trong tự nhiên, hệ tuyến tính chỉ là những trường hợp hãn hữu. Thông thường, do hậu quả của sức ì, nhiều hệ thống cả tự nhiên và nhân tạo thường biến đổi theo quỹ đạo chữ S (Hình 1) gồm 5 giai đoạn:

1. Giai đoạn ì: hầu như không tăng trưởng (tuyến tính). 2. Tăng trưởng theo hàm mũ. 3. Tăng trưởng theo hàm tuyến tính. 4. Bão hòa: mức tăng trưởng giảm dần. 5. Hầu như không tăng trưởng (tuyến tính). Điểm tới hạn là điểm mà kể từ đó hệ thay đổi đột biến về hành vi. Ví dụ điểm bắt đầu sinh trượt nếu ta tăng dần góc nghiêng của sườn dốc. Điểm bắt đầu xung đột nếu tăng dần mức độ mâu thuẫn trong cộng đồng. Điểm phân nhánh là một dạng đặc biệt của điểm tới hạn, tại đó hệ thay đổi hành vi một cách quyết liệt (mạnh mẽ). Tập hợp các điểm tới hạn tạo thành ngưỡng an toàn của hệ thống.
28

Kể từ ngưỡng an loàn, hệ thống chuyển sang giai đoạn sự cố. 1.10. Không gian pha và chuyển pha Vấn đề cất lõi của tính bền vững có thể dược diễn tả bằng thuật ngữ “không gian pha". Không gian pha là một không gian trừu tượng có số chiều bằng lòng các tham số cần thiết để mô tả trạng thái của một hệ động lực. Số chiều của không gian pha có thể là số nguyên hoặc số thập phân. Trường hợp số chiều thập phân ta có một không gian gồ ghề, còn gọi là không gian Fractal. Một điểm trong không gian pha biểu diễn trạng thái của hệ ở một thời điểm đã chọn. Khi hệ tiến hóa, điểm này vẽ lên trong không gian pha một quy đạo phức tạp. Không thể khảo sát không gian pha quá nhiều chiều, người ta khảo sát trong một hệ tọa độ phẳng 2 chiều, ứng với một cặp tham số được lựa chọn. Mặt phẳng này có tên là mặt phẳng Poincarê. Ở chương 3, chúng ta sẽ nói đến mặt phẳng SAM cho phép khảo sát đa chiều cùng một lúc, nhưng mặt phẳng đó chỉ phản ánh hiện trạng của hệ thống tại một thời điểm nhất định. SAM thiếu chiều thời gian. Một hệ thống cực kỳ phức tạp, ví dụ Trái Đất của chúng ta gồm nhiều phân hệ phức tạp tương tác với nhau như sinh học, sinh thái, xã hội, kinh tế... có thể được biểu diễn ở bất cứ thời gian nào như là một điểm trong không gian pha rộng lớn mà trục của nó là các yếu tố kiểm soát và tọa độ của điểm đó là giá trị hiện tại của hệ (xem hình 2). Về mặt kỹ thuật, tất cả các biến số kiểm soát độc lập đều được đưa vào dưới dạng một trục tọa độ trong không gian pha, vì thế mà trạng thái của hệ hoàn toàn được xác định dựa vào một điểm trong không gian pha mà hệ đăng ký, cũng như có thể xác định toàn diện lịch sử và tương lai của hệ.

29

Ba vùng sinh tồn của các hệ thống giả thiết là A, B và C. Hệ A thích nghi vệ diện rộng các giá trị pa và toà nhưng phụ thuộc vào các hệ thống B và C vốn không thích nghi rộng. Vi thế vùng tồn tại hiệu quả của hệ thống A là nơi chồng chập của A với B và C (vùng gạch sọc) [9]

Đối với một trục biến số kiểm soát nhất định, con người chỉ có thể chịu đựng được một khoảng giá từ rất hẹp. Vùng thích ứng của con người là vị trí chồng chập của tất cả các hệ thống cần thiết cho sự tồn tại của con người. Nói chung, khi nằm tại ranh giới của vùng này thì sự tồn tại của con người sẽ trở nên khó khăn và nguy hiểm hơn, ít tiện nghi hơn vì con người và các hệ thống mà nó dựa vào đang chịu sức ép ngày càng tăng và đang tiếp cận sự thay đổi về căn bản. Miền ranh giới của vùng thích ứng có thể gọi là vùng tai biến. Một ví dụ điển hình cho sự chồng chập các vùng sinh tồn khác nhau của một hệ thống là khái niệm về khả năng tải (hay sức chứa) của một điểm du lịch. Mỗi điểm du lịch đều có 3 khả năng tải: sinh thái, kinh tê và xã hội, được đo bằng số lượng du khách cực đại đều viếng thăm điểm du lịch mà không gây suy thoái điểm du lịch về mặt sinh thái, kinh tê và xã hội. Ba giá trị sức chứa này rất khác
30

nhau. Giá trị: nhỏ nhất chính là khoảng sinh tồn an toàn của hệ thống lãnh thổ du lịch. Theo thời gian, nếu hệ thống Trái Đất chuyển tới điểm trong không gian pha nằm ngoài ranh giới của một hay một số hệ thống mà con người phải dựa vào, thì loài người sẽ bị tiêu diệt. Sự sinh tồn của loài người phụ thuộc vào sự duy trì của hệ thống trong phạm vi giới hạn chịu đựng trên tất cả các trục kiểm soát tới hạn. Diện tích như thế trong không gian pha được gọi là vùng bền vững (vùng gạch chéo ở hình 2). Vùng bền vững không bao giờ cân đối, vì con người (cũng như đa phần các loài) có khả năng mở rộng sự thích nghi theo một vài hướng so với các hướng khác. Theo thời gian, một hệ thống dịch chuyển trong không gian pha theo một quỹ đạo - có thể gồm nhiều chu kỳ, nhưng không bao giờ lặp lại nguyên vẹn (Hình 3).

Hình 3. Quỹ đạo của một hệ lý thuyết theo mặt cắt 2 chiều (mặt phẳng Poincarê) của không gian pha. Nhiều chu kỳ có thể xuất hiện nhưng quỹ đạo gần như không bao giờ lặp lại (tính không xác định trong Vũ Trụ) [9]

Hệ thống Trái Đất về một số phương diện cũng giống như các hệ sinh học. Điểm khác nhau quan trọng nhất là hệ Trái Đất không thể tự nhân bản được. Tuy nhiên, Trái Đất cũng tiến hóa và thích ứng, dù rằng cơ thức có khác nhau. Các trạng thái hệ sẽ tiến hóa khi Trái Đất du hành trong không gian pha (Hình 4). Có một khuynh hướng chung đối với tất cả các hệ thống là di chuyển về phía trạng thái ổn định. Tất nhiên sự ổn định chỉ là tương đối. Không có trạng thái ổn định nào là tuyệt đối dù rằng một hệ sẽ dừng lại trong các vùng ổn định nhưng nó luôn luôn ở trạng thái
31

vận động.

Hình 4. Khi Trái Đất vận động trong không gian pha, vùng sinh tồn của nhân loại có xu thế diễn biến theo quỹ đạo cong, thay đổi hình dạng theo quá trình vận động của Trái Đất Điều đó là kết quả của những biến đổi tiến hóa và thích ứng, đồng thời cũng là kết quả phát triển công nghệ. Tuy nhiên không hề có đảm bảo rằng vùng sinh tồn sẽ có khả năng theo sát quỹ đạo cong đó một cách thành công; sự di chuyển càng nhanh thì sự theo sát đó càng khó khăn và càng không chắc chắn [9]

Tương tác giữa con người và môi trường có thể được suy xét từ sự di chuyển của hệ Trái Đất dọc theo các trục khác nhau của không gian pha một cách đồng thời. Nếu điều đó xảy ra ở tốc độ vượt quá tốc độ mà các hệ thống khác có thể thích ứng tức là vượt quá khả năng theo kịp của vùng bền vững trong không gian pha, thì các hệ khác sẽ bị hủy diệt. Sự sống trên Trái Đất đã từng nhiều lần bị hủy diệt trong suốt lịch sử sự sống trên 500 triệu năm qua. Sự ấm lên toàn cầu là một ví dụ điển hình. Nhiệt độ Trái Đất cứ tăng tốc thì lớp phủ thực vật thân gỗ sẽ tiến về phía địa cực khoảng 200 tim. Tốc độ di cư thảm rừng vào cuối giai đoạn băng hà cuối cùng là khoảng 20 ÷ 100 khu 100 năm. Giả sử tốc độ ấm lên toàn cầu nhanh hơn 100 lần, nhiều loài cây sẽ không thể di cư về phía địa cực với tốc độ nhanh như vậy, chắc chắn giới thực vật sẽ bị khủng hoảng trầm trọng. Từ đó, giới động vật, và cuối cùng là con người và xã hội cũng sẽ bị đe dọa bởi thảm họa. 1.11. Tính mềm mại của hệ thống Vấn đề cốt lõi trong phân tích và phát triển các chính sách
32

kinh tế và chính trị nhằm tiến đến cách sống bền vững hơn chính là tính mềm mại (flexibility), tức là tiềm năng không liên kết quá chặt tạo cơ hội cho sự thay đổi. Nếu một biến số kiểm soát tới hạn nằm ở ranh giới dưới hoặc trên khoảng an toàn, thì việc suy giảm tính mềm mại chắc chắn sẽ lan tràn. Cứng nhắc sẽ khó biến đổi và khó thích ứng. Bùng nổ dân số chính là một cách làm suy giảm tính mềm mại, đặc biệt trong trường hợp liên kết với các yếu tố tai biến như nạn đói hay dịch bệnh. Để giải quyết các vấn đề về tính bền vững, phải giải quyết hai vấn đề cùng một lúc: • Tính mềm mại cần được phát hiện hay tạo ra để có thể được bảo vệ thích hợp. • Phải ngăn ngừa việc làm suy giảm tính mềm mại có thể lại sẽ xuất hiện thêm trong tương lai. 1.12. Các mức độ bền vững của các hệ thống kinh tế xã hội Vấn đề quan trọng cần phải làm rõ là liệu tất cả các quốc gia hoặc các khu vực cần phải bền vững một cách nghiêm ngặt, hoặc bền vững tiềm năng hay không. Khái niệm về trạng thái bền vững quốc gia hoặc cộng đồng với những giá trị về kinh tế, chính trị và xã hội là rất quan trọng. Các quá trình địa chất và sinh học đã tạo nên Trái Đất với cả hai loại tài nguyên tái tạo và không tái tạo, lại không hề phụ thuộc vào các ranh giới hành chính hay ranh giới quốc gia, thì trong trường hợp lý tưởng, các quốc gia cần phải bền vững như nhau. Bởi vì bất cứ một mức độ nào của tính bền vững, từ mức cá nhân, hãng, vùng, quốc gia, đại lục hoặc các liên minh kinh tế, đều có rất nhiều yếu tố phát triển có nguồn gốc từ bên ngoài. Chỉ có các yếu tố quyết định phát triển toàn cầu mới là yếu tố bên trong đối với hệ thống Trái Đất. Vì thế về mặt lý thuyết, nói đến tính bền vững là nói đến phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên tình hình thực tế lại không đúng như vậy. Chấp nhận rằng hiện nay còn chưa có cách ứng xử toàn cầu có hiệu quả, còn thiếu các cấu trúc và cơ chế để áp
33

dụng bất cứ thay đổi có ý nghĩa nào, chúng ta buộc phải giải quyết một nhiệm vụ khó khăn là phải bằng cách nào để phát triển theo hướng bền vững trong phạm vi từng quốc gia, từng khu vực hoặc từng vùng. Từ đó nảy sinh ra một nguyên tắc nổi tiếng của phát triển bền vững "Nghĩ - Toàn cầu, Làm - Địa phương”. Cần phải chia nhỏ vấn đề nan giải nói trên thành hai giai đoạn, lần lượt được gọi là mức độ hệ thống và mức độ dự án. Đó là vì yếu tố quan trọng đối với một hệ thống nói chung chỉ được đo lường ở mức độ hệ thống. Các yếu tố cấp dự án kiểm soát từng phần và được lựa chọn ở các mức độ thấp, có thể làm chuyển dịch tác động sang các phần khác của hệ thống. Giả dụ nếu như Hoa Kỳ cắt giảm 1/2 lượng tiêu thụ dầu mỏ, thì lợi nhuận toàn cầu chắc sẽ giảm nghiêm trọng nếu các quốc gia khác cũng tăng cường việc giảm giá dầu, điều này cũng dẫn đến việc giảm tiêu thụ tương ứng ở các nước này. Về mặt nguyên tắc, có thể đạt được sự kiểm soát toàn diện bằng một số cách, ví dụ triển khai các công cụ kinh tế thích hợp để tăng giá các nguồn tài nguyên, hoặc thực hiện các quy định trực tiếp đối với sự kiểm soát, hoặc cấm sử dụng một vài dạng tài nguyên. Một ví dụ về việc áp dụng các chính sách bền vững cấp hệ thống là thuế cacbon, hoặc thuế năng lượng. Thứ thuế này tác động đến việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu quả hơn trong hệ thống. Vấn đề thực tế sẽ nảy sinh khi các dự án riêng biệt được đánh giá về khả năng đóng góp của chúng vào tính bền vững chung của hệ. Bởi lẽ dự án nào cũng chỉ nhằm vào một phần nhỏ của hệ mà thôi, do đó việc đánh giá thích hợp và chính xác vai trò của dự án đối với toàn bộ hệ là khó khăn. Ví dụ một dự án đang làm giảm phúc lợi ở mức địa phương hiện tại, nhưng lại đóng góp và tăng cường phúc lợi ở mức rộng hơn, hoặc ở thời gian sau này trong
34

tương lai. Một dự án phát triển phong năng, rõ ràng là có lợi, nhưng lại gây thiệt hại cho tiện nghi môi trường ở địa phương lắp đặt trạm. Một trong những vấn đề rất thực tế là làm cách nào để thiết lập một "dự án bèn vững" trong bối cảnh trật tự kinh tế hiện tại vốn không bền vững. Trong giai đoạn triển khai một dự án, kiểu mẫu tiêu chuẩn của đầu tư sẽ dẫn đến một dòng âm (dòng vào) về vốn đầu tư. Đây không phải là sự vững bền về mặt kinh tế, bởi vì một dự án bền vững không thể phụ thuộc mãi vào nguồn tài nguyên thu hút từ vùng khác. Như vậy một dự án bền vững ở giai đoạn hoàn chỉnh chắc chắn phải tạo một dòng vốn trung tính hoặc dòng ra. Để đạt được điều đó, các dự án phát triển cần phải dựa trên: • Tăng cường nhu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ có tiêu chuẩn đạo đức và môi trường cao. • Sử dụng các công cụ kinh tế môi trường để phân bổ đúng đắn các chi phí môi trường. • Sử dụng các công cụ luật pháp để cấm các sản phẩm hoặc hành động có hại đến môi trường. • Tiếp cận xã hội học cần được coi trọng và phát huy cùng lúc với các tiếp cận công nghệ, kỹ thuật hay kinh tế. Câu hỏi thảo luận chương 1 1. Tại sao nói có sự tồn tại của một trật tự trong nhiễu loạn"? Trật tự đó tại sao lại xuất hiện và xuất hiện như thê nào? Nhiễu loạn có vai trò gì trong sự tiên hóa của các hệ động lực? 2. Có môi liên quan gì giữa tính trồi và chức năng của một hệ thống? Tại sao một hệ thống bao giờ cũng đa chức năng và đa chiều? Tại sao phần lớn hệ thống lại là hệ thống gồ ghề? 3. Những hệ thống nào có entropy âm? Quan hệ giữa entropy và lượng thông tin trong hệ thống? Vai trò của môi trường bên ngoài đối với một hệ thống mở? Một hệ thông mở có khả năng xuất khẩu entropy sang các hệ thống khác không?
35

Chương 2 Đại Cương về tiếp cận hệ thống

2.1. Giới thiệu chung Từ khi "Học thuyết chung về hệ thống" của Bertalanffy được xuất bản năm 1956, thuật ngữ "hệ thống" - dùng để chỉ cách thức con người xây dựng khái niệm về thực tại xung quanh mình - đã được sử dụng cả trong khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng như trong kỹ thuật [14]. Tư duy một cách hệ thống còn được nhìn nhận như một hướng tiếp cận để giải quyết các vấn đề đặt ra. Thực tế cho thấy, hướng tiếp cận này đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của các ngành khoa học bởi lẽ quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất luôn đi cùng với sự gia tăng xu hướng chia kiến thức thành các hợp phần nhỏ để nghiên cứu. Thời kỳ đầu, có nhiều nhà bác học có kiến thức tổng quát về tất cả những gì có thể nắm bắt được vào thời kỳ của họ như Michelangelo (1475 - 1564) và Leonardo da Vinci (1452 - 1519). Tuy nhiên, sau thế kỷ 16, kiến thức của thế giới phát triển quá nhanh đến mức các nhà khoa học chỉ có thể đi sâu nghiên cứu trong một lĩnh vực cụ thể. Con người bắt đầu chuyên môn hóa và các ngành khoa học khác nhau được hình thành và phát triển. Nhưng đến cuối thế kỷ 20, việc ứng dụng chỉ một ngành khoa học nhiều khi không những không thể giải quyết được vấn đề mà còn có thể làm nảy sinh hàng loạt những vấn đề mới. Do đó, để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, chúng ta không chỉ sử dụng kiến thức của một ngành khoa học mà sử dụng kiến thức đa ngành (multidisciplinary), liên ngành (interdisciplinary) và gian ngành (transdisciplinary). Từ đó, học thuyết về hệ thống và Tiếp cận Hệ thống được hình thành và phát triển.
36

Tiếp cận Hệ thống trong học thuyết của Benalanffy là sự kết hợp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp. Bertalanffy cho rằng tất cả các hệ thống được các nhà vật lý nghiên cứu là hệ thống cô lập - hệ thống không có tương tác gì (trao đổi vật chất và năng lượng) với môi trường bên ngoài. Tuy nhiên, là một nhà sinh học, Bertalanffy biết rằng những giả thuyết như vậy là không thể áp dụng cho hầu hết các hiện tượng tự nhiên. Tách rời khỏi môi trường xung quanh, sinh vật sống sẽ nhanh chóng đi đến cái chết vì thiếu ôxy, nước và thức ăn. Sinh vật sống là những hệ thống mở: chúng không thể tồn tại nếu thiếu sự trao đổi liên tục vật chất và năng lượng với môi trường. Điểm đặc trưng của hệ thống mở là sự tương tác với các hệ thống bên ngoài khác. Sự tương tác này có hai thành phần: đầu vào - những gì từ bên ngoài đi vào hệ thống - và đầu ra - những gì từ bên trong rời khỏi hệ thống ra môi trường. Khi nói đến bên trong và bên ngoài của một hệ thống, chúng ta cần phân biệt được hệ thống và môi trường của nó. Hệ thống và môi trường dược phân biệt bởi một ranh giới được gọi là ranh giới của hệ thống. Ví dụ như: da đóng vai trò là ranh giới của hệ thống sống với môi trường bên ngoài. Đầu ra của một hệ thống nhìn chung là các sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp từ đầu vào. Những gì đi ra ngoài hệ thống thường có trong những gì đi vào hệ thống. Tuy nhiên, đấu ra thường rất khác biệt so với đầu vào: hệ thống không phải là một ống bị động (đầu vào = đầu ra) mà là một bộ phận xử lý chủ động.

37

Khi xem xét kỹ hơn môi trường của một hệ thống, chúng ta sẽ thấy nó lại bao gồm rất nhiều hệ thống tương tác với môi trường của nhiều hệ thống đó. Nếu chúng ta xem xét một tập hợp các hệ thống mà chúng tương tác với nhau thì tập hợp các hệ thống đó có thể lại được xem là một hệ thống quy mô lớn hơn. Ví dụ: một nhóm người có quan hệ qua lại với nhau có thể hình thành nên một gia đình, một công ty hay thậm chí một thành phố. Mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống thành phần (hệ thống con - phụ hệ - phân hệ) đóng vai trò như chất kết dính các thành phần đó để hình thành một khối - một hệ thống có quy mô lớn hơn. Nếu không có chất kết dính như vậy, khối đó chẳng khác nào một phép tính cộng các hệ thống thành phần của nó. Nhưng bởi vì chúng tương tác, nên có một số yếu tố đã được thêm vào. Ví dụ: khi xem xét hệ sinh thái có sự có mặt của con người (hệ sinh thái nhân văn), yếu tố được thêm vào chính là yếu tố về công nghệ - công cụ khai thác, chế biến, sử dụng tài nguyên, xử lý chất thải đưa vào môi trường. Các hệ thống thành phần được xem như là phụ hệ (hay phân hệ hay hệ thống con) của thượng hệ mà chúng tạo ra. Ngược lại, hệ thống lớn bao gồm các phụ hệ được xem như là siêu hệ thống hay thượng hệ đối với các phụ hệ. Nếu chúng ta coi thượng hệ (siêu hệ thống) như là một khối, chúng ta không cần biết tất cả các thành phần của thượng hệ (siêu hệ thống) đó. Chúng ta chỉ cần quan tâm đến tổng đầu vào và tổng
38

đầu ra mà không cần quan tâm đến phần nào của đầu vào đi vào phân hệ nào. Quan điểm như vậy xem xét hệ thống như là một "hộp đen" và xem xét cái gì (năng lượng, vật chất, thông tin) đi vào đầu vào của hệ thống và tạo ra đầu ra mà không xem xét điều gì xảy ra bên trong đó. Ngược lại, nếu chúng ta có thể biết được các quá trình nội tại của hệ thống, chúng ta có thể gọi hệ thống là "hộp trắng". Mặc dù nhìn vào "hộp đen" có vẻ không được rõ ràng lắm, nhưng trong nhiều trường hợp đó là cách tốt nhất mà chúng ta có thể có. Ví dụ, chúng ta không hề biết nhiều quá trình trong cơ thể xảy ra như thế nào. Nhiều bác sĩ có thể theo dõi nếu họ cho bệnh nhân sử dụng một loại thuốc cụ thể nào đó (đầu vào), bệnh nhân sẽ phản ứng theo một cách nhất định (đầu ra). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các bác sĩ biết rất ít về cơ chế mà thuốc đó tạo ra các phản ứng của bệnh nhân. Rõ ràng rằng, thuốc khi vào cơ thể bệnh nhân sẽ khởi động một chuỗi các phản ứng liên kết phức tạp, với sự tham gia của các cơ quan và các phần khác nhau của cơ thể, nhưng chỉ duy nhất kết quả cuối cùng (phản ứng của bệnh nhân với thuốc) là có thể được xác định rõ ràng.

Một hệ thống nếu được xem xét như một "hộp đen" thì không
39

hoàn toàn có nghĩa là chúng ta không thể biết gì xảy ra bên trong hệ thống. Trong nhiều trường hợp, chúng ta có thể dễ dàng biết được những gì xảy ra bên trong hệ thống nhưng chúng ta vẫn bỏ qua những chi tiết nội tại của hệ thống (nguyên tắc: "sự bỏ qua tối ưu” hay "sự ngu dốt tối ưu”). Ví dụ: khi mô hình hóa một thành phố như là một hệ thống phát sinh ô nhiễm, chúng ta không nhất thiết phải xác định ống khói nào tạo ra một lượng ô nhiễm như thế nào, chúng ta chỉ cần xác định tổng lượng nhiên liệu được tiêu thụ trong thành phố để dự đoán tổng lượng CO2 và các khí gây ô nhiễm khác được tạo ra. Đối với một thành phố, cách tiếp cận "hộp đen" sẽ đơn giản và dễ dùng hơn trong việc tính toán mức độ ô nhiễm chung so với việc sử dụng cách tiếp cận chi tiết "hộp trắng" với nhiệm vụ lần theo dấu vết của từng nguồn ô nhiễm cụ thể trong thành phố. Hai cách tiếp cận bổ sung, "đen" và "trắng", đối với cùng một hệ thống minh họa cho một nguyên tắc chung: các hệ thống được cấu trúc theo thứ bậc. Chúng bao gồm các bậc khác nhau. Ở bậc cao hơn, chúng ta có được cái nhìn trừu tượng hơn, tổng quát hơn mà không quan tâm đến các chi tiết của từng bộ phận hay từng phần. Ở bậc thấp hơn, chúng ta có được cái nhìn về tập hợp các phần tương tác qua lại mà không nắm được các phần đó được tổ chức ra sao để hình thành nên một thể thống nhất. Theo cách tiếp cận phân tích, tất cả những gì chúng ta cần là thông tin về bậc thấp. Ví dụ: nếu chúng ta có thể biết được trạng thái chính xác của tất cả các bộ phận và tế bào trong cơ thể, chúng ta có thể hiểu được cơ thể hoạt động như thế nào. Y học kinh điển dựa trên cách tiếp cận giản luận đó, cho nên đã bỏ sót một điều quan trọng nhất: cơ thể là một thể thống nhất. Trạng thái tình thần của con người ảnh hưởng tới trạng thái của dạ dày và do đó ảnh hưởng ngược trở lại trạng thái tinh thần. Các tương tác đó không phải là các mối quan hệ nhân quả đơn giản và tuyến lính mà là các mạng lưới phức tạp của sự phụ thuộc lẫn nhau, mà chỉ có thể được hiểu thông qua mục đích chung của chúng: duy trì trạng thái sức khoẻ tết cho cơ thể. "Mục đích
40

chung" hay "tính trồi của hệ thống" này hoạt động ở mức tổng thể. Nó không có ý nghĩa gì ở mức các bộ phận độc lập hay các tế bào [15]. "Học thuyết chung về hệ thống" dựa trên giả định sự tồn tại của các nguyên tắc vạn năng về cách tổ chức được sử dụng ở tất cả các hệ thống, mang tính vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý và xã hội của hệ thống. Cách nhìn nhận thế giới theo thuyết cơ học trên kiếm tính vạn năng bằng cách đơn giản hoá tất cả xuống mức cấu tạo vật chất. Ngược lại, các nhìn nhận thế giới hệ thống tìm tính vạn năng với việc bỏ qua các vật liệu cụ thể tạo thành hệ thống để tập trung nghiên cứu cách tổ chức của hệ thống [151. Như vậy, Tiếp cận Hệ thống là cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc và động lực của chúng, đó là một tiếp cận toàn diện và động. Tiếp cận này là cách xử lý biện chứng nhất đối với các vấn đề môi trường và phát triển - các hệ thống mềm và nửa mềm. Phân tích hệ thống là những phương pháp, công cụ cụ thể được tiếp cận hệ thống sử dụng. 2.2. Các hướng tiếp cận hệ thống Có hai hướng tiếp cận vấn đề khi thực hiện các nghiên cứu trong thực tế. tiếp cận dựa trên các thành tố và tiếp cận dựa trên tổng thể. Cả hai cách tiếp cận này đều sử dụng hộp đen và thuật ngữ "hộp đen" đã được nhắc đến nhiều lần ở các phần trên. Tuy nhiên, một lần nữa thuật ngữ "hộp đen" lại được đề cập tới bởi tầm quan trọng của nó trong Tiếp cận Hệ thống và những rủi ro mà nó có thể mang lại. 2.2.1. Hộp đen và những rủi ro Nếu nhìn nhận một hệ thống hay hệ thống phụ (phụ hệ) như một "hộp đen", bước đầu các thành tố và các mối quan hệ bên trong hệ thống tạm thời sẽ không được xem xét. Một hộp đen do đó có tính chất của một thành tố. Nói cách khác, hệ thống sẽ chỉ được
41

xem xét từ bên ngoài. Phần lớn các hệ thống trong tự nhiên là các hệ thống mở nên chúng có sự tương tác, trao đổi với môi trường. Do đó, hệ thống mở có tính chất của một quá trình. Khi nghiên cứu chức năng của quá trình đó cần phải xem xét đầu vào là gì, dẫn tới đầu ra như thế nào và dựa trên phương pháp quy nạp để đi dấn các kết luận liên quan đến hành vi hệ thống của hộp đen. Cách tiếp cận này thường có rủi ro. Ta có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu thống kê dựa trên nguyên tắc hộp đen. Một ví dụ được nhiều người biết đến về một nghiên cứu thống kê ở Thụy Điển: nghiên cứu về mối tương quan giữa số lượng loài cò đặc hữu của một vùng với số lượng trẻ em sinh ra trong vùng đó. Kết luận được rút ra từ nghiên cứu là "trẻ em do cò mang tới". Nghiên cứu thống kê được thực hiện không cần xem xét bên trong hộp đen để đưa ra mối quan hệ nhân quả giữa hai hiện tượng có thể dẫn tới các kết luận vô giá trị [13]. 2.2.2. Phân tích và tổng hợp Tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp không những không đối lập nhau, hay loại trừ nhau mà còn bổ sung cho nhau. Tiếp cận phân tích giản hoá hệ thống thành các thành tố cơ bản của hệ thống đó nhằm nghiên cứu các chi tiết và tìm hiểu các loại quan hệ tồn tại giữa chúng. Thông qua việc biến đổi từng yếu tố, tiếp cận phân tích tìm ra các quy luật chung cho phép người phân tích dự đoán các tính chất của hệ thống trong các điều kiện khác nhau. Để có thể dự đoán thì cần phải tiên ra được các quy luật về sự tổ hợp của các thuộc tính cơ bản. Khi đó các quy luật thống kê có thể được áp dụng, cho phép nhà phân tích hiểu được hành vi của một tập hợp đơn giản [18]. Quy luật về sự tổ hợp các thuộc tính cơ bản không áp dụng được với các hệ thống có tính phức tạp cao, cấu thành bởi các thành
42

tố đa dạng liên kết với nhau thông qua các tương tác mạnh mẽ. Các hệ thống đó phải được tiếp cận bằng các phương pháp mới trong tiếp cận hệ thống. Mục đích của các phương pháp mới nhằm nghiên cứu hệ thống dựa trên tính tổng thể, phức tạp và luôn vận động của hệ thống. Thông qua mô phỏng hệ thống, nhà nghiên cứu có thể quan sát các tác động của các loại hình tương tác khác nhau giữa các thành tố của hệ thống trong một khoảng thời gian. Nghiên cứu về hành vi theo thời gian giúp xác định các quy luật để thay đổi hệ thống hoặc thiết kế các hệ thống Bảng 1. So sánh các điểm đặc trưng của hai cách tiếp cận phân tích và tổng hợp
Tiếp cận phân tích Cô lập, tập trung vào từng thành tố. Tiếp cận tổng hợp Hợp nhất và tập trung vào tương tác giữa các thành tố. Nghiên cứu các tác động của tương tác.

Nghiên cứu bản chất của tương tác.

Nhấn mạnh vào tính chính xác của các Nhấn mạnh vào nhận thức chung. chi tiết. Thay đổi từng yếu tố. Thay đổi đồng thời một nhóm các yếu tố.

Không phụ thuộc vào thời gian; các hiện Hợp nhất với thời gian và không thể đảo tượng được xem như có thể đảo ngược. ngược. Xác nhận sự kiện thông qua các thí Xác nhận sự kiện thông qua so sánh hành nghiệm kiểm chứng trong phạm vi một vi của mô hình vẫn thực tế khách quan. học thuyết. Sử dụng các mô hình chính xác và chi tiết Sử dụng các mô hình thiếu chặt chẽ để có ít có ứng dụng trong thực tế. thể được sử dụng như nền tảng của tri thức nhưng hữu ích trong việc ra quyết định và hành động. Là cách tiếp cận hiệu quả nếu các tương Là cách tiếp cận hiệu quả nếu các tương tác tuyến tính và yếu. tác không tuyến tính và mạnh.

43

Dẫn tới giáo dục chuyên ngành hẹp (đơn Dẫn tới giáo dục đa ngành. ngành). Dẫn tới hành động được lập trình chi tiết Dẫn tới hành động được xác định thông qua các mục tiêu. Sở hữu các chi tiết ít xác định mục tiêu Sở hữu các kiến thức về mục tiêu, các chi tiết không thể hiện rõ ràng.

Theo Rosnay (1979) [18]. 2.2.3. Mô hình và mô phỏng Xây dựng mô hình và mô phỏng là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong tiếp cận hệ thống. Được xây dựng như một phần của cách tiếp cận phân tích, mô hình là sự hợp nhất các thành tố chính của hệ thống để xem xét hành vi của hệ thống như một tổng thể - bằng cách đề cập thật nhiều (đến mức có thể) đến sự phụ thuộc qua lại giữa các yếu tố Cách nhìn của chúng ta về thế giới là một dạng mô hình. Tất cả các hình ảnh trong tư duy của chúng ta đều là một hệ thống mờ nhạt không hoàn chỉnh và được sử dụng làm nền tảng ra quyết định. Khi nghiên cứu các hệ thống phức tạp với một số lượng lớn biến, việc xây dựng các mô hình tương đồng đơn giản là không phù hợp. Nếu không có sự trợ giúp của máy tính và các hệ thống mô phỏng, chúng ta không thể làm cho hệ thống trở nên sống động. Sự mô phỏng có thể làm cho hệ thống trở nên sống động bằng cách đưa vào đồng thời tất cả các biến của hệ thống. Xây dựng mô hình là thiết lập một mô hình từ các dữ liệu có từ giai đoạn phân tích hệ thống. Đầu tiên một sơ đổ hoàn chỉnh về các mối quan hệ nhân quả giữa các thành tố của hệ thống phụ được thiết lập. Sau đó, trên nền ngôn ngữ máy tính phù hợp, các công thức mô tả các tương tác và các quan hệ giữa các thành tố của hệ thống được thiết lập.
44

Mô phỏng xem xét hành vi động của hệ thống phức tạp. Thay cho việc sử dụng từng biến, mô phỏng đưa vào các nhóm biến số nhằm thiết lập một tình huống thực tế phức hợp hơn. Mô phỏng được sử dụng ngày nay trong rất nhiều lĩnh vực nhờ sự phát triển của các ngôn ngữ mô phỏng mạnh hơn nhưng vẫn đơn giản và sự phát triển của công nghệ truyền dán dữ liệu giữa các mạng máy tính. Mô phỏng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: mô hình hóa môi trưng - dự báo tác động của các chất ô nhiễm không khí đất, nước, nồng độ của chất ô nhiễm trong chuỗi thức ăn. . . quy hoạch thành phôi sự tăng trưởng của các thành phố, sự xuất hiện của các khu ổ chuột, giao thông cơ giới; vật lý học thiên thể - sự ra đời và tiến hóa của các ngân hà, "các thí nghiệm" sản xuất khí quyển ở các hành tinh khác; vật lý - dòng electrons trong thiết bị bán dẫn, tính chống chịu của vật liệu, sốc sóng. các dòng chất lỏng. sự hình thành sóng; kinh tế và chính trị - dự đoán công nghệ, mô phỏng các mâu thuẫn. "các mô hình thế giới"; quản lý công nghiệp - các chính sách thị trường, thâm nhập thị trường, đưa ra sản phẩm mới [18]. Cho dù các ứng dụng nhiều về số lượng và da dạng về chủng loại, nhưng cũng không thể trông đợi quá nhiều từ sự mô phỏng. Mô phỏng không thể dưa ra giải pháp tối ưu hoặc chính xác cho một vấn đề xác định. Nó chỉ có thể đưa ra các chiều hướng chung về hành vi của một hệ thống - các hướng tiến hóa có thể của hệ thống đó - đồng thời đề xuất các giả thuyết mới. Một trong số các nhược điểm của mô phỏng là sự lựa chọn tự do các biến [18] . Người sử dụng có thể thay đổi các điều kiện ban đầu chỉ để "xem điều gì sẽ xảy ra", dẫn đến lạc lối trong vô số các biến số. Mô phỏng cho phép xác minh các tác động của một số lượng lớn các biến số lên chức năng chung của hệ thống; nó xếp hạng vai
45

trò của mỗi biến theo mức độ quan trọng; nó khám phá ra các điểm khuếch đại hoặc ức chế thông qua đó có thể gây ảnh hưởng lên hành vi cửa hệ thống. 2.2.4. Tiếp cận Hệ thống trong tập quyết định Tiếp cận hệ thống hiện nay nhìn chung vẫn còn giữ một vai trò nhỏ bé trong việc lập các quyết định về môi trường và phát triển. Ví dụ, trong rất nhiều vấn đề quản lý tài nguyên và ô nhiễm, người ta thường đơn giản hóa đến mức coi sự phản ứng của các hệ là tuyến tính mặc dù trên thực tế là phi tuyến. Nhận thức về tác dụng của những biến động lâu dài và chậm chạp, ví dụ các tai biến tiềm ẩn thường không đủ mức, và các yếu tố của hệ thống thường được phân tích tách rời mà đáng lẽ phải coi chúng như những bộ phận hữu cơ của một cơ thể thống nhất. Các hệ phức tạp có thể tạo ra các kết quả vừa phụ thuộc vào các tương tác rất đa dạng, vừa có tính nhạy cảm cao đối với các điều kiện xuất phát và trọng số của các yếu tố. Ngoài ra, một số nhóm hệ thống phức tạp sẽ có hành vi nhiễu loạn trong một số điều kiện nào đó; và các hệ thống nhiễu loạn, trên nhiều phương diện, lại phổ biến hơn là các hệ có tính ổn định cao. Tuy nhiên, cũng đã có những cố gắng nhằm sử dụng tư duy hệ thống vào việc quản lý, bao gồm hai tiếp cận: tiếp cận cứng và tiếp cận mềm. 2.2.4.1. Tiếp cận cứng Tiếp cận cứng dành cho các hệ thống mà mục tiêu, cấu trúc là rõ ràng . Về cơ bản, tiếp cận cứng gồm một chuỗi các bước giải quyết vấn đề: (l) Xác định vấn đề: xác định vấn đề và những việc cần làm. (2) Lựa chọn mục tiêu: xác định những yêu cầu nhằm đạt
46

được mục tiêu, xây dựng các giải pháp hiệu quả nhằm tạo cơ sở đối sánh giữa các phương án chiến lược. (3) Tổng hợp hệ thống: xác định các hệ thống thay thế có thể có. (4) Phân tích hệ thống: phân tích và lượng giá các hệ thống được giả định, dưới ánh sáng của các mục tiêu. (5) Lựa chọn hệ thống: lựa chọn hệ thống có hứa hẹn nhất. (6) Phát triển hệ thống: phát triển hệ thống đã chọn đến giai đoạn mô hình hóa. (7) Chính xác hóa hệ thống: thực tế hóa hệ thống, xác định các quá trình giám sát hệ thống, chuẩn hóa hệ thống nếu cần thiết. Mô hình cơ bản này có thể được mở rộng bằng nhiều cách để bao gồm cả các chỉ số từ mảng kinh tế xã hội hoặc các tiêu chuẩn đa diện khác. Việc lập các quyết định về kinh tế hay chính tả được tiến hành dựa trên cơ sở đa mục tiêu. Tuy nhiên, những quyết định như vậy thường được tạo dựng trên cơ sở hiểu biết thiếu toàn diện, ví dụ như bằng cách nào mà những mục tiêu đó có thể tạo ra các xung đột. Theo nguyên tắc chung thì tất cả các quyết định đều có ẩn dấu một hoặc nhiều kỳ vọng quá mức. Vai trò của việc phân tích hệ thống không thay thế cho quá trình lập quyết định, nhưng hỗ trợ cho các quyết định; nó tăng cường chất lượng cũng như hệ thống hóa các thông tin có được, và làm cho quá trình lập quyết định trở nên công khai hơn và hiệu quả hơn. Clayton (1997) đã cải biến chút ít tiếp cận cứng, chủ yếu tập trung vào chi phí và lợi ích của các chương trình thay thế [9]. Tiếp cận cải biên gồm những bước sau đây: (l) Xác định mục tiêu: làm rõ mục tiêu và mục đích mong muốn.
47

(2) Mô tả các kỹ thuật hoặc hệ thống thay thế: có thể có được nhằm mục tiêu đó. (3) Xác định chi phí và tài nguyên cần thiết để triển khai các kỹ thuật hoặc hệ thống lựa chọn. (4) Xây dựng mô hình hệ thống ở dạng mô hình toán học hoặc khung lôgic, cho phép chỉ rõ tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các mục tiêu, các hệ, môi trường và các nguồn tài nguyên có thể có. (5) Xây dựng các tiêu chuẩn để lựa chọn và liên kết các mục tiêu chi phí và tài nguyên để có thể chọn được các giải pháp tối ưu hoặc mong muốn. Sẽ nảy sinh nhiều vấn đề khi tiếp cận cứng được sử dụng cho hệ mở, nhất là các hệ sinh thái nhân văn. Tiếp cận cứng nhằm vào việc cung cấp giải pháp cho một vấn đề đã xác định rõ và do đó mà tất cả các yếu tố nhìn chung đã được cho trước. Tuy nhiên, đối với các hệ mở, thì điều thường thiếu nhất lại chính là mục tiêu, mà Merton (1965) đã gọi là "Sự tìm kiếm những giải pháp hùng mạnh cho một mục đích không thể xác minh được" [9]. 2.2.4.2. Tiếp cận mềm Đối với các hệ thống mở, tư duy hệ thống chỉ được coi là sự đóng góp vào việc giải quyết vấn đề, hơn là phương pháp luận nhằm trực tiếp vào mục tiêu. Tiếp cận này áp dụng cho tất cả các tình huống khi mà tự thân nhiệm vụ không thể xác định một cách toàn diện và khách quan. Trong khi tiếp cận cứng có thể dược sử dụng để giải quyết các vấn đề có cấu trúc mạch lạc, thì tiếp cận mềm lại thích hợp với các vấn đề không được cấu trúc mạch lạc. Với các vấn đề không có cấu trúc, thì ngay cả định nghĩa của vấn đề và thiết kế mục tiêu tự chúng cũng thiếu mạch lạc. Khi mà việc xác định vấn đề còn phụ thuộc vào quan điểm được chấp nhận, thì điều cốt yếu là phải làm cho quan điểm ấy trở nên rõ ràng, dứt khoát, và tiếp đó là thiết lập
48

kết quả của hệ thống từ đó. Điều đó cũng có nghĩa là kết quả chính xác của các giai đoạn phân tích tình huống và triển khai giải pháp không thể được duy trì mãi. Đó là vì tự thân vấn đề thường đòi hỏi, phải được tái xác định trong suất quá trình, và cũng cần thiết phải được chuẩn bị để trở lại giai đoạn đầu tiên, và tốn nhiều thời gian để tái xét vấn đề. Thậm chí có thể là ngay cả khách hàng mà vấn đề được giải quyết vì họ, cũng cần được tái xác định như là một phần của quá trình này. Hệ thống có sự tham gia của con người luôn luôn có tính đa giá trị. Ví dụ các tổ chức chính thức tồn tại vì một mục tiêu nào đó ban đầu, có nghĩa là phải thực hiện một chức năng xác đỉnh, nhưng tất cả các tổ chức như vây bao giờ cũng tìm thêm những chức năng khác bổ sung. Chẳng có tổ chức nào lại được tạo ra chỉ để thực hiện một vài nhiệm vụ chuyên biệt. Các tổ chức luôn luôn hàm chứa các mối quan hệ nhân văn quan trọng. Một phần mục đích của các mối tương tác nhân văn là xác lập và cải biến các mối quan hệ, thường liên kết với bất cứ một mục đích chính thức và có mục tiêu nào. Thường thường đối với các tổ chức chống cự lại những thay đổi về cấu trúc (ví dụ những thay đổi đe dọa đến sự tồn tại của các cấu trúc quyền lực đang hiện hành) chỉ chấp nhận những thay đổi nào không đe dọa đến sự phân bổ quyền lực hiện có của nó mà thôi. Vì vậy, trong thực tế, các thay đổi vừa phải mang tính hệ thống, vừa phải có sự thích ứng mềm dẻo một cách nhân văn. Các giai đoạn của tiếp cận mềm là: (1) Điểm qua (tổng quan) về hiện trạng các vấn đề không có cấu trúc rõ rệt. (2) Làm rõ và trình bày hiện trạng vấn đề. (3) Xác định các hệ thống tương thích (kể cả các phân hệ) bất kể là chính thức hay không chính thức. (4) Xây dựng mô hình khái niệm, kịch bản và làm rõ sự giống
49

nhau. (5) So sánh các mô hình này với hiện trạng đã được trình bày. (6) Xúc tiến các thay đổi vừa có tính mềm dẻo, vừa thỏa mãn mong đợi. (7) Xác lập các hành động nhằm cải thiện hiện trạng vấn đề. Quá trình này bao gồm việc xác định và tái xác định mục tiêu bằng cách xây dựng các mô hình, phát triển các tiêu chuẩn, so sánh mô hình với hiện trạng và cả hai việc tái cấu trúc mô hình và giải quyết hiện trạng phải thực hiện trong một quá trình đòi hỏi liên tục phản hồi, liên tục quay trở lại từ đầu và liên tục lặp lại. Nói tóm lại, phương pháp tiếp cận mềm cần nhiều phản hồi hơn tiếp cận cứng, với việc liên tục so sánh giữa các giai đoạn. Kiểu tư duy hệ thống này tự nó đã là một đầu vào của việc thay đổi tổ chức. Tiếp cận mềm phổ biến hơn tiếp cận cứng. Phân tích cứng chỉ được sử dụng khi hệ được xác định rõ rệt. Trong thực tế, tiếp cận mềm là một tiếp cận có kết thúc để ngỏ, là thực sự cần thiết ở bất cứ chỗ nào mà kết quả chưa được tiên lượng chính xác. Tiếp cận mềm, xét cho cùng cũng chỉ là một quá trình học hỏi liên tục, rút kinh nghiệm liên tục. Bất cứ một mô hình hệ mở nào cũng chỉ được coi như là một bối cảnh mà trong đó các sự kiện được gán cho một ý nghĩa nhất định. Các dòng tác động giữa các yếu tố nhân văn của hệ thống không phải là những thông tin trung lập, mà là các sự kiện mang tải nhiều ý nghĩa đa diện đối với những người tham gia. Một nhiệm vụ hoặc một sự vận hành định sẵn cần phải được xác định chích xác ở một mức độ, nhưng có thể vẫn có các ý nghĩa hoàn toàn khác đối với các yếu tố nhân văn và những người tham gia. Một yếu tố xác định một chức năng hay một nhiệm vụ, phụ thuộc rất nhiều vào
50

quan niệm mỗi người, được gọi là một chức năng ngầm. Điều này cũng có thể áp dụng cho cấu trúc hệ thống. Đa phần các cấu trúc nhân văn là hiện thân của niềm tin và quan điểm, mà cả hai thứ này đều dễ bị biến đổi theo thời gian. Checkland (1981) [9] khi đề cập đến sự cần thiết phải xác định các hệ thống nhân văn, đã đề xuất 6 yếu tố quan trọng hàng đầu là: (1) Biến đổi đấu vào thành đầu ra: bao gồm việc xác định các dòng vào, đi xuyên qua và ra khỏi hệ thống. (2) Quyền lực của hệ thống: bao gồm việc xác định những người lập quyết định và những nhóm quyền lợi. (3) Tác nhân trong hệ thống: bao gồm việc xác định các cộng đồng tham gia vào hay ảnh hưởng đến hệ thống. (4) Khách hàng của hệ thống: bao gồm việc xác định các nhu cầu mà con người tạo ra từ hệ thống, nhằm so sánh về sau đối với mục tiêu được đề xuất của hệ thống. (5) Trở ngại môi trường của hệ thống: gồm việc xác định tất cả các trở ngại của môi trường xã hội, kinh tế và môi trường tự nhiên của hệ thống. (6) Hoàn cảnh: bao gồm việc thảo luận và làm rõ thế giới quan, quan điểm, kỳ vọng của những người tham gia, chủ sở hữu, tác nhân và khách hàng của hệ thống. Nhà phân tích các hệ thống nhân văn cũng cần lưu ý thêm: • Việc điều tra xã hội học môi trường là khác cơ bản với điều tra hệ sinh thái tự nhiên, sinh thái nhân văn hoặc xã hội học thuần túy. Tiếp cận phân tích kinh điển đơn giản hóa thường không phù hợp với những vấn đề "mù mờ', khi tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội vào một hệ thống. • Trong các hệ thống xã hội, các yếu tố như vai trò, quy tắc, giá
51

trị, khái niệm và sử dụng quyền lực là những yếu tố quan trọng nhất. Tốt nhất là làm rõ các vấn đề này hơn là việc cố tình che dấu chúng trong quá trình lập quyết định. Vì vậy, tiếp cận cùng tham gia rộng rãi của các nhóm quyền lợi là cực kỳ quan trọng. • Các hệ thống không thể được xác định khi mà thượng hệ của chúng chưa được xác định. Điều này thường phổ biến đối với các hệ quản lý và hệ nhân văn. Ví dụ khi quy hoạch hoặc thiết kế một hệ thống xử lý nước, tốt nhất là xuất phát từ việc xem xét tổ chức mà quy hoạch hoặc hệ thống đó phục vụ, trước khi xem xét hệ thống cần làm gì, từ đâu, ở dạng nào, tần suất bao nhiêu... Điều đó có nghĩa là cần phải xác định chức năng và vai trò của con người trong hệ thống trước khi thiết kế các hệ thống dịch vụ môi trường. 2.2.5. Tập hợp thông tin và ra quyết định Các bước để tập hợp thông tin giúp cho việc quyết định có thể được chia thành hai giai đoạn cơ bản: • Xác định các chính sách có thể dẫn đến bền vững hơn. • Triển khai các cơ chế, chiến lược và công cụ cần thiết để áp dụng các chính sách đó. Giai đoạn thứ nhất yêu cầu tăng cường hiểu biết về hành vi của các hệ nhân văn và tự nhiên, cũng như những tương tác đa dạng giữa các hệ thống, muốn vậy cần triển khai các nghiên cứu sâu. Các lý thuyết hiện có chắc chắn phải được mở rộng để phù hợp với một khối lượng thông tin lớn do các nghiên cứu này mang lại. Đồng thời, cũng cần phải có các kỹ thuật, phương pháp luận và học thuyết mới. Giai đoạn thứ hai yêu cầu một số triển khai về mặt truyền thông, đồng thời cũng triển khai các kỹ thuật và quá trình lồng ghép các thông tin mới (do sự hiểu biết tốt hơn về hệ thống đem lại) vào
52

các quá trình lập quyết định hiện tại. Hiện nay có nhiều cách lập mô hình các hệ thống kinh tế và xã hội nhân văn. Tất cả các kỹ thuật hiện có phản ánh sự hiểu biết không đầy đủ của chúng ta về hành vi của các hệ thống tương tác phức tạp, do đó chắc chắn là không hoàn thiện. Thực ra khoa học nào cũng vậy, đặc tính liên ngành và phức tạp của vấn đề làm cho cần phải liên tục tái xét về mặt phương pháp luận. Các tiếp cận khác nhau về lượng giá môi trường và mô hình lập quyết định liên quan có thể được sắp xếp theo mức độ tập hợp thông tin của chúng: • Tập hợp cao: bao gồm phân tích chi phí - lợi ích quy ước. • Tập hợp trung bình: gồm các phân tích khác nhau về chi phí - hiệu quả. Tiếp cận này liên kết được các giá trị tính thành tiền và không tính thành tiền, nhưng không giải quyết được vấn đề cơ bản về lượng giá thông tin. • Tập họp rời rạc: bao gồm phân tích tác động môi trường, tài liệu từ GIS hoặc các hệ thống thông tin không tính thành tiền khác, các thông tin có thể được sử dụng như các đầu vào tách biệt của quá trình lập quyết định cùng với các phân tích tài chính. Tiếp đó sẽ có thể tiến hành một vài dạng phân tích. Ví dụ như phân tích vị thế. Vấn đề không phải là ở chỗ chọn lựa các mô hình phức tạp hay mô hình đơn giản vì tất cả các mô hình đều là loại đơn giản hóa trên bình diện nào đấy, do cần bỏ bớt thông tin để đạt được sự giản lược và sáng sủa. Tuy nhiên một quyết định phải được lập trên cơ sở tối đa thông tin. Mô hình tập hợp cao sẽ chịu chi phí lớn do mất thông tin tạo ra. Các vấn đề tổ hợp : "Vấn đề" ở đây được hiểu là các biểu hiện, các hành vi không
53

mong đợi của hệ thống. Các vấn đề tổ hợp có những đặc trưng sau: • Tính phụ thuộc của các yếu tố. Các yếu tố quan trọng của ván đề bao giờ cũng liên kết với nhau một cách gián tiếp hoặc trực tiếp. Những cố gắng giải quyết bằng cách chỉ đề cập đến một yếu tố có thể đưa đến những kết quả nghèo nàn hoặc không mong đợi. Cần phải cùng lúc sử dụng càng nhiều yếu tố càng tốt và phải thiết kế các chính sách gắn kết để có thể điều phối nhiều hành động. • Tính biến đổi của các mối tương tác. Một số tương tác giữa các yếu tố sẽ có phản ứng tích cực, số khác phản ứng trong một phạm vi nào đó số còn lại không hề phản ứng. Yếu tố thời gian cũng biến động không kém. Một số yếu tố phản ứng tức thì để biến thành dạng khác. Trong khi đó, một số yếu tố có tính ì cao phản ứng rất chậm chạp. • Phản hồi tích cực và hiệu quả tích lũy tạo ra các kết quả vượt trội hơn, gia tăng hơn các kích động ban đầu. Ví dụ việc cải thiện chế độ dinh dưỡng cho những người rất nghèo có thể làm tăng sức lao động tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng còn tết hơn. Những phản hồi tích cực như vậy thường vận hành cho đến khi đạt đến giới hạn bên ngoài hoặc cho đến khi hệ đạt đến trạng thái bão hòa. • Phản hồi tiêu cực. Xảy ra khi sự thay đổi trong một điều kiện cụ thể bị che lấp, bị giảm thiểu bởi sự thay đổi trong một điều kiện phụ thuộc khác. Tiếp tục các trú dụ về dinh dưỡng ở trên, có thể thấy khi tăng trưởng nhanh dân số sẽ làm tăng nhu cầu thực phẩm, từ đó làm tăng áp lực lên nguồn cung cấp thực phẩm khiến nguồn này sẽ đi đến cạn kiệt, từ đó dàn đến suy thoái nguồn cung cấp thực phẩm, dẫn đến suy giảm dân số. • Nguyên nhân quay vòng: là sự thay đổi trong một điều kiện,
54

gây ra sự thay đổi trong một điều kiện khác và ngược lại, trong một chế độ động lực tiến hóa qua lại. • Không cân bằng: tất cả các vấn đề tổ hợp về cơ bản là các vấn đề thích ứng kém hoặc chính là kết quả không mong đợi của hệ. Tất cả các hệ đều nằm trong quá uuul biến đổi liên tục để thích ứng. Tất cả những cố gắng nhằm can thiệp vào những hệ như vậy, và nhằm đưa đến một kết quả khác, thực ra, là những cố gắng thay đổi con đường thích ứng của hệ bằng cách làm phân rã những điều kiện kiểm soát quan trọng trong cấu trúc nội tại hoặc môi trường bao quanh hệ. Những can thiệp và những thay đổi kéo theo ở những hệ như vậy có thể được gọi là các can thiệp nội sinh nếu chúng xuất phát từ động lực nội sinh của hệ, được gọi là can thiệp ngoại sinh nếu chúng xuất thân từ sự can thiệp từ bên ngoài hệ. Tính phức tạp của những tình huống như vậy cho thấy không phải tất cả các thông tin đều có sẵn hoặc được định lượng, không phải tất cả những kết quả chỉ được hạn chế trong phạm vi định tính. Sự hiểu biết phụ thuộc vào khả năng đo lường các điều kiện và các thay đồi của các điều kiện đó, mặc dù rõ ràng một mô hình hệ mở sẽ khó khăn hơn so với một mô hình hệ cô lập. Các vấn đề môi trường và phát triển là những ví dụ điển hình về các vấn đề tổ hợp, vì những lý do sau đây: • Các vấn đề môi trường và phát triển là đa diện, đa ngành và đa tổ phần. • Chúng thường có hai loại giá trị: tính được thành tiền và không tính ra tiền được. Rất nhiều loại tài nguyên không tính được ra tiền, đang lâm nguy, lại là duy nhất, sự suy thoái những tài nguyên này thường không đảo ngược được hoặc khó đảo ngược, và sự thiếu hụt loại tài nguyên đó thường làm tăng entropy của hệ.
55

• Chúng thường bị hạn chế cả trong không gian lẫn thời gian, phát triển xuyên qua các ranh giới địa chính trị và thời gian. • Chúng thường không chỉ được gây ra do các tác nhân trực tiếp mà còn được gây ra do các tác nhân nằm ngoài các vị trí xảy ra các phá hủy môi trường tại chỗ, hoặc có thể ảnh hưởng đến các quyền lợi của các đối tác khác chưa được tính đến. • Chúng thường kéo theo xung đột về quyền lợi và quan điểm. • Chúng thường kéo theo tính bất định và rủi ro, và cả hai thứ đó lại thường rất phức tạp. Phân tích vị thế của một quyết định Mục đích của bất cứ quá trình ra quyết định nào, sau khi tính toán các dữ liệu tương thích, là phải đạt đến một quyết định rõ ràng, tạo điều kiện cho một cá nhân hoặc một tổ chức có được những cơ hội tết nhất để dạt được các mục tiêu kỳ vọng. Chức năng cơ bản của phân tích vị thế (position analysis) là soi sáng và nâng cấp quá lluul lập quyết định, gồm: • Tạo ra hiểu biết thực tế thông qua điều tra hệ thống . • Soi sáng quá trình ra quyết định. • Xác định tất cả các phương án và sức ép có thể có đối với nhà lập quyết định. • Làm cho quá trình lập quyết định trở nên công khai, bằng cách làm rõ người lợi, người thiệt, những người bình dân, vấn đề xung đột quyền lợi, các vấn đề về đạo đức và quan điểm. • Sử dụng phương án hoàn hảo trên cơ sở các phương diện hợp lí và đối sánh với phương án của chính nhà lập quyết định dự tính. Nhìn chung, phân tích vị thế gồm các bước sau:
56

(1) Xác định các điều kiện, các yếu tố và các mảng vấn đề tương thích khi giải quyết một vấn đề tổng hợp hoặc xác lập các quyết định chiến lược. (2) Xác định quy trình lượng hóa, đo lường, sắp xếp hoặc ưu tiên hóa các thay đổi thuộc mỗi mảng vấn đề. Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng một số thang bậc hoặc phép cho điểm. Mỗi một mảng cần có một thang bậc thích hợp. (3) Đo lường hoặc đánh giá các phương án hoặc kịch bản về sự thay đổi trên mỗi mảng vấn đề. (4) Xác định sự thoả hiệp trong số các mảng tương thích. (5) Lập quyết định trên cơ sở tổng thể từng phương án, có thể phân bổ theo trọng số từng mảng. Câu hỏi thảo luận chương 2 1. Mô hình hộp trắng có rủi ro không? Nếu có thể những rủi ro thường gặp của mô hình này là gì? 2. Có thể dùng tiếp cận cứng để nghiên có các hệ thống đa chiều không? Trong trường hợp nào có thể sử dụng xen kẽ tiếp cận cứng và tiếp cận mềm? 3. Tại sao trong phân tích vị thế một quyết định tại phải làm cho quá trình ra quyết định phải trở nên công khai? Những khó khăn của việc công khai hóa là gì?

57

Chương 3 Công cụ tiếp cận hệ thống ứng dụng trong nghiên cứu môi trường và phát triển

3.1. Giới thiệu Chung Thế giới đang lâm vào khủng hoảng vì sự không bền vững: không đạt được phúc lợi cho tất cả mọi người trong khi hệ sinh thái đang bị suy thoái và phá hủy. Hành vi của con người là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng này và cũng chính nó là nguồn lực duy nhất để giải quyết vấn đề: hệ sinh thái không thể tự giải quyết vấn đề cho chúng ta. Chúng ta phải hiểu những hành vi nhân văn nào là có vấn đề và động cơ thúc đẩy đằng sau những hành vi đó. Sức khỏe, thịnh vượng và chất lượng cuộc sống của con người là gắn liền với tính đa dạng, với khả năng sản xuất và chất lượng của hệ sinh thái mà chúng ta là một phần của nó (Hình 7). Kết quả là, tính bền vững phụ thuộc vào việc cải thiện và duy trì tổng thể phúc lợi của con người và của hệ sinh thái.

Xã hội loài người là phần không thể tách rời khỏi hệ sinh toát bao quanh, giống như lòng đỏ của quả trứng bị bao quanh bởi lòng trắng. Cả hai thư sẽ

58

bền vàng chỉ với điều kiện cả hai được duy trì và cải thiện. Bất cứ phân hệ nào suy thoái hoặc đơn phương phát triển thị xã hội đều không bền vững.

Không ai hiểu rõ tổ hợp phúc lợi nói trên là gì và làm cách nào để đạt được. Sự tiến bộ phụ thuộc vào việc nhận diện hệ thống, đặt nền móng những hành động của chúng ta trên cơ sở tư duy hệ thống - thông qua việc các nhóm công dân suy nghĩ và hành động ở chính tình huống của họ. 3.2. Thước đo tính bền vững (BS) Thước đo tính bền vững (Barometer of Sustainability - BS) là công cụ để đo lường và truyền thông phúc lợi tổng thể của xã hội và sự tiến bộ theo hướng bền vững do IUCN đề xuất (1996) Những đặc trưng cơ bản của BS là: • Tạo ra một bức tranh của toàn hệ thống chứ không chỉ là những phần riêng biệt được đo lường bằng những chỉ thị riêng biệt. • Đối xử bình đẳng các phúc lợi sinh thái với phúc lợi nhân văn. • Cổ vũ một sự kiểm tra nghiêm khắc và công khai các đánh giá về tính bền vững. BS bao gồm các chỉ thị về phúc lợi sính thái và phúc lợi nhân văn, các chỉ thị này được gắn kết thành các chỉ thị tổng hợp về tính bền vững mà không gây sức ép lên nhau. BS cung cấp một cách thức có tính hệ thống cho việc tổ chức và tổng hợp các chỉ thị sao cho người sử dụng có thể dễ dàng rút ra các kết luận về điều kiện nhân văn - sinh thái, nhằm trả lời câu hỏi là cộng đồng hiện nay đang ở đâu và họ đang đi đến đâu. BS có thề sử dụng ở bất cứ tỷ lệ nào, từ cấp quốc gia đến địa phương, như là: • Một công cụ để truyền thông về phúc lợi nhân văn và sinh thái
59

theo hướng bền vững. • Một công cụ để đo lường các phúc lợi nhân văn và sinh thái theo hướng bền vững. • Một công cụ để đo lường các tác động của từng lĩnh vực lên các phúc lợi nhân văn và sinh thái - Các lĩnh vực gồm: nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khai mỏ và năng lượng. Lợi ích của con người (ví dụ thu nhập, công việc làm, hàng hóa) có thể được đo lường và tổ hợp lên thang bậc nhân văn (human scale). Các sức ép lên hệ sinh thái (như suy thoái đất, ô nhiễm nước, đe dọa các loài sinh vật, tác động lên tài nguyên) cũng được đo lường và trình diễn trên thang bậc sinh thái (ecological scale). • Một phương pháp đánh giá phúc lợi xã hội theo hướng bền vững. Khi BS được sử dụng như một công cụ đo lường hay truyền thông, người sử dụng gộp các vấn đề và các chỉ thị thành những nhóm mà họ chọn. Khi BS là một công cụ đánh giá, người sử dụng tổ chức các chỉ thị thành các hạng bậc của các bộ vấn đề. Lựa chọn các chỉ thị: quá trình 3 bước 1) Xác định các mảng vấn đề của phúc lợi sinh thái và phúc lợi nhân văn. Mảng vấn đề là một tập hợp tổng quát các vấn đề nhỏ cần phải được xem xét. Khi BS được sử dụng như một công cụ đánh giá, người ta thường dùng 10 mảng, 5 thuộc phúc lợi sinh thái và 5 thuộc phúc lợi nhân văn.
Phúc lơi sinh thái Đất Nước Không khí Đa dạng sinh học Sử dụng tài nguyên Phúc lơi nhân văn Dân số - Sức khỏe Điều kiện sống Tri thức Hành vi và tổ chức Bình đẳng

60

Nguồn : IUCN 1996 [16] 2) Xác định các vấn đề cốt lõi của từng mảng. Các vấn đề cốt lõi thường rộng nhưng không phải luôn luôn là các vấn đề đại diện cho từng mảng. Ví dụ: Các vấn đề cốt lõi gồm chất lượng nước, đa dạng loài chỗ làm việc, xung đột và vi phạm. Việc chọn lựa các vấn đề cất lõi phụ thuộc vào việc người ta coi cái gì làm cho mảng vấn đề trở nên rõ ràng, vấn đề nào có đụng chạm nhiều đến con người, và vấn đề nào mà các chỉ thị có thể được xây dựng từ đó. 3) Xác định chỉ thị của từng vấn đề cốt lõi. Chỉ thị là một phép đo chuyên biệt của một vấn đề cụ thể, được người sử dụng lựa chọn. Ví dụ: lượng fecal colifoml, số loài bị đe doạ, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ bác sĩ/ 1000 dân... Vì BS sử dụng một thang bậc trình diễn, nên các chỉ thị đơn cũng phải là các chỉ thị định lượng trình diễn được, có nghĩa là có thể xác định được giá trị của chỉ thị. Các chỉ thị trung lập hoặc có ý nghĩa không rõ thì không được dùng, vì vậy chỉ thị phải là loại mong muốn, có thể chấp nhận hoặc xấu (không thể chấp nhận). Việc lựa chọn chỉ từ Phụ thuộc vào cái mà các chỉ thị trình diễn muốn lột tả để làm rõ vấn đề. Tổ hợp các chỉ thị đơn thành các chỉ thị tổng hợp để diễn tả các phúc lợi nhân văn và sinh thái được tiến hành theo thứ bậc từ trên xuống dưới như sau:

Thang bậc BS có thể được bổ sung để tính được các ngưỡng
61

và các tác động phi tuyến bằng cách xác định giá trị BS nằm trong khoảng nào của các hạng sau (Hình): 100 - 8 1 80 - 61 60 - 41 40 – 21 20 - 0 Bền vững Khá bền vững Trung bình Kém bền vững Không bền vững

3.3. Phân tích hệ thống và quy hoạch Đây là một quá trình thiết kế các can thiệp địa phương nhằm nâng cao sự phát triển bền vững. Kết quả cần đạt được là một chiến lược hoặc kế hoạch hành động nhằm phát triển bền vững. Phương pháp gồm: - Phân tích tình huống và chẩn định. - Xác định ưu tiên và các phương án. - Phát triển chiến lược và kế hoạch hành động. - Triển khai khung giám sát. • Phân tích tình huống và chẩn định
62

Đây là quá trình đánh giá tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên, phúc lợi nhân văn và điểm mạnh hay hạn chế của các tổ chức. Tài nguyên thiên nhiên có thể được đánh giá gồm: khí hậu, địa chất, hiện trạng sử dụng đất, độ dốc, địa lý tự nhiên, đất, nước mặt, nước ngầm và hệ thống thủy văn. Các thông số sau đây phản ánh các đặc trưng cơ bản của việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên: khả năng hiện tại (trữ lượng), mức độ sử dụng hiện tại, chất lượng và tính đa dạng, quan hệ nhân quả, cơ hội và ngưỡng khai thác bền vững. Đánh giá phúc lợi nhân văn mở đầu bằng việc phân hạng các nhóm cộng đồng (về mặt kinh tế và xã hội), đánh giá mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, thế mạnh và hạn chế của nền kinh tế địa phương, mức độ phát triển của các đơn vị hành chính khác nhau (ví dụ làng, xã) trong vùng. Cần thiết kế các can thiệp đặc biệt đối với các nhóm cộng đồng hoặc phụ vùng. Nó cũng có thể làm sáng tỏ các sức ép đặc biệt như khan hiếm thức ăn, tiêu thụ nước, ô nhiễm... Việc đánh giá khả năng và hạn chế của các tổ chức gồm một phổ rộng các tổ chức trong vùng, từ tổ chức nhà nước, tư nhân, cộng đồng đến tổ chức phi chính phủ. • Xác định ưu tiên và các phương án Làm rõ các vấn đề ưu tiên nổi trội từ phân tích tình huống và đề xuất các phương án hành động tương lai. Ưu tiên dựa trên các sức ép xã hội gay cán, những cơ hội có được trong tương lai và nhu cầu thực dụng nhằm đảm bảo ứng dụng thành công. Nhằm duy trì sự tham gia tích cực của các nhóm cộng đồng, các can thiệp phải là những tác động tích cực. • Phát triển chiến lược và kê hoạch hành động Dựa vào các phương án được xác định ở bước 2, phát triển khung chiến lược để tăng cường tính bền vững. Kế hoạch hành
63

động phải làm rõ, chi tiết hóa các can thiệp cần tiến hành với các thẩm định về mặt kỹ thuật, xã hội và kinh tế cần thiết. • Triển khai khung giám sát Triển khai bao gồm xác định các tổ chức có chức năng triển khai và xác định các nghĩa vụ thích hợp, lịch trình và ngân sách. Khung giám sát bao gồm các hệ thống và các chỉ thị để giám sát ở các cấp dự án và chương trình. Khung giám sát cũng bao gồm các kinh nghiệm cần cho những cải tiến giữa kỳ và sau này. Phân tích hệ thống và quy hoạch là loại công cụ sử dụng chủ yếu tại thực địa. Khả năng chấp nhận của xã hội và các tổ chức là một tiêu chuẩn quan trọng. Sức mạnh của công cụ này thể hiện ở: • Là một tiếp cận đa phương và tổ hợp. • Cổ vũ sự tham gia rộng rãi của các nhóm quyền lợi thông qua quá trình tư vấn. • Sử dụng tổ hợp các hiểu biết của cộng đồng cùng với các kiến thức chuyên sâu để lập quyết định. • Tạo ra một dãy các phương án từ mức "cao siêu về khoa học" đến mức "có thể chấp nhận về mặt xã hội" thông qua một quá trình tư vấn và thỏa hiệp. • Thúc đẩy sự thông hiểu của cộng đồng về các vấn đề phát triển bền vững. • Xây dựng cơ sở dữ liệu để hỗ trợ giám sát các tác động của chương trình và quy hoạch tương lai. • Lồng ghép các sáng kiến phát triển địa phương và những nỗ lực ở cấp khu vực (vùng). 3.4. Tháp hành động Tháp hành động (Pyramid of Action - PA) là một công cụ trực
64

quan được xây dựng nhằm khởi phát tư duy của mọi người về những điều họ có thể làm cho chính mình, giảm bớt sự trông ngóng vào những nguồn tài trợ từ cơ quan bên ngoài và từ phía Nhà Nước (Hình 9). Tháp gồm 3 tầng:

3.5. Đánh giá và quy hoạch phát triển bền vững nông thôn Đây là một kiểu phương pháp cùng tham gia để đánh giá tính bền vững của nông thôn và hành động quy hoạch. Phương pháp gồm 2 giai đoạn, đều sử dụng các công cụ cổ vũ sự tham gia của cộng đồng. Đánh giá tính bền vững nông thôn Điều tra các điều kiện về sinh thái, nhân văn và chuẩn bị cho quy hoạch hành động. Giai đoạn này nhằm hỗ trợ nông dân và nhóm chuyên gia chia sẻ và thống nhất nhận định về các phúc lợi sinh thái cũng như nhân văn sự cần thiết của các hành động mà cộng đồng có thể chấp nhận. Quy hoạch hành động cho sự bền vững nông thôn Bước này gồm 2 công đoạn. (1) Người địa phương tự chuẩn bị kế hoạch hành động, gồm xác định một số vấn đề ưu tiên, hành động ưu tiên mà địa phương cần triển khai để giải quyết các vấn đề
65

ưu tiên này, những hành động bổ sung mà họ tiến hành với sự hỗ trợ từ ngoài (ví dụ đào tạo công cụ, thiết bị, tài chính), những hỗ trợ cần thiết, kể cả hỗ trợ từ bên ngoài. (2) Nhóm chuyên gia phối hợp đánh giá với người địa phương về tính thực tiễn của kế hoạch và về sự thỏa thuận của cộng đồng. Đồng thời, người địa phương và nhóm chuyên gia làm rõ các giả thuyết làm cơ sở của kế hoạch và xây đựng các chỉ thị để đánh giá các giả thuyết, sự tiến bộ của kế hoạch và hiệu quả. 3.5.1. Đánh giá tính bền vững nông thôn Đây là giai đoạn đầu, chủ yếu được triển khai tại địa bàn cùng với dân làng. Bước này cần bắt đầu bằng việc sưu tập các tài liệu thứ cấp và tổ chức thực địa. Công việc của bước này gồm: - Xây dựng hiểu biết chung. - Tiếp cận phỏng vấn và đối thoại. Phương pháp yêu cầu người tham gia chia sẻ và thống nhất các nhận thức về quan hệ chặt chẽ giữa phúc lợi nhân văn và phúc lợi sinh thái. Các câu hỏi chết trong giai đoạn này gồm: - Chất lượng sống thế nào? - Hệ sinh thái của chúng ta ở tình trạng nào? - Con người và hệ sinh thái tương tác như thế nào? Giai đoạn đánh giá gồm 3 công đoạn: Công đoạn 1: Nhóm đánh giá giải thích dự án và sử dụng tháp hành động để nhấn mạnh chiến lược cộng đồng phụ thuộc chủ yếu vào hành động của chính người dân. Nhóm giới thiệu mô hình quả trứng để mọi người nhận thức được họ là một phần hữu cơ của hệ sinh thái, phúc lợi nhân văn và phúc lợi sinh thái cần phải được cải thiện đồng thời. Tiếp theo, trình bày khung BS để nhấn mạnh ý tưởng này, đồng
66

thời cung cấp cho cộng đồng một công cụ do phúc lợi nhân văn và phúc lợi sinh thái. Dân làng xác định từng bậc thang (từ xấu đến tốt) theo tiêu chuẩn của họ. Sau đó họ thảo luận vị trí hiện nay của cộng đồng trên từng thang bậc và liệt kê các yếu tố đóng góp vào phúc lợi sinh thái và nhân văn. Công đoạn 2: Cộng đồng làm rõ các điều kiện của hệ sinh thái bằng cách xác định từng tổ phần của hệ thống (rừng, sông, đất ngập nước, đất chăn thả, đất trồng trọt, khu định cư); những người tham gia được đưa ra làm hai nhóm: một nhóm đánh giá hiện trạng, một nhóm đánh giá hồi cố Xây dựng các biểu đồ để làm rõ sự biến đổi của từng tổ phần: diện tích, điều kiện, đa dạng sinh học, sản xuất và dịch vụ. Kết quả thảo luận của mỗi nhóm được trình bày và thảo luận ở buổi họp chung để đạt được sự thỏa thuận hoặc ghi nhận các bất đồng Trên cơ sở đó, tiếp tục làm rõ điều kiện sống của con người (phúc lợi nhân văn). Các nhóm kiểm tra các khái niệm tình trạng và khuynh hướng trong các lĩnh vực lương thực thực phẩm, phúc lợi, nghèo đói, hạ tầng cơ sở, sức khỏe dân số, nhận thức, tổ chức. Kết quả thảo luận nhóm một lấn nữa lại được trình bày và thảo luận ở hội trường chung. Công đoạn 3: Cộng đồng xây dựng kế hoạch hành động. Trước hết xem xét lại BS để xem họ có cần thiết phải xác định lại vị trí của cộng đồng trên thang BS hay không. Thảo luận cách thức nhằm cải thiện vị trí trên thang (theo hướng tốt hơn) sau đó xây dựng kế hoạch hành động nhằm thực hiện ý đồ đó. 3.5.2. Lập kế hoạch hành động bền vững nông thôn Đây là giai đoạn 2 của phương pháp. Sau khi kết thúc giai đoạn 1 - khởi thảo kế hoạch hành động, giai đoạn 2 mở đầu bằng
67

khảo sát thực tế cùng với người địa phương, nhằm kiểm tra tính khả thi của kế hoạch và gặp gỡ với các tổ chức, cơ quan liên quan ở các cấp quốc gia và địa phương. Cơ sở của giai đoạn này là thảo luận. Câu hỏi chết ở giai đoạn này là: • Xác định các vấn đề ưu tiên cần phải vượt qua để cải thiện tình trạng sinh thái và nhân văn hiện thời. • Xác định nguyên nhân và hiệu quả của những vấn đề đó. • Xác định các hành động cần triển khai để giải quyết vấn đề và các nguyên nhân của chúng. • Làm cách nào để triển khai hành động. • Làm cách nào để nhận ra rằng tình hình trở nên tốt lên hay xấu đi. Phương pháp này cổ vũ sự thương thuyết giữa những người địa phương về những gì họ muốn làm và những gì cần phải làm. Vai trò của các chuyên gia bên ngoài là hỗ trợ các điều kiện khuyến khích người địa phương tham gia vào việc lập ra những quyết định tập thể, có giá trị. Đây thực ra là một phương pháp hiệp thương. Các nhóm quyền lợi khác nhau - già/ trẻ, nam/ nữ, người cũ/ người mới định cư, các nhóm dân tộc... có các quyền lợi khác nhau nên quan tâm đến các chiến lược hành động khác nhau. Các nhóm khác nhau này cần phải thể hiện và cung cấp các thông tin thích hợp để xây dựng các phương án sao cho họ có thể thảo luận một cách chủ động để quyết định. Tất nhiên không thể giải quyết ổn thỏa mọi quan điểm khác nhau, nhưng ít nhất người địa phương cần được bày tỏ và hiểu biết lẫn nhau và cơ sở của việc lập quyết định phải công khai. Mục tiêu của giai đoạn 2 là hỗ trợ cộng đồng địa phương xây dựng kế hoạch hành động mà chính họ sẽ thực hiện. Thông thường, việc nghiên cứu thực tế cùng với người địa phương cần khoảng 3
68

ngày. Khi kế hoạch hành động đã được chỉnh sửa và chấp nhận, thì cần xây dựng bộ chỉ thị đơn dùng làm công cụ đánh giá các giả thiết cơ sở của kế hoạch hành động, cũng như để giám sát các thành quả của kế hoạch. Một đặc trưng cơ bản của phương pháp này là cộng đồng tự chọn và thiết kế các chỉ thị của họ. 3.6. Thương thuyết chiến lược Đây là phương pháp sử dụng trong kinh doanh và hoạch định chính sách. Mục đích của phương pháp là: • • Đạt được sự thỏa thuận về phương án tối ưu nhằm giải quyết nhiều vấn đề phát triển bền vững. Quyết định được các thỏa thuận về trách nhiệm của các nhóm quyền lợi và đòi hỏi các nhóm phải thực thi các hành động của họ.

Thương thuyết chiến lược là một quá trình đối thoại, được triển khai tết khi tất cả các bên đều có mức độ đồng đều về thông tin, kỹ năng truyền thông và quyền lực. Trên thực tế ít gặp những điều kiện như vậy. Vì thế, quá trình thường phát triển dần dần: hàng loạt cuộc đối thoại, di chuyển dần dần từ sự chia sẻ thông tin đến đối thoại được, rồi đến thương thuyết chiến lược. Phương pháp thương thuyết chiến lược gồm 4 bước cơ bản: • Chia sẻ thông tin: các bên chia sẻ thông tin và xây dựng hiểu biết chung về mục tiêu của thương thuyết. • Đánh giá quan điểm: các bên cùng đánh giá quan điểm của nhau và làm sáng tỏ các vấn đề cần xem xét và các trở ngại chủ yếu. • Xây dựng thỏa thuận: bao gồm một chuỗi đối thoại và thỏa hiệp giữa các bên, yêu cầu các bên phải lùi ở điểm này và xem
69

xét các thỏa thuận của chính mình trước khi đi đến thỏa hiệp cuối cùng. • Hoàn tất thỏa thuận: bản thỏa thuận phải xây dựng từng hạng mục chi tiết. Làm rõ chức trách và cơ chế giám sát cũng như tính toán. Các hạng mục phải dự thảo dưới dạng thuận lợi cho tất cả các bên sử dụng. Mặc dù toàn bộ quá trình thương thuyết thu hút nhiều bên, nhưng nên xuất phát quá trình từ những đối thoại song phương. Ví dụ, có thể đối thoại giữa các nhóm quyền lợi trực tiếp và gián tiếp. giữa nhóm quyền lợi và nhóm bên ngoài. Nhóm bên ngoài cần tham gia với hai vai trò: vai trò người thương thuyết chính và vai trò người tổ chức - cổ vũ quá trình. Những điều cần chú ý khi sử dụng phương pháp thương thuyết chiến lược • Phương pháp hữu ích khi đối thoại được khởi đầu với các tổ chức chính thức hơn là với các tổ chức (các nhóm) không chính thức. • Phương pháp hữu ích khi sử dụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình quy hoạch - triển khai - đánh giá. • Phương pháp hữu ích khi các nhóm đồng nhất. Nếu các nhóm không đồng nhất nên kết hợp với các phương pháp khác. 3.7. Biểu đồ SAM Biểu đồ SAM (Sustainability Assessment Mapping) do Clayton đề xuất năm 1997 [9]. Các kết quả của phân tích vị thế có thể được biểu diễn ở dạng biểu đồ, khiến cho các thông tin trở nên dễ tiếp cận. SAM là công cụ biểu đồ dùng để trình diễn các thông tin vị thế và hỗ trợ việc lập quyết định. Mục đích của SAM là:
70

Trực quan hóa trạng thái một hệ thống bằng một mặt phẳng đa thứ nguyên.

• Làm rõ các thoả thuận vốn bị ẩn dấu trong mỗi tham số của hệ thống. • Hỗ trợ các tổ chức nhằm xác định mục tiêu và ưu tiên của chúng. • Làm cho toàn bộ quá trình lập quyết định trở thành rõ ràng và trực quan. Các định kiến, sự chấp nhận và phán đoán giá trị là không thể tránh được, nhưng chúng không phải bao giờ cùng bộc lộ rõ ràng. Chúng thường ảnh hưởng lên quá trình lập quyết định ở những cách thức không rõ, không chính xác và không thể thẩm tra được. Làm cho tất cả các đầu vào trở nên công khai, cũng giúp cho việc quản lý được nâng cấp. • Là công cụ giáo dục và trực quan. Về cơ bản, SAM là một dạng biểu đồ hình tròn, trong đó, mỗi một mảng vấn đề (tức là mỗi tham số của hệ thống) được trình diễn trên diện tích của một hình quạt. Hiện trạng của mỗi mảng là diện tích được bôi đen của hình quạt tính từ tâm hình tròn. Nếu đạt được giá trị kỳ vọng, phần bôi đen sẽ là toàn bộ diện tích hình quạt. Kết quả biểu diễn cho phép nhận diện ngay được hiện trạng vấn đề. Các kịch bản hoặc kết quả tương lai có thể được sử dụng để tạo ra các biểu đồ khác. Những biểu đồ này sau đó được phân loại, sẽ làm rõ các sức ép dược kế thừa ở mỗi phương án được chọn. Bước đầu tiên của SAM là xác định các mảng vấn đề (các tham số) các mảng sau đó có thể được phân loại theo tầm quan trọng (theo trọng số). Ví dụ nếu một số mảng quan trọng nhất là môi trường, thì chúng phải có sức nặng đủ mức để phân biệt một phải là các thay đổi trong dòng vốn môi trường với phía khác là các thay đổi trong loại tài nguyên không nhạy cảm (có thể được đền bù bởi các kết quả ở đâu đó) Tương tự, nếu một mảng quan trọng là
71

kinh tế, thì chúng phải đủ nhạy cảm để phân biệt giữa các yếu tố sống còn của các đối tác hoặc doanh nghiệp liên quan, với các yếu tố có thể được chấp nhận để có thể nhượng đổi qua lại. Các nguồn thông tin có thể được sử dụng dưới dạng tách rời hay tổ hợp. Việc tính toán các chi phí môi trường trực tiếp hay gián tiếp, xuôi hay ngược, dòng tài nguyên và đánh giá tác động môi trường của một dự án là một quá trình tốn kém và phức tạp. Nhiều phương pháp được đề xuất để giải quyết vấn đề này hiện nay còn chưa được thống nhất. Vì thế, thường thường cần phải loại bỏ một số thông tin và phải sử dụng một biểu đồ dạng tổ hợp (nhưng đã được đơn giản hóa) để trình diễn một hiện tượng phức tạp. Giá trị của phương pháp là ở chỗ sử dụng các trục cho phép so sánh giữa các phương án, làm cho các lựa chọn trở nên công khai và trực quan khiến cho luôn luôn có thể xác định và kiểm tra các tính toán. SAM thực chất là cách trình diễn tất cả các thứ nguyên (các tham số) đặc trưng của hệ thống lên cùng một mặt phẳng. SAM là mặt phẳng đa thứ nguyên. Vì hiện trạng của hệ thống không bao giờ đạt được giá trị kỳ vọng (giá trị này trùng với hình tròn), nên SAM thực tế bao giờ cũng đặc trưng bằng một ranh giới gồ ghề. Ngoài ra, SAM có thể được vẽ theo kiểu chồng gối đồng tâm, do đó các tác động địa phương, khu vực và toàn cầu có thể được minh họa trên cùng một biểu đồ tròn đồng tâm với 3 đường tròn có bán kính khác nhau. So sánh giữa các SAM của các phương án khác nhau, hoặc giữa một SAM lý tưởng với một SAM thực tế được xây dựng trên cùng một hệ trục, có thể làm rõ các sức ép. Mục đích của SAM là làm cho các sức ép trở thành công khai hơn, trực quan hơn, cho phép gắn kết các mảng vấn đề nghiên cứu với các vấn đề lượng giá trong cùng một mô hình duy nhất (bằng cách cho phép các tỷ lệ không tương đương), để làm cho các quá
72

trình lập quyết định trở nên dễ tiếp cận, làm sáng tỏ vị thế, sự thỏa thuận, giúp cho việc xác định dãy các phương án, tạo khả năng giám sát có hiệu quả hơn đối với các tác động do các quyết định gây ra theo thời gian. Ví dụ: Biểu đồ SAM trình bày trạng thái những vấn đề bức xúc của môi trường tỉnh Ninh Thuận năm 1998 - 1999 và trạng thái kỳ vọng năm 2005 của Chiến lược Môi trường tỉnh Ninh Thuận (Hình 10), được thiết kế dựa trên trục tỷ số.

Ghi chú: Các mảng I Vệ sinh môi trường và nước sạch nông thôn II Nhận thức môi trường của cộng đồng III Phòng chống ô nhiễm IV Năng lực quản lý môi trường 6,99 / 19,5. 5,65 / 15,0. 6,65 / 12,0. 6,325 / 11,5.
73

V Độ che phủ rừng Vi Diện tích IPM VII Quản lý chăn thả gia súc có sừng VIII Kiểm soát nhiễm mặn IX ứng xử tai biến môi trường 3.8. Biểu đồ Downjone sinh thái EDI

9,90 / 10,5. 7,70 / 10,0. 2,29/ 8,0. 0,66 / 7,0. 1,2 / 6,0.

Biểu đồ EDI (Ecological Downjone Index) dược Brink đề xuất lần đầu năm 1991 [8]. Thoạt đầu, EDI dùng để đánh giá một hệ sinh thái tự nhiên và được định nghĩa như sau: EDI là hiệu số giữa giá trị kỳ vọng và giá trị hiện tại của hệ sinh thái. Giá trị hiện tại được trình bày trên vòng tròn của biểu đồ AMOEBA (loại biểu đồ SAM áp dụng cho hệ sinh thái tự nhiên). EDI là tổng khoảng cách từ đáy hình quạt hiện trạng đến vòng tròn kỳ vọng của toàn bộ hệ thống (Hình 11).

Gọi:

Ri là trục giá trị kỳ vọng của thành tố i (chỉ thị i) R1i là giá trị đạt được thiện trạng) của thành tố i n là số thành tố của hệ thống

Có thể áp dụng biểu đồ EDI cho một hệ thống sinh thái nhân
74

văn bằng cách thay biểu đồ AMOEBA bằng SAM và gán cho EDI bao gồm cả các thành tố của mảng phúc lợi nhân văn. Mặt khác có thể cải biến cách tính EDI của Brink bằng cách lượng hóa các chỉ thị nhờ xác định trọng số hệ thống WS; (Weight of System) của từng chỉ thị như sau: - Gọi trạng thái kỳ vọng của cả hệ thống WS là 100% (1,00); - Giá trị trọng số hệ thống của thành tố i là WSI ta có:

- Giá trị thực tế của thành tố i là:

Giá trị thực tế của cả hệ thống là:

Từ đó ta tính được EDI EDI = WS - WI= 100 - WI Giá trị EDI bao gồm trong khoảng từ 0 đến 100, có thể biểu diễn trên thột trục thẳng. Trục này có 2 điểm khác biệt: EDI = 30 Ngưỡng an toàn EDI = 70 Ngưỡng tai biến. Giả sử giá trị EDI của một hệ thống là 48 ta có vị trí của hệ trên biểu đồ EDI như Hình 12.

75

Hai điểm đặc biệt chia biểu đồ EDI thành 3 khoảng: A: Khoảng sự cố, suy thoái của hệ thống. B: Khoảng có vấn đề của hệ thống. C: Khoảng an toàn của hệ thống. Quan sát biểu đồ EDI có thể thấy ngay hệ thống nghiên cứu nằm trong khoảng "có vấn đề". Các giải pháp cải thiện môi trường hướng vào việc giám sát EDI, trước hết để chuyển vị trí đến ngưỡng an toàn (EDI = 30) và sau đó là đưa hệ thống đến vị trí tết hơn trong khoảng C (EDI < 30). 3.9. Kiến tạo chỉ số • Những khái niệm cơ bản Chỉ số (index) và chỉ thị (indicator) là những thông tin đặc trưng, cô đọng, đơn giản và định lượng, phản ánh bản chất của một hệ thống (nếu là chỉ số) hoặc bản chất của một yếu tố, một tổ phần, một tính chất của hệ thống (nếu là chỉ thị). Index được xây dựng từ tổ hợp các indicators, tuy nhiên không nhất thiết khi kiến tạo chỉ số đều phải xây dựng chỉ số, nhiều trường hợp, để đánh giá một tính chất, một tham số của hệ thống, chỉ cần xác định một vài chỉ thị là đủ. Phương pháp xác lập chỉ số và hoặc chỉ thị định lượng được gọi chung là phương pháp kiến tạo chỉ số. Các thông tin đặc trưng nhưng không định lượng không được gọi là chỉ sốt hay chỉ thị, mà được gọi là các tiêu chí hoặc trong một số trường hợp, cần gọi là các dấu hiệu đặc trưng. Ví dụ, sự tăng trưởng kinh tế phi nông nghiệp trọng một cộng đồng nông
76

thôn là tiêu chí, nhưng sự tăng trưởng đó nếu được đo bằng tỷ lệ giữa thu nhập phi nông nghiệp so với tổng thu nhập của cộng đồng, sẽ là một chỉ thị. Kiến tạo chỉ số dựa theo nguyên tắc sau: Tiêu chí (dấu hiệu đặc trưng) + phép đo định lượng = chỉ thị Như vậy chỉ thị là một số đo thường có đơn vị (có thứ nguyên) Tổ hợp các chỉ thị = chỉ số Chỉ số là một phép đo không có đơn vị (không có thứ nguyên) vì các chỉ thị khác nhau có thứ nguyên khác nhau; khi chúng được tổ hợp lại các đơn vị đo sẽ bị loại bỏ. Ví dụ: Chỉ số phát triển nhân văn HDI của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) là một chỉ số (không thứ nguyên) có trị số từ 0 đến 1 . HDI được xây dựng từ 3 chỉ thị: - Thu nhập bình quân (đo bằng đô la tương đương). - Tuổi thọ bình quân (đo bằng năm). Trình độ học vấn (đo bằng số năm đến trường bình quân và tỷ lệ người lớn trên 15 tuổi biết chữ). • Lịch sử của phương pháp Quy một hệ thống phức tạp thành một vài chỉ số hay chỉ thị đơn giản để tiện tính toán, đánh giá và so sánh là một nhu cầu bức xúc trong lĩnh vực kinh tế - xã hội. Vì thế, xuất phát điểm của kiến tạo chỉ số đã hình thành rất sớm trong lĩnh vực dân số học (ví dụ độ mắn tổng số TFR, các chỉ số di cư, nhập cư, tử vong, trẻ sơ sinh. . .) và lĩnh vực kinh tế học (ví dụ các chỉ số GDP, GNP, tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân trên đầu người. . .). Các chỉ số nói trên ngày nay vẫn đang được sử dụng. Tuy nhiên, với những cố gắng không mệt mỏi, UNDP trong thập niên 1990 đã xây dựng cơ sở toán học vững chắc và ứng dụng trong việc đề xuất hàng loạt các chỉ số đánh giá phát triển như HDI (chỉ số phát triển con người),
77

GDI (chỉ số phát triển giới). CPM (độ đo nghèo tiềm năng), HPI (chỉ số nghèo nhân văn) v.v. . . Sự nở rộ các chỉ số đánh giá phát triển này đánh dấu sự ra đời của kiến tạo chỉ số như một hệ phương pháp đo lường và đánh giá phát triển chính thức. Vào những năm cuối của thế kỷ 20 (1996 - 1998) đến nay, các nhà khoa học đã phát triển và ứng dụng kiến tạo chỉ số trong việc đánh giá hệ thống môi trường và phát triển. Các chỉ số Độ đo bền vững BS (IUCN, 1998), chỉ số bền vững địa phương LSI (Nath and Talay, 1998) đã là những viên gạch móng đấu tiên cho việc xây dựng các chỉ số định lượng có yếu tố môi trường. Kiến tạo chỉ số, hiện nay trở thành một phương pháp mạnh đang tiếp tục phát triển và được ứng dụng ngày càng rộng rãi, trong phân tích và đánh giá hệ thống môi trường và phát triển. • Nguyên tắc của kiến tạo chỉ số Một chỉ số hay chỉ thị phải được xây dựng theo các nguyên tắc cơ bản sau: - Định lượng hoặc phải được lượng hóa (cho điểm) để trở thành định lượng. Đây là một phép đo khách quan không phụ thuộc vào người tính toán. - Đơn giản và dễ tính toán để có thể tính nhanh với chi phí rẻ và dễ cập nhật. - Phải đủ tính đại diện cho toàn hệ thống (chỉ số) hay một tính chất đặc trưng của hệ thống (chỉ thị). • Các bước kiên tạo chỉ số - Bước 1: Phân tích chức năng, cấu trúc của hệ thống để xác định các tiêu chí đánh giá, mỗi tiêu chí phản ánh một chức năng hoặc tính chất của một yếu tố cất- trúc cơ bản của hệ thống. Mỗi hệ thống có thể xác định n tiêu chí với n ≥ 1 , tuy nhiên n không nên quá nhiều để tránh phức tạp hóa cách tính.
78

- Bước 2: Xác định cách đo lường các tiêu chí. Môi tiêu chí có thể có một đơn vị đo riêng; trên cơ sở đó, xác định một chỉ thị cho mỗi tiêu chí. Trong trường hợp đo lường tính trồi của một hệ thống, chỉ cần 1 tiêu chí, khi đó hệ thống chỉ có 1 chỉ thị duy nhất, nên chỉ thị này cũng chính là chỉ số. - Bước 3: Triệt tiêu thứ nguyên của các chỉ thị. Để tính chỉ số tổng hợp từ n chỉ thị cần bỏ thứ nguyên (đơn vị) của các chỉ thị bằng phương trình tương quan.

trong đó: Ii: chỉ thị thứ i Ithực độ đo chỉ thị thứ i hiện trạng của hệ thống nghiên cứu Imax giá trị kỳ vọng của chỉ thị thứ i trong hệ thống. Imin giá in cực tiểu của chỉ thị thứ i trong hệ thống. - Bước 4: Xác định trọng số Ci của các chỉ thị. Các chỉ thị Ii có thể có sức nặng (trọng số) Ci ngang nhau (Ci = 1) hoặc khác nhau. Có 3 phương pháp xác định trọng số C: + Nếu các chỉ thị đơn là tương đương thì trọng số của các chỉ thị có thể coi bằng nhau và đều bằng 1,0. + Dựa vào kinh nghiệm thực tiễn có thể gán cho các chỉ thị các trọng số Ci khác nhau. Ví dụ: Nath và Talay (1998) đã gán trọng số cho các chỉ thị để tính chỉ số Bền vững địa phương (LSI) như sau: Ii:Tỷ lệ trẻ vị thành niên không phạm pháp, Ci = 2,0. I2: Tỷ lệ số dân được dùng nước sạch. C2= 4,0.
79

I3: Tỷ lệ số ngày không bị ô nhiễm không khí trong một năm, I4: Tỷ hệ trẻ sơ sinh không tử vong, C4= 2,0. I5: Tỷ lệ diện tích đất không bị ô nhiễm C5 = 1,0. Tổng C = 12,0. Việc gán trọng số thường gây ra tranh cãi vì thế chỉ được sử dụng khi tác giả của trọng số là những nhà nghiên cứu có uy tín hoặc việc ứng dụng của chỉ số với các trọng số đã cho trong thực tiễn tỏ ra nhạy cảm và hiệu quả. + Dựa vào bình chọn ưu tiên của các chuyên gia (được trình bày ở mục 3.10). - Bước 5: Tính toán chỉ số. Phương pháp đơn giản và phổ biến nhất để tính toán chỉ số là tính trung bình cộng đơn giản hoặc trung bình cộng kết hợp lũy thừa. + Phương pháp trung bình cộng đơn giản: Ví dụ chỉ số Độ đo nghèo tiềm năng CPM (Capabiìity Poverty Measure) (UNDP, 1997).

I1 : Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. I2: Tỷ lệ số ca sinh đẻ không được chăm sóc bởi nhân viên y tế được đào tạo. I3: Tỷ lệ phụ nữ từ 15 tuổi trở lên bị mù chữ. + Phương pháp trung bình cộng kết hợp lũy thừa: Ví dụ chỉ số Nghèo nhân văn HPI (Human Poverty Index) (UNDP, 1996).

80

trong đó: I1: Tỷ lệ số người chết yểu trước 40 tuổi. I2: Tỷ lệ số người từ 15 tuổi trở lên mù chữ. I31: Tỷ lệ số người không được dùng nước sạch. I32: Tỷ lệ dân số không được hưởng phúc lợi y tế. I33: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. Chú ý rằng 2 phương pháp trên đều được áp dụng cho trường hợp Ci = 1,0. Với Ci ≠ 1,0 chúng ta có phương trình tổng quát để tính chỉ số:

Ví dụ chỉ số Bền vững địa phương LSI đã nêu ở trên:

Với phương pháp tính toán nói trên, khoảng biến thiên của chỉ số là 0,0 (kém nhất) đến 1,0 (tốt nhất). Để tiện phân tích người ta có thể chia khoảng biến thiên đó ra những khoảng nhỏ hơn, ví dụ: Từ 0 đến <0,20 Từ 0,02 đến < 0,04 Từ 0,04 đến < 0,06 Từ 0,06 đến < 0,08 Từ 0,08 đến ≤ 1 ,0 : Tồi tệ, rất kém. : Kém. : Trung bình. : Khá. : Tốt.
81

3.10. Phương pháp xác định ưu tiên và trọng số ưu tiên Việc xác định thứ tự ưu tiên cho các tiêu chí trong một hệ thống môi trường và phát triển nhiều tiêu chí là một việc làm khó khăn vì sự khác nhau trong quan điểm đánh giá của chuyên gia. Dù có thảo luận hiệp thương mất thời gian đến đâu, cách nhìn nhận về tầm quan trọng của từng tiêu chí cũng văn gây tranh cãi. Phương pháp trung lập nhanh nhất và dễ được chấp nhận là phương pháp phát phiếu bình chọn và tính toán, dựa vào các tiên đề sau: - Các phiếu bình chọn đều có giá trị ngang nhau, bất kể sự khác nhau về ngành nghề, trình độ chuyên môn, học vấn và vị trí xã hội của chuyên gia như thế nào. - Khoảng cách giữa các hàng bậc ưu tiên đều bằng nhau về giá trị định lượng: sự khác biệt giữa bậc ưu tiên (n) và bậc (n+1) là bằng nhau. Phương pháp được tiến hành qua các bước sau: - Bước 1: Xây dựng ma trận bình chọn Giả sử hệ thống được xác định qua n tiêu chí, mỗi tiêu chí sẽ được đo lường bằng 1 chỉ thị Ii = 1 ÷ n), chúng ta sẽ xây dựng ma trận gồm n hàng với n cột, mỗi hàng dành cho việc tổng hợp các phiếu bầu chọn cho các bậc ưu tiên khác nhau của tiêu chí i, mỗi cột dành cho việc tổng hợp số phiếu bầu chọn của tất cả các tiêu chí i cùng một bậc ưu tiêu. Ma trận bình chọn có dạng như sau: Bảng 2. Ma trận bình chọn
Các bậc ưu tiên Tiêu chí I1 I2 … In I n II n-1 … n 1

82

Số điểm chênh lệch giữa mỗi mức bình chọn là 1,0 (mức thấp nhất thứ n, sẽ có Wn = 1,0), ở mức cao nhất (ưu tiên I, sẽ có WI = n). Ký hiệu số điểm là Wij. Ví dụ, nếu có 10 tiêu chí phải xếp bậc ưu tiên từ I đến X thì: ưu tiên I (10 điểm), ưu tiên II (10 - 1 = 9 điểm), ưu tiên X (l điểm). Người bình chọn có nhiệm vụ chia n tiêu chí vào n bậc ưu tiên, so đó nếu gọi mij là số phiếu bình chọn cho tiêu chí i ở bậc j, thì tổng số phiếu bình chọn theo hàng ngang phải đúng bằng tổng số chuyên gia. Tổng số phiếu theo mỗi cột dọc sẽ bằng tổng số chuyên gia, nếu người bình chọn không chọn từ hai tiêu chí trở lên vào cùng bậc ưu tiên. Tổng số phiếu của mỗi cột sẽ khác tổng số chuyên gia: nếu người bị chẹn xếp hai tiêu chí trở lên vào cùng một bậc ưu tiên. Trường hợp này sẽ có tiêu chí không được chọn. Bước 2: tính toán số điểm (qij) của mỗi bậc ưu tiên j của mỗi tiêu chí i. qij = mij x Wij Ví dụ ở bậc ưu tiên thứ I, tiêu chí i có 5 phiếu, ở bậc ưu tiên hai tiêu chí i có 2 phiếu, ta có: qiI = 5n qiII = 2 (n- 1 ) - Bước 3: tính tổng số điểm (Qi) mà tiêu chí i đạt được ở tất cả các hàng bậc bình chọn

Sự khác nhau của Qi cho phép xác định mức độ ưu tiên của các tiêu chí i. Bước 4: tính W là tổng điểm của cả hệ thống, tức là của mọi tiêu chí đạt được ở tất cả các bậc ưu tiên.
83

- Bước 5: Xác định trọng số Ci của mỗi tiêu chí bằng cách cho W=100% (= 1,0) Ci = Qi/W Ci tính theo phương phá này bao giờ cũng là số lẻ, có giá trị trong khoảng từ 0,0 đến 1,0. Ci chính là tỷ lệ giữa điểm số bình chọn của chuyên gia cho chỉ thị Ii ở tất cả các bậc ưu tiên. Bài tập minh họa Hãy xác định thứ tự ưu tiên và trọng số Ci của các tiêu chí xác định hệ thống vệ sinh môi trường của một điểm dân cư nông thôn, với số chuyên gia tham gia bình chọn là 10 người. Kết quả tính toán được thể hiện trong ma trận tổng hợp sau. Khi tổng hợp kết quả bình chọn của 10 chuyên gia (ở mỗi ô, tử số là số phiếu chọn, mẫu số là số điểm qi đạt được) Bảng 3. Ví dụ về ma trận bình chọn
Các bậc ưu tiên Tiêu chí I 5 I1: Cấp nước sạch I2: Quản lý chuồng trại gia súc I3: Quản lý rác thải I4: Quản lý HCBVTV II 4 III 3 IV 2 V 1 Qi 34 29 Ci 0,223 0,191

3 15
3 15 1 15 1 5

3 12
1 4 1 4 2 8

1 3
1 3 2 6 2 6

1 2
2 4 1 2 1 2

2 2
3 3 5 5 4 4

32 25

0,211 0,264

84

I5: Vệ Sinh an toàn thực phẩm

2 10

3 12

1 3

3 6

1 1

32

0,21 1

Chú ý: Tử số là số phiếu bình chọn cho 1 bậc ưu tiên, mẫu số là tổng điểm bình chọn của bậc đó. W : 34 + 29 + 32 + 25 + 32 = 152 = 100% Ci : Qi/W có thể là một số vô tỷ, cần làm tròn sao cho tổng Ci = 1,0 3.11. Phân tích khung logic - LFA Lịch sử và mục tiêu của phân tích khung logic (Logical Framework( Analysis LFA) LFA là hệ phương pháp sử dụng tiếp cận hệ thống trong việc xây dựng và thẩm định dự án, đề tài nghiên cứu, lựa chọn phương án. . . (từ đây trở đi gọi chung là dự án), được áp dụng lần đầu tiên tại cơ quan Viện trợ Hoa Kỳ vào cuối những năm 1960 [3]. Cho đến nay, LFA là phương pháp bắt buộc thực hiện trong xây dựng và thẩm định dự án tại các nước phát triển, cũng như ở các nước đang phát triển nếu muốn nhận tài trợ hay vay vốn của các tổ chức hỗ trợ phát triển quốc tế. Mục tiêu của LFA là tính toán mọi yếu tố đặc trưng và cần thiết đảm bảo cho một dự án đi đúng hướng và đạt được mục tiêu của dự án. Các yếu tố của một khung logic Khung logic là một ma trận được lấp đầy bằng các yếu tố buộc phải phân tích, bao gồm: - Mục tiêu chiến lược: là mục tiêu dài hạn mà dự án góp phần cùng với các dự án khác nhau để đạt được. Mục tiêu chiến lược phản ánh tính trồi của thượng hệ mà mục tiêu của từng dự án cụ thể là tính trồi của mỗi hệ thống dự án. Cần tránh xác định tính trồi của
85

thượng hệ quá tham vọng hoặc không có giới hạn rõ ràng. Ví dụ không nên đặt mục tiêu chiến lược là "xoá đói giảm nghèo ở huyện X” mà nên xác định rõ "Dự án nhằm thay thế toàn bộ nhà tạm bằng nhà bán kiên cố và kiên cố của huyện X". - Mục tiêu của dự án: mô tả các hiệu quả kỳ vọng của dự án. Mục tiêu của dự án là mục tiêu cụ thể, diễn đạt sự mong muốn của dự án, nhưng nó không hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của dự án vì còn tuỳ thuộc vào đầu vào và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến dự án. Mục tiêu của dự án xác định độ lớn của dự án về phương diện tài nguyên, nguồn lực và phương cách thực hiện. Một dự án chỉ có một mục tiêu, nếu có từ 2 mục tiêu trở lên thì gọi là chương trình. Chương trình có từ 2 dự án trở lên. - Đầu ra của dự án: là kết quả cụ thể sẽ đạt được nhờ các hoạt động của dự án và được dự án đảm bảo. Đầu ra phản ánh quyền lực của dự án, còn mục tiêu của dự án không chỉ bao gồm các đầu ra mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài. - Hoạt động: bao gồm các hành động cần làm để tạo ra đầu ra. Mỗi đầu ra cần 1 hoạt động; mỗi hoạt động cần một hay một số hành động. Mỗi hoạt động trong thiết kế dự án cần hướng vào việc tạo ra một đầu ra cụ thể, nếu hoạt động không dẫn tới đầu ra thì cần bị loại bỏ. Đầu vào: là điều kiện cần, là cơ sở để dự án sản xuất ra các đầu ra đã dự tính. Đầu vào có thể là các nguồn lực, nhân lực, tài lực, vật lực tín lực, quản lý, thời gian. . . tóm lại là mọi thứ cần thiết để đảm bảo đầu ra của dự án. - Các yếu tố bên ngoài: là những điều kiện đủ, phải có để dự án thành công, nhưng lại nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của dự án. Những yếu tố bên ngoài có đặc trưng là cần cho dự án, quan trọng, hoàn toàn có thể xảy ra nhưng không chắc chắn. Nếu có một yếu tố không quan trọng, hoặc chắc chắn có, hoặc
86

ít khả năng có thì không phải là yếu tố bên ngoài, cần loại bỏ khi xây dựng dự án. Yếu tố quan trọng nhưng ít khả năng xảy ra được gọi là yếu tố "giết chết" dự án. Ví dụ dự án "xây dựng bãi chôn lấp chất thải" sẽ không thể dựa vào yếu tố "giết chết" là "được Ngân hàng châu Á cho vay ưu đãi 1 triệu đô la Mỹ". - Chỉ thị xác minh: các mục tiêu chiến lược, mục tiêu dự án và đầu ra phải được xác minh bằng các chỉ thị định lượng, cố định với giá cả hợp lý. Chỉ thị xác minh phải trả lời cho các câu hỏi: bao nhiêu? Cái gì? Cho ai? Khi nào? Bao lâu? Ở đâu? Chỉ thị phải chỉ rõ phương tiện thích hợp để xác minh, giá cả hợp lý. Tất cả các yếu tố trên phải lấp đầy một khung logic như sau: Bảng 4. Mẫu khung logic
Mục tiêu chiến lược Mục tiêu của dự án Các đầu ra Các hoạt động Các chỉ thị xác minh Các chỉ thị xác minh Các chỉ thị xác minh Các đầu vào Các yểu tố bên ngoài Các yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên ngoài

Như vậy, một khung logic được xây dựng với triết lý hệ thống như sau: với các yếu tố bên ngoài (đã dự tính) xảy ra và có đủ các đầu vào theo yêu cầu, thì các hoạt động sẽ được thực hiện, tất yếu sẽ đảm bảo đầu ra; khi đầu ra được đảm bảo thì mục tiêu của dự án là hiện thực có thể xác minh được, chắc chán đóng góp tốt (qua chỉ thị xác minh) mục tiêu chiến lược của chương trình. • Nhược điểm của LFA - LFA là một công cụ phân tích trung lập, vì vậy có phần cứng nhắc khi áp dụng cho các hệ thống nhân văn mềm và mờ. Ở các hệ thống này, các yếu tố bên ngoài và các đầu vào nhiều khi biến động khó lường; các hoạt động cũng phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh địa phương và nguồn cung cấp tài chính thiếu mạch lạc. Sự điều chỉnh quá nhiều về đầu vào, hoạt động và các yếu tố bên ngoài nhiều khi làm cho phân tích LFA chỉ còn là hình thức.
87

- LFA chỉ thực sự có hiệu quả khi các bên tham gia dự án đều nắm được phương pháp. Ở nhiều trường hợp, các dự án địa phương khi sử dụng LFA lại phát sinh thêm nhu cầu đào tạo, tập huấn. . . làm tăng kinh phí dự án. Ví dụ minh hoạ: Sử dụng LFA để lập dự án "Xây dựng mô hình cộng đồng tham gia quản lý rác sinh hoạt tại phường X, 500 hộ, 2000 dân" Bảng 5. Ví dụ về LFA
Mục tiêu của chiến lược: Quản Chỉ thị xác minh: Thu gom, lý triệt để rác sinh hoạt của vận chuyển 90% rác thải phường X. trong ngày đến địa điểm tập kết của Công ty Môi trường đô thị Mục tiêu của dự án: Xây dựng chỉ thị xác minh: mô hình thu gom và vận 1. Thu được phí đổ rác từ chuyển rác có sự tham gia của 90% số hộ trở lên. cộng đồng, tự trang trải chi phí 2. Thành lập tổ thu gom rác tự quản, được trang bị tốt và có trách nhiệm, có tay nghề. Yếu tố bên ngoài: 1. UBND phường phối hợp hỗ trợ tổ chức tổ thu gom, thu phí và vận động nhân dân đổ rác đúng giờ, đúng nơi quy định. 2. Sự phối hợp vận chuyển rác từ phường ra bãi rác 1 thành Phố.

88

Các đầu ra:

Chỉ thị xác minh:

Yếu tố bên ngoài. 1 . Công ty Môi trường đô thị vận chuyển rác từ trạm trung chuyển đến bãi rác thành phố 1 lần mỗi ngày vào sau 11 h đêm. 2. UBND phường cho phép địa điểm đặt 50 thùng rác và 1 trạm trung chuyển rác. 3. Hội đồng nhân dân ra quyết anh thu phí và phương thức sử dụng phí vệ sinh.

1 . Tổ thu gom có kỹ thuật. sức 1. Tổ chức tổ thu gom 10 khỏe và trách nhiệm. người, bổ nhiệm tổ trưởng và có 2 người dự bị. Trang bị dụng cụ thu gom rác và trang bị bảo hộ lao động 2. Trang bị 5 xe đẩy, 10 xẻng, 20 chổi, 20 bộ quần cho công nhân. áo bảo hộ, 20 bộ găng tay, Có các thiết bị sửa chữa và bảo mũ, giầy và khẩu trang. dường dụng cụ 3. Đặt 50 thùng rác phân 2. Tổ thu phí vệ sinh do Hội tán trong phường. phụ nữ phường phụ trách. 4. Xác lập 1 vị từ tập kết 3. Lộ trình (điểm, tuyến) và rác trung chuyển. tần suất thu gom hợp lý 5. Sửa lại toàn bộ tuyến ngõ 4. Phương thức sử dụng hợp lý để vận hành xe đẩy. phí vệ sinh. 6. 10% phí đổ rác thù lao cho người thu phí, 20% dành cho sửa chữa nhỏ trang bị, 70% dành trả lương cho công nhân. 7. Tần suất thu gom ngõ hẻm 1 lần/ ngày, đường phố gom vét vào ban ngày.

89

Hoạt động:

Đầu vào:

Yếu tố bên ngoài. 1 . Sự chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ và UBND phường. 2. Cán bộ Công ty Môi trường tham gia đào tạo công nhân. 3. Cán bộ Quản lý Môi trường quận hướng dẫn thực hiện truyền thông. 4. Sự tham gia của các đoàn thể, nhất là Hội phụ nữ.

1. Tổ chức và tập huấn nghiệp 1. Thời gian: 1 năm. vụ cho tổ thu gom và thu phí. 2. Kinh phí ban đầu (dành 2. Vận hành trạm sửa chữa, cho nghiên cứu. huấn bảo dưỡng, thay thế trang bị. luyện, truyền thông, trang bị ban đầu): 100 triệu. 3. Họp tổ dân phố và các đoàn 3. Thành lập ban điều hành thể chính trị trong phường. dự án: 3 người. 4. Tiến hành truyền thông về quản lý rác. 4. Chi phí hoạt động của ban điều hành dự án trong 1 5. Nghiên cứu xây dựng lộ năm. trình thu gom.

3.12. Phân tích SWOT * Giới thiệu phương pháp SWOT là chữ viết tắt từ các từ tiếng Anh: Strength (điểm mạnh), Weaklless (điểm yếu), Opportunity (cơ hội) và Threat (đe doạ). Phân tích SWOT giúp cho việc làm rõ 4 mặt trên đây để lựa chọn phương án hay giải pháp tối ưu, tránh sa vào các quyết định chủ quan. - Điểm mạnh và điểm yếu đòi hỏi phải phân tích các nguồn lực bên trong hệ thống bàng cách kiểm kê tài nguyên và vốn của hệ thống, cáu trúc và mạng phản hồi của hệ thống. Các nguồn lực rất đa dạng, nhưng tập trung vào các khía cạnh: nhân lực, tài lực (kinh phí), vật liệu (trang thiết bị, nguyên liệu...), tin lực (thông tin), thời lực (quỹ thời gian), nguồn lực quản lý - lãnh đạo - điều hành. - Cơ hội và đe dọa là những đánh giá về môi trường bên ngoài hệ thống. Cơ hội chính là những thuận lợi của đầu vào, là mối tương tác thuận lợi với các hệ thống khác, là thời cơ... Đe dọa bao gồm các sức ép các cản trở, các khó khăn bên ngoài tác động vào
90

hệ thống... Đó có thể là những đe dọa công khai hay tiềm ẩn trong môi trường của hệ thống. * Ví dụ minh họa: Một doanh nghiệp công nghiệp có công nghệ lạc hậu đã gây ô nhiễm nghiêm trọng trong phạm vi đô thị. Cần phải di chuyển ra khỏi đô thị hoặc ở lại nhưng phải thay đổi sang công nghệ mới ít ô nhiễm. Doanh nghiệp sẽ chọn phương án nào? (Bảng 6) Bảng 6. Ví dụ về SWOT
SWOT Phương án di chuyển Phương án đổi mới công nghệ

Thế mạnh (S) - Tận dụng các thiết bị hiện có. - Công nghệ mới, sạch hơn, sản phẩm có sức cạnh tranh cao hơn. - Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân tiếp tục làm việc, - Cán bộ công nhân không cần di không cần đào tạo. chuyển chỗ ở. Yếu (W) - Sản phẩm có chất lượng như - Càn có vốn đầu tư đổi mới công cũ, ít khả năng cạnh tranh khi nghệ. thị trường biến đổi. - Đào tạo lại đội ngũ lao động, trẻ - Phải chi phí làm nhà ở cho hóa đội ngũ và phải sắp xếp lại lao cán bộ công nhân ở nơi mới. động, giải quyết chế độ cho người không thể đào tạo lại. - Được cung cấp đất với chi phí - Đổi mới toàn diện về công nghệ hợp lý cho nơi mới. kỹ thuật - con người, tạo đà phát triển nhảy vọt. - Được Nhà Nước (hay công ty mẹ) hỗ trợ chi phí di chuyển. - Cộng đồng nơi mới sẽ phản - Tương lai xa, có thể đô thị không ứng khi môi trường bị ô nhiễm cho phép tồn tại các xí nghiệp công do doanh nghiệp chuyển đến. nghiệp, lại vẫn phải di chuyển. - Thua lỗ do sản phẩm tiếp tục - Mặt bằng cũ chật hẹp không cho kém chất lượng khi ý thức môi phép mở rộng sản xuất sau này. trường của người tiêu dùng cao lên.

Cơ hội (O)

Đe doạ (T)

91

3.13. Phân tích SMART SMART là chữ viết tắt từ tiếng Anh: Specifc (rõ ràng, cụ thể, Measurable (có thể đo lường được, định lượng được), Achieve (có thể đạt được, hoàn thành được), Realistic (hiện thực) và Thực bound (thời gian thực hiện hợp lý). SMART là phương pháp của quỹ phát triển Quốc tế SIDA Thụy Điển xây dựng [7]. SMART sử dụng để phân tích, lựa chọn một mục tiêu phù hợp và khả thi của dự án. Mục tiêu phải là một khái niệm rõ ràng, cần được xây dựng có hệ thống, đáp ứng đủ 5 yêu cầu SMART [5]. Ví dụ minh họa Do môi trường vùng nuôi trồng thủy sản ven biển bị ô nhiễm và suy giảm năng suất đánh bắt, một dự án hỗ trợ phát triển kinh tế thủy sản cho cộng đồng được xây dựng. Người ta sẽ chọn 1 trong 2 mục tiêu được đề xuất sau đây qua phân tích SMART: tổ chức đánh bắt xa bờ hay tổ chức nuôi lồng bè (Bảng 7). Bảng 7. Ví dụ về SMART
SMART S – Cụ thể. M- Có thể đo lường được. A - Có thể đạt được R- Có tính thực tế. xây dựng 15 lồng nuôi thủy sản biển Đóng 5 tàu đánh bắt xa bờ loại (ví dụ nuôi cá mú) công suất lớn 100cv Rất cụ thể. Rất cụ thể. Có thể đo lường được nếu xác định rõ Có thể đo lường được nếu xác dung tích nuôi lồng bè (m3/ 1 lồng). định rõ thêm các trang bị kỹ thuật phù hợp (máy định vị máy dò cá...). Có thể đạt được vì ngân hàng chính sách cho vay vốn ưu đãi. Rất khả thi vì ngư dân được tập huấn phương pháp nuôi lồng bè, vốn nuôi không lớn, có chỗ nuôi và có các dịch vụ thức ăn, thuốc bệnh, có thị trường tiêu thụ. Có thể đạt được vì ngân hàng chính sách cho vay vốn ưu đãi Ít khả thi vì thiếu cơ sở hậu cần trên biển, thiếu phương tiện cứu hộ xa bờ, thiếu kỹ thuật vệ tinh để định vị ngư trường, phương tiện thông tin liên lạc lạc hậu.

92

T- Thời gian Có thể tổ chức nuôi ngay khi làm xong Ngay cả khi đóng xong tàu cá hợp lý. lồng bè. Thời gian làm 15 lồng bè mất công suất lớn cũng chưa thể ra khoảng 3 tháng. khơi được vì phụ thuộc nhiều yếu tố. Thời gian đóng 5 tàu mất khoảng 1 năm.

Kết quả phân tích cho thấy mục tiêu phát triển nuôi lồng bè đem lại hiệu quả hơn. 3.14. Phân tích NBBLK NBBLK là viết tắt từ các chữ tiếng Việt: Nhận, Biết, Bàn, Làm Kiểm tra. Đây là quy tắc xây dựng các mô hình quản lý môi trường và phát triển có sự tham gia của cộng đồng, một hình thức xã hội hóa bảo vệ môi trường và xã hội hóa phát triển kinh tế xã hội. NBBLK là các tiêu chí thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở, được Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sử dụng cho các lớp đào tạo kỹ năng quản lý phát triển cộng đồng từ năm 1995 [7]. Khi sử dụng để đánh giá nguồn lực và vai trò của phụ nữ trong cộng đồng, NBBLK trở thành công cụ nghiên cứu về giới rất sắc sảo. Nội dung của các tiêu chí như sau: - Nhận (N): người tham gia vào dự án được nhận những gì? Nhận trang bị bảo hộ lao động; nhận thù lao hoặc tiền lương xứng đáng; được bảo hiểm xã hội, y tế, than thể; được hưởng các phúc lợi khác do dự án mang lại; được vay vốn ưu đãi để sản xuất... - Biết (B1): được đào tạo tập huấn nghiệp vụ; được phổ biến về cơ sở pháp lý, nắm được các vấn đề liên quan đến dự án, được tham quan, học tập... - Bàn (B2): được bàn bạc về các giải pháp, lựa chọn phương án kế hoạch thực hiện dự án, bàn bạc về mục tiêu, đầu ra, các chỉ thị xác minh, các yếu tố bên ngoài của dự án...
93

- Làm (L): người tham gia có quyền thực hiện những phần việc của dự án phù hợp với khả năng của họ; tham gia quản lý, lãnh đạo, chỉ đạo dự án... - Kiểm tra (K): đại diện cộng đồng được tổ chức để kiểm tra tiến độ thực hiện dự án, hiệu quả của dự án, việc sử dụng kinh phí của dự án. Cả 5 tiêu chí NBBLK có thể được lượng hoá bằng cách cho điểm để xây dựng chỉ số tham gia của cộng đồng. Chỉ số này chính là tỷ số giữa số điểm thực tế đạt được so với tổng số điểm tối đa của cả 5 tiêu chí. Nếu gọi nb1b21k lần lượt là điểm số đạt được, NB1B2LK lần lượt là điểm số tối đa của từng tiêu chí (thông thường, điểm tối đa của từng tiêu chí được cho bằng nhau và bằng 1,0 điểm). Chỉ số cùng tham gia (CPI Community Participatory Index) được tính như sau:

CPI có giá trị từ 0,0 (không tham gia) đến 1,0 (tham gia tết nhất). Nếu tính CPI riêng cho nam giới và nữ giới trong cùng một dự án, chúng ta có chỉ số tham gia theo giới. 3.15. Quan sát hệ thống Khi nghiên cứu một hệ thống có yếu tố không gian (một hệ sinh thái nhân văn, một địa hệ thống hoặc một hệ sinh thái tự nhiên) nhà nghiên cứu cần phải thâm nhập vào hệ thống để tiến hành đo đạc, lấy mẫu, phỏng vấn cộng đồng, thu thập các tài liệu thống kê... Tuy nhiên, một công việc không thể bỏ qua là quan sát hệ thống. Nắm vững phương pháp quan sát, nhà nghiên cứu không chỉ "thấy" mà còn "biết". Chính những cái được "biết" này hỗ trợ rất nhiều cho nhà nghiên cứu xử lý tết các số liệu phân tích hoặc thống kê,
94

phát hiện các ý tưởng mới, cách đánh giá mới, phát hiện các thông tin nhiễu. * Nguyên tắc quan sát: - Kín đáo: quan sát càng kín đáo càng tết để không gây tác động đến con người và hoạt động bình thường của động vật. Thông thường những người dân địa phương dễ dàng phát hiện ra khách lạ, vì vậy cần có thời gian xâm nhập vào tình huống, làm quen và tạo cảm giác yên tâm thoải mái cho người địa phương. - Xây dựng cấu trúc: Cần nghiên cứu trước những tài liệu thu thập được để xác định trước hoặc dự kiến các vấn đề, các đối tượng cần quan sát, nghĩa là phải xây dựng một cấu trúc cho việc quan sát. - Kết hợp quan sát với các kỹ thuật phỏng vấn của hệ phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia PRA (Participatory Rapid Appraisal). Có nhiều kỹ thuật phỏng vấn: không chính thức, bán chính thức, phỏng vấn sâu (chính thức) và phỏng vấn nhóm. - Ghi chép ngay tại thực địa không để về chỗ trú quân hoặc để sang ngày hôm sau mới ghi chép. Nếu nảy sinh ý tưởng gì cần theo đuổi trong những lần quan sát tiếp theo vì quan sát là một quá trình điều chỉnh liên tục. * Đối tượng quan sát: Khi thâm nhập hệ thống, thông thường cần quan sát các đối tượng sau đây: - Các hoạt động: quan sát kỹ những gì đang được con người thực hiện. Đây chính là các hoạt động tạo ra các đầu ra của một dự án hoặc của hệ thống, cũng có thể tạo ra các nhiễu loạn của hệ thống nếu đó là các hành vi lệch chuẩn (các hoạt động không theo quy định, các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường...). - Sự tương đồng giữa hành động và lời nói: nếu kết hợp với các kỹ thuật phỏng vấn PRA thì cần quan sát sự tương đồng hay
95

không giữa lời nói và việc làm của các đối tượng được phỏng vấn. Nhiều trường hợp người trả lời những gì họ thấy cần nói nhưng khi hành động, họ sẽ làm những gì họ thích. - Cách sử dụng không gian: không gian sản xuất dịch vụ, không gian cư trú không gian bảo tồn, không gian trống, cây xanh, bãi chôn lấp hay tập kết chất thải, sân chơi của trẻ em, đường làng ngõ xóm... Độ rộng, kết cấu, kiến trúc và mối tương tác giữa các không gian này nói lên điều gì ở một hệ sinh thái cụ thể? - Bối cảnh: Cần chú ý phát hiện những gì nghịch cảnh và tìm hiểu nguyên nhân. Ví dụ, các quán bán thịt thú rừng nằm ngay ở các phố xá đông người, vũ trường hoạt động ban ngày ngay cạnh trường học, nhà nghỉ cao tầng mọc lên giữa thôn xóm nghèo nàn phần lớn là nhà tạm, cuộc họp thôn xóm chỉ có nam giới đi họp v.v... Các dấu hiệu: Quan sát các dấu hiệu đặc trưng của hệ thống là việc làm quan trọng, nếu không nói là quan trọng hàng đầu của đợt quan sát. Dấu hiệu đặc trưng là thông tin không lời về các tính chất của hệ thống. Chúng giống như những nét vẽ trong một bức tranh thủy mặc. Việc phát hiện và lý giải các dấu hiệu là một công việc khó khăn nhưng rất hứng thú đối với nhà nghiên cứu. Mô tả các dấu hiệu sẽ trở thành những minh họa của báo cáo hiện trạng hệ thống. Hơn thế, các dấu hiệu có thể là các chỉ báo của những quá trình, hiện tượng tiềm ẩn hay bộc lộ. Bảng 8. Thống kê một số dấu hiệu môi trường

Các dấu hiệu

Giải thích dấu hiệu

1 . Thạch lâm (rừng đá): tập hợp các đá Xói mòn đất nghiêm trọng, khí hậu khô tảng lộ đầu giống như một khu rừng đá. hạn, phong hóa vật lý mạnh hơn phong hóa hóa học, thảm thực vật nghèo nàn.

96

2. Rễ cây nhô lên khỏi mặt đất, cây đứng Xói mòn mạnh do nước, do gió hay do trên bộ rễ lộ thiên. sóng. 3. Các rãnh sâu trên sườn dốc hướng từ Xói mòn rãnh - tình trạng xói mòn đất đỉnh xuống chân đồi. đáng ngại nhất và khó hồi phục nhất do nước chảy trên bề mặt ở các địa hình dốc trơ trụi. 4. Suối mới mưa đã đầy, mới nắng đã cạn. Rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề 5. Các bãi lầy thụt trên địa hình cao (đồi, núi). 6. Đất feralit vàng – đỏ nhưng không có tập đoàn cây sim mua, hoặc trinh nữ. Có lớp đất đá kém thấm (ví dụ đá sét) nằm sát mặt đất. Đất phong hóa từ đá vôi, không chua (pH > 5,50) nên không phát triển hệ thực vật ưa đất chua.

7. Quần xã thực vật ưa ẩm phát triển: cây Nước ngầm chất lượng tốt nằm sát mặt lá dong, bưởi, hồng, chuối, ráy, môn, cúc đất. Nếu có tập đoàn cây dừa thì nước dại. v.v. . . ngầm có thể bị nhiễm mặn. 8. Cây lúa đang lên đòng bị cháy lá: xuất Đất ruộng thiếu kali, cây đói kém làm hiện các vệt khô cháy màu nâu - vàng ở giảm khả năng tạo diệp lục. mép lá, ngọn lá, lá yếu hay bị gãy. 9. Lá chuối bị cháy: các vết cháy khô màu Đất bị nhiễm phèn. Môi trường đất chua nâu - vàng ở mép lá, ngọn lá, nhất là các làm cho cây không hấp thụ được Mg. lá bánh tẻ. 10. Lá cải bắp, su hào có các đốm màu Đất trồng trọt thiếu Bo. trắng trên khắp mặt lá, tập trung ở ngọn lá. 11. Tập đoàn cây cói (miền Bắc) hoặc cây Nước có độ mặn khoảng 1% đến 2% (là dừa nước (miền Nam). độ mặn thích hợp của 2 loài cây này). 12. Tập đoàn cây cáng lò. Nước ngầm chất lượng tốt nằm sát mặt đất

13. Chiều cao của bộ rễ các cây ngập mặn Đó chính là mức cao trung bình nhiều (sú. vẹt, bần, đước...). năm của thủy triều. 14. Cây ngập mặn (sú. vẹt, mắm.. .) mọc Biển lấn, vùng đất đang sụt chìm. sát chân đảo đá.

97

15. Cát biển hiện đại phủ bên trên các di Biển lấn, vùng đất đang sụt chìm. tích rừng ngập mặn đã bị chết 16. Hang đá vôi ngầm dưới mặt nước Vùng đất đang sụt chìm. (sông, biển). 17. Hàu, hà bám dày trên thân cây của Môi trường nước sạch, không sử dụng rừng ngập mặn mới trông. hoá chất bảo vệ thực vật chống hầu hà.... 18. Bãi biển xa cửa sông bì phủ bùn phù Có dòng biển mạnh dọc bờ. sa, nước biển đục, có bèo tây. 19. Chợ cá ven biển: đa dạng loài thủy Môi trường ven biển còn sạch. đánh bắt sản, nhưng kích thước nhỏ hơn mức bình quá mức. thường. 20. Chợ cá ven biển, kích thước các loài Môi trường biển bị ô nhiễm, đánh bắt thuỷ sản nhỏ, số lượng loài ít quá mức. 21. Bùng phát sứa, đặc biệt sứa đỏ 22. Thủy triều đỏ Môi trường biển bị thay độ đột ngột, không phù hợp với hoạt động tắm biển. Nước biển ô nhiễm N. P. bùng phát tảo độc

22. Hình dạng cua, ghẹ, người hầu... Môi trường biền bị ô nhiễm, thuỷ sản có không bình thường. khả năng gây độc. 23. Cây bị nghiêng về một phía (rừng Trượt đất (trên sườn dốc), gió tố thịnh say). hành theo một hướng (nền đất bằng). 25. Đá ong. Nước ngầm tầng nông bị ô nhiễm các kim loại như Fe, Al, do có độ pH thấp.

27. Các rừng trồng (thông, phi lao, bạch Thiếu hụt chất đốt nặng nề, có khả năng đàn...) bị dọn sạch lả rụng cành gẫy. bệnh đường ruột trong cộng đồng cao do uống nước lã. 28. Ao, chuôm nước trong leo lẻo không Thủy vực bị axit hóa nặng (pH < 4,5) có cá, nghèo hay không có động vật thủy hoặc bị ô nhiễm kim loại nặng trầm sinh. trọng. 29. Thủy vực nhiều lươn. Thủy vực bẩn vừa, nhiều bùn bã hữu cơ

98

30. Hồ ao có nhiều loại cá, nhất là cá tầng Thủy vực sạch. giữa và tầng mật, nhiều loài côn trùng sống dưới nước. 31. Cột nhà sàn nhỏ, cong queo. Rừng quanh bản chất lượng kém, chủ yếu là rừng thứ sinh hay sa van.

33. Nhiều khách du lịch nước ngoài xuất Cộng đồng mở, an ninh tốt, giàu bản sắc hiện trong cộng đồng. văn hoá. 34. Giờ làm việc có nhiều người lớn (thanh niên, trung niên) la cà ở các quán nước, quán cóc. 35. Có công trình tôn giáo lâu năm (đình, đền, chùa, nhà thờ). Tỷ lệ thất nghiệp cao, có vấn đề về trật tự an toàn xã hội; nghèo đói, kinh tế chậm phát triển. Cộng đồng có truyền thống văn hóa lâu đời, ổn định, gắn kết cao. Ít tệ nạn xã hội.

36. Nhiều cây gạo giữa cánh đồng, rìa Làng nông nghiệp truyền thống nhiều làng. đời, tín ngưỡng dân gian phong phú (cây gạo được coi là lịch nông nghiệp, là nơi trú ẩn của linh hồn lang thang). 37. Phụ nữ trắng trẻo, trẻ con bụ bẫm. Ít đói nghèo, vệ sinh môi trường tốt, nước sinh hoạt sạch và phong phú, không khí trong lành.

38. Họp thôn, xóm chủ yếu là đàn ông. Bất bình đẳng giới trầm trọng, có thể có Các tiệm ăn buổi chiều tối chủ yếu là đàn vấn đề bạo lực trong gia đình. ông. Lớp tập huấn cộng đồng chủ yếu là học viên nam. 39. Bãi rác ven đường. Dấu hiệu sắp đến khu dân cư tập trung. 40. Đô thị có nhiều siêu thị lớn Đô thị năng động và phát triển mạnh về (Supermarket). kinh tế - xã hội. Bình quân thu nhập trên đầu người cao. Cộng đồng mở, nhiều yếu tố quốc tế. 41 . Ngấn rêu trên tường nhà, rác lều trên Khu dân cư thường bị ngập lụt. cành cây. Nhà ở có nền rất cao.

Chú ý: Giải thích các dấu hiệu trên đây là đúng cho đa số trường hợp, nhưng không đúng cho tất cả các trường hợp. Vì vậy nhà nghiên cứu cần xác minh dựa vào các nguồn thông tin bổ sung.
99

3.16. Xác định nhiễu loạn hệ thống * Giới thiệu chung về nhiễu loạn hệ thống Nhiễu loạn, còn gọi là hỗn độn (chaos) là tính chất khó có thể tiên đoán được, không dự háo dài hạn được. Mặc dù nó là kho lưu trữ các hành vi lệch chuẩn của một hệ thống, nhưng nó không hề có nghĩa là vô trật tự lộn xộn và rối ren, là vô quy luật. Vì quy luật của nhiễu loạn là quy luật số lớn, số cực lớn, khiến cho với mọi khoảng thời gian quan sát nhà nghiên cứu khó mà phát hiện ra quy luật. Nhiễu loạn là tính chất tất định của hệ thống động lực góp phần tạo ra tính tổng thể của hệ thống, tạo ra nhãn quan tổng thể luận (Holism) thay vì nhãn quan phi hệ thống có tên là quyết định luận hay quy giản luận (Determinism). Quy giản luận cho rằng hệ thống có thể được chia ra các bộ phận cáu thành, bộ phận cơ bản ví dụ môi trường có thể chia thành đất, nước, không khí, đa dạng sinh học và xã hội - nhân văn. Tổng hợp các bộ phận này bằng toàn bộ hệ thống. Ngược lại, tổng thể luận cho rằng hệ thống luôn lớn hơn tổng số các thành phần tạo nên nó bởi các tính chất chỉ được tạo ra do sự tương tác giữa các thành phần riêng lẻ của hệ thống. Tính trồi và nhiễu loạn là hai tính chất đặc biệt và tất định mà chỉ tổng thể hệ thống mới có. Nhiễu loạn tuân theo hiệu ứng con bướm (Butterfly effect). Đó là hiệu ứng trong đó sự thay đổi rất nhỏ bé ở trạng thái ban đầu của hệ thống (trạng thái O) - ví dụ nhỏ nhẹ như nhịp vỗ cánh của một con bướm trong một không gian bao la của khu rừng - có thể làm thay đổi hoàn toàn sự tiến hóa sau đó của hệ thống, nếu nó phù hợp với xu thế diễn thế của hệ thống. Sự thay đổi ban đầu giống như một đốm lửa nhỏ, có thể sau này sẽ đốt cháy cả một đồng cỏ hoặc cánh rừng rộng lớn. Vì sự thay đổi đó quá nhỏ bé nên không thể bị phát hiện hay chú ý, nên nhiễu loạn là tính tất định của hệ thống. * Nhiễu loạn bao gồm 2 khuynh hướng:
100

- Tạo ra sự suy thoái, thoái hóa của hệ thống, dẫn đến khủng hoảng để tạo ra một hệ thống kém tổ chức, kém thích ứng hơn và đơn giản hơn. - Tạo ra sự tiến hóa, dẫn đến sự hình thành một hệ thống có tổ chức cao hơn, có tính thích ứng tết hơn và phức tạp hơn. Chính nhiễu loạn là động lực tạo ra diễn thế hệ thống, có thể là diễn thế lùi (suy thoái) hay diễn thể tiến (tiến hóa) giống như trường hợp một khu rừng mọc lại có thể diễn thế lùi thành savan hay diễn thế tiến để tạo thành rừng ở trạng thái climax (trạng thái cực đỉnh, tự tuần hoàn vật chất, chỉ cần được cung cấp năng lượng Mặt trời). Nhiễu loạn tạo ra sự thất thường, sự không chính quy, là một động thái cơ bản của các hệ thống sống. Nó giúp cho việc chắt lọc cái trật tự trong cái hỗn độn cực kỳ đa dạng. Chúng tạo ra những cái lệch chuẩn cần thiết cho sự vận hành tết của hệ thống, làm cho tự nhiên trở nên ngày càng đa dạng và xã hội ngày càng phức tạp. Để tạo ra độ đa dạng, phức tạp, tự nhiên phải dựa vào tính không cân bằng, vì có những cấu trúc mới, những tính chất mới chỉ nảy sinh trong điều kiện mất cân bằng. Trật tự hoàn hảo là cằn cỗi nên thực tế không tồn tại. Nhiễu loạn tất định là cội nguồn của sáng tạo ra những cái mới. Ví dụ nếu nhạc cổ điển là hoàn hảo thì không thể có nhiễu loạn tất định để sau đó tạo ra những dòng nhạc mới như rock, hiphop. . . Một hệ thống động lực sớm hay muộn cũng bị nhiễu loạn đẩy ra ngoài trạng thái cân bằng theo cách dần dần hay đột ngột, ngẫu nhiên hay không ngẫu nhiên. Trong tiến trình tiến hoá, hệ thống sẽ tiến tới một điểm cực kỳ quan trọng tại ranh giới của không gian pha có tên là điểm phân nhánh (Bifurcation). Tại đó hành vi của một hệ thống động lực bị thay đổi đột ngột khi một tham số của hệ thống vượt quá giá trị tới hạn. Tại điểm phân nhánh, hệ sẽ ứng xử luân phiên giữa hai trạng thái khác nhau giống như pha lỏng và pha
101

rắn của nước sạch tại 0oC. Nhiễu loạn trong hệ thống môi trường và phát triển thường gồm hai loại: nhiễu loạn tất định, ngẫu nhiên và nhiễu loạn do hoạt động sống của con người tạo ra. Không phải tất cả, nhưng một phần nhiễu loạn có thể quan sát được và quản trị được, nhất là những nhiễu loạn nhân sinh. * Xác định nhiễu loạn Đại lượng đo mức độ nhiễu loạn của một hệ thống nhiệt động học được gọi là entropy. Trong một hệ thống kín, entropy luôn tăng hoặc không được giảm vì không được tiếp năng lượng. Các hệ thống sống luôn có xu thế giảm entropy (nhưng hãn hữu đạt đến giá trị 0, mặc dù về lý thuyết, entropy có thể có giá trị âm). Việc xác định entropy cho một hệ thống động lực mở, mờ và mềm như các hệ thống môi trường và phát triển là một lĩnh vực đầy khó khăn và thực tế chưa có nghiên cứu nào giải quyết. Một hệ thống động lực đang xét có thể được xác định bởi n tham số (n chiều) và mỗi tham số có thể được coi như một hệ thống con bậc 1. Mỗi một hệ thống con bậc 1 lại có thể được chia thành nhiều hệ thống con bậc 2. Sự phân chia thứ bậc này có thể là vô tận. Nếu như mỗi hệ thống con bậc k có một độ đo entropy (Ek) thì theo tổng thể luận, tổng các giá trị không bằng giá trị entropy của hệ thống đang xét. Vì thế về mặt lý thuyết, xác định entropy của một hệ thống môi trường và phát triển là điều không thể. Thực tiễn quản lý các hệ thống môi trường và phát triển lại đòi hỏi phải xác định và quản trị được một phần các nhiễu loạn, nhất là nhiễu loạn nhân sinh. Đòi hỏi này dẫn đến cách tính nhiễu loạn theo nguyên tắc giản lược, bỏ qua các nhiễu loạn có thể chấp nhận và khó xác định (Nguyên tắc bỏ qua tối ưu) để có thể quản trị được một số nhiễu loạn hữu hình, đo được, quan sát được. Nguyên tắc này cho phép quy nhiễu loạn một hệ thống n chiều về cách tính
102

nhiễu loạn theo một chiều đặc trưng nhất của hệ thống, đó là tính trồi. Các bước xác định độ nhiễu loạn dựa vào tính trồi như sau: Bước 1 : Xác định tính trồi của hệ thống . Bước 2: Xây dựng chỉ số định lượng đo tính trồi, được gọi là độ đo EM ( Emergence Measure) Bước 3: Xác định độ chưa đạt kỳ vọng của EM, lượng chưa đạt này được gây ra do nhiễu loạn hệ thống. Khi EM = 1,0 (100%), chúng ta coi độ nhiễu loạn bằng 0 (giá trị 0 theo nghĩa quản lý hệ thống, không phải là giá trị 0 của entropy hệ thống) Gọi chỉ số quản lý nhiễu loạn hệ thống là CMI (Chaos Management Index) ta có: CMI = 1 - EM Độ biến thiên của CIM từ 0,0 (hệ thống ở điểm cân bằng - độ nhiễu loạn có thể chấp nhận), đến 1,0 (hệ thống ở trạng thái khủng hoảng). • Ví dụ minh họa: Tính CMI của hệ thống trang trại nuôi tôm. - Xác định tính trồi. Tính trồi của một trại nuôi tôm là lượng tôm sản xuất ra có lãi, được đo bằng tỷ suất hàng hóa t, t là tỷ lệ giá tiền lãi so với vốn lưu động. Nếu t = 0 (hòa vốn) được coi là mức thấp nhất có thể chấp nhận được của trang trại, t < 0 là lỗ, tmax = 0,75 (tỷ suất hàng hoá cực đại của trang trại tết nhất thế giới ở Hoa Kỳ). - Xác định EM (độ đo tính trồi của trang trại nghiên cứu). Giả sử tỷ suất t (năm 2004) của trang trại là 0,45 ta có:

- Xác định CMI CMI = 1 - EM = 1 - 0,60 = 0,40
103

Chỉ số nhiễu loạn của trang trại nuôi tôm đang xét là 0,40. * Quản trị nhiễu loạn Mục tiêu của quản trị nhiễu loạn là đưa trị số CMI giảm đến 0. Có 2 cách quản trị: - Xuất khẩu nhiễu loạn sang hệ thống khác: ví dụ thu gom chất thải từ hệ thống sản xuất sang hệ thống xử lý, gom và đưa những người phạm pháp vào trại giam, chuyển các hoạt động sản xuất từ vùng lõi ra vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên; đưa những sinh viên học không đạt yêu cầu xuống lớp dưới để học lại (lưu ban) v.v... - Tạo những rào cản để hạn chế nhiễu loạn trong phạm vi kiểm soát được. Ví dụ: thiết kế băng chống cháy để kiểm soát cháy rừng; sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học để kiểm soát dịch hại cây trồng; đầu tư vào cơ sở hạ tầng để xóa đói giảm nghèo v.v... Việc quản trị nhiễu loạn hệ thống dựa vào việc trả lời hai câu hỏi: - Những nhiễu loạn nào có thể được xuất khẩu một cách hợp luật sang hệ thống khác? - Cần xây dựng những rào cản nào để ngăn chặn sự gia tăng nhiễu loạn? Ví dụ minh họa: Quản trị nhiễu loạn trong hệ thống trang trại nuôi tôm sú (đã nêu ở trên) - Xuất khẩu nhiễu loạn sang hệ thống khác: Thu gom và xử lý nước thải, chất ăn thừa, tôm chết, tôm bệnh - hoặc thải bỏ ra môi trường biển. Loại bỏ các con tôm " đẹc” (loại tôm lùn không lớn được) - Tăng cường các rào cản để hạn chế sự gia tăng của nhiễu
104

loạn. Xử lý tốt nước đầu vào. Đầu tư khâu chăm sóc đúng kỹ thuật (thức ăn, thuốc chữa bệnh, chăm sóc). Lựa chọn giống tốt. Bảo dưỡng nước trong đìa bằng quạt sục khí cưỡng bức. Diệt tạp và chuẩn bị vệ sinh đầm nuôi trước vụ nuôi. Cho dù có quản trị tốt, nuôi tôm sú vẫn có thể thất bại vì những nguyên nhân khó đoán định, bởi lẽ nhiễu loạn là thuộc tính của hệ thống. Người ta chỉ có thể hy vọng quản trị tốt để giảm CMI đến 0, những ít khi đạt được giới hạn này. Do xuất khẩu nhiễu loạn sang hệ thống khác là biện pháp rẻ tiền và nhanh nên hay được các nhà sản xuất sử dụng. Đây là cội nguồn của hoạt động gây ô nhiễm môi trường, vận chuyển chất thải xuyên biên giới, xuất khẩu công nghệ lạc hậu sang các nước nghèo, di chuyển các xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường từ thành thị về nông thôn v.v. . . 3.17. Tránh 10 phản đề thường gặp của tư duy hệ thống • Nguyên tắc cơ bản của tư duy hệ thống 16 công cụ phân tích hệ thống trên đây chỉ là một con số không đầy đủ của tiếp cận hệ thống áp dụng trong nghiên cứu môi trường và phát triển. Tuy nhiên vấn đề không chỉ nằm trong các công cụ, mà nằm trong tư duy của người phân tích. Người phân tích cần phải có tư duy hệ thống và tránh được những phản đề của tư duy hệ thống. Có 10 phản đề thường gặp, đó là 10 kiểu sai lẩm để mắc nhất.
105

Tư duy hệ thống là quan điểm nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, động, chú ý vào các quan hệ hơn là vào các sự việc, chú ý vào các quá trình hơn là vào hiện trạng, chú ý vào sự phức tạp tổng thể hơn là vào sự phức tạp chi tiết. Do sự tiến hóa mà các hệ thống ngày càng trở nên phức tạp, với một lượng thông tin dày đặc làm quá sức xử lý của các nhà phân tích, làm họ bị cuốn hút vào những chi tiết mà không phát hiện ra các mối quan hệ cơ bản và chủ chốt. Tư duy hệ thống phải làm sao "quy cái phức tạp vào những cái đơn giản hơn những cốt lõi hơn", "đơn giản hóa những cái phức tạp" (Nhà nghiên cứu vẫn thường có thói quen đưa ra các bảng chứa hàng ngàn số liệu phân tích làm hoa mắt người đọc nhưng không đưa ra được quy luật của những số liệu đó). Có hai nguyên tắc cơ bản của tư duy hệ thống: (1) Xem xét quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc hệ thống quan trọng hơn là xem xét các yếu tố đó. Quan hệ này là quan hệ tương hỗ và thường không phải là chuỗi nguyên nhân - kết quả tuyến tính. (2) Tập trung chú ý vào các quá trình hơn là vào hiện trạng, đặc biệt là những quá trình chậm, nhưng diễn ra theo chu kỳ. Hai nguyên tắc cơ bản này giúp chúng ta tránh được 10 phản đề. Phản đề là cách tư duy sai lầm, phi hệ thống thường gặp. Phản đề 1. Tuyến tính hoá các chu kỳ Đặc trưng cơ bản của quá trình nhận thức của chúng ta là chia nhỏ sự vật để xem xét. Đây là tiên đề cơ bản của phép tính vi phân: coi mọi dạng đường cong đều là tổng số của vô hạn các đoạn thẳng. Cội nguồn của nhận thức là ngôn ngữ, mà cấu trúc ngữ pháp của một câu lại là cấu trúc tuyến tính với trật tự : chủ ngữ → động từ vị ngữ → bổ ngữ trực tiếp hay gián tiếp. Những câu phức hợp với
106

nhiều mệnh đề phụ cũng chỉ là cấu trúc dạng cây mà thân chính vẫn là cấu trúc tuyến tính. Logic hệ thống là logic với những tương tác phản hồi phi tuyến, đôi khi dạng vòng tròn lặp lại theo chu kỳ, các vòng dường như giống nhau nhưng trên thực tế không bao giờ giống nhau y hệt. Ví dụ, quan điểm tuyến tính của một dây chuyền sản xuất: Nguyên liệu → Chế tác → Hàng hóa → Tiêu dùng → Thải bỏ Nếu nhìn với con mắt hệ thống, chúng ta sẽ thấy chu trình vòng đời của sản phẩm, là cội nguồn của sản xuất sạch hơn và quản lý môi trường doanh nghiệp.

Nếu chúng ta tính thêm các yếu tố như năng lượng, chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất (bụi, nước thải, khí thải, nhiệt, tiếng ồn, độ rung) và con người... chúng ta sẽ có rất nhiều chu trình đan xen với nhau, quan hệ hỗ tương với nhau. Phản đề của tư duy hệ thống là nhìn sự vật và hiện tượng bằng cái nhìn tuyến tính, bỏ qua các vòng lặp, và vì thế cũng bỏ qua các quy luật. Không xem xét các vòng lặp phản hồi, sẽ không tìm ra được các mẫu hành vi của hệ thống. Trong các vòng lặp phản hồi, con người tuy là chủ thể của hành động, nhưng là hành động được
107

quy định của hệ thống. Anh ta phải tuân thủ những quy định do quan hệ tương hỗ của hệ thống bắt buộc. Điều này giải thích tại sao trong văn phong khoa học người ta ngày càng dùng nhiều thể bị động. Ví dụ, cách viết “Tôi kết luận rằng..." cần thay bằng thể bị động hoặc vô nhân xưng "Có thể kết luận rằng...", "Cần phải kết luận rằng..."; cách viết “Chúng ta cần phải phun hóa chất bảo vệ thực vật vì dịch hại đã bùng phát” cần thay bằng "Dịch hại bùng phát đòi hỏi phải phun hóa chất bảo vệ thực vật”. Phản đề 2. Coi thường các quá trình chậm Trong một hệ thống dù ổn định, vẫn có những nhiễu loạn được tích luỹ dần dần, chậm chạp. Chúng có thể là quá trình tiến hóa, cũng có thể là các tai biến tiềm ẩn. Con người thường nhận thức thế giới qua giác quan, nên có thói quen chú ý đến quá trình nhành hay sự kiện lớn nổi bật. Cần thấy rằng địa hình Trái Đất rất đa dạng (núi cao, đồng bằng, các thủy vực...) đại bộ phận là kết quả của các quá trình biến vị nội mảng có tốc độ chỉ vài milimét/ năm. Những vấn đề của hôm nay là kết quả của những hành động, những biến đổi từ những ngày xa xưa. Phát hiện các quá trình chậm, nguyên nhân sâu xa của các vấn đề môi trường và phát triển sẽ tạo điều kiện quản lý tốt môi trường. Vì thế, thay vì chỉ quan tâm đến xử lý ô nhiễm, gần đây người ta đã áp dụng thêm ISO 14000 hoặc quy định sản xuất sạch hơn để ngăn chặn ô nhiễm từ nguồn. Thực tế cho thấy những quá trình chậm là quá trình khó đảo ngược: từ sa mạc hóa, biến đổi khí hậu, suy thoái đất canh tác, sự dâng cao mực nước biển, đến sự suy tàn của một nền văn minh, sự lớn mạnh của một dân tộc, một quốc gia, một phong trào cách mạng... Câu chuyện ngụ ngôn về con ếch bị luộc minh họa rất hay cho phản đề này.

108

Hiệu ứng ếch luộc Thả một con ếch vào nồi nước sôi nó sẽ quẫy mạnh và nhảy ra Nhưng có thể cho con ếch vào nồi nước lạnh, sau đó đem đun nóng từ từ. Khi nước ấm dần, chú ếch không có phản ứng gì, thậm chí còn tỏ ra thích thú. Nhiệt độ tăng cao dần, chú ếch sẽ bải hoải dần, uể oải dầm kho đến khi bị luộc chín. Hiệu ứng này khá phổ biến trong thực tế, ví dụ, rất nhiều người yêu tâm sống cạnh kho thuốc trừ sâu bị bỏ hoang cho đến khi họ kinh hoàng nhận ra tỷ lệ bệnh ung thư và trẻ quái thai di dạng lăng vọt. Phản đề 3. Thiếu quyết định nhanh khi cần thiết Hệ thống tiến hóa hay suy thoái đều tuân theo quy luật tăng entropy. Khi chỉ số CMI tăng dần để đạt đến giá trị 1,0, hệ thống tiến đến điểm phân nhánh: hệ thống cũ đang sụp đồ, hệ thống mới đang xuất hiện. Quãng thời gian cho sự nhảy vọt trong tiến trình diễn thế hệ thống bao giờ cũng cực kỳ ngắn so với thời gian hệ thống tồn tại, cân bằng và ổn định. Đó là thời cơ của những quyết định nhanh, hành động nhanh, giống như thời cơ bùng nổ một cuộc cách mạng xã hội, thời cơ để ký kết hợp đồng, là thời gian xảy ra các thiên tai hay sự cố, thảm họa môi trường v.v . . . Để có được các quyết định và hành động nhanh khi cần thiết, phải tính toán, chuẩn bị, tập dượt lâu dài. Nói một cách không thực sự chặt chẽ, thì các quyết định và hành động muốn nhanh được, chúng phải được chuẩn bị lâu dài và từ từ trong thời gian trước đó rất lâu. Ứng phó tốt với sự cố, thảm hoạ môi trường là ví dụ sát nhất của việc tránh được phản đề này. Phản đề 4 . Không tính hết tác động ngược do hệ thống phản ứng
109

Hệ thống có tính ì, là tính triệt tiêu các tác động để đảm bảo sự ổn định của hệ thống. Tính ì làm cho càng bị tác động mạnh thì hệ thống càng chùn lại bằng những phản ứng bù trừ rất đa dạng và khó lường. Đầu tư, cải thiện các khu dân cư ổ chuột, xây dựng các khu nhà cho thuê rẻ tiền cho lao động ngoại tỉnh rất có thể làm gia tăng đòng di dân tự do nông thôn - đô thị; tự động hóa và đổi mới công nghệ để tăng năng suất có thể làm gia tăng thất nghiệp; giải phóng mặt bằng để xây dựng khu công nghiệp nhiều khi lại biến một bộ phận nông dân mất đất thành người lang thang; dùng bèo Nhật Bản để làm sạch thủy vực ô nhiễm có thể lại gây ô nhiễm đất ở những vị trí vứt bỏ hay chôn lấp bèo v.v. . . Những tác động ngược này được gọi là "phản ứng bù trừ" của hệ thống. Phản ứng này dễ dàng biến một hành động có ý tưởng tốt thành một hành động xấu. Phản đề 5. Đánh giá thấp hoặc bỏ qua những giải pháp không truyền thống Do đặc trưng của mạng phản hồi hệ thống rất đa dạng, nên các vấn đề giống nhau có thể được tạo ra từ những nguyên nhân khác nhau, ngược lại, cùng một loại nguyên nhân lại có thể dẫn đến các kết quả không giống nhau. Trong quản trị nhiễu loạn hệ thống, việc chọn những giải pháp đơn giản và dễ dàng chỉ thành công nhờ may mắn, bởi vì bản chất của vấn đề chưa thực sự được giải quyết nên sau đó vấn đề lại có thể nảy sinh. Nếu như các giải pháp là dễ dàng thì ai cũng có thể tìm ra và áp dụng. Nhiều trường hợp cần những giải pháp độc đáo, mới lạ và không truyền thống. Một số bệnh nan y có thể chữa bằng một vài vị thuốc nam đơn giản và rẻ tiền. Tỉnh An Giang có đến gần 20 ông "Thần đèn" như ông Nguyễn Cẩm Lũy biết cách di chuyển các công trình xây dựng đồ sộ nặng nề bằng những thiết bị rất đơn giản. Người Chăm trước đây xây dựng các hệ thống thủy lợi rất đơn giản và rẻ tiền, đến nay đã gần 300 năm vẫn còn phát huy
110

hiệu quả. . . Những giải pháp độc đáo đó, thậm chí khoa học hiện đại còn chưa hiểu hết, rõ ràng phải dựa trên những kiến thức sâu sắc và không phải ai cũng phát hiện được. Phản đề 6. Không thấy rừng, chỉ thấy cây hoặc không thấy cây, chỉ thấy rừng "Rừng" ở đây là cái tổng thể, là hệ thống toàn vẹn, "cây" là các chi tiết, các yếu tố cấu thành hệ thống. Tư duy hệ thống không yêu cầu luôn luôn phải vừa thấy cây, vừa thấy rừng, tùy từng trường hợp mà dùng mô hình hộp đen (cần cái tổng thể) hay mô hình hộp trắng (cần cả cái chi tiết). Tuy nhiên 2 mô hình này chỉ tùy thuộc vào bài toán đặt ra của nhà quản lý hệ thống, chúng không loại trừ nhau. Nhà phân tích cần tư duy hệ thống để chọn mô hình nào phù hợp với mục tiêu. “Biết cái tổng thể để sử dụng cái chi tiết” là nguyên tắc chung để không rơi vào phản đề 6. Phản đề 7. Trong rủi không thấy may, trong may không thấy rủi Do đặc trưng quan trọng nhất là cấu trúc phản hồi theo kiểu vòng lặp các hệ thống luôn tiến hóa theo các chu kỳ dường như lặp lại. Sự sụp đổ, khủng hoảng của một hệ thống là tiền đề tất yếu cho sự sinh ra một hệ thống mới. Truyện ngụ ngôn "Tái ông mất ngựa" là minh họa tuyệt vời cho nguyên tắc "trong rủi có may, trong may có rủi". Trạng thái climax (cực thịnh) của một hệ sinh thái không loại trừ thời kỳ lụi tàn tiếp theo của nó, nhưng chính trong thời kỳ đó, một hệ sinh thái khác có thể lại xuất hiện và sau đó lại tiến đến cực thịnh. Đây cũng chính là quy luật diễn thế sinh thái. Một cánh đồng nhiễm mặn gia tăng, năng suất lúa ngày càng thấp cho đến khi người trồng lúa bỏ hoang. Đó lại chính là cơ may để chuyển cánh đồng hoang thành trang trại nuôi tôm nước lợ năng suất cao. Những vụ tôm sú đầu tiên thành công làm chủ trang trại giàu lên, nhiều trang trại khác mọc lên cho đến khi ô nhiễm, bệnh
111

tôm và rối loạn thị trường làm cho các trang trại này phá sản. Một công ty du lịch quyết định nhảy vào cuộc thuê đất xây dựng khu du lịch xanh . . . Chu trình cứ thế tiếp diễn. Phản đề 8. Thấy hệ thống nhưng không thấy tù nhân của hệ thống Mỗi hệ thống đều có tù nhân riêng của nó. Đó là những người, những cộng đồng thích nghi với hệ thống đến mức lệ thuộc vào hệ thống, không thể có khả năng/ hoặc không thích thoát ra khỏi hệ thống. Tù nhân hệ thống là một loại sản phẩm đặc trưng của hệ thống, loại sản phẩm này sinh ra một cách tự nhiên, từ từ, khiến cho bản thân tù nhân của hệ thống ít khi nhận thấy họ trở nên lệ thuộc vào các điều kiện của hệ thống. Trong những hệ sinh thái cằn cỗi, khó khăn và ít sinh lợi, chúng ta vẫn gặp nhiều cộng đồng nghèo, thậm chí họ ít quan tâm hay không quan tâm đến đồng tiền, trình độ học vấn thấp, sống khép kín trên nền tảng một nền văn hóa bản địa nhiều bản sắc riêng. Những cộng đồng này gặp nhiều khó khăn trong việc hội nhập xã hội với các vùng khác, trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội (công nghiệp hóa, hiện đại hóa). Họ là tù nhân của một hệ sinh thái mà bản thân họ đã nhiều đời lệ thuộc. Người dân đô thị hiện đại cũng không hơn gì cộng đồng nói trên: cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào ti vi, vào điện thoại di động, vào xe gắn máy, vào máy điều hoà nhiệt độ, vào siêu thị... và đặc biệt là vào tiền. Họ sống tiện nghi hơn, năng động hơn nhưng cũng ốm yếu hơn và lệ thuộc vào dịch vụ nhiều hơn những người dân nghèo ở vùng nông thôn - rừng núi nói trên. Họ cũng là một loại tù nhân của hệ thống. Chính những hành động phát triển góp phần tạo ra tù nhân của hệ thống thông qua việc tước đoạt khả năng tự giải phóng của các tù nhân một cách vô tình hoặc có ý thức.
112

Một số vùng châu Phi mất ổn định trong thời gian dài. Người dân quen sống bằng lương thực thực phẩm cứu trợ từ nước ngoài đến mức quên mất nghề nông nghiệp và cả nghề nấu nướng các món ăn truyền thống. Người dân đô thị ngày càng trở nên lệ thuộc vào dịch vụ. Nhiều thanh niên lớn lên không biết cách làm gà hay cá để chế biến món ăn vì họ đã quen mua thịt gà hay cá làm sẵn ở siêu thị, họ cũng không thể rời chiếc máy tính nối mạng vì đã quá quen "chat" hoặc sục sạo hàng ngày trên mạng Internet. Nhiều phụ nữ quên mất khả năng tự gội đầu. Đa phần người dân đô thị quên mất khả năng đi bộ. Chúng ta cũng quên dần các phép tính cộng trừ nhân chia vì đã có máy tính bỏ túi, không thích bận bịu vì con thơ hoặc cha mẹ già vì đã có trường mầm non và viện dưỡng lão. . . Những tính chất mới này xuất hiện dần trong cuộc sống đô thị do chính hệ thống này tạo ra. Trong thực hành quản lý hệ thống, chúng ta hay chú ý đến việc tạo ra một hệ thống mới với một mục tiêu mới phù hợp với mong đợi của chúng ta, nhưng lại ít khi để ý đến những tù nhân của hệ thống mà chúng ta tạo ra. Hoặc chúng ta muốn "giải thoát" cho tù nhân của một hệ thống nhưng chỉ chú ý đến bản thân họ mà không hiểu rõ cái hệ thống đã tạo ra họ. Cần phải thấy "tù nhân" là một bộ phận hữu cơ của hệ thống và họ chỉ có thể được giải thoát hoặc trở thành tù nhân của một hệ thống mới khi hệ thống cũ thay đổi. Phản đề 9. Cho rằng nguyên nhân và kết quả luôn đi liền với nhau trong không gian và thời gian Nguyên nhân là sự tương tác ngầm trong hệ thống mà kết quả được tạo ra không phải bao giờ cũng nằm ngay tại nơi khởi phát nguyên nhân và ngay tại khi "nguyên nhân" hoạt động. Một kết quả khó tránh thường bắt nguồn từ nguyên nhân rất xa và rất xưa. Bởi vì thế mạnh của các nguyên nhân này chính là ở chỗ nó ẩn dấu rất
113

kín đáo trong hệ thống, và hoạt động tuân thủ nguyên tắc đòn bẩy: xu thế tạo ra cánh tay đòn dài và một biến động nhỏ sẽ được khuếch đại nhờ xu thế này để gây ra những kết quả ở rất xa và khó đảo ngược. Chúng ta có thói quen khi phát hiện thấy "vấn để' là cố gắng tìm kiếm nguyên nhân ngay tại nơi và tại lúc xảy ra vấn đề. Đấy chính là cội nguồn của những sai lầm chết người trong quản lý. Lũ lụt vùng đồng bằng đa phần là do rừng đầu nguồn bị chặt phá. Nước ngầm bị nhiễm độc có thể là do một kho thuốc trừ sâu bỏ hoang trước đó 30 - 40 năm. Một cử nhân tết nghiệp xuất sắc có thể là kết quả học tập theo phương pháp đúng từ thời phổ thông. Newton phát minh ra định luật hấp dẫn không phải chỉ từ khi ông thấy quả táo rơi . . . Những "nguyên nhân" tìm thấy tức thời ngay tại nơi xuất hiện vấn đề thường là những "nguyên nhân" phụ, có tính bề nổi, thậm chí không phải là nguyên nhân thực sự. Phản đề 10. Bỏ qua các kiến thức bản địa về hệ thống Tư duy hệ thống không phải là mới, cũng không chỉ dành riêng cho các nhà khoa học. Kho tàng kiến thức bản địa của các cộng đồng địa phương đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm, trong đó có các kinh nghiệm về tư duy hệ thống. Nghiên cứu, phát hiện và ứng dụng các kiến thức bản địa là phương cách đi tắt và rẻ tiền, nhiều khi là phương cách duy nhất của sự thành công. Câu nói của Trần Quốc Tuấn khi sắp lâm chung dặn dò vua Trần Anh Tông cho ta thấy nội dung của phản đề 2 (không được coi thường các quá trình chậm): "Nếu thấy quân giặc đến ồ ạt như lửa cháy, gió thổi, thì dễ chế ngự. Nếu nó đi chậm như cách tằm ăn dâu, không lấy của dân, không cần được chóng thì phải chọn tướng giỏi xem xét quyền biến như đánh có vậy, tùy thời cơ mà vận dụng cho đúng,..., khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, gốc vững, ấý là
114

thượng sách giữ nước". Kiến thức bản địa có thể tìm trong ca dao tục ngữ, trong luật tục, hương ước ở các địa phương, và đặc biệt là qua phỏng vấn cộng đồng. Người đời khác nữa là hoa Sớm còn tối mất, nở ra lại tàn Bảy mươi chưa què, chớ khoe rằng tốt Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Sóng xô Cửa Đại, trời đà chuyển mưa Gió bấc hưu hiu, sếu kêu thì rét Trăng quầng thì cạn, trăng tán thì mưa Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì năng bay vừa thì râm Kiến đen tha trứng lên cao Thế nào cũng có mưa rào rất to Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa Bao giờ cho đến tháng ba Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng Kiến thức bản địa là sự đúc kết kinh nghiệm sống chung với các địa hệ sinh thái cụ thể. Nó là sản phẩm văn hóa phi vật thể liên quan đến các hệ thống sinh thái nhân văn. Những kinh nghiệm sống chung với lụt ở miền Thượng Nam Bộ, hiểu biết về y dược dân tộc của bà con các dân tộc miền núi, kinh nghiệm sản xuất quế ở Trà MY, Quảng Nam; những quy định về đánh bắt hải sản ở nhiều cộng đồng ven biển, về kinh nghiệm trồng khoai lang để chế ngự cỏ gianh v.v . . . Nếu như quản trị môi trường và phát triển chính là quản lý các hệ sinh thái cụ thể thì kho tàng kiến thức bản địa là
115

những tinh túy của tư duy hệ thống. Nó chứng tỏ một nguyên tắc của phát triển bền vững cộng đồng là: mọi giải pháp khả thi nằm trong cộng đồng. Câu hỏi thảo luận chương 3 1. Có thể gộp 17 bộ công cụ của tiếp cận hệ thông đã trình bày trong chương 3 thành một số ít các nhóm công cụ được không? Hãy trình bày phương án gộp nhóm và nêu đặc trưng của từng nhóm ? 2. Công cụ số 16 cho phép xác định sơ bộ độ nhiễu loạn của một hệ thống mở qua phép tính ngược của tính trồi. Nhưng việc xác định tính trồi nhiều khi là không thể. Vậy có thể đo lường các biểu hiện của tính trồi trong những trường hợp nào? Bằng phương pháp gì? 3 . Có giải pháp nào để xác định tính ì của hệ thống mở ?

116

Chương 4 Các hệ thống sản xuất

4.1. Giới thiệu chung Các hệ thống sản xuất - gọi tắt là các hệ sản xuất (HSX) - là một kiểu hệ thống sinh thái nhân văn đặc biệt, nơi mà con người sử dựng tài nguyên, năng lượng, thông qua hoạt động quản lý, tổ chức và khoa học công nghệ để sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội; kèm theo đó là quá trình gây ô nhiễm và suy thoái môi trường. HSX là kiểu hệ thống mang tính nhân tạo vì sự can thiệp của con người là điều kiện cần và rất quan trọng. Đây cũng là kiểu hệ thống phổ biến trong xã hội, là nơi tập trung cao độ nhất những vấn đề về môi trường và phát triển. Về mặt quy mô, HSX có thể ở quy mô trang trại/ xí nghiệp hay quy mô vùng sản xuất/ doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế xã hội: công nghiệp, vận tải, nông nghiệp, thủy sản, du lịch. . . Trong các HSX, các yếu tố tự nhiên, nhân tạo và xã hội hòa quện và tương tác chặt chẽ. Về bản chất, chúng là các hệ thống mở. Xét về mặt tái phân bố sức lao động và tài nguyên, các hệ thống tái định cư cũng là một dạng hệ sản xuất tiềm năng. Áp dụng tiếp cận hệ thống vào phân tích các HSX là dạng ứng dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn của tiếp cận hệ thống. Về lĩnh vực này, các công trình nghiên cứu của Gharajedaghi (2005) và Senge (2003) là những khai phá. Thực tiễn sống động vẫn dành một vùng đất còn hoang vu cho những phát kiến mới về áp dụng tiếp cận hệ thống vào các hệ sản xuất.
117

4.2. Những đặc tính của các hệ sản xuất • Tính ì Một hệ sản xuất khi đã đạt được những thành công nhất định (nhờ đổi mới công nghệ, quản lý và chớp thời cơ), thường có xu hướng duy trì phương cách hoạt động đã giúp họ gặt hái những thành công đó. Các nhà quản lý hệ thống sản xuất dễ chuyển từ vị trí tích cực thay đổi ban đầu sang vị trí bảo thủ ở giai đoạn tiếp theo. Khuynh hướng này dẫn đến một sự thực là có hàng loạt doanh nghiệp trở nên phá sản hoặc bị lệ thuộc vào các doanh nghiệp khác. Trên quan điểm hệ thống, thì đây cũng chính là thời cơ thuận lợi cho những doanh nghiệp mới với những cách thức làm ăn mới có thể chiếm lĩnh thế thượng phong trên thị trường. Một hệ sản xuất muốn liên tục phát triển cần có chiến lược liên tục phát hiện và thắng được sức ì của chính mình. Phương cách sản xuất đem lại thành công ở giai đoạn này có thể sẽ là trở ngại và gây sụp đổ hệ thống ở giai đoạn sau. Nói cách khác, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh đầy biến động, khoa học công nghệ luôn đổi mới, chính khả năng thích nghi mới là đặc tính quý báu nhất của truyền thống một hệ sản xuất. Tính ì của một hệ không nhất thiết là tính ì của tất cả các tổ phần của hệ, nó có thể là tính chất của một số yếu tố có tầm ảnh hưởng trong hệ. Thường các tính chất đó gắn với những yếu tố đã có lịch sử, đã có danh tiếng. Ví dụ một đội bóng gồm toàn ngôi sao chưa chắc đã là một đội bóng giành chiến thắng. Một tổ chức giỏi chưa chắc đã giỏi hơn nếu nhận thêm nhiều cá nhân giỏi. Hệ thống chú ý đến sự tương hợp giữa các thành tố hơn bản thân thành tố. • Tính đồng thuận trên cơ sở đa chiều Mỗi một HSX bao gồm các thành viên hoặc nhóm người có quyền lựa chọn không chỉ mục tiêu mà cả phương tiện để thực hiện mục tiêu đó. Quyền lựa chọn là đặc tính có chủ định của hệ trung.
118

Để thực hiện quyền lựa chọn, hệ thống cần được gắn kết bằng thông tin để tiến tới sự đồng thuận giữa các yếu tố cấu thành hệ thống. Chính sự đồng thuận sẽ tạo điều kiện cho các HSX tự tổ chức để đạt tới một sự ổn định mới. Sự đồng thuận của một HSX là kết quả của sự tương tác đa chiều. Bản chất của bất cứ hệ thống mở nào cũng là đa chiều. Mỗi HSX có những chiều riêng, tuy nhiên điểm chung nhất của bất cứ HSX nào cũng có 5 chiều sau: - Kinh tế: bao gồm sản xuất và phân phối các sản phẩm của hệ, tạo ra lợi nhuận cho thành viên. - Khoa học: tạo ra và truyền bá các thông tin, kiến thức về sản xuất và cạnh tranh. - Thẩm mỹ: tạo ra và truyền bá cái đẹp, cái hợp lý, tính hấp dẫn của các sản phẩm và lối sống. - Đạo lý: xây dựng và thể chế hóa các giá trị, chuẩn mực xã hội liên quan đến việc điều chỉnh và duy trì các quan hệ giữa các thành viên của hệ thống. - Chính trị: tạo ra, thực thi và củng cố quyền lực và trách nhiệm trong hệ. Theo Gharajedaghi (2005), 5 chiều này không đứng riêng rẽ, độc lập m0à tương tác chặt chẽ để lạo ra một đặc trưng chung của HSX, do chính là đặc trưng văn hóa của hệ thống. Chiều thứ nhất (kinh tê) chủ yếu tạo ra các giá trị văn hóa vật thể. Các giá là văn hoá lạo ra "luật lệ văn hóa" - do chính là một loại mã di truyền của các hệ sản xuất. Nhờ mã di truyền này mà các HSX nói riêng và các hệ xã hội nói chung có thể tái lập sự ổn định, nhân bản và tiến hóa. Cũng cần chú ý rằng, nếu sự đồng thuận là biểu hiện của "luật lệ văn hóa" trong HSX, thì chính trong sự đồng thuận cũng luôn luôn chứa đựng các xung đột và nhiễu loạn, và chính đồng thuận
119

cũng là một trạng thái ổn định tạm thời trong không gian pha của hệ. • Tính mở Các HSX là những hệ thống mở điển hình, chúng cần đầu vào là nguyên liệu, năng lượng, thông tin khoa học công nghệ, thông tin thị trường. . . và cũng phụ thuộc nhiều vào đầu ra trong tiêu thụ sản phẩm và xử lý chất thải. Vì thế để nghiên cứu các HSX, cần phải đặt chúng trong bối cảnh tương tác với môi trường xung quanh hệ. Xem xét tính mở phụ thuộc vào việc xác định ranh giới của hệ thống. Đây là một việc khó khăn vì ranh giới thực của HSX không bao giờ trùng với ranh giới địa lý của chúng. Đó thường là ranh giới mờ và mềm. Bên trong ranh giới hệ là các thành tố có thể kiểm soát được, bên ngoài ranh giới là những thành tố có thể kiểm soát đến chừng mực nào đó và những thành tố mà hệ thống không thể kiểm soát được. Khả năng quản trị hệ thống là biến các thành tố không thể kiểm soát được thành các thành tố có thể ảnh hưởng được hoặc có thể chịu đựng được. Tập hợp các thành tố bên ngoài này tạo ra một khu vực có thể giao dịch được, còn gọi là môi trường giao dịch của HSX [12]. Chính môi trường giao dịch tạo ra kho hành vi ứng xử của một hệ thống mở có chủ định. Quản trị hệ thống không chỉ là quản trị các cấu trúc và tương tác nội tại của hệ, mà còn quản trị được môi trường giao dịch, tức là quản trị thông qua việc gây ảnh hưởng tới những yếu tố không thể kiểm soát được. • Tính đa dạng về chức năng, cấu trúc và tương tác nội tại Một HSX có thể đa dạng về chức năng, cấu trúc và tương tác. Một hệ có thể có nhiều chức năng khác nhau: chính hay phụ, công khai hay tiềm ẩn. Sự đa dạng chức năng của hệ dựa trên sự đa dạng cấu trúc (ví dụ không thể có các đầm nuôi tôm sú nước lợ hoàn toàn giống nhau về diện tích, độ sâu, chế độ và khí hậu, chất lượng
120

nước, chất lượng con giống, chất lượng thức ăn, đặc điểm vùng đất xây dựng đầm. . .). Cuối cùng, tính đa dạng tương tác trong nội bộ hệ công có vai trò rất quan trọng. Do tính đa dạng này mà từ những điều kiện ban đầu như nhau có thể dẫn tới những kết quả khác nhau, hoặc những con đường khác nhau có thể dẫn đến những kết quả giống nhau. Bởi vì không phải là các điều kiện ban đấu, mà chính mối tương tác mới tạo ra các trạng thái của hệ thống. Quản trị tương tác là một luật vực khó khăn. Điều đó dẫn đến một động thái “kỳ dị" của HSX là nhiều khi với những đầu tư và quản trị "tốt" lại dẫn đến kết cục xấu, không như mong đợi. Gharajedaghi (2005) gọi đây là "tính phản trực cảm" của hệ thống. Để dễ hiểu hơn, có thể gọi tính chất này là tính "tạo ra các kết quả ngược - đó là tính chất được gây ra bởi tính nhiễu loạn hệ thống. Tính nhiễu loạn có một số dạng thể hiện sau đây: - Một số tương tác trong hệ có thể trật tự theo không gian nhưng lại vô trật tự theo thời gian (ví dụ sự bành trướng của cây trinh nữ đầm lầy - một loài thực vật lạ xâm nhập vào Việt Nam liên quan đến các vùng đất ẩm và bán ngập, nhưng không bị khống chế theo mùa vụ trong năm). - Một số tương tác có thể trật tự theo thời gian, nhưng lại vô trật tự về không gian (ví dụ điển hình là sự bùng phát các dịch bệnh theo mùa như bệnh cúm gia cầm). - Một số tương tác khác mang tính gồ ghề: biến động cả về phân bố không gian và thời gian. Tính đa dạng về chức năng, cấu trúc và tương tác nội tại của các HSX yêu cầu những cách nhìn mới về HSX, đó là: - Bất cứ sự biến đổi nào về cấu trúc và tương tác nội tại của hệ cũng sẽ góp phần thay đổi chính bản chất các tương tác nội tại này. Rằng mỗi vụ sản xuất giống như những trận đánh chỉ xảy ra một
121

lần, những trận đánh sau không bao giờ giống những trận đánh trước. Vì thế sự phát triển bền vững phải đi liền với sự đổi mới liên tục. - Chiều thời gian trong tiến hóa hệ thống không phải là thời gian theo lịch, mà là thời gian tính theo nhịp điệu, chu kỳ của các biến đổi trong hệ. - Các ứng xử của hệ thống quyết định ứng xử của từng bộ phận cấu thành hệ thống. Vì thế mà giải pháp quản trị hệ thống được chọn lựa thường là giải pháp có sự đồng thuận của nhiều người tham gia chứ chưa hẳn đó là giải pháp đúng nhất, tốt nhất. Vì thế, cái gọi là "giải pháp hợp lý" chỉ là những giải pháp phù hợp với trật tự hiện hành của hệ thống. Các giải pháp "đi trước thời đại" gắn với những tám nhìn chiến lược có ít cơ may được thực hiện. • Tính đa dạng quan hệ giữa các hệ thống trong môi trường giao dịch Trong môi trường của một HSX thường luôn luôn có những HSX khác. Các HSX này thực hành những cách thức quan hệ khác nhau, gây biến đổi các hệ liên quan. Nhận diện các quan hệ này góp phần quản trị "môi trường giao dịch". - Quan hệ ký sinh Quan hệ ký sinh xảy ra khi một hệ thống, để tồn tại, phải khai thác, chiếm đoạt năng lượng, vật chất và thông tin từ một hệ khác. Hệ hưởng lợi có tên là hệ ký sinh, hệ bị ký sinh được gọi là hệ vật chủ. Hệ ký sinh hoạt động và phát triền mạnh sẽ làm hệ vật chủ nhanh chóng suy thoái, nhiễu loạn và sụp đổ. Các hệ thống đánh bắt tự nhiên, khai thác tự nhiên (kể cả khai thác thủy sản, khoáng sản. . . ) đều là những hệ ký sinh. Việc sử dụng các biện pháp khai thác thủy sản có tính hủy diệt phản ánh hệ thống vật chủ đang suy thoái trầm trọng. Một hệ thống liên tục xuất khẩu nhiễu loạn sang hệ thống khác (ví dụ xả thải, tai biến) cũng là
122

một dạng của hệ ký sinh. Đây là tương tác không bền vững. - Quan hệ hợp tác Các hệ thống hợp tác cùng có lợi trong trao đổi năng lượng, vật chất, thông tin để cùng tồn tại và phát triền mà không gây hại cho nhau. Ví dụ, một hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên và hệ thống du lịch sinh thái tại khu bảo tồn. hệ thống rừng ngập mặn và hệ thống cửa sông. Đây là tương tác bền vững song phương. - Quan hệ trú ẩn Những hệ thống có tính đa dạng thấp thường có tính đàn hồi (khả năng tự hồi phục khi bị tác động) thấp, tính nhạy cảm cao. Để tồn tại, chúng phải ẩn náu dưới sự bảo vệ của các hệ thống khác. Các hệ thống có chức năng bảo vệ thường là các barie sinh thái như rừng ngập mặn, thủy vực cung cấp nước nuôi trồng, hoặc các barie nhân tạo như hệ thống đê bao, hệ thống kiểm dịch và diệt tạp, công ty con và công ty mẹ . . . Tương tác trú ẩn có thể gọi là tương tác chuyên hóa vì hệ trú ẩn chỉ thích ứng với một kiểu điều kiện tồn tại đặc biệt. Khi điều kiện thay đổi, hệ trú ẩn dễ bị sụp đổ. - Quan hệ cạnh tranh Các HSX phụ thuộc vào nhau theo nghĩa là chất lượng của hệ này phụ thuộc (và tạo ra) chất lượng của hệ kia, sự tồn tại của cả hai phụ thuộc vào nhau, thông qua cạnh tranh lành mạnh. Cạnh tranh là phương tiện và điều kiện cho các HSX ngày càng hoàn thiện. - Quan hệ xung đột Các hệ thống trong lĩnh vực kinh tế - xã hội cùng có quyền sử dụng một loại tài nguyên - môi trường cho những mục tiêu khác nhau là những thành phần tham gia vào xung đột. Xung đột tiềm tàng giữa nuôi trồng thủy sản, đô thị, giao thông thủy, du lịch. . .
123

trong việc sử dụng chung Vịnh Hạ Long có thể minh họa cho tương tác này. 4.3. Nguyên lý hiện tại trong phân tích diễn thế hệ thống sản xuất Tái lập lại dãy diễn thế của một kiểu (loại) hệ thống giúp cho nhà nghiên cứu khả năng dự báo biến động của các HSX. Bởi vì "những cái gì đã từng xảy ra trong quá khứ, rất có thể sẽ cũng xảy ra trong tương lai". Tuy nhiên, có một trở ngại là thời gian quan sát của nhà nghiên cứu thường quá ngắn ngủi so với cuộc đời của một hệ thống. Nhà nghiên cứu có thể tháo gỡ khó khăn này bằng cách ứng dụng nguyên lý hiện tại: "hiện tại trao cho chúng ta chiếc chìa khoá để hiểu quá khứ”. Áp dụng nguyên lý này, nhà nghiên cứu cần làm rõ trạng thái hiện tại của các hệ thống cùng kiểu và sắp xếp các hệ thống đó thành một dãy theo một chiều nhất định (ví dụ theo chiều từ trạng thái cực thịnh qua trạng thái suy thoái đến trạng thái bị suy thoái hoàn toàn, hoặc ngược lại). Tìm hiểu nguyên nhân tạo ra mỗi trạng thái. Mỗi một trạng thái có thể là quá khứ (hoặc là tương lai) của một trạng thái liền kề. Dãy trạng thái này cho thấy một hình ảnh xấp xỉ của dãy diễn thế hệ thống. Kết hợp với phương pháp đánh giá hồi cố để dựng lại lịch sử của hệ thống đang nghiên cứu qua phân tích thư tịch lưu trữ và phỏng vấn người cao tuổi sống lâu tại địa phương, có thể cho phép làm sáng tỏ lịch sử diễn thế của một kiểu hệ thống trong vùng nghiên cứu. Trong một hệ thống đã biến đổi sang trạng thái khác, vẫn có thể còn lưu giữ những di tích sót lại của trạng thái trước (ví dụ một khóm rừng ngập mặn còn sót lại trong vùng nuôi trồng thủy sản, một doi cát còn sót lại khi bãi biển đã bị xói lở hết, một khu nhà xưởng bị bỏ hoang. . . ). Những di tích này được gọi là các "di sản
124

của quá khứ" giúp cho nhà nghiên cứu tìm hiểu về trạng thái trước của một hệ sản xuất. Đặt thêm chiều thời gian của các trạng thái hệ thống trong một diễn thế, có thể xây dựng lại đường biến động của hệ thống trong không gian pha. 4.4. Phân loại tài nguyên của các hệ sản xuất Chúng ta quan niệm "tài nguyên" là những thứ (như nguyên liệu, năng lượng, thông tin, cảnh quan. . .) mà chúng ta có thể khai thác từ môi trường để phục vụ cho đời sống của xã hội. Chúng ta chia tài nguyên thành nhiều loại theo dạng vật chất của chúng (ví dụ tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên du lịch sinh thái. . .) hoặc theo khả năng bảo tồn của chúng (tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo. . .). Các cách phân loại này là kết quả của tư duy phân tích. Đó là sai lầm chết người mở đầu cho một chuỗi tác động xấu khó đảo ngược do con người gây ra cho thiên nhiên. Tiếp cận hệ thống không quan niệm tài nguyên một cách đơn giản như vậy. Cái mà chúng ta gọi là "tài nguyên", cần phải chia làm 3 nhóm có chức năng khác nhau: • Nhóm thứ nhất tham gia vào cấu trúc của hệ thống mà nếu bị khai thác, hệ thống sẽ sụp đổ. Ví dụ các vỉa than đá tham gia cấu tạo nên khối núi có khu di tích Yên Tử sẽ không thể coi là "mỏ" than; các hòn đảo đá vôi trên vịnh Hạ Long không thể coi là khoáng sản đá vôi, cát trên bãi tắm biển không nên coi là vật liệu xây dựng . . . Những "tài nguyên" có vai trò tương tự không phải là tài nguyên, mà được gọi là vốn cố định của hệ thống hoặc tài nguyên cấu trúc của hệ thống. • Nhóm thứ hai được dùng để nuôi dưỡng, vận hành, đảm bảo chức năng của hệ thống, đảm bảo an toàn sinh thái, nếu bị khai thác, hệ thống sẽ bị nhiễu loạn dẫn đến sụp đổ. Ví dụ,
125

theo tổ chức Nông - Lương thế giới, từ 60% đến 75% tổng lượng tài nguyên nước của một vùng lãnh thổ không được khai thác và sử dụng mà phải để nuôi dưỡng hệ sinh thái, đảm bảo cân bằng và an toàn sinh thái. Khoảng 43% - 45% diện tích tự nhiên của lãnh thổ phải dành cho việc bảo vệ rừng v.v. . . Những loại "tài nguyên" này được gọi là vốn lưu động hoặc tài nguyên vận hành của hệ thống, là loại tài nguyên mà con người không thể khai thác nếu không muốn hệ thống suy thoái và sụp đổ. • Nhóm thứ ba là loại tài nguyên dư thừa, tạo ra đầu ra của hệ thống. Đây chính là loại tài nguyên mà con người có thể khai thác bền vững, còn được gọi là tài nguyên năng suất của hệ thống. Ví dụ lượng thủy sản có thể đánh bắt hàng năm, lượng nước ngầm có thể bơm hút bền vững mỗi ngày . . . Việc sử dụng hợp lý tài nguyên là nhằm vào loại đầu ra này. Rõ ràng loại tài nguyên có thể khai thác được là khá nhỏ bé so với cái gọi là “tài nguyên”, theo nghĩa thông thường mà chúng ta quan niệm. Đối với mỗi hệ sản xuất, khai thác tài nguyên năng suất là khai thác bền vững, khai thác tài nguyên vận hành sẽ làm suy thoái hệ thống, khai thác tài nguyên cấu trúc sẽ làm sụp đổ hệ thống. 4.5. Nghiên cứu trường hợp 1 - hệ thống chăn thả gia súc có sừng ở khu vực sa van khô hạn Ninh Thuận 4.5.1. Đại cương về chăn thả gia súc có sừng ở vùng sa van Ninh Thuận Ninh Thuận nằm ở Cực Nam Trung Bộ. Trong số 335.227 ha diện tích đất tự nhiên, đã có 16.254 ha núi đá và 85.889 ha savan khô hạn hiện còn bỏ hoang vì thiếu nước. Khu vực savan khô hạn Ninh Thuận được hình thành do hai hướng: hướng chủ đạo là do suy thoái thảm thực vật rừng để hình thành cảnh quan trảng cỏ, cây
126

bụi xen đất trống, hướng thứ yếu là sự phục hồi của trảng cỏ và cây bụi trên các vùng đất nông nghiệp đã bỏ hoang từ lâu. Savan khô hạn theo nghĩa khoa học, là vùng đất khô nóng phần lớn thời gian trong năm, mùa mưa rất ngắn với lượng mưa khoảng 600 - 1.200 mm/ năm. Lượng mưa ít hơn lương bốc hơi khiến cho quá trình phong hóa hóa học và quá trình tạo đất diễn ra rất chậm. Hoạt động phong hóa vật lý và thổi mòn mạnh đã tạo ra những cảnh quan bán hoang mạc rất đặc trưng. Thảm thực vật ưu thế là các loại cây thân cỏ cây bụi chịu hạn thưa thốt với một số loài thân gỗ rụng lá hàng năm. 36.000 ha trong tổng diện tích khu vực savan khô hạn hiện nay đã được sử dụng cho chăn thả tự do gia súc có sừng. Tuy có mang lại một số hiệu quả kinh tế, nhưng hoạt động chăn thả tự do với đàn gia súc quá đông (trên 150.000 con năm 2003) đã tàn phá vùng chăn thả, gây xói mòn, trống trọc và trơ sỏi đá một vùng savan vốn đã thưa thớt màu xanh. Để giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo, trong cơ cấu đầu tư vốn phát triển chăn nuôi đại gia súc chiếm một tỷ lệ đáng kể ở nhiều vùng mà điều kiện canh tác gặp nhiều khó khăn do đất xấu, thiếu nước... và chăn nuôi mới chỉ ở mức độ thô sơ, tự nhiên dựa vào chăn thả ở các đồng cỏ tự nhiên là chính. Chăn nuôi bò, dê, cừu đã và đang góp phần đem lại một bộ mặt mới cho nông thôn Ninh Thuận với sự gia tăng tổng đàn đều đặn hàng năm trên 15%. 4.5.2. Phân tích cấu trúc hệ thống của hệ sinh thái chăn thả gia súc có sừng ở Ninh Thuận Chăn thả GSCS (gia súc có sừng) là một hệ sản xuất có cấu trúc đa phân hệ và quan hệ dòng giữa các phân hệ mang những đặc thù riêng biệt. Ranh giới giữa hệ chăn thả GSCS với các hệ sinh thái nhân văn khác tương đối rõ ràng, với quan hệ đầu vào - đầu ra rất đặc trưng. Tính ổn định của hệ sinh thái chăn thả GSCS (từ đây
127

trở đi gọi tắt là hệ chăn thả) phụ thuộc vào mối quan hệ với các hệ khác, cũng như vào động lực của các dòng vật chất - năng lượng và thông tin nội tại của hệ. Phân tích cấu trúc hệ thống của một hệ sinh thái là phương pháp hữu hiệu để đánh giá tính bền vững của một hệ thống sản xuất. Mô hình cấu trúc hệ thống của hệ chăn thả Ninh Thuận được trình bày theo mô hình hộp trắng.

• Phân hệ vật nuôi Nhóm GSCS được chăn thả ở Ninh Thuận chủ yếu gồm bò, đê, cừu và trâu, trong đó chiếm tỷ lệ cao là bò và dê. Giống bò phổ biến ở Ninh Thuận là bò vàng (còn gọi là bò cỏ), có tầm vóc thấp, thể trọng nhỏ. Năm 1994 - 1995, tỉnh đầu tư cho mua hơn 20 con bò đực giống lai Sind. Năm 1995 - 1998 đang thực hiện dự án "Cải tạo và nâng trọng lượng gióng bò vàng Ninh Thuận". Đến năm 1997 đã có 10/ 868 con bò lai Zebu (Sind đỏ và Brahman). Giống dê chủ yếu của địa phương là dê bách thảo (dê ăn trăm thứ cỏ) và một ít (4%) là dê cỏ. Từ năm 1994 tỉnh đã nhập một số
128

tinh đóng viên giống dê sữa để lai. Cừu là đàn duy nhất ở Việt Nam, thích hợp với vùng khí hậu khô hạn. Năm 2003 đàn cừu ở Ninh Thuận có khoảng 7.000 con. Việc nhập các giồng bò và dê nước ngoài vào cải tạo đàn gia súc Ninh Thuận đòi hỏi những giải quyết đồng bộ về chăm sóc, thức ăn và làm quen với khí hậu. • Phân hệ cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng của chăn nuôi GSCS là chuồng trại và bãi chăn. Trừ chuồng dê cừu, còn lại trại bò được xây dựng sơ sài, đa phần không có mái che, chỉ quây bằng cọc và dây thép, ẩm thấp và lầy lội (người chăn nuôi cần cho bò dẫm trên phân cho ngấu để dễ bán phân). Các trại chăn nuôi đều không có nguồn thức ăn chủ động (trừ trại dê của công ty Nguồn Sống). Còn lại đều chăn thả tự nhiên, nhiều trường hợp phải di trú đàn bò đi xa hàng chục tìm và thay đổi chỗ chăn thả liên tục theo kiểu du mục. • Phân hệ quản lý - kỹ thuật Hoạt động chăn thả GSCS ở Ninh Thuận có lịch sử lâu đời và những kinh nghiệm chăn nuôi ở vùng khô hạn được tích lũy tự nhiên trong nhân dân. Sự hình thành các trại chăn nuôi tập trung trong tỉnh xảy ra một cách tự phát bằng cách tích lũy dần dần gia súc, theo hai hướng. - Tăng đàn gia súc và quy mô chăn thả do tích lũy của một hộ chủ trại. - Tăng đàn gia súc bằng cách gom góp của nhiều chủ, ủy thác cho một hộ đứng ra chăn nuôi (góp vốn hoặc góp gia súc). Vốn cho hoạt động chăn thả chủ yếu do chủ trại tích lũy và huy động trong dân (chủ yếu từ họ hàng), vốn vay của ngân hàng không đáng kể (chỉ khoảng 0,5%). Khoản đóng góp cho ngân sách
129

chưa có quy định thống nhất. Phần lớn các chủ chăn nuôi (dù đàn gia súc hàng ngàn con) không phải đóng góp gì. Ngay cả bò đực giống (Sind) do tỉnh mua về cũng chủ yếu là trợ giá đáng kể. Một vài xã ví dụ Tân Mỹ, Nhị Hà có thu lệ phí chăn thả 5000đ/ con bò và 2000đ/ con dê, cừu trong 1 năm. Tuy nhiên nhiều chủ trại nói rằng họ thường đóng góp "tuỳ tâm" cho địa phương phục vụ cho công ích từ một vài trăm ngàn đến 1 triệu/ năm. Những khoản đóng góp này không đáng kể và không được coi là nguồn thu ngân sách. Kỹ thuật chăn nuôi theo kinh nghiệm cha truyền con nối. Một số chủ trại mới kinh doanh chủ yếu thuê người chăn giúp. Việc lai tạo chủ yếm theo hình thức cho bò đực giống ghép dôi tự do trong đàn. Tóm lại, những vấn đề công nghệ và kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến hãy còn xa lạ với đại bộ phận trại chăn nuôi trong tỉnh. • Phân hệ đồng cỏ (thức ăn) Thực ra Ninh Thuận không có đồng cỏ đúng nghĩa (tức là thảo nguyên). Vùng đất chăn thả dược gồm 39.920 ha trong đó có khoảng 3000 ha là ruộng lúa một vụ (trồng lúa vào mùa mưa, chăn nuôi vào mùa hạn), còn trên 36.920 ha là các trảng cây bụi xen cỏ và sỏi đá hoặc cỏ dưới lán rừng, thiếu nước, không thể hoặc rất khó cải tạo thành đất trồng trọt. Phần lớn diện tích chăn thả của tỉnh chỉ có cỏ mọc trong mùa mưa (cỡ 4 tháng/ năng với tốc độ che phủ khác nhau nhưng hầu như ít có vùng chăn thả nào độ che phủ của thực vật chiếm 100% diện tích ngay cả trong mùa mưa. Vào mùa khô, nhất là cuối mùa khô, trừ những diện tích dưới tán rừng trên đất dốc ở Ninh Sơn và Ninh Phước, những vùng chăn thả khác hầu như trơ trụi hoàn toàn, khiến cho đàn gia súc gầy ốm, chết đói nhiều. Đa phần diện tích chăn thả không có nguồn nước cho gia súc uống. Điều đó đặc biệt căng thẳng trong mùa khô. Nhiều chủ trại
130

đào ao hoặc giếng lấy nước cho gia súc uống 1 lần/ ngày khi đàn gia súc về lại chuồng. • Phân hệ dịch vụ tiêu thụ và thú y Tỉnh chưa có một cơ sở liêu thụ sản phẩm chăn nuôi mang tính ổn định và công nghiệp. Sản phẩm chăn nuôi được tiêu thụ qua trung gian một số chủ trại bỏ vốn thu gom gia súc, vỗ béo. Sản phẩm chăn nuôi gồm hai loại: - Con giống: xuất sang các tỉnh bạn. - Thịt: tiêu thụ phần lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Lâm Đồng, Nha Trang. Nhu cầu tiêu thụ tại chỗ trong tỉnh không nhiều. Cơ sở tiêu thụ khó khăn, không thuận lợi và bị người mua ép giá nên các chủ nuôi (nhất là các hộ nuôi ít, trên vùng cao) chỉ bán bò khi bò già hoặc gãy chân, nhiều hộ muốn bán cũng không biết bán cho ai, thường là tích lũy gia súc trong đàn và chịu rủi ro khi gia súc thiếu ăn hoặc bùng phát dịch bệnh (chết đói, gày ốm, chết dịch). Đồng vốn khó quay vòng. Chi Cục Thú Y có 2 phòng: Phòng Dịch Tễ và Phòng Kiểm Soát Giết Mổ. Tuy nhiên trong tỉnh còn hàng trăm nhân viên thú y cơ sở, họ chính là các chủ trại chăn nuôi hoặc người trong gia đình chủ trại đã được đào tạo và có tay nghề. Họ thường chủ động mua thuốc tiêm phòng cho gia súc của mình và của láng giềng. Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp gia súc đã không được tiêm phòng đủ liều và vào thời gian hợp lý. Trong tỉnh có nhiều đại lý thuốc tư nhân cùng hoạt động đồng thời với các đại lý thuốc của chi cục. Các đại lý tư nhân kiểm soát phần lớn đủ trường thuốc thú y trong toàn tỉnh (năm 1998). Nhiều đàn gia súc chăn thả trong rừng, sống như thú hoang dại (rất nhiều chủ trại không biết chính xác số gia súc của mình). Vì
131

vậy khi có dịch bệnh, không thể kiểm soát được. Tính toán theo chỉ số Downjone sinh thái EDI (năm 1998) được giá trị EDI = 66, nằm trong vùng "có vấn đề", xấp xỉ ngưỡng tai biến (Nguyễn Đình Hoè và Trần Phong, 1998 [4]). Lý do chính của vị thế thấp của hệ chăn thả gia súc có sừng ở Ninh Thuận là do đàn gia súc quá đông, vượt quá khả năng tải của đồng cỏ tự nhiên, trong khi những đầu tư cho các phân hệ khác lại quá thấp. 4.6. Nghiên cứu trường hợp 2 - hệ thống nuôi thủy sản mặn lợ Nghĩa Hưng, Nam Định (năm 2002) 4.6.1. Đại cương về nuôi thủy sản mặn rợ, Nghĩa Hưng, Nam Định • Sự phát triển nghề nuôi thủy sản mặn - lợ ven biển Nghĩa Hưng Nghĩa Hưng là huyện đồng bằng hạ lưu sông - ven biển đang bồi tụ mở rộng về phía biển. Nằm kẹp giữa hai đoạn hạ lưu sông Ninh Cơ và sông Đáy, mỗi năm huyện Nghĩa Hưng bồi ra phía biển chừng 100 - 120m. Cứ khoảng 28 - 30 năm huyện lại xay dựng một đê biển mới cách đê cũ chừng 1km để có thêm 1 xã mới. Xã Nam Điền nằm giữa đê 1958 và đê 1986, là xã gần biển nhất và giàu tiềm năng nuôi trồng thủy sản nhất huyện. Được nuôi dưỡng bởi phù sa hai con sông Ninh Cơ và Đáy, tiếp giáp với biển mở, lại có hệ thống rừng ngập mặn được trồng mới và bảo vệ chiếm 1800ha (sẽ phát triển và duy trì đến mức 2000ha), Nghĩa Hưng là một trong 2 huyện có nền kinh tế nuôi trồng thủy sản mặn lợ đáng kể nhất của Nam Định. Nghề nuôi thuỷ sản mặn lợ mới xuất hiện 6 - 7 năm, đến năm 2002, Nghĩa Hưng đã có 1915 ha nuôi thủy sản mặn nợ, trong đó diện tích nuôi đầm là 1.465ha, nuôi ngao ngoài bãi triều là 450ha. Ngoài ra còn bãi ngao giống rộng 300ha ở Tây Nam Điền đã được
132

huyện cắm cọc đỉnh vị Theo phòng Nông Nghiệp, Nghĩa Hưng thì sản lượng nuôi thuỷ sản của Nghĩa Hưng 2 năm qua như sau. Bảng 9. Sản lượng nuôi thủy sản mặn lợ Nghĩa Hưng
Tên sản phẩm Tôm Cua Ngao 2001 200 tấn 300 tấn 1800 tấn 2002 400 tấn 300 tấn 2000 tấn

Nguồn: Phòng Nông nghiệp Nghĩa Hưng, 2002 Nuôi thủy sản lợ, mặn tập trung chủ yếu ở 2 khu vực ven biển của xã Nam Điền: - Đông Nam Điền: khoảng 570 ha nuôi trong đê - Tây Nam Điền: - Đầm nuôi ngoài đê: 400 ha - Nuôi ngao biển : 450 ha - Đầm trong đê khoảng 200 ha Hình thức nuôi là quảng canh cải tiến (quảng canh, nhưng chủ động con giống và một phần thức ăn công nghiệp, đầu tư cho diệt tạp và thuốc chữa bệnh ít). Mật độ thả thường dưới 5 con tôm giống/ 1 m2, một vài diện tích của trại tôm thuộc Trung tâm thuỷ sản huyện thả dày hơn, có thể đến 15 con tôm/ 1 m2. Mật độ cua rất thưa, cao nhất là 0,5 con/ m2, đôi khi thưa đến 0,2 con/ 1 m2. Huyện thử nghiệm khoảng 20 ha nuôi tôm công nghiệp ở Đông Nam Điền. Các vùng nuôi khác đang được cải tạo đường cấp thoát nước, cống. Đường giao thông chính là đường đê (đã rải đá) và đường công tác nội bộ chất lượng kém (lầy thụt, dễ sạt lở). • Các vấn đề tài nguyên - môi trường liên quan đến nghề nuôi thủy sản mặn/ lợ ở Nghĩa Hưng Trong số 1915 ha nuôi thủy sản- mặn/ lợ, đã có đến 4 vùng sinh thái khác nhau
133

1. Vùng trong đê, không phải sống chung với cây lúa: Đông Nam Điền, 570 ha. 2. Vùng trong đê, chung sống với lúa: Tây Nam Điền, 200ha. 3. Vùng ngoài đê, chung sống với rừng ngập mặn: Tây Nam Điền, 400 ha. 4. Vùng bãi biển, nuôi ngao: 450 ha. - Vùng 1 là vùng nuôi thủy sản tập trung, dễ quy hoạch, tiếp cận biển nên có nhiều tiềm năng phát triển mô hình nuôi công nghiệp (hiện đang quy hoạch 20 ha). - Vùng 2 xuất hiện mâu thuẫn giữa lúa và thủy sản. Vừa chịu ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), vừa không thể lấy nước biển trực tiếp vào đầm, vùng 2 đã xuất hiện nhiều rủi ro (thua lỗ) và khó quy hoạch trong nuôi thuỷ sản. - Vùng 3 có nhiều điều kiện tốt về cấp nước cho đầm, nhưng đầm nuôi có nhiều rủi ro vỡ đê bao do bão và triều cường, cũng như bị đe doạ bởi hoá chất BVTV dùng để bảo vệ rừng ngập mặn mới trồng. - Vùng 4 có tiềm năng nuôi ngao, nhưng đang diễn ra mâu thuẫn tranh chấp diện tích nuôi vì đây là vùng đang bồi. Với lịch sử nuôi thủy sản mặn lợ mới 6 - 7 năm, hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh cải tiến. Trừ các hộ nuôi ngoài đê Tây Nam Điền có đầm rộng vốn lớn, các hộ nuôi trong đê thường có diện tích đầm hẹp vốn ít. Những vấn đề tài nguyên môi trường chủ yếu đã ghi nhận được là: - Chủ đầm hạn chế tối đa chi phí diệt tạp và cải tạo đầm. Để tránh bốc phèn, các đầm trong đê đều rất nông, có đầm độ sâu chỉ đạt 0,30 - 0,40 m nước. Giữa vụ xuân hè và thu đông không có thời gian đủ dài để phơi và làm vệ sinh đầm. - Mặc dù có đường nước cấp và tiêu, nhưng không có trang
134

trại nào có hồ chuẩn bị nước và hồ xử lý nước thải. Ngay cả trong quy hoạch nuôi công nghiệp cũng chưa chú ý đúng mức đến hai hồ chuẩn bị và xử lý nước. Vì thế bệnh dịch thường xuất hiện, nhất là bệnh đen mang và đốm trắng. Năm 1999 đã xuất hiện vụ dịch tôm chết hàng loạt Nhiều đầm lấy nước bị ô nhiễm dầu. - Đường giao thông và đường công tác đã có nhưng chất lượng không cao, điện cấp chưa đủ (mới được 20% yêu cầu). - Thời gian sử dụng đất là 5 năm, quá ngắn với nghé nuôi thuỷ sản khiến chủ đầm không chịu đầu tư lớn. - Ngoài khoản đóng góp dưới dạng thu sản (= thuê đất) tuỳ vị trí mà biến đổi từ 200.000đ/ ha/ năm đến l.000.000đ/ hai năm, địa phương không chính thức thu thêm khoản nào, vì thế vốn đầu tư của huyện cũng ít, chủ yếu chờ từ kế hoạch đầu tư của tỉnh và Bộ Thuỷ Sản. Tuy nhiên, nghề nuôi thủy sản mặn lợ cũng đã giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 4.000 - 5.000 lao động làm thuê người địa phương với mức thù lao (không kể ăn) từ 4 đến 8,4 triệu đồng/ năm cho 1 lao động làm thuê, lỗ - chủ chịu, lãi - chủ thưởng thêm. Đây là một trong những đóng góp tích cực của nghề nuôi thủy sản mâm lợ cho việc xóa đói giảm nghèo của Nghĩa Hưng (ước tính tiền trả công cho lao động làm thuê trung bình khoảng 25 - 30 tỷ đồng mỗi năm). - Do nuôi trồng thủy sản là nghề sống được, nên những tranh chấp bãi nuôi ngao, mâu thuẫn giữa nuôi thủy sản mặn/ lợ và trồng lúa đã xuất hiện và có xu hướng ngày càng căng thẳng trong cộng đồng. 4.6.2. Phân tích hệ thống trang trại nuôi thủy sản mặn lợ Nghĩa Hưng Phương pháp phân tích hệ thống được sử dụng nhằm phân tích, xác định và tìm hiểu các tổ phần trong hệ thống trang trại nuôi thủy sản ven biển, từ đó xác định, xây đựng các chỉ thị đơn, chỉ thị
135

tổng hợp để đánh giá mức độ bền vững của toàn bộ hệ thống. Dựa trên ý tưởng về mô hình quả trứng của hệ thống môi trường và Thước đo bền vững BS do IUCN đề xuất (1996), hệ thống môi trường của trang trại nuôi thủy sản cũng gồm 2 phân hệ là phân hệ sinh thái tự nhiên và phân hệ xã hội - nhân văn trong đó, mỗi phân hệ của hệ thống bao gồm 5 vấn đề cất lõi sau: • Phân hệ sinh thái tự nhiên: + Nước cấp cho nuôi trồng: là nước đã được xử lý để đảm bảo các điều kiện cần thiết (độ mặn, độ pa, làm sạch, tạo màu (tảo)...) cho nuôi trồng. + Nước thải: là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nước biển ven bờ, ảnh hưởng đến khả năng nuôi trồng của ngư trại. + Chất lượng nước biển: là yếu tố quyết định đến khả năng nuôi trồng của ngư trại. Ở vùng cửa sông, nước biển thường có hàm lượng chất hữu cơ cao, có độ đục lớn và thường chịu tác động của chất thải từ hoạt động nông nghiệp cũng như hoạt động nuôi thủy sản ven biển. + Độ an toàn của đầm nuôi: phản ánh sự an toàn của đầm nuôi, kinh nghiệm, kỹ thuật của người làm trong trang trại trước những tác động bất lợi của lũ nhiên (mưa bão, hạn hán, triều cường...). + Độ sạch của môi trường đầm nuôi. • Phân hệ xã hội nhân văn + Trình độ, kỹ thuật nuôi trồng: hoạt động nuôi tôm cần có kiến thức về khoa học - công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm về thị trường thật vững chắc. Bên cạnh đó, đầm nuôi là một hệ thống sản xuất nhạy cảm và mỏng manh, do đó trình độ và kỹ thuật nuôi trồng là yếu tố cơ bản đa báo sự thành công của trang trại nuôi thủy sản. + Lợi ích kinh tế: ngư trại thành công hay không là lợi ích
136

kinh tế mà trang trại tạo được cho xã hội. + Tiến bộ xã hội: phản ánh tính nhân văn và chất lượng cuộc sống của đời sống kinh tế trang trại. + Quyền sở hữu/ sử dụng tài nguyên: là cơ sở của phát triển bền vững vì nó tạo điều kiện cho chủ trang trại đầu tư theo chiều sâu và ổn định, mặt khác tài nguyên có người quản lý và bảo vệ. + Việc làm và thu nhập của người làm công: phản ánh sự quan tâm của chủ trang trại tới nhân công lao động, phản ánh năng lực làm việc của nhân công và phản ánh cả sự cố gắng của nhân công lao động vào sự phát triển của trang trại. 4.6.3. Xác lập chỉ số bền vững ngư trại nuôi thủy sản mặn lợ vùng cửa sông châu thổ theo biểu đồ BS Trên cơ sở xác định được các vấn đề cất lõi trong phân tích hệ thống, các chỉ thị đơn để đánh giá mức độ bền vững của hệ thống được xây dựng theo 2 mảng: phúc lợi sinh thái và phúc lợi xã hội nhân văn. Mỗi mảng bao gồm 5 chỉ thị đơn có trọng số bằng nhau (C = 20) nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa phúc lợi sinh thái và phúc lợi xã hội - nhân văn trong đánh giá mức độ bền vững bằng thước đo bền vững BS. Giá trị của mảng được tính theo công thức sau:

Trong đó:

+ ASIB: Giá trị của mảng phức lợi sinh thái + ASIH: Giá trị của mảng phúc lợi XH - NV + Ci: Trọng số của chỉ thị đơn thứ i (đều = 20) + ASIEi: Giá trị của chỉ thị đơn thứ i của mảng phúc lợi sinh thái + ASIHi: Giá trị cửa chỉ thị đơn thứ i của mảng
137

XH-NV Mỗi chỉ thị đơn được tính bằng phương trình sau:

trong đó:

tthực: giá trị đạt được thực tế của chỉ thị i tmin: giá trị thấp nhất của chỉ thị i tmax: giá là kỳ vọng của chỉ thị i

• Các chỉ thỉ đơn trong mảng phúc lợi sinh thái - ASIE Các chỉ thị đơn trong mảng phúc lợi sinh thái được xác lập như sau: ASIEI: Tỷ lệ giữa diện tích hồ dùng cho chuẩn bị nước (nhằm ổn định độ mặn theo yêu cầu, làm sạch, diệt tạp, quản trị pH tạo màu (chờ tảo phát triển)...). Diện tích phù hợp (tmax) cho hồ chuẩn bị nước là 1/3 diện tích hồ nuôi (theo kinh nghiệm của các trại nuôi tôm).

Trong đó S là diện tích hồ nuôi tính bằng ha. ASIE2: Tỷ lệ diện tích hồ thu gom và xử lý nước thải. Tỷ lệ tối ưu là 10% diện tích hồ nuôi. Với tmin = 0, ta có

ASIE3: Nguồn nước biển cung cấp cho đám nuôi - Chất lượng tốt, không bị ô nhiễm: ASIE3 = 1 - Chất lượng có vấn đề phải xử lý: ASIE3 = 0,5
138

ASIE4: Khả năng đầm nuôi bị tàn phá do sóng biển khi triều cường và bão. - Không thể bị phá (độ an toàn cao): ASIE4 = 1 - Có thể bị phá ASIE4 = 0,5 ASIE5: Tỷ lệ chi phí xử lý môi trường hồ nuôi (chuẩn bị nước, diệt tạp, chữa bệnh...) phản ánh chất lượng môi trường vùng nuôi, so với tổng chi phí sản xuất. Theo kinh nghiệm của các nhà sản xuất, chi phí xử lý môi trường hồ tôm cao nhất có thể chấp nhận là 50% chi phí sản xuất; tmax = 0,5 được gọi là chi phí hoà vốn.

• Chỉ thị đơn trong mảng phúc lợi xã hội - nhân văn Mảng phúc lợi xã hội - nhân văn bao gồm 5 chỉ thị đơn sau: ASIHI: Trình độ kỹ thuật nuôi trồng, được đo bằng số năm kinh nghiệm nuôi tôm của người phụ trách kỹ thuật của trang trại (nhiều trường hợp, chính chủ trại phụ trách kỹ thuật).

ASIH2: Tỷ suất hàng hóa, phản ánh hiệu quả kinh tế của trang trại. Tỷ suất hàng hóa là tỷ số tiền lãi trên tổng chi phí (vốn lưu động ), tỷ suất kỳ vọng (tmax ) là 0,75.

Nếu tthực >0,75 thì ASIH2 = 1 (max). Nếu lỗ ASIH2 = 0 (min) ASIH3: Tỷ lệ con em của những người làm và chủ trại trong độ tuổi đến trường (6 ÷ 15 tuổi) được đi học. Chỉ thị này phản ánh phúc lợi
139

xã hội của kinh tế trang trại được dầu tư cho giáo dục - sự đầu tư nhạy cảm nhất đối với những thành công về kinh tế, phản ánh tiến bộ xã hội.

ASIH4: Thời gian sử dụng đất ngư trại, quyết định sự đầu tư lâu dài cho trang trại.

ASIH5: Tỷ lệ mức lương tháng trung bình của người làm công trong ngư trại (nhục) với mức lương tháng cao nhất trong vùng (tmax). Chỉ thị này phản ảnh tính công bằng trong phân phối sản phẩm xã hội.

(mức lương cao nhất cho 1 lao động là 700.000đ ở Nghĩa Hưng). 4.6.4. Đánh giá mức độ bền vững của các trang trại nuôi thủy sản mặn lợ vùng Nghĩa Hưng, Nam Định trên biểu đồ BS 9 ngư trại đã được lựa chọn ngẫu nhiên để tính toán, gồm 3 nhóm: trong đê Đông Nam Điền, không có diện tích trồng lúa (3 trại), trong đê Tây Nam Điền, có diện tích trồng lúa (3 trại), ngoài đê Tây Nam Điền (3 trại). Kết quả tính toán các chỉ số ASIE và ASIH được thể hiện trong bảng 10 và bảng 11 sau đây:

140

Bảng 10. Kết quả tính toán ASIE các ngư trại nuôi thủy sản ở Nghĩa Hưng năm 2001 - 2002
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Tên chủ ngư trại Hoàng Minh Đoàn Ngọc Nhiêu Trần Quốc Đàm Hà Mạnh Khuê Nguyễn Văn Vuông Nguyễn Văn Điền Phạm Minh Hương Bùi Duy Lực Nguyễn Văn Tương ASIE1 0,60 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 ASIE2 ASIE3 ASIE4 ASIE5 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0'00 0,00 0,00 0,50 0,50 0,50 0,50 0,50 0,50 1,00 0,50 0,50 1,00 0,50 1,00 0,50 0,50 0,50 0,50 0,50 0,50 0,90 0,80 0,45 1,00 1,00 1,00 0,90 0,80 0,80 ASIE 60 36 39 40 40 40 48 36 36

Bảng 11. Kết quả tính toán ASIH các ngư trại nuôi thủy sản ở Nghĩa Hưng năm 2001 - 2002
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Tên chủ ngư trại Hoàng Minh Đoàn Ngọc Nhiêu Tràn Quốc Đàm Hà Mạnh Khuê Nguyễn Văn Vuông Nguyễn Văn Điền Phạm Minh Hương Bùi Duy Lực Nguyễn Văn Tương ASIH1~ 1,00 0,50 1,00 0,50 0,25 0,25 0,25 0,50 0,25 ASIH2 1,00 0,20 1,00 0,65 0,00 0,55 0,00 1,00 0,00 ASIH3 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 1,00 ASIH4 0,50 0,50 0,50 0,60 0,50 0,50 0,50 1,00 0,50 ASIH5 0,70 0,40 0,45 1,00 1,00 1,00 1,00 0,70 1,00 ASIH 84 52 79 75 55 66 55 84 55

Ghi chú: 1 - 3: Trại trong đê, Đông Nam Điền
141

4 - 6: Trại trong đê, Tây Nam Điền 7 - 9: Trại ngoài đê, Tây Nam Điền

Đưa các giá trị phúc lợi sinh thái - ASIE và phúc lợi xã hội nhân văn - ASIH lên biểu đồ BS để xác định mức độ bền vững của các ngư trại nuôi vọng sản ở Nghĩa Hưng dựa vào vị trí của ngư trại trên biểu đổ. • Nhận xét chung: Qua biểu đồ BS, kết quả đánh giá mức độ bền vững của các ngư trại như sau: - Không có ngư trại được nghiên cứu nào đạt mức "bền vững” Có 11,1 % ngư trại được nghiên cứu (1 ngư trại) nằm ở ranh giới phân loại giữa mức "khá bền vững" và "trung bình". Có đến 88,9%
142

số ngư trại được nghiên cứu nằm ở mức "trung bình" và "kém bền vững". - Hầu hết các ngư trại được nghiên cứu đều có chỉ số ASIH lớn hơn nhiều so với chỉ số ASIE, điều đó phản ánh tính mất cân đối giữa các tiêu chí sinh thái và tiêu chí xã hội - nhân văn trong phát triển các ngư trại ở Nghĩa Hưng. 4.7. Nghiên cứu trường hợp 3 - Tính trồi của hệ thống tài nguyên môi trường và quản lý hệ thống trong phòng trừ sâu hại Một hệ thống có những tính chất mà các yếu tố cấu tạo nên hệ thống không có. Đó là tính trồi của hệ thống. Con người và xã hội dựa nhiều vào tính trồi của các hệ thống tài nguyên môi trường nhưng lại thường chỉ để ý đến các yếu tố riêng biệt của hệ thống mà ít chú ý đến tính toàn vẹn của hệ thống. Đó là nguyên nhân sâu sắc nhất của suy thoái môi trường. 4.7.1. Tầm quan trọng của tính trồi hệ thống tài nguyên môi trường Không thể tưởng tượng nổi nếu trong cuộc sống hàng ngày, các hệ thống lại không có tính trồi của chúng. Chúng ta sẽ xoay xở ra sao nếu một chiếc ô tô không thể chạy được, nó đứng ì như chính các chi tiết tạo ra ô tô và bốc lên toàn mùi xăng; một nồi lẩu không hề thơm ngon chút nào: chúng toàn vị tanh của cá sống và vị mặn của muối. Các hệ thống từ đơn giản như một ly chè trái cây, đến phức tạp như một lưu vực sông,... đều tạo nên một đặc điểm và đều vận hành một chức năng mà toàn bộ các yếu tố tạo nên hệ thống đều không có được. Đó là tính trồi hệ thống. Chúng ta sử dụng tính trồi của vô cùng nhiều hệ thống hàng ngày, quen đến mức không mấy khi suy nghĩ rằng tính chất đó tại sao mà có. Hệ thống là một tập hợp các yếu tố quan hệ với nhau một cách nhân quả, có nghĩa là các yếu tố phải gắn bó với nhau để thực hiện
143

một chức năng nào đó. Vấn đề là ở chỗ, cùng một yếu tố có thể đồng thời tham gia vào nhiều hệ thống khác nhau để thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Một thềm đá san hô vừa thực hiện chức năng cản sóng để bảo vệ bờ biển (thuộc hệ thống cân bằng động lực đường bờ), vừa là nơi cư trú của các động vật sống bám (thuộc hệ thống sinh thái vùng bờ), lại vừa thực hiện chức năng trao đổi vật chất với môi trường trong một hệ thống thứ ba. Trong xã hội cũng vậy, một con người cùng lúc tham gia những hệ thống xã hội rất khác nhau: gia đình, lớp học hội đồng quản trị doanh nghiệp, hội cựu chiến binh... Tính đa chức năng của một yếu tố trong hệ thống dẫn đến lý thuyết đóng vai trong phân tích hệ thống. Cùng một yếu tố, nhưng ở hệ thống X nó có vai trò rất phụ, trong khi ở hệ thống Y nó lại có vai trò cực kỳ quan trọng. Chính vì hệ thống là một cấu trúc khó nhận biết nên con người buộc phải chia nhỏ hệ thống để nhận thức, giống như để nghiên cứu một cơ thể sống, người ta nghiên cứu riêng hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, cơ, xương... Vấn đề là ở chỗ khi đã chia nhỏ hệ thống ra để phân tích, chúng ta lại thường quên tổng hợp các yếu tố riêng rẽ thành hệ thống toàn vẹn ban đầu. Đây chính là cội nguồn của mọi sự suy thoái và xung đột trong nhiều lĩnh vực, kể cả lĩnh vực quản trị môi trường và phát triển. 4.7.2. Coi trọng yếu tố riêng rẻ hơn toàn bộ hệ thống Có lẽ đây là hướng cực đoan nhất khi các nhà quản lý và chuyên viên kỹ thuật được chuyên môn hóa đến mức áp đặt cái nhìn lệch lạc về hệ thống tài nguyên môi trường. Trường hợp các vịnh biển nước sâu (kiểu như vịnh Văn Phong tỉnh Khánh Hòa chẳng hạn) là một ví dụ rõ ràng nhất. Đây là một kiểu địa hệ ven bờ. Các yếu tố như vực nước, địa hình đáy và ven bờ, dân cư quanh bờ vịnh, thế giới thủy sinh vật, vai trò không gian mở... đã hợp sức
144

để tạo ra loại địa hệ này. Tuy nhiên các nhà vận tải biển chỉ coi nó như một vị trí đấy tiềm năng để xây dựng cảng nước sâu. Nhà thủy sản xây dựng chương trình nuôi trồng phát triển nguồn lợi. Nhà máy xi măng coi san hô trong vịnh là nguồn nguyên liệu dồi dào và đã nhiều lần xung đột với những người sống bằng nghề khai thác cá rạn. Ngành Du lịch, ngược lại, coi vịnh biển xinh đẹp này là cơ sở du lịch biển đầy hứa hẹn, trong khi ngành Văn hoá đang đệ trình Chính phủ ra quyết định xác nhận đây là thắng cảnh quốc gia... Xung đột môi trường vì thế nảy sinh và ngành nào kiếm được giấy phép trước sẽ là ngành có lợi thế. Những ví dụ như thế có thể gặp rất nhiều. Dẫn đến những quyết định khai thác và sử dụng tài nguyên không hiệu quả, dẫn đến xung đột, suy thoái tài nguyên môi trường và những chi phí vô cùng lớn cho việc hoàn phục môi trường. 4.7.3. Tai biến của hệ thống: Sự phá vỡ tính trồi Các hệ thống bị khai thác quá ngưỡng an toàn, hoặc thay đổi cấu trúc sẽ biến thành một hệ thống khác với những chức năng khác, và chính chức năng mới này nhiều trường hợp đã đặt con người và xã hội trước những thách thức khó vượt qua. Với quan niệm các tảng đá mồ côi nằm ở chân hay trên sườn dốc là những khối đá có thể "tận thu” làm đá chẻ, cơ quan quản lý và các thợ chẻ đá quên rằng các tảng đá này là một yếu tố tạo ra sự ổn định của cảnh quan, là tài nguyên du lịch... Kết quả là trượt lở đất xảy ra, xuất hiện cảnh quan nham nhở xấu xí sau khi tảng đá mồ côi được biến thành vài trăm viên đá chẻ giá 1.500 đ/ 1 viên. Những tai biến hệ thống cũng xảy ra tương tự trong trường hợp khai thác cát vùng cửa sông làm biến động luồng lạch, khai thác đá san hô sống, bơm hút nước ngầm quá khả năng tự phục hồi, san lấp thuỷ vực để xây dựng... và nhiều trường hợp khác. Khi một (số) yếu tố của hệ thống được lấy đi, hoặc bị làm suy
145

giảm đi, hệ thống có thể trở thành mất ổn định và có thể biến thành hệ thống có tính trồi khác không có lợi cho con người. 4.7.4. Quản lý hệ thống trong môi trường và phát triển Quản trị môi trường và phát triển là một quá trình dựa trên Tiếp cận Hệ thống. Đó là quá trình đánh giá, phân tích để làm rõ cấu trúc chức năng, tính trồi cũng như các tính chất khác, và đặc biệt phải xác định được ngưỡng an toàn của hệ thống tài nguyên môi trường. Từ đó cho phép mức độ khai thác các yếu tố của hệ thống (tài nguyên) một cách bền vững, xác định các sự cố hệ thống và các hệ thống tương lai do biến đổi hệ thống đang khai thác biến thành - cái gọi là xác định diễn thế hệ thống. Nhiều nơi đã tàn phá rừng ngập mặn để nuôi tôm vì không hiểu rõ được vai trò của chúng trong các hệ sinh thái đất ngập nước. Giống cá mòi đã biến mất trên toàn vùng biển Việt Nam do khai thác quá khả năng tái sinh. Nhiều loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ trở nên độc hại vì có nhiều nơi chúng đơn giản được coi là máy lọc nước có chức năng làm sạch các chất ô nhiễm... Hiểu sai vai trò của một yếu tố trong hệ thống cũng là động lực làm gia tăng tính tai biến của hệ thống. Nghiên cứu điển hình về ứng dụng quản trị hệ thống trong phòng trừ sâu hại là một ví dụ điển hình minh chứng cho luận điểm này (Lewis, 1997) [17]. 4.7.5. Nghiên cứu trường hợp: Duy trì tính trồi của hệ thống ruộng cây trồng trong phòng trừ sâu hại Cuộc cách mạng xanh đã tạo ra một nền nông nghiệp hàng hoá, nhưng kèm theo đó là cuộc đối đầu chưa có điểm dừng với sâu bệnh, trong đó sâu hại là một đối thủ cứng đầu. Lượng hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng tràn lan, một mặt làm tăng tính độc hại của nông sản, mặt khác góp phần tạo ra các chủng sâu hại kháng thuốc. Chi phí phòng trừ sâu hại không ngừng tăng cùng với sự gia tăng cũng không ngừng chi phí bảo vệ sức khoẻ của con người khi
146

sử dụng các loại nông sản có dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật. Lý do chính là các biện pháp phòng trừ sâu hại hiện nay, từ biện pháp phòng trừ sinh học, biện pháp công nghệ sinh học, biện pháp hoá học cho đến biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) đều là những biện pháp chữa bệnh. Các biện pháp này hướng vào tiêu diệt sâu hại chứ không nhằm vào việc tạo ra một cơ chế tự điều chỉnh của hệ thống ruộng cây trồng. Tính trồi của một hệ thống ruộng cây trồng khoẻ mạnh và cân bằng thể hiện ở cơ chế tự điều chỉnh, cho một lượng sản phẩm phong phú với số lượng hợp lý, không biến sâu thành sâu hại. Tính trồi này là kết quả của một nguyên tắc mới - nguyên tắc của quản lý hệ thống - trong phòng trừ dịch hại "các yếu tố của một hệ sinh thái ruộng, cây trồng luôn tương tác với nhau thông qua một mạng phản hồi để duy trì mối cân bằng bên trong ranh giới kiểm soát chức năng của hệ thống, dù rằng ranh giới này luôn biến động". • Tiếp cận Hệ thống trong phòng trừ sâu hại Có bốn ván đề nảy sinh đi kèm các thuốc trừ sâu truyền thống, đó là dư lượng chất độc, sâu kháng thuốc, sâu hại thứ sinh (thứ cấp) và sự hồi phục của sâu hại. Ba vấn đề sau là kết quả cơ bản của sự can thiệp, vốn bị tác động ngược của hệ sinh thái làm cho vô dụng hoặc giảm hiệu quả. Vì thế việc sử dụng các thuốc trừ sâu ít độc hại, ví dụ chế phẩm sinh học, hoặc thả lan tràn các thiên địch, dù có tác dụng trong việc giảm ô nhiễm môi trường, vẫn chưa nhắm đúng vào sự yếu kém về mặt sinh thái học của các tiếp cận kiểm soát sâu hại truyền thống. Các công cụ này, hoặc là hóa học, sinh học hay vật lý cũng chỉ là mở rộng các tiếp cận truyền thống và càng làm chúng ta phải đối mặt với tự nhiên. Mặt khác, điều đó cũng có nghĩa là kích động sự phát triển và sử dụng các sản phẩm có tính hủy diệt cao hơn bởi vì chúng "làm việc" tốt hơn các vật liệu có tác động từ từ.
147

Vấn đề cơ bản của chiến lược phòng trừ sâu hại có tính hệ thống là phải sử dụng mạng phản hồi trong hệ thống ở mức độ toàn hệ thống, có nghĩa là, tiếp cận cần nhắm vào việc khởi động các nguồn lực tiềm tàng bên trong hệ sinh thái hướng tới việc kiểm soát các quần thể sâu bệnh trong ngưỡng có thể chấp nhận hơn là hướng tới việc tiêu diệt chúng. Tuy nhiên, các giải pháp này phải đáp ứng nhu cầu sản xuất và cũng phải có chi phí hợp lý. Có thể phát triển tiếp cận hệ thống này theo 3 tuyến: 1) quản lý hệ sinh thái, 2) thuộc tính mùa vụ, 3) chữa chạy nhưng ít gây hủy hoại. • Quản lý hệ sinh thái Hiểu và quản lý một hệ sinh thái nông nghiệp là cơ sở của tất cả chiến lược canh tác, kể cả quản lý dịch hại. Cơ sở này thường là nạn nhân của các tiếp cận sản xuất chỉ quan tâm đến năng suất. Do các kênh tài trợ và chính trị, các nhóm khoa học thường tập trung nghiên cứu ở các khu vực địa lý thuận lợi. Vì thế các cơ sở thông tin liên quan đến một vụ sản xuất riêng biệt, như là một yếu tố của một hệ sinh thái canh tác, thường rất hạn hẹp. Ví dụ, các chuyên gia về bông luôn tập trung làm việc với các chuyên gia về bông khác. Tuy nhiên, cả bông lẫn các ngành sản xuất cây trồng khác đang không ngừng tăng lên trong cùng một diện tích và đôi khi trên cùng một thửa ruộng. Các mùa vụ chia sẻ chung nhiều loại sâu bệnh và thiên địch. Vì thế quản lý dịch hại trên một loại cây trồng đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên các loại cây trồng khác. Tái định hướng việc quản lý dịch hại là cần thiết nhằm phối hợp quanh năm các công việc liên quan đến đất, cỏ dại, cây trồng, nước và các kỹ thuật canh tác phối hợp, cũng như để xem xét tác động của các kỹ thuật này lên giới động thực vật, trạng thái dinh dưỡng và tính cân bằng của hệ sinh thái. Những nghiên cứu gần đây cho thấy sự tái định hướng này cho kết quả rất khả quan. Vai trò của lớp phủ thực vật trong giai
148

đoạn thu hoạch là rất quan trọng, chúng là chỗ trú ẩn của thiên địch, để ổn định mối cân bằng với dịch hại và luân chuyển mối cân bằng này sang vụ mới. Cây tử đinh hương và các loài rau khác trong cánh đồng bông ở Đông - Nam Hoa Kỳ là nơi trú ẩn rất tốt trong mùa Đông - Xuân của các côn trùng ăn thịt và ký sinh đối với sâu hại bông. Bọn sâu xanh sống trên cây tử đinh hương là vật chủ mùa Đông - Xuân của bọn ký sinh Cotesia marginiiventris có khả năng kiểm soát sự bùng phát nhóm sâu đo ở cây bông. Mặt khác, khi cánh đồng được bỏ hoang vào mùa đông, các nhóm thiên địch cũng không thể hoạt động cho đến khi vụ gieo trồng bắt đầu. Phối hợp giữa lớp phủ thực vật trồng sau thu hoạch với việc "cày bảo tồn" (không cày lật phơi ải) có rất nhiều cái lợi: giảm xói mòn đất, tăng vật chất hữu cơ, tăng tính giữ ẩm của đất, lưu trữ lại các chất dinh dưỡng, kiểm soát cỏ dại, tăng cường khả năng kiểm soát dịch hại tự nhiên. Các biện pháp phòng ngừa khác bao gồm: xen vụ, tránh đơn canh diện rộng, để lại các dải đất không canh tác, trồng trên bờ ruộng các loại cây làm chỗ trú ẩn quanh năm của thiên địch . . . cũng có tác dụng phòng ngừa bùng phát dịch hại. Việc trồng tử đinh hương và/ hoặc một số loài cỏ dại dọc theo bờ ruộng và các diện tích không canh tác khác cũng tạo ra chỗ trú ngụ cho thiên địch và tạo ra sự cân bằng giữa thiên địch và sâu hại trong thời gian trồng trọt. Ví dụ, loài cỏ đuôi ngựa là những nơi trú ẩn của rệp cây và các thiên địch của chúng. Thực tế là côn trùng khoái các cây này hơn là cây bông. Các số liệu điều tra cho thấy các loại cây này có vai trò như một loại cò mồi để nhử rệp cây tránh xa cây bông. Thực tế cho thấy rệp cây sẽ lập tức tấn công vào bông nếu không có những cây khác làm vật chủ ở bờ ruộng do hoạt động chặt trắng. Ở Ninh Thuận, người trồng nho đã trồng đu đủ để dẫn dụ rệp nho. Một loài hoa dẫn dụ xén tóc ăn hại cây sapôchê (hồng xiêm) cũng đã được người làm vườn ở Huế sử dụng. • Thuộc tính mùa vụ
149

Xem xét các loài cây trồng như là những yếu tố hoạt động của mối tương tác đa diện (mối tương tác dinh dưỡng đa chiều) là vấn đề cốt lõi của tiếp cận hệ thống toàn diện của kiểm soát dịch hại. Những phát hiện mới đây về mối tương tác dinh dưỡng ba chiều giữa cây trồng - động vật ăn thực vật - động vật ăn thịt/ ký sinh cho thấy mối gắn kết chặt chẽ giữa các yếu tố này và minh hoạ cho tầm quan trọng của tương tác dinh dưỡng đa chiều có lợi như thế nào cho chiến lược kiểm soát dịch hại bền vững và hiệu quả. Đã từ rất lâu, người ta biết rõ thực vật có các độc tố và có các hoá chất khác nhằm ngăn cản nhóm côn trùng ăn thực vật. Một số loại cây phòng vệ trước nhóm côn trùng ăn thực vật bằng cách tiết ra các chất bay hơi hấp dẫn nhóm côn trùng ăn thịt và ký sinh, rồi chính các nhóm này sẽ tấn công lại nhóm côn trùng ăn thực vật. Ví dụ cây bông vải khi bị sâu xanh gặm sẽ tiết ra chất terpenoids hấp dẫn bọn côn trùng ký sinh C. marginiventris. Cơ chế này minh họa cho việc cây trồng có khả năng giải phóng các chất bay hơi chỉ khi bị bọn côn trùng ăn thực vật đánh chén, và chúng tiết ra các chất dẫn dụ bay hơi trên toàn bộ cây. Một số loài bông vải hoang dại có khả năng tiết chất dẫn dụ thiên địch cao hơn 10 lần so với các loài cây bông vải gieo trồng. Cây trồng có thể cung ứng thức ăn cho một số loài thiên địch nhất định. Mật hoa chẳng hạn, cung cấp thức ăn cho một số côn trùng ký sinh như C.marginiventris, Microplitis croceipes, Cardiochiles nigriceps. . . những loài này có khả năng kiểm soát các nhóm sâu hại bông như sâu bông, rệp cây. Tuy nhiên mật hoa cũng là thức ăn của một số loài sâu hại, ví dụ sâu bướm. Một số giống cây bông vải được trồng lại không có loại mật hoa có chức năng như vậy. Rõ ràng chúng ta cần có nhiều thông tin hơn để xây dựng một chiến lược kiểm soát dịch hại hợp lý (Lewis, 1997) [17]. Cà chua và khoai tây có khả năng tiết chất kiểm soát protease trên toàn cây (các chất này có khả năng can thiệp vào quá trình tiêu
150

hóa và hành vi ăn uống của côn trùng) khi lá của chúng bị sâu bướm gặm, các chất này tiết ra liên tục ở quả. Hệ thống này chắc hẳn đã được tự nhiên chọn lọc và chắc chắn là bền vững nhất. Một hệ thống thể hiện chức năng phòng vệ ở quả nhưng chỉ thể hiện khi lá bị côn trùng gặm. tạo ra sự bảo vệ cực đại cho quả. Chiến lược này đồng thời cung cấp tài nguyên "vật chủ/ mồi" cho phép có sự tham gia của khối liên minh vật ký sinh/ vật ăn thịt. Chúng ta cần phải quan sát và nghiên cứu các hệ thống tự nhiên khi phát triển các chiến lược sử dụng các biến đổi đen, như đen tạo ra các chất độc của vi khuẩn Bacilusthuringensis (Bt). Ví dụ các giống bông vải được biến đổi đen để có khả năng sản xuất ra độc tố Bt được trồng khắp nơi. Kỹ thuật này làm cho toàn bộ cây bông liên tục nhả ra độc tố Bt. • Chữa bệnh (diệt dịch): biện pháp sau cùng Liệu pháp diệt sâu hại có vai trò quan trọng trong chiến lược quản lý dịch hại trên cơ sở sinh thái, nhưng cần coi đó là hành động sau cùng chứ không phải đầu tiên. Nguyên tắc cơ bản là kiểm soát số sâu hại trong ngưỡng chấp nhận được với tác động gây nhiễu loạn sinh thái càng ít càng tốt. Các sản phẩm tổng hợp, sản phẩm tự nhiên, sinh vật sống đều có tác dụng chữa bệnh (diệt hại). Tuy là sản phẩm tự nhiên hoặc không độc nhưng không có nghĩa là chúng ít làm xáo trộn sinh thái hơn các sản phẩm tổng hợp. Vấn đề quan trọng hơn là chúng cần phải hoạt động càng hoà hợp càng tốt với các sức đề kháng nội tại của hệ thống. Giá trị bán các chất diệt côn trùng sinh học hàng năm ở Mỹ khoảng 110 triệu USD, trong đó Bt là chính (90 triệu USD). Nhìn chung, vi sinh vật hoạt động chậm hơn. nên ngành công nghiệp tập trung vào sản xuất hóa chất hoặc các chủng vi sinh “Hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn" là chính. "Hạ gục nhanh" có thể cho các hiệu quả tức thì, nhưng cũng tiêu diệt luôn cả nguồn lực của các ký sinh trùng (có lợi) điều đó làm cho thế hệ sâu hại sau không bị cản trở và vấn đề sâu hại lại xuất hiện.
151

Chúng ta cần nhớ - mục tiêu chính của chúng ta trong quản lý dịch hại không phải là tiêu diệt sâu hại mà làm sao số lượng của chúng nằm trong ngưỡng chấp nhận được. Vai trò của chữa trị không thể thay thế cho hệ thống tự nhiên, mà chỉ thực sự có vai trò tích cực khi hệ tự nhiên bị mất cân bằng tạm thời. Tiếp cận hệ thống đem lại nguồn lợi ngày càng lớn cho cả hệ thống canh tác lẫn xã hội. Phương pháp này tính toán tất cả các tác động lên các tài nguyên thiên nhiên như động vật và thực vật, chất lượng và đa dạng cảnh quan, sự bảo tồn năng lượng và các tài nguyên không tái tạo. Các nguồn lợi lâu dài của xã hội như việc làm, sức khoẻ cộng đồng, phúc lợi của các cá nhân gắn liền với nông nghiệp. Một thử nghiệm ở vùng Nagele Hà Lan liên tục 15 năm từ 1979 - 1994 về áp dụng tiếp cận hệ thống cho thấy thuốc trừ sâu giảm trên 90%, phân bón nhân tạo được thay bằng phân hữu cơ và nông sản phụ sau vụ thu hoạch, côn trùng, cỏ dại, dịch hại giảm do việc kiểm soát tự nhiên bởi thiên địch, do các biến thể cây trồng có sức cạnh tranh cao với cỏ dại hoặc kháng sâu bệnh . . . Thu hoạch có thấp đi một chút nhưng bù lại, chi phí dùng để mua phân bón và thuốc trừ sâu cũng giảm đi (Lewis, 1997) [17]. Như vậy, để phòng trừ dịch hại bền vững, cần phải đảm bảo được tính trồi của một hệ sinh thái ruộng cây trồng lành mạnh, thông qua quá trình tự điều chỉnh của mạng phản hồi trong hệ thống. 4.8. Nghiên cứu trường hợp 4 - Ứng dụng Tiếp cận Hệ thống để xác lập các tiêu chí môi trường cho điểm tái định cư bền vững 4.8.1. Giới thiệu chung Tái định cư - TĐC là việc lập một nơi ở, một quần cư mới cho một nhóm hộ gia đình hoặc một cộng đồng vì những lý do rất khác nhau. Với mục tiêu quản lý, người ta thường chia TĐC làm hai loại:
152

TĐC tự phát được tạo ra do các dòng di dân tự do, và TĐC theo kế hoạch. Loại TĐC thứ hai phổ biến hơn, nhằm: a) Bố trí lại dân- cư vì các lý do ổn định kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, hoặc tránh các địa điểm thiên tai, sự cố môi trường; b) Nhà nước thu hồi đất đai để phát triển cơ sở hạ tầng. Riêng vì lý do (b) trên đây, theo Ngân hàng Thế giới, mỗi thập kỷ qua trên toàn cầu lại có khoảng 100 triệu người phải TĐC; ở nước ta, mỗi năm có khoảng 40 - 50 dự án TĐC tới số lượng hộ dân phải di chuyển trung bình là 100 ngàn hộ. Tổng kết sự thành bại của nhiều dự án TĐC trên toàn cầu (dĩ nhiên đại bộ phận là ở các nước đang phát triển), tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) đã nhận ra một quy luật: "Đánh giá môi trường đóng vai trò chủ chết trong việc xác định tính khả thi của một mô hình TĐC", và "việc lập kế hoạch TĐC sơ sài làm cho con người dễ bị tấn công bởi hàng loạt hiểm họa như ngập lụt, bệnh tật. nghèo đói . .”. Chính vì thế, FAO đã công bố tài liệu chỉ nam cho dự án cái định cư ở vùng nhiệt đới ẩm" (Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1991 ). Tuy nhiên nội dung các tiêu chí môi trường của Chỉ nam chỉ tập trung vào thiên tai ở điểm TĐC và những kiểm kê tài nguyên thiên nhiên. Đó cũng là các tiêu chí định tính, có giá trị lược duyệt. Trên thực tế bản "Chỉ nam . . ." của FAO vẫn chưa hề được ứng dụng đầy đủ cho các dự án TĐC trong nước, nhất là các dự án do cấp tỉnh và huyện quản lý và thực hiện. Trên thực tế, việc lựa chọn điểm TĐC trong nước mới chỉ tập trung vào các tiêu chí kinh tế - kỹ thuật, xã hội và an ninh quốc phòng. Các tiêu chí môi trường hầu như không được đề cập, làm cho không ít dự án TĐC không thực sự thành công. Có nhiều lý do khác nhau của thực tế này, nhưng quan trọng hơn cả là các hướng dẫn môi trường cho dự án TĐC, hoặc thiếu, hoặc quá rườm rà và định tính khiến cho việc đáp ứng các đòi hỏi này trong khâu lập dự án thường bị bỏ qua hoặc được làm chiếu lệ. Trên thực tế, trừ các
153

dự án TĐC có vay vốn hay tài trợ quốc tế (vốn của WB hay ADB) đòi hỏi phải lập báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) nghiêm ngặt, các dự án TĐC từ nguồn tài chính trong nước thường bỏ qua hoặc làm chiếu lệ khâu xây dựng và thẩm định báo cáo ĐTM, nhất là các dự án cấp tỉnh trở xuống. Thực tế trên đòi hỏi phải lựa chọn, tinh giảm các tiêu chí môi trường sao cho, một mặt đảm bảo tính an toàn về môi trường của điểm TĐC được chọn, mặt khác dê áp dụng, dễ thẩm định và kiểm soát bởi các chuyên gia xây dựng và thẩm định dự án. "Không quá phức tạp để tránh bị bỏ qua" - đây chính là nguyên tắc tối thiểu, tuy thực dụng nhưng không hề kém hiệu quả trong thực tế lựa chọn và xây dựng các điểm TĐC. 4.8.2. Các tiêu chí môi trường cần cho một điểm TĐC bền vững • Phân tích hệ thống môi trường cho một điểm TĐC Ứng dụng tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường cho phép các nhà quản lý có cái nhìn toàn diện và linh động trong việc lựa chọn một điểm TĐC. Ở đây, các yếu tố kinh tế - kỹ thuật và xã hội không được đề cập vì trên thực tế chúng đã được các dự án TĐC tính toán khá cặn kẽ, vấn đề còn lại là các tham số môi trường. - Xác định hàng bậc cha hệ thống: Nếu coi các yếu tố môi trường là một hệ thống, thì hệ thống toàn diện của một điểm TĐC là thượng hệ của hệ thống môi trường. Trong thượng hệ này, các hệ thống môi trường, kinh tế - kỹ thuật và xã hội - nhân văn là các hệ thống tương đối độc lập và tương tác với nhau theo quy tắc nhân quả. Hệ thống môi trường tạo điều kiện và cung ứng các dịch vụ môi trường cho hai hệ thống còn lại và cũng chịu ảnh hưởng của hai hệ thống này để có thể trở nên tết hơn hay xấu đi. Mục tiêu của thượng hệ có ý nghĩa quyết định đối với vai trò của mỗi hệ thống
154

trong thượng hệ. Ví dụ một điểm TĐC dọc biên giới hay hải đảo có mục tiêu chính là đảm an ninh quốc phòng, thì vai trò của hệ thống xã hội - nhân văn thường lớn hơn vai trò của hai hệ thống còn lại. Nếu TĐC nhằm phát triển đô thị hay vùng kinh tế mới, thì vai trò của hệ thống kinh tế - kỹ thuật lại được đặt lên hàng đầu. Ở đây, chúng ta thấy rõ ý nghĩa của nguyên tắc tối thiểu đã nhắc tới trong mục 1 . Có lẽ chỉ tại những điểm du lịch, nghỉ dưỡng hoặc khu bảo tồn, vai trò của hệ thống môi trường mới thực sự nổi trội và nguyên tắc tối thiểu mới cần bổ sung thêm. - Xác định chức năng cấu trúc của hệ thống môi trường tại điểm TĐC: Hệ thống môi trường của một điểm TĐC có 2 chức năng cơ bản: Chức năng thứ nhất: Cung ứng một nơi ở an toàn. Đây là chức năng quan trọng nhất. Các vùng đất thường chứa các hiểm hoạ tiềm ẩn (còn gọi là tai biến tiềm ẩn). Những hiểm họa này có thể do thiên nhiên hoặc con người tạo ra. Đối với một đất nước đông dân như nước ta, các vùng dân cư tập trung đã định hình, thậm chí từ lâu đời, thường là các vùng lạc địa (đất lành). Những vùng đất thưa dân có nhiều diện tích thuận lợi để thiết lập các điểm TĐC thường là những vùng đất "có vấn đề", nhiều khi việc giải quyết các "vấn đề" lại nằm ngoài năng lực của dựa án TĐC, đòi hỏi dự án phải được trợ giúp bằng các nguồn lực từ bên ngoài dự án. Nếu sự trợ giúp không hiện thực và không đủ mức, tốt nhất là hủy bỏ dựa án để chọn một điểm TĐC khác an toàn hơn. Chức năng chính của hệ thống môi trường được đo bằng các tham số sau đây - mỗi tham số là một chiều xác định không gian tôn tại và biến đổi của hệ thống: 1) Không xảy ra thiên tai: lũ quét, trượt lở, xói lở, lún sụt, lũ lụt hàng năm, sét đánh (trên 3 làm năm).
155

2) Không có dị thường phóng xạ tự nhiên cao hơn tiêu chuẩn môi trường: đây là phóng xạ tạo ra do đất đá có chứa các khoáng vật xạ. Tiêu chuẩn tạm thời của Việt Nam (1983) là cường độ phóng xạ nhỏ hơn 0,1 Rem/ năm. 3) Không nằm trong các hệ sinh thái tự nhiên nguy hiểm: các ổ dịch địa phương hình thành tại các hệ sinh thái độc hại (sán lá phổi, sán máng, sốt vàng, dịch hạch. . . ) hoặc điểm TĐC có chế độ vi khí hậu độc hại đến mức phát sinh bệnh tật 4) Không còn sót bom mìn hay chất độc hóa học từ thời chiến tranh chưa được làm sạch. 5) Không nằm trong hành lang bảo vệ của các đường điện cao thế có điện thế từ 35 KV trở lên. 6) Có khoảng cách an toàn tới các trung tâm phát xả ô nhiễm nghiêm trọng: nghĩa địa đang hoạt động (nhất là nghĩa địa nằm ở phía đầu nguồn nước), bãi chôn lấp phế thải (kể cả chất thải nguy hại và bãi rác sinh hoạt) đang hoạt động, trong phạm vi xả thải trên tiêu chuẩn môi trường của khí thải nhà máy, trong phạm vi xả nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường của hầm mỏ hay các xí nghiệp công nghiệp, khoảng cách không an toàn đến các kho xăng dầu, kho hóa chất, bom đạn, . . . Chức năng thứ hai: Cung cấp các dịch vụ môi trường tối thiểu. Dịch vụ môi trường có thể được cải thiện nhờ đầu tư, vì thế tuy có vai trò quan trọng, nhưng khả năng sẵn có của một điểm TĐC chỉ mang ý nghĩa thứ yếu nếu so với các chức năng thứ nhất. Dịch vụ môi trường tối thiểu được đo bằng ba tham số sau: 1) Khả năng cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của cộng đồng TĐC: có thể là nước tại chỗ (nước mặt, nước ngầm, nước mưa) hoặc nước đường ống dẫn từ ngoài phạm vi điểm TĐC về Tiêu chuẩn cấp nước cho địa bàn nông thôn của Việt Nam hiện nay là 60 lít/ nguồn ngày, đến 2010 là 80 lít/ người/ ngày
156

2) Đủ diện tích để xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải (khi cần thiết). 3) Đủ diện tích để xây dựng tuyến thu gom và xử lý rác sinh hoạt. Bãi chôn lấp rác sinh hoạt cần phải đủ để chôn lấp rác liên tục trong 20 - 25 năm. Cần tính diện tích dự phòng lập bãi rác mới khi bãi rác cũ đã đầy. Việc tính toán dịch vụ môi trường của điểm TĐC cần phải được quy hoạch dài hạn, có tính đến khả năng tăng dân số tự nhiên và tầng cơ học sau khi dự án TĐC hoàn tất. Chỉ số độ đo dịch vụ môi trường (tối thiểu) ESM (Environmental Service Measure), được đề xuất lần đầu đề quy hoạch điểm TĐC sau khi 6 tiêu chí an toàn sinh thái đã được đảm bảo.

Trong số Cl = C2 + C3 = 2 vì Nước Sạch và vệ sinh môi trường là hai mảng tương đương nhau. Các chỉ thị đơn Ii được tính bằng phương trình tương quan

Trong đó: Ii thực là giá trị do dược của tham số Ii tại điểm TĐC. It: khả năng cung cấp nước sạch, trọng số Cl = 2,0, với It min = 5 lít/ người/ ngày I1 max > 85 lít/ người/ ngày (theo chỉ tiêu của chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường Quốc gia đến 2010) I2 : diện tích dành cho xây dựng hệ thống thu gom (và xử lý
157

nước thải, với trọng số C3 = 1,0 I2 min = 0 I2 max được xác định theo quy mô dân số của điểm TĐC I3 diện tích dành cho xây dựng hệ thống thu gom và chôn lấp chất thải sinh hoạt. trọng số C3 = 1,0 I3 min = 0 I3 max được xác định theo quy mô dân số của điểm TĐC ESM có giá trị biến thiên từ 0,0 (điểm TĐC không có dịch vụ môi trường) đến 1,0 (dịch vụ môi trường đạt giá. trị max) Tra cứu các tiêu chí môi trường Hệ thống môi trường của một điểm TĐC bền vững, như đã phân tích ở mục 2.1, bao gồm hai phân hệ: Phân hệ an toàn sinh thái gồm 6 tham số (3 tham số môi trường tự nhiên, 3 tham số môi trường nhân tạo) và Phân hệ dịch vụ môi trường tối thiểu (3 tham số). Bảng sau đây nhằm hướng dẫn cách thẩm đình môi trường để lựa chọn điểm TĐC bền vững. Bảng 12. Tra cứu các tiêu chi môi trường của điểm TĐC

TT Tên tham số của điểm TĐC Có khả năng xảy ra lũ quét trượt lở, xói lở, lún, sụt, lũ lụt 1 hàng năm, sét đánh trên 3 lần/ năm? Có dị thương phóng xạ tự nhiên cao hơn tiêu chuẩn môi 2 trường?

Hiện trạng

Cách xử lý Chọn vị trí TĐC khác.

Có Không có Có Không có Tiếp tục xem xét tham số 3. Tiếp tục xem xét tham số 2. Chọn vị trí TĐC khác.

158

3 Điểm TĐC có nằm trong hệ sinh thái độc hại?

Có Không có

Chọn vị trí TĐC khác. Tiếp tục xem xét tham số 4 Tháo gỡ, làm sạch, nếu không thể thì phải chọn vị trí khác. Tiếp tục xem xét tham số 5. Chọn vị trí TĐC khác.

4

Tại điểm TĐC, còn sót bom mìn chất độc hoá học thời chiến tranh?

Có Không có

Nằm trong hành lang bảo vê an toàn của đường điện cao 5 thế ≥ 35KV?

Có Không có Tiếp tục xem xét tham số 6

Xử lý ô nhiễm, nếu không thể thì Điểm TĐC có khoảng cách phải chọn vị trí TĐC khác. 6 không an toàn đến các trung Không an toàn tâm phát xả ô nhiễm nghiêm trọng? An toàn Khả năng cấp nước sạch 7 Tính toán ESM.

Tính toán ESM; ESM=0: Tìm vị trí khác; 0≤ESM ≤0,5: Cần đầu tư lớn cho dịch vụ môi trường; 0,5<ESM ≤0,7: Có thể chấp nhân Tính các giá điểm TĐC, cần đầu tư cho dịch Khả năng xây dựng hệ thống trị: li thực vụ môi trường; 0,7< ESM ≤ 0,9: 8 thu gom và xử lý nước thải. Điểm TĐC tốt; 0,9< ESM: Điểm li max TĐC kỳ vọng. li min Khả năng xây dựng hệ thống 9 thu gom và chôn lấp chất thải sinh hoạt.

4.8.3. Nghiên cứu trường hợp: một số điểm TĐC ở Quảng Nam và Thái Nguyên Tái định cư là lĩnh vực bức xúc, đang thu hút nhiều nguồn lực
159

của Quảng Nam. Những lý do chủ yếu là: tái định cư cho các cộng đồng chịu ảnh hưởng của hiện tượng sạt lở và lũ lụt ven các hệ thống sông Thu Bồn và Vu Gia; định cư một bộ phận đồng bào miền núi có chỗ ở chưa ổn định ra dọc tuyến xa lộ Hồ Chí Mình; tái định cư kèm theo giải phóng mặt bằng phục vụ cho phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị và xây dựng các khu công nghiệp tập trung. Số hộ cần TĐC trong tỉnh, tính đến năm 2003 là gần 19 ngàn hộ với dân số xấp xỉ 100 ngàn người. Trong những năm tới, 36 xã dọc tuyến xa lộ Hồ Chí Minh và các tuyến dường nhánh ở miền núi phía Tây Quảng Nam năm trong diện phải cung cấp các điểm TĐC mới. 3 điểm TĐC cho dân vùng sạt lở ở huyện Đại Lộc và 2 điểm TĐC mới dọc xa lộ Hồ Chí Minh ở huyện Đông Giang đã hoàn tất và được lựa chọn để nghiên cứu. Huyện Đại Từ - Thái Nguyên có 3 xã nằm trong diện giải phóng mặt bằng cho dự án khai thác mỏ đa kim. Dự kiến mỏ sẽ bắt đầu hoạt động từ 2007. Hơn 1400 hộ với khoảng 7000 nhân khẩu sẽ phải tái định cư. Có 5 điểm TĐC mới đã được dự kiến để lựa chọn, đây cũng là đối tượng được nghiên cứu. Mô tả tóm tắt đặc điểm môi trường của 10 điểm TĐC thuộc 2 tỉnh Quảng Nam và Thái Nguyên được trình bày trong bảng sau (tên của điểm TĐC được viết tát vì những lý do nhạy cảm). Bảng 13. Ví dụ về một số điểm TĐC ờ Quảng Nam và Thái Nguyên
TT Tên điểm TĐC Đặc điểm nổi bật về môi trường Đánh giá và kiến nghị

160

PT - xã Đại Quang, Đại Lộc, Quảng Nam.

- Điểm TĐC dân vùng sạt lở ven sông Vu Gia, đảm bảo đủ 6 tiêu chí an toàn sinh thái, đủ diện tích để xây dựng các công trình vệ sinh môi trường. Điểm TĐC xây dựng trên nền đất đá kém thấm, vào mùa khô thường thiếu nước sinh hoạt. Khả năng dẫn nước đường ống không khả thi vì xa nguồn cấp. Nước giếng đào chất lượng đảm bảo nhưng khả năng cung cấp hiện nay chỉ khoảng 50 lít/người/ngày.

Điểm TĐC đạt các yêu cầu về môi trường. Nước sinh hoạt là một khó khăn khó đáp ứng Nếu không có dự án cấp nước trong tương lai, quy mô dân số của điểm TĐC sẽ không thể mở rộng đủ đáp ứng cho nhu cầu gia tăng dân số tự nhiên và cơ học.

2

SC - xã Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam AT - xã Đại Minh, Đại Lộc, Quảng Nam.

Có vấn đề về an toàn sinh thái: nằm Điểm TĐC không dưới trường điện cao thế 110 KV, nằm đạt yêu cầu sát dưới nghĩa địa đang hoạt động của địa phương (nghĩa địa phía trên sườn dốc, cao hơn điểm TĐC). Đảm bảo 6 tiêu chí an toàn sinh thái. Đủ nước sinh hoạt (nước giếng) đủ diện tích xây dựng hệ thống thu gom và chôn lấp chất thải sinh hoạt. Quy hoạch không có diện tích xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải. I1 =1,0. I2=0. I3=1,0. ESM=0,75. Giải toả một số công trình, nhà cửa, và đất vườn đã giao cho dân để quy hoạch hệ thống nước thải (việc này rất khó khăn với cấp xã vì đất đã giao hết cho dân xây dựng nhà gì.

161

4

Bắc PR - Điểm TĐC nằm dưới sườn dốc có Điểm TĐC không Đông nguy cơ trượt lở cao. Khoảng 25% mặt đạt yêu cầu Giang. bằng xây dựng là đất bở vụn san lấp sông suối. Nguy cơ lũ ống vào mùa Quảng mưa. Nam. AS Đông Giang, Quảng Nam. - Đảm bảo 6 tiêu chí an toàn sinh thái và mặt bằng cho xây dựng các hệ thống vệ sinh môi trường. Nước sính hoạt dồi dào về lượng nhưng là nước cứng thước đá vôi) gây nguy cơ phát triển bướu cổ và một số bệnh đường tiêu hoá. I1=0,50 (không đảm bảo chất lượng). I2=I3=1,0. ESM=0,75. Điểm TĐC có ESM đạt yêu cầu. Việc xử lý nước cũng rất khó khăn cần có điều tra xây dựng hệ thống cấp nước an toàn từ ngoài vùng. Đòi hỏi này rất ít khả thi vì quá tốn kém.

6

LC - Đại Điểm dự kiến TĐC nằm sát trên hầm Điểm dự kiến TĐC Từ. Thái lò khai thác than đá. Nguồn nước không đạt yêu cầu Nguyên. giếng rất hạn chế do thất thoát theo hầm lò. Nguy cơ lún sụt lan toả từ hầm lò. KTT Đại Từ, Thái Nguyên. Ô nhiễm đất và nước nghiêm trọng do Điểm dự kiến TĐC ảnh hưởng của vỏ phong hoá có hàm không đạt yêu cầu lượng kim loại nặng cao. Vi khí hậu lạnh ẩm trong mùa đông gây bệnh hô hấp và khớp..

7

8

LC - Đại Điểm TĐC là vùng san lấp hạ lưu một Điểm dự kiến TĐC Từ, Thái dòng suối. Nguy cơ lũ vả xói lở. không đạt yêu cầu Nguyên. SC2 - Đại Điểm TĐC là vạt phù sa nằm ở bờ lở Điểm dự kiến TĐC Từ, của sông Công. Nguy cơ xói lở và lụt. không đạt yêu cầu Thái Nguyên.

9

162

10 BT - Đại Điểm TĐC xem ghép trong khu dân cư Điểm TĐC lý Từ, Thái cũ, đảm bảo 6 tiêu chí an toàn sinh tưởng, có thể đưa Nguyên. thái. Nước giếng phong phú vì điểm vào xây dựng. TĐC nằm trên thềm phù sa cổ, dư diện tích xây dựng các công trình vệ sinh môi trường. ESM=1,0.

Nhận xét: Căn cứ vào các tiêu chí môi trường đã chọn, trong số 10 điểm TĐC nghiên cứu, có: 1 điểm (BT - Đại Từ - Thái Nguyên) đạt yêu cầu kỳ vọng về môi trường. 3 điểm (PT, AT, AS - Quảng Nam) cần đầu tư nâng cấp khả năng dịch vụ môi trường. Hai trong số ba điểm này (AS và PT) rất khó cải thiện chất lượng và khối lượng nguồn nước sinh hoạt. 6 điểm còn lại không đạt yêu cầu về an toàn sinh thái cần di chuyển. 4.9. Nghiên cứu trường hợp 5 - Tính gồ ghề của hệ thống và ứng dụng 4.9.1. Khái niệm về cấu trúc gồ ghề và thứ nguyên thập phân Các vật thể Euclit đều có một số chiều nhất định và là số nguyên. Ví dụ đoạn thẳng, đường thẳng là một chiều (thứ nguyên D = 1, D là viết tắt của chữ Dimension, mặt phẳng là 2 chiều (D = 2), các vật thể có thêm chiều dày sẽ có 3 chiều (D = 3). Nếu khảo sát thêm chiều thời gian để nghiên cứu vật thể không gian, chúng ta có D = 4 .v.v. . . Tuy nhiên trên thực tế, có những đối tượng có thứ nguyên thập phân.
163

- Bụi Canto: lấy một đoạn thẳng [O, l], bỏ đi 1/3 ở giữa sẽ cho 2 đoạn ngắn. Mỗi đoạn ngắn lại tiếp tục bỏ đi 1/3 ở giữa, ta có 4 đoạn. Tiếp tục vô hạn số lần bỏ đi 1/3 như vậy, ta sẽ có vô hạn số đoạn ngắn. Mỗi đoạn ngắn này được gọi là một hạt bụi Canto và tập hợp các hạt bụi Canto sẽ cho một đám bụi Canto. Dù số vi đoạn thẳng (bụi Canto) có tăng bao nhiêu, chúng vẫn không vượt quá kích thước đoạn thẳng [0,1]. Tính bằng phương pháp toán học, chúng ta có thứ nguyên của bụi Canto là 0,6309 . . . có nghĩa là 0 < D < 1 ,0. Đây là thứ nguyên thập phân. - Đường cong Koch (còn gọi là đường cong bông tuyết): lấy một tam giác đều, mỗi cạnh là một đơn vị, chu vi tam giác bằng 3. Tại đoạn thẳng dài 1/3 giữa mỗi cạnh. ta dựng được 3 tam giác đều với cạnh bằng 1/3, toàn bộ là 6 tam giác đều nhỏ có cạnh như vậy. Trên mỗi cạnh của tam giác đều nhỏ, ở 1/3 giữa mỗi cạnh, lại dựng một tam giác đều nhỏ hơn. Tam giác này có cạnh là 1/9. . . Quá trình cứ thế tiếp diễn . . . Hình tam giác sẽ trở thành hình bông tuyết, chu vi .của nó lớn hơn 3 nhưng bị gói trong phần mặt phẳng của hình tròn ngoại tiếp tam giác lớn nhất. Chu vi hình bông tuyết được gọi là đường cong Koch. Đường cong này có thứ nguyên lớn hơn thứ nguyên đường thẳng (D>l), nhưng nhỏ hơn thứ nguyên mặt phẳng (D < 2). Tính toán cho thấy đường cong Koch có thứ nguyên D = 1,2618 là thứ nguyên lẻ. - Bọt biển Menger: chọn một khối lập phương có các cạnh bằng 1. Chia mỗi cạnh thành 3 phần, chúng ta sẽ có mỗi mặt khối lập phương sẽ có 9 hình vuông. Khoét lấy khối lập phương nhỏ ở giữa mỗi mặt và ghép vào bên cạnh của khối lập phương. Mỗi ô vuông trong số 8 ô còn lại cùng làm theo cách như vậy để có mỗi mặt gồm 9 hình vuông nhỏ, rồi khoét ô vuông nhỏ để ghép vào cạnh. . . Quá trình này làm tăng vô hạn các khối lập phương nhỏ, tổng thể tích của chúng vẫn bằng khối lập phương ban đầu nhưng diện tích bề mặt sẽ tăng lên vô hạn. Cuối cùng, ta được một khối
164

dạng bọt biển, có tên là bọt biển Menger (lấy theo tên nhà toán học nghĩ ra mô hình này). Thứ nguyên của bọt biển Menger sẽ nằm trong khoảng 2 < D < 3. Người ta tính được D ≈ 2,7. Vào thập niên 1990, nhà toán học người Pháp có tên là Benoit Mandelbrot gọi các cấu trúc có thứ nguyên thập phân là cấu trúc Fractal, nghĩa là cấu trúc gồ ghề [21]. Trên thực tế, các hệ thống Fractal là phổ biến, các hệ thống có thứ nguyên là số nguyên chỉ là những trường hợp đặc biệt. Đường bờ biển khúc khuỷu, hình răng cưa của lá dương xỉ, của đỉnh các dãy núi in trên nền trời . . . là mô phỏng đường cong Koch. Lá phổi của con người với thể tích khoảng 6 lít nhưng lại có diện tích xấp xỉ bằng một sân quần vợt, hình dạng của các bức tường cách âm xù xì; bề mặt nối đỉnh của toàn bộ cây cối trong một khu rừng. . . là mô phỏng bọt biển Menger. Như vậy, cấu trúc Fractal nằm giữa thế giới hỗn loạn không kiểm soát được và thế giới trật tự cứng nhắc của hình học Euclit. 4.9.2. Hệ thống Fractal Mở rộng khái niệm Fractal vào các hệ thống, chúng ta cũng sẽ có các hệ thống n chiều với n không phải là số nguyên. Đó là các hệ thống gồ ghề. Nói cách khác, bất cứ hệ thống nào có nhiễu loạn phải được coi là một hệ thống Fractal. Sự lồi lõm của đường bờ biển, tiếng ồn trong đường dây thông tin, sự lên xuống của giá cả. . . là những biểu hiện của các hệ thống gồ ghề đã được xác định từ thời Mandelbrot [13, 21]. Có điều là chưa có phương pháp xác định chính xác thứ nguyên của một hệ thống Fractal n chiều trong hệ sản xuất. Cấu trúc gồ ghề với thứ nguyên thập phân gắn rất chặt với sự nhiễu loạn. Thứ nguyên thập phân giữ vai trò tương tự như entropy trong hệ thống vì chính chúng tạo ra các hành vi lệch chuẩn của hệ thống. Chúng làm rối loạn các vòng lặp phản hồi, làm nhiễu động
165

các chu kỳ. Nhưng cũng chính nhờ đó mà thiên nhiên và xã hội mới trở nên đa dạng. Một hệ thống cân bằng bởi lẽ không chỉ các hành vi không lệch chuẩn là có chu kỳ và ổn định, mà chính những hành vi lệch chuẩn cũng có quy luật riêng, tất nhiên, đó là quy luật khó nhận ra trong một không gian "hoàn hảo” Euclit, trong phương cách tư duy tĩnh và/ hoặc đơn ngành. Hệ thống kinh doanh của Tổng công ty Khánh Việt (Khatoco) thuộc tỉnh Khánh Hòa theo mô hình công ty mẹ - công ty con, cho ta hình ảnh một hệ thống gồ ghề nhiều thứ nguyên. Doanh nghiệp này có 12 đơn vị kinh tế phụ thuộc và 5 đơn vị kinh tế độc lập, kinh doanh đa ngành: dệt - may, giấy carton, giấy viết, vở học sinh, in bao bì, thuốc lá khách sạn, du lịch, cơ khí, chăn nuôi đà điểu, cá sấu . . . Nếu coi mỗi lĩnh vực kinh doanh là một chiều của hệ thống Khatoco, và coi lĩnh vực kinh doanh đạt hiệu quả nhất theo kỳ vọng có thứ nguyên = 1,0 thì trong trường hợp kỳ vọng, Khaloco có thứ nguyên D = 17,0. Tuy nhiên mức độ đầu tư và hiệu quả kinh doanh của một số lĩnh vực không bao giờ đạt mức như một số lĩnh vực khác khiến cho thứ nguyên của hệ thống là thứ nguyên thập phân. Cấu trúc Fractal trong lĩnh vực kinh doanh đa chiều của Khatoco khiến cho hoạt động kinh doanh của công ty khá vững, không bao giờ cùng lúc xảy ra thua lỗ ở toàn bộ 17 lĩnh vực. Đa dạng sinh học và biến động của chúng trong một khu bảo tồn thiên nhiên, quy mô và năng lực bảo vệ môi trường của các ngành trong một tỉnh; sự tham gia bảo vệ môi trường của các đoàn thể chính trị tại một địa phương, nhận thức về môi trường của mỗi người trong cộng đồng, độ khoẻ mạnh của các rạn san hô tại một vùng biển v.v. . . đều cho các hình ảnh về sự gồ ghề của hệ thống. Độ gồ ghề của đường bờ biển giúp cho triệt tiêu năng lượng sóng vỗ bờ. Tính đa dạng loài trong một khu bảo tồn thiên nhiên góp phần tạo ra xích thức ăn hoàn hảo hơn và khu bảo tồn có tính đàn hồi cao hơn trước biến động môi trường. Sự đa dạng hóa các
166

lĩnh vực kinh doanh khiến doanh nghiệp không bị phá sản. Việc phân quyền quản lý môi trường cho các cấp địa phương (tỉnh, huyện, xã) làm cho môi trường được quản lý tốt hơn là việc tập trung nhiệm vụ vào cơ quan cấp tỉnh/ thành phố như thời gian trước đây. Nhận thức về môi trường khác nhau của các cá nhân tạo điều kiện cho các sáng kiến, giải pháp độc đáo của mỗi cộng đồng v.v . . Câu hỏi thảo luận chương 4 1. Tại sao nói các hệ thống sản xuất là nơi tập trung cao độ các vấn đề về môi trường và phát triển cần phải được ưu tiên nghiên cứu ? Ngoài 5 đặc tính của hệ sản xuất, còn có thể tìm thêm những đặc tính nào khác không? 2. Có ý kiên cho rằng, trong một hệ sản xuất, có IX tốt, nhưng nếu có thêm 10X tốt nữa thì hệ thông sẽ tốt hơn và bền vững hơn. Hãy bình luận ý kiến này. 3. Hãy sử dụng tiếp cận hệ thống để phân tích một hệ sản xuất khác chưa được nghiên cứu trong chương 4, ví dụ một làng nghề một điểm du lịch, một vườn quốc gia... mà bạn quen biết.

167

Kết luận chung

• Môi trường là một hệ thống mở, đa thành phần. Với sự xuất hiện của con người, bản chất của hệ thống môi trường trở thành hệ thống sinh thái nhân văn. Đó là một hệ thống đa diện, đa giá trị, mềm và có tính thích ứng. • Phát triển hay suy thoái là xu thế biến động của hệ thống môi trường. Vì vậy, tiếp cận hệ thống là phương pháp toàn diện giúp cho các lĩnh vực nghiên cứu, quản lý môi trường và phát triển cộng đồng có thể xem xét các vấn đề môi trường theo quan điểm động, tiến hóa, trong mối quan hệ tương hỗ với các thành tố khác cùng thời hay khác thời gian với thành tố đang xét theo logic "nguyên nhân - kết quả". • Trong các hệ nhân tạo, các vấn đề môi trường và phát triển ít nhiều đều có thể điều khiển được theo hướng tốt lên hay xấu đi. Dĩ nhiên điều này phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện, nhưng trước hết phụ thuộc vào kỹ năng phân tích và điều khiển hệ thống của các nhà quản lý. Phân tích hệ thống giúp cho nhà quản lý có thể dự báo ở các mức độ khác nhau về sự biến đổi của hệ thống môi trường dưới tác dụng của một đầu vào nào đấy. Đồng thời cũng giúp cho nhà quản lý tìm kiếm, phát hiện và sử dụng các tài nguyên có sẵn trong bẹ (vốn dự trữ của hệ thống), vì mục tiêu cải thiện chất lượng của hệ thống. Đây là cách "làm việc lớn mà không tôn kém", rất phù hợp với các chương trình xóa đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng. • Trong lĩnh vực quản lý môi trường và phát triển cộng đồng,
168

các tiếp cận xã hội học và tự nhiên học không thề tách rời các yếu tố cấu trúc các chức năng của hệ thống tương tác với nhau, tạo ra những tính chất mới mà chỉ hệ thống mới có. Việc hiểu cặn kẽ và quản trị toàn diện một hệ thống môi trường và phát triển là điều không thể, vì nhiễu loạn tất định mang nhiều yếu tố ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Một biến đổi rất nhỏ thuận xu thế có thể gây ra những biến động lớn, thậm chí sụp đổ hệ thống. Chỉ khi vấn đề nảy sinh chúng ta mới nhận ra. Tuy nhiên, chúng ta có thể ít nhiều kiểm soát được một phần các nhiễu loạn. Đây là những nhiễu loạn có thể ảnh hưởng được. 17 công cụ phân tích có thể sử dựng cho mục tiêu này, trong đó, có những gợi ý để tránh 10 phản đề cốt yếu của tiếp cận hệ thống. • Tiếp cận Hệ thống cho đến nay chưa phải là một hệ phương pháp hoàn hảo. Về cơ bản, đó là một cách tư duy, nhìn nhận sự vật với con mắt tổng thể, biến động liên tục trong mối tương tác không ngừng giữa các tổ phần cấu trúc nội tại của hệ thống và giữa hệ thống với môi trường của nó. Tiếp cận Hệ thống là một lĩnh vực đang phát triển mạnh. • Điểm khiếm khuyết nhất của Tiếp cận Hệ thống tại thời điểm hiện nay là chưa thể lý giải được các vấn đề nhiễu loạn hệ thống, các vấn đề về quan hệ tương cầu giữa các yếu tố cấu trúc tạo nên hệ thống, về sự điều khiển không bằng lực hay bằng năng lượng, về sự có mặt của các vật chất tối và năng lượng đen trong hệ thống... Giải quyết tốt các vấn đề "Bên ngoài khoa học” này cho phép sự phát triển nhảy vọt của Tiếp cận Hệ thống trong tương lai.

169

Tài liệu tham khảo

[1] Phan Dũng, 1996. Về hệ thống và tính ì hệ thống. Trung tâm sáng tạo KHKT, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh. [2]. Nguyễn Ngọc Giao, 1998. Những điều kỳ thú về các hình thái hỗn loạn. Chaos. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. [3]. Nguyễn Đình Hoè, Nguyễn Thị Loan, 1998. Đánh giá nhanh môi trường và dự án. Sở KHCN và MT Ninh Thuận xuất bản, Phan Rang. [4]. Nguyễn Đình Hoè, Trần Phong, 1998. Một số vấn đề môi trường bức xúc trong lĩnh vực chăn thả gia súc có sừng và sử dụng tài nguyên nước ở Ninh Thuận. Báo cáo tổng kết nhiệm vụ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, SỞ KHCN và MT Ninh Thuận. [5]. Nguyễn Đình Hòe, 1999. Các hệ thống sinh thái nhân văn nhạy cảm trong phát triển. Tạp chí Bảo vệ Môi Trường No 4. [6]. Nguyễn Đình Hòe, 2005. Tiếp cận Hệ thống và kiến tạo chỉ số trong quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển. Kỷ yếu Hội thảo toàn quốc Bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ sản. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 212-217. [7] . Sổ tay huấn luyện viên về kỹ năng quản lý phát triển cộng đồng. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hà Nội, 1996. [8]. Brink, B. T., 1991. The AMOEBA approach as a useful tool for establishing sustainable development. In "In search of indicators of sustainable development" Kluwer Acad. Publ. London. U.K.
170

[9]. Clayton, A. M. H. and N. J. Radcliffe, 1997. Sustaillability - A systems approacll. Eanhscan, London, U.K. [10] Dickinson, G. and K. Murphy, 1998. Ecosystems. Routledge, London, U.K. [11] Economopoulos, A. P., 1993. Systems Allalysis in Environmental Management. In “Assessment of Sources in Air, Water and Land Ponution”. WHO, Geneva. [12]. Gharajedaghi, J, 1999. Tư duy hệ thống – Quản lý hỗn độn và phức hợp. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005. [13]. Gleick, J. 1991. La théorie du chaos. Flammarion, Pans, France. [14]. Haaf W. T., Bikker H. and Adriaanse D.J., 2002. Fundamentals of Business Engineering and Management A systems approach to people and organisations. Delft University Press, The Netherlands. [15]. Heylighen F., 1998. Basic Concepts of tlle Systems Approach. Principia Cybemetica Web: http://pespmcl.vub.ac.be/ [16]. IUCN, 1996. Assessing Progress towards Sustainability. Methods and Field Experience. [17]. Lewis W. J. et al. 1997. A total system approach to sustainable pest management. Proc. Nath. Acad. Sci. USA. Voi99, pp. 12243 - 12248. [18]. Rosnay J. D., 1979. The macroscope: a new world scientific system. Harper & Row, Publishers, New York, NY, USA. [19]. Senge, PM. Nguyên tắc thứ 5: Tư duy hệ thống. Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2003. [20]. Trzyna, T.C. (Ed.) 1995. A Sustainable World. California Inst., Earthscan publ., USA.
171

[21]. Trinh Xuan Thuan. 2001. Le Chaos et l’harmonie. Libraine Arthem Fayard, Paris, France.

172

Phụ lục Thuật ngữ hệ thống

Sau đây là các thuật ngữ cơ bản sử dụng trong phân tích hệ thống: • Cân bằng (equilibrium). Là trạng thái ổn định, trạng thái tĩnh của hệ. Một hệ thống đạt trạng thái cân bằng nếu các dòng vào bằng dòng ra, do đó vốn của hệ không thay đổi dù rằng nội dung vốn liên tục thay đổi. • Cấu trúc (structure). Một bộ gồm vốn, dòng, mạng và tính ì (lính chậm trễ) quyết định sự gắn kết nội tại của hệ. Cấu trúc hệ xác định dãy các khả năng ứng xử của hệ. Tuy nhiên thuật ngữ cấu trúc thường được dùng để chỉ các yếu tố vĩnh cửu (permanent) hoặc được điều chỉnh chậm hoặc không thường xuyên (các yếu tố khá ổn định). • Chu kỳ trạng thái (state cycle). Một dãy trọn vẹn các trạng thái có thể có của hệ thống. • Chuyển pha (phase transition). Đối với hệ vật lý là sự chuyển trạng thái đi kèm với sự tương tác đồng thời ở tất cả các tỉ lệ. • Chuyển tiếp (transition). Là sự thay đổi về chất trong hành vi hệ thống tại một số giá trị tới hạn của các thông số kiểm soát. • Dòng (flow). Là sự chuyển giao vốn (nguồn dự trữ) giữa các bộ phận của hệ. • Đa phương diện (multi - factionality). Khả năng một yếu tố
173

trong hệ thống vừa có chức năng kích động (gây biến đổi trong các yếu tố khác) vừa có chức năng bị động (bị các yếu tố khác gây biến đổi). • Đầu ra (output). Dòng thoát ra khỏi hệ, thường đã bị biến dạng dưới một kiểu nào đó. • Đầu vào (input). Dòng vào của hệ, sẽ bị biến đổi trong hệ theo một cách thức nào đó. • Điểm cuối (sink). Điểm cuối cùng của động trong hệ thống. • Điểm tới hạn (bifurcation point hoặc critical point). Trong quá trình tiếp cận tới giá trị tới hạn (critical value) của một tham số kiểm soát (control parameter), một hệ thống vật lý có thể ứng xử theo cách rất ổn định. Điểm tới hạn là điểm mà các giá trị (thêm vào) dù nhỏ nhất cũng sẽ làm thay đổi cơ bản hành vi của hệ. Điểm tới hạn còn được gọi là điểm phân nhánh. • Entropy. Đại lượng đo nhiễu loạn trong một hệ thống hoá lý. Không thể xác định được entropy của hệ thống môi trường và phát triển, nhưng một số dạng nhiễu loạn nhân sinh có thể nhận diện được • Fractal. Cấu trúc gồ ghề, có thứ nguyên lẻ. • Hành vi (behaviour): là kiểu hoạt động của một hệ thống theo thời gian. Mỗi hệ thống có một kho lưu trữ hành vi. • Hệ thống. Một tập hợp các yếu tố liên kết với nhau, tạo ra cấu trúc có thứ bậc, tính trồi, tính lan toả và tính kiểm soát. Một số hệ thống là loại có tính động lực, thích ứng, có mục tiêu, tự điều chỉnh (tự bảo vệ) hoặc tiến hóa. Phụ hệ là một hệ thống con trong hệ, thượng hệ là một hệ thống lớn trong đó hệ đang xét là một hệ con. • Không gian pha (phase space). Một hệ thống có thể được
174

biểu diễn như một điểm tại một thời điểm bất kỳ trong một không gian tồn tại của nó được gọi là không gian pha, các trục của không gian là các tham số kiểm soát và tọa độ của hệ là giá trị hiện tại của hệ. • Kịch bản (scenario). Khái quát về kết quả kỳ vọng tùy thuộc vào điều kiện xuất phát và hành vi của hệ thống. • Lan tỏa (communication). Là đặc tính chuyển giao thông tin, trong trường hợp các hệ xã hội thì là chuyển giao ý nghĩa (meaning). • Mặt phẳng Poincaré. Mặt phẳng toạ độ vuông góc 2 chiều được lựa chọn trong số n chiều dùng để khảo sát quỹ đạo của hệ thống. • Mặt phẳng SAM. Mặt phẳng biểu diễn hiện trạng các tham số đặc trưng của một hệ thống dưới dạng các hình quạt trong một hình tròn có bán kính bằng giá trị kỳ vọng của mỗi tham số. Còn được gọi là biểu đồ SAM. • Mô hình (model). Một kiến trúc nhận thức dùng để mô tả. • Môi trường (environment). Là những thứ nằm ngoài ranh giới của hệ thống. • Mạng phản hồi (feedback loop): Chuỗi lặp lại các quan hệ nhan quả ở mạng phản hồi tiêu cực, những thay đổi giảm dần, ở mạng tích cực, các thay đổi tăng dần theo hướng lan truyền. Mạng phản hồi tiêu cực có xu thế kiểm soát sự tăng trưởng, hạn chế tăng trưởng. Mạng tích cực khuếch đại tăng trưởng. • Ngưỡng (threshold). Là điểm có sự thay đổi về chất trong hành vi của một yếu tố trong hệ thống hay của cả hệ thống. Vai trò của ngưỡng xuất hiện vì một số lí do. Ví dụ có thể xuất hiện như là chức năng của nhiều cản trở độc lập, từng cản trở có thể không hoạt động trong phạm vi phong toả của
175

các cản trở khác, mà hoạt động bên ngoài phạm vi ấy. Ngưỡng cũng xuất hiện trong các hệ rối loạn, khi các hệ có các đối hành vi ổn định và các đối hành vi không ổn định. • Học thuyết tai hoạ (catastrophe theory) là học thuyết cho rằng có những đột biến (đối lập với học thuyết chủ trương biến đổi dần dần) đôi khi cũng được sử dụng để mô tả những sự kiện xảy ra khi hệ sụp đổ hoặc biến dạng ghê gớm tại một số điểm đặc biệt. • Nguồn (source). Điểm xuất phát của dòng trong hệ thống. • Nhiễu loạn (chaos). - Hành vi lệch chuẩn của hệ thống. Có nhiễu loạn tiến hóa và nhiễu loạn suy thoái. Có nhiễu loạn quản trị được, có nhiễu loạn ngoài khả năng quản trị của con người. Không dự báo chính xác được nhiễu loạn. - Là khoa học của các quá trình chứ không phải của các trạng thái, là khoa học của cái sắp hình thành chứ không phải của cái đã xác lập Chaos xóa bỏ ranh giới giữa các lĩnh vực khoa học chuyên ngành, kể cả tự nhiên và xã hội. • Phi tuyến (non - linearity). Quan hệ không lẽ lệ giữa các giá trị nguyên nhân và kết quả, nói cách khác thì tổng hợp kết quả của việc thay đổi hai hay nhiều tham số kiểm soát không phải là tông của những kết quả xảy ra ở trong từng biến đổi riêng biệt. • Quá đích (overshoot). Vượt qua giá trị kỳ vọng. Điều này xảy ra khi làm chậm quá trình phản hồi, hoặc quá trình phản hồi không đủ (không tương hợp), làm cho hệ không thể tự điều chỉnh một cách tương hợp. Đây cũng là chức năng của tốc độ biến đổi hệ, ví dụ, sự chậm trê phản hồi có thể không gây ra vấn đề gì ở tốc độ biến đổi chậm, nhưng lại gây ra vấn đề khi
176

tốc độ biến đổi nhanh. • Ranh giới (boundary). Là đường phân chia cụ thể hay trừu tượng giữa hệ thống và môi trường xung quanh nó. • Sụp đổ (collapse). Là sự suy thoái không kiểm soát được của một hệ thống, thường xảy ra khi có hệ quả phản hồi kích động làm xói mòn ranh giới của hệ, hoặc khi có một sự kiện xâm lấn vào các ngưỡng của hệ. • Sự ghép nối (connectivity). Là đặc tính của các cấu trúc có chức năng chuyển giao tác động trong hệ thống • Sự trễ phản ứng (delay, time lag) là thời gian giữa nguyên nhân và kết quả. Một số yếu tố của một số hệ thống phản xạ chậm hơn các yếu tố khác. • Tài nguyên (resources). Phần vốn của hệ có thể tiếp cận được: có thể sử dụng bởi hệ thống hoặc có thể mang ra khỏi hệ như là một dạng đầu ra. • Thông tin (information). Là thứ giúp cho hệ giảm tính bất định. Về mặt kỹ thuật, thông tin được đo lường dựa vào số lượng các lựa chọn nhị nguyên (binary choices) cần thiết để xác định duy nhất một sự kiện. Khái niệm thông tin trong hệ nhân văn phức tạp hơn. • Tham số hóa (parameterisation). Tổ hợp các hiện tượng tỉ lệ nhỏ (phạm vi nhỏ) với mạng phản hồi để tạo ra một mô hình bằng cách lấy trị trung bình của một dãy các kết quả. • Thứ bậc (hierachy). Cấu trúc hữu hiệu được xác định bởi tính trồi, theo đặc trưng của các cấu trúc ấy mà các hệ thống được thiết lập, cũng như góp phần thiết lập các hệ thống khác lớn hơn hay nhỏ hơn. • Trạng thái (state). Trạng thái của hệ thống là tập hợp tất cả các đặc trưng quan trọng của hệ thống ở một thời gian bất kỳ.
177

Ở hệ bất biến, trạng thái của hệ là không thay đổi. Ở hệ động lực, trạng thái của hệ thay đổi liên tục. Khi mô hình hóa hệ thống, cẩn sử dụng các phương trình để mô tả bằng cách nào mà một hệ biến thành một hệ khác, và bằng cách nào mà hệ biến đổi theo thời gian. • Tuyến tính (linearity). Là quan hệ bậc 1 giữa nguyên nhân và kết quả, trong quan hệ này, kết quả của sự thay đổi hai hay nhiều tham số kiểm soát cùng lúc là tổng các kết quả thay đổi của riêng lừng tham số độc lập. Một số quan hệ phi tuyến (non - linearity) có thể được biểu diễn xấp xỉ với quan hệ tuyến tính, tuy nhiên nhiều hệ phi tuyến phức tạp thì không thể và không nên biểu diễn bằng mô hình tuyến tính. • Tính ổn định (stability). Khả năng của hệ thống chống lại nhiễu loạn. Hệ ổn định có entropy không đổi hoặc giảm dần đến 0. • Tính bất trắc (ergodicity). Một hệ bất trắc là một hệ, về nguyên tắc có thể chuyển từ bất cứ trạng thái cho trước sang bất cứ một trạng thái khác trong thời gian nhất định. Hệ bất trắc là hệ không thể dự báo trạng thái của nó. • Tính ì (attractor) Tính ì là sự ổn định của một trạng thái giúp hệ thống tách khỏi các trạng thái khác. Khi ở trong trạng thái ì, một hệ thống có xu thế duy trì nguyên trạng cho đến khi có một tác động bên ngoài đủ mạnh hoặc một biến đổi bên trong đủ mạnh để chuyển hệ thống ra khỏi trạng thái ì ban đầu. Lực ì có thể rất mạnh hoặc rất yếu. Một hệ thống có thể vận hành qua một loạt trạng thái lần lượt vượt qua từng trạng thái một (mỗi trạng thái ì đòi hỏi hệ phải dừng một khoảng thời gian). Một hệ biến đổi qua một chu kỳ tương đối đơn giản, thông qua cùng một diễn thế gồm nhiều trạng thái một cách liên tục, được gọi là hệ có chu kỳ hạn chế, hoặc hệ ì có chu kỳ. Hệ được gọi là ì kì
178

dị (strange attractor) nếu hệ có trạng thái tương đối ổn định, nhưng lại tạo ra các chu kỳ không ổn định. Một hệ ì kỳ dị sẽ có một quỹ đạo phân đoạn (fractal trajectory). • Tính trồi (emergence). Là tính chất của hệ thống nhưng các tổ phần riêng biệt của hệ không có. • Vốn (stock). Là kho dự trữ hoặc khối lượng vật chất, năng lượng hoặc thông tin (còn gọi là nguồn dự trữ trong hệ) giúp cho hệ tồn tại và biến đổi. • Vùng rộng (hyper-region). Vùng có khoảng tác động lớn. • Xói mòn (erosion). Là sự suy thoái nguồn tài nguyên cung cấp cho hệ. Điều này có thể xảy ra bên trong mạng phản hồi kích động, có nghĩa là tự thân sự xói mòn lại tạo ra một sự xói mòn tương lai. • Xuyên suốt (throughout). Dòng năng lượng, vật chất hay thông tin từ nguồn, vượt qua sự nhào nặn của hệ thống, đạt đến điểm cuối của hệ.

179

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asian Development Bank). APRS: Đánh giá và quy hoạch phát triển bền vững nông thôn (Assessing and Planning Ruralsustainabiltty). ARS: Đánh giá tính bền vững nông thôn (Assessing Rural Suslainability). ASI: Chỉ số bền vững nuôi trồng thủy sản (Aquaculture Sustainability lndex). BS: Thước đo tính bền vững (Barometer of Sustainability). CMI: Chỉ số nhiêu loạn quản lý của hệ thống (Chaos Management lndex). CP: Các vấn đề tổ hợp (Composite Problems). CPM: Độ đo nghèo tiềm năng (Capacity Poverty Measure). D: Thứ nguyên, chiều (Dimension). EDI: Chỉ số Downione Sinh thái (Ecological Downione lndex}. ESM: Độ đo dịch vụ môi trường (Environmental Selvice Measure). GDI: Chỉ số phát triển giới (Gender Development lndex). GSCS: Gia súc có sừng. HDI: Chỉ số phát triển nhân văn (Human Developmenl lndex). HPI: Chỉ số nghèo nhân văn (Human Poverty lndex). IPM: Quản lý dịch hại tổng hợp (lntegrated Pest Management). IUCN: Tổ chức Bảo tổn thiên nhiên Quốc tế (lntemational
180

Union for Conservation of Nature). LFA: Tiếp cận khung logic (Logical Framework Approach). LSI: Chỉ số phát triển bền vững địa phương (Local Sustainability lndex). NBBLK: Phương pháp phân tích Nhận, Biết, Bàn, Làm, Kiểm tra. PA: Tháp hành động (Pyramid of Action). PARS: Quy hoạch hành động nhằm phát triển bền vững nông thôn (Planning Actions for Rura/ Sustainability). PRA: Đánh giá nhanh có sự tham gia (Participatory RapidAppraisal) SA&P: Phân tích hệ thống và quy hoạch (System Ananysis and Planning). SAM: Biểu đồ đánh giá bền vững (Sustainability Assessment Mapping). SMART: Phương pháp phân tích Cụ thể (Specirc), Định lượng (Measurable), Đạt được (Achieve), Hiện thực (Realistic) và Thời gian (Time bound). SN: Thương thuyết chiến lược (Strategic Negotiation). SWOT: Phương pháp phân tích Thế mạnh (Strength), Điểm yếu (Weakness), Cơ hội (Oppotunity) và Đe dọa (Threat). TĐC: Tái định cư. UNDP: Chương trình phát triển Liên hợp quốc (United Nation Development Program). WB: Ngân hàng Thế giới (World Bank).

181

MỤC LỤC Trang
Giới thiệu chung........................................................................................ 2 Chương 1: Đại Cương về hệ thống ........................................................... 9 1.1. Định nghĩa...................................................................................... 9 1.2. Các đặc tính và chức năng của hệ thống........................................ 9 1.3. Xác định hệ thống ........................................................................ 14 1.4. Mô hình hóa các hệ thống ............................................................ 15 1.5. Tiến hóa và thích ứng của hệ thống ............................................. 18 1.6. Các ngưỡng của hệ thống và hệ sinh thái toàn cầu ...................... 23 1.7. Tính ổn định của hệ thống ........................................................... 25 1.8. Rủi ro của hệ thống ...................................................................... 27 1.9. Phi tuyến và điểm tới hạn............................................................. 28 1.10. Không gian pha và chuyển pha .................................................. 29 1.11. Tính mềm mại của hệ thống....................................................... 32 1.12. Các mức độ bền vững của các hệ thống kinh tế xã hội.............. 33 Chương 2: Đại Cương về tiếp cận hệ thống............................................ 36 2.1. Giới thiệu chung........................................................................... 36 2.2. Các hướng tiếp cận hệ thống........................................................ 41 Chương 3: Công cụ tiếp cận hệ thống ứng dụng trong nghiên cứu môi trường và phát triển................................................................................. 58 3.1. Giới thiệu Chung.......................................................................... 58 3.2. Thước đo tính bền vững (BS) ...................................................... 59 3.3. Phân tích hệ thống và quy hoạch ................................................. 62 3.4. Tháp hành động............................................................................ 64 3.5. Đánh giá và quy hoạch phát triển bền vững nông thôn ............... 65 3.6. Thương thuyết chiến lược ............................................................ 69 3.7. Biểu đồ SAM ............................................................................... 70 3.8. Biểu đồ Downjone sinh thái EDI ................................................. 74 3.9. Kiến tạo chỉ số.............................................................................. 76 3.10. Phương pháp xác định ưu tiên và trọng số ưu tiên..................... 82 3.11. Phân tích khung logic - LFA...................................................... 85 3.12. Phân tích SWOT ........................................................................ 90 3.13. Phân tích SMART...................................................................... 92 3.14. Phân tích NBBLK ...................................................................... 93 3.15. Quan sát hệ thống....................................................................... 94 3.16. Xác định nhiễu loạn hệ thống .................................................. 100 3.17. Tránh 10 phản đề thường gặp của tư duy hệ thống.................. 105 Chương 4: Các hệ thống sản xuất ......................................................... 117 4.1. Giới thiệu chung......................................................................... 117 182

4.2. Những đặc tính của các hệ sản xuất........................................... 118 4.3. Nguyên lý hiện tại trong phân tích diễn thế hệ thống sản xuất.. 124 4.4. Phân loại tài nguyên của các hệ sản xuất ................................... 125 4.5. Nghiên cứu trường hợp 1 - hệ thống chăn thả gia súc có sừng ở khu vực sa van khô hạn Ninh Thuận................................................. 126 4.6. Nghiên cứu trường hợp 2 - hệ thống nuôi thủy sản mặn lợ Nghĩa Hưng, Nam Định (năm 2002) ........................................................... 132 4.7. Nghiên cứu trường hợp 3 - Tính trồi của hệ thống tài nguyên môi trường và quản lý hệ thống trong phòng trừ sâu hại ......................... 143 4.8. Nghiên cứu trường hợp 4 - Ứng dụng Tiếp cận Hệ thống để xác lập các tiêu chí môi trường cho điểm tái định cư bền vững.............. 152 4.9. Nghiên cứu trường hợp 5 - Tính gồ ghề của hệ thống và ứng dụng ........................................................................................................... 163 Kết luận chung ...................................................................................... 168 Tài liệu tham khảo................................................................................. 170 Phụ lục thuật ngữ hệ thống ................................................................... 173

183

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 16 Hàng Chuối - Hai Bà Trưng - Hà Nội Điện thoại: (04) 9718312; (04) 9724770. Fax: (04) 9714899 E-mail: nxb@ vun.edu.vn

Chịu trách nhiệm xuất bản: Giám đốc: PHÙNG QUỐC BẢO

Tổng biên tập: NGUYỄN BÁ THÀNH Chịu trách nhiệm nội dung: Hội đồng nghiệm thu giáo trình Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Người nhận xét: PGS. TS NGUYỄN CHU HỒI TS NGUYÊN XUÂN CỰ Biên tập: Chế bản: Trình bày bìa: TRẦN VĂN HÙNG THÁI HÀ NGỌC ANH

TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN Mã số: 1K-01 ĐH2007 In 300 cuốn, khổ 14,5 x 20,5 cm tại Nhà in Đại học Quốc gia Hà Nội Số xuất bản: 301 - 2006/CXB/60 - 54/ĐHQGHN, ngày 25/04/2006 Quyết định xuất bản số: 14 KH/XB In xong và nộp lưu chiểu quý 1 năm 2007.
184