Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Mục lục
I. ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................... 4
II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .......................................................................................5
U

2.1 Nguyên lý chung của "Quản lý tài nguyên rừng":.......................................................5
2.2 Hệ thống quản lý rừng ở Việt Nam ............................................................................6
2.3 Sinh kế người dân trong quan hệ với tài nguyên rừng...............................................9
2.2.1 Khái niệm và phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững........................................9
2.2.2 Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân .................................................11
2.4 Tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên.................................................................13
2.4.1 Khái niệm, đặc trưng và loại hình tri thức bản địa.............................................13
2.4.2 Kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên rừng ...............................................15
2.4.3 Kiến thức bản địa ở Việt Nam............................................................................16
III. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ................................................................17
U

3.1. Mục tiêu ..................................................................................................................17
3.2. Nội dung nghiên cứu...............................................................................................17
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................................................................17
U

4.1. Phương pháp thu thập số liệu.................................................................................17
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu ..............................................................................18
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...........................................................................................18
U

5.1 Tình hình chung của điểm nghiên cứu.....................................................................18
5.2 Hiện trạng và tình hình biến động tài nguyên rừng trên địa bàn xã .........................21
5.3. Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân xã Phú Vinh..................................24
5.3.1 Khai thác lâm sản phẩm như là nguồn thu nhập cho gia đình ...........................24
5.3.2 Khai hoang và sử dụng đất lâm nghiệp..............................................................27
5.3.2.1. Khai hoang sử dụng đất lâm nghiệp cho sản xuất nông nghiệp .................27
5.3.2.2. Khai hoang đất rừng để xây dựng nhà ở ....................................................30
5.3.3. Sử dụng rừng như là nguồn thức ăn cho chăn nuôi và bãi chăn thả ................31
5.3.4. Nguồn thu nhập của các hộ gia đình từ hoạt động trồng rừng.........................31
5.3.5. Chức năng sinh thái và giá trị văn hóa của rừng đối với đời sống người dân địa
phương .......................................................................................................................32
5.3.6. ảnh hưởng của công tác quản lý rừng ở địa phương đến sinh kế phu thuộc vào
rừng của người dân ....................................................................................................32

1

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

5.4. Kiến thức bản địa của người dân địa phương trong quản lý và sử dụng tài nguyên
rừng ...............................................................................................................................33
5.4.1. Kiến thức bản địa về quản lý.............................................................................34
5.4.1.1. Đối với người Kinh (Việt).............................................................................34
5.4.1.2. Đối với người Tà Ôi (Pa Cô) .......................................................................34
5.4.2. Kiến thức bản địa trong sử dụng tài nguyên rừng.............................................35
5.4.2.1. Kiến thức bản địa trong phân loại, sử dụng và bảo vệ đất..........................35
5.4.2.2. Kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy...............................................37
5.4.2.3. Kiến thức bản địa trong khai thác, bảo tồn và sử dụng các sản phẩm rừng
.................................................................................................................................39
5.4.3. Vai trò của kiến thức bản địa trong chiến lược phát triển bền vững .................41
5.5 Các phương thức quản lý rừng hiện có tại địa phương ...........................................42
5.5.1 Quản lý nhà nước ..............................................................................................42
5.5.2 Quản lý cộng đồng .............................................................................................44
5.5.3 Quản lý tư nhân (hộ gia đình) ............................................................................44
5.6. Vai trò của các bên liên quan trong quản lý tài nguyên rừng ở Phú Vinh ...............45
5.6.1 Quyền lực và mức độ ảnh hưởng của các bên liên quan đến hoạt động quản lý
TNR tại địa bàn nghiên cứu ........................................................................................46
5.6.1.1 Lâm trường A Lưới ......................................................................................46
5.6.1.2 UBND xã Phú Vinh.......................................................................................48
5.6.1.3. Hạt kiểm lâm A Lưới ...................................................................................50
5.6.1.4. Cộng đồng người dân địa phương..............................................................51
5.6.2. Quan điểm của các bên liên quan đối với hoạt động quản lý tài nguyên rừng
trên địa bàn .................................................................................................................60
5.6.2.1. Quan điểm của chính quyền địa phương....................................................60
5.6.2.2. Quan điểm của người dân ..........................................................................61
5.6.2.3. Quan điểm của Hạt kiểm lâm A Lưới ..........................................................61
5.6.4.4. Quan điểm của Lâm trường A Lưới ............................................................61
5.7. Các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên địa bàn theo cách nhìn của
lãnh đạo và người dân địa phương. ..............................................................................61
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................................63
6.1. Kết luận...................................................................................................................63
6.2. Đề nghị....................................................................................................................64
2

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Bảng biểu
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Phú Vinh ..........................................................19
Bảng 2: Các thôn của xã Phú Vinh và đặc đIểm của chúng ..........................................20
Bảng 3: Biến động loài động thực vật rừng theo thời gian.............................................23
Bảng 4: Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình .....................................................................26
Bảng 5: Tỉ lệ hộ khai thác lâm sản từ rừng ....................................................................26
Bảng 6: Cách nhận biết đất tốt, xấu...............................................................................35
Bảng 7: Nông lịch của người Tà Ôi................................................................................37
Bảng 8: Ngày thích hợp cho các loại cây trồng..............................................................38
Bảng 9: Kinh nghiệm dự báo thời tiết ............................................................................38
Bảng 10: Công dụng của các sản phẩm từ rừng ...........................................................39
Bảng 11: Vai trò của người dân trong hoạt động phát hiện ...........................................51
và ngăn chặn những hành vi vi phạm lâm luật...............................................................51
Bảng 12: Vai trò của người dân trong hoạt động phòng chống cháy rừng ....................54
Bảng 13: Vai trò của người dân trong hoạt động nhận khoán bảo vệ rừng của lâm
trường ......................................................................................................................56
Bảng 14: Vai trò của người dân trong hoạt động trồng và chăm sóc rừng ....................58

3

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Với trên 70% tổng diện tích tự nhiên và là nơi cư trú của ít nhất 1/3 dân số quốc
gia, vùng rừng núi Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của đất
nước, nơi đã và đang thuộc diện quan tâm chính của chính phủ Việt Nam (Chu Hữu
Quý, 1995; Rambo, 1995) . Đây cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu
số với nguồn lợi và sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên trong đó chủ
yếu là tài nguyên rừng và đất rừng. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đang cạn kiệt và
suy thoái do áp lực của gia tăng dân số, canh tác nương rẫy, khai thác gỗ vượt trội cho
tiêu dùng và sản xuất công nghiệp. Các thay đổi bất lợi này lại càng gây khó khăn cho
các nỗ lực xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế miền núi. Đời sống của các cộng
đồng dân cư, nhất là cộng đồng các dân tộc thiểu số trên và gần địa bàn rừng vì vậy
vẫn còn rất khó khăn. Thử thách lớn cho việc quản lý bền vững tài nguyên rừng và đất
rừng vùng miền núi Việt Nam là bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên cùng với việc
giảm nghèo cho người dân địa phương (Bảo, 1999).
Tỉnh Thừa Thiên Huế có 45 xã miến núi chủ yếu thuộc 2 huyện vùng cao A Lưới
và Nam Đông, là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số: Pa ko, Tà ôi, Vân Kiều,
Ktu, Pahy. Vùng miền núi Thừa Thiên Huế có diện tích đất nông nghiệp rất ít, diện tích
đất lâm nghiệp (có rừng và chưa có rừng) chiếm tỉ lệ rất cao (trên 70%). Rừng và đất
rừng hiện tại vẫn đóng một vai trò thiết yếu trong đời sống của người dân miền núi
Thừa Thiên Huế (đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số). Chức năng của rừng thể
hiện qua các mặt: Cung cấp thức ăn thông qua các sản phẩm động thực vật như thú
rừng, cá suối, rượu đoác, mật ong, rau quả,...; Cung cấp các nguyên vật liệu cho sản
xuất như lá cọ, mây, tre, gỗ; Là nguồn cung cấp thuốc chữa bệnh và bổ dưỡng sức
khoẻ; Nhiều sản phẩm rừng như mây, tre, lá nón, thú rừng, mật ong, cá chình, ... là
nguồn thu nhập tiền mặt quan trọng cho người dân đặc biệt là các hộ nghèo. Hiện trạng
sử dụng rừng tự nhiên của người dân miền núi Thừa Thiên Huế theo cách truyền thống
là tận dụng hợp lý các sản phẩm phi gỗ- cho thấy họ không phải là người gây ra sự suy
giảm nghiêm trọng tài nguyên rừng hiện nay (Bảo, 1999; Hoàng, 2001). Rừng ở đây
còn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giữ nước, điều hoà dòng chảy, hạn chế lũ
lụt và hạn hán không chỉ trên địa bàn mà còn cho cả vùng đồng bằng của tỉnh.
Theo luật pháp của nhà nước Việt Nam, tài nguyên đất đai thuộc sở hữu toàn dân
và do nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài và ổn
định cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình (Luật đất đai ban hành 1993). Về mặt địa
giới hành chính, diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc về các xã có rừng nhưng cộng
đồng ở nhiều địa bàn trong tỉnh chỉ được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp. Hầu hết
diện tích rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp đều được nhà nước giao cho các cơ quan
lâm nghiệp quốc doanh quản lý. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chương trình
và chính sách nhằm bảo tồn và khôi phục tài nguyên rừng và đất rừng cho mục tiêu
phòng hộ và sinh kế của người dân địa phương (chương trình 327, chương trình 5 triệu
ha rừng, chương trình trồng rừng theo ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương).
Các chương trình/ chính sách này đã và đang được triển khai ở Thừa Thiên Huế. Vì
vậy, rừng và tài nguyên rừng ở Việt Nam nói chung, ở Thừa Thiên-Huế nói riêng trong
những năm gần đây đã có sự phục hồi và giàu lên. Tuy thế còn nhiều vấn đề đặt ra cho
khối tài nguyên đang được đặc biệt chú ý trong chiến lược phát triển bền vững vùng
cao, trong đó có vấn đề quản lý và sử dụng các nguồn lợi từ rừng và đất rừng. Trong
tiến trình quản lý và thực hiện các chương trình/ chính sách, các cơ quan nhà nước đều
thực hiện nhiệm vụ và chức năng của mình một cách độc lập. Nhiệm vụ và hệ thống tổ
chức lâm nghiệp các cấp không ổn định và còn chồng chéo, chưa đồng bộ (Võ Văn Dự,
2003). Hay nói một cách khác, giữa cách thức quản lý Nhà nước và cách thức quản lý
4

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

truyền thống về rừng đang còn nhiều mâu thuẫn, xung đột. Hiệu quả của công tác bảo
tồn và phát triển tài nguyên rừng và đất rừng vì vậy còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu
thực trạng quản lý tài nguyên rừng và ảnh hưởng của nó đến sinh kế của người dân
miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ góp phần cái thiện tính bền vững của quản lý rừng
cho cả mục tiêu phòng hộ và phát triển.
A Lưới là một huyện vùng cao của tỉnh Thừa Thiên Huế, có tổng diện tích tự
nhiên là 1229,02 km2, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 73.561,6 ha, chiếm 65% tổng
diện tích đất tự nhiên. Rừng và đất lâm nghiệp ở A Lưới đã và đang bị suy giảm do
nhiều nguyên nhân như ảnh hưởng của chất độc trong chiến tranh, khai thác không
hợp lý cho tiêu dùng và sản xuất, v.v. Toàn huyện có 5.221,5 ha ha đất nông nghiệp,
chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với tổng diện tích đất tự nhiên (4,6%). Đây là nơi sinh sống chủ
yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Tổng dân số của huyện năm 2004 là
39.372 người, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm trên 90% (Niên giám thống kê
huyện A Lưới, 2004). Tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp đã và đang là nguồn sống
quan trọng của người dân trong huyện do bởi đất nông nghiệp rất hạn chế. Hiểu thực
trạng quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn sẽ là cơ sở khoa học để phát triển
các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp cho mục tiêu bảo tồn
cũng như tạo sinh kế cho người dân địa phương.
Do hạn chế về thời gian và các nguồn lực khác, nghiên cứu chỉ tập trung vào
trường hợp của xã Phú Vinh - một xã nằm không xa thị trấn Bốt Đỏ của huyện nhưng
đang gặp rất nhiều vấn đề về sử dụng đất và tài nguyên rừng.
II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên lý chung của "Quản lý tài nguyên rừng":
Có ba phương diện được nói tới trong quản lý rừng:(1) Phương diện khoa học/kỹ
thuật, quen thuộc với các cán bộ có nghiệp vụ lâm nghiệp; (2)Phương diện tổ chức/cơ
cấu, là lĩnh vực của các nhà quản lý; (3) Phương diện bản địa/ngoài kỹ thuật, là lĩnh
vực của người dân địa phương.
Về mặt khoa học kỹ thuật, tổng quan của Synnott (trích từ sách của Jessup và
Peluso, 1986) nêu rõ quản lý rừng gồm việc điều tiết ánh sáng và độ tàn che, cách xử lý
để nuôi dưỡng cây cá thể và các loài có giá trị và giảm số lượng những cây không cần
thiết, chặt dây leo, diệt cây ngoài mục đích, làm giàu và tuyển chọn. Cũng theo Synnott,
“quản lý” gồm việc ấn định mục tiêu quản lý, kiểm tra sản lượng, bảo vệ, lập kế hoạch
điều chế, chọn luân kỳ chặt hạ, chặt hạ, làm đường, xây dựng cơ sở hạ tầng, xác định
ranh giới, lập ô dạng bản, dự báo năng suất, kiểm tra chi phí, lập sổ sách hàng năm và
tổ chức các công tác lâm sinh.
Về mặt tổ chức, quản lý rừng có nghĩa là một sự kết hợp giữa biện pháp tổ chức
với cách sắp xếp kỹ thuật mà người sử dụng - trong các dự án là người bảo trợ - nói
chung đã thỏa thuận. Đưa yếu tố “tổ chức” vào chúng ta nhấn mạnh tới bối cảnh xã hội
của quản lý, vốn là điều rất quan trọng nhưng thường đã bị bỏ qua trong các tài liệu bàn
về kỹ thuật lâm nghiệp. Fisher đã định nghĩa quản lý rừng có dựa vào cả kỹ thuật và tổ
chức là “một tập hợp các cách bố trí kỹ thuật và xã hội gắn với quản lý rừng, trong đó có
bảo vệ, thu hoạch và phân phối sản phẩm” (Trích từ Brokensha và Castro, 1987).
Một định nghĩa bao trùm đầy đủ hơn đề cập đến các phương thức quản lý của
người bản địa. Đó là những phương thức đặc biệt “không kỹ thuật”, “không khoa học”
5

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

và thường “không có tính tổ chức” cao theo một số người, nhưng đó lại là một cách tổ
chức, một tấm gương phản ánh rõ cơ cấu xã hội của nhóm người có liên quan. Điều
này các cơ quan Nhà nước hoặc các tổ chức phát triển thường không hiểu và bỏ qua,
họ không chấp nhận sự tồn tại và tầm quan trọng của các phương thức quản lý này.
Cụ thể về phương diện bản địa, quản lý rừng được coi như là những phương
thức thu hoạch, sử dụng, chăm sóc, tái sinh và cải thiện tài nguyên cây rừng và các tài
nguyên khác gắn với chúng như muông thú, nước, đặc sản,... của nông dân nhằm đạt
tới những năng suất bền vững trong thời gian dài. Việc sử dụng linh động khái niệm đó
là cần thiết do các cộng đồng đã quản lý rừng theo các phương thức khác nhau.
Như vậy, quản lý rừng ở đây được định nghĩa gồm cả ba phương diện: đó là một
loạt các sắp xếp tổ chức, kỹ thuật và bản địa dựa trên các yếu tố khoa học và dân gian
liên quan tới việc tổ chức, kiểm tra, quyền hưởng thụ và phân bổ lợi ích của các hệ sinh
thái rừng. Chúng gồm những cây riêng rẽ, đám cây trồng, khu rừng trồng, rừng tự nhiên
cùng với các sản phẩm gắn với chúng như đặc sản chim thú cũng như các khả năng
sinh lợi khác về nông lâm nghiệp (nông lâm kết hợp), chăn nuôi gia súc và thú rừng.
2.2 Hệ thống quản lý rừng ở Việt Nam
Tài nguyên rừng và đất rừng phát triển hoặc suy thoái đều liên quan chặt chẽ với
phương thức quản lý và thể chế xã hội. Rừng ở nước ta thay đổi về số lượng và chất
lượng qua các thời kỳ, với những chính sách đúng sẽ duy trì và phát triển nguồn tài
nguyên này và ngược lại.
Thời kỳ trước cải cách ruộng đất (1954 ở miền Bắc Việt Nam): Việt Nam chưa
có hình sở hữu nhà nước về rừng. Rừng và đất rừng lúc đó thuộc sở hữu tư nhân
và cộng đồng thôn bản. Hình thức quản lý tư nhân và cộng đồng cùng với nguồn tài
nguyên rừng lúc đó còn dồi dào, nhu cầu của con người chưa vượt quá sự tái tạo
của rừng do mật độ dân số thấp, giao thông hạn chế đã cho kết quả là độ che phủ
rừng của Việt Nam đạt trên 43%. Điều đáng lưu ý là hình thái quản lý cộng đồng lúc
đó rất phổ biến ở hầu hết các thôn bản miền núi và tồn tại trước đó một thời gian rất
dài.
Từ sau cải cách ruộng đất 1954 đến 1993: Sau cải cách ruộng đất nhà nước
khẳng định quyền sở hữu về rừng. Khi này, quản lý rừng nhà nước là phổ biến, rừng
được giao cho các lâm trường quốc doanh và chính quyền địa phương quản lý thông
qua các hợp tác xã. Thực tế, đây là một chính sách đúng trong giai đoạn đầu khi miền
Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong giai đoạn chiến tranh giải phóng
miền Nam. Một mặt vì khả năng bao cấp của nhà nước còn lớn, cộng với sự hỗ trợ của
bên ngoài, mặt khác nhu cầu của con người lúc đó chưa vượt quá khả năng cung cấp
của rừng nên tài nguyên rừng được bảo vệ. Nhưng sau giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước năm 1975, mọi người dân đều thoả mãn sau chiến thắng, sự quan tâm
chuyển sang lo lắng cho cuộc sống kinh tế và vì vậy họ bắt đầu thấy nhu cầu của họ
dần dần bị thiếu hụt. Dân số bắt đầu tăng nhanh, mặt khác quản lý nhà nước trong thời
kỳ bao cấp đã dần bộc lộ những nhược điểm trong quản lý tài nguyên, nhất là tài
6

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

nguyên rừng, dẫn đến từ đây sự xung đột về quyền sử dụng rừng giữa lâm trường, hợp
tác xã với nông dân. Trong tiềm thức của người dân địa phương, rừng là của họ vì bao
đời nay họ sống với rừng. Do đời sống ngày càng khó khăn, sự sa sút của nền kinh tế
trong thời kỳ bao cấp, rừng dần dần bị tàn phá với mục đích đốt rẫy làm nương để sinh
sống, chặt gỗ trộm để bán, ..., dẫn đến tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng (độ
che phủ giảm gần 1/2 so với thời kỳ trước 1954).
Trước thực trạng trên Nhà nước đã có những quyết sách thể hiện rõ từ 1986.
Bắt đầu thời kỳ đổi mới, tức là chuyển đổi dần từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
bao cấp sang nền kinh tế thị trường với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Hậu quả của thể chế cũ đã dẫn đến nhiều hợp tác xã, nhiều
lâm trường quốc doanh phải giải thể (Phan Thanh Xuân, 1998).
Từ năm 1993: Luật đất đai ra đời và Nghị định 02/CP năm 1994 của chính phủ
về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào
mục đích lâm nghiệp đã cho ra khung pháp lý về quyền sử dụng rừng và đất rừng, đặt
nền móng cho hệ thống quản lý rừng và đất rừng là: Quản lý nhà nước, quản lý tư nhân
và quản lý của các tổ chức chính trị, xã hội. Cùng với những cải cách lớn về nông
nghiệp và nông thôn, việc trao quyền quản lý rừng và đất rừng cho hộ gia đình và tư
nhân ở miền núi đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ loại hình quản lý tư nhân.
Sau khi Nghị định số 02/CP được ban hành qua một thời gian thực hiện còn nhiều
thiếu sót chưa được đáp ứng với tình hình thực tế nên Chính Phủ đã ban hành Nghị
định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính Phủ về giao đất, cho thuê đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cáï nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm
nghiệp thay thế cho Nghị định số 02/CP.
Tiếp theo đó là Thông tư liên tịch giữa Bộ NN&PTNT với Tổng cục Địa chính số
62/2000/TTL/BNN-TCĐC ngày 6/6/2000 hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg
ngày 12/11/2001 quy định quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được
giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Những văn bản pháp quy, thể hiện cụ thể chính sách của Đảng và Nhà nước ta
liên quan đến vấn đề giao đất, giao rừng kể trên là những căn cứ pháp lý để các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân thực hiện, triển khai công tác này có hiệu quả.
Tuy nhiên, các văn bản pháp quy có liên quan đến vấn đề giao rừng và đất lâm
nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn này vẫn chỉ mới thừa nhận vai trò của các tổ chức,
cá nhân, hộ gia đình mà chưa quan tâm vai trò của cộng đồng trong việc nhận đất,
nhận rừng.
Chính sách của Đảng và Nhà nước đang trong quá trình thể chế hóa, từng bước
thực hiện phân cấp quản lý tài nguyên rừng, tiếp tục mở ra hướng phát huy vai trò quản
lý rừng của cộng đồng, điều này được thể hiện rõ trong Luật Đất đai năm 2003: “Cộng
đồng thôn bản được công nhận là đối tượng được giao đất". Tuy nhiên, theo Luật Dân

7

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

sự (1995) và Luật Đất đai (2003) thì cộng đồng dân cư thôn không thuộc phạm vi điều
chỉnh của đối tượng đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất và đất rừng đặc dụng.
Để tạo cơ sở pháp lý cho các đối tượng tham gia quản lý tài nguyên rừng, Luật
Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi năm 2004 đã quy định rõ về quyền sử dụng rừng,
quyền sở hữu rừng và nghĩa vụ của các chủ rừng; đồng thời đã đề cao trách nhiệm của
chủ rừng đối với rừng đã được giao, được thuê, rừng trồng thuộc quyền sở hữu của
mình. Đây chính là động lực thúc đẩy các chủ rừng yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh
lâm nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
năm 2004 đã chính thức công nhận vai trò, vị trí của cộng đồng dân cư thôn trong việc
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn đối với rừng được giao được quy
định cụ thể tại Khoản 1 và 2, Điều 30 của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004.
Quy định này đã giới hạn nhiều điểm như: "Không được phân chia rừng cho các thành
viên trong cộng đồng dân cư thôn; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho,
cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng
được giao" (Mục đ, Khoản 2, Điều 30, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004). Từ
các giới hạn đó cho thấy cộng đồng dân cư thôn được giao rừng chủ yếu là phục vụ
cho mục đích chung của cộng đồng. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để đảm
bảo khả năng quản lý, giám sát của nhà nước đối với rừng giao cho cộng đồng dân cư
thôn (Nguyễn Bá Ngãi, 2004).
Bên cạnh những chính sách về quản lý đất rừng, Đảng và Nhà nước ta cũng đã
có các chương trình/dự án lớn nhằm phát triển vốn rừng. Từ hơn 14 triệu ha rừng tự
nhiên vào năm 1943, đến nay Việt Nam chỉ còn 9,8 triệu ha rừng tự nhiên và gần 2 triệu
ha rừng trồng vào năm 2001. Các chương trình trồng rừng trong những như Chương
trình PAM, Chương trình 327, Chương trình 773 và gần đây là Chương trình trồng mới
5 triệu ha rừng,... đã làm cho độ che phủ tăng lên, mục tiêu là đạt tới độ che phủ 43%
của năm 1943.
Trong một vài năm trở lại đây, với định hướng xây dựng và phát triển vốn rừng
theo Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010, chăm sóc, nuôi dưỡng
rừng có một vị trí cực kỳ quan trọng không chỉ cho rừng trồng mà cả cho các đối tượng
rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi nhằm góp phần đưa rừng và nghề rừng ở Việt Nam trở
thành một ngành kinh tế có vị thế xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân. Chương trình
5 triệu ha rừng từ năm 1998 đến năm 2010 với mục tiêu đẩy mạnh tốc độ trồng rừng,
phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chú trọng bảo vệ vốn rừng hiện có và trồng rừng mới,
phát huy có hiệu quả chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ và
phát huy tính đa dạng sinh học, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Một trong những nguyên tắc chỉ đạo của Chương trình là nhân dân là lực lượng chủ
yếu trồng rừng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng và được hưởng lợi ích từ nghề rừng.
Kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ diện tích rừng hiện có
với nhiệm vụ định canh, định cư, xóa đói, giảm nghèo (Quyết định 661/QĐ-TTg).
8

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

2.3 Sinh kế người dân trong quan hệ với tài nguyên rừng

2.2.1 Khái niệm và phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững
Theo DIFID (1999), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả
năng mà con người có được , chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.
Các nguồn lực và khả năng mà con người có, được xem là các vốn hay tài sản
sinh kế bao gồm 4 loại sau:
- Vốn con người: bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng cá nhân và
các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc để họ đạt được
những kết quả sinh kế.
- Vốn xã hội: đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các tổ chức xã hội và
các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó được
những cơ hội và lợi ích khác nhau.
- Vốn tự nhiên: là các cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc một cộng
đồng) mà con người trông cậy vào, ví dụ như đất đai, mùa màng, vật nuôi, rừng, nước
và các nguồn tài nguyên ven biển.
- Vốn tài chính: là các nguồn lực tài chính mà con người có đợc như nguồn thu
nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền
mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước.
- Vốn vật chất: bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sản
của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, hư giao thông, hệ thống cấp nước và năng lượng,
nhà ở và cá đồ dùng, dụng cụ trong gia đình.
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử dụng và
quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như đạt được
mục tiêu và ước vọng của họ. Những lựa chọn và quyết định của người dân cụ thể như
là: Quyết định đầu tư vào loại nguồn vốn hay tài sản sinh kế; Qui mô của các hoạt
động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi; Cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản
sinh kế; Cách thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết để
kiếm sống; Họ đối phó như thế nào với rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng
hoảng ở nhiều dạng khác nhau; và họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ
có như thế nào để làm được những điều trên;...
Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế - đó là những
điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài, bao gồm:
- Sự hưng thịnh hơn: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn; kết
quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng
tiền của hộ gia đình thu được gia tăng.
- Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người ta
còn đánh giá đời sồng bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác. Sự đánh giá
về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố, ví dụ như căn cứ
vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiẹn
sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt, sự an toàn của đời sống vật chất, vâng
vâng.
- Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải luôn sống trong trạng
thái dể bị tổn thương. Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo vệ gia
đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình. Việc
giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị trường, an toàn sau các thảm
họa, khả năng kiểm soạt dịnh bệnh gia súc, vâng vâng.
- An ninh lương thực được cũng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi trong sự tổn
thương và đói nghèo. Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông
9

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn định thu hoạch
mùa màng, đa dạng hóa các loại cây lương thực vv.
- Sử dụng bền vững hơn cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên: Sự bền vững môi
trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho các kết quả
sinh kế khác.
Sinh kế của con người phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng của những
nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận.
Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục
hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và
tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài
nguyên thiên nhiên.
Các thành tố của một sinh kế có mối quan hệ nhân quả và chiến lược sinh kế của
con người chịu sự tác động bởi các yếu tố bên ngoài. Điều này được thể hiện trong
khung phân tích sinh kế dưới đây (DIFID,....):
Sơ đồ 1 : Khung phân tích sinh kế
Những thay đổi
trong thực trạng tài
sản và chiến lược
sinh kế

Bối cảnh tổn thương
- Sốc và khủng hoảng
- Những xu hướng kinh tếxã hội và môi trường
- Sự dao động theo kỳ, thời
vụ

Vốn con người

Vốn xã hội

Vốn vật chất

Vốn tự nhiên

Vốn tài chính

Chiến lược sinh

Kết quả sinh kế
- Thu nhập tốt hơn
- Đời sống nâng cao
- Khả năng tổn thương giảm
- An ninh lương thực củng cố
- Sử dụng tài nguyên thiên nhiên
bền vững

Thề chế, chênh saïch
- Chính sách và pháp luật
- Các cấp chính quyền
- Dịch vụ nhà nước, tæ nhán
- Luáût tuûc, táûp quaïn
- Thiãút chãú cộng đồng

Bối cảnh tổn thương đề cập tới phạm vi người dân bị ảnh hưởng và bị lâm vào
các loại sốc (mùa màng thất bát, chiến tranh, xung đột, lâm bệnh,...), xu hướng gồm cả
các xu hướng kinh tế - xã hội, môi trường (xu hướng tăng dân số, xu hướng phát triển
kinh tế , xu hướng tài nguyên suy giảm,...) và sự dao động (giao động về giá cả thị
trường, giao động về việc làm,...).
10

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Một đặc điểm quan trọng trong khả năng tổn thương là con người không thể dễ
dàng kiểm soát những yếu tố trước mắt hoặc dài lâu hơn nữa. Khả năng tổn thương
hay sự bấp bênh trong sinh kế tạo ra từ những yếu tố này là rất phổ biến và thường
xuyên, đặc biệt với những hộ nghèo. Điều này chủ yếu là do họ không có khả năng tiếp
cận với những nguồn lực có thể giúp họ bảo vệ mình khỏi những tác động xấu.
Các chính sách và thể chế bao gồm các chính sách, luật lệ và những hướng dẫn
của Nhà nước, những cơ chế, luật tục và phong tục của công đồng, các cơ quan, tổ
chức và dịch vụ nhà nước cũng như tư nhân, có những tác động lên các khía cạnh của
sinh kế. Đây là một phần quan trọng trong khung phân tích sinh kế bền vững vì nó ảnh
hưởng đến khả năng tiếp cận với các nguồn lực sinh kế, những chiến lược sinh kế, lợi
ích của người dân khi thực hiện hoặc đầu tư một số hoạt động sinh kế nhất định. Ngoài
ra, đây còn là những yếu tố tác động lên cả các mối quan hệ cá nhân trong cộng đồng
và khả năng liệu người dân có thể nằm trong bối cảnh để đạt được những điều kiện
sống tốt.
Khung phân tích sinh kế là một công cụ được sử dụng để áp dụng cách tiếp cận
sinh kế bềnh vững. Đây là cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm đồng thời cố
gắng tìm hiểu những vấn đề về kinh tế-xã hội và quản lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên từ góc nhìn thông qua con người. Nó giúp nhà nghiên cứu xem xét những yếu tố
khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặt biệt là các yếu tố gây khó khăn
và tạo cơ hội trong sinh kế. Đồng thời giúp tìm hiểu những yếu tố này liên quan với
nhau như thế nào.
Theo khung phân tích này, tiếp cận nghiên cứu sinh kế bắt đầu bằng việc phân
tích các chiến lược sinh kế của con người. Xem xét chiến lược đó thay đổi qua thời
gian chịu ảnh hưởng của bối cảnh tổn thương và chính sách, thể chế như thế nào.
Phân tích sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng gữa các nhóm hộ khác nhau trong cộng
đồng và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của họ trong các chương
trình của nhà nước. Phương pháp tiếp cận này đặc biệt chú ý đến việc lôi cuốn người
dân tham gia và tôn trọng ý kiến của họ, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hỗ trợ
người dân đạt được các mục đích sinh kế của họ.

2.2.2 Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân
Tài nguyên rừng bao gồm đất rừng, bải chăn thả gia súc, cây cối, động vật rừng,
các nguồn lâm sản khác và dược liệu, nguồn gen, nguồn nước,... được xem là tài sản
sinh kế (vốn tự nhiên) của mỗi hộ dân và cả cộng động. Xét trong mối quan hệ với các
nguồn lực khác, tài nguyên rừng là nguồn lực tạo ra các nguồn lực khác: Bán sản phẩm
thu lượm từ rừng sẽ cho những khoản tiền mặt, bổ sung cho nguồn lực tài chính; Quản
lý và sử dụng tài nguyên rừng dưới hình thức cộng đồng làm tăng mối liên kết và quan
hệ giữa các cá nhân, bổ sung cho nguồn vốn xã hội.
Rừng là trung tâm sự sống của con người chừng nào con người còn sống trên trái
đất. (Bishop, 1999). Rừng mang lại nhiều lợi ích không những cho địa phương mà còn
cho quốc gia và cả thế giới.
Rừng là nơi sinh sống cho hơn 200 triệu người ở vùng nhiệt đới (Brown et al,
1991). Họ có thể là những người dân sống ở vùng rừng qua nhiều thế hệ, mới chuyển
đến như là người đến định cư hoặc là sống tạm, hoặc là người nơi khác đến để khai
thác rừng.
Rừng cung cấp gỗ và năng lượng cho con người. Giá trị các loại sản phẩm gỗ
được buôn bán trên thị trường thế giới hàng năm lên đến 36000 triệu USD. Ước tính
của FAO vào năm 1990, lượng tiêu thụ củi đốt và than củi của cả thế giới lên đến 1800
triệu m3 (FAO, 1992a).
11

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Rừng cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ bao gồm thực phẩm, thảo dược, nhựa,
sợi, thức ăn cho gia súc và những sản phẩm cần thiết khác. Số liệu điều tra ở
Camerun, Côte D’lvoire, Ghana và Liberia cho thấy động vật rừng chiếm từ 70 – 90%
tổng lượng protêin động vật được tiêu thụ (FAO, 1993g).
Theo một nghiên cứu của Sounthone Ketphanh (Lào), người dân nông thôn dùng
lâm sản để ăn (măng tre nứa, lá một số loại cây, cá suối và thịt chim thú), làm vật liệu
xây dựng(mây tre, cây quanh vườn, lá lợp ), công cụ săn bắn và canh tác . Với 90%
dân cư sống ở vùng nông thôn có đến 50% thu nhập của các hộ dân nông thôn là từ
lâm sản ngoài gỗ.
Rừng mang lại những lợi ích về môi trường cho con người. Rừng có chức năng
bảo vệ môi trường không những ở địa phương mà còn cả khu vực. ở những vùng có
độ dốc cao, rễ cây rừng có tầm quan trọng trong việc ngăn chặn xói mòn, sạt lở đất.
Rưng giúp ngăn cản gió, giữ và điều hòa lượng nước mưa và nước ngầm. Trong hệ
thống canh tác nông nghiệp, rừng giúp duy trì độ màu mở của đất thông qua chu trình
dinh dưỡng của cây rừng. Rừng tạo bóng mát, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm không khí.
Rừng là nơi phát triển các dịch vụ khác như du lịch sinh thái, khu nghĩ mát, địa
điểm giải trí, ... Nó còn là nơi chứa đựng nguồn gen không những có giá trị kinh tế mà
còn có giá trị khoa học và xã hội. Nguồn gen này luôn luôn được tái tạo và nó có thể
được sử dụng mãi mãi nếu như được quản lý tốt.
Rừng có ý nghĩa quan trọng như là một nguồn tiết kiệm và sự bảo đảm cho người
nghèo đối phó với những rủi ro và bất thường xảy ra. Rừng cung cấp sản phẩm bù đắp
sự thiếu hụt ở thời kỳ giáp hạt (vụ). Những bất thường xảy ra trong cuộc sống như điều
trị bệnh, ma chay, xây dựng nhà cửa, .... yêu cầu một lúc lượng tiền lớn. Cây rừng có
thể mang lại cho những người nghèo một khoản tiền lớn để họ có thể đáp ứng yêu cầu
này. (Chambers, 1986).
ở Việt Nam, rừng và đất rừng chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của Việt Nam, là nơi
sinh sống của hơn 2/3 dân số cả nước (Qui, 1994). 75% dân số cả nước sống phụ
thuộc vào nông nghiệp và rừng như là nguồn sống chủ yếu. Dân số ngày càng tăng tạo
ra áp lực lớn lên tài nguyên rừng, nhu cầu về các sản phẩm rừng ngày càng cao
(Rambo và Cúc, 1996).
Mặc dụ đã có những tiến bộ đáng kể trong sản xuất lương thực, sau nhiều năm
thiếu hụt lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới,
nhưng những tiến bộ này chỉ giới hạn chủ yếu ở vùng đồng bằng có hệ thông thủy lợi
tốt. Hàng triệu người nông dân ở vùng miền núi vẫn còn đối mặt với sự thiếu hụt lương
thực. Sản xuất nông nghiệp ở vùng miền núi vẫn còn nhiều hạn chế lớn. Điều này đã
làm cho người dân vùng núi phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng như là nguồn sống
của họ ( Mittelman, 1997)
Nghèo đói và kém phát triển ở Việt Nam đã làm cho người nghèo ở nông thôn và
và cả Nhà nước phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên rừng như là một nguồn thu
nhập. Trong 50 năm qua, sự khai thác và sử dụng tài nguyên rừng quá mức là một
trong những nguyên nhân làm phá hủy gần một nữa tài nguyên rừng của cả nước (GoV
and GEF, 1994).
Thực phẩm từ rừng như thịt động vật rừng, măng tre, củ quả, mật ong và nấm
được sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày. Rất nhiều loài cây lấy cũ, cây rau và những
sản phẩm rừng khác được sử dụng làm thức ăn trong thời kỳ giáp hạt hoặc thiếu hụt
lương thực trầm trọng. ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, người dân phu thuộc hoàn
toàn vào rừng như là nguồn lương thực, thức ăn cho gia súc trong thời gian 4 tháng
hoặc hơn trong năm (Gamelgaard, 1990; Mao 1987).
12

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Theo tác giá Lương Văn Tiến (1991), ở nước ta ước tính có 23 triệu tấn củi được
tiêu thụ hàng năm. Nhiều vùng miền núi ở nước ta, nguồn thu nhập từ việc bán sản
phẩm rừng thường cao hơn nguồn thu nhập từ bán các sản phẩm nông nghiệp như lúa.
Hoạt động khai thác sản phẩm ngoài gỗ bao gồm việc canh tác, thu lượm, bán và chế
biến đã tạo việc làm cho hàng trăm ngàn người dân.
Theo kết quả điều tra của tác giả Nguyễn Giang Nam năm 2000, cộng đồng người
dân ở xóm Vành xã Mông Hóa - Kỳ Sơn - tỉnh Hòa đã sử dụng 45 loài Lâm sản ngoài
gỗ cho nhu cầu gia đình và bán ra thị trường. Qua tìm hiểu tập quán khai thác và sử
dụng các Lâm sản ngoài gỗ của đồng bào dân tộc Mnông - xã ĐakR'tih - huyện Dakr tỉnh Đaklak, Tác giả Huỳnh Văn Phong đã điều tra xác định được người dân ở đây sử
dụng 25 loài Lâm sản ngoài gỗ để ăn, làm công cụ và bán. Theo kết quả điều tra của
tác giả Trương Thu về tình hình sử dụng cây rừng làm thuốc, tác giả đã điều tra được
khoảng 100 loài cây rừng dùng làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh hàng ngày.
Tóm lại, rừng có vai trò rất quan trọng đối với con người, đăc biệt là người dân
sống ở vùng rừng và có cuộc sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng. Tuy nhiên việc
khai thác và sử dụng tài nguyên rừng không hợp lý của con người là một trong những
nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thóai tài nguyên.
2.4 Tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên

2.4.1 Khái niệm, đặc trưng và loại hình tri thức bản địa
Tri thức bản địa, nói một cách rộng rãi, là tri thức được sử dụng bởi những người
dân địa phương trong cuộc sống của một môi trường nhất định (Langil và Landon,
1998). Như vậy, tri thức bản địa có thể bao gồm môi trường truyền thống, tri thức sinh
thái, tri thức nông thôn và tri thức địa phương... .
Theo Johnson, 1992, tri thức bản địa là nhóm tri thức được tạo ra bởi một nhóm
người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẻ với thiên nhiên trong một vùng nhất
định. Nói một cách khái quát, tri thức bản địa là những tri thức được rút ra từ môi
trường địa phương, vì vậy nó gắn liền với nhu cầu của con người và đIều kiện địa
phương (Langil và Landon, 1998).
Theo Warren, 1991, tri thức bản địa là tri thức địa phương-dạng kiến thức duy
nhất cho một nền văn hóa hay một xã hội nhất định. Đây là kiến thức cơ bản cho việc ra
quyết định ở mức địa phương về nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, chế biến thức ăn,
giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên, và các hoạt động chủ yếu của cộng đồng nông
thôn. Khác với tri thức bản địa hệ thống tri thức hàn lâm thường được xây dựng từ các
trường đại học, viện nghiên cứu.
Ngày nay, tri thức bản địa được xem như là một trong những vấn đề then chốt
trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững và sự cân bằng trong phát triển
(Brokensha và ctv., 1980; Compton, 1989; Gupta, 1992; Niamir, 1990; Warren, 1991a).
Tri thức bản địa là tri thức của cộng đồng cư dân trong một cộng đồng nhất định
phát triển vượt thời gian và liên tục phát triển (IIRR, 1999). Tri thức bản địa được hình
thành dựa vào kinh nghiệm, thường xuyên kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng, thích
hợp với văn hóa và môi trường địa phương, năng động và biến đổi.
Các khái niệm về tri thức bản địa (Local/Indigenous knowledge) hàm ý không chỉ
là phần cứng hay ảnh hưởng và ứng dụng của kỹ thuật như chăm sóc sức khỏe gia
súc, mà còn có phần mềm, đó là các hệ thống quản lý gia súc và cấu trúc xã hội, cấu
trúc nhóm đã tạo nên chúng (Mathias-Mundy và McCorkle, 1992).
Tóm lại, Tri thức bản địa là những nhận thức, những hiểu biết về môi trường tự
nhiên, môi trường xã hội, môi trường lao động và môi trường sinh sống được hình
13

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cư trú nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển
của cộng đồng ấy (Nguyễn Thanh Thự, Hồ Đắc Thái Hoàng, 2000)
Tri thức bản địa có những đặc trưng sau:
(1) Tri thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ trong
một cộng đồng địa phương nhất định
(2) Tri thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng
địa phương, nơi đã hình thành và phát triển tri thức đó.
(3) Tri thức bản địa rất đơn giản, chi phí thấp và bền vững đối với điều kiện tự
nhiên địa phương (Wongsamun, 1992; Hoàng Xuân Tý, 1998b)
(4) Tri thức bản địa do toàn thể cộng đồng trực tiếp sáng tạo ra qua lao động
trực tiếp
(5) Tri thức bản địa không được ghi chép bằng văn bản cụ thể (Mundy và
Compton, 1992) mà được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, hò vè, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau (thông
qua các hình thức văn hóa đặc trưng mang tính địa phương).
(6) Tri thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa, tập tục địa
phương
(7) Tri thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển
nông thôn bền vững.
(8) Tính đa dạng của tri thức bản địa rất cao
Tri thức bản địa được phân chia theo các loại hình khác nhau. Theo IIRR, 1999, tri
thức bản địa có thể phân ra các loại hình như sau:
• Thông tin
Hệ thống thông tin về cây cỏ, thực vật có thể được trồng trọt hay canh tác tốt
cùng tồn tại vói nhau trên cùng một diện tích canh tác nhất định hay những chỉ số về
thực vật. Các câu chuyện, thông điệp được truyền lại bằng các vết đục, chạm khắc hay
viết trên các thẻ trúc (Trung quốc, Việt nam, Thái lan...), các dạng lưu truyền dân gian,
hệ thóng trao đổi thông tin truyền thống.
• Kỹ thuật công nghệ
Tri thức bản địa bao gồm kỹ thuật về trồng trọt và chăn nuôi, và phương pháp lưu
trữ giống, chế biến thức ăn, kỹ năng chữa bệnh cho người và gia súc, gia cầm.
• Tín ngưỡng
Tín ngưỡng có thể đóng vai trò cơ bản trong sinh kế, chăm sóc sức khỏe và quản
lý môi trường của con người. Những cánh rừng thiêng (rừng ma) được bảo vệ với
những lý do tôn giáo. Những lý do này có thể duy trì những lưu vực rộng lớn đầy sức
sống. Những lễ hội tôn giáo có thể là cơ hội bổ sung thực phẩm, dinh dưỡng cho những
cư dân địa phương khi mà khẩu phần thường nhật của họ là rất ít ỏi.
• Công cụ
Tri thức bản địa được thể hiện ở những công cụ lao động trang bị cho canh tác và
thu hoạch mùa màng. Công cụ nấu nướng cũng như sự thực hiện các hoạt động đi
kèm.
• Vật liệu
Tri thức bản địa được thể hiện với vật liệu xây dựng, vật liệu làm đồ gia dụng cũng
như tiểu thủ công nghiệp truyền thống.
• Kinh nghiệm
Người nông dân thường tích lũy kinh nghiệm trong quá trình canh tác, giới thiệu
các nguyên liệu giống mới cho hệ thống canh tác đặc hữu. Nhiều kết quả chữa bệnh
đặc biệt được tích lũy qua kinh nghiệm sử dụng nguồi thực vật địa phương.
14

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

• Tài nguyên sinh học
Tri thức bản địa được thể hiện thông qua quá trình chọn giống vật nuôi và các loại
cây trồng.
• Tài nguyên nhân lưc
Nhiều chuyên gia có chuyên môn cao như thầy lang, thợ rèn ... có thể coi như đạI
diện của dạng tri thức bản địa. Tri thức bản địa trong dạng này có thể thấy ở các tổ
chức địa phương như nhóm họ tộc, hội đồng già làng trưởng tộc, các nhóm tổ chia sẻ
hoặc đổi công.
• Giáo dục
Phương pháp truyền thụ kiến thức truyền thống, cách truyền nghề cho các thợ
học việc, học hỏi thông qua sự quan sát và những thực nghiệm, thực hành tại chỗ.
Có thể thấy 5 dạng người đóng vai trò truyền thông và lưu trữ tri thức trong cộng
đồng (Mundy và Compton, 1992), được thống kê sau:
(i) Các chuyên gia địa phương (Indigenous experts) là các chuyên gia địa phương
hay theo cách gọi của McCorkle và ctv (1988) là những nhà thông thái địa phương có
tầm hiểu biết rộng rãi, thường được thỉnh cầu ý kiến bởi cộng đồng cư dân địa phương,
cả 2 giới đều có thể có những đại diện này trong kết quả điều tra của Norem và ctv
(1988).
(ii) Các nhà chuyên nghiệp địa phương (Indigenous professionals) là một dạng đặc
biệt của các chuyên gia địa phương, những người này có kiến thức không rộng rãi và
thông thái trong cộng đồng nhưng những gì họ biết là nhóm kiến thức được giữ bí mật
với những người khác trong cộng đồng như là thầy lang, thầy phù thủy, thợ rèn, thợ
sơn tràng.
(iii) Nhà cải cách (Innovator)-người hiểu biết thuộc nhóm này có thể phát triển ý
tưởng bởi chính họ, hoặc giới thiệu ý tưởng đã được quan sát sâu sắc cho cộng đồng
thử nghiệm, họ cúng có thể là người giới thiệu ý tưởng ngoại lai vào cộng đồng.
(iv) Ngườitrung gian (Intermediary) là nhóm người chuyển giao thông tin từ nơi này
đến nơi khác và giới thiệu ý tưởng thử nghiệm cho cộng đồng cư dân địa phương,
nhóm thông tin này có thể trở thành tri thức bản địa theo sự thử nghiệm và điều chỉnh
theo điều kiện lập địa của địa phương.
(v) Người dễ tiếp nhận (Recipient-disseminator) là những người dễ tiếp nhận nhóm
tri thức ngoại lai hoặc tự nghiên cứu thử nghiệm nhằm tạo nhóm tri thức bản địa theo
thời gian.

2.4.2 Kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên rừng
Theo Franỗais. 1994, những người dân bản địa đã phát triển rất nhanh bởi việc
tích lũy những kiến thức về thế giới xung quanh họ. Chính những kiến thức này đã làm
cho họ hoàn thiện được rất nhiều phương pháp có kết quả, bền vững và hoà hợp với
môi trường của công tác quản lý tài nguyên và sử dụng đất. Nền kinh tế và văn hóa bản
địa đều dựa trên những kỹ thuật bao gồm chăn nuôi du mục, những dạng khác nhau
của nông lâm kết hợp, ruộng bậc thang, săn bắn, chăn nuôi và nghề cá.
Lâm nghiệp bản địa là các hoạt động lâm nghiệp được tạo ra bởi sáng kiến bên
trong của các cộng đồng địa phương. Khái niệm "lâm nghiệp" ở đây được sử dụng theo
một số cách như: Đó là kiểu sử dụng đất, là một hoạt động sinh của những người sử
dụng rừng (John Studley, 1992).
Quản lý lâm nghiệp bản địa gần đây đã trở thành mối quan tâm của cả khoa học
lâm nghiệp và sự hợp tác phát triển lâm nghiệp. Trước đây lâm nghiệp xã hội và lâm
nghiệp tập quán không được đề cập tới, đặc biệt lâm nghiệp cộng đồng đã bị bỏ qua
trong rất nhiều trường hợp (Romm, 1989; Mol và Wiersum, 1990), trong khi đó những
15

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

sáng kiến và quản lý rừng bản địa lại rất có giá trị. Ngày nay lâm nghiệp chuyên nghiệp
đã quan tâm rất nhiều đến sự thành công của lâm nghiệp bản địa và quá trình truyền
thông và tổng hợp đã được mở ra (Messerschmidt, 1990; Persoon & Wiersum, 1991).
Fisher (1991) đã phát triển mô hình phân tích trạng thái tự nhiên có tổ chức của
các hệ thống quản lý rừng bản địa ở Nepal. Ông nhấn mạnh tổ chức quản lý rừng từ
việc quản lý thể chế. Những thể chế đó là nguyên tắc cơ bản, trong khi một tổ chức là
không bắt buộc (quản lý không chính thức).
Công trình nghiên cứu của Paul Hebinck (1996) về “Mạng lưới kiến thức chính
thống và không chính thống trong bảo tồn lâm nghiệp ở Zimbabue” đã cho thấy để quản
lý và bảo tồn rừng bền vững phải dựa vào tri thức địa phương. Kết quả nghiên cứu của
Ruguelito M. Pastores và Romeo .E. San Buenaventura (1996) đã chỉ ra rằng những
người dân bản xứ đóng góp rất to lớn và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tìm
hiểu và lựa chọn những loài cây có đặc tính sinh thái và đặc tính sinh học phù hợp ở
địa phương,... Điều này thống nhất với kết luận của Normita G.L. (1993) khi nghiên cứu
về “Những loài cây bản địa cho chương trình xây dựng nhà ở” ở Cavite và Negros
Occidental, Philippines.
Tại hội thảo ICIMOD năm 1994 về những hệ thống kiến thức bản địa và quản lý
đa dạng sinh học cũng thống nhất quan điểm cho rằng người bản xứ có một kiến thức
lâu đời để duy trì và ổn định nguồn tài nguyên rừng, điều này được đặc trưng bởi sự
quản lý những sản phẩm ngoài gỗ.
Nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng mô hình kết hợp để quản lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên (dựa trên cơ sở của các hệ thống kiến thức bản địa) đã được sử
dụng có kết quả trong các ứng dụng khác nhau như các trang trại với quy mô nhỏ, nông
lâm kết hợp và nghề nuôi trồng thủy sản.

2.4.3 Kiến thức bản địa ở Việt Nam
Cũng như nhiều nước khác ở Đông Nam á, nông dân Việt Nam đã có truyền
thống về sản xuất nông nghiệp và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên từ hàng ngàn
năm nay. Cộng đồng 54 dân tộc anh em sinh sống trên nhiều vùng sinh thái đa dạng
trên phạm vi toàn quốc đã sáng tạo ra một kho tàng đồ sộ về các kiến thức quản lý tài
nguyên thiên nhiên và kiến thức về phát triển sản xuất nông lâm nghiệp.
Chính trong điều kiện môi trường sinh thái đang bị suy thoái và cuộc sống của con
người đang gặp ngày càng nhiều khó khăn, thách thức mà chúng ta mới bắt đầu thừa
nhận rằng kiến thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng, có thể giúp ích
rất nhiều cho quá trình phát triển sản xuất theo phương sách ít tốn kém, có sự tham gia
của người dân và đạt được sự bền vững cao (Doanh, 1998).
Ngày càng có rất nhiều công trình nghiên cứu và các ứng dụng tri thức bản địa
được thực hiện ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số.
Các công trình nghiên cứu và ứng dụng này đã khẳng định được vai trò tích cực của
kiến thức bản địa trong đời sống kinh tế xã hội của người dân và trong quản lý tài
nguyên thiên nhiên.
Các kỹ thuật truyền thống có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường tự
nhiên cũng như tập quán xã hội. Việc gắn kết kiến thức bản địa với kỹ thuật hiện đại là
phương pháp tốt nhất để ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào nông thôn và miền núi
Việt Nam (Tý, Cúc, 1998).
Thông qua phương pháp tiếp cận có sự tham gia (RRA, PRA,...), các dự án phát
triển dựa trên cơ sở kiến thức địa phương sẽ lôi kéo được nhiều người dân tham gia, vì
nó hợp với lòng dân, dân biết phải làm gì và làm như thế nào. Đó chính là cơ sở của sự
thành công. Rõ ràng kiến thức địa phương là cơ sở của sự hiểu biết về các lĩnh vực
16

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

nông nghiệp, lâm nghiệp, y tế, giáo dục, quản lý tài nguyên và là chủ thể của các hoạt
động khác trong phát triển bền vững của các hệ sinh thái nói chung và các hệ sinh thái
vùng cao nói riêng (Cuc, 1998)
Người dân tộc Cờ Tu ở Nam đông có cách phân biệt tính chất đất đai thông qua
màu sắc đất, độ ẩm đất, thực bì... Trên cơ sở đó để lựa chọn cơ cấu cây trồng thích
hợp. Khi đối chiếu với phân loại theo khoa học, thì sự khác biệt không đáng kể. Có
nghĩa là cách phân loại đất của người Cờ tu là có cơ sở khoa học. Điều đáng nói ở đây
là: cách phân loại này đã được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng và họ đã sử dụng nó
bao đời nay. Không những thế, họ còn biết lựa chọn cơ cấu cây trồng cho từng loại đất
khác nhau theo cách phân loại trên (Thự, 2000)
Tóm lại, Kiến thức địa phương là nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng, có thể
giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém, có sự
tham gia của người dân và đạt đựoc sự bền vững... Nó có thể được xem xét và so
sánh với hệ thống kiến thức quốc tế, từ đó xác định được những khía cạnh bổ ích của
hệ thống, cũng như những khía cạnh có thể cải tiến thông qua các kỹ thuật, công nghệ
dựa trên cơ sở khoa học hiện đại (Cúc,1998).
III. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu
Nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin cho việc hoạch định các chính sách bảo tồn
và phát triển tài nguyên rừng trên địa bàn thông qua việc đề xuất các giải pháp nâng
cao tính bền vững của công tác quản lý rừng cho cả hai mục tiêu: phòng hộ của chính
phủ và tạo sinh kế cho người dân.
3.2. Nội dung nghiên cứu
• Tìm hiểu sự biến động của tài nguyên rừng trên địa bàn và các nguyên nhân
dẫn đến sự biến động này: Sự thay đổi về diện tích và chất lượng rừng, sự phong phú
và sẵn có của các loại động thực vật, ... theo thời gian.
• Khảo sát vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân vùng núi tỉnh
ThừaThiên Huế: vai trò cung cấp sản phẩm cho tiêu dùng hàng ngày, vai trò tạo thu
nhập tiền mặt, việc làm, vai trò phòng hộ cho sản xuất, ...
• Khảo sát kiến thức bản địa trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng của người
dân địa phương: Kiến thức bản địa trong trong phân loại rừng, bảo tồn, khai thác và sử
dụng các sản phẩm rừng; Kiến thức Quản lý rừng truyền thống; và sự duy trì các kiến
thức này theo thời gian.
• Tìm hiểu các phương thức quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn: Đặc điểm của
các hình thức quản lý, ưu nhược điểm, sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các hình thức,
và tác động của chúng đến sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng.
• Phân tích vai trò của các bên liên quan trong quản lý tài nguyên rừng: Các bên
tham gia; Cơ chế hoạt động; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các hoạt động của
các bên liên quan đang tham gia quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn.
• Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bền vững tài nguyên rừng ở
Thừa Thiên Huê: Chính sách nhà nước và địa phương liên quan đến cơ chế quản lý
rừng và cải thiện sinh kế người dân.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
• Sử dụng một số công cụ PRA:
9 Thu thập số liệu thứ cấp:
17

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Thông tin cơ bản xã Phú Vinh , các báo cáo tổng kết của xã
+ Thông tin cơ bản huyện A Lưới, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội
hàng năm của huyện
+ Thông tin cơ bản của các cơ quan lâm nghiệp trên địa bàn huyện A
Lưới (Hạt kiểm lâm A Lưới, lâm trường A Lưới)
+ Thông tin cơ bản về quản lý rừng tại chi cục Phát triển lâm nghiệp tỉnh
9 Vẽ sơ đồ lát cắt và bản đồ tài nguyên tham gia
9 Công cụ sơ đò Veen đã được sử dụng để phân tích sự tham gia và quyền
ra quyết định của các bên liên quan theo cách nhìn của lãnh đạo địa phương và
người dân
9 Phỏng vấn bán cấu trúc những người cung cấp thông tin nòng cốt (cán bộ
xã, thôn, các tổ chức đoàn thể)
9 Phỏng vấn nhóm chuyên đề (nhóm cán bộ lãnh đạo gồm 7 người là chủ tịch
UBND, chủ tich hội đồng nhân dân, chủ tịch hội nông dân, chủ tịch hội phụ nữ,
bí thư đoàn thanh niên, cán bộ địa chính xã và 1 cán bộ phụ trách văn phòng
của UBND xã; Nhóm nam nông dân: gồm 7 người thuộc các hộ khá được chọn
ở tất cả 4 thôn trong xã. Nhóm nữ nông dân gồm 8 người là đại diện của các hộ
nghèo được chọn ở cả 4 thôn trong xã.
9 Ma trận xếp hạng ưu tiên
• Phỏng vấn cá nhân bằng bản câu hỏi: Phương pháp ngẫu nhiên phân tầng đã
được sử dụng để chọn hộ cho phỏng vấn chính thức bằng bảng hỏi. 30 hộ dân của xã
đã được chọn, trong đó gồm 16 hộ dân tộc Pa Cô ở thôn Phú Thượng và 14 hộ người
Kinh ở 3 thôn còn lại.
• Phỏng vấn sâu 3 già làng, 3 cán bộ xã, 2 cán bộ lâm nghiệp ở Lâm trường và
Hạt kiểm lâm A Lưới.
• Sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học, thông qua quan sát, mô tả, trao
đổi, phân tích, tổng hợp, đánh giá qua điền dã ở tất cả các thôn trong xã.
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
• Thống kê mô tả đã được sử dụng để phân tích một số thông tin định lượng thu
thập được như tỉ lệ các nguồn thu nhập của hộ, cơ cấu sử dụng đất và diện tích đất sử
dụng của hộ gia đình, tỉ lệ phần trăm những người được phỏng vấn tham gia vào các
hoạt động bảo vệ và phát triển rừng qua phỏng vấn chính thức bằng bản câu hỏi thiết
kế sẵn.
• Phân tích định tính bằng phương pháp đơn giản hoá đoạn văn trong dữ liệu ghi
chép được, phân tích theo chủ đề và nội dung
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1 Tình hình chung của điểm nghiên cứu
Phú Vinh là một xã nằm ở phía nam của huyện vùng cao A Lưới, dọc theo quốc lộ
14B, cách trung tâm thị trấn huyện 8km. Phía đông của xã giáp xã Hồng Hạ, phía nam
giáp xã Hương Phong, phía tây giáp xã Hồng Thượng, phía Bắc giáp xã Sơn Thuỷ. xã
có 4 thôn: Phú Thành, Phú Thuận, Phú Xuân và Phú Thượng. Xaî được thành lập từ
năm 1976 và phát triển theo các giai đoạn sau đây:
+ Giai đoạn từ 1976 -1992: Giai đoạn này xã thuộc diện là xã kinh tế mới, với chủ
yếu là dân của 2 thôn: thôn Phú Thuận và thôn Phú Xuân. Dân của thôn Phú Thuận có
nguồn gốc là dân của xã Phú An, xã Phú Tân, xã Vinh Xuân. Còn dân của thôn Phú
Xuân có nguồn gốc chủ yếu là dân của xã Vinh Xuân. Họ là những người Việt từ vùng
18

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

đồng bằng (đông nhất là từ vùng đồng bằng ven biển, ven đầm phá) theo chủ trương
của Nhà nước Việt Nam lúc bấy giờ lên đây làm kinh tế mới.
+Giai đoạn từ 1992 đến nay: ở giai đoạn này bên cạnh 2 thôn đã có từ trước đó
(Phú Thuận, Phú Xuân), xã đã có thêm 2 thôn mới: thôn Phú Thượng và thôn Phú
Thành. Thôn Phú Thượng nguyên là thôn Kần Tôm của xã Phú Thưọng nhưng từ tháng
6 năm 1992 đã sát nhập vào xã Phú Vinh. Dân của thôn này là đồng bào dân tộc Tà Ôi
(Pa Cô). Cũng chính vì vậy hiện nay xã Phú Vinh đã được hưởng chính sách là xã dân
tộc. Còn thôn Phú Thành cũng được sát nhập vào xã Phú Vinh từ 6/1992. Tuy thế dân
của thôn Phú Thành lại từ nhiều địa phương trong tỉnh (còn có cả trong nước) tụ về (từ
Quảng Điền, Phú Vang, Huế và nhiều nơi khác...)
Mặc dù nằm không xa thị trấn Bốt Đỏ của huyện A Lưới, nhưng diện tích đất bằng
sử dụng cho sản xuất nông nghiệp ở xã này lại rất ít ngay cả so với các xã khác của
huyện (chỉ chiếm 2,3% tổng diện tích đất tự nhiên- Bảng 1).
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Phú Vinh
Loại đất
Tổng diện tích tự nhiên
1. Đất nông nghiệp
1.1. Đất trồng cây hàng năm
1.2. Đất lúa nước
1.3. Đất lúa rẫy
1.4. Đất trồng ngô
1.5. Đất trồng sắn
1.6. Đất trồng rau quả
1.7. Đất trồng khoai lang
1.8. Đất trồng cây lâu năm
1.9. Đất vườn liên nhà

Diện tích (ha)
2.904,03
66,91
10,67
2,20
1,64
7,50
11,00
9,00
8,00
8,00
8,90

2. Đất lâm nghiệp
2.1. Đất rừng tự nhiên
2.2. Đất rừng trồng
2.3. Đất có khả năng lâm nghiệp
3. Đất nuôi trồng thủy sản
4. Đất chuyên dùng
5. Đất ở
6. Đất chưa sử dụng
6.1. Đất đồi núi chưa sử dụng
6.2. Đất có mặt nước chưa sử dụng
6.3. Sông suối
6.4. Đất khác

2.479,50
2095,70
381,40
383,80
3,334
12,09
3,20
339,00
54,21
3,30
45,55
235,94

Tỉ lệ %
100
2,3
0,4
0,1
0,1
0,3
0,4
0,3
0,3
0,3
0,3
85,3
59,0
13,1
13,2
0,11
0,49
0,11
11,7
1,9
0,1
1,6
8,1

Nguồn: Số liệu thống kê của xã, 2004

Địa hình dốc cùng với sự xói mòn nghiêm trọng của đất đai đã làm cho sản xuất
nông nghiệp đã hạn chế lại gặp rất nhiều khó khăn. Đời sống của người dân trong xã vì
vậy không thể không dựa vào tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp. Diện tích thuộc địa
giới hành chính của xã rất rộng với tỉ lệ diện tích rừng và đất lâm nghiệp rất lớn (85,3%
tổng diện tích tự nhiên) nhưng lại thuộc quyền quản lý của các cơ quan lâm nghiệp
đóng trên địa bàn huyện. Quỹ đất mà xã có quyền sử dụng rất ít, không đủ cho sản xuất
19

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

lương thực, thậm chí thiếu cả đất thổ cư. Người dân đã và đang tham gia vào tiến trình
quản lý rừng và đất lâm nghiệp nhưng chỉ với vai trò bị động, theo sự thuê khoán hay
vận động của các cơ quan lâm nghiệp nhà nước.
Tổng số hộ trong xã là 196 hộ với 946 nhân khẩu, trong đó có 69 hộ người dân tộc
Pa Cô (chiếm 35%). Mặc dù số hộ ít nhưng tỉ lệ hộ đói nghèo trong xã vẫn rất cao
(chiếm 37% - Báo cáo của UBND xã năm 2001) và tập trung nhiều ở thôn Phú Thượngnơi sinh sống của đồng bào Pa Cô. Xã có 4 thôn với 1 số điểm cần lưu ý sau (bảng 2):
Bảng 2: Các thôn của xã Phú Vinh và đặc đIểm của chúng
Thôn
1. Phú Thành

Dân tộc
Kinh
(chủ yếu)

2. Phú Thuận

Kinh
(chủ yếu)

3. Phú Xuân

Kinh
(chủ yếu)

4. Phú Thượng

Tà Ôi
(Pa Cô)

Dân số
- 46 hộ người Kinh + 10
hộ người Pa Cô.
- 186 khẩu người Kinh +
80 khẩu người Pa Cô.
- 44 hộ người Kinh
- 212 khẩu người Kinh

Đặc điểm
-Từ nhiều nơi khác tụ về
-Đất sản xuất quá ít
-Sống bằng lương, buôn bán, dịch vụ
-Phụ thuộc vào rừng không nhiều
-Từ các huyện khác tụ về
-Đất sản xuất ít - phụ thuộc vào rừng
-Sống bằng sản xuất nông nghiệp,
buôn bán
- 37 hộ người Kinh + 1 -Từ Vinh Xuân chuyển lên
hộ người Pa Cô.
-Đất sản xuất ít - phụ thuộc rừng
- 190 khẩu người Kinh + -Sống bằng sản xuất nông nghiệp,
6 khẩu người Pa Cô.
buôn bán
- 58 hộ người Pa Cô.
-Tại chỗ (Hồng Thượng)
- 1khẩu người Kinh + -Không thiếu đất sản xuất
271 khẩu người Pa Cô. -Phụ thuộc rừng nhiều
-Sống chủ yếu bằng nông nghiệp
nương rẫy

Nguồn: ĐIều tra năm 2005.

Như vậy muốn đạt được mục tiêu quản lý tốt nguồn tài nguyên rừng và đất rừng
nhưng vẫn đảm bảo các sinh kế bền vững cho người dân ở xã Phú Vinh, vấn đề đặt ra
là cần phải hiểu rõ hệ sinh thái nhân văn của địa phương này trên những khía cạnh :
Thứ nhất : Rừng đối với đồng bào là hết sức quan trọng trong quá khứ cũng như
trong tương lai. Sống phụ thuộc vào rừng là một đặc điểm dễ dàng nhận thấy ở Phú
Vinh. Hay nói khác đi rừng là một thế mạnh cho chiến lược phát triển của Phú Vinh. Dù
thế việc quản lý, sử dụng khối tài nguyên này sao cho có hiệu quả theo hướng bền
vững lại là bài toán cần lời giải từ nhiều phía.
Thứ hai. Hiện nay ở Phú Vinh có hai khối dân cư cùng sinh sống làm ăn với nhau.
Khối người Kinh và khối đồng bào dân tộc thiểu số (người Tà Ôi). Giữa người Việt và
người Tà Ôi (Pa Cô) ở xã Phú Vinh xét về mặt tác động vào rừng có những điểm cần
phân biệt / khác nhau sau:

20

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Người Kinh (Việt)
- Mới có mặt ở xã từ sau năm 1975
- Gốc chủ yếu là những người làm nông
nghiệp, ngư nghiệp, nông nghiệp, buôn
bán, nghề tự do...
- Phụ thuộc vào rừng bằng nhiều nghề
khác nhau, trong đó có việc khai thác
lâm sản quý hiếm
- Diện tích đất sản xuất ít, nhưng hiệu
quả sử dụng đất khá cao
- Có nhiều nghề phụ, nhất là buôn bán,
dịch vụ
- Trình độ nhận thức cao, dễ áp dụng
TBKT
- ý thức làm giàu có từ lâu.

Người Tà Ôi (Pa Cô)
- Có mặt từ rất sớm
- Có truyền thống canh tác nương rẫy từ lâu đời
- Phụ thuộc nhiều vào rừng bằng khai thác lâm
sản ngoài gỗ và làm nương rẫy
- Diện tích đất sản xuất nhiều, nhưng hiệu quả
sử dụng không cao.
- Nghề phụ ít và cũng chỉ có tính chất hỗ trợ cho
kinh tế nương rẫy
- Trình độ nhận thức thấp nhưng lại có nhiều
kiến thức bản địa về rừng
- ý thức làm giàu, nhất là làm giàu từ rừng mới
được thức dậy.

Nguồn: ĐIều tra , tổng hợp và phân tích năm 2005.

Bên cạnh những điểm khác nhau đó, giữa hai khối dân cư này lại có những điểm
giống nhau xét về mặt tác động vào rừng.
- Đều thiếu an toàn lương thực (tỷ lệ nghèo đói của xã là 31%) nên đã tìm đủ mọi
cách tác động vào rừng. Hay nói khác đi trong thời gian qua nguồn lợi từ rừng trên địa
bàn xã đã bị xâm hại quá mức cho phép, nhiều động, thực vật qúy hiếm hiện không còn
nữa.
- Dân số tăng nhanh, nhất là tăng tự nhiên (bình quân một hộ gia đình có từ 5-6
người) đã dẫn đến hiện tượng thiếu đất ở, đất sản xuất (đất sản xuất của xã chỉ chiếm
2,3% tổng số đất tự nhiên. Riêng ở các thôn Phú Thành, Phú Thuận, Phú Xuân hầu
như không có đất sản xuất nông nghiệp, nhất là đất lúa nước).
- Đều nghĩ rằng rừng là giàu có, là vô tận nên trong một thời gian dài chỉ tập trung
vào khai thác các nguồn lợi từ rừng phục vụ cho bản thân và gia đình. Còn ý thức làm
giàu cho rừng cũng là làm giàu cho mình mới xuất hiện kể từ khi phong trào trồng rừng
phát triển.
Thu nhập bình quân đầu người trong xã chỉ có 70.000đ/ tháng (Dự án giảm nghèo
xã Phú Vinh, huyện A Lưới, 2001). Trình độ học vấn hạn chế cộng với đói nghèo, sản
xuất nông nghiệp hạn chế và kém hiệu quả làm cho tài nguyên rừng vẫn bị xâm lấn,
khai thác bất hợp pháp. Nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc có thể sử dụng cho sản
xuất lâm nghiệp đang bị bỏ hoang do thiếu nguồn lực của các đơn vị được giao quyền
sử dụng chính thức.
5.2 Hiện trạng và tình hình biến động tài nguyên rừng trên địa bàn xã
Hiện trạng tài nguyên rừng của xã được thể hiện qua sơ đồ hiện trạng tài nguyên
dưới đây được vẽ bởi nhóm người dân địa phương.

21

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Sơ đồ 2: HiÖn tr¹ng tμi nguyªn rõng cña x· Phó VÝnh

Diện tích đất có rừng của xã bao gồm diện tích đất có rừng tự nhiên sản xuất là
362 ha, diện tích đất có rừng trồng sản xuất là: 381 ha, diện tích rừng phòng hộ là
1.352 ha. Trong số diện tích có khả năng lâm nghiệp (383.8 ha), đất có khả năng tự
phục hồi là 253.1 và đất phải trồng rừng 130.7 ha.
Rừng tự nhiên chủ yếu phân bố ở dãy núi nằm về phía Đông đường Hồ Chí Minh,
giáp với xã Hồng Hạ, tạo thành một vành đai bao bọc lấy xã . Kế tiếp rừng rự nhiên là
diện tích rừng trồng, trải dài đến phía Tây đường Hồ Chì Minh giáp với xã Hồng
Thượng. Ranh giới giữa rừng trồng và rừng tự nhiên không rõ ràng. Rừng trồng đang
xen với rừng tự nhiên ở khu vực chân núi phía Đông đường Hồ Chí Minh. Trước đây,
toàn bộ diện tích này đều là rừng tự nhiên, nhưng do ảnh hưởng bởi chiến tranh và do
con người khai thác, một số diện tích rừng tự nhiên ở khu vực này không còn nữa.
Những diện tích này đã được Lâm trường trồng rừng. Tuy nhiên khu vực phái Tây
đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận của xã chỉ có rừng trồng. Bên cạnh diện tích rừng
trồng của Lâm trường, nhiều hộ gia đình cũng đã trồng rừng trên diện tích đất lâm
nghiệp của xã với tổng diện tích cho đến nay khoảng 9 ha, mặc dù diện tích đất này
chưa được giao khoán cho các hộ.
Quần thể loài của rừng tự nhiên rất đa dạng, có nhiều loại gỗ quí như Lim, Kiền
kiền, .... và nhiều loại động vật quí hiếm như hỗ, voi, rùa vàng,..... Rừng trồng chủ yếu
là thông nhựa, keo và quế. Hầu hết rừng thông đang ở tuổi khai thác. Tuy nhiên trử
lượng nhựa rất thấp, có thể do đặc điểm loài và điều kiện khí hậu thổ nhưỡng không
22

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

phù hợp, nên hầu hết rừng thông không được khai thác. Keo mới được đưa vào trồng
phổ biến trong vài năm lại đây và hầu hết chưa đến tuổi khai thác. Đất trống đồi núi trọc
ở đây chủ yếu là đất xấu, cằn cổi do chịu ảnh hưởng nặng về bởi chất độc màu da cam
trong chiến tranh, với thảm cây bụi chủ yếu là cỏ tranh, siêm, mua.
Nguồn tài nguyên rừng trên địa bàn của xã đang bị suy giảm đáng kể. Dấu hiệu của sự
suy giảm này được thể hiện qua sự biến động về quần thể các loàI động thực vật rừng
theo thời gian. Kết quả thảo luận nhóm cho thấy những biến động về quần thể loài
động thực vật rừng rất rõ nét, thể hiện ở bảng 3.
Ngoài ra, kết quả phỏng vấn hộ cho thấy, 100% số hộ được phỏng vấn đều cho
rằng trử lượng các loại lâm sản giảm mạnh so với trước đây. Sự suy giảm tài nguyên
ảnh hưởng nhiều đến chiến lược sinh kế của người dân địa phương. Nghề rừng không
đảm bảo được cuộc sống, buộc người dân phải tìm kiếm những sinh kế mới để thay
thế.
Bảng 3: Biến động loài động thực vật rừng theo thời gian
Loài động thực
vật chủ yếu
Cây gỗ Lim

Trước
1990
Nhiều

Cây gỗ Gõ, Kiền
kiền

Rất nhiều Hiếm

Cây gỗ Dỗi
Cây Trầm

Rất nhiều Còn ít
Nhiều
Hiếm

Cây mây

Rất nhiều Nhiều

Cây đót

Nhiều

ít

Lá nón
Mật ong
Dê, heo rừng,
mang

Nhiều
Nhiều
Nhiều

ít hơn
Nhiều
Hiếm

Nai
Hổ

Nhiều

Gấu
Khỉ
Rắn
Rùa vàng

Hiện tại
Hiếm

Rất hiếm
Tiệt
chủng
Nhiều
Rất hiếm
Nhiều
Nhiều
Rất nhiều ít
Tương
Rất hiếm
đối nhiều

Mô tả
- Chỉ còn trong rừng sâu và số lượng cũng
rất ít
- Ngay trên trên khu vực đất nương rẫy,
trước đây cũng có cây gỗ Gõ, Kiềng
- Hiện nay chỉ còn cây con (đường kính dưới
30 cm) và phân bố trong rừng sâu.
- Hiện tại chỉ còn cây non, phân bố trong
rừng sâu
- Vẫn còn nhiều nhưng chủ yếu là mây non
và phân bố ở xa
- Nơi nào rừng bị chặt phá thì cây đót cũng
không phát triển
- Lá nón không giảm nhiều do tái sinh nhanh
- Tùy theo mùa
- Nương rẫy trước đây thường xuyên bị heo
rừng phá nhưng bây giờ không thấy heo
rừng phá nữa.

- Vẫn còn nhiều nhưng ở trong rừng sâu.
- Trước đây rùa vàng rất rẻ, gia đình tôi đã ăn
thịt đến ba bốn chục con. Nhưng bây giờ rùa
vàng rất có giá trị thì không tìm thấy nữa.

Nguồn: Phỏng vấn nhóm, 2005

Sự khai thác quá mức đã dẫn đến sư suy giảm tài nguyên rừng là sự khai thác
quá mức nguồn tài nguyên rừng. Trước những năm 90 khi chưa thực hiện chính sách
23

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

đóng của rừng của nhà nước, Lâm trường, là một cơ quan quản lý bảo vệ rừng hầu
như cũng chỉ tập trung vào việc khai thác rừng hơn là bảo vệ và phát triển rừng. Người
dân đã phản ảnh rằng, lượng gỗ mà Trường khai thác vào thời gian đó là quá lớn, làm
cho rừng bị nghèo kiệt. Hơn nữa trước đây, cuộc sống của người dân của còn rất khó
khăn và phụ thuộc chủ yếu vào việc khai thác các lâm sản từ rừng. Không chỉ người
dân địa phương mà còn có người dân đến từ các xã lân cận, thậm chí từ các tỉnh khác
như Quảng Nam, Quảng Bình,... cũng đến khai thác rừng trên địa bàn của xã. Khai thác
đến mức không kiểm soát được với lượng khai thác vượt quá sức hồi phục của rừng đã
làm cho trử lượng rừng suy giảm nghiêm trọng.
Cơ chế quản lý rừng không thu hút sự tham gia của người dân, của cộng đồng
và cả chính quyền địa phương, đã thể hiện nhiều yếu kém. Các cơ quan quản lý rừng
(Lâm trường, Hạt kiểm lâm) gần như không kiểm soát nỗi tình trạng khai thác trái phép
tài nguyên rừng. Vì vậy, nguồn tài nguyên rừng ở địa phương bị khai thác đến mức cạn
kiệt.
Sự thâm nhập của nền kinh tế thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực đến
sự suy giảm tài nguyên. Nhiều loại lâm đặc sản có giá trị cao đã thu hút sự chú ý của
người dân và là động cơ khiến họ có thể sẵn sàng bất chấp pháp luật để khai thác
những lọai lâm sản quí hiếm. Hơn nữa, một khi thị trường phát triển, việc tiêu thụ lâm
sản trở nên dễ dàng hơn cũng đã góp phần làm tăng mức khai thác tài nguyên rừng.
Ngoài ra, chiến tranh đã làm cho nguồn tài nguyên rừng trên địa bàn của xã bị tàn
phá nặng nề. Không chỉ trong chiến tranh, mà cho đến bây giờ rừng vẫn còn chịu ảnh
hưởng nặng nề của chất độc màu gia cam, đất bị cằn cổi làm cho cây rừng khó có thể
tái sinh và phát triển.
5.3. Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân xã Phú Vinh
Rừng và cuộc sống của người dân sống gần rừng có một mối quan hệ tương tác
với nhau. Rừng được xem như là vốn sinh kế của cộng đồng cũng như người dân địa
phương. Rừng cung cấp các lâm sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho đời sống người
dân. Người dân khai thác và sử dụng các lâm sản phẩm đã gây ra những tác động xấu
đến sự phát triển của rừng. Việc khai thác quá khả năng hồi phục của rừng dẫn đến sụ
suy giảm tài nguyên rừng, đến lượt nó lại có những ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế
của người dân. Vì vậy, để tìm ra những giải pháp thích hợp nhằm cải thiện công tác
quản lý rừng và tiến đến mục tiêu quản lý rừng bền vững, cần phải nghiên cứu mối
quan hệ phụ thuộc giữa sinh kế người dân địa phương với tài nguyên rừng.

5.3.1 Khai thác lâm sản phẩm như là nguồn thu nhập cho gia đình
Khai thác lâm sản để phục vụ cuộc sống là hoạt động sinh kế rất phổ biến của
những cộng đồng sống gần rừng. Theo số liệu điều tra, 100% gia đình làm nghề nông
nông nghiệp có khai thác các sản phẩm rừng. Các loại lâm sản được khai thác từ rừng
chủ yếu là mật ong, mây, lá nón, củi, rau rừng, động vật rừng, gỗ,... Trong đó gỗ và
động vật rừng được xem là những sản phẩm phi pháp.
Mây, lá nón, củi là những lâm sản được khai thác phổ biến có vai trò rất quan
trọng đối với đời sống người dân. 100% số hộ phỏng vấn cho rằng trước năm 2000 họ
có khai thác các loại sản phẩm này. Đối với người dân tộc Pa Cô, việc khai thác các
sản phẩm rừng đã có từ lâu đời. Khi thị trường phát triển, các sản phẩm được khai thác
chủ yếu để bán và trở thành nguồn thu nhập tiền mặt quan trọng của các gia đình. Đối
với người Kinh, khai thác mây, lá nón và củi gần như là một kế sinh nhai duy nhất của
họ trong giai đoạn đầu khi họ mới đến định cư trên địa bàn xã. Trong giai đoạn này,
người Kinh hầu như không có đất để sản xuất nông nghiệp, hơn nữa họ cũng không có
24

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

kinh nghiệm trong việc khai hoang và sản xuất nông nghiệp trên đất đồi núi vì vốn dĩ họ
là những người sống ở đồng bằng. Khai thác các sản phẩm rừng là lựa chọn duy nhất
để họ có thể duy trì cuộc sống trong giai đoạn khó khăn này.
Khai thác gỗ, động vật rừng quí hiếm được xem là hoạt động phạm pháp, tuy
nhiên do đời sống khó khăn nên người dân đã bất chấp. Tình trạng khai thác gỗ lậu,
săn bắt động vật quí hiếm vẫn đang tiếp diến, chủ yếu tập trung ở thôn Phú Thượng nơi
đồng bào dân tộc Pacô sinh sống. Hiện nay trong thôn có khoảng 5 đến 7 hộ (chiếm
10% số hộ trong thôn) là những hộ nghèo đói trong thôn, đang hành nghề khai thác gỗ
trái phép. Những hộ này thường là mới tách hộ, có sức lao động nhưng không có điều
kiện phát triển sản xuất nông nghiệp do thiếu đất sản xuất, thiếu vốn đầu tư và thiếu
kiến thức kỹ thuật. Mưu sinh cho gia đình, không có lựa chọn nào khác, họ phải khai
thác gỗ lậu để bán, mặc dù họ vẫn biết đây là hoạt động phạm pháp. Thu nhập từ khai
thác gỗ rất cao, đã khiến nhiều gia đình không từ bỏ nghề mặc dù họ đã bị bắt và bị xử
phạt nhiều lần.
Ngoài khai thác gỗ trái phép để bán, có rất nhiều hộ trong thôn khai thác gỗ trái
phép để làm nhà. Lẽ ra các hộ khai thác gỗ để làm nhà phải xin phép xã, Lâm trường
và Hạt kiểm lâm và thông thường là nhận được đồng ý vì hàng năm huyện có cấp cho
xã chỉ tiêu khai thác gỗ để làm nhà ở. Nhưng họ cho rằng do thủ tục phức tạp nên họ
không làm, hơn nữa họ cho rằng việc khai thác gỗ để làm nhà nếu như bị bắt cũng
không bị xử phạt. Đây là cơ hội cho các hộ lạm dụng khai thác gỗ trái phép để bán.
Tình trạng khai thác gỗ trái phép hầu như không xảy ra đối với các hộ người Kinh. Có lẽ
đây không phải là nghề sở trường của họ vì họ vốn dĩ là người đồng bằng. Tuy nhiên
họ lại là những người buôn bán, tiêu thụ gỗ lậu.
Khai thác động vật rừng hầu như đã được nghiêm cấm, nhưng vẫn còn xảy ra phổ
biến, tập trung chủ yếu ở thôn Phú Thượng. Các loài động vật người dân khai thác chủ
yếu hiện nay là là rắn, chim, hưu , nai, gấu, rùa... Phương thức khai thác phổ biến là
đặt bẫy. Người dân cho rằng, họ chỉ săn bắt những loài động vật không bị cấm, tuy
nhiên trong khi đặt bẫy, những loại động vật quí hiếm cấm khai thác mắc bẫy thì họ
cũng bắt. Các loài động vật quí hiếm có giá trị kinh tế rất cao đã khiến người dân bất
chấp pháp luật. Qua đợt điều tra, chúng tôi được biết, trong tháng 4/2005 vừa qua, có 2
hộ ở thôn Phú Thượng bắt được 3 con rùa vàng và bán được gần 200 triệu. Sau đó,
người người trong thôn, cũng như trong xã bỏ công việc đồng án để vào rừng tìm rùa.
Việc tiêu thụ các động vật quí hiếm có vẽ khá dễ dàng đối với người dân địa phương.
Hai gia đình bắt được rùa vàng kể rằng, sau khi bắt được rùa, họ đã đến các đại lý thu
mua động vật rừng, bằng cách nào đó họ lấy số điện thoại của các khách hàng ở tận
Hà Nội và gọi họ đến địa phương để bán hàng tại chỗ. Đây là một trong những yếu tố
quan trọng thúc đẩy hoạt động khai thác động vật rừng trái phép ở địa phương.
Cơ chế quản lý rừng không chặt chẽ đã tạo điều kiện cho các hộ khai thác gỗ trái
phép. Chính quyền xã cũng như thôn không có sự ràng buộc về trách nhiệm và quyền
lợi trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Nhiều khi xã phát hiện các trường hợp khai thác
lâm sản trái phép nhưng họ “làm lơ” không xử lý. Họ cho rằng nếu họ xử lý sẽ thiệt cho
dân trong khi xã cũng không có lợi gì vì đó là rừng của Lâm trường. Hầu hết các trường
hợp vi phạm được xã xử lý là do Lâm trường phát hiện, báo lên xã và đề nghị xã giải
quyết. Ở cấp thôn, việc phát hiện các trường hợp khai thác lâm sản trái phép càng dễ
dàng hơn. Già làng và các cán bộ thôn ở thôn Phú Thượng đều nắm rõ các đối tượng,
gia đình trong thôn hành nghề khai thác lâm sản trái phép. Già làng nói rằng, ông đã
nhiều lần bắt gặp người dân trong thôn đang khai thác gỗ trái phép trong rừng. Với uy
tín của mình, già làng có thể khuyên bảo họ ngừng khai thác, họ vẫn làm theo yêu cầu
của già làng nhưng chỉ trong lúc giá làng có mặt ở đó, khi già làng đi rồi họ lại tiếp tục
25

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

khai thác. Thôn, làng cũng rất muốn giải quyết các trường hợp vi phạm nhưng họ
không có thẩm quyền, vả lại họ cho rằng đây không phải là nhiệm vụ của thôn.
Mức độ phụ thuộc vào rừng như là nguồn thu nhập cho gia đình đã thay đổi theo
thời gian và có sự khác biệt nhau giữa nhóm hộ người Pa Cô và người Kinh. Kết quả
điều tra thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4: Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình
Nguồn thu nhập
Nghề rừng(a)
Trồng trọt
Chăn nuôi
Nghề phụ(b)
Trợ cấp xã hội
(a)

Tỉ lệ thu nhập của hộ gia đình (%)
Nhóm hộ người Pacô
Nhóm hộ người Kinh
Hiện tại
Trước năm 2000
Hiện tại
Trước năm 2000
12
35
25
58
23
17
40
20
28
21
15
7
33
22
5
5
4
5
15
10

: bao gồm khai thác lâm sản, thu nhặt sắt phế liệu và trồng rừng thuê cho Lâm trường.
Bao gồm buôn bán nhỏ, thợ mộc, nề, làm ăn xa.

(b):

Nguồn: Phỏng vấn cá nhân, 2005.

Nguồn thu nhập từ rừng có xu hướng giảm đối với cả hai nhóm hộ. Điều đó chứng
tỏ kinh tế gia đình của người dân địa phương ngày càng ít phụ thuộc vào rừng. Mức độ
phụ thuộc vào rừng của nhóm hộ người dân tộc cao hơn nhiều so với nhóm hộ người
kinh. Ngoài ra, sự phụ thuộc vào rừng còn có sự khác biệt giữa những hộ nghèo đói và
hộ trung bình trở lên. Đối với nhóm hộ nghèo đói, hầu hết sản phẩm khai thác từ rừng
được bán để kiếm tiền. Ngược lại đối với hộ trung bình và khá, nhiều lâm sản khai thác
như mật ong, động vật rừng, thậm chí mây, gỗ chủ yếu là để sử dụng trong gia đình.
Tỉ lệ hộ khai thác lâm sản từ rừng hiện tại cũng giảm đáng kể so với trước năm
2000. Chúng tôi chỉ xem xét cộng đồng người dân tộc thiểu số ở thôn Phú Thượng, nơi
mà người dân có cuộc sống gắn bó với rừng từ lâu đời, số liệu điều tra cho thây ở bảng
sau:
Bảng 5: Tỉ lệ hộ khai thác lâm sản từ rừng
Loại lâm sản
Gỗ(*)
Động vật rừng(**)
Mây
Lá nón
Mật ong
Rau quả
Cũi
Sắt phế liệu
(*)

Tỉ lệ hộ khai thác (%)
Trước năm 2000
Hiện tại
40
10
30
8
100
15
50
8
17
70
100
80
100
100
80
25

: chỉ tính những hộ khai thác gỗ để bán
(*)
: chỉ tính những hộ khai thác động vật rừng như là một nghề chuyên nghiệp

Nguồn: Phỏng vấn cá nhân, 2005.
Đối với hầu hết các loại lâm sản, tỉ lệ hộ khai thác đều có xu hướng giảm đáng kể.
Riêng đối với mật ong, tỉ lệ hộ khai thác tăng rất cao. Lý do là trước đây người dân khai
26

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

thác mật ong chỉ để sử dụng trong gia đình vì ở thời điểm đó mật ong không bán được,
tuy nhiên hiện nay mật ong rất có giá trị trên thị trường và người dân khai thác mật ong
chủ yếu là để bán. Hầu hết các gia đình đều khai thác và sử dụng cũi từ rừng để đun,
chỉ có khoản 10% trong số đó khai thác củi để bán.
Bốn nguyên nhân chủ yếu được xác định dẫn đến những thay đổi trên là sự cạn
kiệt nguồn tài nguyên rừng, sự phát triển của hoạt động sản xuất nông nghiệp, chế độ
trợ cấp của nhà nước cho các gia đình chính sách và sự phát triển các dịch vụ buôn
bán nhỏ.
Hiện nay, mặc dù giá của mây, lá nón trên thị trường tăng gấp hai đến ba lần so
với trước đây, nhưng số lượng hộ khai thác các sản phẩm đã giảm. Lý do là trử lượng
các loại sản phẩm này đã giảm đi rất nhiều, chỉ còn ở những khu vực cách xa khu dân
cư (5-7km); những khu vực gần mà trước đây người dân thường khai thác, các sản
phẩm này hầu như không còn nữa. Muốn khai thác các sản phẩm này, người dân phải
đi vào rừng sâu rất vất vã, trong khi đó khối lượng khai thác trên công lao động giảm
nhiều so với trước đây, dẫn đến thu nhập tính theo ngày công giảm so với trước đây.
Trước những năm 2000, sản xuất nông nghiệp chưa phát triển, người dân thiếu
công ăn việc làm đồng thời thu nhập từ nông nghiệp không đảm bảo cuộc sống gia
đình. Không có sự lựa chọn nào khác, buộc người dân phải vào rừng để kiếm sống.
Hơn nữa, trong giai đoạn này, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chưa phát
triển, sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra không bán được, một số gia đình mặc dù có
đủ lương thực để ăn nhưng họ cũng đi khai thác lâm sản để bán lấy tiền mặt, phục vụ
những nhu cầu khác của gia đình. Trong những năm lại đây, được sự quan tâm của
nhà nước, có rất nhiều chương trình dự án giúp bà con địa phương phát triển nông
nghiệp. Hoạt động sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo lương thực cho người
dân mà còn tạo ra nguồn thu nhập tiền mặt đáng kể, đã thu hút người dân tập trung vào
các hoạt động sản xuất nông nghiệp hơn là đi rừng. Qua phỏng vấn hộ, đa số người
dân cho rằng bây giờ đi rừng rất vất vã nhưng thu nhập lại rất thấp và không ôn định,
mùa nắng đi rừng được thì có thu nhập nhưng mùa mưa không đi được lại phải chịu
đói; ở nhà chăn nuôi, trồng trọt vừa đảm bảo lương thực cho gia đình vừa có tiền mặt
và công việc cũng ít vất vã hơn đi rừng. Những hộ nghèo, chủ yếu là các hộ mới tách
hộ, do không có điều kiện phát triển sản xuất (vốn, đất đai), cuộc sống còn phụ thuộc
nhiều vào khai thác lâm sản từ rừng.
Nguồn thu nhập từ chế độ chính sách cũng đóng vai trò không kém phần quan
trọng trong việc giảm thiểu tình trạng khai thác rừng. Đối với đồng bào dân tộc ở thôn
Phú Thượng, có 55% hộ được hưởng chế độ chính sách với mức tổi thiểu là
180.000đồng/hộ. Đây là nguồn tiền mặt quan trọng để các hộ giải quyết những nhu cầu
ngoài lương thực của gia đình.
Các dịch vụ buôn bán trên địa bàn của xã cũng rất phát triển trong những năm gần
đây. Nhiều hộ trong xã mở quầy hàng buôn bán tại chợ xã hoặc mở quán buôn bán
hàng tạp hóa tại nhà. Hầu hết các hộ này là người kinh.

5.3.2 Khai hoang và sử dụng đất lâm nghiệp
5.3.2.1. Khai hoang sử dụng đất lâm nghiệp cho sản xuất nông nghiệp
Số liệu trong trong bảng 1nêu trên cho thấy tình trạng thiếu đất sản xuất nông
nghiệp đang rất gay gắt ở địa phương. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân
trên lao động của xã chỉ vào khoảng 0,1 ha, thấp hơn 3 lần so với mức bình quân của
toàn huyện huyện.
Đối phó với tình trạng này, người dân phải khai thác đất rừng để phục vụ sản xuất
nông nghiệp. Về mặt pháp lý, toàn bộ đất rừng thuộc địa bàn của xã đều thuộc quyền
27

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

quản lý và sử dụng của Lâm trường, người dân không có quyền khai thác và sử dụng.
Tuy nhiên, do không có đất sản xuất, người dân địa phương đã khai hoang và canh tác
trên diện tích đất này.
Đối với đồng bào dân tộc, họ đã sinh sống ở địa phương từ rất lâu đời và vì vậy
việc khai hoang đất đai để sản xuất nông nghiệp cũng đã có từ lâu. Thôn phú thượng,
trước năm 1976 là một bộ phận của thôn (làng) Kân Tôm. Theo phương thức quản lý
truyền thống, trước đây thôn đã quản lý trên 800.000 ha đất rừng, bao gồm toàn bộ
diện tích đất đai trên địa bàn xã Phú Vinh. Dưới cơ chế quản lý truyền thống của làng,
người dân trong làng được quyền khai thác và sử dụng đất của làng theo sự cho phép
của già làng.
Sau khi phân chia chia lại địa giới hành chính và thành lập xã Phú Vinh (năm
1976), làng Kân Tôm trước đây không còn nữa, và một phần của làng trở thành thôn
Phú Thượng bây giờ. Toàn bộ diện tích rừng và đất rừng trên địa bàn của xã đã được
giao cho lâm trường quản lý. Tuy nhiên, các gia đình vẫn xem những diện tích đất mà
họ khai hoang trước đây thuộc chủ quyền sử dụng của họ. Mặc dù không có quyền sử
dụng hợp pháp, nhưng các hộ này được cộng đồng thừa nhận quyền “sở hữu” trên
những diện tích đất này. Sau khi đất được giao cho Lâm trường quản lý, người dân
trong thôn vẫn tiếp tục khai hoang đất ở những nơi Lâm trường chưa trồng cây để sản
xuất.
Mặc dù về mặt pháp lý đất rừng trên địa bàn của xã thuộc quyền quản lý của Lâm
trường (Lâm trường là chủ rừng), nhưng trong thực tế việc phân biệt quyền sử dụng
đất của Lâm trường với người dân ở địa phương hiện nay chủ yếu là dựa vào cây trồng
trên đất. Đất nơi nào có cây của dân trồng thì đó được xem là đất thuộc quyền sử dụng
của dân, nơi nào có cây lâm trường trồng thì chủ quyền sủ dụng đất đó được xem là
của lâm trường. Như vậy, người dân trồng cây trên đất khai hoang đồng nghĩa với việc
họ đã khẳng định chủ quyền của họ trên mãnh đất đó và được cộng đồng thừa nhận.
Lâm trường dường như cũng phải thừa nhận chủ quyền theo cách truyền thống của
cộng đồng. Lời kể của già làng thôn Phú Thượng đã minh chứng cho điều này. Ông kể
rằng, khi Lâm trường trồng rừng trên diện tích đât khai hoang của gia đình ông, ông đã
viết đơn lên Lâm trường để đòi lại mảnh đất này. Ông lý giải rằng, diện tích đất đó là do
gia đình ông khai hoang trước đây, tức là của gia đình ông. Lâm trường sử dụng nhưng
không xin ý kiến và không được sự đồng ý của ông, như vậy là không được, do đó lâm
trường phải trả diện tích đất đó lại cho ông. Cuối cùng Lâm trường cũng đã đồng ý trả
mãnh đất đó lại cho gia đình ông cùng với toàn bộ cây mà Lâm trường đã trồng.
Ngoài diện tích đất khai hoang trên địa bàn xã Phú Vinh, hầu hết người dân Pa Cô
ở xã còn có diện tích đất khai hoang rất lớn thuộc xã Hồng Thượng, là xã mà trước đây
họ đã sinh sống.
Theo báo cáo của thôn trưởng, hiện tại diện tích đất nương rẫy của cả thôn Phú
Thượng khoảng hơn 100 ha, trung bình mỗi hộ khoảng 2 ha. Xã không nắm được diện
tích đất này và cũng không kiểm soát được hoạt động canh tác nương rẫy ở địa
phương. Dường như người dân ở đây họ không thiếu đất sản xuất. Trong số diện tích
nương rẫy, chỉ khoảng 50% được canh tác và 50% còn lại bị bỏ hoang. Những hộ thiếu
đất thường là những hộ mới lập gia đình và tách hộ. Do hầu hết diện tích đất ở gần khu
dân cư có thể sản xuất nông nghiệp đã được khai hoang và có chủ, nên các hộ này
phải đi rất xa vào rừng sâu để khai hoang lập rẫy. ở đó đất thường có thảm thực vật
dày và đất xấu, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nên sau khi phát rẫy, họ
canh tác một hoặc vài vụ rồi bỏ hoang và đi khai hoang nơi khác để canh tác. Những hộ
nào không có khả năng khai hoang tiếp sẽ không có đất để sản xuất.
28

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Ngược lại với đồng bào dân tộc, đồng bào Kinh, chủ yếu sinh sống ở 3 thôn Phú
Thuận, Phú Xuân, Phú Thành, thiếu đất sản xuất trầm trọng. Đi theo chương trình kinh
tế mới, họ đã đến định cư ở xã vào những năm sau 1975. Lúc đầu đến đây, họ không
hề có một mãnh đất cắm dùi và sống chủ yếu phụ thuộc vào rừng. Rừng ngày càng bị
cạn kiệt, lâm sản khai thác không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống, buộc người dân
phải tìm kiếm những sinh kế mới để duy trì sự sống. Họ chuyển sang buôn bán, làm
nghề (thợ nề, thợ mộc), và chủ yếu là tập trung vào sản xuất nông nghiệp.
Một khó khăn lớn nhất đối với họ là không có đất để sản xuất. Những năm đầu
mới định cư, mặt dù đất đã giao cho Lâm trường quản lý nhưng trong thực tế người
dân vẫn có thể khai hoang để phát triển sản xuất trên đất Lâm trường chưa trồng cây.
Tuy nhiên lúc này, người dân chỉ tập trung vào khai thác lâm sản từ rừng để kiếm sống
mà không chú ý đến việc khai hoang đất đai và sản xuất. Những năm về sau, Lâm
trường đã tiến hành trồng rừng trên hầu hết các vùng đất có thể khai hoang sản xuất
nông nghiệp. Vì vậy, người dân hầu như không còn cơ hội để khai hoang nữa.
Với diện tích đất vườn và diện tích lúa nước ít ỏi, người kinh thiếu đất sản xuất
trầm trọng. Trong hoàn cảnh này, ngoài việc tập trung canh tác trên diện tích đất sẵn
có, người dân phải tìm mọi cách để mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp. Nhiều hộ
đã khai hoang ở vùng ven đồi, ven suối quanh khu vực trồng cây của Lâm trường,
những nơi mà Lâm trường không trồng cây đến, tuy nhiên diện tích khai hoang không
đáng kể. Ngoài ra, có một số hộ đã tận dụng những diện tích đất trống do cây trồng
của Lâm trường bị chết để canh tác, nhưng họ đã gặp phải sự phản đối của Lâm
trường. Lâm trường cấm không cho phép các hộ canh tác ở những vùng đất này mặc
dù ở đó rừng của Lâm trường đã bị chết hoặc phát triển kém. Một chị phụ nữ ở xã có
khai hoang và canh tác trên diện tích đất mà cây trồng của Lâm trường đã chết trao đổi
với chúng tôi rằng, thấy đất bỏ không rất lãng phí, nên gia đình chị đã khai hoang và
canh tác nhưng lâm trường đã đến lập biên bản không cho chúng tôi làm; Lâm trường
đã lập biên bản 3 lần rồi nhưng gia đình chúng tôi vẫn canh tác vì không còn nơi nào
hơn để có thể sản xuất và nuôi sống gia đình. Điều này chứng tỏ, người dân đang rất
cần đất đai để sản xuất và kiếm sống.
Hầu hết đất nương rẫy đang được canh tác theo phương thức truyền thống, “phát,
đốt, cốt, trỉa” , do đó năng suất rất thấp. Tình trạng du canh, đốt nương làm rẫy còn xảy
ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc Pa Cô. Đây là mối nguy hiểm nhất
dẫn đến cháy rừngvà xói mòn đất. Cây trồng nông nghiệp chủ yếu là sắn, khoai (lấy lá),
ngô, môn (lấy lá) và lúa rẫy. Bên cạnh cung cấp lương thực cho gia đình, các loại cây
trồng này còn cho nguồn thu nhập tiền mặt đáng kể. Trong những năm gần đây, một số
diện tích nương rẫy được người dân trồng rừng theo một số chương trình dự án. Loài
cây trồng chủ yếu là quế Bắc. Nhiều hộ gia đình, cây đã đến tuổi khai thác nhưng do
giá quá rẻ nên người dân cũng không mấy quan tâm đến rừng của họ.
Được sự hỗ trợ kỹ thuật của một số chương trình, dự án đã và đang hoạt đồng
trên địa bàn của xã, người dân đã từng bước ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất và thay đổi cơ cấu cây trồng. Nhờ đó, năng suất cây trồng được cải thiện đáng kể
đối với diện tích đất đai sản xuất ở gần khu dân cư. Nhiều loại cây trồng mới được đưa
vào trồng như nhãn, vãi, hồng, tre lấy măng để thay thế cho các cây trồng có giá trị kinh
tế thấp. Chưa có kết quả cụ thể nhưng đây là hướng phát triển sản xuất có thể giúp
nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, những thay đổi này chỉ tập trung ở diện
tích đất nông nghiệp của xã đã được giao khoán cho dân, đối với diện tích đất canh tác
nương rẫy cũng đã có chuyển biến nhưng không đáng kể.
Tận dụng từng tấc đất, nhưng người dân ở xã, đặc biệt là đồng bào người Kinh
vẫn đang trong tình trạng thiếu đất gay gắt. Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho đời
29

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

sống người dân thật sự khó khăn. Ngoài đất sản xuất nông nghiệp, nhận thức được lợi
ích kinh tế của việc trồng rừng nên hầu hết người dân địa phương rất mong muốn được
nhận khoán diện tích đất lâm nghiệp bỏ hoang mà Lâm trường chưa sử dụng đến để
phát triển trồng rừng. Họ bảo đảm rằng, nếu được nhận khoán họ sẽ tự đầu tư để trồng
rừng. Nhưng khó khăn lớn nhất đối với họ là thiếu vốn sản xuất và thiếu kiến thức khoa
học kỹ thuật, do đó họ rất cần sư hỗ trợ từ bên ngoài, từ các chương trình, dự án của
nhà nước cũng như các tổ chức quốc tế. Theo kết quả điều tra, một số hộ của xã có
điều kiện kinh tế ở mức trung bình hoặc khá đã góp vốn với bà con họ hàng sống ở các
xã lân cận có nhận khoán đất trồng rừng để đầu tư trồng rừng. Điều này chứng tỏ
người dân ở xã thực sự có nhu cầu đầu tư phát triển trồng rừng.
Trước tình hình đó, chính quyền xã đã nhiều lần thuyết phục với Lâm trường
nhượng đất lại cho địa phương, đồng thời đề nghị với chính quyền cấp trên (UBND
huyện và tỉnh) thu hồi một phần đất do lâm trường quản lý có thể khai hoang và sản
xuất nông nghiệp và diện tích đất hoang mà lâm trường không sử dụng đến để phân
chia cho nhân dân trong xã. Tuy nhiên cho đến nay, đề nghị của xã vẫn chưa được giải
quyết.
Tình trạng lấn chiếm, tranh giành đất đai giữa người dân trong xã và Lâm trường
đang diễn ra quyết liệt, làm cho mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng trở nên căng thẳng.
Điều này đã gây ra nhiều bất lợi cho công tác quản lý bảo vệ rừng. Người dân luôn xem
rừng là của Lâm trường (nhà nước) và có thái độ thờ ơ với việc quản lý bảo vệ. Sự hợp
tác giữa người dân địa phương với các cơ quan chức năng trong quản lý và bảo vệ
rừng rất kém. Đây là một thách thức lớn cho việc quản lý và sử dụng tài nguyên rừng
bền vững.
5.3.2.2. Khai hoang đất rừng để xây dựng nhà ở
Bên cạnh nhu cầu về đất để sản xuất, người dân còn có nhu cầu rất cao về đất để
xây dựng nhà ở. Theo số liệu thống kê của xã năm 2001, diện tích đất chuyên dụng và
đất ở của xã là 38 ha (chiếm 1,3% tổng diện tích tự nhiên). Sau khi đường Hồ chí Minh
xây dựng, người dân có xu hướng di chuyển ra ở hai bên đường, đặc biệt đối với các
hộ đồng bào dân tộc Pacô vốn dĩ họ đang sinh sống sâu trong rừng. Xu hướng này phù
hợp với chính sách của nhà nước khuyến khích các hộ đồng bào dân tộc cư trú trong
rừng di chuyển đến các khu dân cư theo qui hoạch. Hơn nữa, ở xã hiện nay có rất
nhiều hộ có con cái lập gia đình và có nhu cầu tách hộ lập vườn (số lượng hộ tăng
hàng năm từ 3 đến 5 hộ). Nhưng hầu hết diện tích đất ở hai bên đường, cũng như
những nơi có thể xây dựng được nhà ở đều được Lâm trường trồng cây. Vì vậy, người
dân không những thiếu mà thực sự không có đất để xây dựng nhà ở. Trong tình thế
này, có một số khu vực Lâm trường cũng đã đồng ý để người dân khai hoang xây nhà
trên đất đã được lâm trương trồng cây nhưng với điều kiện phải đền bù toàn bộ cây
trồng trên đất. Cây trồng chủ yếu ở đây là cây thông, giá đền bù một cây thông (bất kể
lớn nhỏ) là 15000đ. Nhiều hộ, mặc dù rất nghèo nhưng đã phải đi vay mượn đền bù
cho Lâm trường để có đất xây nhà ở. Để có một mảnh đất vừa đủ làm nhà, hộ anh
Trung thuộc thôn Phú Thuận đã phải đền bù cây cho Lâm trường hết 500.000đồng, đây
là một khoản tiền không nhỏ đối với các hộ nghèo. Sau khi đền bù, các hộ được Lâm
trường đồng ý bằng văn bản cho sử dụng đất đai. Căn cứ vào đó, xã ra quyết định cấp
đất xây dựng nhà ở cho các hộ.
Quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan đối với tài nguyên rừng
nói chung và đất đai nói riêng trên địa bàn của xã chưa được xác định rõ ràng. Về mặt
pháp lý, đất đai thuộc địa bàn của xã thuộc quyền quản lý và sử dụng của xã, Tuy nhiên
tài sản trên đất (rừng) thuộc quyền quản lý của Lâm trường; Lâm trường muốn sử dụng
30

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

đất trên địa bàn của xã phải xin phép và được sự đồng ý của xã. Trong thực tế, xã
không có quyền qui hoạch sử dụng những diện tích đất có rừng của Lâm trường cho dù
những diện tích đất này sử dụng không hiệu quả, trừ khi cây của Lâm trường được
đền bù và được Lâm trường đồng ý. Cán bộ địa chính của xã cho biết rằng, trong một
số trường hợp người dân muốn được xã cấp giấy phép để làm nhà trên đất có rừng
của Lâm trường thì trước hết người dân bằng cách này hay cách khác phải biến đất có
rừng thành đất không có rừng. Vì thế tình trạng chặt rừng, lấn chiếm rừng thường xảy
ra trên địa bàn của xã, xã không ủng hộ hành động vi phạm này nhưng cũng không có
biện pháp cứng rắn để ngăn cản. Về phía Lâm trường, có rất nhiều trường hợp Lâm
trường sử dụng đất để trồng rừng nhưng không thông qua xã, Lâm trường tự ý qui
hoạch và trồng rừng trên diện tích đất của xã. Cơ chế quản lý không thống nhất đã gây
ra những cản trở lớn đối với việc phối hợp giữa các bên trong quản lý và bảo vệ tài
nguyên rừng trên địa bàn của xã. Điều này được phân tích rõ hơn trong phần “Quyền
lực và mức độ ảnh hưởng của các bên liên quan đến hoạt động quản lý tài nguyên
rứng” (mục 5.6.1của báo cáo).

5.3.3. Sử dụng rừng như là nguồn thức ăn cho chăn nuôi và bãi chăn thả
Trong những năm lại đây, hoạt động chăn nuôi, chủ yếu là nuôi lợn, bò, dê và cá
của xã khá phát triển và được đánh giá rất cao trong công tác xóa đói giảm nghèo và
cải thiện đời sống người dân địa phương. Toàn xã có 80 hộ chăn nuôi lợn với tổng đàn
lợn là 420 con; 34 hộ chăn nuôi trâu, bò với số lượng là 286 con, trong đó số lượng đàn
trâu, bò của thôn Phú Thượng chiếm gần 1/2, nhiều hộ có hơn 10 con bò; 76 hộ nuôi cá
với diện hồ với tổng diện tích khoảng 2,5 ha; và 3 hộ nuôi dê với tổng đàn dê là 25 con
con (Báo cáo tình hình KTXH – ANQP của xã Phú Vinh, 2004). Rau và lá cây rừng là
nguồn thức ăn phong phú sẵn có cho hoạt động chăn nuôi. Ngoài ra, 100% hộ chăn
nuôi sử dụng đất nương rẫy để trồng rau khoai, môn, và một số loại rau khác để làm
thức ăn cho lợn và cá. Gần đây người dân còn phát triển trồng các loại cỏ như cỏ voi,
cỏ sả trên đất nương rẫy để làm thức ăn cho chăn nuôi.
Phương thức chăn nuôi bò, dê ở đây chủ yếu là thả rông, đặc biệt với đồng bào
dân tộc. Hầu hết các hộ đã sử dụng diện tích đất nương rẫy bỏ hoang làm bãi chăn thả
gia súc, một số hộ khác chăn thả trong rừng. Số lượng đàn gia súc của xã có xu hướng
ngày càng tăng, trong khi đó diện tích bải chăn thả không đổi đã nẫy sinh nhiều vấn đề.
Việc chăn thả gia súc tự do trong rừng đã phá hoại cây trồng, ảnh hưởng tiêu cực đến
công tác trồng rừng. Chăn thả tự do còn gây phương hại cho hoạt động sản xuất nông
nghiệp, dẫn đến những mâu thuẫn giữa người dân sống trong cộng đồng.
5.3.4. Nguồn thu nhập của các hộ gia đình từ hoạt động trồng rừng
Với sự hỗ trợ của nhà nước thông qua các chương trình như chương trình 327,
chương trình 5 triệu ha rừng,... Lâm trường đã tiến hành trồng rừng trên địa bàn của
xã. Diện tích rừng trồng cho đến nay là 381,4 ha. Thiếu nhân công, Lâm trường đã huy
động sư tham gia của nhân dân trong xã. Người dân tham gia ở đây với tư cách là
người làm thuê, được lâm trường trả tiền theo ngày công lao động (hiện tại khoản
30.000đ/ngày công) hoặc theo mức khoán (tính theo diện tích và công việc cụ thể).
Ngoài tiền công lao động nói trên, người dân không được hưởng lợi gì và cũng không
có sự ràng buộc nào đối với diện tích rừng mà họ tham gia trồng. Mặc dù không
thường xuyên, nhưng hầu hết các hộ làm nông nghiệp được phỏng vấn đều có tham
gia trồng rừng cho Lâm trường. Hoạt động trồng rừng đã góp phần vào việc giải quyết
lao động nhàn rỗi đồng thời có vai trò quan trọng đối với thu nhập gia đình nhất là đối
với những hộ nghèo.
31

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Ngoài ra, một số hộ còn nhận khoán bảo vệ rừng. Căn cứ theo nghị định 01 bổ
sung đối với việc thực hiện chương trình 327, Lâm trường đã khoán cho các hộ hoặc
nhóm hộ dân trong xã bảo vệ diện tích rừng tự nhiên do Lâm trường quản lý. Theo nghị
định này, mức khoán bảo vệ là 50.000đ/ha/năm, nhưng trong thực tế kết quả điều tra
cho thấy người dân không được hưởng hết mức khoán này. Thường là các hộ được
nhận khoán bảo vệ một khu rừng có diện tích lên đến hàng chục, hàng trăm ha với mức
thù lao là 200 - 300 đồng/năm. Mức thù lao thấp nhưng đòi hỏi trách nhiệm cao đã
không thu hút người dân tham gia nhận khoán bảo vệ. Một số ít hộ trong xã đã nhận
khoán bảo vệ rừng nhưng họ cũng chỉ bảo vệ được vài ba năm và sau đó thôi không
nhận khoán nữa. Hiện tại, không có hộ nào trong xã nhận khoán bảo vệ rừng cho Lâm
trường.
5.3.5. Chức năng sinh thái và giá trị văn hóa của rừng đối với đời sống người dân địa
phương
Bên cạnh cung cấp lâm sản, đất đai cho sản xuất nông nghiệp, rừng còn có chức
năng sinh thái rất quan trọng đối với người dân địa phương. Rừng có vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ, điều tiết nguồn nước và phòng hộ sản xuất nông nghiệp. Người dân
đã phản ảnh rằng, các chức năng sinh thái của rừng đã và đang bị suy giảm mạnh.
trong những năm lại đây mực nước ở các sông suối trên địa bàn xã vào mùa khô xuống
ở mức rất thấp; đất nương rẫy trở nên khô cằn hơn; lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn vào
mùa mưa. Những hiện tượng này đã gây ra nhiều khó khăn, bất lợi đối với hoạt động
sản xuất của người dân địa phương. Đât đai khô cằn bất lợi cho việc canh tác; thiếu
nước tưới phục vụ sản xuất; lũ lụt, hạn hạn đã gây ra mất mùa và nhiều rủi ro cho sản
xuất. Hầu hết người dân đã nhận thức được rằng nguyên nhân của những hiện tượng
này là do tài nguyên rừng bị suy giảm trầm trọng. Đây là yếu tố quan trọng để họ có
những đối xử tốt hơn với rừng.
Trong chiến tranh, người dân Pacô nơi đây đã có cuộc sống rất gắn bó với rừng.
Các cựu chiến binh của xã đã kể rằng “trong những năm tháng chiến tranh chúng tôi đã
phải sống chui lủi trong rừng, ăn rau cũ rừng để sống qua ngày. Cũng tại khu rừng này
chúng tôi đã lập được nhiều chiến công vẽ vang, góp phần đánh thắng giặc Mỹ”. Vì vậy,
đối với người dân nơi đây rừng còn lá chiến khu xưa, là chiến tích lịch sử được họ rất
tôn trọng, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân địa phương.
5.3.6. Ảnh hưởng của công tác quản lý rừng ở địa phương đến sinh kế phu thuộc vào
rừng của người dân địa phương
Quan hệ giữa cuộc sống của người dân và tài nguyên rừng ở địa phương chịu
ảnh hưởng nhiều bởi hệ thống chính sách nhà nước về quản lý bảo vệ rừng và cơ chế
quản lý rừng. Trước năm 1995, mặc dù chính sách đóng cửa rừng của Nhà nước đã
được áp dụng ở địa phương - nhiều quyết định cấm khai thác các lọai lâm sản được
ban hành, nhưng việc áp dụng nó chưa khắt khe và người dân vẫn có thể khai thác
nhiều loại lâm sản từ rừng. Cuộc sống phụ thuộc vào rừng của người dân địa phương,
mặt dù không no đủ nhưng tương đối ổn định do nguồn tài nguyên rừng còn khá phong
phú.
Sau năm 1995, việc thực hiện chính sách đóng cửa rừng ngày càng khắt khe hơn,
nhiều loài động thực vật rừng bị cấm khai thác, trong khi nguồn tài nguyên rừng có xu
hướng giảm mạnh. Vì vậy, đời sống của các hộ phụ thuộc nhiều vào rừng đã gặp rất
nhiều khó khăn. Thông qua thảo luận nhóm, người dân đã phản ảnh rằng, sau năm
1995 hầu hết các hộ phụ thuộc nhiều vào rừng đã trở nên đói gay gắt, thiếu ăn triền
32

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

miên. Phải mất 3 năm sau đó cuộc sống của các hộ này mới từng bước hồi phục thông
qua việc tìm kiếm các giải pháp sinh kế thay thế mà chủ yếu là đi làm thuê, buôn bán và
phát triển sản xuất nông nghiệp. Như vậy, sự thay đổi trong chính sách quản lý rừng đã
ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân nơi đây.
Xu hướng cuộc sống người dân địa phương ngày càng ít phụ thuộc vào tàI
nguyên rừng. Tuy nhiên hiện tại, các hộ nghèo ở địa phương, đặc biệt là đồng bào dân
tộc Pacô vẫn còn phụ thuộc nhiều vào việc khai thác lâm sản từ rừng. Kết quả điều tra
cho thấy, đối với các hộ nghèo, thu nhập từ việc khai thác lâm sản (kể cả sắt phế liệu)
chiếm đến hơn 70% tổng thu nhập gia đình. Vì vậy, việc tiếp cận với nguồn tài nguyên
rừng là rất quan trọng với các hộ nghèo.
Trong cơ chế quản lý rừng hiện tại, khả năng tiếp cận với tài nguyên rừng của
người dân đã và đang bị hạn chế. Không kiểm soát được tình trạng khai thác rừng trái
phép và để ngăn ngừa cháy rừng, Lâm trường đã có gắng hạn chế tối đa người dân
vào rừng tự nhiên, bất kể vào rừng để khai thác những loại lâm sản được phép khai
thác như lấy măng, khai thác mây, lấy mật ong, hái rau rừng, ... Giải pháp này vừa gây
ra những khó khăn cho cuộc sống của người dân phụ thuộc vào rừn vừa làm cho họ có
nhận thức không đúng tài sản rừng. Họ xem rừng là của Lâm trường, của Nhà nước và
không còn sự gắn bó với rừng như trước đây. Đây là một thách thức lớn đang đặt ra
cho công tác quản lý rừng ở địa phương.
Hiện nay, ngoài việc trồng rừng thuê cho Lâm trường, dường như người dân
không được tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương, có chăng là
tham gia chữa cháy rừng rất ít khi xảy ra trên địa bàn xã. Trong khi đó, nhà nước đang
có những chính sách khuyến khích sự tham gia của người dân, của cộng đồng địa
phương vào công tác quản lý bảo vệ rừng. Điều này, một mặt hạn chế sự tiếp cận của
người dân đối với những lợi lợi ích hợp pháp từ rừng, mặt khác tạo ra những thách
thức lớn cho công tác quản lý rừng ở địa phương.
Người dân không được giao khoán đất để trồng rừng, cũng không được tham gia
trồng rừng dưới hình thức nhận khoán chia lợi theo chương trình 327. Vì thế họ sẽ
không được hưởng lợi sau này từ diện tích rừng trồng. Họ cũng không nhận khoán bảo
vệ rừng tự nhiên do cơ chế khoán lại của Lâm trường với mức thù lao quá thấp, do đó
không được hưởng phụ cấp bảo vệ rừng của nhà nước và đồng thời không được bảo
đảm quyền hợp pháp đối với việc khai thác và sử dụng những sản phẩm từ rừng tự
nhiên.
Không được hưởng lợi, người dân đương nhiên có những thái độ thờ ơ với rừng,
thậm chí vì kế sinh nhai nên họ có những hành vi bất chấp pháp luật, săn bắt các động
vật quí hiếm. Lâm trường và Hạt kiểm lâm huyện thực sự không thể kiểm soát được
các hành vi phạm pháp đối với việc khai thác và sử dụng tài nguyên rừng trên địa bàn
của xã. Những ảnh hưởng từ công tác quản lý và bảo vệ rừng đến sinh kế của người
dân địa phương được còn được đề cập đến trong các phần 5.5 và 5.6 dưới đây.
5.4. Kiến thức bản địa của người dân địa phương trong quản lý và sử dụng tài
nguyên rừng
Người dân ở huyện A Lưới nói chung, ở xã Phú Vinh nói riêng do sống với rừng
từ lâu nên đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu về quản lý và sử dụng tài
nguyên rừng, đất rừng. Tuy nhiên cùng với sự thay đổi của xã hội, của các điều kiện/
cách thức sản xuất, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện nay,... muốn sử dụng/ bảo
lưu, hay cách tân, xóa bỏ các kinh nghiệm truyền thống của người dân thì vấn đề đặt ra
là phải có những nghiên cứu cụ thể, có những lời giải mang tính khoa học.
33

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Kiến thức bản địa là một khái niệm khá rộng, khá phong phú và khá đa dạng bao
gồm các kiến thức về sản xuất kinh tế, về việc thích ứng với tự nhiên (trồng trọt, chăn
nuôi, săn bắn, hái lượm, hoạt động ngành nghề), về quản lý (quản lý đất đai, xã hội,
con người), về giáo dục (các mối quan hệ, các thế ứng xử giữa con người với con
người, với cộng đồng, với xã hội), về y tế cộng đồng (dinh dưỡng, sức khỏe, y học dân
gian)... Dù thế ở đây chúng tôi chỉ tập trung đi vào lý giải kiến thức bản địa trên khía
cạnh quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, đất rừng của người Kinh (Việt) và người Tà Ôi
(Pa Cô) thuộc địa bàn xã Phú Vinh.
5.4.1. Kiến thức bản địa về quản lý
5.4.1.1. Đối với người Kinh (Việt)
Khi tìm hiểu về kiến thức bản địa về quản lý tài nguyên rừng, đất rừng của người
Kinh ở xã Phú Vinh có những điểm cần lưu ý sau:
Do nhiều nguyên nhân (thời gian có mặt ở Phú Vinh mới từ sau 1975, trong quá
khứ họ là những cư dân nông nghiệp, ít biết đến nghề rừng...) nên kinh nghiệm quản lý
rừng truyền thống không rõ nét. Dù thế đối với bộ phận cư dân này trong thời gian qua
hình thức quản lý Nhà nước về tài nguyên rừng lại rất được đề cao.
Như vậy khi nói đến kinh nghiệm/ kiến thức quản lý tài nguyên rừng của người
Kinh ở Phú Vinh trong thời gian qua là nói đến tính hiệu quả của việc thực thi những
quy định về rừng (sự hiểu biết và hành động của người dân về các quy định về rừng, về
việc phòng chống cháy, về trồng rừng...), nói đến sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị
cộng đồng trong bản về tài nguyên, nói đến tính pháp lý của việc khai thác, bảo vệ, phát
triển rừng thông qua các răn đe, ngăn chặn, khen thưởng...
5.4.1.2. Đối với người Tà Ôi (Pa Cô)
Cũng giống như người Kinh cùng sống trên địa bàn, hình thức quản lý bao trùm về
tài nguyên rừng và đất rừng trong người Tà Ôi (Pa Cô) ở xã Phú Vinh hiện nay là quản
lý Nhà nước (quản lý chính thống). Dù thế, Tà Ôi là một tộc người thiểu số, sống gắn
bó, lâu đời với vùng đất nên bên cạnh hình thức quản lý Nhà nước về tài nguyên rừng
và đất rừng, trong đồng bào vẫn tồn tại một hình thức quản lý khác đó là quản lý truyền
thống / quản lý cộng đồng/ quản lý dựa vào các luật tục, vào những người già, một
cách quản lý rất dân chủ, hiệu quả (so với trước đây, hiện nay hình thức quản lý phi
chính thống này đã bị mờ nhạt đi nhiều). Hình thức quản lý phi chính thống ở người Tà
Ôi (Pa Cô) trong những thời kỳ trước đây rất có hiệu quả và tỏ rõ sức sống mãnh liệt
của nó. Hình thức quản lý này được thể hiện qua quản lý hộ gia đình, quản lý dòng họ
nhưng tập trung và quan trọng nhất là quản lý thôn - làng / cộng đồng. Tính ưu việt của
quản lý cộng đồng về tài nguyên rừng, đất rừng trong người Tà Ôi (Pa Cô) ở xã Phú
Vinh của những thời kỳ trước đây được thể hiện qua các nội dung sau:
- Không vùng đất nào thuộc phạm vi của làng lại không có chủ (rừng là của cộng
đồng nên ai cũng có trách nhiệm). Hay nói một cách khác đi tất cả mọi thành viên của
làng đều gắn bó quyền lợi với phần đất của làng. Mọi thành viên của làng đều có quyền
phát rẫy, làm nương, săn bắn, thu nhặt lâm thổ sản mọi lúc, mọi nơi, đều có quyền
chiếm dụng / hưởng dụng đất rừng... Kích thích về mặt quyền lợi này đã làm tăng trách
nhiệm của người dân đối với tài nguyên rừng và đất rừng.
- Thông qua người chủ làng, “hội đồng già làng” với phương pháp làm việc tập
trung dân chủ nên mọi phán quyết / cách thức điều hành, quản lý rừng đối với người
dân rất có hiệu quả. Dưới sự hướng dẫn của người chủ làng (người có uy tín nhất trong
cộng đồng làng), mọi thành viên biết rõ nơi nào là đất thuộc rừng cấm, rừng thiêng, nơi
nào là đất sản xuất, chăn thả, nơi nào là đất không thuộc phạm vi của làng...
34

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

- Tuy không thành văn bản nhưng những điều quy định trong luật tục lại hết sức rõ
ràng, thấu tình đạt lý, đi sâu vào lòng người, được người dân triệt để tuân theo (các
điều khoản khen thưởng, phạt vạ, khiển trách, xử lý vi phạm, giải quyết xung đột / mâu
thuẫn...)
Hiện nay ở thôn Phú Thượng xã Phú Vinh quản lý truyền thống về tài nguyên
rừng, đất rừng đã có những thay đổi / chuyển dịch, nhưng không phải vì thế mà nó đã
mất hẵn trong tâm thức của người dân. Kết quả điều tra cho thấy, hiện nay ở thôn Phú
Thượng, người dân vẫn :
- Rất tôn trọng, vì nể già làng (95% người được hỏi)
- Già làng vẫn tham gia vào việc phổ biến kinh nghiệm sản xuất, cách thức làm ăn,
chỉ dẫn cho người dân tìm đất sản xuất, chỗ ở mới...
- Người dân vẫn có tập quán không canh tác ở những vùng đất cấm (rừng thiêng,
rừng ma...), không chặt phá, giết hại những thực vật, động vật có liên quan đến kiêng
kỵ của dòng họ.
- Người dân vẫn giữ quan niệm: phần đất do đồng bào tự khai phá ra là của đồng
bào (dù phần đất đó nằm trong diện tích quản lý của lâm trường). Hơn thế, đồng bào
còn cho rằng: phần đất do ông cha hay chính bản thân khai phá trước đây, hiện đang
trong thời kỳ bỏ hóa vẫn là của họ, không một ai được xâm phạm đất này.
5.4.2. Kiến thức bản địa trong sử dụng tài nguyên rừng
Khi tìm hiểu về kiến thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên rừng, đất rừng của
người dân ở xã Phú Vinh chúng tôi chỉ tập trung nhiều vào kiến thức bản địa của người
Tà Ôi (Pa Cô) bởi nhẽ theo chúng tôi, khối cư dân này có quá trình sống/ gắn bó với
rừng từ rất lâu đời. Người Tà Ôi hiểu về rừng, thể hiện mối quan hệ Rừng - Người rất
mật thiết và hết sức đặc biệt. Rừng nuôi sống, chở che và là một phần tất yếu trong đời
sống vật chất cũng như tinh thần của đồng bào, chính vì thế kiến thức bản địa về việc
sử dụng tài nguyên rừng, đất rừng ở đồng bào là rất đa dạng, phong phú.
Cố nhiên do nhiều lý do, thời gian, mục tiêu của nghiên cứu...) khi tìm hiểu kiến
thức bản địa của người Tà Ôi (Pa Cô) ở Phú Thượng về sử dụng tài nguyên rừng, đất
rừng, chúng tôi chỉ đi vào một số khía cạnh sau:
5.4.2.1. Kiến thức bản địa trong phân loại, sử dụng và bảo vệ đất
a. Kinh nghiệm chọn và phân loại đất
Chọn đất là khâu đầu tiên trong chu kỳ sản xuất nương rẫy, đóng vai trò quan
trọng trong việc kéo dài thời gian sử dụng đất, trong việc quyết định trồng loại cây nào,
cũng như quyết định tới năng suất cây trồng. Cơ sở giúp người Tà Ôi (Pa Cô) tiến
hành chọn đất, phân loại đất tốt, xấu chủ yếu dựa trên các quan sát về màu sắc, hệ
thực vật và nhất là dựa trên kết quả so sánh về sự tăng trưởng của cây trồng... Kết quả
điều tra của nhóm về việc phân loại đất tốt xấu ở người Tà Ôi thôn Phú Thượng được
trình bày trong bảng 7.
Bảng 6: Cách nhận biết đất tốt, xấu
Đặc điểm, tính chất
Thảm thực vật
Màu sắc
Tính chất (lý học)
Đặc điểm khác
Cây trồng

Đất tốt
- Cây dày, mọc xanh tốt

Đất xấu
- Cây cằn cỗi, úa vàng chủ yếu là lau
lách, cây bụi
- Đất có màu đen, nâu đen - Đất màu bạc, trắng
- Đất tơi xốp, ẩm ướt, giữ - Đất khô rời, lẫn đá sỏi, giữ nước
nước
kém
- Có tầng lá mục dày, có - ít có lá rụng, không có phân giun,
giun đùn, có lớp mùn
nhiều sỏi đá.
Mọc nhanh
Mọc kém
35

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Nguồn: phỏng vấn sâu và phỏng vấn cá nhân, 2005.

Trong khi phân biệt đất tốt, xấu, đồng bào Tà Ôi còn dựa vào cây hiển thị (đặc biệt
là cây cỏ) để phân loại. Ví dụ, nếu trên đất đã có loài cỏ:
- Có cỏ tranh nhiều: đất bị thoái hóa, bạc màu, tầng đất màu mỏng.
- Có cỏ mắc cỡ: đất bị rữa trôi nhiều
- Có cỏ ú (muống): đất bị đọng nước
- Có nhiều cỏ hôi: đất đã phục hồi dinh dưỡng.
Ngoài ra, theo đồng bào khi trên đất phục hóa mọc các cây có tán như trứng cá,
dang, bai bai... có nghĩa là đất đó đã có khả năng quay lại sử dụng . Đồng bào cũng
cho biết thời gian để cây rừng phục hồi có thể là 3-5 năm, 5-7 năm hoặc lâu hơn tùy
theo từng loại đất.
Người Tà Ôi (Pa Cô) ở Phú Thượng còn có cách phân loại đất mang tính chất của
vùng cư trú là phân theo địa hình như đất cao, dốc, xa nơi ở, đất đồi, giần nhà, đất khe
suối, 2 bên bờ sông, đất thung lũng...
Cách phân loại đất theo địa hình giúp cho đồng bào có sự phân bố cây trồng thích
hợp. Ví dụ theo đồng bào những vùng đất xa nhà ở, dốc chỉ phù hợp cho cây lấy gỗ,
cây lâm nghiệp. Đất không quá xa nhà ở (đồi trọc trảng cỏ) dùng nơi chăn thả gia súc.
Đất gần nhà ở (đất đồi, đất bằng) phù hợp cho trồng cây hoa màu, cây ăn quả, lúa
nước...
b. Kinh nghiệm sử dụng đất vào mục đích canh tác
Trong điều kiện trình độ dân trí thấp, sản xuất phụ thuộc vào tự nhiên và tập trung
vào khai thác các nguồn lợi của tự nhiên là chủ yếu nên người Tà Ôi (cư dân làm
nương rẫy) ít chú ý đến cải tiến kỹ thuật mà thường tập trung vào việc làm đúng thời vụ,
tìm chọn tập đoàn cây trồng phù hợp với từng loại đất. Như vậy đối với người Tà Ôi
kinh nghiệm sử dụng đất, phân bố cây trồng hợp lý là một bước quan trọng trong canh
tác nương rẫy. Trước hết, người Tà Ôi dựa vào tính chất của đất mà có sự phân bố cây
trồng khác nhau:
- Đất tốt: ưu tiên trồng các cây lương thực, thực phẩm chính (lúa, ngô, đậu, bầu
bí, khoai...) trong đó đặc biệt ưu tiên cho cây lúa cạn, còn các loại cây ngoài lúa chỉ có
tính chất trồng xen.
- Đất không tốt, không xấu : trồng sắn, đậu, chuối, thuốc lá, mía.
- Đất xấu: trồng sắn, sau đó bỏ hóa
- Hiện nay do dân số tăng, diện tích rừng bị thu hẹp nên trên đất bỏ hóa đồng bào
thường trồng cây lâm nghiệp như tràm, thông, lồ ô, bạch đàn, keo...
Như vậy, cách phân bố cây trồng phù hợp với tính chất đất và đặc điểm của địa
hình nương rẫy đã phản ánh sự thích ứng tối đa của các giống cây trồng (nhất là các
giống cây địa phương). Đồng bào áp dụng kỹ thuật trồng xen nhằm tận dụng tối đa độ
màu mỡ của đất, vừa khắc phục tình trạng đất vắng cây, làm tăng dộ che phủ, chống
xói mòn, rữa trôi, vẫn bảo vệ / tăng nguồn dinh dưỡng cho đất. Việc trồng xen các loại
hoa màu khác nhau trên cùng một đám đất như các loại cây cung cấp tinh bột (sắn,
khoai...), cây cung cấp tinh dầu (mè, đậu, lạc...), cùng cây ăn quả (nhiều nhất là chuối)
còn có ý nghĩa giải quyết vấn đề an toàn lương thực vào những dịp mất mùa lúa, thời
kỳ giáp hạt.
Ngoài những kiến thức bản địa trong phân bố cây trồng theo tính chất của đất,
theo đặc điểm địa hình, đồng bào còn có kinh nghiệm sử dụng đất theo thời gian (thời
vụ). Do thường canh tác trên địa hình dốc, lại không có biện pháp giữ nước, không có
thói quen dùng phân bón (nhất là phân hữu cơ) nên đất thường bị xói mòn, độ phì
nghèo. Chính vì thế việc bố trí cây trồng hợp lý với biện pháp luân canh rẫy để đảm bảo
36

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

quá trình phục hồi độ phì cho đất rừng là hết sức quan trọng. Thông thường ở người Tà
Ôi mỗi gia đình đều có từ 3 ->5 đám nương rẫy luân canh.
c. Kinh nghiệm chống xói mòn, rữa trôi đất và duy trì độ màu mỡ cho đất
Đất canh tác nương rẫy của người Tà Ôi ở Phú Thượng đều nằm trên các sườn
đồi, sườn núi, nơi có độ dốc tương đối cao, lại thường xuyên bị bào mòn do lượng mưa
khá lớn... nên thường bị rửa trôi nhanh. Để khắc phục/ thích ứng với tình trạng đó, đồng
bào đã có những kiến thức bản địa về chống xói mòn và làm tăng độ màu mỡ cho đất
như sau:
- Việc tiến hành luân canh và hưu canh, không canh tác liên tục trên một đám đất,
tạo ra một thời gian nghỉ ngơi cho đất đã đưa lại kết quả là làm tăng độ mùn trong đất,
làm cho đất ít bị rữa trôi...
- Tiến hành trồng xen (xen lúa với nhiều loại cây trồng khác, xen sắn với đậu, bầu
bí, chuối,...) đã tạo ra nhiều tầng cây, làm cho đất luôn có bóng im.
- Không canh tác ở những nơi quá dốc, không chặt cây ở các đỉnh đồi, tạo ra
nhiều vòng / lớp cây trong ngoài khác nhau của một đám nương rẫy... đã làm cho đất ít
bị rữa trôi
- Tạo nguồn phân bón tại chỗ. Đây là kinh nghiệm sử dụng các loại cỏ, thân cây
nhỏ /mềm (lúa, đậu, lạc...), sau khi thu hoạch để làm phân bón bằng cách vùi lấp trong
đất hay đốt lấy tro.
- Một số kinh nghiệm khác: dùng công cụ thô sơ như gậy chọc lỗ để tra hạt mà
không đào xới quá sâu vào lòng đất dẫn đến phá vỡ kết cấu của đất. Khi trĩa hạt
thường trĩa theo hàng ngang từ chỗ thấp lên chỗ cao, khi cây lớn lên sẽ hạn chế dòng
chảy, khi trồng cây thường đào hố theo hình “chân kiềng” tiến hành vun gốc cây, dùng
đất đá đắp thành bờ...
5.4.2.2. Kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy
Canh tác nương rẫy là hoạt động sản xuất chủ yếu của người Tà Ôi (nhất là vào
những thời kỳ trước đây). Đối với hoạt động này, đồng bào đã đúc rút được những kinh
nghiệm sau đây:
a. Cách tính lịch sản xuất
Do đặc tính của sản xuất nương rẫy là mang nặng tính tự nhiên, phụ thuộc nhiều
vào tự nhiên nên việc đảm bảo đúng thời vụ là một trong những điều kiện hết sức quan
trọng. Đối với người Tà Ôi một năm có 12 tháng và trong 12 tháng của chu kỳ sản xuất
nương rẫy đồng bào có các hoạt động sau:
Bảng 7: Nông lịch của người Tà Ôi
Tháng
1
2
3
4
5
6
7

Đặc điểm nhận biết
Lạnh, có mưa
Bắt đầu ấm lên

Các hoạt động chủ yếu
Vui chơi , tổ chức săn bắn, tổ chức cưới
Tìm rẫy, trồng một số loại ngô, khoai
Tổ chức săn bắn...
Nắng ấm, ong bay ra nhiều
Phát, cốt, đốt rẫy sớm, lấy đót...
Nóng, ong bay ra nhiều, hoa Trĩa lúa sớm, lấy đót...
gạo nở
Có mây, mưa giông
Trĩa đồng loạt, thu hoạch ngô sớm, lấy mật ong
Nắng nóng, mưa giông, ve Làm cỏ, tổ chức đi săn, đánh cá, lấy mật ong...
ve kêu
Có mối đùn, kiến bay ra Chăm sóc, bảo vệ lúa rẫy, làm kho chứa, đi
nhiều
săn...
37

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

8
9
10
11
12

Có tiếng kêu của nhiều con Thu hoạch lứa sớm, đan lát, sửa nhà...
chim
Lác đác mưa đầu mùa
Thu hoạch, đan lát, đi săn...
Trời nhiều mây, mưa
Thu hoạch lúa, lấy măng, hái nấm
Bắt đầu lạnh
Đi săn, hái lượm, đánh cá
Lạnh, rét đậm
Ăn tết cơm mới

Nguồn: phỏng vấn sâu và phỏng vấn cá nhân, 2005.
Nông lịch đó của người Tà Ôi cho chúng ta thấy được sự phù hợp giữa các công
đoạn sản xuất với thời tiết trong một năm. Hơn thế nữa nội dung của nông lịch cũng chỉ
ra thời gian cho những hoạt động của các ngành nghề phụ như chăn nuôi, săn bắn, hái
lượm, lễ hội với các công việc phân công theo giới.
Ngoài ra người Tà Ôi ở Phú Thượng còn biết dựa vào sự biến đổi của các hiện
tượng trong tự nhiên, đặc biệt là sự thay đổi của mặt trăng trong tháng để phân lịch sản
xuất. Đồng bào chia một năm ra làm 12 tháng, 1 tháng có đủ 30 ngày theo 2 chu kỳ
trăng lên và trăng xuống với các cặp ngày tốt, xấu khác nhau. Theo quan niệm của
đồng bào, trăng có mối liên hệ mật thiết đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi. Chính
vì vậy đồng bào đã có những khuyến cáo cho việc trồng các loại cây như sau (bảng 9):
Bảng 8: Ngày thích hợp cho các loại cây trồng
Cây trồng
Lúa
Sắn
Chuối
Các loại khoai

Ngày thích hợp trong tháng
(âm lịch)
Ngày 18
Ngày 1-4, 27-30
Ngày 14,16,17
Ngày 16, 7

Ghi chú
Trăng mờ tối
Trăng sáng
Tập trung vào tháng 2-3

Nguồn: phỏng vấn sâu và phỏng vấn cá nhân, 2005.
b. Kiến thức bản địa về dự báo thời tiết
Dựa vào các hiện tượng tự nhiên (thời tiết, khí hậu, mây, cây rừng, chim muong...)
người Tà Ôi đã rút ra được những kinh nghiệm về dự báo thời tiết như sau (bảng 10):
Bảng 9: Kinh nghiệm dự báo thời tiết
Thời tiết
Nắng, khô, nóng
Mưa
Gió, bão, lụt

Dấu hiệu nhận biết
Mang kêu, ve ve kêu, chim Pricoh kêu, trời nhiều sao
ráng đỏ lúc mặt trời sắp lên
Chuồn chuồn bay thấp, giun bò ra khỏi mặt đất, nhồng
kêu, tu tót hót, nấm nở mầm, cây đa, cây đào rịn nước
Ong làm tổ thấp, măng mọc khuất vào trong, quả cây ra
nhiều ở thân...

Nguồn: phỏng vấn sâu và phỏng vấn cá nhân, 2005.
c. Kiến thức bản địa trong các khâu đoạn của một chu kỳ canh tác nương rẫy
Trong một chu kỳ sản xuất nương rẫy, người Tà Ôi có các khâu đoạn với các kinh
nghiệm của các khâu đoạn như sau:
38

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

- Khâu phát cốt: thời gian phát cốt thích hợp là tháng 2,3 theo lịch của đồng bào.
Phát là công việc của nam, nữ, già trẻ. Cốt (chặt các cây to) là côgn việc của người đàn
ông. Phát các cây như lau lách, dây leo trước theo hướng từ thấp lên cao. Đối với
những cây to khi cốt phải chặt dần các cành, sau đó mới chặt thân cây.
- Khâu đốt: Đốt không nặng nhọc nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao nên thường do
người đàn ông đảm nhận. Trước khi đốt để tránh hiện tượng cháy lan, cháy không hết,
đồng bào thường làm đường ngăn lửa, dồn cây đã khô vào giữa rẫy... khi đốt phải chọn
thời gian đứng gió, nếu có nhiều gia đình cùng phát trên một khu vực thì hợp nhau lại
đốt cùng một ngày.
- Khâu trồng trỉa: Thời gian trồng trỉa thích hợp là vào tháng 4,5. Trồng trỉa được
xem như là ngày hội của người Tà Ôi. Trong thời gian trồng trỉa các cá nhân, gia đình,
cộng đồng phải thực hiện một số kiêng cữ (vui vẻ, không cho người lạ vào...). Khi trỉa
tiến hành trỉa từ dưới chân đồi lên, trỉa theo hàng ngang và phải chú ý tới khoảng cách,
độ sâu của các hố hạt.
- Khâu chăm sóc, bảo vệ: Thông thường chăm sóc là công việc của người phụ
nữ (tập trung cho việc làm cỏ), còn bảo vệ là công việc của người đàn ông (tập trung
cho việc làm hàng rào, đặt các loại bẫy, và săn bắn). Công cụ làm cỏ là cái a chét (cuốc
làm cỏ nhỏ và có cấu tạo khá đặc biệt)
- Khâu thu hoạch và chọn giống: Mùa thu hoạch lúa rẫy đại trà thường rơi vào
mùa mưa nên phải nhanh, gấp rút, cần nhiều lao động. Khi thu hoạch đồng bào thường
thu hoạch từ dưới thấp lên cao, đặc biệt tránh sự rơi vãi của hạt lúa.
Để có một giống cây trồng, vật nuôi tốt, người Tà Ôi đã có khá nhiều kinh nghiệm
quý trong việc lựa chọn:
- Chọn giống cây trồng: chọn cây mập, khoẻ, không sâu bệnh, hạt chắc. Thời
gian chọn lúa giống thường đi vào buổi chiều của những ngày nắng đẹp. Hạt giống
được cho vào ống/ thùng đựng và cất lên chỗ cao ráo (dàn bếp). ở người Tà Ôi có
nhiều giống lúa địa phương rất quý cho năng suất cao, chất lượng ngon: ra dư, ba
trăng...
- Chọn vật nuôi: Mỗi một loại vật nuôi (trâu, bò, heo, gà vịt,...) đồng bào có những
kinh nghiệm riêng (trâu, bò: mông to/ nở, mắt nhanh nhẹn, lợn : lông nhiều / mượt...)
5.4.2.3. Kiến thức bản địa trong khai thác, bảo tồn và sử dụng các sản phẩm rừng
Khai thác một chiều các nguồn lợi của rừng là một đặc điểm dễ dàng nhận thấy ở
đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, ở người Tà Ôi nói riêng. Người Tà Ôi ở Phú
Thượng trong một thời gian rất dài trước đây (và ngay cả hiện nay) luôn xem rừng là
đối tượng để đồng bào khai thác các nguồn lâm thổ sản. Đồng bào luôn quan niệm
rừng là một cái kho mà trong đó có đủ mọi thứ phục vụ cho cuộc sống con người:
Bảng 10: Công dụng của các sản phẩm từ rừng
STT
1
2
3
4
5
6

Công dụng
Sản phẩm
- Các nguyên vật liệu làm nhà
Gỗ, mây, tre, nứa, lá cọ, cỏ tranh...
- Các nguyên vật liệu tạo ra các đồ gia Mây, tre, cây nhỏ, vỏ cây (làm áo)
dụng, các công cụ sản xuất, vũ khí
- Các nguyên vật liệu làm chất đốt
Cành khô, cây nhỏ
- Các nguyên vật liệu phục vụ cho tôn giáo.
Gỗ, tre
- Các sản phẩm lương thực, thực phẩm
Củ (khoai, môn, nâu...)
- Dược phẩm
Củ, rễ, thân, lá cây, các loài động
vật quý hiếm
Nguồn: Phỏng vấn sâu và phỏng vấn cá nhân, 2005.
39

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Xuất phát từ quan niệm đó, cho nên ngay từ nhỏ (khoảng 5-6 tuổi) cho đến lúc về
già, đồng bào luôn mang gùi sau lưng vào những lúc lên rừng, xuống suối. Có thể cũng
vì vậy mà ở đồng bào có rất nhiều loại gùi với nhiều công dụng và dùng cho nhiều lứa
tuổi khác nhau. Khai thác được sản phẩm gì của tự nhiên đồng bào cũng đều cho vào
gùi.
Như thế đối với người Tà ôi (Pa Cô) ở Phú Thượng kiến thức bản địa về khai thác
các sản phẩm từ rừng là hết sức phong phú, đa dạng. ở đồng bào ý thức bảo tồn, nhất
là ý thức đầu tư cho tái tạo rừng của những thời kỳ trước đây không rõ, không nhiều.
Về điểm này cũng có sự khác biệt giữa người đàn ông và người đàn bà, giữa người già
và trẻ nhỏ. Kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy kinh nghiệm khai thác mật ong chủ
yếu là ở người đàn ông (95%), tìm kiếm các loài rau rừng giỏi là người phụ nữ (98%),
biết được các loài gỗ tốt là người già (100%)... Tuy nhiên để đạt được năng suất khai
thác, hiệu quả sử dụng cao, đồng bào lại có nhiều cách thức tác động khác nhau đối
với các sản phẩm từ rừng.
- Đối với việc khai thác gỗ: Thời kỳ trước đây khi khai thác gỗ làm nhà, làm quan
tài (nay còn là bán) đồng bào thường khai thác tập thể với sự tham gia của nhiều người
đàn ông trong gia đình, dòng họ, cộng đồng. Mùa khai thác gỗ thường vào mùa nắng.
Theo đồng bào những cây gỗ ít mối mọt, có sức bền, chịu được nắng mưa gồm : lim,
gõ, sơn, kiền...
- Đối với việc khai thác, bảo tồn, sử dụng các lâm sản phi gỗ: Lâm thổ sản phi
gỗ mà đồng bào thường khai thác bao gồm: trầm, mật ong, mây, tre, lá nón, đót, củi...
Mỗi sản phẩm phi gỗ này đều được lấy theo mùa, nhằm đạt được hiệu quả cao (đót lấy
vào tháng 2-3, trầm đi vào mùa nắng).
- Đối với các sản phẩm hái lượm: Công việc hái lượm thường do phụ nữ thực
hiện. Tuy nhiên việc đi tìm mật ong lại thường do người đàn ông đảm trách. Thời gian
có mật ong nhiều với sản lượng và chất lượng cao là từ tháng 4-7. Đồng bào có thói
quen và kinh nghiệm thu nhặt rau rừng, các loại củ, rễ, hoa quả theo mùa (măng vào
mùa xuân, nấm vào mùa mưa...) Hơn thế đồng bào còn có kinh nghiệm quý trong việc
phân biệt những loại cây, củ, rễ nào có hàm lượng chất dinh dưỡng cao mà con người
có thể ăn được.
- Đối với việc săn bắn: Có 2 hình thức săn bắn là săn cá nhân và săn tập thể.
Đồng bào có khá nhiều loại vũ khí khác nhau trong săn bắn (cung, nỏ, súng, các loại
bẫy, hầm sập, thuốc gây mê...) và có nhiều kinh nghiệm trong việc tránh hướng gió,
đoán hướng đi, thời gian xuất hiện / đi ăn... của các loài thú. Công việc săn bắn thường
được kết hợp chặt chẽ với công việc bảo vệ mùa màng. Riêng việc bắt ốc, tôm, cá...
thường được người phụ nữ tiến hành vào mùa nắng (mùa sông suối cạn).
- Đối với nguồn dược liệu: Kiến thức bản địa của người Tà Ôi (Pa Cô) ở Phú
Thượng về vấn đề này cần được lưu ý:
- ý thức / khả năng về việc dùng các thân, lá, rễ, củ, hoa, trái cây rừng, cũng như
một số loài động vật quý hiếm vào việc chữa bệnh (nhất là các bệnh thông thường)
được thể hiện rất rõ ở đồng bào (đặc biệt là vào những thời kỳ trước đây ).
- Giữa người đàn ông và người phụ nữ thì người phụ nữ biết sử dụng nhiều loại
dược liệu hơn. Bên cạnh đó những người già làng, người làm nghề tôn giáo (thầy
cúng, thầy mo)... cũng là những người có nhiều kinh nghiệm trong việc chữa trị, sử
dụng các dược liệu của núi rừng một cách thành thạo. Điểm đặc biệt là những người
này còn có khả năng chữa các bệnh nan y (ung thư vú, viêm gan...)
- Người Tà Ôi (Pa Cô) ở Phú Thượng có một số dược liệu quý như: củ một (chữa
đau dạ dày), lông cu liền (cầm máu), cây đắng/ ngãi (diệt giun sán), cây turin (thuốc bổ
40

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

uống sau khi sinh đẻ)... Đồng bào còn chữa bệnh bằng cách “thổi”, lấy đất bếp (lâu
năm) chữa đi ỉa, dùng giun đất rang khô giã nhỏ trộn mật ong chữa sốt rét...
5.4.3. Vai trò của kiến thức bản địa trong chiến lược phát triển bền vững
Kiến thức bản địa là một kho thông tin quý giá trong hệ thống hiểu biết của con
người về mọi lĩnh vực của đời sống. Kiến thức bản địa có sự thích ứng cao với điều
kiện tự nhiên, xã hội và là sự thể hiện văn hóa của một cộng đồng. Đối với người dân
(đặc biệt là người Tà Ôi) ở xã Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế, do nhiều
nguyên nhân, hiện tại trong đời sống của mình, đồng bào còn giữ được khá nhiều các
kiến thức bản địa .Tuy nhiên cùng với sự tiến bộ của xã hội, của nhận thức, sự thay đổi
của môi trường sống, nên hiện nay không phải tất cả mọi kiến thức bản địa đều giữ
nguyên giá trị của nó. Thực tế cho thấy hiện nay ở Phú Vinh có những kiến thức bản
địa đã trở nên lỗi thời, cản trở, không còn phù hợp (một số kiến thức bản địa trong canh
tác nương rẫy, trong những kiêng cữ thái quá...) Dù thế không phải tất cả mọi kiến thức
bản địa đều đã mất tác dụng, không có ích cho chiến lược phát triển bền vững, chúng
tôi cho rằng: hiện tại và cả tương lai kiến thức bản địa ở Phú Vinh vẫn được đánh giá
cao, bởi các vai trò của nó.
Thứ nhất: Vai trò cung cấp thông tin, phổ biến kinh nghiệm. Như đã phân tích ở
trên kiến thức bản địa là một kho thông tin, kho kinh nghiệm hết sức phong phú và đa
dạng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau được đúc rút từ thực tiễn sản xuất và ứng xử
cộng đồng. Chính vì thế kiến thức bản địa đóng vai trò rất quan trọng trong tăng trưởng
kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo được công bằng xã hội, bảo vệ được tài nguyên môi
trường cho hôm nay và cho cả các thế hệ mai sau.
Thứ hai: Vai trò chỉ đạo/ kiểm nghiệm thực tiễn. Kiến thức bản địa được hình
thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở hoạt động thực tiễn của người dân địa phương.
Chính vì thế kiến thức bản địa luôn thích ứng với mọi điều kiện, với mọi tập tục địa
phương, với văn hóa. Hay nói một cách khác đi kiến thức bản địa có khả năng truyền
thụ, cũng như khả năng ứng dụng rất cao trong cộng đồng mà không phải kiến thức
hàn lâm nào cũng có được. Chúng ta biết rằng : kiến thức bản địa là cái có sẵn ở địa
phương, gắn bó mật thiết với người dân rất rẻ tiền và nhất là phù hợp với nhận thức /
khả năng của mọi thành viên (già, trẻ, gái, trai) nên rất được người dân chấp nhận. Đó
cũng là lý do cắt nghĩa cho vai trò chỉ đạo thực tiễn của kiến thức bản địa (hướng người
dân làm theo những cái đã được thử nghiệm, đã được người dân đúc rút ra)
Thứ ba: Vai trò định hướng xây dựng mô hình phát triển nông thôn (đặc biệt là
nông thôn miền núi) bền vững. Có nhiều mô hình đưa ra cho chiến lược phát triển bền
vững nông thôn của cấp trung ương hiện nay (mô hình xây dựng làng văn hóa), nhưng
khi triển khai ở các địa phương đã gặp phải những thách đố, nghịch lý. Có nhiều lý do
khác nhau cắt nghĩa cho hiện tượng đó, trong đó, có lý do không bám sát tình hình thực
tế, không tìm hiểu kỹ những kinh nghiệm mà người dân địa phương đã tích lũy được
qua hàng đời tồn tại.
Như thế khi tiếp cận các mô hình mới nhưng không chú ý tới tính đa dạng, phức
tạp cụ thể của con người của môi trường ở từng vùng địa lý, từng cộng đồng khác
nhau... sẽ là những trở ngại rất lớn cho các nhà khoa học, các chuyên gia lập kế hoạch,
các nhà quản lý, hoạch định chính sách. Thực tế cho thấy thông tin của kiến thức bản
địa nhiều khi là những gợi ý rất tốt cho các giải pháp kỹ thuật và cũng đã có không ít
các thành tựu khoa học được khởi đầu bằng các ý tưởng được rút ra từ các kiến thức
bản địa.
Thứ tư : Vai trò đánh giá tác động của quá trình phát triển. Kiến thức bản địa như
chúng ta đã biết là kết quả của sự chọn lọc, thích ứng cao qua quá trình vận động, đào
41

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

thải. Chính vì lẽ đó, hơn cái gì hết kiến thức bản địa là công cụ tốt nhất để đánh giá,
kiểm chứng sự phát triển bền vững. Ví dụ sau một thời gian tồn tại nhưng nhà máy, khu
công nghiệp hay dự án nào đó không làm biến đổi cảnh quan theo chiều hướng tiêu
cực, không gây ô nhiễm cho môi trường, cho sức khoẻ của người dân..., trong khi vẫn
tạo ra được nhiều của cải cho xã hội, thực hiện được công bằng, dân chủ, văn minh...
có nghĩa là nhà máy, khu công nghiệp, dự án đó đã tuân theo quy luật của sự phát triển
bền vững.
5.5 Các phương thức quản lý rừng hiện có tại địa phương
Phương pháp phỏng vấn nhóm đã được sử dụng để hiểu đặc điểm và ưu nhược
điểm của các phương thức quản lý rừng và đất rừng trên địa bàn xã Phú Vinh. Kết quả
cho thấy: Do ảnh hưởng của thể chế và chính sách nhà nước, kết quả của lịch sử luật
tục cộng đồng và sự tác động của nền kinh tế thị trường, hiện tại ở Phú Vinh đang tồn
tại 4 phương thức quản lý rừng và đất lâm nghiệp: Quản lý nhà nước, quản lý địa
phương, quản lý cộng đồng và quản lý tư nhân (quản lý theo hộ gia đình).
5.5.1 Quản lý nhà nước
Phương thức quản lý nhà nước hiện nay tồn tại rõ nét nhất và có quyền lực cao
nhất trong việc ra các quyết định liên quan đến quản lý rừng trên địa bàn. Như chúng tôi
đã đề cập ở phần đặt vấn đề, rừng và đất rừng ở Phú Vinh chiếm tỉ lệ rất lớn và chủ
yếu thuộc quyền quản lý của Lâm trường và Hạt kiểm lâm A Lưới. Đây là 2 đơn vị đại
diện cho nhà nước về quản lý tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Phú
Vinh. Hạt kiểm lâm và Lâm trường có chức năng và nhiệm vụ riêng trong quản lý tài
nguyên rừng do nhà nước qui định (được đề cập và phân tích ở phần vai trò của các
bên liên quan). Tuy nhiên, các đơn vị này đều thực hiện mục tiêu chung của nhà nước
là bảo vệ vả phát triển vốn rừng với quan tâm chủ yếu đến khía cạnh môi trường (bảo
tồn chức năng sinh thái của rừng). Đặc điểm của phương thức quản lý này là thực hiện
chức năng nhiệm vụ của nhà nước giao, với phương pháp tiếp cận từ trên xuống và
chú trọng chủ yếu đến vấn đề kỹ thuật và lâm luật. Ưu điểm của hình thức quản lý này
là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao (cả về vấn đề kỹ thuật và hiểu biết lâm
luật) lên có thể giải quyết tốt những vấn đề về chuyên môn như chống cháy rừng, dự
báo và phòng trừ sâu bệnh hại, kỹ thuật tạo giống, gây trồng và chăm sóc, xử lý vi
phạm lâm luật. Tuy nhiên, trong bối cảnh diện tích rừng và đất rừng lớn nhưng lại hạn
chế về nguồn nhân lực và tài chính lên phương thức quản lý rừng nhà nước tỏ ra kém
hiệu quả cả về thực hiện lâm luật, phát triển vốn rừng và tạo lợi ích kinh tế xã hội
(“quản lý không chặt vì người ít nhưng diện tích lớn”; “ít phối hợp với địa phương và
người dân trong trồng rừng, rừng thông thuần loài không có giá trị kinh tế lại rất dễ
cháy”- đánh giá của cán bộ lãnh đạo địa phương; “Lâm trường quản lý rừng thường bị
cháy, chỗ bị cháy không thấy trồng lại, nhiều diện tích để hoang cho lau lách mọc mà
không thấy trồng cây” - nhận xét của nhóm nam thuộc các hộ khá; “Nhiều chỗ ở rừng
thông trống không nhưng không thấy lâm trường trồng dặm vào, thông họ chặt bán lâu
rồi nhưng không thấy họ trồng lại, cây nào to họ chặt hết, chỉ có cây nhỏ quá họ để lại”nhận xét của phụ nữ thuộc nhóm hộ nghèo). Quản lý rừng nhà nước theo phương pháp
tiếp cận từ trên xuống cùng với vốn ngân sách do nhà nước phân bổ và cấp phát đã
không phát huy được tính tự chủ của các đơn vị quản lý lâm nghiệp trên địa bàn. Các
hoạt động bảo vệ và phát triển rừng vì vậy được các đơn vị này thực hiện một cách thụ
động, hết kinh phí là hết hoạt động, kinh phí đến chậm là lỡ kế hoạch, v.v. Để khắc
phục tình trạng hạn chế về nguồn nhân lực của các đơn vị nhà nước trong quản lý
rừng, chính phủ đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích người dân tham
42

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

gia vào hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Dựa vào nguồn ngân sách được nhà nước
phân bổ, Lâm trường A Lưới đã thuê khoán người dân trên địa bàn bảo vệ và trồng
rừng. Tuy nhiên, do ngân sách hạn hẹp, chính sách hưởng lợi và sự trao quyền không
đầy đủ đã hạn chế hiệu quả bảo vệ, trồng và chăm sóc rừng ở Phú Vinh. Số hộ gia đình
tham gia nhận khoán bảo vệ rừng ít và ngày càng giảm, nguồn kinh phí nhà nước cấp
còn phải để giao khoán tạo việc làm cho cán bộ công nhân viên lâm trường, không đủ
để thuê khoán người dân (“Mấy năm trước đây diện tích rừng khoán cho Dân bảo vệ
nhiều hơn, hiện nay chỉ còn một vài hộ cán bộ xã nhận khoán bảo vệ, Lâm trường phải
để dành kinh phí này để giao khoán cho công nhân của ho”; “Nhận khoán cũng chỉ
trông vậy thôi chứ không dám bắt vì không phải rừng của mình”; - nhận xét của người
dân Phú Vinh- thông tin từ phỏng vấn cá nhân). Giải pháp này của phương thức quản lý
nhà nước nhằm khắc phục sự hạn chế về nguồn nhân lực của Lâm trường vẫn không
đạt được tính bền vững. Chiến lược sinh kế của người dân vẫn dựa chủ yếu vào phát
triển sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp trong xã rất ít, chất
lượng đất lại xấu trong tình trạng trình độ học vấn hạn chế, thiếu vốn đầu tư sản xuất,
thói quen sống dựa vào rừng đã buộc người dân (nhất là các hộ gia đình nghèo thuộc
nhóm dân tộc thiểu số) phải khai thác bất hợp pháp tài nguyên rừng để đảm bảo sinh
kế của họ. Quyền ra quyết định sử dụng đất hoàn toàn thuộc về Lâm trường lên ngay
cả diện tích đất có độ dốc thấp có khả năng sản xuất nông nghiệp cũng được sử dụng
vào trồng rừng trong khi người dân địa phương thiếu đất sản xuất. Nhiều diện tích đất
có khả năng trồng rừng lâm trường còn bỏ hoang do không đủ nguồn nhân lực và tài
chính. Phương thức quản lý rừng nhà nước với sự nhấn mạnh vai trò và quyền lực của
các cơ quan lâm nghiệp, thiếu sự tham gia và quyền hưởng lợi của người dân địa
phương trong bối cảnh các chiến lược sinh kế chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp không
đủ đảm bảo an toàn lương thực và thoát nghèo của người dân vì vậy sẽ không thể đạt
được mục tiêu bảo tồn bền vững tài nguyên rừng.
Quản lý nhà nước trên địa bàn Phú Vinh hiện nay ngoàI quản lý bởi các cơ quan
lâm nghiệp đóng trên địa bàn còn có sự tham gia của chính quyền xã. Hiện tại chính
quyền xã Phú Vinh đang quản lý 30 ha đất rừng (thực chất đây là đất Lâm trường A
Lưới không sử dụng), đây là loại đất trống đồi núi trọc mà Lâm trường bỏ không trồng
rừng, nằm rải rác ở nhièu hku vực khác nhau trong xã. Chính quyền xã đã sử dụng diện
tich đất này như một quỹ đất dự phòng để cấp cho những hộ gia đình thiếu đất. Nhờ
am hiểu rõ địa bàn và nhu cầu của người dân nên hình thức quản lý này được xem là
chặt chẽ, thực hiện kịp thời và phù hợp với yêu cầu của người dân. Tuy nhiên, hạn chế
của phương thức quản lý này là đội ngũ cán bộ xã thiếu trình độ chuyên môn kỹ thuật
về sử dụng đất, gây trổng và chăm sóc rừng. Thêm vào đó, việc hiểu biết pháp luật của
cán bộ địa phương ít, diện tích quản lý nhỏ, manh mún, rải rác cách xa nhau, không có
nguồn ngân sách trợ giúp cùng với sự trao quyền không rõ ràng của nhà nước (theo
văn bản thì của xã quản lý tất cả rừng và đất rừng thuộc địa giới hành chính của địa
phương nhưng trên thực tế lại do Lâm trường sử dụng). Mặc dù nhà nước giao cho
Lâm trường quản lý nhưng chưa được qui hoạch, xác định trên thực địa, nhất là lại
không có sự tham gia của chính quyền địa phương trong tiến trình giao đất cho Lâm
trường. Vì vậy, ranh giới giữa đất lâm trường và đất của xã không rõ ràng. Khi được hỏi
làm thế nào biết đó là đất của xã, câu trả lời là: “Chỗ nào có cây của lâm trường trồng
thì là đất của họ, chỗ nào đất chưa có cây, đang để trống thì đó là của xã”. Ranh giới
và chủ quyền sử dụng không rõ ràng đã dẫn đến hiệu quả quản lý không cao và gây
tranh chấp, mâu thuẫn trong sử dụng đất giữa lâm trường A Lưới và địa phương.
43

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

5.5.2 Quản lý cộng đồng
Phương thức quản lý này chỉ có ở nhóm dân tộc Pa Cô- thôn Phú Thượng- trước
đây thuộc xã Phú Thượng, nay thuộc về xã Phú Vinh. Phương thức quản lý này xuất
hiện và tồn tại lâu đời gắn liền với sự xuất hiện các bản làng của dân tộc Pa Cô cũng
như các dân tộc thiểu số khác ở vùng núi. Trong bối cảnh sống khép kín trong cộng
đồng với một vài cộng đồng láng giềng khi chưa có sự xuất hiện của người ngoài (từ
nơi khác đến) và khi cơ chế quản lý của nhà nước trong hệ thống chính trị thống nhất
trên toàn quốc chưa xuất hiện, hình thức quản lý cộng động đã tỏ ra rất hiệu quả với
các luật tục bất thành văn nhưng lại được tuân thủ một cách chặt chẽ. Trong bối cảnh
hiện nay, sự xuất hiện của phương thức quản lý nhà nước với các công cụ pháp luật đã
phá vỡ mối quan hệ cộng đồng và làm suy giảm hiệu quả của phương thức quản lý
này. Trong tiềm thức của người Pa Cô ở Phú Vinh hiện nay, sự tồn tại của luật tục cộng
đồng trong quản lý tài nguyên rừng đã rất mờ nhạt bởi trong con mắt của họ tất cả rừng
và đất lâm nghiệp đã thuộc về nhà nước, họ không còn là người chủ của những cánh
rừng. Hơn thế nữa, cơ chế kinh tế thị trường cùng với sự xâm nhập của kiểu sống vun
vén lợi ích riêng của từng hộ gia đình của người Kinh đã phá vỡ mối quan hệ cộng
đồng truyền thống của người Pa Cô. Một phụ nữ Pa Cô khi được hỏi nên giao rừng cho
ai quản lý để đạt hiệu quả cao, chị đã khẳng định rằng: “bây giờ chỉ giao cho hộ thôi,
của nhà nào nhà ấy giữ, giao chung sẽ rất khó để phân chia trách nhiệm”. Mặc dầu vậy,
do bản sắc văn hoá, một vài diện tích rừng ở Phú Vinh hiện nay vẫn dược gìn giữ rất
bền vững theo luật tục của cộng đồng như rừng ma, rừng thiêng.
5.5.3 Quản lý tư nhân (hộ gia đình)
Việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho cá nhân và hộ gia đình cho việc sử dụng ổn
định lâu dài chưa được thực hiện ở Phú Vinh. Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp
thuộc quyền quản lý của Lâm trường A Lưới. Tuy nhiên do thiếu nguồn lực, một số diện
tích đất trống chưa được sử dụng. Do ranh giới phân định không rõ ràng, người dân lại
thiếu đất sản xuất nên một số hộ gia đình đã tự xâm lấn phần đất này của Lâm trường
để trồng cây ăn quả hoặc cây lâm nghiệp. Mặc dù đã định cư trên địa bàn từ lâu nhưng
người dân vẫn không xác định chính xác được đâu là đất của Lâm trường, họ chỉ biết
rằng chỗ nào có cây của Lâm trường thì đó là đất của Lâm trường. Do xâm lấn một
cách tự phát nên diện tích đất lâm nghiệp do hộ gia đình quản lý ở Phú Vinh rất manh
mún và hạn chế. Mặc dầu vậy, hình thức quản lý này đã tỏ ra khá hiệu quả vì rừng
trồng được hộ gia đình giám sát chặt chẽ với trách nhiệm cao do ý thức được đó là tài
sản của họ. Tuy nhiên, hình thức quản lý này cũng gặp nhiều thách thức: thiếu vốn,
(khác với trồng cầy ngắn ngày, sản xuất lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài, thời gian
thu hồi vốn lâu nhưng nguồn vốn của người dân lại hạn chê), thiếu kỹ thuật (kinh
nghiệm trồng và chăm sóc của người dân hạn chế do mới được khởi xướng chưa lâu vì
sản xuất lâm nghiệp truyền thống hoàn toàn thực hiện bởi các cơ quan lâm nghiệp nhà
nước). Hình thức quản lý này cũng gặp phải khó khăn lớn trong công tác bảo vệ và
phát triển rừng do thực hiện độc lập theo hộ lên mối liên kết yếu dẫn đến điều kiện phát
triển và bảo vệ kém (không huy động được nguồn vốn cho phát triển rừng, không liên
kết được nguồn nhân lực trong bảo vệ rừng). Trong bối cảnh hiện tại ở Phú vinh, việc
trồng cây lâm nghiệp phân tán, tự phát và chiếm dụng đất không hợp pháp dẫn đến
mâu thuẩn giữa lâm trường và người dân. Người dân còn gặp phải thách thức khác đó
là quyền bảo vệ và hưởng dụng sản phẩm không an toàn: “Đất ở đây rất ít, em cần đất
để trồng cây nhưng đụng vào đâu cũng đất của Lâm trường. Em có trồng được 50 cây
keo rải rác quanh đồi thông của Lâm trường. Lâm trường nói nếu họ khai thác thông
làm gẫy cây tràm thì họ không chịu trách nhiệm vì đó là đất của họ. Em thấy có nhiều
44

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

đồi của lâm trường chỉ có vài cây thông lưa thưa mình muốn trồng nhưng không được.
Mình vô làm là họ lập biên bản” - Lời của một phụ nữ thôn Phú Xuân kể lại. Thực trạng
cho thấy hình thức quản lý này ở Phú Vinh chỉ là tự phát do chiếm dụng một cách
không hợp pháp đất của lâm trường để sử dụng. Tình trạng này xảy ra do nguyên nhân
chủ yếu là ranh giới đất của lâm trường không rõ ràng, và hiệu quả sử dụng đất của
lâm trường hạn chế.
Tóm lại hiện tại có tới 3 hình thức quản lý rừng và đất lâm nghiệp đang tồn tại ở
Phú Vinh. Mỗi hình thức có ưu nhược điểm riêng của nó nhưng vấn đề nổi cộm ở đây
là chủ quyền và ranh giới không rõ ràng, hoạt động chồng chéo, không tính đến các yếu
tố văn hoá bản địa của cộng đồng. Điều này dẫn đến tính bền vững của quản lý rừng và
đất rừng kém và gây mâu thuẩn lớn trong sử dụng đất gữa Lâm trường, chính quyễn xã
và người dân địa phương. Toàn bộ diện tích rừng rự nhiên được giao cho Lâm trường
A Lưới nhưng rừng ma, rừng thiêng của nhóm dân tộc Pa Cô vẫn tồn tại và được bảo
vệ tốt bởi nhóm dân tộc thiểu số này từ bao đời nay. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp
thuộc ranh giới của xã, theo qui định của nhà nước: Chính quyền xã là người đại diện
cho nhà nước quản lý diện tích này. Tuy nhiên, theo quy định quản lý chuyên môn
ngành dọc, rừng và đất rừng lại được giao cho lâm trường A Lưới. Do không có quy
hoạch khi giao, không có sự tham gia của địa phương và người dân nên ranh giới và
chủ quyền quản lý mờ nhạt, không rõ ràng. Chính quyền địa phương và người dân là
những người sống trên địa bàn nhưng lại không biết rõ chỗ đất nào là của Lâm trường,
chỗ nào là của xã và chỗ nào là của hộ gia đình. Dấu hiệu xác dịnh ranh giới đất đai
không có cơ sở và không chắc chắn (cây của ai thì đất đó là của người ấy). Sự mờ
nhạt của ranh giới và chủ quyền sử dụng đất đã dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém
hiệu quả (rừng trồng không có giá trị kinh tếï, nhiều diện tích đất không có cây rừng
nhưng không được trồng lại). Điều quan trọng hơn là dẫn đến mâu thuẫn trong sử dụng
đất giữa Lâm trường, chính quyền xã và người dân. Hiệu quả của hoạt động trồng rừng
hiện nay đã thể hiện rõ ở Thừa Thiên Huế, người dân và chính quyền xã Phú Vinh biết
rõ điều đó nhưng đất của Lâm trường nhiều chỗ lại bỏ hoang trong khi địa phương
không có đất để sản xuất. Nhiều người phải đi trồng rừng thuê cho một số công ty tư
nhân ở các xã lân cận hoặc phải tiếp tục khai thác bất hợp pháp một số sản phẩm rừng
như mây, mật ong, rùa vàng, v.v. để kiếm sống. Một bài toán lẽ ra không khó để tìm ra
câu trả lời nhưng lại vẫn là một bài toán đã và đang tồn tại ở Phú Vinh.
5.6. Vai trò của các bên liên quan trong quản lý tài nguyên rừng ở Phú Vinh
Theo nghĩa chung, quản lý tài nguyên được hiểu là tập hợp những hoạt động
nhằm bảo vệ, sử dụng và phát triển tài nguyên. Một nguồn tài nguyên được quản lý tốt
là nó được bảo vệ tốt, phát triển thêm về số lượng, nâng cao về chất lượng và sử dụng
hiệu quả. Tài nguyên rừng là một bộ phận của tài nguyên nói chung. Vì vậy, quản lý tài
nguyên rừng thực chất là những hoạt động bảo vệ, sử dụng và phát triển chúng vì lợi
ích của con người và môi trường. Để tài nguyên rừng được quản lý một cách bền vững,
đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành, các cá nhân trực tiếp và gián
tiếp tham gia vào quá trình này. Phân tích vai trò của các bên liên quan trong quản lý tài
nguyên rừng nhằm tìm ra điểm thống nhất chung giữa các bên, góp phần đề xuất các
giải pháp giải quyết những mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người
với tài nguyên rừng nhằm bảo vệ, sử dụng và phát triển chúng một cách có hiệu quả.

45

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

5.6.1 Quyền lực và mức độ ảnh hưởng của các bên liên quan đến hoạt động quản lý tài
nguyên rừng (TNR) tại địa bàn nghiên cứu
Kết quả PRA xác định quyền lực và mức độ ảnh hưởng của các bên liên quan
đến hoạt động quản lý tài nguyên rừng tại xã Phú Vinh được thể hiện ở hình 01.
Sơ đồ 3: Quyền lực và mức độ ảnh hưởng của các bên liên quan
đến hoạt động quản lý TNR tại Phú Vinh

L©m tr−êng

UBND x·

Al−íi

Phó Vinh
Ho¹t ®éng qu¶n lý

H¹t kiÓm l©m
Al−íi

tμi nguyªn rõng
ë x· phó vinh

Ng−êi
d©n

Ghi chú:
- Độ to nhỏ của vòng tròn nói lên quyền lực của các bên đối với hoạt động quản lý tài nguyên
rừng của xã Phú Vinh;
- Mức xa gần của các vòng tròn đến tâm nói lên mức độ ảnh hưởng nhiều hay ít tới hoạt động
quản lý tài nguyên rừng của xã Phú Vinh.

Như vậy, từ sơ đồ Venn trên có thể nhận thấy đơn vị có quyền lực cao nhất đến
hoạt động quản lý tài nguyên rừng ở xã Phú Vinh chính là lâm trường A Lưới - với vai
trò là chủ rừng; tiếp đó là UBND xã Phú Vinh - với vai trò quản lý Nhà nước về rừng và
đất lâm nghiệp; Hạt kiểm lâm A Lưới - với vai trò thừa hành pháp luật trong lĩnh vực
quản lý bảo vệ rừng; và cuối cùng là người dân - với vai trò sử dụng đất và rừng, thực
hiện các hợp đồng sử dụng đất, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các
bên đến hoạt động quản lý tài nguyên rừng tại địa bàn lại xếp theo thứ tự từ nhiều tới ít
là: Người dân, lâm trường A Lưới, UBND xã Phú Vinh và Hạt kiểm lâm A Lưới.
Những phân tích dưới đây sẽ thể hiện rõ hơn vai trò và quyền lực của mỗi bên
liên quan đối với hoạt động quản lý tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu.
5.6.1.1 Lâm trường A Lưới
a) Bộ máy tổ chức quản lý hành chính của Lâm trường A Lưới
Tiền thân của Lâm trường A Lưới là trạm trồng rừng A Lưới được thành lập vào
năm 1978 với 40 cán bộ công nhân viên làm nhiệm vụ phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Lâm trường A Lưới được thành lập theo Quyết định số 819/QĐUB ngày 05/12/1992 của
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bộ máy tổ chức hành chính của lâm trường bao gồm: Ban giám đốc (3 người), Đội
quản lý bảo vệ rừng chuyên trách (11 người), Kế hoạch kỹ thuật (4 người), Tài vụ 3
người) và công nhân trồng rừng.
b) Các hoạt động của lâm trường có liên quan tới quản lý TNR trên địa bàn xã
Phú Vinh

46

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Hiện tại lâm trường đang quản lý bảo vệ 33.200ha gồm 35 tiểu khu rừng tự
nhiên và 23.400 ha rừng trồng, trong đó diện tích rừng nằm trên địa bàn xã Phú Vinh là
... ha gồm ... tiểu khu rừng tự nhiên và ... rừng trồng.
Theo số liệu thống kê đến tháng 10 năm 2004, lâm trường đã tiến hành các hoạt
động trồng rừng trên địa bàn xã Phú Vinh theo các nguồn vốn sau:
- Vốn từ ngân sách của tỉnh 199,5ha;
- Vốn trồng rừng phòng chống thiên tai: 35,8ha;
- Vốn của Chương trình 327: 127,0ha;
- Vốn từ dự án trồng rừng phòng hộ vùng A Lưới: 9,2ha.
Như vậy, cho đến thời điểm tháng 10/2004 lâm trường đã tiến hành chỉ đạo trồng
371,5ha rừng trồng trên địa bàn xã. Các hoạt động trồng rừng được tiến hành đa số bởi
công nhân lâm trường, còn lại là hợp đồng với người dân trong xã - trong đó chủ yếu là
rừng trồng từ nguồn vốn của Chương trình 327.
Hiện tại diện tích rừng trồng của lâm trường trên địa bàn xã được giao cho một số
cán bộ công nhân của lâm trường sống trên địa bàn xã quản lý (...ha), còn lại là hợp
đồng khoán bảo vệ với người dân thông qua sự giới thiệu của xã với chi phí 50.000
đồng/ha/năm (theo số liệu cung cấp của cán bộ lâm trường). Tuy nhiên, theo quy định
của pháp luật diện tích rừng trồng giao khoán bảo vệ cũng chỉ tiến hành trong 5 năm
tính từ thời điểm trồng, sau đó giao lại cho lâm trường quản lý. Tất cả diện tích rừng
trồng theo chương trình 327 của lâm trường đều đã qua thời hạn 5 năm từ lâu, nên
đương nhiên hiện tại chúng thuộc quyền quản lý của lâm trường. Tất cả những người
dân được phỏng vấn đều không hiểu được quy định này, nên nảy sinh ra hiểu lầm là tại
sao rừng do họ trồng (theo hợp đồng khoán trồng rừng với lâm trường với nguồn vốn
từ Chương trình 327), nay lại thuộc về lâm trường; trước đây (trong thời gian 5 năm)
còn nhận được tiền công bảo vệ, bây giờ lại không thấy có, có phải lâm trường đã quản
lý và lấy hết số tiền bảo vệ này không? Điều này chứng tỏ công tác tuyên truyền pháp
luật về lâm nghiệp cho người dân trên địa bàn xã chưa được quan tâm đúng mức, hoặc
chưa tìm được cách tuyên truyền thích hợp để người dân hiểu. Vì phần lớn trình độ của
người dân nơi đây rất thấp, lại sống theo quan điểm của người dân tộc là rừng của họ
trồng thì phải là của họ nên lâm trường cần chú trọng công tác tuyên truyền pháp luật
về lâm nghiệp trước khi ký hợp đồng với dân.
Trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng lâm trường đã phối hợp với chính quyền xã
họp dân, ký cam kết quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), phòng chống cháy rừng (PCCCR)
và kiểm tra rừng hàng năm.
Lực lượng quản lý bảo vệ rừng của lâm trường thường là 14 người, vào các thời
kỳ trọng điểm có tăng cường thêm lực lượng làm công tác bảo vệ rừng. Nhiệm vụ chủ
yếu của lực lượng quản lý bảo vệ rừng là chống chặt phá rừng, phòng cháy chữa cháy,
chống gia súc phá rừng trồng.
Tại địa bàn xã Phú Vinh có 04 trạm QLBVR của lâm trường đóng, đó là trạm cầu
Mỏ Quạ (đường 49), trạm Hương Phong (cầu C10), trạm Atép (đường Hồ Chí Minh) và
trạm Aroàn.
Đội quản lý bảo vệ của lâm trường thường xuyên đi kiểm tra, nếu phát hiện thấy
dân có sai phạm trên đất của lâm trường như xâm canh, chặt cây,... thì cán bộ lâm
trường lập biên bản đình chỉ và báo cho xã biết để nhắc nhở người dân chứ không xử
phạt. Khi được hỏi "Tại sao dân vi phạm chỉ lập biên bản đình chỉ mà không xử phạt?",
cán bộ lâm trường trả lời "Do lỗi vi phạm của người dân thường nhẹ, họ không xâm lấn
đất của lâm trường với diện tích lớn trong một lần, mà chỉ chặt một vài cây để có một
khoảnh đất nhỏ phục vụ canh tác hoặc trồng keo. Hơn nữa, cũng vì do họ thiếu đất nên
mới làm trái pháp luật như vậy". Trả lời câu hỏi "Nếu không xử phạt thì lần sau người
47

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

dân lại tái lấn chiếm thì sao?", cán bộ lâm trường cho biết "Thường sau khi lập biên bản
và cảnh cáo miệng người dân không tái xâm lấn lại vì do lâm trường hợp tác tốt với
chính quyền xã quản lý tốt các đối tượng hay phát xâm lấn, nhắc nhở họ không được
tiếp tục vi phạm". Theo đánh giá của cán bộ lâm trường, họ không gặp khó khăn nhiều
trong công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn xã (ngoại trừ một số hộ xâm lấn đất trái
phép nhưng không đáng kể).
c) Quyền lực và mức độ ảnh hưởng của lâm trường tới hoạt động quản lý TNR
trên địa bàn xã
Vì lâm trường là chủ phần lớn diện tích rừng trên địa bàn xã nên lâm trường có
quyền lực cao nhất đối với hoạt động quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn xã. Hoạt
động này được thể hiện ở khía cạnh lâm trường có quyền xây dựng định hướng sử
dụng đất và quản lý mục tiêu sử dụng đất. Người dân muốn sử dụng gỗ để làm nhà
hoặc đóng đồ gia dụng phải có sự đồng ý của lãnh đạo lâm trường. Cũng vì lâm trường
là chủ đất đai và rừng nên chính quyền xã muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất của
lâm trường cũng cần nhận được sự đồng ý của lãnh đạo lâm trường và các bên liên
quan. Sau khi có quyết định của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cho chuyển đổi mục đích
sử dụng đất thì UBND xã cần phải phối hợp với lâm trường trong công tác bàn giao đất
và tận thu sản phẩm, không được phép tự ý chặt hạ cây khi chưa có ý kiến của lâm
trường. Tuy nhiên, việc thu hồi cây trên diện tích rừng trồng từ năm 1993 đến năm
1994 thuộc Chương trình 327 lâm trường cũng phải kết hợp với UBND huyện làm báo
cáo với Kho bạc nhà nước tỉnh vì đây là nguồn vốn thuộc Kho bạc quản lý, chứ lâm
trường không được tự ý khai thác sản phẩm trên diện tích đó.
5.6.1.2 UBND xã Phú Vinh
a) Bộ máy quản lý hành chính của xã Phú Vinh
UBND xã là cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp xã do HĐND bầu ra, chịu trách
nhiệm báo cáo công tác trước HĐND xã, chịu sự lãnh đạo của UBND huyện và sự lãnh
đạo thống nhất của chính quyền cấp trên.
UBND xã có chức năng quản lý mọi mặt công tác của Nhà nước ở xã, nhằm bảo
đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo
phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, hướng dẫn, tổ chức đời sống vật chất,
văn hoá của nhân dân, động viên nhân dâm làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Hiện nay Cấp ủy - HĐND - UBND đang cơ cấu sắp xếp cán bộ theo NĐ 121/CP, số
cán bộ biên chế chỉ còn lại 15 người, xã đang xin thêm một số cán bộ không chuyên
trách.
Để đảm bảo sự thống nhất trong quản lý tài nguyên rừng, tham gia vào quản lý
Nhà nước trên địa bàn xã liên quan tới tài nguyên rừng còn có các cơ quan chuyên
môn như:
- Ban Nông – lâm: Có nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật
về các giống cây trồng và vật nuôi cho nhân dân; vận động nhân dân trồng và bảo vệ
rừng; thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về nông, lâm
nghiệp.
- Ban Địa chính: Có nhiệm vụ giữ gìn và hiệu chỉnh các bản đồ địa giới hành chính,
lập sổ địa bạ, theo dõi quản lý đất đai trong phạm vi của xã, lưu trữ cung cấp số liệu
ruộng đất cho các cấp các ngành có liên quan sử dụng.
b) Các hoạt động của chính quyền xã có liên quan tới quản lý TNR
Về tài nguyên rừng, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm trước Chủ
tịch ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc bảo vệ và phát triển rừng, sử dụng đất lâm
nghiệp trên địa bàn xã.
48

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

• Quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã về các mặt : Danh sách chủ
rừng; diện tích, ranh giới các khu rừng; các bản khế ước giao rừng; các hợp đồng giao
nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng giữa các tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân trong xã.
• Chỉ đạo các thôn, bản ... xây dựng và thực hiện quy ước quản lý, bảo vệ, xây
dựng và sử dụng các khu rừng trên địa bàn xã phù hợp với pháp luật hiện hành.
• Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch của huyện, lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ,
phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, xây dựng phương án giao rừng và đất
lâm nghiệp trình HĐND xã thông qua trước khi trình UBND cấp huyện xét duyệt; tổ
chức thực hiện việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân theo
sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân huyện, xác nhận ranh giới rừng và đất lâm nghiệp của
các chủ rừng trên thực địa.
• Theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, biến động đất lâm nghiệp và báo cáo cơ
quan cấp huyện; thường xuyên kiểm tra việc sử dụng rừng, đất lâm nghiệp của các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân trên địa bàn xã.
• Phối hợp với cán bộ kiểm lâm và các lực lượng công an, quân đội trên địa bàn,
tổ chức lực lượng quần chúng bảo vệ rừng trên địa bàn xã, phát hiện và ngăn chặn kịp
thời những hành vi xâm phạm, hủy hoại rừng.
• Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp phòng
cháy, chữa cháy rừng, huy động các lực lượng giúp chủ rừng chữa cháy rừng trên địa
bàn xã.
• Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng theo thẩm
quyền.
• Hòa giải các tranh chấp về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn.
Những nhiệm vụ trọng tâm có liên quan đến quản lý tài nguyên rừng của UBND xã
Phú Vinh:
1) Đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông lâm
toàn diện. Cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lý theo định hướng lâu dài;
2) Tăng cường công tác trồng rừng, đẩy mạnh việc đo đạc đất đai và giao đất
khoán rừng cho nhân dân, đưa vào sử dụng số diện tích đất đã khai hoang;
3) Tổ chức chỉ đạo các dự án đang thực thi và tiếp cận các nguồn vốn khác để xây
dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp.
Từ những nhiệm vụ trọng tâm trên, xã Phú Vinh quyết tâm phấn đấu đạt các chỉ
tiêu về sản xuất lâm nghiệp trong năm 2005 như sau:
- Trồng rừng: 10ha (gồm các loài cây keo, tràm, quế);
- Hoàn chỉnh việc tổng kiểm kê đất đai và quy hoạch tổng thể;
- Phục hóa và thâm canh diện tích 6 ha bỏ hoang ở Thôn Phú Thượng.
c) Quyền lực và mức độ ảnh hưởng của UBND xã tới hoạt động quản lý TNR trên
địa bàn xã
Đơn vị có quyền lực thứ hai đến hoạt động quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn xã
chính là UBND xã. Quyền lực của UBND xã được thể hiện rõ nét nhất là xây dựng quy
hoạch và kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn xã, ngoại trừ đất của lâm trường; xây dựng
chính sách, quy chế sử dụng đất của xã; xác định ranh giới, chia đất cho người dân sử
dụng đất; quản lý hồ sơ, thu hồi, thưởng phạt; quản lý các chế độ liên quan đến quản lý
đất đai.
Tuy nhiên, vì phần lớn diện tích đất đai của xã do lâm trường làm chủ, nên mức độ
ảnh hưởng của UBND xã đến hoạt động quản lý tài nguyên rừng cũng bị hạn chế
nhiều. Hơn nữa, cũng do quan niệm đất đai là của lâm trường, nên UBND xã đã không
phát huy được hết vai trò của mình trong hoạt động quản lý tài nguyên rừng. Ví dụ theo
49

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Nghị định số 139/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng; tịch
thu phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000 đồng; buộc
khắc phục hậu quả, nhưng trên thực tế trong những năm qua UBND xã Phú Vinh chưa
xử lý một vụ vi phạm hành chính nào về quản lý rừng trên địa bàn mình quản lý. Hơn
nữa, phần lớn các vụ vi phạm của người dân đều nhỏ, không nghiêm trọng nên chính
quyền xã thường làm ngơ hoặc cùng lắm là cảnh cáo miệng. Trả lời câu hỏi "Tại sao
thấy người dân vi phạm lại làm ngơ không xử lý?", cán bộ xã trả lời "Do dân quá nghèo,
họ không vào rừng khai thác thì biết kiếm sống ở đâu vì diện tích đất nông nghiệp quá
ít, không đủ nuôi sống gia đình". Như vậy, nghèo đói chính là nguyên nhân tác động lên
ý thức bảo vệ rừng của chính quyền xã cũng người dân.
Theo quy định của pháp luật, chính quyền xã là người quản lý các hợp đồng sử
dụng đất (ở đây là hợp đồng trồng rừng và khoán bảo vệ rừng). Tuy nhiên, khi được hỏi
"Chính quyền xã có quản lý các hợp đồng này không?" thì cán bộ xã trả lời "Đây là hợp
đồng do lâm trường ký trực tiếp với dân nên xã không biết". Có thể nói sự phối kết hợp
trong hoạt động quản lý sử dụng đất giữa xã và lâm trường chưa chặt chẽ.
5.6.1.3. Hạt kiểm lâm A Lưới
a) Bộ máy quản lý hành chính của Hạt
Hạt kiểm lâm là đơn vị trực thuộc và chịu sự quản lý toàn diện của Chi cục kiểm
lâm, có trách nhiệm giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về quản
lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản ở huyện theo quy hoạch, kế hoạch và sự phân
cấp của tỉnh.
Về cơ cấu tổ chức, hạt kiểm lâm A Lưới có 1 Hạt trưởng, 1 phó Hạt trưởng và các
bộ phận chuyên trách như Quản lý bảo vệ rừng, Pháp chế thanh tra, Tổng hợp, các
trạm kiểm lâm, đội kiểm soát lưu động với tổng số 32 cán bộ, trong đó có 18 biên chế
và 14 hợp đồng.
Do địa bàn rộng, lực lượng lại mỏng nên lãnh đạo Hạt kiểm lâm A Lưới không bố
trí kiểm lâm viên địa bàn phụ trách xã Phú Vinh. Hơn nữa do xã Phú Vinh nằm gần Hạt
kiểm lâm đóng tại thị trấn A Lưới nên việc quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn xã do
văn phòng Hạt và đội lưu động phụ trách.
b) Các hoạt động của Hạt kiểm lâm A Lưới có liên quan tới quản lý TNR
Với vai trò thừa hành pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, Hạt kiểm lâm A
Lưới tiến hành các hoạt động kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật về quản lý, bảo
vệ, phát triển rừng và lưu thông lâm sản, tổ chức phòng chống các hành vi vi phạm
pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn xã.
Ngoài ra Hạt còn tham gia quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp cho người
dân. Những năm trước khi còn Chương trình trồng rừng 327, Hạt cũng tham gia chỉ đạo
trồng rừng cùng với lâm trường và UBND xã Phú Vinh.
Trong những năm gần đây, trên địa bàn xã Phú Vinh không có vụ vi phạm lâm luật
nào phải lập biên bản, chỉ có một vài vụ nhỏ được xử lý dưới hình thức cảnh cáo
miệng. Có được kết quả đó là do Hạt đã thường xuyên phối hợp với chính quyền xã để
kiểm tra địa bàn, tổ chức họp dân ký các cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy
rừng.
c) Quyền lực và mức độ ảnh hưởng của Hạt kiểm lâm A Lưới tới hoạt động quản lý
TNR trên địa bàn xã
Hạt Kiểm lâm A Lưới có quyền lực thứ ba sau UBND xã đối với hoạt động quản lý
tài nguyên rừng của xã Phú Vinh, tuy nhiên quyền lực của Hạt chỉ thể hiện trong hoạt
động liên quan đến việc thực thi pháp luật về quản lý bảo vệ rừng. Cũng do quan niệm
50

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

đất rừng là của lâm trường, mà lâm trường cũng có đội quản lý bảo vệ rừng, nên mức
độ ảnh hưởng của Hạt kiểm lâm đến hoạt động này trên địa bàn xã chỉ đứng ở vị trí
cuối cùng. Khi được hỏi "Tại sao không có kiểm lâm viên trên địa bàn xã Phú Vinh?",
lãnh đạo hạt đã trả lời "Do lâm trường đã có lực lượng quản lý bảo vệ rừng, nên không
cần có kiểm lâm viên địa bàn". Hơn nữa, cũng theo lãnh đạo hạt các vụ vi phạm của
người dân trên địa bàn xã chỉ là những vụ nhỏ, UBND xã có quyền xử phạt vi phạm
hành chính ở mức dưới 500.000 đồng nên không cần có sự can thiệp của kiểm lâm.
Chính quan niệm này đã dẫn tới sự phối kết hợp giữa lâm trường, UBND xã và Hạt
kiểm lâm trong việc ngăn chặn hoạt động khai thác rừng trái phép và lấn chiếm đất
rừng không chặt chẽ.
Mặt khác, theo kết quả phỏng vấn hộ cho thấy, khi chặt 1 cây thông, cán bộ lâm
trường phạt 15.000 đồng và đình chỉ hoạt động khai thác lấn chiếm đất này. Trên thực
tế, theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ rừng (lâm trường quốc doanh, tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân) khi phát hiện bắt quả tang người vi phạm gây hiệt hại đến rừng do
mình quản lý thì được tạm giữ lâm sản, phương tiện vi phạm và dẫn giải người vi phạm
đến cơ quan Kiểm lâm gần nơi xảy ra vi phạm hoặc đến Uỷ ban nhân dân xã nơi xảy ra
vi phạm để lập biên bản xử lý, chứ không được tự mình xử phạt. Do vậy cần có sự phối
kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng kiểm lâm, UBND xã và cán bộ của lâm trường, như
vậy hoạt động quản lý bảo vệ rừng mới thực sự có hiệu quả.
5.6.1.4. Cộng đồng người dân địa phương
Cộng đồng địa phương là những người hiện sinh sống trên địa bàn xã, họ đã và
đang phụ thuộc vào tài nguyên rừng dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong mỗi khu
vực, nơi có các cộng đồng dân cư sinh sống, thì mọi hoạt động liên quan đến sự phát
triển về kinh tế - xã hội của khu vực đều cần có sự tham gia của người dân. Các hoạt
động này hết sức đa dạng, trong đó có hoạt động quản lý tài nguyên rừng.
Theo kết quả điều tra, người dân ở địa phương tham gia vào tiến trình quản lý tài
nguyên rừng trên địa bàn thông qua các hoạt động: bảo vệ rừng; phát triển rừng; khai
thác và sử dụng rừng.
a) Hoạt động bảo vệ rừng
• Phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm lâm luật
Bảng 11: Vai trò của người dân trong hoạt động phát hiện
và ngăn chặn những hành vi vi phạm lâm luật
Dân tộc
Paco
%
Kinh
%
Tổng
TB (%)

1
1A
5
33.3
8
53.3
13
43.3

1B
10
66.7
7
46.7
17
56.7

2
1C
6
40.0
8
53.3
14
46.7

1D
9
60.0
7
46.7
16
53.3

2A
11
73.3
11
73.3
22
73.3

3
2B
4
26.7
4
26.7
8
26.7

3A
0
0.0
0
0.0
0
0.0

3B
15
100.0
15
100.0
30
100.0

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra hộ gia đình.

Ghi chú:
1. Khi nhìn thấy người vi phạm lâm luật:
- Những người ở trong thôn/xã: 1A: ngăn chặn; 1B: không ngăn chặn;
- Những người ở ngoài thôn/xã: 1C: ngăn chặn; 1D: không ngăn chặn.
2. Khi nhìn thấy người vi phạm lâm luật sẽ báo cho người có trách nhiệm để ngăn chặn: 2A: có báo;
2B: không báo.
3. Khi báo có nhận được thù lao không?: 3A: có; 3B: không.
51

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Do có rừng và đất rừng chiếm tới 77,4% tổng diện tích tự nhiên nên nghề rừng
chính là thế mạnh của xã Phú Vinh. Mặc dù vậy, hầu như toàn bộ diện tích đất lâm
nghiệp của xã lại do lâm trường A Lưới quản lý, người dân ở đây không phải là chủ
thực sự của nguồn tài nguyên đó, nên ý thức bảo vệ rừng của họ chưa cao.
Theo kết quả phỏng vấn hộ, hơn một nửa người dân cho rằng khi nhìn thấy
người khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép họ không sẽ không ngăn chặn hoạt
động này vì họ cho rằng đây không phải là trách nhiệm của mình. Tuy nhiên tỷ lệ này có
sự khác nhau giữa nhóm người Kinh và nhóm người Paco. Có tới hơn 60% người Paco
được phỏng vấn cho rằng họ không sẵn sàng ngăn chặn những người vi phạm do phần
lớn họ là người cùng thôn, hơn nữa đời sống cũng rất khó khăn nên mới phải vào
rừng. Trong khi đó chỉ có 46,7% số người Kinh được phỏng vấn cho rằng họ không
ngăn chặn những người vi phạm lâm luật. Điều này chứng tỏ rằng mức độ phụ thuộc
vào tài nguyên rừng của người Paco cao hơn người Kinh. Khi gặp những đối tượng ở
ngoài thôn/xã vi phạm, tỷ lệ người ngăn chặn có cao hơn nhưng không đáng kể.
Mặc dù không sẵn sàng tự mình ngăn cản hoạt động vi phạm của những người
khác, nhưng họ lại rất sẵn sàng báo cho các cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý,
tỷ lệ này đạt 73,3% ở cả hai nhóm dân tộc. Tuy nhiên, đa phần người dân cho rằng họ
không dám tự mình ngăn chặn hoặc báo cho các cơ quan chức năng vì sợ bị trả thù.
Hơn nữa, một số người dân lại có tâm lý sợ lần sau trong gia đình mình có người đi
khai thác lâm sản cũng bị báo lên các cơ quan chức năng, như vậy sẽ đe dọa nguồn
thu của gia đình từ rừng. Trong khi đó những nguồn thu từ rừng luôn hấp dẫn người
dân vì giá trị kinh tế của nó mang lại, đặc biệt là hoạt động khai thác động vật rừng (rùa
vàng, khỉ, rắn, chim,...). Điều này chứng tỏ đa phần người dân nơi đây vẫn phải sống
dựa vào rừng, họ không muốn bị ràng buộc về mặt luật pháp đối với hoạt động khai
thác trái phép của mình. Mặt khác, do rừng thuộc quyền quản lý của lâm trường nên
người dân cho rằng họ không có quyền để ngăn chặn người khác khai thác rừng trái
phép. Hơn nữa, nếu người dân báo cho các cơ quan chức năng hoặc tự mình ngăn
chặn những người vi phạm thì họ cũng không nhận được một quyền lợi gì từ phía Nhà
nước. Như vậy, tình trạng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã chưa được giao cho
chính người dân quản lý và cơ chế hưởng lợi trong hoạt động chống lại hành vi vi phạm
lâm luật chưa có đã góp phần làm cho ý thức và tinh thần trách nhiệm của người dân
trong công tác quản lý, bảo vệ rừng còn hạn chế, thiếu tinh thần làm chủ, phó mặc cho
các cơ quan chức năng. Họ vẫn chưa nhận thức được bảo vệ rừng là trách nhiệm của
toàn dân, đặc biệt là những người dân sống ở ven rừng và hoạt động trong rừng. Có
thể thấy rằng sự phối kết hợp giữa người dân, chính quyền địa phương và các cơ quan
chức năng trong hoạt động chống lại các hành vi vi phạm lâm luật vẫn chưa thực sự
được quan tâm đúng mức.
Theo người dân, để hoạt động này có hiệu quả cần thực hiện các giải pháp sau:
- Trao quyền làm chủ rừng cho người dân để gắn trách nhiệm của họ với mảnh
rừng được giao;
- Xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm đã bị phát hiện một cách công
khai để làm gương cho người khác;
- Đề ra những quy chế nghiêm ngặt có sự ràng buộc của cộng đồng đối với hoạt
động khai thác vận chuyển lâm sản;
- Trả tiền công cho người có công ngăn chặn hoặc báo cho cơ quan chức năng
để ngăn chặn những người vi phạm bằng cách trích % từ giá trị xử phạt;
- Tăng cường kiểm lâm canh gác ở những khu vực hay bị khai thác;
- Tăng cường tuyên truyền giáo dục bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân;
- Nâng cao đời sống cho người dân để giảm áp lực vào tài nguyên rừng.
52

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

• Phòng chống cháy rừng
Bảng 12: Vai trò của người dân trong hoạt động phòng chống cháy rừng
Dân
tộc

1
1A

Paco 13
%

1

86.7 6.7

Kinh 11
%

1B

2

2
1C

2

1D
9

2A
4

2B
6

3

2C
2

2D
8

2E
4

3A
13

4

3B
2

3C
4

3D
3

4A
12

4B
3

5
4C

2

4D
2

5A
12

6
5B

0

6A
12

7
6B

0

7A
12

7B
9

8

7C
11

7D
10

7E
6

8A
7

8B
5

13.3 60.0 26.7 40.0 13.3 53.3 26.7 86.7

13.3 26.7 20.0 80.0 20.0 13.3 13.3 80.0 0.0

80.0 0.0

80.0 60.0 73.3 66.7 40.0 46.7 33.3

1

0

14

12

73.3 13.3 6.7

9

6

4

0

60.0 40.0 26.7 0.0

Tổng 24
3
3
18
10
10
2
TB
(%) 80.0 10.0 10.0 60.0 33.3 33.3 6.7

6

3

15

4

8

13

3

4

1

13

1

0

8

11

9

3

8

5

40.0 20.0 100.0 0.0

26.7 53.3 86.7 20.0 26.7 6.7

86.7 6.7

93.3 0.0

80.0 53.3 73.3 60.0 20.0 53.3 33.3

14

2

8

25

26

24

6.7

26.7 36.7 83.3 20.0 20.0 10.0 83.3 3.3

7

28

46.7 23.3 93.3

11

25

6

6

3

1

0

86.7 0.0

17

22

9

15

10

80.0 56.7 73.3 63.3 30.0 50.0 33.3

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra hộ gia đình.
Ghi chú:
1. Biết thông tin về cháy rừng trên địa bàn: 1A - có; 1B - không; 1C - thường xuyên; 1D - không thường xuyên.
2. Nguyên nhân gây cháy rừng: 2A - đốt nương rẫy; 2B - rà phá bom mìn; 2C - tự nhiên; 2D - bất cẩn khi dùng lửa; 2E - nguyên nhân khác.
3. Được tuyên truyền vận động về công tác PCCCR: 3A - có; 3B - không; 3C - thường xuyên; 3D - không thường xuyên.
4. Tham gia chữa cháy rừng: 4A - có; 4B - không; 4C - thường xuyên; 4D - không thường xuyên.
5. Tự nguyện tham gia chữa cháy: 5A - tự nguyện; 5B - có người gọi.
6. Gọi người cùng chữa cháy: 6A - có; 6B - không.
7. Người tham gia cùng chữa cháy: 7A - dân; 7B - kiểm lâm; 7C - cán bộ lâm trường; 7D - cán bộ xã; 7E - người khác.
8. Nhận tiền công khi tham gia chữa cháy: 8A - có; 8B - không.

53

19

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Ngược với vấn đề trên, những người dân được phỏng vấn lại có trách nhiệm rất
cao đối với hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng. Có tới 80% số người dân được
phỏng vấn cho biết trên địa bàn xã đã từng xảy ra cháy rừng, trong đó người Paco có tỷ
lệ số người biết nhiều hơn người Kinh. Có thể do các vụ cháy xảy ra ở những khu rừng
gần địa bàn người Paco sinh sống hơn nên họ biết rõ về số vụ cháy rừng hơn người
Kinh. Tuy nhiên các vụ cháy xảy ra trên địa bàn xã cũng không thường xuyên. Có một
số người nói rằng từ khi họ về đây ở đến giờ chưa bao giờ thấy xảy ra cháy rừng, có
thể do khi có cháy họ không có mặt tại hiện trường hoặc không được nghe kể lại. Các
vụ cháy rừng trên địa bàn xã do một số nguyên nhân như: đốt nương rẫy, rà phá bom
mìn, tự nhiên, bất cẩn khi sử dụng lửa và các nguyên nhân khác, trong đó nguyên nhân
bất cẩn khi sử dụng lửa có tỷ lệ số người đồng tình cao hơn cả (46,7%). Theo những
người được phỏng vấn, nguyên nhân này gắn với thói quen hút thuốc rê của đồng bào
khi vào rừng khai thác lâm sản hoặc rà phá bom mìn.
Do công tác tuyên truyền về phòng chống cháy rừng ở địa bàn do sự phối hợp
giữa Hạt Kiểm lâm A Lưới, lâm trường A Lưới và Chính quyền xã Phú Vinh diễn ra khá
tốt nên có tới 93,3% số người được phỏng vấn cho rằng họ đã từng được tuyên truyền
về công tác phòng chống cháy rừng. Tỷ lệ này đạt 100% ở nhóm người Kinh và 86,7%
ở nhóm người Paco. Chính nhờ công tác tuyên truyền này mà người dân đã nhận thức
được phòng cháy, chữa cháy rừng là trách nhiệm của toàn dân, nếu cháy rừng xảy ra
sẽ huỷ hoại tài nguyên rừng, nơi cung cấp nguồn thu nhập chủ yếu của chính họ. Hơn
nữa, cháy rừng sẽ ảnh hưởng lớn tới môi trường sống và sản xuất của người dân sống
cạnh rừng. Vì vậy có tới 83,3% người dân được hỏi cho rằng họ sẵn sàng tự nguyện
tham gia chữa cháy mà không cần phải có tiền hỗ trợ. Ngoài ra, trên đường đi chữa
cháy, họ còn kêu gọi bà con hàng xóm cùng tham gia. Theo họ, đông người sẽ nhanh
chóng dập tắt được đám cháy và giúp cho mọi người có tinh thần đoàn kết trong hoạt
động này. Trong đời sống hàng ngày, họ cũng luôn luôn nhắc nhờ con cháu, người
nhà, hàng xóm phải cẩn thẩn khi dùng lửa nhằm giữ gìn môi trường chung cho toàn
thôn/xã.
Lực lượng tham gia chữa cháy trên địa bàn bao gồm người dân, kiểm lâm, cán
bộ lâm trường, cán bộ xã, công an, bộ đội, trong đó lực lượng nòng cốt là người dân và
cán bộ lâm trường. Một số người dân cho rằng khi tham gia chữa cháy họ có nhận
được thù lao từ 10-15.000đ/người/vụ, nhưng cũng chỉ có 50,0% người dân được phỏng
vấn cho rằng họ có nhận được tiền công. Những người không nhận được tiền công cho
rằng chỉ có những người được kêu đi chữa cháy mới được nhận tiền công, còn những
người thấy cháy mà tự nguyện đi chữa thì không được nhận tiền công. Như vậy, để
giúp người dân có động lực khi tham gia chữa cháy nên kịp thời có những giải pháp
phân chia tiền thưởng công bằng, như vậy mới thu hút được người dân tích cực hơn
nữa trong hoạt động này.
Theo người dân, để hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa bàn có hiệu
quả hơn nữa cần phải tiến hành các hoạt động sau:
- Cẩn thận khi dùng lửa, nhất là tàn thuốc;
- Phát dọn sạch sẽ khi đốt nương, đốt vào buổi chiều khi nhiệt độ hạ, gió lặng và
có nhiều người ở nhà tham gia chữa cháy nếu cháy rừng xảy ra;
- Phải có đường băng cản lửa ngăn giữa rừng và nương rẫy;
- Không đốt rừng bừa bãi, làm nương rẫy trái phép;
- Quản lý chặt chẽ những người rà phá bom mìn;
- Tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia phòng cháy, chữa cháy
rừng dưới nhiều hình thức khác nhau như thông báo trên loa đài, ti vi; thông báo trong
54

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

các cuộc họp; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về phòng cháy, chữa cháy rừng; đưa vào
chương trình giảng dạy phổ thông,...;
- Khuyến khích những người dân tích cực tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng
bằng các hình thức như khen thưởng trước thôn, xã; trích tiền từ quỹ phòng cháy, chữa
cháy rừng phát cho dân tham gia chữa cháy;
- Các cơ quan chức năng như Hạt Kiểm lâm, Lâm trường A Lưới chuẩn bị tốt
các dụng cụ chữa cháy rừng, khi cần có thể cho dân mượn để chữa cháy một cách có
hiệu quả;
- Khi có cháy rừng xảy ra phải xác định rõ đối tượng gây cháy để có hình thức
xử phạt nghiêm minh, đúng pháp luật đối với đối tượng đó.
• Bảo vệ rừng và hưởng lợi:
Ngoài các hoạt động phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm lâm luật,
phòng chống cháy rừng, người dân trên địa bàn còn tham gia hoạt động bảo vệ rừng
của lâm trường. Kết quả tham gia nhận khoán bảo vệ rừng của người dân được thể
hiện qua bảng 03.
Bảng 13: Vai trò của người dân trong hoạt động nhận khoán bảo vệ rừng của lâm trường

Dân tộc

1
1A

Paco
%
Kinh
%
Tổng
TB (%)

4
26.7
5
33.3
9
30.0

2
1B
11
73.3
10
66.7
21
70.0

2A
4
26.7
5
33.3
9
30.0

3
2B
0
0
0
0
0
0

3A
4
26.7
5
33.3
9
30.0

3B
11
73.3
10
66.7
21
70.0

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra hộ gia đình.

Ghi chú:
1. Nhận khoán bảo vệ rừng: 1A: có; 1B: không;
2. Nhận khoán bảo vệ rừng của: 2A: Lâm trường; 2B: Kiểm lâm;
3. Hưởng lợi từ hoạt động khoán bảo vệ rừng: 3A: có; 3B: không.

Từ số liệu ở bảng trên có thể nhận thấy tỷ lệ người dân tham gia nhận khoán bảo
vệ rừng của lâm trường chiếm tỷ lệ thấp (trung bình 30% với cả hai nhóm dân tộc).
Điều này chứng tỏ lâm trường còn tự mình bảo vệ một diện tích rừng khá lớn trong khi
lực lượng lại mỏng nên chưa phát huy được hết thế mạnh của cộng đồng người dân
địa phương. Hơn nữa theo người dân họ chỉ được nhận khoán bảo vệ các khu rừng
trồng theo Chương trình 327, đến năm 2003 thì hợp đồng khoán cũng kết thúc nên hiện
nay họ không tham gia bất cứ một hợp đồng bảo vệ rừng nào với lâm trường. Khi tham
gia bảo vệ rừng họ cũng nhận được tiền công, nhưng chỉ nhận được từ 30.000 - 35.000
đ/ha/năm, trong khi theo quy định của Nhà nước đơn giá tiền công bảo vệ rừng là
50.000đ/ha/năm. Chính cơ chế chi trả này của lâm trường đã không tạo được niềm tin
của người dân, dẫn đến tâm lý họ không muốn nhận rừng để bảo vệ. Theo người dân
nhà nước cần giao thẳng rừng cho họ theo hình thức có thẻ đỏ để hoạt động rừng thực
sự có hiệu quả do họ được làm chủ rừng.

55

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

b) Hoạt động phát triển rừng
Bảng 14: Vai trò của người dân trong hoạt động trồng và chăm sóc rừng
Dân
tộc

1

Paco
%

2

1A

1B

2A

2B

4

11

7

4

26.7 73.3 46.7 26.7
3

Kinh

10

3

20.0 80.0 66.7 20.0

%
Tổng
TB

12

7

23

17

7

23.3 76.7 56.7 23.3

3
2C

4

3A

3B

7

8

4A

46.7 53.3
10

5

4B

4C

2

1

6

13.3

6.7

40.0

3

13

3

56.7 43.3 10.0

4D

4E

3

66.7 33.3 20.0
17

5

4

6.7

13.3

5A

5B

6A

11

4

11

7
6B

73.3 26.7 73.3
7

20.0
2

4F

6

13

2

13

7A

7B

7

4

46.7 26.7
3

10

3

46.7 86.7 13.3 86.7 20.0 66.7 20.0
6

7

24

6

24

3

17

7

20.0 23.3 80.0 20.0 80.0 10.0 56.7 23.3

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra hộ gia đình.
Ghi chú:
1. Nhận dự án trồng rừng: 1A: có; 1B: không;
2. Trồng rừng cho: 2A: gia đình; 2B: lâm trường;
3. Tự bỏ vốn trồng rừng: 3A: có; 3B: không;
4. Nguồn cung cấp giống cây: 4A: tự ươm; 4B: bà con; 4C: lâm trường; 4D: kiểm lâm; 4E: dự án; 4F: mua;
5. Mong muốn được trồng rừng: 5A: có; 5B: không;
6. Chăm sóc rừng sau khi trồng: 6A: có; 6B: không;
7. Người trả công chăm sóc: 7A: tự bỏ công; 7B: lâm trường; 7C: xã; 7D: dự án; 7E: nguồn khác.

56

7C

7D

7E

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Do đặc điểm rừng trên địa bàn của xã phần lớn đã bị hủy diệt trong chiến tranh,
hiện nay đang trong giai đoạn phục hồi nên sản xuất lâm nghiệp ở đây chưa có điều
kiện phát triển. Mặt khác, hầu như toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn xã do lâm trường
A Lưới quản lý nên những năm trước đây người dân mới chỉ tham gia vào hoạt động
phát triển tài nguyên rừng thông qua việc trồng rừng dưới hình thức hợp đồng với lâm
trường. Việc trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc ở xã vẫn chưa có nhiều chương
trình, dự án hỗ trợ (ngoài chương trình 327 hỗ trợ trồng thông trên địa bàn qua chủ đầu
tư là Lâm trường A Lưới, hỗ trợ trồng quế của dự án phát triển cộng đồng xã Phú
Vinh). Tuy nhiên, các hỗ trợ này còn rất hạn chế do người dân trên địa bàn xã chưa
phải là người chủ thực sự của rừng và đất lâm nghiệp.
Trước đây, trên địa bàn xã có một số hộ gia đình nhận khoán trồng và bảo vệ
rừng cho Lâm trường A Lưới theo Chương trình 327, tuy nhiên số người được tham gia
thực hiện các hợp đồng này cũng chiếm tỷ lệ rất nhỏ (trung bình 23,3%), tập trung ở
những hộ biết tiếp cận thông tin và một số hộ là người thân của cán bộ xã. Người dân
chỉ được trả tiền công trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng trong một vài năm, nên đã chưa
gắn được trách nhiệm của người dân với rừng trồng. Mặt khác, cơ cấu cây trồng của
Chương trình 327 chủ yếu là thông ba lá - một loài cây mọc nhanh, sống tốt trong điều
kiện lập địa của vùng nhưng giá trị kinh tế lại không cao nên người dân không mặn mà
với công việc này. Họ chỉ tham gia trồng rừng thuần túy để nhận được tiền công.
Trong một vài năm trở lại đây, do thị trường tiêu thụ gỗ bao bì và nguyên liệu giấy
phát triển tương đối mạnh, nên đã thu hút được rất nhiều người dân địa phương trên
địa bàn nghiên cứu tích cực tham gia vào hoạt động trồng rừng nguyên liệu (chủ yếu là
keo và tràm) mặc dù không có nguồn hỗ trợ từ bên ngoài do giá trị kinh tế của loài cây
này mang lại. Chính vì vậy khi được hỏi nên lựa chọn loài cây nào để trồng rừng thì
100% người dân nhất trí lựa chọn cây keo là loài cây chủ lực trong hoạt động trồng
rừng. Có tới 80,0% số hộ được phỏng vấn có mong muốn được nhận đất trồng rừng,
trong đó tỷ lệ người Kinh thích trồng rừng cao hơn người dân tộc Paco. Tuy nhiên, khi
được hỏi "Ông/bà có sẵn sàng tự bỏ vốn ra trồng rừng không?" thì chỉ có 56,7% người
dân trả lời sẵn sàng bỏ vốn trồng rừng. Số người này tập trung ở những hộ khá giả và
có nhân lực. Trong khi 66,7% người Kinh trả lời sẵn sàng bỏ vốn trồng rừng thì tỷ lệ
này chỉ chiếm 46,7% ở nhóm hộ người Paco. Có thể do nhóm dân tộc này đã quen với
sự tài trợ của Chính phủ cũng như các dự án phi Chính phủ nên họ không sẵn sàng tự
mình bỏ vốn kinh doanh. Chính vì vậy tỷ lệ người Kinh trồng rừng cho gia đình họ cũng
cao hơn người Paco.
Do hoạt động trồng rừng diễn ra hoàn toàn tự phát, người dân có nguồn lực đến
đâu thì trồng đến đó nên việc trồng rừng diễn ra không theo quy hoạch chung và chưa
tính đến tính chất biến động của thị trường lâm sản. Mặt khác, do không hiểu biết nhiều
về kỹ thuật trồng cây ngoại nhập (keo) và chưa có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động
tạo cây con, trồng rừng, chăm sóc rừng sau khi trồng nên chất lượng rừng trồng của
người dân thường không cao. Hơn nữa, việc tập trung trồng thuần loài các loài keo
nhập nội trên diện rộng nên rất dễ bị sâu bệnh, khả năng phòng hộ thấp (phát đốt trắng
khi trồng, rừng một tầng tán, khai thác trắng một lần trên diện rộng do trồng thuần loài
đều tuổi,...), tính đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng.
Bên cạnh hoạt động trồng keo, một số hộ gia đình trên địa bàn xã Phú Vinh đã
tham gia trồng cây quế do dự án phát triển cộng đồng xã Phú Vinh tài trợ cây giống và
tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây. Dự án này đã giúp một số hộ gia đình cải tạo
được vườn tạp, tận dụng tốt diện tích đất nương rẫy cố định lâu ngày đã bạc màu. Một
số hộ gia đình không được tham gia dự án, nhưng thấy được giá trị của cây quế nên đã
57

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

tự mua giống về trồng. Tuy nhiên, do chưa có kinh nghiệm và ít vốn, nên họ thường
mua phải quế giống rẻ tiền dẫn đến chất lượng cây trồng không được đảm bảo.
Mặc dù hoạt động trồng rừng trên địa bàn xã đã được người dân tích cực hưởng
ứng, nhưng do người dân không có đất rừng để trồng cây đã dẫn đến tình trạng xâm
lấn đất lâm nghiệp của lâm trường để canh tác nông lâm nghiệp. Theo quan niệm
truyền thống của người dân, nhất là người dân tộc thiểu số, ở đâu có cây do họ trồng
thì đất ở đó thuộc quyền sở hữu của họ. Tình trạng này rất dễ xảy ra xung đột giữa lâm
trường - đơn vị chủ quản lý rừng và đất rừng, và người dân – những người sống gần
rừng.
Sau khi trồng rừng, người dân thường tiến hành chăm sóc rừng trong 3 năm đầu.
Hoạt động này bao gồm làm cỏ, xới gốc, phát dây leo cây bụi và tỉa cành khi cây giao
tán. Đây là những kỹ thuật hầu như là mới đối với người dân, họ học hỏi được từ các
cán bộ dự án, cán bộ khuyến lâm hoặc hàng xóm. Theo kết quả phỏng vấn, tỷ lệ người
Kinh tiến hành chăm sóc rừng sau khi trồng cao hơn người Paco. Đối với những khu
rừng người dân tự bỏ vốn trồng thì họ cũng tự bỏ công ra chăm sóc. Chỉ có những khu
rừng nhận khoán của lâm trường thì được lâm trường chi trả khoản tiền chăm sóc rừng
hàng năm theo quy định.
c) Hoạt động khai thác và sử dụng rừng
Phần lớn người dân trong vùng kiếm sống bằng nông nghiệp, trong đó hoạt động
quan trọng nhất là trồng sắn và canh tác lúa nước. Ngoài ra người dân còn trồng thêm
nhiều loài cây lương thực, thực phẩm khác và chăn nuôi. Tuy vậy, do diện tích đất nông
nghiệp ít, năng suất cây trồng lại thấp, chăn nuôi chủ yếu ở quy mô nhỏ nên đời sống
của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn. Sau thời vụ nông nghiệp, họ vào rừng khai
thác gỗ, củi và các lâm sản ngoài gỗ như song, mây, lá nón, săn bắt chim, thú các
loại,... Chính các hoạt động này đã góp phần làm suy thoái đáng kể nguồn tài nguyên
động, thực vật rừng ở khu vực, đặc biệt là các loài quý hiếm, có giá trị kinh tế cao.
Từ kết quả điều tra phỏng vấn 30 người dân và 4 cuộc phỏng vấn nhóm tại địa
bàn nghiên cứu đã thống kê được các hoạt động khai thác rừng của người dân nơi đây
bao gồm: khai thác gỗ về dùng trong gia đình, khai thác củi, khai thác mây tre, khai thác
lá nón, khai thác mật ong, săn bắt chim thú, rà phá bom mìn, khai thác cây thuốc, khai
thác cây lương thực và thực phẩm, phát rừng làm rẫy. Đây là các hoạt động đem lại thu
nhập cho người dân nhưng lại trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến tài nguyên rừng.
Mặc dù kiến thức về khai thác, sử dụng và chế biến lâm sản của người dân ở đây
rất phong phú, nhưng việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này ở địa bàn nghiên
cứu vẫn còn mang nặng thói quen tự cấp, tự túc. Phần lớn họ vẫn coi tài nguyên rừng
như một kho nguyên liệu sẵn sàng cung cấp mọi thứ cho cuộc sống của họ, nên ý thức
bảo tồn và phục hồi tài nguyên rừng vẫn chưa được toàn bộ người dân trong xã chú ý.
Trong những năm gần đây, do chính sách đóng cửa rừng và việc thực thi luật pháp ở
địa phương được thắt chặt hơn, nên tình trạng khai thác rừng bừa bãi trên địa bàn đã
giảm đi một cách đáng kể.
Thu nhập từ việc nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng, trồng các cây hoa màu,
cây ăn quả, chăn nuôi và dịch vụ phần nào giúp nâng cao tổng thu nhập cho gia đình
nhưng chỉ là quy mô nhỏ, hơn nữa lại phụ thuộc vào mùa vụ, giá cả thị trường cao nên
đời sống của người dân địa phương nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn.
d) Quyền lực và mức độ ảnh hưởng của người dân địa phương tới hoạt động quản
lý TNR trên địa bàn xã
Theo sơ đồ 03, do không phải là người chủ thực sự của rừng và đất lâm nghiệp,
nên người dân địa phương có quyền lực thấp nhất đối với hoạt động quản lý tài nguyên
rừng, tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của họ đối với tài nguyên rừng lại lớn nhất do sinh
58

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

kế của họ phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng. Mức độ ảnh hưởng này được thể hiện
thông qua các hoạt động sản xuất, các vấn đề văn hóa - xã hội và các vấn đề kinh tế
của người dân.
Tất cả diện tích đất khai hoang và lấn chiếm để trồng rừng của người dân đều
chưa được công nhận về mặt pháp luật (chưa có thẻ đỏ), nên quyền hạn của người
dân trên các mảnh đất họ phát hoang rất mong manh. Trả lời câu hỏi "Ông/bà gặp
những khó khăn gì khi trồng cây sát với đất của lâm trường?", người dân trả lời "Họ nói
nếu họ khai thác cây lớn, cây của chúng tôi đổ họ sẽ không chịu trách nhiệm". Chính vì
vậy, cần thiết phải có giải pháp giao đất cho dân cùng với việc cấp thẻ đỏ công nhận
quyền sử dụng đất của họ trên mảnh đất được giao, như vậy mới gắn được trách
nhiệm và quyền hạn của họ với sản phẩm canh tác của họ trên mảnh đất đó.
5.6.2. Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong hoạt động quản lý TNR tại địa bàn
nghiên cứu
Nếu như xác định các hoạt động quản lý tài nguyên rừng ở xã Phú Vinh là trọng
tâm, thì mọi đối tượng liên quan đều có trách nhiệm và quyền lợi trong việc tham gia
các hoạt động này.
Sơ đồ 4: Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong hoạt động
quản lý tài nguyên rừng
UBND xã Phú Vinh

(Vai trò quản lý)

Hạt kiểm lâm A
Lưới

Lâm trường A
Lưới

(Vai trò thừa hành)

:Phối kết hợp
: Chỉ đạo

Người dân
(Bảo vệ, phát triển,
khai thác và bảo vệ

Hạt kiểm lâm với vai trò thừa hành pháp luật sẽ tiến hành chỉ đạo và thực hiện các
hoạt động liên quan tới việc thi hành pháp luật về quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn xã
(Chính quyền xã, Lâm trường A Lưới và người dân). Ngoài ra Hạt còn phối hợp với
chính quyền xã, lâm trường thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật,
vận động người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, tổ chức lực lượng quần chúng
bảo vệ rừng và trực tiếp tham gia PCCCR ở địa phương, thực hiện tuần tra, truy quét
các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng, khai thác, kinh doanh, vận chuyển trái phép lâm
sản, săn bắt, buôn bán trái phép ĐVHD trên địa bàn xã.
Chính quyền xã với vai trò quản lý Nhà nước sẽ tiến hành quản lý rừng và đất lâm
nghiệp trên địa bàn xã về diện tích, ranh giới các khu rừng, các hợp đồng giao nhận
khoán bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng giữa các tổ chức, hộ gia đình và cá
nhân trong xã; chỉ đạo và vận động người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
59

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Chính quyền xã cũng phối hợp với hạt kiểm lâm, lâm trường chủ yếu trong các hoạt
động bảo vệ rừng.
Lâm trường với vai trò là chủ rừng ngoài việc chịu sự kiểm tra, giám sát trực tiếp
của hạt kiểm lâm về vấn đề thi hành pháp luật lâm nghiệp, còn có trách nhiệm phối hợp
với hạt, chính quyền xã và người dân trong hoạt động bảo vệ rừng. Ngoài ra, lâm
trường còn tiến hành các hoạt động giao khoán, trồng, bảo vệ rừng cho người dân trên
địa bàn xã.
Người dân sẽ trực tiếp chịu sự chỉ đạo của hạt kiểm lâm, lâm trường và chính
quyền xã chủ yếu trong hoạt động bảo vệ và sử dụng rừng. Bên cạnh đó, do không
phải là chủ rừng, nên người dân sẽ phối kết hợp với lâm trường thực hiện các hoạt
động phát triển rừng.
Tóm lại, các bên tham gia hoạt động quản lý tài nguyên rừng có mối quan hệ
tương tác với nhau. Tuy nhiên, vì mục đích hoạt động của mỗi bên tham gia thường
không giống nhau, các mâu thuẫn dễ dàng hình thành nên vấn đề chia sẻ lợi ích từ
quản lý tài nguyên rừng của các bên liên quan gặp nhiều khó khăn.
5.6.2. Quan điểm của các bên liên quan đối với hoạt động quản lý tài nguyên rừng trên
địa bàn
5.6.2.1. Quan điểm của chính quyền địa phương
Theo kết quả phỏng vấn nhóm lãnh đạo xã cho thấy hình thức quản lý tài nguyên
rừng của lâm trường trên địa bàn xã đang còn là vấn đề cần tranh cãi. Thực chất lâm
trường hiện nay đã giao khoán rừng và đất rừng cho công nhân của mình để nhận tiền
công khoán bảo vệ. Trong khi đó với số lượng diện tích rừng lớn như vậy, các công
nhân của lâm trường không thể thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ rừng được, đặc biệt
là hoạt động chữa cháy rừng cần phải có nhiều người tham gia. Hơn nữa, việc lâm
trường quản lý một diện tích quá lớn trên địa bàn xã đã dẫn tới tình trạng hầu hết diện
tích đất xấu bị bỏ hoang, lâm trường không đủ nguồn lực để phát triển diện tích đất này.
Mặt khác, trong khi dân trên địa bàn xã thiếu đất để sản xuất nông nghiệp, thì phần lớn
diện tích đất nông nghiệp đã được dùng để trồng cây lâm nghiệp theo chương trình
327, đến nay vẫn chưa được khai thác để trả lại đất cho sản xuất nông nghiệp.
Theo chính quyền xã, mỗi người dân phải có ít nhất 2ha đất nông lâm nghiệp để
canh tác thì mới đủ đảm bảo được cuộc sống của gia đình ở mức an toàn lương thực.
Theo chính quyền địa phương, để quản lý tốt tài nguyên rừng trên địa bàn xã cần
phải tiến hành các hoạt động sau:
- Giao đất, giao rừng cho người dân: phần diện tích rừng trồng trên địa bàn xã do
lâm trường quản lý là 600ha, ít nhất phải giao lại cho dân 200ha để canh tác nông lâm
nghiệp.
- Đối với rừng trồng/đất lâm nghiệp khi tiến hành giao phải giao liền khoảnh, các hộ
ở đâu thì nhận rừng gần đó, có thể giao theo hình thức các hộ nhận thẻ đỏ nhưng sẽ
liên kết với nhau trong hoạt động bảo vệ rừng.
- Đối với rừng tự nhiên giao theo hình thức nhóm hộ đồng quản lý.
- Sau khi tiến hành giao phải cấp thẻ đỏ ngay cho dân.
- Nhà nước hỗ trợ trong các hoạt động: nâng cao trình độ và kỹ năng quản lý cho
cán bộ xã, thôn và người dân; phổ biến chính sách và pháp luật liên quan đến quản lý
tài nguyên rừng; hỗ trợ kỹ thuật, giống, phân bón,… cho người dân.
- Phối hợp chặt chẽ với hạt kiểm lâm, lâm trường trong các hoạt động phòng
chống cháy rừng, phòng chống các hành vi vi phạm lâm luật,…

60

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

5.6.2.2. Quan điểm của người dân
Cộng đồng địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý tài nguyên rừng
trên địa bàn xã. Quan điểm và thái độ của cộng đồng địa phương với tài nguyên rừng
có vai trò quyết định sự tham gia của họ trong hoạt động quản lý nguồn tài nguyên này.
Chỉ khi cộng đồng thực sự mong muốn và có khả năng tham gia vào hoạt động quản lý
tài nguyên rừng thì sự tham gia của họ mới mang lại hiệu quả.
Để tìm hiểu xem người dân địa phương có mong muốn tài nguyên rừng ở khu vực
có phát triển hơn hay không, chúng tôi đã phỏng vấn người dân địa phương theo mẫu
câu hỏi "Ông bà có mong muốn nhận đất trồng rừng không?”. Kết quả thu được thể
hiện khá rõ thái độ của người dân đối với hoạt động phát triển rừng tại địa bàn: 100%
câu trả lời là có. Lý do người dân muốn nhận đất để trồng rừng là:
- ở gần rừng thì phải sống bằng nghề rừng;
- Mang lại việc làm, giải quyết lao động dư thừa trong gia đình, tăng thu nhập;
- Trồng rừng có giá trị kinh tế cao, nguồn thu ổn định, bán một lần được nhiều tiền;
- Vì cây rừng sống lâu, nên sau này khi già yếu sẽ có nguồn thu từ rừng;
- Trồng rừng là hình thức để dành vốn cho con cháu;
- Lao động trong gia đình tham gia trồng rừng sẽ bớt phải đi vào rừng sâu khai
thác lâm sản ngoài gỗ, vì đây là hoạt động nguy hiểm, thu nhập lại bấp bênh.
Ngoài ra, người dân còn có mong muốn sau khi được nhận đất, nhận rừng sẽ
được hướng dẫn kỹ thuật tạo cây con, trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng ngay tại hiện
trường. Chính quyền địa phương cần kết hợp với các ban ngành liên quan có chính
sách bảo hộ thị trường lâm sản, tránh để xảy ra tình trạng giống thị trường nông sản
(quả hồng).
5.6.2.3. Quan điểm của Hạt kiểm lâm A Lưới
Trước thực trạng người dân trên địa bàn xã Phú Vinh thiếu đất canh tác nông lâm
nghiệp, trong khi đó lâm trường lại quản lý một diện tích quá lớn, Hạt kiểm lâm A Lưới
đã tham mưu cho UBND huyện đề nghị UBND tỉnh có quyết định thu hồi đất giao lại cho
dân.
Theo lãnh đạo hạt, những diện tích cần thu hồi là những diện tích rừng gần dân,
diện tích rừng trồng thông không có hiệu quả. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp sau khi
thu hồi giao lại cho dân phải có thẻ đỏ. Còn diện tích rừng tự nhiên của lâm trường trên
địa bàn xã vẫn để lại cho lâm trường quản lý.
5.6.4.4. Quan điểm của Lâm trường A Lưới
Do phải quản lý một diện tích rừng khá lớn, trong khi đó cán bộ công nhân viên
của lâm trường lại có hạn, nên lâm trường đồng tình với QĐ 178 khoán đất, rừng cho
dân. Tuy nhiên hiện lâm trường chưa có kinh phí để rà soát lại tài nguyên để tiến hành
giao.
5.7. Các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên địa bàn theo cách nhìn
của lãnh đạo và người dân địa phương.
Qua phân tích hiện trạng quản lý rừng trên địa bàn xã, tất cả các nhóm được
phỏng vấn (cán bộ lãnh đạo xã, nam nông dân đại diện cho các hộ khá và nữ nông dân
nhóm hộ nghèo) và đa số các cá nhân được hỏi đều cho rằng Lâm trường quản lý một
diện tích quá lớn trong khi xã lại rất thiếu đất vì vậy giải pháp quan trọng nhất hiện nay
để quản lý bền vững tài nguyên rừng ở Phú Vinh là chính quyền các cấp cần thúc đẩy
thu hồi lại một phần đất của lâm trường (nhất là những diện tích đất có khả năng phát
triển sản xuất nông nghiệp (đất có độ dốc nhỏ hơn 150), hoặc những nơi lâm trường bỏ
61

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

hoang để giao lại cho người dân trong xã. Lãnh đạo địa phương cho rằng ít nhất xã
phải quản lý 30% tổng diện tích tự nhiên thuộc địa giới hành chính của xã (hiện tại chỉ
quản lý 3 %) mới có thể đảm bảo cho việc phát triển sản xuất cải thiện cuộc sống của
người dân trong xã. Liên quan đến giao đất giao rừng, chính quyền và người dân địa
phương đề nghị rằng rừng và đất rừng giao cho người dân cần phải liền lô liền khoảnh
để giảm bớt công sức của họ trong quá trình quản lý và bảo vệ. Người dân cũng cho
rằng trong tiến trình giao các cơ quan chuyên môn cần phối hợp chặt chẽ với chính
quyền xã để họ có thể can thiệp về mặt pháp lý trong những trường hợp cần thiết như
có sự tranh chấp hoặc mâu thuẫn giữa các hộ gia đình. Chính quyền xã phải tham gia
chỉ đạo, giám sát thực hiện và là cầu nối với các cơ quan chuyên môn của nhà nước
trong việc tuyên truyền vận động người dân tham gia quản lý rừng và đất rừng.
Nhóm hộ nghèo còn đề xuất rằng trong tiến trình giao đất không những cần sự
tham gia của chính quyền xã mà còn phải có đại diện của thôn để đảm bảo rừng và đất
rừng được phân phối một cách công bằng. Về hình thức giao, người dân cũng đưa ra
giải pháp riêng cho việc giao đất lâm nghiệp và rừng tự nhiên. Hầu hết bà con đều cho
rằng đất lâm nghiệp nên giao cho hộ gia đình quản lý là tốt nhất vì trách nhiệm rõ ràng,
năng suất sẽ cao hơn, nếu giao cho nhóm sẽ mất thời gian điều phối chung, dễ gây ra
sự ỷ lại tạo sự không công bằng trong đóng góp công sức cho quản lý sử dụng đất.
Ngay cả bà con dân tộc Pa Cô- như nhiều dân tộc thiểu số khác ở Thừa Thiên Huế có
truyền thống đề cao tinh thần cộng đồng tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng
cho rằng giao riêng cho từng hộ sẽ hiệu quả hơn. Làm chung dễ tạo sự ỷ lại không chịu
đóng góp công sức nhưng quyền lợi lại hưởng chung. Như chúng tôi đã đề cập ở trên,
ảnh hưởng của sự giao lưu với người ngoài và tiến trình phát triển hiện đại, nhất là nền
kinh tế thị trường với sự cạnh tranh cao đã phá vỡ đặc điểm văn hoá truyền thống. Yếu
tố này cần phải được tính đến trong quá trình lập kế hoạch quản lý tài nguyên rừng (cụ
thể là giao đất giao rừng). Tuy nhiên, một số cá nhân cũng cho rằng đất rừng giao cho
nhóm hộ với qui mô nhỏ (số hộ khoảng chừng 3-5 hộ) sẽ phát huy được thế mạnh của
việc góp vốn đầu tư (vì kinh doanh cây lâm nghiệp đòi hỏi dài kỳ, lâu thu hồi vốn) và
đặc biệt là giảm chi phí bảo vệ khi phối hợp cùng nhau thực hiện hoạt động này. Đối với
rừng tự nhiên, nên giao cho nhóm hộ vì giao cho hộ gia đình đơn lẻ sẽ không đủ khả
năng bảo vệ do diện tích rộng, nhân lực ít và phải đi xa, tốn nhiều công sức. Giao cho
nhóm hộ sẽ phát huy được lợi thế liên kết, giảm bớt chi phí nhân công bảo vệ rừng.
Chính quyền địa phương và người dân cũng cho rằng giao rừng tự nhiên và đất lâm
nghiệp cho hộ gia đình hay nhóm hộ phải kèm theo các văn bản pháp lý (ví dụ như sổ
đỏ), các qui định cụ thể rõ ràng về pháp luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho họ
đồng thời giúp họ hiểu rõ trách nhiệm cần làm để rừng và đất rừng được quả lý hiệu
quả sau khi giao. Rừng và đất rừng cần được giao trực tiếp đến người dân, không nên
thông qua bất kỳ cá nhân trung gian nào. Vế giải pháp này, khi phỏng vấn cá nhân, một
số ít người cho biết rằng họ muốn nhận rừng để quản lý bảo vệ nhưng rất sợ phải đền
khi rừng bị cháy, bị chặt trộm cây, ... Một số người khác cũng cho rằng khi giao đất giao
rừng cho người dân cần phải có qui định khen chê rõ ràng, phải cân bằng giữa nghĩa
vụ và quyền hưởng lợi (ví dụ qui định trách nhiệm của người nhận rừng nhưng cũng
phải nói rõ tỉ lệ phần trăm sản phẩm được hưởng)
Đi kèm với giải pháp giao đất giao rừng, người dân xã Phú Vinh cũng đề xuất với
nhà nước và các tổ chức khác hỗ trợ họ về kỹ thuật tạo giống cây con, trồng và chăm
sóc cây, kỹ năng quản lý và nguồn vốn vay để họ có thể phát triển và làm giàu rừng một
cách có hiệu quả. Một số cá nhân khi được hỏi cũng đề xuất rằng ngoài việc hỗ trợ kỹ
thuật và kỹ năng quản lý cũng cần giúp họ tìm kiếm thông tin thị trường để tiêu thụ sản
phẩm. Đối với rừng tự nhiên sau khi giao, cần sự phối hợp của kiểm lâm trong phòng
62

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

chống cháy và kiểm soát lâm sản (hỗ trợ công cụ phòng chống cháy, sử dụng công cụ
pháp lý trong xử lý các hành vi vi phạm lâm luật) do bảo vệ rừng tự nhiên và ngăn chặn
khai thác rừng bất hợp pháp là một hoạt động đầy thử thách đòi hỏi sự phối hợp của
các bên liên quan và cần sự hỗ trợ của công cụ có tính pháp lý cao.
Lãnh đạo xã cũng như người dân Phú Vinh đều cho rằng diện tích đất thu hồi của
lâm trường giao lại cho hộ nếu có độ dốc thấp (nhỏ hơn 150) nên sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp hoặc lập vườn. Điều này chứng tỏ nhu cầu đất cho phát triển sản xuất
nông nghiệp ở Phú Vinh rất bức bách. Những diện tích đất có độ dốc lớn hơn và chất
lượng xấu nên trồng keo lai hoặc keo tai tượng cho mục đích lấy gỗ vì loại cây này đã
được người dân trồng thấy dễ sống, phát triển nhanh: “Em trồng thử keo lai, mới được
2 năm nhưng cây đã to, có nhiều người đến hỏi mua, cây này dễ bán”- Lời kế của một
phụ nữ thôn Phú Xuân. Rừng tự nhiên sau khi giao không chỉ bảo vệ mà cần kết hợp
với chăn thả trâu bò, dê và trồng dặm thêm các loài lâm sản ngoài gỗ như mây, dó bầu,
lá nón hoặc khoanh nuôi tái sinh, khai thác và sử dụng bền vững cả gỗ và các loại lâm
sản ngoài gỗ. Nhận thấy tầm quan trọng của tài nguyên đất đối với sinh kế, chính người
dân thuộc nhóm hộ nghèo đã đề xuất rằng: Diện tích đất thu hồi của Lâm trường cũng
cần để lại một phần cho xã quản lý làm quĩ dất dự phòng sau này để cấp cho những hộ
mới thành lập.
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.1. Kết luận
1. Tài nguyên rừng trên địa bàn của xã đã bị suy giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân
cơ bản của sự suy giảm này là sự khai thác quá mức, ảnh hưởng của chiển tranh, sự
yếu kém trong công tác quản lý bảo vệ rừng và sự tác động của nền kinh tế thị trường.
2. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với sinh kế của người dân địa phương: Cung
cấp các sản phẩm lâm nghiệp như là một nguồn thu nhập gia đình, đất đai cho phát
triển trồng trọt, nguồn thức ăn phong phú và là bãi chăn thả cho phát triển chăn nuôi,
đồng thời còn có các chức năng sinh thái môi trường và giá trị văn hoá đối với đời sống
của người dân địa phương.
3. Mức độ phụ thuộc sinh kế của người dân vào việc khai thác các lâm sản từ
rừng có chiều hướng giảm mạnh, nhưng những hộ nghèo vẫn còn sống phụ thuộc rất
nhiều vào rừng. Người dân đã từng bước tìm kiếm được các hoạt động sinh kế thay
thế để giảm mức độ sử dụng tài nguyên rừng. Trong đó phát triển sản xuất nông nghiệp
đóng vai trò then chốt trong việc ổn định cuộc sống của đại bộ phận dân cư trong xã.
4. Đất đai được xem là nguồn lực quan trọng nhất đối với hầu hết người dân địa
phương. Tuy nhiên tình trạng người dân thiếu đất sản xuất và đất xây dựng nhà ở đang
ngày càng trở nên nghiêm trọng. Tình trạng này đã dẫn đến sự lấn chiếm, tranh chấp
đất đai và đã tạo ra những mâu thuẫn gay gắt giữa người dân địa phương với Lâm
trường. Điều này đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý bảo vệ rừng
trên địa bàn của xã.
5. Qua quá trình sống lâu đời, gắn bó với rừng, người dân Phú Vinh (đặc biệt là
đồng bào Pa Cô) đã tích luỹ được nhiều kiến thức bản địa về quản lý và sử dụng tàI
nguyên rừng. Những kiến thức này hiện vẫn có vai trò quan trọng trong chiến lược bảo
vệ và phát triển rừng bền vững. Tuy nhiên do hoàn cảnh sống đã có nhiều thay đổi nên
không phải tất cả các kiến thức này đều phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Vấn đề đặt ra
là phảI biết chọn lấy những kiến thức nào phù hợp và loại bỏ nững kiến thức nào cản
trở.
6. Hiện có ba phương thức quản lý rừng đang tồn tại ở Phú Vinh: Quản lý nhà
nước với điểm nổi bật là nguồn nhân lực được đào tạo có trình độ chuyên môn, có sự
63

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

hỗ trợ của các phương tiện liên lạc và công cụ pháp lý, có khả năng huy động các bên
liên quan do thuộc hệ thống chính trị chính thống được thiết lập và điều phối bởi nhà
nước. Tuy nhiên, do quản lý diện tích quá lớn lại thiếu nhân lực lên hiệu quả quản lý
không cao; Quản lý nhà nước tại địa phương (cấp xã) với điểm mạnh là am hiểu điều
kiện thực tiễn lên tính thực tiến của kế hoạch quản lý cao nhưng nguồn nhân lực lại
không được đào tạo cơ bản, trình độ chuyên môn hạn chế, quyền ra quyết định hạn
chế do bởi cơ chế chính sách chưa rõ ràng, chồng chéo; Quản lý cộng đồng với luật tục
truyền thống rất hiệu quả và phù hợp với đặc điểm văn hoá địa phương nhưng đang bị
phá vỡ và vai trò của nó hiện rất mờ nhạt trong bối cảnh thiết lập cơ chế quản lý mới
của nhà nước và sự hoà nhập với bên ngoài; Quản lý cá nhân/ hộ gia đình với hiệu quả
sử dụng đất cao, khả năng tạo thu nhập và cải thiện kinh tế hộ tốt nhưng manh mún,
thiếu qui hoạch, quyền hưởng dụng không an toàn do tự phát và chiếm dụng không
hợp pháp. Mâu thuẫn sử dụng đất đang là vấn đề nổi cộm ở Phú Vinh, đòi hỏi giải pháp
phù hợp với sự phối hợp đồng bộ của nhiều bên liên quan.
7. Cơ chế quản lý rừng ở địa phương gần như loại trừ sự tham gia của người dân.
Điều này đã cản trở sự tiếp cận của người dân đối với các lợi ích từ rừng, gây ra những
khó khăn nhất định đối với đời sống người dân nhất là những hộ nghèo. Đồng thời nó
cũng làm cho người dân xa rời, không gắn bó với rừng. Đây là một thách thức lớn cho
công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương.
8. Tài nguyên rừng trên địa bàn xã Phú Vinh hiện có sự tham gia quản lý của các
bên: Lâm trường A Lưới, Hạt kiểm lâm A Lưới, UBND xã Phú Vinh và người dân của
xã. Đơn vị có quyền lực cao nhất đối với hoạt động quản lý tài nguyên rừng ở xã Phú
Vinh chính là lâm trường A Lưới - với vai trò là chủ rừng; tiếp đó là UBND xã Phú Vinh với vai trò quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; Hạt kiểm lâm A Lưới - với vai
trò thừa hành pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng; và cuối cùng là người dân với vai trò sử dụng đất và rừng, thực hiện các hợp đồng sử dụng đất, bảo vệ rừng. Tuy
nhiên, mức độ ảnh hưởng của các bên đến hoạt động quản lý tài nguyên rừng tại địa
bàn lại xếp theo thứ tự từ nhiều tới ít là: Người dân, lâm trường A Lưới, UBND xã Phú
Vinh và Hạt kiểm lâm A Lưới;
9. Các bên tham gia hoạt động quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn có mối quan
hệ tương tác với nhau. Tuy nhiên, vì mục đích hoạt động của mỗi bên tham gia thường
không giống nhau, các mâu thuẫn dễ dàng hình thành nên vấn đề chia sẻ lợi ích từ
quản lý tài nguyên rừng của các bên liên quan gặp nhiều khó khăn. Tất cả các bên liên
quan đều có quan điểm chung cho rằng nên giao một phần đất lâm nghiệp lại cho
người dân quản lý, đồng thời giúp họ các phương án tạo thu nhập từ rừng thông qua
các hoạt động trồng rừng, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng một cách hợp lý. Các bên
liên quan cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong các hoạt động quản lý bảo vệ rừng, đặc
biệt là hoạt động chống lại các hành vi phạm lâm luật trên địa bàn.
6.2. Đề nghị
Qua phân tích đề xuất của người dân địa phương và quan điểm của Lâm trường
và Hạt kiểm lâm A Lưới, nhóm nghiên cứu nhìn nhận thấy những kiến nghị sau đây có
thể cải thiện được tính bền vững của quản lý rừng ở Phú Vinh cũng như những địa
phương có cùng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội:
1. Quản lý và sử dụng tài nguyên rừng bền vững không thể tách rời người dân,
tách rồi cộng đồng dân cư sống gần rừng. Vì vậy, việc tăng cường sự tham gia của
người dân trong xây dựng kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất đai, bảo vệ các nguồn lợi
của rừng... là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, đối với những vùng núi - nơi có nhiều dân
tộc khác nhau cùng cư trú, do quan hệ Rừng- Người khác nhau nên hiểu biết về rừng ở
64

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

các dân tộc không giống nhau, chính vì thế không nên áp dụng một cách thức quản lý
tài nguyên rừng, đất rừng giống nhau cho mọi dân tộc. Ví dụ, ở Phú Vinh giữa người
Kinh (Việt) với người Tà Ôi (Pa Cô) do thời gian sống với rừng khác nhau, nên ở hai
dân tộc này các kiến thức về rừng là không giống nhau. Điều đó cũng có nghĩa cần có
những cách thức quản lý khác nhau đối với dân tộc Kinh và dân tộc Tà Ôi trên phương
diện quan hệ Rừng - Người.
2. Hiện nay trong vùng người Tà Ôi ở thôn Phú Thượng về cơ bản có hai hình
thức quản lý tài nguyên rừng, đất rừng cùng tồn tại: quản lý Nhà nước thông qua các
chủ rừng và quản lý truyền thống. Hai hình thức quản lý này có những vai trò / tiếng nói
khác nhau đối với quản lý tài nguyên rừng, đất rừng trên địa bàn Phú Thượng. Vấn đề
đặt ra là phải kết hợp được một một cách chặt chẽ / khoa học tiếng nói của quản lý Nhà
nước (quản lý bằng pháp luật) và tiếng nói của quản lý cộng đồng (quản lý bằng luật
tục) thành tiếng nói chung trong việc quản lý tài nguyên rừng, đất rừng có hiệu quả.
Muốn vậy: Không được quá đề cao vai trò của Hạt kiểm lâm, Lâm trường A Lưới cũng
như không được quá xem nhẹ vai trò của các già làng. Mỗi hình thức quản lý trên đều
có những cái hay nhưng cũng bộc lộ những cái chưa hoàn thiện. Vấn đề đặt ra là phải
biết gạn đục, khơi trong, biết kết hợp hài hòa để không dẫm đạp, chồng chéo, hay quá
tách rời trong việc quản lý tài nguyên rừng, đất rừng trên địa bàn thôn, xã.
3. Bảo tồn, phát huy kiến thức bản địa của người dân địa phương về việc sử dụng
tài nguyên rừng, đất rừng trong bối cảnh hiện nay, là chúng ta phải chuyển được các
kinh nghiệm cũ vào các vốn kiến thức mới. Điều đó cũng có nghĩa chúng ta phải
chuyển tải những kinh nghiệm trong cách chọn và phân loại đất, trong chống xói mòn,
rửa trôi và duy trì độ màu mỡ cho đất, trong cách tính lịch sản xuất, trong dự báo thời
tiết, trong canh tác trên đất dốc, trong xen canh, luân canh, trong việc chọn cây trồng,
vật nuôi, trong việc sử dụng các bài thuốc dân gian... vào sản xuất và cuộc sống hiện
nay. Hay nói một cách khác: việc trồng rừng, bảo vệ rừng hiện nay vẫn cần rất nhiều
các kiến thức / kinh nghiệm cũ, việc nâng cao chất lượng sống cho người dân trong
thời kỳ CNH-HĐH vẫn rất cần những hiểu biết trong quá khứ.
4. ưu tiên và nhanh chóng giải quyết tình trạng người dân thiếu đất sản xuất nông
nghiệp và đất thổ cư, một vấn đề bức xúc nhất của địa phương hiện này. Giải quyết vấn
đề này cũng đồng nghĩa với việc giải quyết mâu thuẫn đang rất căng thẳng giữa người
dân địa phương và Lâm trường. Chính quyền địa phương ở tất cả các cấp cần thúc đẩy
để thu hồi một phần diện tích Lâm trường A Lưới đang quản ly (Cụ thể đối với phần đất
rừng, tài nguyên rừng mà lâm trường, hạt kiểm lâm A Lưới quản lý không hiệu quả khoảng 120 ha). Tiến trình này phải được thực hiện theo tiếp cận tham gia của tất cả
các bên liên quan: Lâm trường, Hạt kiểm lâm, chính quyền huyện, xã và người dân địa
phương để đáp ứng được mối quan tâm của tất cả các bên đồng thời giảm thiểu mâu
thuẫn xuất hiện giữa họ. Trên cơ sở đề nghị của UBND xã, huyện sớm xem xét và ra
quyết định. Xã xây dựng kế hoạch qui hoạch vùng sản xuất và khu dân cư trên diện tích
được giao. Trên cơ sở đó, xã tiến hành phân chia và phối hợp cùng với huyện để giao
khoán sử dụng nông nghiệp lâu dài cho các hộ dân trong xã theo nghị định 64 của
chính phủ.
Đất lâm nghiệp thu hồi lên giao lại cho hộ gia đình quản lý sử dụng. Nếu đất giao
theo nhu cầu, trước khi giao cần có sự giải thích chi tiết, cặn kẽ về quyền lợi và nghĩa
vụ của người nhận đất, hoạt động này cần tiến hành cẩn thận, tỉ mỉ để đảm bảo thông
tin đến được với mọi đối tượng trong cộng đồng (nhất là những người nghèo). Việc sử
dụng đất lâm nghiệp sau khi giao sử dụng vào sản xuất nông hay lâm nghiệp đòi hỏi sự
phối hợp giữa kiến thức hàn lâm của các nhà chuyên môn sâu và kinh nghiệm bản địa
của người dân để giúp họ ra quyết định hợp lý và hiệu quả.
65

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

5. Một trong những nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng tại địa bàn xã bị suy
giảm đó là tình trạng rừng và đất rừng chưa có chủ thực sự. Vì vậy nên thu hồi một
phần rừng tự nhiên từ Lâm trường để giao lại cho nhóm hô (nếu là người Kinh) hoặc
cộng đồng (nếu là người Pa cô). Cỡ nhóm khoảng 5-7 hộ ở gần nhau để thuận tiện cho
hoạt động phối hợp quản lý sau khi giao. Các nhóm hộ nên để người dân tự thành lập
để họ có thể hiểu nhau, giúp cho tiến trình hợp tác quản lý sau khi giao thuận tiện và
hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cũng cần khơi dậy mối quan hệ tình làng nghĩa xóm, quan hệ
dòng tộc và cộng đồng để các hộ gia đình nghèo hoặc có hoàn cảnh bất lợi có thể tham
gia vào tiến trình này. Nhà nước và các tổ chức cũng cần hỗ trợ các giải pháp kỹ thuật
về khoanh nuôi tái sinh, phòng chống cháy rừng trong sự kết hợp với các kinh nghiệm
địa phương của người dân. Quyền lợi và nghĩa vụ của người nhận rừng cũng cần được
thảo luận chi tiết, rõ ràng giữa các bên liên quan trên cơ sở các văn bản pháp qui của
nhà nước đồng thời cần tính đến đặc điểm kinh tế văn hoá xã hội riêng của địa
phương.
6. Trồng rừng là chiến lược sinh kế mới của đa số hộ gia đình ở Phú Vinh nên
trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, sử dụng đất của người dân còn hạn chế. Vì
vây, sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức khác trong tập huấn kiến thức kỹ thuật và
kỹ năng quản lý cho người dân sau khi giao đất là hết sức quan trọng. Đi đôi với hỗ trợ
kỹ thuật và kỹ năng quản lý, nhà nước và các tổ chức quốc tế cũng cần hỗ trợ nguồn
vốn vay (nhất là đối với các hộ nghèo) do chu kỳ kinh doanh cây lâm nghiệp dài, người
dân Phú Vinh còn nghèo nên nguồn vốn đầu tư rất hạn chế. Cũng là rất quan trọng để
cung cấp thông tin thị trường cho người dân để họ có thể nhận được giá trị cao hơn từ
rừng trồng. Keo lai và keo tai tượng là những loài cây nên được chọn để phát triển rừng
trên các vùng đất dốc ở Phú Vinh. Đây là loài cây mọc nhanh, phù hợp với điều kiện
sinh thái ở địa phương, lại đang được tiêu thụ mạnh cho sản xuất dăm giấy trong tỉnh.
Tuy nhiên, việc phát triển rừng cũng cần tính đến sự phối hợp với một số loài cây khác
để tăng cường tính đa dạng sinh học của rừng. Rừng trồng sản xuất của hộ gia đình
cũng không nên đều tuổi để tránh trường hợp khai thác trắng làm xói mòn đất mà nên
trồng theo các lô với thời điểm khác nhau để khai thác cuốn, hạn chế xói mòn đất.
7. Cải thiện đời sống người dân nhằm giảm áp lực lên tài nguyên rừng cũng là
một giải pháp quan trọng hiện nay ở Phú Vinh. Theo kinh nghiệm thực tiễn, bất cứ sự
can thiệp nào vào việc quản lý tài nguyên thiên nhiên cần phải xem xét thận trọng sinh
kế của của người dân. Chiến lược sinh kế của người dân Phú Vinh có xu hướng ít phụ
thuộc vào rừng. Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn tài nguyên rừng đang suy giảm
nghiêm trọng, cần phải có biện pháp để giảm hơn nữa áp lực khai thác tài nguyên rừng.
Người dân đã từng bước tìm ra hoạt động sinh kế thay thế, trong đó hoạt động sản xuất
nông nghiệp có vị trí then chốt. Vì vậy, cần tập trung đầu tư để giúp người dân phát
triển sản xuất nông nghiệp. Một khi tình trạng thiếu đất sản xuất được giải quyết, khó
khăn nhất đối với địa phương là thiếu vốn sản xuất và thiếu kiến thức khoa học kỹ
thuật. Như vậy, trước hết cần phải tận dụng tối đa những nguồn lực đầu tư trên địa bàn
xã để nâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật cho cộng đồng thông qua các hoạt động
tập huấn kỹ thuật và xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp điểm để nhân rộng.
Thứ đến là tạo điều kiện cho người dân, nhất là các hộ nghèo tiếp cận với các nguồn
vốn hỗ trợ của nhà nước cũng như của các tổ chức quốc tế để đầu tư phát triển sản
xuất nông nghiệp.
8. Tuyên truyền vận động nhằm thay đổi thái độ, nhận thức của người dân để họ
có hành vi, hành động đúng đắn với rừng. Cho đến nay, người dân vẫn quan niệm rừng
là của nhà nước (Lâm trường) do họ ít (có thể nói là không) được tham gia vào công
tác quản lý bảo vệ rừng. Đồng thời họ vẫn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan
66

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

trọng của rừng; về tình trạng suy thoái tài nguyên; về trách nhiệm và quyền lợi của
người dân đối với rừng; về chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý rừng; về các
qui định pháp lý của nhà nước đối với công tác quản lý và bảo vệ rừng. Các cơ quan
quản lý rừng trên địa bàn xã và chính quyền địa phương cũng đã thực hiện công tác
tuyên truyền vận động trong suốt thời gian qua nhưng hiệu quả chưa cao do người dân
chưa thực sự tham gia vào quản lý rừng. Để tăng cường sự tham gia của người dân
trong thời gian đến, công tác tuyên truyền, vận động người dân cần phải được đẩy
mạnh hơn nữa. Vấn đề đặt ra là không chỉ dừng lại ở công việc hành chính mà phải đa
dạng, sáng tạo trong việc phổ biến thông tin: Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền,
chú trọng sử dụng văn hóa bản địa, v.v. Hầu hết việc thực thi pháp chế lâm nghiệp chỉ
làm tăng sự đối đầu, thông qua công tác tuyên truyền nhằm tăng sự đối thoại để làm
cho người dân hiểu được tác hại của việc sử dụng quá mức tài nguyên rừng.
9. Để tài nguyên rừng không bị khai thác một cách bất hợp lý, các bên liên quan
cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong các hoạt động quản lý bảo vệ rừng, đặc biệt là
hoạt động chống lại các hành vi vi phạm lâm luật trên địa bàn. Trong khi đề cao việc
thực hiện luật của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên rừng, đất rừng, cũng phải có những
điều khoản dưới luật. Đặc biệt cần phải xây dựng cho được các quy ước / hương ước
của địa phương (nhất là các dân tộc thiểu số) về bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý
tài nguyên rừng. Tại xã Phú Vinh trong thời gian qua ở vùng người Tà Ôi (Pacô) những
luật tục vốn có từ ngàn xưa chưa được đề cập tới trong việc giải quyết những tranh
chấp về tài nguyên rừng, đất rừng.

67

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Báo cáo tình hình KTXH – ANQP năm 2004 và phương hướng nhiệm vụ năm 2005 của
xã Phú Vinh, huyện A Lưới, 2004.
Bishop, J.T. (ed.). Valuting Forest: A teview of Methods and Applications in
Developming Countries. International Institute for Environment and
Development: London.

Chamber, R. & Longhurst, R. 1986. Trees, seasons and the poo. In Longurst, R.,
ed. Seasonality and poverty P. 44 – 50 IDS bulletin, Vol. 17, No.3.
Charyulu, A.S. 1998. Dissemination of Indigenous Knowledge: a way to sustainable
agriculture. In Indigenous Knowledge and Development Monitor. Vol. 6(2)
Charyulu, A.S. 1998. Dissemination of Indigenous Knowledge: a way to sustainable
agriculture. In Indigenous Knowledge and Development Monitor. Vol. 6(2)
DIFID, 2001. Sustainable Livelihoods guidance Sheets. London SW1E 5JL
Farrington, J. 1996. Farmer participation in agricultural research and extension: Lessons
from the last decade. Research highlight Series.Overseas Development
Institute: London.
Farrington, J. 1996. Farmer participation in agricultural research and extension. Lessons
from the last decade. Research highlight Series.Overseas Development
Institute: London.
Farrington, J. and Martin, A. 1998. Farmer participation in agricultural research: A
review of concepts and practices. Occasiosal Paper 9. London:Overseas
Development Institute
Farrington, J. and Martin, A. 1998. Farmer participation in agricultural research: A
review of concepts and practices. Occasiosal Paper 9. Overseas
Development Institute: London.
Fisher, R.J. 1991. Studying indigenous forest management systems in Nepal: towards a
more systematic approach (Honolulu, East-West Centre, 1991).
Fisher, R.J., 1991. Studying indigenous forest management systems in Nepal: towards
a more systematic approach. Honolulu, East-West Centre, 1991.
Franỗais, 1994, Role of Indigenous Knowledge. International development information
centre.
Franỗais, 1994. Role of Indigenous Knowledge. International development information
centre.
Gilmour, D.A. 1989. Forest resources and indigenous management in Nepal. Working
Paper No. 17. Honolulu, East-West Centre, 1989.
Gilmour, D.A. 1989. Forest resources and indigenous management in Nepal, Working
Paper No. 17 (Honolulu, East-West Centre, 1989).
GoV and GEF 1994. Biodiversity action plan for Vietnam. Hanoi, Vietnam: Government
of the Socialist Republic of Vietnam, Global Environment Facility.
Grenier, L. 1998 Working with Indigenous Knowledge. Canada: International
Development Research Centre.
Grenier, Louise. 1998. Working with Indigenous Knowledge. International Development
Research Centre, Canada
68

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Hansen, David O., Erbaugh J.M. 1987. Sustainable Resource Development in the third
World. In Doughlas D. and John F. Disinger, eds. Boulder: Westview Press.
Hansen, David O., Erbaugh J.M., 1987. Sustainable Resource Development in the third
World. Doughlas D. and John F. Disinger, eds. Boulder: Westview Press.
Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc, 1998. Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong
nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Viện Khoa học Lâm nghiệp
Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng. Nhà xuất bản
Nông nghiệp.
Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc, 1998. Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong
nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Viện Khoa học Lâm nghiệp
Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng. Nhà xuất bản
Nông nghiệp.
IIRR, 1994. Recording and using indigenous knowledge: A manual
IIRR, 1994. Recording and using indigenous knowledge: A manual.
Jenne H. de Beer & Milanie J. McDermott, IUCN. 1996. The economic value of nontimber forest products in Southeast Asia.
Johnson, M., 1992. Lore: Capturing Traditional Environmental Knowledge. Ottawa,
Dene Cultural Institute/IDRC.
Johnson, M., 1992. Lore: Capturing Traditional Environmental Knowledge. Ottawa,
Dene Cultural Institute/IDRC.

Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004.
Luật Dân sự năm 1995.
Luật Đất đai năm 2003.
Luong Van Tien (1991). Country paper Vietnam. Contribution to the regional expert
consultation on non-wood forest products in the Asia-Pacific region. RAPA 58 November 1991, Bangkok.
Merrill-Sands, D. and Collion, M-H. 1992. Making the farmer’s voice count: Issues and
opportunities for promoting farmer responsive research. Paper presented at
the 12th AFSRE Symposium, Michigan State University, Sept 13-18th, 1992.
Merrill-Sands, D. and Collion, M-H. 1992. Making the farmer’s voice count: Issues and
opportunities for promoting farmer responsive research. Paper presented at
the 12th AFSRE Symposium, Michigan State University, Sept 13-18th, 1992.
Messerschmidt, D.A. 1990. The uses of anthropology in agro/social forestry Research &
Design: approaches to anthropological forestry. IOF Project Discussion
Paper No. 90/2 (Pokhara, IOF, 1990).
Messerschmidt, D.A., 1990. The uses of anthropology in agro/social forestry Research
& Design: approaches to anthropological forestry, IOF Project Discussion
Paper No. 90/2 (Pokhara, IOF, 1990).
Mittelman, A. 1997. Agro. and Commity Forest in Vietnam. Royal Netherlands Embassy
in Vietnam, Forests and Biodiversity Program: Hanoi

Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ Ban hành bản quy định về
việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
69

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính Phủ về giao đất, cho
thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cáï nhân sử dụng ổn
định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Nguyễn Bá Ngãi, 2004. 'Một số kết quả nghiên cứu về cộng đồng tham gia quản
lý rừng ở tỉnh Điện Biên'. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
10/2004: 1436-1437.
Nguyễn Xuân Hồng, 2000. Vai trò của KTBĐ trong chiến lược phát triển bền vững miền
núi Việt Nam hiện nay. Trường Đại học Khoa học Huế.
Niên giám thống kê huyện A Lưới năm 2004.
Persoon, G.A., and K.F. Wiersum, 1991. Anthropology in a forest environment. In Kloos,
P., and H.J.M. Claessen (eds.), Contemporary anthropology in the
Netherlands; the use of anthropological ideas. Amsterdam: VU University
Press, pp. 85-104.
Persoon, G.A., and K.F. Wiersum, 1991. Anthropology in a forest environment. In Kloos,
P., and H.J.M. Claessen (eds.), Contemporary anthropology in the
Netherlands; the use of anthropological ideas (Amsterdam, VU University
Press, 1991) pp. 85-104.

Phạm Bình Quyền, 1995. Hệ sinh thái và sự phát triển nông nghiệp với công tác
an toàn lương thực và bảo vệ môi trường. Quản lý và đánh giá tác
động môi trường. Chương trình KT-02.
Phan Thanh Xuân, 1998. Vai trò của các chủ rừng trong việc phát triển rừng và
nghề rừng ở Việt Nam. Tạp chí Lâm nghiệp, 11+12.
Pransfild và N. Manokasan. 1998. TàI nguyên thực vật Đông Nam á. Việt Nam: NXB
Nông nghiệp.

Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12 tháng 11
năm 2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân
được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Quyết định số 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một ố
chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi
ven biển vặtttt nước.
Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục
tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu
ha rừng.
Rambo, A. Terry and Le Trong Cuc et al. 1996. Development trends in Vietnam's
northern mountain region. Final report of a study conducted for the Swedish
International Cooperation Agency. Honolulu, HI and Hanoi, Vietnam: EastWest Center Program on Environment and Center for Natural Resources and
Environmental Studies, Vietnam National University.
Romm, J., 1989. Forestry for development: some lessons from Asia. The Journal of
World Forest Resource Management Vol. 4, No. 1, pp. 37-46.
Romm, J.. 1989. Forestry for development: some lessons from Asia. The Journal of
World Forest Resource Management Vol. 4, No. 1 (1989) pp. 37-46.
Studley, John, 1992. Analysis and typology of indigenous forest management in the
humid tropics of Asia. Laurent Umans, Wageningen, The Netherlands.
70

Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung, 2005
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Studley, John, 1992. Analysis and typology of indigenous forest management in the
humid tropics of Asia. Laurent Umans, Wageningen, The Netherlands.
UBND huyện A Lưới, 2005. Báo cáo tình hình kinh tế xã hội huyện A Lưới 6 tháng đầu
năm 2005.
UBND xã Phú Vinh, 2001. Báo cáo Dự án giảm nghèo xã Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
UBND xã Phú Vinh, 2004. Báo cáo tình hình KT-XH, an ninh quốc phòng xã Phú Vinh
năm 2004.
UBND xã Phú Vính, 2004. Báo cáo tình hình KT-XH, an ninh quốc phòng xã Phú Vinh
năm 2004.
Warren, Michael D. 1993. Using Indigenous Knowledge in Agricultural Development.
The World Bank, Washington, D.C.
Warren, Michael D. 1993: Using Indigenous Knowledge in Agricultural Development.
The World Bank, Washington, D.C.
Wiersum, K.F. 1992. Dimensions and major components of forest and tree management
systems. In IAC, 5th international course on the design of community
forestry, (Wage-ningen, IAC, 1992).
Wiersum, K.F. 1992. Dimensions and major components of forest and tree management
systems. In IAC, 5th international course on the design of community
forestry. Wage-ningen, IAC.
Zwahlen, R. 1996. Traditional methods: a guarantee for sustainability. In Indigenous
Knowledge and Development Monitor. Vol. 1.
Zwahlen, R. 1996. Traditional methods: a guarantee for sustainability. In Indigenous
Knowledge and Development Monitor. Vol. 1.

71

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful