You are on page 1of 46

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC


----------

BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

KHỦNG HOẢNG CHÂU ÂU: TỪ CHỦ QUYỀN


ĐẾN CÁC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ
TRỞ LẠI CHỦ QUYỀN

GVHD : PGS TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA


NHÓM : 5 - NH ĐÊM 3 - K20

TP. HCM, THÁNG 2 NĂM 2012


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
***

..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................

TP Hồ Chí Minh, Ngày….. tháng…..năm 2012


Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

DANH SÁCH NHÓM 5

STT Họ và tên Mức độ đóng góp Ghi chú

1 Trịnh Thị Minh Thiết 100% Nhóm trưởng

2 Phan Thị Quế Phương 100%

3 Nguyễn Hữu Nhân 100%

4 Lê Thị Mỹ Trang 100%

5 Đoàn Thị Thùy Nhiên 100%

6 Trần Thu Tâm 100%

7 Đào Thanh Trúc 100%

8 Nguyễn Thị Ánh Nhung 100%

9 Lê Trần Thanh Trâm 100%

10 Nguyễn Trúc Phương 100%

Trang 1
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

MỤC LỤC
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHU VỰC CHÂU ÂU ............................. 4
CHƯƠNG II: CUỘC KHUNG HOẢNG CHÂU ÂU: NGUYÊN NHÂN, HIỆN TRẠNG
VÀ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆT NAM .................................................................................. 7
2.1. Cuộc khủng hoảng toàn cầu và lây lan sang châu Âu ................................................7
2.2. Khủng hoảng khu vực Euro: một trường hợp đặc biệt của sự mất cân bằng cấu trúc
tài chính ............................................................................................................................. 9
2.3. Khu vực Euro: từ chủ quyền đến hệ thống ngân hàng và quay trở lại chủ quyền ... 13
2.4. Các quốc gia khu vực Châu Âu và cuộc khủng hoảng chung ..................................16
2.4.1. Từ Hy Lạp đến Ireland và các quốc gia trong PIIGS ......................................16
2.4.2. Thách thức tăng trưởng của PIIGS ..................................................................17
2.4.3. Những chú chim hoàng yến trong khu mỏ: tình hình tài khóa của các nước
nhóm PIIGS cho ta biết gì về khu vực sử dụng đồng EUR nói chung ......................18

hoảng kinh tế ..............................................................................................................23


2.4.5. Sự lây lan của cuộc khủng hoảng Hy Lạp đến hệ thống ngân hàng và khủng
hoảng quốc tế .............................................................................................................23
2.4.6. Ngân hàng Ireland và khủng hoảng kinh tế như chất xúc tác cho sự sụp đổ tài
chính .......................................................................................................................... 24
2.4.7. Từ PIIGS đến Brussels và Frankfurt: Vòng lây lan hoàn toàn ........................26
................................30
2.6. Việt Nam trong cuộc khủng hoảng Châu Âu ........................................................... 33
2.6.1. Hiện trạng nợ công của Việt Nam: ..................................................................33
2.6.2. Tác động của khủng hoảng nợ đối với Việt Nam ............................................35
2.6.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong cuộc khủng hoảng nợ công thế giới:
....................................................................................................................................39
CHƯƠNG III. KẾT LUẬN VÀ NHẬN XÉT .................................................................. 41
3.1. Kết luận .................................................................................................................... 41
3.2. Nhận xét về bài nghiên cứu của tác giả .................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 44

Trang 2
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

LỜI MỞ ĐẦU
Trong năm qua, cụm từ được người ta nhắc đến nhiều nhất có lẽ là “khủng hoảng
nợ công châu Âu”. Cuộc khủng hoảng kéo dài hơn 2 năm nay đã lan từ các nước ngoại vi
như Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha vào trung tâm châu Âu, đe dọa các nền kinh tế lớn
hơn là Tây Ban Nha và Italy, thậm chí cả Pháp. Với mức độ nghiêm trọng của nó, cuộc
khủng hoảng đã để lại nhiều hệ lụy khi kèm theo đó là cuộc khủng hoảng ngân hàng và
tình trạng trì trệ trong tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước. Và Việt Nam cũng không là
trường hợp ngoại lệ. Do đó, vấn đề đặt ra là Việt Nàm cần làm gì để có những biện pháp
phòng ngừa và kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở
châu Âu, ở Mỹ và trên toàn thế giới để có thể phát triển bền vững, ổn định là vấn đề đang
được đặt ra hàng đầu. Vấn đề này có thể giải quyết được hay không phụ thuộc vào nhiều
nhân tố. Và bản thân chúng ta, là các công dân Việt Nam cũng cần nhận thức rõ về vấn đề
này và góp phần không nhỏ vào đó. Muốn vậy, chúng ta phải thận trọng xem xét các
nguyên nhân từ mọi phía, một cách toàn diện để có nhận thức, quan điểm đúng đắn,
làm cơ sở tin cậy cho việc điều chỉnh các hoạt động thực tiễn…
Do đó, nhóm chúng em vinh hạnh được đi vào nghiên cứu đề tài: “Khủng hoảng
Châu Âu: Từ chủ quyền đến các hệ thống ngân hàng và trở lại chủ quyền” và hy vọng
với đề tài này nhóm chúng em sẽ bổ sung thêm kiến thức về tầm quan trọng của khủng
hoảng Châu Âu đối với nền kinh tế Việt Nam và có những hành động thực tiễn hơn cho
nền kinh tế nước nhà trước khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu.

Trang 3
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHU VỰC CHUNG


CHÂU ÂU

Ngày 01/01/1999, đồng tiền chung Châu Âu – Euro – ra đời với hi vọng tạo dựng
một không gian kinh tế đồng nhất, xoá bỏ hàng rào quan thuế, tạo điều kiện cho việc tự do
luân chuyển vốn, đầu tư và lao động giữa các nước trong khối, phá vỡ thế độc quyền của
đồng USD trong thương mại quốc tế, cho các nhà đầu tư thêm một đồng tiền để lựa chọn
trong mua bán hàng hóa, chứng khoán, dự trữ ngoại tệ… tránh phụ thuộc quá nhiều vào
đồng USD, làm cho quan hệ kinh tế thế giới sẽ trở nên lành mạnh và công bằng hơn.
Liên minh Châu Âu yêu cầu các thành viên thực hiện cam kết ổn định các biến số
kinh tế vĩ mô trong khu vực, bao gồm sản lượng, lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái, tạo
cơ sở cho kinh tế phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định một chính sách
tài chính vĩ mô cho liên minh và sẽ là một đảm bảo giữ cho nền kinh tế khu vực ổn định
và phát triển hơn trước từ đó kích thích "cầu" và dẫn đến tăng trưởng kinh tế khu vực.
Tuy nhiên chính những tiêu chuẩn kinh tế ngặt nghèo mà EMU áp đặt cho mỗi
nước thành viên, những vấn đề kinh tế vĩ mô ở mỗi nước như chế độ thuế, chính sách thắt
lưng buộc bụng trong bảo hiểm và an ninh xã hội, vấn đề công ăn việc làm.v.v...đã gây
những "phản ứng phụ" cho các nền kinh tế khi mà sự phát triển, tình hình kinh tế chính trị
của các nước là không đồng đều. Việc chính phủ các nước thành viên mất đi công cụ điều
tiết kinh tế như chính sách tiền tệ...trong trường hợp gặp khủng hoảng kinh tế lại làm gay
gắt thêm cuộc tranh luận về “thâm hụt dân chủ” diễn ra trong nội bộ các nước thành viên.
Một cuộc khủng hoảng nợ công đang lây lan toàn khu vực châu Âu, có thể xem là kết quả
mà Liên minh châu Âu hoàn toàn không nghĩ tới:
Đức: Nền kinh tế lớn nhất khu vực Euro đang trong tình trạng đình trệ. Tổng nợ
công chiếm 83% GDP.
Pháp: Nền kinh tế thứ 2 khu vực Euro có tốc độ tăng trưởng là 0%, nợ công đạt
83,5%GDP.
Hy Lạp: đang đối mặt với 2 vấn đề thâm hụt cùng một lúc, đó là thâm hụt ngân
sách (vượt 13% GDP năm 2010) và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai (khoảng 9%
GDP, so với mức trung bình của toàn khu vực Eurozone là 1%). Nợ còn hạn của Hy Lạp
lên tới gần 400 tỷ đôla Mỹ, trong đó riêng nợ đến hạn năm 2010 là 73 tỷ đôla Mỹ. Lãi

Trang 4
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

suất Hy Lạp phải trả cho các khoản vay nợ lên tới mức kỷ lục, trên 9% đối với các khoản
vay có kỳ hạn.
Ireland: đã trở thành quốc gia thứ hai sau Hy Lạp buộc phải thực hiện các biện
pháp kinh tế khắc khổ để đổi lấy khoản cứu trợ khẩn cấp từ IMF và EU, nhằm đưa đất
nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công tồi tệ như giảm ít nhất 10% mức lương tối
thiểu, tăng thuế giá trị gia tăng, cắt giảm 25.000 biên chế trong các cơ quan nhà nước…
Bồ Đào Nha: thừa nhận thâm hụt ngân sách 2010 của quốc gia này ở mức 8,6%
GDP, cao hơn nhiều so với mục tiêu 7,3% đặt ra trước đó. Khoản nợ công của Bồ Đào
Nha năm 2010 lên tới 84% GDP. Nghiêm trọng hơn, 70% các khoản nợ của Bồ Đào Nha
là nợ nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc quốc gia này khó có thể xoay xở hay trì
hoãn khi nợ đáo hạn.
Tây Ban Nha: có thể sẽ là nạn nhân tiếp theo của cuộc khủng hoảng nợ công với
bong bóng nhà đất khổng lồ và các vấn đề liên quan đến các khoản nợ tăng lên với mức
độ chóng mặt. Hợp đồng bảo hiểm khả năng vỡ nợ (CDS) kỳ hạn 10 năm của trái phiếu
chính phủ Tây Ban Nha đã lên tới mức 312 điểm phần trăm, cao chưa từng có từ trước tới
nay. Như vậy, cứ 10 triệu Euro nợ dài hạn của Tây Ban Nha sẽ mất 312.000 Euro phí bảo
lãnh.
Mạng tin “Dự báo thị trường” (Anh) nhận định mặc dù châu Âu vẫn chống chọi
được với cơn bão khủng hoảng nợ công, nhưng những diễn biến mới nhất ở Bồ Đào Nha
đang đe dọa đẩy cuộc khủng hoảng nợ công của khu vực khỏi tầm kiểm soát.
Toàn cảnh khủng hoảng nợ châu Âu:

Trang 5
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Nguồn ảnh: Guim.co.uk

Trang 6
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

CHƯƠNG II: CUỘC KHỦNG HOẢNG CHÂU ÂU: NGUYÊN


NHÂN, HIỆN TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆT NAM

2.1. Cuộc khủng hoảng toàn cầu và lây lan sang Châu Âu:
Cuộc khủng hoảng của nền kinh tế Châu Âu bị ảnh hưởng bởi sự khủng hoảng nợ
dưới chuẩn ở Mỹ và đã giúp phơi bày ra hệ thống yếu kém của nền kinh tế Châu âu. Lần
lượt, tài sản thế chấp dưới chuẩn, xuất phát điểm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu, là nguyên nhân dễ nhận thấy nhất, mặc dù nó cũng có liên quan đến khủng hoảng nợ
công ở Châu âu.
Việc cho vay dưới chuẩn tăng từ 10% cuối năm 2004, lên đến 13% năm 2006
trong tổng số khối tài thế chấp. Chủ yếu tập trung ở các định chế tài chính lớn và các tổ
chức cho vay ủy thác của liên bang, như Fannie và Freddie Mac. Tỷ lệ không trả được nợ
tăng gấp đôi từ 11% quý 1/2006 lên đến 20% đầu năm 2008. Trong cùng thời kỳ đó, sự
kết hợp của tài sản thế chấp thành gối tài sản tài chính chiếm khoảng 34,8% tăng vọt cùng
với sự suy yếu của thị trường nhà ở ở Mỹ.
Thứ hai, quá trình chứng khoán hóa bằng cách gộp chung khối tài sản rủi ro này lại
trong bảng cân đối tài sản của khối ngân hàng dẫn đến cuộc khủng hoảng tài sản thế chấp
đã ảnh hưởng xấu đến toàn cầu.
Đầu năm 2008, sự mất giá của khối tài sản tài chính này đã kích hoạt đáng kể sự
thụ hẹp trong khả năng thanh toán và làm mất niềm tin của thị trường vào chất lượng của
khối tài sản tài chính được nắm giữ bởi các định chế tài chính. Thị trường tiếp tục được
định giá hoàn toàn bởi bên đối tác và nguy cơ vỡ nợ xảy ra hàng loạt ở các định chế tài
chính, với mức phí bảo hiểm rủi ro cao đã tác động trực tiếp đến giá trị của các tài sản thế
chấp (xem hình 1 bên dưới). Sự mất giá trong giá trị của khối tài sản thế chấp trở nên
nguy kịch hơn trong các tổ chức tài chính của PIIGS (như các ngân hang ở Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, Ai-len, ngoại trừ Ý).
Các tổ chức cho vay ở Châu âu, cũng rơi vào tình trạng nguy hiểm khi nắm giữ
phần lớn các chứng khoán tài sản và các công cụ khác của các tổ chức tài chính liên quan
đến tài sản của Mỹ.
Sự yếu kém của các tổ chức tài chính toàn cầu xuất hiện với sự sụp đổ của Lehman
Brothers, được xem như phát súng châm ngòi cho làn sóng giảm khà năng thanh toán tạm
thời khắp các nước phát triển và khu vực Châu âu.

Trang 7
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Cuộc khủng hoảng ở Châu âu đã dẫn đến sự đóng băng giá trị tài sản và sự sụt
giảm trong thương mại, đầu tư và các dòng vốn đầu tư trực tiếp – một cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu. Sự suy giảm trong đầu tư và cầu tiêu dùng ở thị trường Mỹ và Châu âu
đã dẫn đến sự sụt giảm trong hoạt động thương mại toàn cầu và mất việc làm tăng lên ở
các nước phát triển. Tỷ lệ xuất khẩu giảm 12% trong năm 2009 và xuất khẩu ròng, đặc
biệt ở các nước phát triển như Đức và Nhật bản, được ghi nhận là lao dốc trong hoạt động
kinh tế. GDP của Đức giảm 4,7% trong năm 2009, trong khi đó thu nhập ròng ở Nhật bản
giảm 5,2%.
Tuy nhiên, ở một số nước như Ireland, Baltic States và một vài nước khác, sự suy
giảm kinh tế đã diễn ra trước sự sụp đổ của Lehman Brothers. Đặc biệt, trường hợp của
Ireland, sự suy giảm kinh tế là do sự suy giảm trong thị trường nội địa.
+ Sự mất giá trong các hợp đồng cho vay không đúng mục đích và sự bốc hơi
trong Bảng cân đối tài sản của các ngân hàng dẫn kết quả là sự mất khả năng thanh toán
của các ngân hàng ở khắp Châu âu, Đức, Úc và các khu vực còn lại của Châu âu.
+ Lợi nhuận trong trong sổ sách của các định chế ở khu vực Châu âu giảm xuống,
dẫn đến nhu cầu vốn đầu tư của các công ty mẹ đòi hỏi sự rút vốn từ các công ty con các
thành viên của EU.
+ Bên cạnh đó, khủng hoảng nợ vay và các hợp đồng capex ….đã dẫn đến giảm
sút 37% vốn FDI của toàn cầu trong năm 2009.
+ Sự sụt giảm niềm tin đối với hệ thống tài chính cũng xảy ra ở các nước như
Ireland, nơi mà hệ thống ngân hàng bán lẻ và các ngân hàng đầu tư có liên hệ mật thiết
với các quỹ này.
+ Tuy nhiên, nguyên nhân chính của áp lực tài chính ở Ireland là sự suy giảm kinh
tế của thị trường trong nước đã bắt đầu vào cuối 2007 và tăng lên trong năm 2008. Chỉ số
giá cả trong nước của Ireland đã suy yếu trong tháng 7/2007, đến tháng 8/2008 đã suy
giảm 10,5% - khi cuộc khủng hoảng của hệ thống ngân hàng đã làm sụp đổ của 3 ngân
hàng lớn nhất, ngân hàng Anglo Irish và lan sang thị trường bảo hiểm bảo đảm cho tiền
gửi và trái phiếu của sáu ngân hàng ở Irish. Giữa năm 2003 và 2006, khu vực xây dựng
chiếm 8,7% trong GNP của Irish, giảm xuống còn 5,8% trong năm 2008 và còn 3,3%
trong năm 2010. Sự suy giảm của nền kinh tế trong năm 2007 dẫn đến sự sụt giảm GNP
của Irish 2,8% trong năm 2008, tiếp theo là sự sụt giảm 9,8% trong năm 2009. GDP sụt
giảm 3,1% trong năm 2008 và 7% trong năm 2009. Giá trị tích lũy của GNP và GDP giữa
năm 2007 và 2010 sụt giảm 12,11% trong GNP và 10,15% trong GDP.

Trang 8
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Đến cuối 2009 cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng hoàn toàn đến nền kinh
tế toàn cầu, với sự sụt giảm 0,58% trong GDP của thế giới, sự sụt giảm cao nhất kể từ
cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu từ WW2. EU dẫn đầu với sự sụt giảm 4,10% GDP trong
năm 2009. 26 trong 27 nước thành viên, ngoại trừ Balan, được ghi nhận là sụt giảm trong
GDP, GDP của khu vực Euro sụt giảm 4,07% trong khi đó Mỹ mất 2,63% trong thu nhập.
Một vài thông số về vĩ mô diễn tả tình trạng tồi tệ này, được tóm tắt trong bảng bên dưới.
2.2 Khủng hoảng khu vực Euro: một trường hợp đặc biệt của sự mất cân
bằng cấu trúc và tài chính:
Giữa sự gián đoạn toàn cầu, cuộc khủng hoảng khu vực châu Âu đang nổi lên như
là một sự kết hợp của sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô thúc đẩy cuộc
suy thoái toàn cầu và cấu trúc trong nước thất bại, và sự sụp đổ của hệ thống tài chính.
Các phản ứng của ECB trong thời gian dài, để giảm lãi suất đáng kể và cung cấp
thanh khoản không giới hạn trên cơ sở hỗ trợ khẩn cấp. Tuy nhiên, trước khi thiết lập con
đường chính sách ổn định, ECB thực hiện một số can thiệp không phù hợp trong thời gian
dài, như thời điểm tháng bảy trong năm 2008 từ
4,00% đến 4,25% (xem biểu đồ dưới đây ECB bắt đầu trình bắt kịp
với các nền kinh tế tiên tiến khác, các nhà chức trách Frankfurt- đã
bắt đầu từ phí bảo hiểm cao 83%
, đạt được trong tháng 2 năm 2009. Nói cách khác, sau 12 tháng khi cuộc
khủng hoảng tài chính đã trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế thực sự, ECB
the . Quá
trình cắt giảm , ECB 5 năm 2010
đạt ngang bằng với lãi suất trung bình các nền kinh tế tiên tiến, với độ trễ khoảng
20 tháng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Thậm chí quan trọng hơn, qua thời gian chính sách của ECB đã bắt kịp với PIIGS
(Bồ Đào Nha, Ireland, Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha) đã có trong thời kỳ suy thoái ít nhất
12 tháng. Khu vực Euro nói chung cũng trải qua giai đoạn tăng trưởng âm kể từ quý 3
năm 2008.
Biểu đồ 2 dưới đây cho thấy rõ ràng bản chất của các phản ứng chính sách phản
chu kỳ của ECB, khi áp dung chính sách lãi suất phản chu kỳ thông qua các nền kinh tế
tiên tiến khác, và trong bối cảnh các xu hướng kinh tế toàn cầu.
Biểu đồ 2: của ECB so với mức trung bình đối
với các nền kinh tế tiên tiến,%

Trang 9
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Nguồn: Ngân hàng Dự trữ Úc và tính toán của tác giả


Lưu ý: các khu vực bóng mờ xám đánh dấu chậm / suy thoái kinh tế, các khu vực
bóng mờ màu xanh lá cây đánh dấu mở rộng kinh tế. Tỷ lệ trung bình bao gồm: Mỹ, Anh,
Canada, Úc và Nhật Bản.
Lập trường chính sách tiền tệ của ECB không phù hợp với nền kinh tế khu vực
châu Âu nói chung và đặc biệt cho các quốc gia PIIGS. Biểu đồ 3 dưới đây minh họa, trên
toàn bộ lịch sử của nó, ECB đã thất bại trong việc cung cấp một chính sách mà có thể theo
dõi các chỉ số hàng đầu của tăng trưởng kinh tế. Ví dụ, CEPR của Ngân hàng của Ý
eurocoin - chỉ số hoạt động kinh tế dự kiến, cho thấy hầu như không có mối tương quan
với tỷ lệ chính sách ECB repo. Trong toàn bộ lịch sử kể từ tháng 1 năm 1999 của ECB,
tốc độ biến thiên và sự biến thiên trong eurocoin có mối tương quan thống kê và kinh tế
không đáng kể là 3,4%. Mối quan hệ lịch sử ước tính là: Tỷ lệ ECB Repo (%) = 2,5778 +
0,4382 eurocoin với R2 = 0,0338. Một mối quan hệ thậm chí yếu hơn có thể được tìm
thấy giữa Tỷ lệ ECB Repo và tăng trưởng thực GDP trong khu vực Euro.
Biểu đồ 3: Chính sách lãi suất của ECB và chỉ số hàng đầu của tăng trưởng
kinh tế (eurocoin)

Trang 10
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Nguồn: Ngân hàng Dự trữ Úc, eurocoin và tính toán của tác giả
Lưu ý: khu vực vòng tròn bao gồm tháng 1 năm 2007 – 9 năm 2008, thời kỳ
nơi liên tục báo hiệu suy thoái kinh tế nhưng ECB đạt được đỉnh cao 5 năm
của họ.
Việc triển khai hỗ trợ thanh khoản và di chuyển nhanh chóng của các ngân hàng
khác ở Trung ương vào các biện pháp nới lỏng định lượng nhằm mục đích đầu tiên khôi
phục cung cấp thanh khoản cho các lĩnh vực ngân hàng và sau đó sửa chữa Bảng cân đối
kế toán ngân hàng mất một thời gian dài để tác động đến chính sách của ECB. Trong suốt
giai đoạn khủng hoảng cao điểm cuối năm 2008 - đầu năm 2009, ECB duy trì lãi suất cao
hơn đồng nghiệp của mình, đẩy giá trị của đồng Euro đến mức gây áp lực làm xuất khẩu
chậm lại. Đến cuối năm 2010, Ngân hàng Trung ương châu Âu tiếp tục vận hành một
chính sách mà hoàn toàn bỏ qua các vấn đề về khả năng thanh toán (biểu đồ 3 dưới đây)
trong ngành ngân hàng khu vực Euro, làm bằng chứng của sự suy giảm ở các cấp độ tổng
thể vốn có sẵn với Euro khu vực ngân hàng.
Hành động không tương thích của ECB đã khiến cho Chính phủ quốc gia của các
nước thành viên phát triển các chính sách riêng của họ để phản ứng với các cuộc khủng
hoảng ngân hàng. Có lẽ ví dụ nổi bật nhất trong số này là việc phát hành bảo lãnh đảm
bảo cho 6 tổ chức ngân hàng trong nước Ireland vào ngày 30 tháng 9 năm 2008. Việc bảo
lãnh ban đầu bao gồm hầu như tất cả các khoản nợ và tất cả tiền gửi của các tổ chức này
và mở rộng về khối lượng ước tính của tài sản và các khoản nợ phải trả của 440 tỷ € trên
3,5 lần GNP của Ireland. Ban hành mà không cần thỏa thuận với các quốc gia khu vực
Euro, bảo lãnh Ireland kích hoạt hệ thống phản hồi từ các nước khác trong khu vực đồng

Trang 11
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

tiền chung. Khởi động quá trình lây lan liên ngân hàng trên toàn Liên minh châu Âu. Tuy
nhiên, mặc dù phe đối lập từ các nước thành viên châu Âu, bao gồm Anh, Đức và Pháp,
các hệ thống ngân hàng của các nước này rất thích (và vẫn được hưởng) lợi ích đáng kể
gián tiếp của việc bảo lãnh Ireland thông qua nắm giữ của các ngân hàng Ireland và chứng
khoán chủ quyền trên và các bảng cân đối của họ. Ví dụ, trong trường hợp của Đức, giả
sử 40% 'mức vay thế chấp' (giá thị trường chuẩn), hệ thống ngân hàng Đức đã được gián
tiếp nhận hỗ trợ từ các Bộ trưởng Tài Chính Ireland.
Biểu đồ 4: Nợ và đòn bẩy trong năm 2011, theo tỷ lệ phần trăm của năm 2010
GDP

Nguồn: IMF báo cáo GFRS tháng 10 năm 2010, và tính toán của tác giả.
Lưu ý: Hình cho Tổng công ty phi tài chính của Canada được tính toán trên cơ sở
tỷ lệ nợ doanh nghiệp của vốn cổ phần.
Ngoài ra, các nước thành viên khu vực Euro đã tham gia trực tiếp trong việc bơm
vốn chủ sở hữu vào hệ thống ngân hàng, với các biện pháp khác nhau, từ mua cổ phần
thông thường để đầu tư vốn cổ phần ưu đãi để mua và bảo đảm tài sản độc hại. Ở một số
nước, như Ireland, bảo lãnh Chính phủ và mua tài sản độc hại dưới hình thức bảo lãnh
phát hành các nghĩa vụ nợ đặc biệt được sử dụng để tái cơ cấu vốn bảng cân đối ngân
hàng bán chủ quyền. Tính đến cuối năm 2010, các ngân hàng tuyên bố trên khu vực công
đứng ở mức trên 20% của GDP ở Bỉ, Đức, Hy Lạp, Ý và Tây Ban Nha, hoàn thành chu
kỳ đầy đủ của sự lây lan từ cuộc khủng hoảng ngân hàng vào cuộc khủng hoảng tài chính
có chủ quyền. Trong trường hợp của Ireland, Capital Prudential đã hoàn thành các nhận

Trang 12
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

xét đánh giá tính thanh khoản trong tháng 3- 2011, ngân hàng Ireland khủng hoảng đã tiêu
thụ ít nhất là 70 tỷ € từ quỹ của đối tượng nộp thuế, nhiều nhà phân tích mong đợi con số
đạt từ 100 tỷ € và 120 tỷ € vào cuối của cuộc khủng hoảng.
2.3. K Euro
:
Cuộc khủng hoảng tài chính đã có một loạt các hiệu ứng cực kỳ xấu đến môi
trường tài chính khu vực châu Âu. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi của khu vực Châu Âu là do
sự gia tăng phụ thuộc của tiêu dùng tư nhân và công cộng, đầu tư công cộng và tích lũy
nợ tư nhân.
Sự gia tăng nhu cầu công cộng tài trợ cho tái cấp vốn của ngân hàng, cùng với sự
cần thiết cải thiện tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế đồng thời giảm sự tin tưởng
của người tiêu dùng và nhà đầu tư, thiếu hụt tín dụng và sự thu hẹp nhanh chóng của dòng
chu chuyển thương mại thế giới dẫn đến tăng thâm hụt trên toàn khu vực Châu Âu.
Những nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của cuộc khủng hoảng khu vực ngân hàng,
chẳng hạn như các nước ngoại vi PIIGS (Bồ Đào Nha, Ireland, Ý, Hy Lạp và Tây Ban
Nha), còn có Áo, Bỉ, Đức và Hà Lan lại thấy sự bất lợi do mất cân bằng cấu trúc tài chính.
Ngoài ra, do chu kì giảm của doanh thu thuế do suy thoái kinh tế, phúc lợi của các
quốc gia khắp khu vực Châu Âu tiếp tục gây áp lực trên cấu trúc tài chính của họ.
Điều này là hiển nhiên khi thực tế, năm 2010 tất cả các quốc gia thành viên của
Châu Âu đã vi phạm tiêu chuẩn của Hiệp ước Ổn định và Tăng trưởng bền vững tài chính.
Giữa năm 2007 và 2010, con số nợ công tăng từ 65% của GDP tới 85% của GDP và dự
kiến sẽ tăng 87% vào năm 2012. Từ năm 1991 tới năm 2011, tỉ lệ tổng nợ công của chính
phủ trên GDP của khu vực Châu Âu dự kiến tăng 61%, cao thứ ba trong các nền kinh tế
phát triển sau Nhật Bản và UK.
Kiểm soát cho phần nợ công khá lớn của chi tiêu Chính phủ, tổng thể khu vực nợ
công đè nặng lên nền kinh tế tư nhân ( xem Hình 5 dưới đây) đã tăng đáng kể từ 108.1%
năm 1991 đến 122.4 trong năm 2007 và 171,8% trong năm 2011 (dự báo).
Biểu đồ 5: Nợ chính phủ như một phần của nền kinh tế tư nhân ( chi tiêu
GDP Chính Phủ cũ ) , phần trăm

Trang 13
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên dữ liệu của IMF WEO, Tháng 4 năm 2011
Một khi cuộc khủng hoảng ngân hàng bắt đầu hấp thụ một phần đáng kể ngân sách
tài trợ trong năm 2008-2009, và suy thoái kinh tế tăng đã đẩy chi tiêu phúc lợi xã hội và
làm trì trệ việc thu thuế, một số nước trong khu vực Châu Âu đã gặp khó khăn trong việc
tái cấp vốn cho những món nợ còn tồn đọng của họ. Điều này gây ra chu kì giảm lòng tin
của thị trường vào khả năng trả nợ của nhiều quốc gia khu vực Châu Âu. Vào tháng 12
năm 2010, lãi suất trái phiếu 10 năm của Hi Lạp tăng gấp 4 lần của Đức, Ailen gấp 3 lần
Đức. Và chu trình đánh giá thấp các khoản nợ và tăng lãi suất trái phiếu đươc tiếp diễn.
Biểu đồ 6 dưới đây đã chỉ ra rằng mức đầu tư kém hơn tương đối ở khu vực Châu
Âu so với các nền kinh tế phát triển vẫn tồn tại theo thời gian, tăng lên 13.6 % của GDP
giữa năm 1990 và 1999 và tăng 17 % cuối năm 2007. Thời gian tăng chậm hơn trong
khoảng thời gian giữa năm 2000 và 2006 cho thấy ba nguyên nhân cốt lõi của sự thiếu hụt
này:
1) Trong giai đoạn này thâm hụt ngân sách chính phủ của Châu Âu đã giảm so
với các nền kinh tế phát triển khác;
2) Trong thời gian này Châu Âu có sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn;
3) Đối với Mỹ và các nền kinh tế phát triển khác trải qua một sự bùng nổ đáng kể
của đầu tư trong nước kết hợp với bong bóng thị trường tài sản hình thành trong
quá trình 2003-2007, khu vực đầu tư dưới mức của thị trường Châu Âu lành tính
hơn, liên quan tới xu hướng lịch sử trong giai đoạn này là phù hợp với mối liên hê
chặt chẽ giữa bong bóng tài sản Hoa Kỳ và tăng tốc đầu tư của Châu Âu.
Sử dụng dữ liệu hàng năm trên tổng tiết kiệm quốc gia và tỷ lệ đầu tư từ năm 1980
đến năm 2010, bảng 2 đã chỉ ra rõ ràng rằng:

Trang 14
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Ở Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, đầu tư vượt quá mức tiết kiệm
quốc gia trên toàn bộ phạm vi mẫu
Ở Ai len và Ý, ngoại lệ là thập niên những năm 1970, vay vượt quá hiện
diện trong những năm 1980 và 2000.
Biểu đồ 6: Lỗ hổng tích lũy đầu tư, các nền kinh tế phát triển v Châu Âu,
1989=0, % của GDP

Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên dữ liệu của IMF WEO
Bảng 2: Đầu tư thực so với tiết kiệm, % của GDP, trung bình

Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên dữ liệu của IMF WEO
Nhiều thập kỉ tài trợ - nợ gần thấp bằng đầu tư, suy yếu - thông qua thuế quá mức-
cán cân tài chính hộ gia đình và thiếu tăng trưởng tạo điều kiện cho sự lây lan những khó
khăn của ngành Ngân hàng với những cán cân tài chính độc lập.
2.4. Các quốc gia khu vực châu Âu và cuộc khủng hoảng chung:

Trang 15
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

2.4.1 Từ Hy Lạp đến Ireland và các quốc gia trong PIIGS:


Khủng hoảng nợ công Hy Lạp là cảnh báo đầu tiên từ các thị trường khu vực châu
Âu tiêu biểu về vấn đề tài chính công đang xấu đi. Mức thâm hụt sách là 15,37% GDP
trong năm 2009, vượt ngưỡng an toàn là 5% GDP và vượt mức cho phép của khu vực
đồng tiền chung là 3%/GDP. Song song với Hy Lạp, Ireland thâm hụt 14,36% GDP trong
năm 2009, tăng so với mức thâm hụt dự kiến 11% trong tuyên bố ban đầu của chính
quyền Ireland. Bồ Đào Nha thâm hụt ngân sách đã tăng từ 2,93% năm 2008 đến 9,34%
trong năm 2009, trong khi Tây Ban Nha thâm hụt ngân sách tăng từ 4,15% đến 11,13% so
với cùng kỳ của thời gian.
Lo ngại khủng hoản nợ Hy Lạp có thể lây lan và tạo thành hiệu ứng domino trong
khu vực, các nước khu vực đồng Euro và IMF đã thống nhất gói giải cứu 110 tỷ euro
trong 3 năm cho Hy Lạp; đổi lại Hy Lạp phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”.
Tháng 5/2010 cơ chế ổn định tài chính châu Âu được thành lập dựa trên 750 tỉ euro
vốn cơ sở (trong đó được phép cho vay thực tế lên đến 560 tỷ euro) và được ưu đãi từ một
số nguồn tài trợ, bao gồm:
Quỹ hỗ trợ cộng đồng 60 tỷ Euro dành cho các nước thành viên khu vực đồng
Euro, và 50 tỷ Euro Quỹ hỗ trợ khẩn cấp cho Uỷ ban châu Âu để tài trợ những
quốc gia không nằm trong khu vực đồng tiền chung châu Âu
Quỹ ổn định tài chính châu Âu (EFSF) được ủy quyền cho vay 440 tỷ Euro
trong đó bao gồm 250 tỷ Euro với chức năng cho vay có hiệu quả, bao gồm nhiệm
vụ mua trái phiếu Chính phủ và được thành lập như là một thành viên Nhà nước
SPV.
IMF cam kết tài trợ 250 tỷ Euro.
Ngoài ra, ECB đã tham gia mua trực tiếp một khối lượng đáng kể khoản nợ công
của PIIGS cùng với sự tích lũy của trái phiếu chính phủ thông qua hoạt động thanh khoản
khẩn cấp. Tháng 6/2011, ECB đã nắm giữ 47 tỷ Euro trái phiếu Chính phủ Hy Lạp, 19 tỷ
Euro trái phiếu Chính phủ Ireland, 21 tỷ Euro trái phiếu chủ quyền của Bồ Đào Nha.
Đến đầu năm 2011, các nhà phân tích có thể thấy rõ ràng rằng :
1) Gói “giải cứu” Hy Lạp, tập trung vào sửa chữa nợ trong khu vực công thông
qua việc phát hành nợ nhiều hơn cho khu vực công.
2) Gói cứu trợ Ireland tháng 11/2010 nhằm giải quyết vấn đề của các ngân
hàng mất khả năng thanh toán và nợ chính phủ thông qua việc tải nợ nhiều hơn lên
vai của người nộp thuế sẽ không được vượt quá giữa năm 2013 và Bộ tài chính

Trang 16
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Ireland sẽ không có hy vọng được gia hạn các khoản vay từ các thị trường trước
năm 2015.
3) Bồ Đào Nha sẽ cần một gói cứu trợ riêng để tài trợ cho con đường chi tiêu
công không bền vững và củng cố các điểm yếu của ngân hàng.
Trong khi đó, các cơ quan xếp hạng tiếp tục hạ cấp xếp hạng trái phiếu chính phủ
của ba quốc gia trên, trong khi cũng đe dọa hạ xếp hạng Tây Ban Nha, Bỉ và Ý. Tính đến
tháng 6/2011, Pháp đang nằm trong danh sách xem xét tiêu cực bởi các cơ quan xếp hạng.
2.4.2. Thách thức tăng trưởng của PIIGS:
PIIGS (bao gồm các nước Bồ Đào Nha, Ireland, Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha) phải
đối mặt với sự suy giảm khá sâu trong các chỉ số hoạt động tài chính (chủ yếu trong thị
trường tài sản tư nhân và ngân hàng) trong cuộc khủng hoảng hiện nay. Cấu trúc các nước
cũng có điểm tương đồng trong quá trình thâm hụt tài chính không bền vững dài hạn của
chi tiêu công và sụt giảm tiết kiệm theo thời gian.
Biểu đồ 7: GDP bình quân đầu người, Ngang giá sức mua-điều chỉnh, Đô la
quốc tế đang lưu hành

Nguồn: Theo IMF WEO tháng 4/2011 và tính toán của tác giả
Biểu đồ trên cho thấy, ngoại trừ Ireland, tất cả các nền kinh tế PIIGS đã không hội
tụ về mức trung bình thu nhập bình quân đầu người khu vực Euro. Hy Lạp có GDP bình
quân đầu người của các nền kinh tế phát triển (khu vực Euro-cũ) trung bình 96,6% trong
năm 1980, giảm 81,2% trong năm 2008, và ở mức 76,5% trong năm 2010. Italy bắt đầu

Trang 17
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

những năm 1980 với tỷ lệ 102% GDP bình quân đầu người của các nền kinh tế phát triển,
và kết thúc năm 2008 ở 79,1%. Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vẫn giữ được mức ngang
bằng so với điểm bắt đầu trong suốt thời gian từ năm 1980 đến năm 2008. Nhìn chung
trung bình thu nhập bình quân đầu người PIIGS ở mức 83,5% của các nền kinh tế phát
triển năm 1980, giảm xuống 79,2% vào năm 1990, trước khi tăng lên 89% vào năm 2000
chỉ kết thúc ở mức 80,4% trong năm 2010.
2.4.3. Những chú chim hoàng yến trong khu mỏ: tình hình tài khóa của
các nước nhóm PIIGS cho ta biết gì về khu vực sử dụng đồng EUR nói chung:
Sử dụng các số liệu trung bình theo thập kỷ, chúng ta có thể so sánh tỷ lệ tổng tiết
kiệm linh hoạt trên PIIGS, khu vực Châu Âu và các nền kinh tế phát triển:

Hy Ireland Italy Tây Bồ Đào Các nước Các nước kinh tế


Lạp Ban Nha khu vực phát triển (khu
Nha Euro vực Euro cũ)

Tổng tiết
kiệm/GDP 19.1% 15.5% 21.2% 21.2% 26.4% 22.3% 34%
năm 1980

Tổng tiết
kiệm/GDP 12.2% 21% 19.3% 21.8% 14.3% 20.9% 32.3%
năm 2000-
2009

Chênh lệch -6.9% -5.5% -2.9% 0.6% -12.1% -1.4% -1.7%

Chi tiêu công của PIIGS, khu vực châu Âu và các nền kinh tế phát triển:

Hy Ireland Italy Tây Bồ Đào Các nước Các nước kinh tế


Lạp Ban Nha khu vực phát triển (khu
Nha Euro vực Euro cũ)

Chi tiêu
công/GDP 35.4% 45.7% 51% 37% 44.1% 49.3% 34%
năm 1980

Trang 18
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Chi tiêu
công/GDP 46.5% 47.8% 48.3% 39.7% 44% 45.4% 32.3%
năm 2000-
2009

Chênh lệch 11.1% 2.1% -2.7% 2.7% -0.1% -3.9% -1.7%

Nhận xét:
Trong khi tổng tiết kiệm của các nước PIIGS nói riêng và khu vực Euro nói chung
ngày một giảm thì chi tiêu công của các nước này tăng mạnh sau mỗi năm.

Biểu đồ 8 : Tổng chi tiêu Chính phủ, phần trăm của GDP

Nguồn: Theo IMF WEO tháng 4/2011 và tính toán của tác giả
Một cách tổng thể, như biểu đồ 9 minh họa, trong suốt 3 thập kỷ vừa qua, chỉ trừ
có 3 năm, các nền kinh tế thuộc khu vực đồng Euro đã chi tiêu vượt quá những gì họ có.
Các khoản thâm hụt này chủ yếu để liên tục mở rộng các dịch vụ xã hội và các chương
trình chi tiêu hiện đại khác. Kể từ giữa thập niên 90, các đề xuất chính sách kinh tế của
toàn khu vực Liên minh châu Âu đều thể hiện quan điểm Chính phủ liên tục trợ cấp cho

Trang 19
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

một số khu vực nhất định của nền kinh tế. Và thực tế là Liên minh châu Âu (EU) đã đạt
được một quan niệm liên tục và không thể chia tách về đầu tư công và chi tiêu thường
xuyên. Vì vậy, lấy ví dụ năm 2020 khu vực Châu Âu nhận diện như là một hình thức của
biện pháp đầu tư xã hội nhằm mục tiêu giảm bất bình đẳng thu nhập, sự nghèo đói, hỗ trợ
cho “các doanh nghiệp xã hội” và “sự sáng tạo xã hội” và đạt được sự gắn kết xã hội, mặc
dù chắc chắn là hết sức cao đẹp về mặt bản chất, có thể được xem là chi tiêu công, hơn là
đầu tư công.
Biểu đồ 9: Cân bằng cấu trúc Chính phủ, phần trăm GDP tiềm năng

Nguồn: Theo IMF WEO tháng 4/2011 và tính toán của tác giả
Kết quả của những điều này và những chính sách cấp quốc gia tương tự là các
khoản nợ nần treo lơ lửng đầu tiên, ở khu vực tư nhân, rồi tiếp theo sự bùng nổ tín dụng
của những năm 2000 cũng thuộc khu vực tư nhân.
Hy Lạp, bắt đầu với tỷ lệ 41.6% nợ công so với GDP vào năm 1980 đã đẩy nợ
công của nó lên mức trung bình 105.3% cho thập kỷ qua 2009 và nó được dự báo tỷ lệ
này tăng lên 160- 170% của GDP vào năm 2013- 2014. Ireland, giảm gánh nặng nợ nần
tương đối của nó từ trung bình 90.4% cho thập kỷ của năm 1980 xuống 35.3% trong thập
kỷ qua năm 2009, đã lại tăng tổng nợ của Chính phủ lên tới mức trung bình là 118% cho
khoảng thời gian 2010 - 2016. Điều đáng chú ý là trong suốt thời gian mà tỷ lệ nợ/ GDP
của Ireland giảm đi, thực sự nước này chỉ giảm được khoản nợ danh nghĩa trong vỏn vẹn
có một năm mà thôi. Thay vào đó, núi nợ chất ngất do chính sách tài khóa bất cẩn của
những năm 1980 đã bị che mờ đi bằng việc GDP gia tăng. Trong khi đó, Italy đã tích lũy

Trang 20
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

dần nợ công từ 91.8% của GDP trong năm 1980 lên trung bình 119.3% cho các năm
2010 – 2016. Trong bối cảnh này, Italy cung cấp một ví dụ rõ ràng những gì xảy ra cho
đất nước một khi nợ công đạt trên 80 – 85 % GDP. Trái với các những lý luận cao cấp
ngày nay của những người phủ nhận sự tồn tại cuộc khủng hoảng trong khu vực Euro do
mất khả năng thanh toán, đất nước với khu vực tư nhân tương đối khỏe mạnh có thể nhập
vào một cái bẫy nợ và sẽ có vài cơ hội thoát khỏi nó trong khoảng thời gian ít hơn 30
năm.
Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã nhìn thấy gánh nặng nợ công của họ tăng từ
55,7% và 56,9% của GDP trong những năm 1990 đến 96,7% và 69% tương ứng cho các
năm 2010 - 2016. Mức độ nợ của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, mặc dù xuất hiện lành
tính bằng cách so sánh với trung bình của 17 nước khu vực châu Âu, tuy nhiên, bảo lãnh
các nền kinh tế với cấu trúc tăng trưởng cơ cấu và việc làm tạo ra những điểm yếu.
Tuy nhiên, chi tiêu công của các quốc gia khu vực châu Âu cùng với thâm hụt cấu
trúc, cũng dẫn đến tăng gánh nặng tổng thể cho nền kinh tế tư nhân. Biểu đồ 5 trước đây
cho thấy, trọng lượng tổng thể của nợ công đối với nền kinh tế tư nhân đã tăng từ 108%
GDP trong năm 1991 lên dự kiến 172% GDP trong năm 2011. Việc bán phá giá hàng loạt
các nghĩa vụ nợ lên khu vực tư nhân đòi hỏi sự chuyển đổi hoàn toàn từ các nền kinh tế
thực đến các khu vực công, được minh hoạ thông qua sự mất cân bằng tài khoản liên tục
hiện nay, thể hiện trong Biểu đồ 10 dưới đây.
Biểu đồ 10. Số dư tài khoản hiện tại, phần trăm của GDP:

Nguồn: IMF WEO tháng 4/ 2011 và tính toán của tác giả

Trang 21
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Như biểu đồ 10 ở trên cho thấy, trong khi các nền kinh tế phát triển của khu vực
châu Âu cũ có tài khoản vãng lai thặng dư trung bình mỗi năm từ năm 1985 và 2007,
phần lớn các PIIGS thâm hụt tài khoản vãng lai hơn nhiều của những năm giữa năm 1980
và 2010. Đặc biệt, tình hình xấu đi đáng kể trong những năm kể từ năm 2000 như bong
bóng giá trị tài sản và lãi suất thấp kéo theo thâm hụt tài trợ thương mại và thanh toán.
Thặng dư và thâm hụt tài khoản tích lũy từ năm 1980 đến năm 2010 của các nước:
Tích lũy thâm hụt ròng bên ngoài của Hy Lạp số tiền là 398,5% GDP
Tích lũy thâm hụt ròng bên ngoài của Ireland số tiền là 79,1% GDP
Tích lũy thâm hụt ròng bên ngoài của Ý là 30,6% GDP
Tích lũy thâm hụt ròng bên ngoài của Bồ Đào Nha lên đến 409,5% GDP
Tích lũy thâm hụt ròng bên ngoài của Tây Ban Nha số tiền 145,4% GDP
PIIGS tích lũy thâm hụt ròng bên ngoài trung bình đứng ở mức 174,4%
GDP
Châu Á - 5 thặng dư tích lũy ròng bên ngoài là 81,1% GDP
Tích lũy thâm hụt ròng bên ngoài của Khu vực Euro số tiền là 30,3% GDP
Thâm hụt trung bình bên ngoài của các nền kinh tế phát triểm khu vực châu
Âu số tiền là 22,1% GDP.
Dựa trên các số liệu đã phân tích, có thể nhận thấy các PIIGS là những ví dụ cực
kỳ đơn giản hơn của căn bệnh rất giống nhau đã diễn ra của khu vực châu Âu rộng lớn đó
là phụ thuộc vào vay nợ để phát triển khu vực công và tư nhân.
2.4.4. Khủng hoảng tài chính
khủng hoảng kinh tế:
Khủng hoảng tài chính công Hy Lạp
Hy Lạp cam kết trong gói giải cứu của EU /IMF thông qua trong năm 2010 bao
gồm giảm thâm hụt ngân sách 15% GDP quốc gia. Liên quan đến gói cứu trợ thứ hai, Hy
Lạp cam kết sẽ tăng thắt lưng buộc bụng hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thấp hơn,
trong khi tỷ lệ thất nghiệp thậm chí đã chạm mức 20%. Có thể thấy, những giải pháp mới
theo thỏa thuận trong gói cứu trợ đã làm trầm trọng thêm các vấn đề nợ công.
Bên cạnh đó, căn cứ vào dự báo của EU, ngay cả khi chưa tính đến các gói cứu trợ
thứ hai, nợ Hy Lạp dự kiến sẽ tăng lên 370,8 tỷ Euro vào năm 2012, hoặc 161,1% của
GDP; đồng thời khoản lãi vay lên đến 7,4% thu nhập quốc gia, chiếm 17 tỷ Euro trong
khi khoản thắt lưng buộc bụng dự tính là 30 tỷ Euro (hơn 50%).

Trang 22
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Năm 2012 – 2014, Hy Lạp đang phải đối mặt với sự cần thiết phải đảo nợ 192 tỷ
Euro giá trị trái phiếu và phát hành 45 tỷ Euro nợ mới để tài trợ cho thâm hụt của nó (giả
sử các số liệu thắt lưng buộc bụng được đáp ứng). Với tư nhân dự kiến sẽ kỳ vọng ở mức
khoảng 26,5 tỷ Euro (một con số cực kỳ lạc quan), và với 43 tỷ Euro của các quỹ cứu trợ
đầu tiên vẫn được giải ngân, chính phủ Hy Lạp sẽ yêu cầu tổng kinh phí khoảng 122 –
125 tỷ Euro theo gói cứu trợ năm 2010. Đáng lưu ý là các kế hoạch của EU cho gói cứu
trợ thứ hai mong đợi sự tham gia 30% của khu vực tư nhân trong gánh nặng cứu trợ - một
con số cao không thực tế khi EU hy vọng rằng các thành phần cơ sở tự nguyện tham gia
và không giảm giá trị hiện tại ròng trong nợ tổng thể.
Nền kinh tế Hy Lạp là 70% phụ thuộc vào nhu cầu tăng trưởng nội địa; tuy nhiên
do thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng, thu hẹp tài chính đã làm tăng trưởng kinh tế
giảm 4,5% năm 2010; 4 – 5% năm 2011 và trung bình khoản 3 – 4% trong giai đoạn 2012
– 2013.
2.4.5 Sự lây lan của cuộc khủng hoảng Hy Lạp đến hệ thống ngân
hàng và khủng hoảng quốc tế:
Nền kinh tế Hy Lạp hiện đang bị mắc kẹt trong một cái bẫy nợ, mà chủ yếu tập
trung vào nợ công, nhưng nhanh chóng chuyển vào khu vực tư nhân và khu vực ngân
hàng. Bẫy nợ có khả năng tồi tệ hơn theo thời gian. Lãi suất bình quân hiện tại trên các
khoản vay của Hy Lạp là khoảng 4,25%, thấp hơn nhiều mức 27% lợi nhuận được yêu
cầu bởi các trái phiếu của họ trong thị trường thứ cấp. Với sự tăng trưởng doanh thu thuế
từ các chính sách tài chính thắt chặt và tăng thuế, và với sự gia tăng kỳ vọng trong chi phí
tài trợ từ ECB, các thị trường cho vay liên ngân hàng và thị trường trái phiếu cho các
khoản nợ khu vực châu Âu nói chung, Hy Lạp sẽ phải đối mặt với việc không có triển
vọng nào để giảm tỷ lệ nợ/ GDP bất kỳ thời gian nào trước khi kết thúc thập kỷ thứ hai
của thế kỷ.
Các gói cứu trợ mới, nếu thành công trong việc đạt được sự tham gia của khu vực
tư nhân, có khả năng chuyển kỳ hạn hồ sơ nợ Hy Lạp sang kỳ hạn 2017-2020. Hiện nay,
đỉnh cao đầu tiên của kỳ hạn thanh toán nợ cho Hy Lạp rơi vào năm 2014 (bất ngờ là điều
này tương tự như Ireland), với khoảng 58 tỷ Euro dài hạn và 16 tỷ Euro ngắn hạn trên
giấy báo nợ. Trong năm 2015, hơn 40 tỷ Euro nợ dài hạn sẽ đến hạn. Hồ sơ của các khoản
nợ này có thể sẽ thay đổi 3 – 5 năm. Nó cũng sẽ có nghĩa là tăng toàn bộ chi phí phát sinh
trong quá trình tài trợ nợ cho nền kinh tế Hy Lạp. Vì vậy, các gói cứu trợ thứ hai sẽ, trong
bất kỳ cách nào cũng có thể cung cấp tốt nhất một số khả năng thanh khoản cho nền kinh
tế.

Trang 23
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Những phân tích trên, tuy dựa vào các giả định cực kỳ lạc quan về khả năng duy trì
độ dốc các biện pháp thắt chặt tài chính của Hy Lạp và các khoản thu tư nhân hóa, vẫn
cho ta một bức tranh khá ảm đạm về kinh tế Hy Lạp trong thời gian sắp tới.
2.4.6. Ngân hàng Ireland và khủng hoảng kinh tế như chất xúc tác cho
sự sụp đổ tài chính:
Ngược lại Hy Lạp, Ireland phải đối mặt với một loạt những thách thức khác từ
khởi đầu của cuộc khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng tài chính Ireland bắt đầu vào năm
2009 bởi hai áp lực chính - áp lực phát sinh từ tình trạng mất khả năng thanh toán của khu
vực ngân hàng và mất khả năng thanh toán đồng thời của Bộ Tài Chính bị gây ra bởi sự
mất cân bằng cơ cấu kinh tế.
Sự khác biệt, cho Ireland, trong nhóm PIIGS là không giống như Hy Lạp, Bồ Đào
Nha, Ý và thậm chí cả Tây Ban Nha, Con hổ vùng Celtic đã tăng trưởng sản xuất ngoạn
mục dựa trên một hỗn hợp của các yếu tố ngoại sinh và nội sinh (xem Biểu đồ 7). Sự tăng
trưởng, kéo dài qua toàn bộ thập kỷ của những năm 1990 và trong năm 2000, cung cấp
một vài hy vọng về sự phục hồi cho vận mệnh quốc gia, không để gánh nặng nợ nần quá
mức lên nền kinh tế nói chung.
Trong năm 2007, năm cuối cùng trước khi suy thoái kinh tế, tỷ lệ nợ công/ GDP
của Ireland đứng ở mức trên 25%. Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 4,5% trong năm 2006 lên
14,8% hiện nay, GDP bị thu hẹp một cách đột ngột (xem bên dưới) kết hợp với việc Nhà
nước hấp thu nợ ngân hàng tư nhân cũng như nợ công đã dẫn đến tỷ lệ nợ tăng lên 96%
/GDP vào cuối năm 2010.
Thực hiện ba chính sách ngân sách liên tiếp bao gồm cắt giảm chi tiêu vốn, chi tiêu
hiện hành tái phân bổ giữa các chương trình chi tiêu khác nhau, và tăng thuế lớn, Chính
phủ Ireland hiện đang phải đối mặt với thâm hụt ngân sách 2011 dự kiến 11%. Mặc dù
tăng thuế hà khắc, tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân biên tăng từ 44% (bao gồm cả các khoản
đóng góp an sinh xã hội) năm 2008 lên 59% (đối với người có thu nhập) trong năm 2011,
nhưng doanh thu thuế phải nộp lại giảm 31.2% trước khủng hoảng năm 2007 và 5.4% vào
giữa điểm đánh dấu cuộc khủng hoảng năm 2009 (tổng biên lai thuế là €12.8 tỷ USD
trong năm tháng đầu năm 2011). Nguyên nhân là tuy mức thuế có cao hơn (năm 2007
thuế đối với hộ gia đình (thuế thu nhập và vat) lên tới 46.5% tổng số thuế, đến năm 2010
con số này đã tăng lên 54.4%. Các loại thuế doanh nghiệp (thuế thu nhập và vat) hầu như
không biến động, tăng nhẹ từ 37.5% đến 38.6%) nhưng các giao dịch thuế trong cùng thời
gian lại giảm đi đáng kế (năm 2007 chiếm 16% trong tổng số biên lai thuế trong năm
2007 giảm xuống còn dưới 7.1% tổng số thuế trong 2010)

Trang 24
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Hiện nay, theo các nhà phân tích, bao gồm cả IMF, đều không cho là tỷ lệ vay
mượn ròng của chính phủ Ireland sẽ đạt được 3% GDP so với mục tiêu đặt ra trong năm
2015-2016 theo yêu cầu của gói cứu trợ EU-IMF tháng 11/2010.Theo ước tính mới nhất
của IMF, được sửa đổi vào cuối tháng 5/2011, cho thấy nợ chính phủ Ireland chính thức
sẽ đạt đỉnh vào năm 2013 ở mức 120% GDP. Dự báo của IMF còn cho biết thêm khoản
nợ này sẽ tăng trên 199 tỷ Euro và bắt đầu giảm ở mức 208.7 tỷ Euro so với kế hoạch dự
kiến trong năm của IMF (dựa trên cơ sở dữ liệu tháng 4/2011).
Bên cạnh đó Nama (Cơ quan quản lý tài sản quốc gia) đã phát hành khoảng €30.7
trái phiếu được hỗ trợ bởi chính phủ, trong khi đó dư nợ của chính phủ tính đến ngày hôm
nay là €30tỷ. Vì vậy, cho đến khi việc trả nợ xảy ra với Nama, khoản nợ của Chính phủ
Ireland (GDP) tăng lên đến € 229 tỷ vào năm 2013.
Đánh giá của IMF về vị thế tài chính Ireland vào ngày 20/05 nêu rằng Ireland có
thể xảy ra tình trạng tăng trưởng đột biến, tỷ lệ nợ so với GDP của định chế Nama cũ có
thể đạt tới 136% GDP vào năm 2016, tương đương 229 tỷ Euro. Theo tình huống trên
tăng trưởng GDP trung bình hàng năm Ireland dự kiến là 1,5% so với giai đoạn 2011-
2016, giảm so với kịch bản cơ bản 2,75%.
Có những rủi ro khác ở giai đoạn này không nên được trực tiếp tính vào nợ quốc
gia, nhưng cũng phải lưu ý đến những rủi ro đó khi tính tổng nợ bền vững . Đặc biệt,
theo ước tính của IMF ngày 20 tháng 5, việc cấp vốn cho các ngân hàng, phụ thuộc hoàn
toàn vào Ngân hàng Trung ương Ireland, và mức kinh phí cần thiết cho sáu ngân hàng
trong nước sẽ dựa vào đánh giá của PCAR. Cuối cùng có những khoản nợ khổng lồ tích
lũy của ngân hàng (với tất cả 5 ngân hàng Ireland thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước
và với ngân hàng thứ sáu – Ngân hàng Ireland- phần lớn thuộc sở hữu Nhà nước) thuộc
Ngân hàng Trung ương Ireland quản lý hoạt động hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (ELA).
Theo dữ liệu mới nhất có sẵn, có 49 tỷ Euro các khoản dư nợ tín dụng dưới sự quản lý cùa
ELA15.
Khủng hoảng khu vực châu Âu là cuộc khủng hoảng có quy mô chưa từng thấy.
Việc tìm ra những kế hoạch xác đáng khắc phục tình trạng hiện nay là một điều cần kíp.
Kế hoạch đó phải bắt đầu với việc phân tích vấn đề sử dụng quá nhiều nợ, và việc thiếu
những cú hích tăng trưởng thật sự.
Từ đầu năm 2011, rất rõ ràng, Ireland, Hy Lạp và cả nước thứ ba đang nhận gói
cứu trợ EU/IMF - Bồ Đào Nha- sẽ không thể tiếp cận được các nguồn tài trợ bên ngoài
sau năm 2013, điều đó có nghĩa rằng Ireland và có thể là Bồ Đào Nha sẽ phải tập hợp tất
cả các gói cứu trợ để được đảm bảo vào khoảng năm 2012. Bởi sau đó, Chính phủ Ireland

Trang 25
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

sẽ phải cam kết dùng tất cả các nguồn tài nguyên hiện có, bao gồm tài sản Nhà nước, để
trang trải các nghĩa vụ của mình theo quy định trong gói cứu trợ tháng 11/2011.
2.4.7 Từ PIIGS đến Brussels và Frankfurt: Vòng lây lan hoàn toàn
Các câu hỏi lớn hơn trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng hiện nay không còn là
khả năng thanh toán của PIIGS, mà là của toàn bộ khu vực châu Âu. Với tỷ lệ nợ vượt
quá 85% GDP (vượt ngưỡng 70-80% GDP ), các nước đồng tiền chung euro đang phải
đối mặt nguy cơ vỡ nợ rất cao. Tuy nhiên, ngoài các trách nhiệm pháp lý chính thức đại
diện cho nợ chung của chính phủ và các cấp chính quyền, các nước khu vực châu Âu
cũng đối mặt với các đe dọa của các khoản ngoại bảng, bao gồm:
Tiền gửi và bảo lãnh của nhiều quốc gia
Đảm bảo nợ chính phủ cho Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha, và báo cáo mới
nhất cho hay, của cả Tây Ban Nha.
Các cam kết ngoại bảng của ESF, EFSF và ESM vì mục đích đặc biệt được
tạo ra bởi các trách nhiệm cam kết bổ sung và trực tiếp của Liên minh châu Âu giá
trị 440 tỷ Euro mở rộng đến 750 tỷ Euro trước năm 2013
Trách nhiệm khu vực Ngân hàng trên toàn Liên minh châu Âu vẫn tiếp tục
chưa được giải quyết rốt ráo. Ví dụ, trong năm 2010, IMF ước tính rằng EU theo
sau Mỹ về giải quyết các vấn đề tài sản bị suy giảm trên bảng cân đối ngân hàng.
Một số báo cáo trên báo chí cho rằng hệ thống Landesbanken Đức đang giấu khoản
nợ xấu lên đến 800 tỷ Euro (phải thừa nhận đây là một kịch bản bất lợi)
Lương hưu và các nghĩa vụ chăm sóc sức khỏe gia tăng liên quan đến nhân
khẩu lão hóa,
Các cam kết phúc lợi xã hội đáng kể khó thực hiện khi dân số già ngày càng
tăng.
Cuộc khủng hoảng diện rộng càn quét khắp khu vực châu Âu ngày nay chắc chắn
là có liên quan đến thất bại về giám sát và điều hành tài chính, tiền tệ, tuy nhiên nguyên
nhân cốt lõi của cuộc khủng hoảng nằm ở những nơi khác, tiêu biểu là sự gia tăng liên tục
của nợ tài chính như là phương tiện để tài trợ mở rộng khu vực công. Trong thập kỷ qua,
lĩnh vực chi tiêu công và bùng nổ đầu tư trên khắp khu vực châu Âu đã được tạo điều kiện
thuận lợi thông qua chính sách tiền tệ lỏng lẻo mở rộng doanh thu khu vực công để tài trợ
cho kích thích kinh tế của Chính phủ, đầu tư và chi tiêu xã hội, trong khi khu vực tư nhân
không được chú ý đến. Chính sách này dẫn đến sự tích tụ nợ như là một hệ quả tất yếu,
không phải là nguyên nhân gây ra thâm hụt tài chính.
Biểu đồ 11. Khu vực Euro Chính phủ, Tổng nợ bình quân đầu người, USD

Trang 26
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Nguồn: IMF WEO tháng 4 năm 2011 và tính toán của tác giả
Như thể hiện trong Biểu đồ 11, nợ chính phủ bình quân đầu người của khu vực
châu Âu nói chung đã tăng từ $ 10.638 năm 1991 đến $ 22.251 trong năm 2005 và
$31.641 vào năm 2010. Sự gia tăng này có thể được chia thành hai giai đoạn lớn:
Giai đoạn đầu tiên từ năm 1991 đến 2002 có liên quan (như thể hiện trong Biểu đồ
2) với tăng chi phí vốn. Mặc dù phẳng hơn và nhiều biến động, giai đoạn này cho thấy
nợ bình quân đầu người tăng 41% hoặc 3,16% mỗi năm. Cùng kỳ, GDP danh nghĩa tăng
là 1,62% mỗi năm. Nói cách khác, tăng trưởng nợ công vượt quá tốc độ tăng trưởng thu
nhập kể cả trong thời kỳ chi phí vốn tương đối cao.
Giai đoạn thứ hai bắt đầu vào năm 2003 và dự kiến sẽ được hoàn thành vào năm
2011. Trong thời gian này, kết hợp các dự án của IMF cho năm 2011, nợ công/người
trong khu vực Châu âu dự kiến sẽ tăng với tốc độ 7,92% mỗi năm trong khi GDP bình
quân đầu người dự kiến sẽ tăng với tốc độ hàng năm là 5,31% mỗi năm. Ngoài khoản nợ
Chính phủ, thâm hụt tài chính của chi tiêu công và đầu tư, kết hợp với tính tương đối dễ
bay hơi (so với các nền kinh tế tiên tiến khác, theo Biểu đồ 8 chia sẻ ở trên), nhưng chi
tiêu Chính phủ có tính ổn định cao so với GDP (không bao gồm các khoản chuyển giao
ngày càng tăng đến và đi từ EU bởi các nước thành viên) đã dẫn đến liên tục tích lũy thâm
hụt bên ngoài (biểu đồ 10). Kết quả cuối cùng là một gia tăng đáng kể tổng số nợ khu vực
tư nhân và công của các nền kinh tế khu vực Euro. Tổng số nợ nước ngoài của khu vực
Euro tăng từ 95,8% của GDP 118,7% của GDP giữa năm 2005 và 2010, với hầu hết

Trang 27
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

khoản tăng của nợ Chính phủ bên ngoài và nợ ngoài ngân hàng khu vực tư nhân (xem
biểu đồ 12).
Biểu đồ 12. Thành phần nợ nước ngoài Khu vực Euro, phần trăm GDP

Nguồn: IMF WEO tháng 4 năm 2011, Ngân hàng thanh toán quốc tế, và tính toán
của tác giả
Với tình trạng nợ nần chồng chất hầu hết các lĩnh vực (nợ công, nợ khu vực tư
nhân, nợ ngân hàng), giải pháp bền vững duy nhất cho cuộc khủng hoảng này là cần phải
giảm giá trị hiện tại ròng của các nghĩa vụ nợ trong tương lai của các nước thành viên. Cụ
thể như việc giảm các khoản nợ có thể thực hiện hoặc thông qua một sự kết hợp của các
mức vay thế chấp bắt buộc trên một số khoản nợ tư hoặc thông qua sự tiền tệ hóa nợ
công, hoặc là sự kết hợp của cả hai, tùy thuộc vào các điều kiện nợ cụ thể trong các quốc
gia thành viên
Ireland: Sử dụng các mức vay thế chấp và chuyển đổi nợ - vốn các cho các trái
phiếu ngân hàng, cộng với một cam kết trực tiếp của một vài sự hỗ trợ thanh khoản khẩn
cấp được mở rộng bởi ICB và ECB. Tổng số tiền giảm bớt thông qua hệ thống cho
Ireland vào khoảng 40-50 tỷ Euro, phù hợp với thiệt hại kỳ vọng trong hệ thống suốt chu
kỳ. Khoản nợ quốc gia đang có, cộng với cam kết bổ sung cần thiết để duy trì mức giảm
thâm hụt công ở mức độ bền vững cần phải được thiết lập tối đa là 95% GDP thông qua ít
nhất là đến 2015, bao hàm sự cần thiết phải tiền tệ hóa số nợ quốc gia 30 - 40 tỷ Euro. Sự

Trang 28
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

tham gia khu vực tư nhân, cộng với tiền tệ hóa nợ quốc gia đã làm giảm chi phí phục hồi
xuống còn khoảng 15-25 tỷ Euro.
Hy Lạp: việc duy trì thành viên Hy Lạp trong khu vực châu Âu sẽ đòi hỏi giảm nợ
quốc gia / tiền tệ hóa của ít nhất 50% GDP, bao gồm một chi phí thực 120 tỷ Euro.
Bồ Đào Nha: chi phí sửa chữa bảng cân đối quốc gia không được vượt quá 20%
GDP, khoảng 35 tỷ Euro nhằm cho phép tỷ lệ tổng nợ trên GDP vẫn ổn định trong vòng 4
năm tới.
Tây Ban Nha: chi phí phục hồi ổn định tài khóa và tài chính của Tây Ban Nha sẽ
yêu cầu một khoản 20-50 tỷ Euro cho việc giảm bớt kháng cự lại các khoản nợ ngân hàng,
mà có thể được chuyển thông qua các công cụ tương tự như trong trường hợp của các
ngân hàng Ireland, cộng với khoảng 110 tỷ Euro trong các cam kết tài khóa.
Tổng chi phí của các biện pháp tài chính cần thiết để ổn định hệ thống Châu Âu sẽ
lên 320-355 tỷ Euro với việc tu bổ Hy Lạp hoặc 200-235 tỷ Euro với việc tu bổ không có
Hy Lạp. Một sự kết hợp của việc bảo lãnh các ngân hàng và bù đắp thuế có thể được sử
dụng để tiếp tục giảm chi phí của lĩnh vực ngân hàng ở Ireland và Tây Ban Nha.

2.5 :
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu diễn ra đến nay đã được hơn 2 năm. Hy Lạp
là nước đầu tiên đứng trước nguy cơ vỡ nợ và cần phải viện đến sự trợ giúp của ECB và
IMF. Tiếp sau là các nước Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia cũng đứng trước
nguy cơ vỡ nợ, và nợ công đang có nguy cơ lan dần đến trung tâm của châu Âu, kể cả các
nước mạnh nhất trong khu vực đồng Erozone là Đức và Pháp. Mới đây nhất, Romania là
nước thứ 6 ở châu Âu sụp đổ do khủng hoảng nợ, sau Italia, Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận định Eurozone sẽ rơi vào suy thoái
trong năm nay, trong khi Hội đồng châu Âu đưa ra nhận định tương tự cho toàn bộ EU.
Thời gian qua, giới lãnh đạo châu Âu, cùng với sự trợ giúp của IMF, đã đưa ra các
giải pháp nhằm giải quyết vấn đề nợ của khu vực, như nâng Quỹ Bình ổn Tài chính châu
Âu lên 1.000 tỷ USD, xoá 50% nợ cho Hy Lạp và cấp thêm cho nước này gói giải cứu thứ
hai trị giá 230 tỷ USD, cùng với những quyết định quan trọng khác trong các cuộc họp
cấp cao mới đây. Song, giới phân tích cho là chưa đủ và nếu Hy Lạp và một số nước khó
khăn về tài chính như Italy, Tây Ban Nha... không mạnh tay giảm chi tiêu, các giải pháp
trên sẽ không có tác dụng và những khoản giải cứu chỉ như "muối bỏ bể". Nợ công của

Trang 29
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Italy lên tới 1.900 tỷ euro, tương đương với 120% tổng sản phẩm quốc nội. Tháng
12/2011, tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực đồng tiền chung châu Âu tăng lên mức cao kỷ lục,
như vậy thêm dấu hiệu cho thấy đà phục hồi của nền kinh tế khu vực đồng tiền chung
ngày một yếu đi. Ở thời điểm cuối năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp tại nhóm 17 nước thuộc
khu vực sử dụng đồng euro tăng lên mức 10,4%, mức cao nhất tính từ khi khu vực đồng
tiền chung bắt đầu có cách đây hơn 1 thập kỷ. Tỷ lệ thất nghiệp tháng 12/2011 tăng 0,1%
so với tháng 11/2011 và cao hơn gần 1% so với con số 9,5% cùng kỳ.
Điều đáng lo ngại hơn là chỉ số tăng trưởng của khu vực đồng Eurozone sẽ chỉ còn
0,2% trong tài khóa 2012, tức chỉ bằng 12% so với con số đã quá thấp của năm 2011.
Ngay cả các đầu tàu kinh tế của khu vực là Đức và Pháp cũng không mấy lạc quan: tăng
trưởng của Đức và Pháp cũng chỉ là 0,6% và 0,3% vào năm 2012.
- Tháng 1/2012, châu Âu lại căng thẳng với các tổ chức xếp hạng tín dụng khi
S&P hạ xếp hạng tín dụng 9 nước châu Âu trong đó có cả Pháp, Áo – 2 nền kinh tế lớn
thuộc khu vực đồng tiền chung, duy nhất còn Đức giữ được xếp hạng AAA trong
eurozone. Tây Ban Nha và Italy đồng thời bị hạ xếp hạng tín dụng. S&P còn hạ xếp hạng
tín dụng của quỹ giải cứu châu Âu (EFSF)
- Đến cuối tháng 1, đến lượt Fitch hạ xếp hạng tín dụng của 5 nước châu Âu
bao gồm Italy, Tây Ban Nha, Bỉ, Slovenia và Cyprus. Khi còn quá căng thẳng với giải
pháp cho khủng hoảng nợ khu vực, quyết định hạ xếp hạng của hàng loạt tổ chức lớn trên
thế giới khiến lãnh đạo châu Âu thêm đau đầu và đã có lúc họ tuyên chiến với các tổ chức
này. Trước đó Fitch còn khiến người ta lo sợ khi khẳng định Fitch tin Hy Lạp sẽ vỡ nợ.
- Tính đến cuối tháng 1/2012, cuộc đối thoại của Hy Lạp và các chủ nợ vẫn
bế tắc. Hy Lạp muốn các chủ nợ giảm 70% nợ từ thỏa thuận 50% vào trước đó. Buổi họp
thứ nhất của lãnh đạo Liên minh châu Âu đã diễn ra, không một quyết định mang tính đột
phá nào được đưa ra ngoại trừ việc chính phủ Đức đã “mềm giọng” hơn trong vấn đề tăng
cường quy mô của quỹ giải cứu (EFSF). Lại một lần nữa, IMF lên tiếng cảnh báo chính
phủ các nước châu Âu về việc cần xây dựng được một bức tường lửa lớn hơn để ngăn
khủng hoảng lan từ nhóm nền kinh tế yếu sang các nền kinh tế vẫn còn mạnh.
Đầu tiên là kinh tế Hy Lạp đang suy thoái đến năm thứ 5 liên tiếp, thâm hụt ngân
sách lên gần mức 10% GDP và thất nghiệp khoảng 18%. Hy Lạp phải ðối mặt với 2 vấn
ðề thâm hụt cùng một lúc, ðó là thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thanh toán vãng
lai. Các biện pháp thắt lưng buộc bụng nhằm ðáp ứng một phần của gói cứu trợ trị giá 110
tỷ euro trong nãm ngoái ðã gây thiệt hại ðáng kể tới hoạt ðộng kinh tế, tiêu dùng và ðầu tư
của Hy Lạp. Tỷ lệ thất nghiệp tại Hy Lạp tháng 11/2011 leo lên mức 20.9 % trong khi

Trang 30
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

tháng trýớc con số này là 18.2% cao chýa từng có. Sản lýợng công nghiệp tháng 12/2011
giảm 11.3% so với cùng kỳ. Hy Lạp ðang trên bờ bùng nổ do dân chúng ðang biểu tình kế
hoạch “thắt lýng buộc bụng” sẽ ðýợc Quốc Hội thông qua ngày 11/02/2012. Trong nãm
2012, ðể nhận ðược gói viện trợ tài chính thứ 2 trị giá 130 tỷ euro, Hy Lạp ðã phải cam
kết tãng cường các chính sách cắt giảm hơn nữa.
Kế đến tại Bồ Đào Nha, cuộc khủng hoảng nợ công cũng khiến cho tình hình chính
trị của nước này bị chia rẽ sâu sắc. Moody’s đã hạ mức xếp hạng tín nhiệm của chính phủ
Bồ Đào Nha xuống thêm một bậc, từ A3 xuống Baa1. Bồ Đào Nha cần ít nhất 100 tỷ
USD để trang trải các khó khăn tài chính cho tới khi đáo hạn và tổng tuyển cử.
Bồ Đào Nha đã phải sử dụng tới gói cứu trợ 78 tỉ Euro của EU và IMF. Chính phủ
Bồ Đào Nha đã áp dụng các biện pháp giảm lương, tăng thuế và giảm chi tiêu cho các
dịch vụ y tế, giáo dục theo yêu cầu của IMF, EU và ECB. Tuy những biện pháp này có
giúp giảm thâm hụt ngân sách, nhưng lại đẩy Bồ Đào Nha vào cuộc suy thoái sâu hơn. Ở
thời điểm cuối năm 2011 tỷ lệ thất nghiệp tại Bồ Đào Nha tăng 0,4% lên 13,6%.
Thứ ba là Ireland. Ireland đã trở thành quốc gia thứ hai sau Hy Lạp buộc phải thực
hiện các biện pháp thắt chặt kinh tế để đổi lấy khoản cứu trợ khẩn cấp từ IMF và EU với
hi vọng sẽ giải quyết triệt để khủng hoảng nợ công, giảm mức thâm hụt ngân sách từ con
số kỷ lục 32% GDP hiện nay xuống mức 3% GDP và giảm tỷ lệ thất nghiệp từ trên 13%
hiện nay xuống dưới 10% vào năm 2014. Tháng 11/2010, IMF và EU đã đạt được đồng
thuận về gói giải cứu Ireland trị giá 85 tỉ Euro, số liệu tăng trưởng trong quý II/2011 của
Ireland là 1.6 % cho thấy kinh tế nước này đã tăng trưởng và củng cố thêm bằng chứng
rằng Ireland đang ở trong tình trạng tốt hơn nhiều so với Bồ Đào Nha và Hy Lạp. Tuy
nhiên, trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu ảm đạm thì những vấn đề của Ireland
chưa thể sớm kết thúc.
Và Tây Ban Nha là nạn nhân tiếp theo của cuộc khủng hoảng nợ công với bong
bóng nhà đất khổng lồ và các vấn đề liên quan đến các khoản nợ tăng lên với mức độ
chóng mặt. Hợp đồng bảo hiểm khả năng vỡ nợ (CDS) kỳ hạn 10 năm của trái phiếu
chính phủ Tây Ban Nha đã lên tới mức 312 điểm phần trăm, cao chưa từng có từ trước tới
nay. Như vậy, cứ 10 triệu Euro nợ dài hạn của Tây Ban Nha sẽ mất 312.000 Euro phí bảo
lãnh. Tại Tây Ban Nha, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 45% trong số lao động trẻ
Cuối cùng Italia. Italia hiện nằm ở trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công đang
hoành hành ở khu vực đồng euro mà đang có nguy cơ phá vỡ liên minh tiền tệ gồm 17
thành viên này. Trong thời gian gần đây, các mối lo ngại về việc Italia sẽ gặp khó khăn
trong thanh toán lãi suất cho khoản nợ công khổng lồ 1.900 tỷ euro của nước này đã khiến
chi phí vay mượn của Italia tăng lên các mức cao nguy hiểm vì nợ 1.900 tỷ euro của Italy

Trang 31
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

chiếm 25% tổng nợ của toàn thể 17 nước Eurozone. Theo Bộ trưởng Công nghiệp và Cơ
sở hạ tầng Italia Corrado Passera và một báo cáo của Nghiệp đoàn giới chủ công nghiệp
Italia (Confindustria) công bố ngày 15/12, nền kinh tế nước này giờ đây đã rơi vào tình
trạng suy thoái. Theo báo cáo của Confindustria nhận định khu vực đồng euro (Eurozone)
đang bước vào “một mùa đông suy thoái mà đã bắt đầu trước tiên ở Italia, và sẽ ngày càng
trở nên tồi tệ ở khu vực này”. Confindustria cũng cho biết thêm họ đã hạ thấp dự báo tăng
trưởng kinh tế cho Italia trong năm 2012 từ mức 0,2% trước đó xuống còn - 1,6%. . Ngoài
ra, giá trị tài sản của các hộ gia đình ở Italia, thường được coi như một chuẩn mực để
đánh giá sức mạnh kinh tế của nước này, đã sụt giảm trong vài năm qua, do cuộc khủng
hoảng nợ công đang hoành hành tại khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone). Trong
một báo cáo công bố ngày 14/12, Ngân hàng Trung ương Italia (BoI) cho biết tính đến
cuối năm 2010, giá trị tài sản ròng của các hộ gia đình ở nước này đã giảm 1,5% so với
cuối năm 2009 (tính theo các mức giá cố định), xuống còn 8,46 nghìn tỷ euro (11,2 nghìn
tỷ USD), và giảm 3,2% nếu so với cuối năm 2007.
Tuy nhiên, các tin tức gần đây cho rằng cuộc khủng hoảng nợ công tại khu vực
đồng euro (Eurozone) đang có dấu hiệu dịu bớt, nhờ Ngân hàng Trung ương châu Âu
(ECB) bơm hàng trăm triệu euro vào các ngân hàng khu vực và việc Liên minh châu Âu
(EU) mới đây nhất trí về một hiệp định tài chính mới.
Trước hết là việc Bồ Đào Nha đã quay lại thị trường trái phiếu chính phủ với
những phản ứng tốt hơn mong đợi lần đầu tiên trong năm nay. Lãi suất trái phiếu kỳ hạn
10 năm của Italia đã giảm từ mức đỉnh điểm ở khoảng 8% xuống 6%, còn lãi suất trái
phiếu cùng kỳ hạn của Tây Ban Nha giảm xuống mức dưới 5%. Thêm vào đó, những tiến
triển cũng xuất hiện ở trung tâm của cuộc khủng hoảng là Hy Lạp, với thỏa thuận hoán
đổi nợ giữa chính phủ nước này với các nhà tài trợ tư nhân nhằm tránh nguy cơ vỡ nợ đã
sắp đạt được. Hy lạp dự kiến, ngày 7/2, Thủ tướng tạm quyền Lucas Papademos sẽ có
cuộc gặp với thủ lĩnh ba chính đảng ủng hộ chính phủ liên minh để bàn thảo tiến triển đạt
được trong các cuộc đàm phán với "bộ tam" EU/ECB/IMF vừa qua và đề nghị ký dự thảo
bản ghi nhớ về các biện pháp kinh tế khắc khổ cần thiết để ký thỏa thuận tín dụng mới trị
giá 130 tỷ euro với các nhà tài trợ quốc tế, mở đường cho việc đạt được thỏa thuận cuối
cùng về việc thực hiện các điều kiện cần thiết để các chủ nợ tư nhân xóa gần 100 tỷ euro
tiền nợ cho Hy Lạp
Cuối tháng 12/2011, ECB đã cung cấp gần 500 tỷ euro (633 tỷ USD) các khoản
vay lãi suất thấp 1% trong thời hạn 3 năm cho các ngân hàng ở Eurozone. Nguồn tiền này
đã giúp làm giảm sức ép đối với các ngân hàng châu Âu và củng cố niềm tin của các thị
trường. Sau đó, tại hội nghị thượng đỉnh ngày 30/1 vừa qua, 25 trong số 27 nước thành

Trang 32
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

viên EU đã nhất trí thông qua một hiệp ước nhằm đảm bảo những nguyên tắc về thâm hụt
ngân sách và nợ công ngặt nghèo hơn. Đây là một bước quan trọng nhằm tăng cường sự
hội nhập kinh tế và tài chính cũng như siết chặt vấn đề quản lý ở Eurozone, điều sẽ có ý
nghĩa không nhỏ trong việc ổn định tình hình tài chính, kiểm soát nợ công và thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế trong khu vực.
Tuy nhiên, những dấu hiệu tích cực vẫn chưa đủ để xua tan lo ngại của giới phân
tích rằng cuộc khủng hoảng nợ tại Eurozone vẫn còn xa mới chấm dứt. Kinh tế châu Âu
vẫn đang đối mặt với nguy cơ tăng trưởng trì trệ hoặc suy thoái. IMF dự báo Eurozone sẽ
giảm 0,5% trong năm 2012 và có thể kéo toàn cầu rơi vào suy thoái. Các nhà lãnh đạo
châu Âu tại hội nghị thượng đỉnh vừa qua đã cam kết sẽ tập trung hơn nữa cho việc tạo
việc làm và khôi phục tăng trưởng kinh tế.
2.6 :
2.6.1 Hiện trạng nợ công của Việt Nam:
Tại Việt Nam thời gian qua, nợ công đã đáp ứng được nhu cầu bổ sung vốn cho
đầu tư phát triển và cân đối ngân sách nhà nước. Hiện tại, nợ công của Việt Nam vẫn
đang trong giới hạn an toàn, phần lớn các khoản vay nước ngoài của chính phủ có kỳ hạn
dài, lãi suất cố định ưu đãi.
Bảng 1: số liệu nợ công của Việt Nam giai đoạn 2006- 2010

2006 a 2007 a 2008 a 2009 b 2010 b 2011 c

Các chỉ tiêu tài


khóa ( tỉ đồng)

Tổng thu ngân 279,472 315,915 416,783 442,340 504,840 604,006


sách

Tổng chi ngân 308,058 399,402 494,600 544,575 726,308 726,308


sách

Bội chi ngân sách -28,586 -83,487 -77,817 -102,235 -116,414 -122,302

Nợ công 417,960 521,536 651,933 812,611 1,124,000 1,296,301

Các chỉ tiêu tài


khóa ( %/ gdp)

Trang 33
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Tổng thu ngân 28.7 27.6 28.1 26.7 25.4 27.2


sách

Tổng chi ngân 31.6 34.9 33.3 32.8 31.3 32.7


sách

Bội chi ngân sách -2.9 -7.3 -5.2 -6.2 -5.9 -5.5

Nợ công 42.9 45.6 43.9 49 56.6 58.4

a: thực tế, b: ước tính, c : dự đoán

(Nguồn Economist Intelligence Unit)


Qua bảng 1, ta thấy nợ công của Việt Nam không ngừng tăng lên qua các năm. Cụ
thể, năm 2006, nợ công của Việt Nam là 417.960 tỷ đồng, chiếm 42,9% GDP, đến năm
2011, nợ công lên đến 1,296,301 tỷ đồng, chiếm 58,4% GDP. Tình trạng nợ công liên tục
tăng làm cho yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý nợ công của Việt Nam cũng trở nên
cấp thiết. Theo IMF, mặc dù tỷ lệ nợ công của Việt Nam vẫn nằm trong tầm kiểm soát
nhưng đã trở nên cao so với tỷ lệ phổ biến 30- 40% ở các nền kinh tế đang phát triển mới
nổi khác ( xem bảng 2)
Bảng 2: Các chỉ tiêu giám sát về nợ nước ngoài giai đoạn 2005- 2009

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009

Tổng số dư nợ nước ngoài so 32.2 31.4 32.5 29.8 39.0


với GDP (%)

Nợ nước ngoài khu vực công 27.8 26.7 28.2 25.1 29.3
so GDP (%)

Nghĩa vụ trả nợ so với xuất 4.8 4.0 3.8 3.3 4.2


khẩu hàng hóa và dịch vụ (%)

Nghĩa vụ trả nợ so với thu 4.1 3.7 3.6 3.5 5.1


NHNN (%)

Dự trữ ngoại hối so với tổng dư 4,075.0 6,380.0 10,177.0 2,808.0 290.0
nợ ngắn hạn (%)

Trang 34
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Nghĩa vụ nợ dự phòng của 5.2 4.5 4.6 4.7 4.3


Chính phủ so thu ngân sách
nhà nước (%)

( Nguồn: Bộ tài chính)


Sự tăng cao của nợ công trong các năm này một phần cũng do Việt Nam chịu ảnh
hường từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới nên phải tăng chi tiêu công để kích thích kinh tế
vượt qua khủng hoảng. Hơn thế, trong thời gian qua, trong cấu trúc nền kinh tế, Việt Nam
tăng trưởng khá nóng ở một số ngành như : bất động sản, dầu khí, giao thông đường sắt,
đường bộ, điện hạt nhân… đặc biệt thu hút các nhà đầu tư nước ngoài trong khi một số
ngành kinh tế thực sự là tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam như nông nghiệp, thủy lợi,
công nghiệp, thủy hải sản… lại chưa được các nhà đầu tư chú trọng. Đây là một hạn chế
lớn của cơ cấu phát triển kinh tế nước ta hiện nay, điều này cũng gây một tác động tiêu
cực trở lại với vấn đề nợ công.
2.6.2 Tác động của khủng hoảng nợ đối với Việt Nam:
Triển vọng tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển và mới nổi nói chung và
Việt Nam nói riêng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng, do sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh
tế trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đối với Việt Nam, khủng hoảng nợ công có thể ảnh hưởng
đầu tiên là đến sản lượng vì hạn chế trong thương mại quốc tế, khả năng cạnh tranh và bội
chi ngân sách của Việt Nam. Vì biến động tỷ giá hối đoái EUR/USD và đặc biệt là sự suy
yếu của đồng euro là yếu tố bất lợi làm giảm khả năng cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu
được tính giá bằng USD (Đến thời điểm ngày 07/02/2012, đồng tiền chung của 17 nước
khu vực đồng euro giảm so với đồng yên do lo ngại lãnh đạo Hy Lạp sẽ không đạt được
thỏa thuận giúp nước này nhận được gói cứu trợ thứ 2 từ các chủ nợ quốc tế). Và với xu
hướng tăng nhanh của tỷ giá USD/VND như thời gian qua sẽ gây áp lực dẫn đến nợ công
ở mức cao sẽ kéo theo mức bội chi ngân sách lớn và dần dần sẽ trở thành gánh nặng cho
nền kinh tế.
 Tác động đối với xuất nhập khẩu:
Thị trường châu Âu hiện chiếm khoảng 20% tổng giá trị xuất khẩu của Việt nam,
đặc biệt là hàng dệt may. Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu sẽ có những tác động tiêu
cực đến xuất khẩu và tăng trưởng GDP của Việt Nam, với mức suy giảm khoảng 1,7%
GDP trong năm 2010, cao thứ ba chỉ sau Trung Quốc (2,8%) và Anh (1,9%). Các đơn đặt
hàng mua hàng Việt Nam từ châu Âu đã giảm đáng kể trong năm 2011.

Trang 35
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

Có thể thấy xuất nhập khẩu của VN sẽ chịu tác động lớn bởi lẽ: Kim ngạch xuất
khẩu của VN vào các nước Mỹ, Nhật, Châu Âu lên đến 50%. Đây là những nước đang đối
mặt với suy thoái kinh tế, kéo theo giảm cầu đầu tư và tiêu dùng, dẫn đến giảm cầu nhập
khẩu hàng đầu tư và tiêu dùng, do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu của
VN. Dưới tác động của cuộc khủng hoảng, thị trường xuất khẩu thế giới co lại và cạnh
tranh trên thị trường thế giới trở nên gay gắt hơn. Điều này dẫn đến việc thị trường xuất
khẩu của chúng ta sẽ bị thu hẹp lại.
Bảng 3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu
Đơn vị: triệu USD

Thị trường 2007 2008 2009 2010

Nhật Bản 6.090 8.468 6.336 7.728

EU 9.096 10.896 9.402 11.386

Mỹ 10.105 11.887 11.407 14.238

Tổng 48.561 62.685 57.096 72.192

Tỷ trọng 52,08% 49,85% 47,54% 46,2%

Nguồn: Tổng cục thống kê


Nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng do: VN phải nhập từ 70-80% nguyên vật liệu để sản
xuất và chế biến hàng xuất khẩu. Xuất khẩu giảm kéo theo nhập khẩu giảm. Vấn đề thật
sự lo ngại đối với VN là tình trạng nhập siêu: nhập khẩu giảm ít hơn so với xuất khẩu.
Điều này sẽ làm cho thâm hụt ngoại thương của VN gia tăng. Trong bối cảnh khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, điều này hoàn toàn không có lợi cho VN.
Bảng 4: Tình hình xuất nhập khẩu VN qua các năm
Đơn vị tính: tỷ đồng

Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân TM

2007 48,6 62,8 -14,2

2008 62,7 80,7 -18

Trang 36
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

2009 57,1 69,9 -12,8

2010 72,2 84,8 -12,6

Nguồn: Tổng cục thống kê


 Tác động đối với đầu tư trực tiếp:
Dòng FDI đổ vào VN sẽ giảm do: Mỹ, Nhật, Châu Âu là những vùng quốc gia có
đầu tư trực tiếp vào VN chiếm trên 50% đều rơi vào khủng hoảng và suy thoái. Khủng
hoảng tài chính toàn cầu khiến nhiều tổ chức tài chính gặp nhiều khó khăn. Việc này sẽ
làm cho nguồn tín dụng trở nên cạn kiệt dần, chí phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và kéo theo
nhiều hợp đồng tín dụng sẽ không được ký kết hoặc không được giải ngân trong khi đó
hơn 30% vốn FDI ở VN là vốn vay chứ không phải vốn cổ phần. Công ty có vốn FDI đầu
tư ở VN một phần là công ty thuộc các quốc gia ít nhiều bị ảnh hưởng của khủng hoảng
tài chính, một phần là các tập đoàn đa quốc gia hoạt động toàn cầu bị ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng.
Bảng 5: Tình hình vốn FDI qua các năm
Đơn vị: USD

Năm Số dự án cấp mới Vốn đăng ký mới

31/12/2007 1.544 18.718.404.516

19/12/2008 1.171 60.271.376.040

15/12/2009 839 16.345.400.000

21/12/2010 969 17.229.600.000

15/12/2011 1.091 11.558.550.000

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Đầu Tư Nước Ngoài


 Tác động đối với khu vực ngân hàng:
Theo đánh giá mới đây của hãng xếp hạng tín nhiệm Moody’s, cùng với các ngân
hàng tại Australia, New Zealand, Hàn Quốc thì ngân hàng Việt Nam cũng nằm trong
nhóm dễ bị ảnh hưởng nhất từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu. Hệ thống tài chính
của Việt Nam vẫn còn yếu và phụ thuộc vào các khoản vay USD giá rẻ nên tính thanh

Trang 37
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

khoản bị thắt chặt. Với mức độ và trình độ liên kết của các Ngân hàng thương mại VN
đối với hệ thống tài chính quốc tế còn rất hạn chế nên sẽ ít chịu tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên tình trạng khan hiếm tín dụng chắc chắn sẽ ảnh
hưởng tới khả năng và chi phí tiếp cận vốn của các Ngân hàng VN trên thị trường quốc
tế. Hơn nữa, tác động của khủng hoảng thế giới đối với khu vực sản xuất và xuất khẩu
của VN sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới sự lành mạnh của khu vực tài chính. Tình trạng giãn
nợ, đảo nợ, khoanh nợ sẽ trở nên trầm trọng thêm và xuất hiện thêm nhiều khoản nợ xấu.
Giá vàng bùng nổ hút vốn đầu tư: Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng
như một nơi trú ẩn an toàn trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan
rộng, làm cho giá vàng trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce.
Việc giá vàng tăng cùng với xu hướng tăng mạnh của đồng USD là điều ít khi xảy ra. Rất
có thể sẽ tăng tới một kỷ lục mới trong thời gian tới và tạo sự tách biệt hoàn toàn giữa
giá tài sản vàng và các tài sản khác. Điều này sẽ tác động xấu đến đầu tư toàn thế giới và
Việt Nam bởi một khi vàng chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của các tổ chức thì
cũng đồng nghĩa với việc các danh mục khác như cổ phiếu, trái phiếu sẽ bị giảm mạnh.
Như vậy, luồng vốn đầu tư gián tiếp càng trở nên hạn chế.
Tác động đến ngân sách của Việt Nam: Trong thời gian gần đây, Ủy ban Tài
chính - Ngân sách của Quốc hội đã đưa ra cảnh báo về mức dư nợ chính phủ và nợ quốc
gia đã tăng sát mức trần cho phép. Thâm hụt thương mại của Việt Nam luôn duy trì ở
mức cao và kéo dài. Một tỷ lệ khá lớn vốn tài trợ cho thâm hụt cũng đến từ bên ngoài,
trong đó số tiền vay nợ qua (ODA, vay thương mại, phát hành trái phiếu chính phủ quốc
tế) ngày càng lớn. Dù hiện tại tỷ lệ nợ công/GDP vẫn ở mức an toàn (dưới 50%), nhưng
tỷ lệ này đang ngày càng tăng nhanh và sẽ nhanh chóng tiệm cận mức giới hạn an toàn
50%. Tỷ lệ đầu tư/GDP trong những năm gần đây đều ở mức trên 40%. Đây là một tỷ lệ
rất cao so trung bình các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong số hơn 40% nói trên,
khoảng 27-30% được tài trợ bởi nguồn vốn tiết kiệm trong nước. Hơn 10% còn lại là từ
dòng vốn từ bên ngoài (FDI, FPI, ODA và các khoản vay khác), trong đó vốn vay chiếm
một tỷ lệ không nhỏ. Với việc dòng vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ quá lớn trong
cơ cấu vốn đầu tư, nền kinh tế Việt Nam sẽ rất dễ bị tổn thương một khi kinh tế thế giới
ngưng trệ.
 Tác động đến thị trường khác:
Mức lãi suất cao khiến việc vay mới và tài trợ nợ công trở lên đắt đỏ hơn, do vậy,
ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công. Bên cạnh đó, với Việt Nam gia nhập nhóm
nước có thu nhập trung bình, các khoản vay quốc tế ưu đã sẽ dần không còn nữa mà thay
vào đó là các khoản vay thương mại với lãi suất cao hơn nhiều. Những khó khăn của kinh

Trang 38
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

tế thế giới đã tác động làm tăng thêm những bất ổn kinh tế vĩ mô cho Việt Nam, đặc biệt
là tình trạng lạm phát. Ðồng thời những bất ổn về nợ công đã làm cho vai trò trú ẩn của
vàng và các ngoại tệ mạnh lại được tăng cường hơn nữa, không chỉ Việt Nam mà các
quốc gia khác trên thế giới đều tìm đến hai loại tài sản này để có được sự an toàn cần
thiết, điều này kéo theo hệ lụy là sự đóng băng trên hai thị trường là bất động sản và thị
trường chứng khoán. Do đó, từ bất ổn vĩ mô đã phát hiện nhu cầu cải cách cơ cấu thể chế
là điều cần thiết cho Việt Nam hiện nay để thoát khỏi những khó khăn này trong ngắn hạn
và đạt phát triển bền vững trong dài hạn.
Tác động của cơn khủng hoảng nợ công Âu châu và sự chậm lại của kinh tế toàn
cầu không thể nào xấu hơn lúc này, khi hệ thống ngân hàng VN đang gặp nhiều khó khăn
thanh khoản đáng kể và mới bị Standard&Poor’s xếp vào hạng có mức rủi ro cao nhất, và
khi Vinashin và 20 công ty liên hệ mới bị một ngân hàng quốc tế kiện ở London và đe dọa
dẫn đến một tình trạng đáng lo ngại trên thị trường trái phiếu quốc tế cũng như các đầu tư
FDI và FII nếu uy tín tài chính quốc gia trở nên xấu hơn. Do đó, sau những chấn động từ
cuộc khủng hoảng nợ công thế giới đang có xu hướng lan rộng sang một số quốc gia khác
khiến các nước, nhất là những nước có nợ công lớn và thâm hụt ngân sách kinh niên, mỗi
quốc gia cần phải thường xuyên đánh giá lại tình trạng tài khóa của nước mình để có
những biện pháp can thiệp kịp thời nhằm tránh những hậu quả nặng nề như một số các
nước châu Âu và Mỹ đang phải đối mặt. Tại Việt Nam, các nhà kinh tế và quản lý cần
phải có giải pháp để xây dựng một cơ cấu kinh tế phát triển phù hợp để đảm bảo “an toàn
“ cho nợ công và phát triển bền vững.
2.6.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong cuộc khủng hoảng nợ
công thế giới:
Trước hết, chúng ta phải xác định rõ mục tiêu tăng trưởng cao. Tăng trưởng cao
dẫn đến nợ nần là hoàn toàn sai lầm và không nên đặt ra tăng trưởng cao với bất kỳ giá
nào.
Thứ hai, không thể đổi tăng trưởng cao với mất ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ ba, không thể tạo mô hình tăng trưởng không có sự điều chỉnh dựa vào thực tế
tiến bộ khoa học công nghệ, tình hình cạnh tranh hội nhập trên thế giới, không có mô hình
nào đúng vĩnh viễn. Chúng ta phải tìm ra mô hình sáng tạo, phù hợp, không nên bám vào
những giáo điều xưa cũ.
Vấn đề mấu chốt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là phải
vay mượn, nhất là vay vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức, thì mới có nguồn đầu tư cho

Trang 39
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

tăng trưởng. Do đó, không lúc nào được lãng quên vấn đề sử dụng vốn vay có hiệu quả,
bởi đó là những đồng tiền vay mượn, phải trả lãi và đến hạn sẽ phải trả nợ.
Cuối cùng, một bài học lớn phải được rút ra trong suốt quá trình quản lý, ngăn
chặn bùng nổ nợ công, cho đến giải quyết hậu quả trong trường hợp vỡ nợ... là bài học “tự
lực cánh sinh”, tự mình làm, tự mình chịu, khi ấy sẽ biết quý và thận trọng từng đồng tiền
trong chi tiêu.

Trang 40
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ NHẬN XÉT


3.1. Kết luận:
Dựa trên các nghiên cứu đã trình bày ở trên, nhóm đã rút ra những nguyên nhân
chính dẫn đến cuộng khủng hoảng tại Khu vực Châu Âu hiện nay:
Thứ nhất, do nợ tại những nước này trở thành gánh nặng, không phải bởi sự hoang
phí của chính phủ mà bởi mỗi nước đều hưởng một thập kỷ lãi suất thấp và sau đó chịu
tác động nghiêm trọng bởi khủng hoảng tài chính. Tín dụng dễ dãi, các hộ gia đình và
công ty trong lĩnh vực tài chính mạnh tay vay nợ, tình trạng cho vay với tài sản dưới mức
tiêu chuẩn khiến cho tình hình tài chính trở nên nguy cấp do không có khả năng thu hồi
được nợ vay.
Lý do thứ hai của cuộc khủng hoảng này là trong cuộc khủng hoảng, tình trạng thất
nghiệp trở nên tồi tệ hơn, chi phí phúc lợi xã hội tăng cao. Chính phủ một số nước như
Ireland hay Tây Ban Nha cần phải tìm được nguồn tiền để vực dậy các ngân hàng. Khi
nguồn thu thuế hạn chế, chi phí đè nặng lên nhà nước. Mức chi phí này tăng cao đặc biệt
tại những nước từng chứng kiến bong bóng bất động sản bùng nổ.
Tại những nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu mà chính phủ của họ
không tiêu xài hoang phí, họ thường phải đối đầu với tình trạng thâm hụt tài khoản vãng
lai cao. Lãi suất thấp, chi tiêu nội địa và lạm phát lương, giá hàng hóa tăng mạnh, hàng
xuất khẩu trở nên đắt đỏ và hàng nhập khẩu rẻ.
Thứ ba, các chính phủ thu không đủ chi: các nhà phân tích kinh tế đều cho rằng,
khủng hoảng ở châu Âu là do chi tiêu của các chính phủ quá lớn,thậm chí còn cho rằng,
những chính phủ đó không có trách nhiệm khi quyết định chi tiêu quá lớn so với nền kinh
tế và tăng trưởng kinh tế của chính nước mình. Việc chi tiêu quá lớn đã tạo ra thâm hụt
ngân sách và khủng hoảng nợ công(lương cao cho các nhà chính trị, công chức, hệ thống
an sinh xã hội và lao động, chế độ nghỉ hưu sớm).
Thứ tư, vấn đề tổ chức tài chính và điều hành kinh tế của EU: Do vấn đề về cơ cấu
nên EU có hạn chế về điều hành nền kinh tế của Khối, các chính sách tiền tệ không đi
cùng với cải cách thu thuế và lao động. EU và Ngân hàng Trung ương Châu Âu(ECB)
cũng phản ứng chậm với các nền kinh tế khi gặp khủng hoảng. Bên cạnh đó, nhà kinh tế
học Joseph Stiglitz, người đoạt giải thưởng Nobel kinh tế năm 2001 cho rằng, các biện
pháp của các chính phủ hiện nay tập trung vào giảm thâm hụt ngân sách nên có thể đây
cũng là nguyên nhân làm gia tăng rủi ro.

Trang 41
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

3.2. Nhận xét về bài nghiên cứu của tác giả:


Cám ơn tác giả đã giúp nhóm cùng các bạn có cơ hội tìm tìm hiểu rõ hơn về cuộc
khủng hoảng Châu Âu và ảnh hưởng của nó. Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến những
nguyên nhân bên ngoài, tác động đến Châu Âu, trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra cuộc khủng
hoảng.
- Chiến dịch tấn công làm suy yếu đồng Euro: Ngay từ tháng 02/2010, Bộ trưởng
xây dựng Tây Ban Nha José Blanco cho rằng có một chiến dịch tấn công đồng Euro trên
các thị trường thế giới mà mục tiên nhằm vào Tây Ban Nha. Giới đầu cơ đang thực hiện
các chiến dịch nhằm hạ thấp đồng Euro và kiếm lời. Họ chủ yếu đầu cơ trong ngắn hạn.
Cũng có một số nhà kinh tế cho rằng cuộc khủng hoảng này do Anh và Mỹ tạo ra để
nhằm hạ đồng Euro. Bởi theo họ, Anh luôn khó chịu với đồng Euro, còn Mỹ thì cảm thấy
bị đồng Euro đe doạ, việc tấn công đồng Euro cũng để chuyển hướng dư luận về sự yếu
kém của đồng đô la Mỹ và đồng Bảng Anh.
- Hoạt động đầu cơ tài chính: Hiện tại Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đang
phải đối mặt với hoạt động đầu cơ tài chính rất cao. Những nạn nhân tiếp theo có thể sẽ là
Ireland và Italia. Khi cho rằng không thể ép kinh tế Hy Lạp hơn nữa, các nhà đầu cơ đã
quay sang tập trung chú ý vào Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Thực tế, nợ công được
thương lượng thông qua các ngân hàng tư nhân và giá do các ngân hàng này ấn định. Các
tổ chức tài chính như Alpha Bank, Bank of America-Merrill Lynch, ngân hàng thương
mại, ING và société Genérale có nhiều cơ hội đầu cơ. Phát khai hoả đầu tiên cho đầu cơ là
việc IMF đưa ra báo cáo ngày 22/4/2010, theo đó nền kinh tế Bồ Đào Nha đang xấu đi.
Kinh tế Bồ Đào Nha sẽ tăng trưởng thấp hơn dự báo và sẽ không giảm được thâm hụt:
thâm hụt công sẽ là 7,5% GDP, dự báp trước đó là 6,6% thất nghiệp sẽ ở mức từ 10-11%.
Hậy quả, các trái phiếu 10 năm của Bồ Đào Nha vược qua ngưỡng 4,77% và hiện Bồ Đào
Nha cùng Hy Lạp, Iceland là những nước chắn chắn không thực hiện giảm nợ công, mặc
dù nợ công của Bồ Đào Nha chỉ là 86% GDP. Hiện tại các luồng thông tin, tin đồn và dư
luận cho rằng nền kinh tế Tây Ban Nha là yếu kém và điều này đã làm cho thị trường
chứng khoán nước này sụt giảm nghiêm trọng. Sau Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,
Italia, Aixơlen, các nhà đầu cơ bắt đầu chĩa mũi nhọn vào Pháp. Việc làm này đã làm cho
thị trường ngoại hối giảm mạnh.
- Môi trường quốc tế không thuận lợi: Mỹ đe doạ đưa ra các số liệu tiêu cực của
các doanh nghiệp là cho thị trường chứng khoán Mỹ giảm. Tập đoàn đầu tư và đánh giá.
Moody’s “đổ thêm dầu vào lửa” khi cảnh báo tài chính công của Mỹ và Anh đang xấu đi.
Khi mối đe doạ khủng khoảng nợ công của Hy Lạp có thể lan sang các quốc gia khác như
Tây Ban Nha, Italia và Bồ Đào Nha… để đối phó với khủng khoảng, các nhà đầu tư buộc

Trang 42
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

phải rời khỏi các nước này, làm cho các nước rơi vào cảnh thiếu tiền. Vốn đầu tư bị rút
khỏi Hy Lạp không ngừng tăng. Chỉ tính riêng trong tháng 1/2010 đã có 8 đến 10 tỷ Euro
bị rút khỏi Hy Lạp, con số này cao hơn số tiền trái phiếu mà chính phủ Hy Lạp đã phát
hành
Âm mưu và ý đồ của giới tài phiệt tiếp tục gây áp lực lên thị trường tài chính nhằm
đầu cơ kiếm lời trong ngắn hạn. Gói cứu trợ 750 tỷ Euro có tác dụng trong ngắn hạn,
nhưng về trung hạn, nguy cơ tiềm ẩn vẫn còn cao, vẫn còn có nghi ngờ về các món nợ
công và sự bất ổn tài chính. Tình hình này có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế châu Âu,
nhưng cũng có thể gây ra hiệu ứng đối với cả thế giới.

Trang 43
Khủng hoảng Châu Âu: Từ các gân hàng và

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. “Thị Trường Tài Chính”- PGS.TS Bùi Kim Yến, TS. Nguyễn Minh Kiều
(2011), NXB Lao Động Xã Hội.
2. “Vũ Thành Tự Anh, bài báo “ Tính bền vững của nợ công ở Việt Nam” ,
2010
3. Afred Geiner and Bettina Fincke, “ Public debt and Economic growth”,
2009
4. www.taichinhquocte.com,.
5. www.atpvietnam.com
6. www.baodientu.chinhphu.com
7. www.sbv.gov.vn
8. www.taichinhthegioi.com
9. www.gocnhinalan.com.vn
10. www.dantri.com.vn.

Trang 44