You are on page 1of 33

MỤC LỤC

I – GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG ƯỚC……………………………2

II – NỘI DUNG CHÍNH CỦA CÔNG ƯỚC……………………………4

III - ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC TRÊN THẾ GIỚI………………………12

IV - HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI VIỆT


NAM……………………………………………………………………….15

V – VIỆT NAM VỚI CÔNG ƯỚC BASEL……………………………..17

VI - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ………………………………………………21

VII – PHỤ LỤC………………………………………………………....22

VIII – TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………..33

1
CÔNG ƯỚC BASEL VỀ KIỂM SOÁT VẬN CHUYỂN
VÀ TIÊU HUỶ CÁC CHẤT THẢI NGUY HẠI

I – GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG ƯỚC

Trước hết chúng ta tìm hiểu chất thải nguy hại là những chất như thế nào
và tại sao phải có công ước Basel về việc kiểm soát vận chuyển cũng như
việc tiêy hủy chúng.
Theo định nghĩa của UNEP( chương trình liên hợp quốc về môi trường) :
“Chất thải nguy hại là những chất thải dạng khí, lỏng, rắn có tính chất độc
hại đối với con người gây ngộ độc chết người, bệnh viêm nhiễm, bệnh ung
thư, gây quái thai, gây tác hại đến môi trường, như gây cháy nổ, ô nhiễm
phóng xạ, chất thải bệnh viện.”
Định nghĩa của Việt Nam: “ Chất thải nguy hại là các chất có chứa các
chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp dễ cháy,
dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm hoặc tương tác với các chất
khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người.”
Chất thải nguy hại là những chất độc hại, chúng có khả năng vận chuyển ,
ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường. Chúng là những chất có
khả năng cháy nổ, tính oxy hóa mạnh, tính phóng xạ cao vì vậy cần phải
kiểm soát chúng. Chúng đặc biệt nguy hại đến sức khỏe con người và môi
trường bởi lẽ với một lượng nhỏ có thể gây nên những tác hại xấu đến con
người như việc gây ra các bệnh như ung thư, quái thai và một số bệnh tật
khác.
Các bên tham gia công ước cũng ý thức được rằng việc vận chuyển các
chất nguy hại gây ra nhiều ảnh hưởng lớn vì vậy mà các quốc gia cần có kế
hoạch quản lý hợp lý đồng thời cũng như đề ra các biện pháp để hạn chế
giảm thiểu chúng. Mặt khác họ cũng thấy rõ sự đe dọa ngày càng tăng đối
với con người và môi trường vì vậy cần giảm thiểu việc sản xuất ra chúng và
ngăn ngừa việc lan truyền của chúng trong môi trường cũng như việc vận
chuyển xuyên quốc gia. Họ cũng tin tưởng rằng các quốc gia sẽ có những
biện pháp về việc quản lý vận chuyển các chất thải nguy hại và giám sát
những người sản xuất tuân thủ công ước này. Cũng ý thức được rằng việc
vận chuyển các phế thải nguy hại từ quốc gia sản sinh ra chúng đến bất kỳ
một quốc gia nào chỉ được phép vận chuyển trong những điều kiện bảo đảm
không gây bất cứ nguy hiểm nào cho con người và môi trường. Tính tới
tuyên bố của hội nghị liên hợp quốc về môi trường (Stockhomlm - 1972),
ngày 23-3-1989 công ước về việc vận chuyển và tiêu hủy các phế thải nguy
hại ra đời còn gọi là công ước Basel. Họ cũng tin tưởng rằng việc vận

2
chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và các phế thải khác phải hợp
lý về sinh thái, kiên quyết bằng việc kiểm soát chặt chẽ bảo vệ sức khỏe con
người và môi trường chống lại những hậu quả mà nguyên nhân là do các phế
thải nguy hại này gây ra.

3
II – NỘI DUNG CHÍNH CỦA CÔNG ƯỚC

Công ước Basel bao gồm 29 điều và 6 phụ lục dưới đây là tóm tắt nội
dung của công ước này:

Điều 1: phạm vi áp dụng của công ước

Những phế thải vận chuyển qua biên giới được coi là phế thải nguy
hiểm là những phế thải thuộc phụ lục I, hoặc được xác định bởi luật pháp
các nước xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh. Theo công ước này các chất
thuộc phụ bản II và là đối tượng của việc vận chuyển qua biên giới sẽ được
coi là phế thải khác. Các phế thải vì lý do phóng xạ sẽ phải tuân thủ các
công ước quốc tế khác thì không thuộc phạm vi áp dụng của công ước này,
và việc các chất thải bỏ từ các con tầu và việc vất bỏ phế thải cũng không
thuộc phạm vi công ước này.

Điều 2 : Các định nghĩa

Các phế thải là các chất hoặc là các đồ vật mà người ta tiêu hủy có ý định
tiêu hủy và tuân theo các điều khoản của quốc gia. Quản lý là việc thu thập
vận chuyển và tiêu hủy các phế thải nguy hiểm và việc vận chuyển các phế
thải nguy hại này từ các quốc qia đều phải tuân thủ những quy định của nhau
cũng như việc quá cảnh từ vùng này sang vùng khác. Tiêu hủy là mọi hoạt
động thuộc phụ bản IV của công ước này, địa điểm hoặc cơ sở nào đó được
chấp nhận tiêu hủy phải có giấy phép của các cơ quan có thẩm quyền. Quản
lý hợp lý về sinh thái của các phế thải nguy hiểm, đảm bảo không ảnh hưởng
đến sức khỏe con người và môi trường. Quốc gia xuất khẩu, nhập khẩu, quá
cảnh cũng như người xuất nhập khẩu, quá cảnh cần tuân theo những nội
dung của công ước này, họ phải chịu xử phạt trước pháp luật nếu vi phạm.

Điều 3 : Định nghĩa các quốc gia có phế thải nguy hiểm

Mỗi bên tham gia công ước phải thông báo cho ban thư ký công ước thời
hạn 6 tháng sau khi trở thành một bên tham gia công ước, các phế thải thuộc
phụ lục I và II được coi là phế thải nguy hiểm bởi luật quốc gia cũng như
các điều khoản liên quan đến việc vận chuyển qua biên giới áp dụng cho các
phế thải này. Mỗi bên tham gia công ước thông báo mọi sự thay đổi quan
trọng đồng thời ban thư ký cũng thông báo những thông tin cần thiết cho các
bên, các bên tham gia công ước này cũng chuyển những thông báo bởi ban
thư ký.

4
Điều 4: Nghĩa vụ chung

Các bên tham gia thực hiện quyền cấm việc nhập các chất thải nguy
hiểm hoặc các phế thải khác và phải thông báo cho các bên tham gia công
ước khác quyết định đúng theo điều 13.
Các bên tham gia không cho phép xuất khẩu các phế thải nguy hại
sang các nước khác và nếu muốn vận chuyển phải có các văn bản kèm theo,
các bên tham gia công ước cần phải có những quy định để:
Theo dõi việc sản sinh các phế thải nguy hiểm và các phế thải khác và
phải được giảm đến mức tối thiểu có tính đến việc xem xét các yếu tố khác
về kinh tế, chính trị, xã hội.
Bảo đảm thích hợp cho việc xây dựng các cơ sở tiêu hủy các cơ sở
này trong khuôn khổ cho phép và trong phạm vi một lãnh thổ.
Theo dõi các pháp nhân chịu trách nhiệm quản lý các phế thải nguy
hiểm và đề ra các biện pháp đề phòng ô nhiễm, theo dõi việc vận chuyển các
chất thải nguy hại qua biên giới phải giảm đến mức tối thiểu phù hợp với
việc quản lý phế thải mà không gây ảnh hưởng đến con người và môi
trường.
Cấm việc xuất nhập khẩu các phế thải nguy hại đã ghi trong phụ lục,
ngăn chặn việc nhập khẩu các phế thải nguy hại, đồng thời phải hợp tác với
các bên phải thông qua ban thư ký và phải phổ biến những kiến thức về việc
vận chuyển tiêu hủy các chất thải nguy hại.
Các bên tham gia công ước cho rằng việc vận chuyển bất hợp pháp
các phế thải nguy hiểm và các phế thải khác là hành vi phạm tội hình sự.
Mỗi bên tham gia công ước phải có những biện pháp pháp lý, hành
chính và các biện pháp khác cần thiết để thực hiện các điều của công ước và
xử phạt nếu làm trái với công ước này. Các bên tham gia thỏa thuận cấm
xuất các phế thải nguy hiểm và phải tiêu hủy chúng ở dưới vĩ độ 60 độ nam
bán cầu dù những phế thải này có là đối tượng của việc chuyên chở qua biên
giới hay không.

Điều 5: Chỉ định cơ quan có thẩm quyền và thông tin viên

Để tạo điều kiện dễ dàng cho các bên tham gia công ước:

1. Chỉ định hoặc thành lập hoặc nhiều cơ quan có thẩm quyền và một
thông tin viên. Một cơ quan có thẩm quyền được chỉ định để nhận
những thông báo trong trường hợp đó là quốc gia quá cảnh.

5
2. Thông báo cho Ban thư ký, trong thời hạn 3 tháng kể từ khi Công ước
có hiệu lực, những cơ quan mà các Bên tham gia chỉ định là cơ quan
có thẩm quyền hoặc là thông tin viên.

Thông báo cho Ban thư ký mọi sự thay đổi liên quan đến việc chỉ định theo
đoạn 2 trên đây, trong thời bạ một tháng kể từ ngày quyết định sự thay đổi
đó.

Điều 6: Vận chuyển qua biên giới giữa các bên tham gia công ước

1. Quốc gia xuất khẩu thông báo bằng văn bản qua cơ quan có thẩm
quyền của quốc gia xuất khẩu, cho cơ quan có thẩm quyền của các
quốc gia liên quan đến vận chuyển qua biên giới phế thải nguy hiểm
và các phế thải khác hoặc đòi hỏi người sản sinh hoặc xuất khẩu phế
thải phải làm như vậy. Nhưng thông báo đó chứa đựng những khai
báo tin tức theo quy định tại phụ lục V.A. bằng ngôn ngữ mà nước
nhập khẩu chấp nhận được. Mỗi quốc gia liên quan phải được nhận
một thông báo.
2. Quốc gia nhập khẩu thông báo lại bằng văn bản đã nhận được thông
báo cho người thông báo khẳng định sự đồng ý cho việc chuyên chở
với sự bảo lưu hoặc không bảo lưu, hoặc từ chối cho phép vận chuyển
hoặc yêu cầu thêm những thông tin. Một bản sao sự trả lời cuối cùng
của quốc gia nhập khẩu được gốc cho các cơ quan có thẩm quyền của
các quốc gia là các Bên tham gia liên quan.

3. Quốc gia xuất khẩu không cho phép người sản sinh ra phế thải hoặc
người xuất khẩu phế thải tiến hành vận chuyển qua biên giới trước khi
nhận được sự xác nhận bằng văn bản

Điều 7: Vận chuyển qua biên giới từ một quốc gia tham gia công ước qua
lãnh thổ các quốc gia không tham gia công ước

Điều 8: Nghĩa vị tái nhập khẩu

Điều 9: vận chuyển bất hợp pháp

Theo công ước này việc vận chuyển các phế thải nguy hại được coi là bất
hợp pháp khi :

Tiến hành mà không thông báo cho các bên tham gia công ước hoặc tiến
hành với sự đồng ý của các quốc gia do việc khai man, khai không đúng

6
hoặc rối trá, được tiến hành không phù hợp với giấy tờ hoặc đưa tới một nơi
tiêu hủy cố ý ( như đổ xuống một nới nào đó)

1. Một khi việc vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm hoặc
các phế thải khác được coi là chuyên chở bất hợp pháp do ý đồ của
người nhập khẩu hệ thống người tiêu huỷ, quốc gia nhập khẩu phải
giám sát để các phế thải, nếu có thể, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi
việc vận chuyển trái phép đã được lưu ý cho nước nhập khẩu hoặc
trong bất cứ thời hạn nào do các quốc gia liên quan thoả thuận. Ðể
nhằm mục đích này, các Bên liên quan phải hợp tác, tuỳ theo yêu cầu,
để tiêu huỷ các phế thải này theo phương pháp phù hợp với sinh thái.
2. Trong trường hợp không xác định được trách nhiệm về việc vận
chuyển bất hợp pháp cho người xuất khẩu hoặc người sản sinh ra phế
thải, cho người nhập khẩu hoặc người tiêu huỷ phế thải, các Bên liên
quan và các Bên khác, nếu có thể, phối hợp giám sát để bảo đảm rằng
các phế thải nguy hiểm phải được tiêu huỷ một cách nhanh nhất theo
các bảo đảm phù hợp với sinh thái tại quốc gia xuất khẩu, quốc gia
nhập khẩu hoặc bất cứ nơi nào có thể.
3. Mỗi Bên tham gia thông báo quy luật quốc gia thích hợp để cấm hoặc
trấn áp nghiêm ngặt việc vận chuyển bất hợp pháp. Các Bên tham gia
hợp tác để đạt đến các mục đích nêu trong Ðiều này.

Điều 10: hợp tác quốc tế

Các bên tham gia công ước hợp tác với nhau tăng cường và bảo đảm việc
quản lý phù hợp với sinh thái các phế thải nguy hiểm và các phế thải khác.
Thông báo yêu cầu trên cơ sở song phương và đa phương , hợp tác để theo
dõi ảnh hưởng của các phế thải này đến sức khỏe con người và môi trường
sống.

Điều 11: các hiệp định song phương, đa phương và khu vực

Điều 12 : tham khảo các vấn đề trách nhiệm

Các Bên tham gia hợp tác vận nhằm thông qua càng sớm càng tốt một Nghị
định thư thiết lập các thủ tục thích hợp về trách nhiệm và bồi thường thiệt
hại do việc vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và các phế thải
khác gây ra .

7
Điều 13 : thông báo tin tức

Mỗi khi biết tai nạn xảy ra khi vận chuyển các chất thải nguy hiểm các bên
cần thông báo ngay lập tức để tránh làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người
và môi trường xung quanh. Các bên tham gia thể theo luật pháp và thể lệ
quốc gia chuyển cho hội nghị các bên tham gia công ước , số lượng các phế
thải nguy hiểm và chủng loại nguồn gốc và biện pháp tiêu hủy đã được sử
dụng, cố gắng làm giảm khối lượng các phế tahir nguy hại. Đưa ra các thông
tin cần thiết về các số liệu thống kê, các luật định, thỏa thuận và nguyên tắc
vận chuyển các phế thải nguy hại.

Điều 14: vấn đề tài chính

Các bên tham gia sẽ thỏa thuận, tùy theo yêu cầu của từng khu vực, trung
tâm chuyển giao kỹ thuật để quản lý các chất thải theo nguyên tắc tự
nguyện. Các bên tham gia dự định sẽ thành lập quỹ thường xuyên để giúp đỡ
một cách tạm thời nhằm đối phó với tình hình khẩn cấp hạn chế thiệt hại do
chất thải gây ra.

Điều 15 Hội Nghị các bên tham gia

1. Hội nghị các Bên tham gia đã được quy định phiên đầu tiên của Hội
nghị các Bên tham gia sẽ được Tổng thư ký soạn thảo chương trình
môi trường của Liên Hợp Quốc triệu tập muộn nhất là một năm kể từ
khi Công ước có hiệu lực. Tiếp đó, các phiên họp thường kỳ sẽ được
triệu tập theo định kỳ do Hội nghị các Bên tham gia quyết định tại
phiên họp đầu tiên.
2. Các phiên họp bất thường có thể được triệu tập bất kỳ khi nào nếu Hội
nghị thấy cần thiết, hoặc theo yêu cầu cấp thiết của một Bên tham gia
và phải được sự ủng hộ ít nhất của 1/3 các Bên tham gia trong vòng
sáu tháng khi Ban thư ký thông báo yêu cầu trên.
3. Hội nghị các Bên tham gia sẽ xác định và thông qua bằng nhất trí nội
quy của mình và nội quy của tất cả các cơ quan trực thuộc mà Hội
nghị thành lập cũng như quy chế tài chính, ấn định sự đóng góp tài
chính của các Bên tham gia thể theo Công ước này.
4. Tại phiên họp đầu tiên, các Bên tham gia đã xem xét tất cả các biện
pháp bổ sung cần thiết để giúp các Bên tham gia hoàn thành trách
nhiệm về việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trong khuôn khổ
Công ước này.

8
5. Hội nghị các Bên tham gia thường xuyên xem xét việc thực hiện Công
ước này.

Điều 16 : Ban thư ký

Chức năng của ban thư ký:

Tổ chức các cuộc họp theo điều 15 và 17, xây dựng và chuyển các báo cáo
dưa trên thông tin của các điều khoản khác, xây dựng các báo cáo về hoạt
động của mình do công ước quy định và hội nghị các bên tham gia. Bảo đảm
sự phối hợp cần thiết với các tổ chức quốc tế, liên hệ với các thông tin viên
và các cơ quan chức trách. Theo yêu cầu của các bên tham gia cung cấp
những thông tin cần thiết cho các bên liên quan kiểm tra việc vận chuyển các
phế thải nguy hại và các loại chất thải khác. Hợp tác với các bên tham gia
với các tổ chức và các cơ quan quốc tế khác.

Điều 17 : Bổ sung công ước

Tất cả các bên tham gia đều có thể đề nghị bổ sung và tất cả các bên tham
gia đều có thể bổ sung vào nghị định thư này. Các điểm bổ sung vào công
ước này đều được thông qua trong các phiên họp của hội nghị các bên tham
gia và các bên tham gia không từ bỏ bất cứ một cố gắng nào để đạt tới sự
nhất trí thỏa thuận của các điểm bổ sung. Các phê chuẩn, thông qua, xác
nhận chính thức hoặc chấp nhận các điểm bổ sung sẽ được lưu chuyển bên
cạnh người lưu chuyển.

Điều 18: Thông qua và bổ sung các phụ bản

1. Các phụ bản của Công ước này hoặc của các Nghị định thư liên quan
là bộ phận không thể tách rời của Công ước hoặc Nghị định thư đã
nêu và trường hợp có quy định khác, mọi sự tham chiếu tới Công ước
này hay tới các Nghị định thư đã nêu là tham chiếu các phụ bản nêu
trên phải hạn chế trong các vấn để khoa học, kỹ thuật và hành chính.
2. Trừ khi có quy định khác trong các Nghị định thư đối với các phụ bản,
việc đề nghị thông qua và có hiệu lực các phụ bản bổ sung vào Công
ước hoặc Nghị định thư liên quan phải do các thủ tục sau chỉ đạo:

Điều 19: việc kiểm tra

Tất cả các Bên tham gia khi có lý do để tin rằng một Bên tham gia khác
hành động hoặc đã hành động vi phạm nghĩa vụ do các điều khoản của Công

9
ước quy định thì có thể báo cho Ban thư ký và trong trường hợp này báo
đồng thời và ngay lập tức trực tiếp hoặc qua Ban thư ký, Bên tham gia là đối
tượng của việc khuyến cáo. Mọi thông tin thích hợp phái được Ban thư ký
chuyển tới các Bên tham gia.

Điều 20: Giải quyết tranh chấp

Nếu như có sự tranh chấp giữa các bên tham gia về việc giải thích thực
hiện hoặc tôn trọng công ước này hoặc các nghị định thư liên quan thì các
bên cố gắng giải quyết và thương lượng với nhau. Nếu các bên tham gia
không giải quyết được sẽ có luật định kèm theo các điều khoản liên quan.
Cuối cùng thì phải ra tòa án quốc tế và ra cơ quan trọng tài phù hợp với các
thủ tục đã nêu trong phụ bản VI.

Điều 21 : ký kết

Công ước này sẽ được tổ chức cho các quốc gia, Namibia do Hội đồng các
dân tộc Namibia đại diện và các tổ chức nhất thể hoá chính trị và kinh tế ký
ở Basel ngày 23-3-1989 tại Bộ Ngoại giao Thuỵ Sĩ ở Berne từ 23-3 đến 30-
6-1989 và ở trụ sở Liên Hợp Quốc tại New York từ 1-7-1989 đến 22-3-1990.

Điều 22: Phê chuẩn, chấp thuận, xác nhận chính thức hoặc thông qua

1. Công ước này phải được các quốc gia và Namibia do Hội đồng dân
tộc Namibia đân tộc Namibia đại diện, phê chuẩn, chấp thuận hoặc
thông qua cũng như phải được các tổ chức nhất thể hoá chính trị hoặc
kinh tế xác nhận chính thức hoặc thông qua. Văn kiện phê chuẩn, chấp
thuận chính thức hoặc thông qua phải được người lưu chiểu cất giữ.
2. Tất cả các tổ chức nêu ở đoạn 1 trên đây trở thành Bên tham gia Công
ước và mặc dù không có quốc gia nào của tổ chức đó là 1 Bên tham
gia cũng phải thực hiện tất cả nghĩa vụ ghi trong Công ước. Khi một
hoặc nhiều quốc gia thành viên của một trong số các tổ chức này là
các Bên tham gia Công ước, tổ chức đó và thành viện của tổ chức đó
thoả thuận về trách nhiệm riêng trong việc thực hiện các nghĩa vụ ghi
trong Công ước. Trong những trường hợp như vậy, tổ chức đó và các
thành viên của nó không thể cùng lúc hưởng quyền lợi ghi trong Công
ước.
3. Trong các văn kiện xác nhận chính thức hoặc thông qua của họ, các tổ
chức nêu trong đoạn 1 trên đây, cần chỉ rõ phạm vi quyền hạn trong
các lĩnh vực do Công ước quy định. Các Tổ chức này cũng thông báo

10
mọi sự thay đổi quan trọng về phạm vi quyền hạn cho người lưu chiểu
và người lưu chiểu sẽ thông báo cho các Bên tham gia Công ước.

Điều 23 : Gia nhập

Điều 24 : quyền bỏ phiếu

Điều 25 Hiệu lực 1

Ðiều 26

1. Không được bảo lưu hoặc bãi bỏ nào được thực hiện đối với Công
ước này.
2. Ðoạn 1 của Ðiều này không ngăn cản một quốc gia hoặc 1 tổ chức
nhất thể hoá kinh tế hoặc chính trị trong khi ký, phê chuẩn, chấp nhận
hoặc thông qua hoặc xác nhận chính thức Công ước này hoặc gia nhập
được tuyên bố hoặc trình bày, dù tên gọi thế nào, sẽ làm hài hoà luật
pháp và thể lệ của mình với các điều khoản của Công ước này, với các
điều kiện là những tuyên bố hoặc trình bày này không nhằm huỷ bỏ
hoặc thay đổi hiệu lực pháp lý của các điều khoản của Công ước áp
dụng với quốc gia đó.

Điều 27 : Từ bỏ công ước

1. Sau thời hạn 3 năm kể từ ngày Công ước này có hiệu lực đối với 1
Bên tham gia, Bên tham gia này bất cứ lúc nào cũng có thể từ bỏ việc
tham gia Công ước bằng cách thông báo bắng văn bản cho người lưu
chiểu.
2. Việc từ bỏ tham gia Công ước sẽ có hiệu lực sau 1 năm kể từ ngày
người lưu chiểu nhận được thông báo hoặc bất cứ ngày nào sau đó đã
được nêu trong thông báo.

Điều 28 : Người lưu chiểu

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc là người lưu chiểu Công ước này và các nghị
định thư liên quan.

Ðiều 29

11
Các văn bản bằng tiếng Anh, ả Rập, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Pháp, Nga
của Công ước này đều có giá trị như nhau. Ðể làm tin, những người có tên
dưới đây là đại diện có đầy đủ uỷ quyền các ý Công ước này.

III- ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Chúng ta cần nhận thức được rằng các thoả thuận toàn cầu về buôn
bán rác thải đã thất bại. Đầu những năm 1990 thế giới đã cố gắng "vá
víu"công ước Basel, sau cú sốc chứng kiến các tàu loại như Le Clemenceau
chở rác thải đi từ nước này sang nước khác để tìm chỗ đổ chất thải.

Theo công ước Basel, việc nhập khẩu các loại tàu cũ để phá dỡ thực chất là
một hình thức nhập chất thải vào nước nhập khẩu. Hơn nữa, chất thải ở đây
là "chất thải kim loại độc hại". Chính vì vậy, từ ngày 1 tháng 1 năm 1998,
công ước Basel đã cấm xuất khẩu từ các nước EU đến các nước không thuộc
Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế(OECD) những loại tàu để phá dỡ trong đó
có chứa amiăng, asen, PCBs, kim loại nặng và sơn có chứa TBT.

Qui định của EU: Qui chế của Cộng đồng châu Âu (EEC) số 259/93 ngày
1/2/1993 là về việc kiểm soát và theo dõi tất cả các hành động vận chuyển
chất thải giữa các nước EU và các nước ngoài EU. Như vậy, các tàu cũ đưa
đi phá dỡ cũng thuộc diện phải chịu sự kiểm soát và theo dõi của Qui chế
này.

Qui định của các quốc gia:

a. Các nước công nghiệp phát triển: Các nước này có rất nhiều qui định,
hướng dẫn cụ thể và nghiêm ngặt đối với công nghiệp phá dỡ tàu. Thí dụ ở
Đức, Luật quản lý chất thải và bảo tồn nguyên liệu qui định rõ những chất
thải có chứa các chất như asen, kim loại nặng, sơn dầu, cặn dầu, amiăng...
cần phải được kiểm soát nghiêm ngặt và có biện pháp xử lý, tiêu huỷ đảm
bảo vệ sinh môi trường. Hơn thế nữa, khi tàu nhập vào Đức để phá dỡ phải
tuân thủ nghiêm ngặt Luật về kiểm soát khí thải, Luật về đánh giá tác động
môi trường. Đặc biệt, Luật về hoá chất của Đức cũng nghiêm cấm việc
sửdụng các hợp chất có chứa amiăng, asen, carbonate chì và sulfat chì,
PCBs, các hợp chất hữu cơ như TBT....

b. Các nước trong khu vực châu á: Các nước trong khu vực này là thành viên
của công ước Basel đều có đưa các yêu cầu trong các qui định luật pháp của
mình về việc phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều khoản của công ước . Tuy
nhiên có một thực tế là trong khu vực này, hệ thống luật pháp bảo vệ môi

12
trường cũng như các văn bản pháp qui liên quan đến việc quản lý các chất
thải nguy hại nói chung và công nghiệp phá dỡ tàu nói riêng còn chưa hoàn
chỉnh, còn có nhiều lỗ hổng do đó đã bị các các nhà đầu tư nước ngoài lợi
dụng, nhập khẩu các loại tàu có chứa các chất độc hại vào các nước trong
khu vực để phá dỡ.

Khi đó các nước công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ và cũng đang
thải ra rất nhiều rác thải. Họ cần có các bãi thải rẻ. Châu Phi là vùng đất
được họ ưu tiên với những chuyến vận chuyển lén lút và công khai chất thải
độc hại của Phương Bắc giàu có đến lục địa nghèo khó này.

Cả thế giới bị sốc về sự thật này. Vì vậy, người ta quyết định xây dựng
một thoả thuận nhằm kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới đối với chất
thải nguy hại. Đó thật là một ý đồ quả cảm - ngăn chặn toàn bộ việc buôn
bán chất thải độc hại. Nhưng dần dần sự nhiệt tình "xanh" đã phải nhường
chỗ cho thực tiễn "nâu". Người ta đã thoả thuận rằng các nước có khả năng
xử lý chất thải cần được cho phép buôn bán thứ hàng bẩn này. Câu lạc bộ
các nhà quản lý chất thải giàu có, bao gồm các nước OECD và các nước
Châu Âu khác, được hình thành để chia thế giới hành 2 nửa với một bên là
các nước có thể xử lý và một bên là các nước không thể xử lý chất thải.
Trong hệ thống phân chia đẳng cấp theo chất thải này, những quốc gia nghèo
hơn muốn trèo lên các nấc thang chất thải giàu có đều bị ngăn cản.

Sau cùng, chất thải cũng là một loại tài nguyên và vì vậy người ta đã
thỏa thuận rằng cần phải cho phép mua bán với mục đích tái sử dụng hoặc
tái chế. Điều mỉa mai là chính những nước nghèo trước đây yêu cầu cấm
buôn bán các chất độc hại bây giờ lại muốn việc buôn bán này được tiếp tục.
Họ tạo ra thị trường cho chất thải bởi vì họ có thể xử lý loại chất bẩn này để
thu hồi nguồn nguyên liệu, từ giấy cho đến kim loại thải.Thế giới giàu, cùng
với tất cả ý thức đạo đức xanh của họ, cũng cần đến các phương thức hiệu
quả về chi phí để xử lý rác thải độc hại và không-độc-hại-lắm của họ.

Như vậy, người ta bắt đầu né tránh các ràng buộc của công ước Basel.
Người nghèo trở thành tấm chắn cho người giàu, giống như nhiều vấn đề
môi trường khác, và người ta đã thỏa thuận cho phép buôn bán chất thải độc
hại khi phục vụ mục tiêu tái sử dụng và với điều kiện các thiết bị tái chế chất
thải đảm bảo được các tiêu chuẩn môi trường.

Giữa những năm 1990 người ta đã quyết định rằng, do không thể bảo
đảm được việc giám sát thường xuyên các "thiết bị xử lý xanh" này nên việc

13
xử lý trên cần bị cấm. Nhưng văn bản cấm này chưa bao giờ được ban hành
bởi vì nó sẽ đụng chạm đến quyền lợi của các nhà sản xuất chất thải giàu và
các nhà thu thập rác nghèo. Điều đáng chú ý là tất cả các nỗ lực nhằm buộc
người giàu "có trách nhiệm pháp lý" đối với sự tuân thủ đều thất bại giống
hệt như các nỗ lực nhằm tối thiểu hóa việc sản xuất chất thải nguy hại.

Như vậy công ước là về điều chỉnh buôn bán chất thải độc hại. Nhưng
cả ở đây nó cũng bị thất bại thảm hại. Các đồng nghiệp của tôi đã lục lọi các
dữ liệu do các nhân viên hải quan mẫn cán thu thập được về các hàng hóa
nhập khẩu. Họ đã phát hiện ra rằng Ấn Độ tiếp tục là đích đến ưu tiên của
các loại rác thải và hàng bẩn, từ thủy ngân cho đến tro của các lò đốt. Ấn Độ
nhập khẩu cả chất thải y tế mà chính các nhân viên hải quan nói rằng nó có
thể bị nhiễm các nguồn bệnh. Trong khi đó bản thân Ấn Độ chưa thể xử lý
chất thải của nước mình.

Chính phủ Ấn Độ nói rằng việc buôn bán tất cả các chất thải nguy hại
vào Ấn Độ đều bị cấm. Các nhà xuất khẩu chất thải Châu Âu và Mỹ nói rằng
họ tuân thủ Công ước Basel và không tham gia buôn bán "hàng bẩn". Như
vậy tại sao điều này lại xảy ra?

Ta hãy lấy ví dụ về thủy ngân. Ấn Độ đang nhập khẩu một lượng lớn
thủy ngân từ Châu Âu và Mỹ. Vấn đề là ở chỗ thủy ngân bị cấm buôn bán
khi nó là chất thải hoặc có chứa trong chất thải khác. Nhưng các nước giàu,
đang loại bỏ thủy ngân do các quan ngại về sức khỏe, lại "bán" các kho thủy
ngân đã bị thải loại như là thủy ngân mới. Sự không chân thật tiếp tục được
phơi bày. Thật đáng xấu hổ.

Ví dụ khác về tro từ lò đốt hoặc phế liệu kim loại. Nhà nhập khẩu Ấn
Độ khi mua các loại hàng bẩn này từ Mỹ hoặc Ôxtrâylia viện lý do rằng
nhập khẩu phục vụ việc tái sử dụng, nhằm thu hồi các kim loại "quý" cho
nền kinh tế Ấn Độ. Việc buôn bán này không bị coi là nguy hại ở Ấn Độ.
Những nhà sản xuất chất thải ở các nước giàu không thể bán loại tro này.
Nhưng các nhà sản xuất Ấn Độ thì lại được phép.

Chính phủ nói rằng họ giám sát tất cả các chất độc hại nhập khẩu với
mục đích tái sử dụng nhưng họ không thể giải thích cho bạn chất thải đang
đi về đâu: nó nằm trong sản phẩm hay bị vứt bỏ ở nơi nào đó trong nước.
Điều này làm bảng liệt kê các chất độc hại trở nên không đầy đủ và bóp méo
định nghĩa về sự nguy hại.

14
Mua bán chất thải kiểu này là công việc bẩn thỉu. Để loại bỏ sự bẩn
thỉu này cần có những nỗ lực thường xuyên nhằm cảnh báo trước về sự cập
bến của những con tàu kiểu Le Clemenceu.

IV - HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI VIỆT


NAM

Nguồn phát sinh chất thải rắn tập trung chủ yếu ở những đô thị
lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…

Các khu đô thị tuy chỉ chiếm 24% dân số của cả nước, nhưng lại phát sinh
đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (gần bằng 50% tổng lượng chất thải
của cả nước). Nguyên nhân chính là do số dân tập trung cao, nhu cầu tiêu
dùng lớn, hoạt động thương mại đa dạng và tốc độ đô thị hoá cao. Chất thải
ở đô thị thường có những thành phần nguy hại lớn, như các loại pin, dung
môi sử dụng trong gia đình và chất thải không phân huỷ như nhựa, kim loại
và thuỷ tinh.

Hiện nay, khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp
phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền
Nam, trong đó, 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở
thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, 30% còn lại phát sinh ở vùng
đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Thêm vào đó, gần 1.500 làng nghề
(tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn miền Bắc) thải ra 774.000 tấn chất
thải công nghiệp mỗi năm.

Trong các loại chất thải , chất thải nguy hại là mối hiểm hoạ đặc biệt.
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp (với
130.000 tấn/năm) và các bệnh viện (21.000 tấn/năm). Theo thống kê, lượng
chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước.
Trong khi đó, lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ thành phố Hồ Chí
Minh, Hà Nội và Thanh Hoá chiếm 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại
của cả nước.

Xử lý chất thải, bao gồm các hoạt động tái sử dụng, tái chế, thu gom,
xử lý tiêu huỷ là khâu rất quan trọng có tính quyết định đối với việc tạo lập
một hệ thống quản lý chất thải hiệu quả, để giảm thiểu các rủi ro đối với môi

15
trường và sức khoẻ con người. Mặc dù những năm gần đây, hoạt động của
nhiều công ty môi trường đô thị tại các địa phương đã có những tiến bộ đáng
kể, phương thức tiêu huỷ chất thải sinh hoạt đã được cải tiến, nhưng chất
thải vẫn là mối hiểm hoạ đối với sức khoẻ và môi trường.

Từ trước tới nay, phần lớn chất thải sinh hoạt ở nước ta không được
tiêu huỷ một cách an toàn. Hình thức tiêu huỷ chất thải phổ biến vẫn là đổ ở
bãi rác lộ thiên. Trong số 91 điểm tiêu huỷ chất thải trong cả nước, chỉ có 17
điểm được đánh giá là hợp vệ sinh. Còn lại, các bãi rác chôn lấp được vận
hành không đúng kỹ thuật và bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn đề môi trường
cho dân cư quanh vùng, như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặn và nước
ngầm, gây ô nhiễm không khí, là ổ phát sinh ruồi, muỗi, chuột, bọ…

Tuy đã có nhiều nỗ lực nhưng nước ta còn thiếu các hệ thống xử lý


chất thải công nghiệp nguy hại và các cơ chế khuyến khích việc thực hiện
những biện pháp tiêu hủy an toàn. Hiện tại, tổng mức đầu tư cho việc trang
bị các lò đốt rác thải đã có thể tiêu huỷ khoảng 50% tổng lượng chất thải y tế
nguy hại của cả nước. Do thiếu kinh nghiệm vận hành, bảo dưỡng lò đốt dẫn
tới tình trạng không vận hành lò đúng theo quy trình kỹ thuật, làm tăng các
loại khí độc hại hoặc thực hiện tiêu hủy giống như các chất thải thông
thường khác.

Như vậy, nếu xét theo năng lực hiện có và mức độ phát triển các đô
thị và khu công nghiệp, nhu cầu về quản lý chất thải rắn ở nước ta là rất lớn.
Việc hạn chế lượng chất thải rắn phát sinh từ nguồn đã khó, việc quản lý và
xử lý chất thải rắn khi đã phát sinh càng khó hơn.

16
V – VIỆT NAM VỚI CÔNG ƯỚC BASEL

Việt nam là một thành viên của công ước Basel, việc áp dụng công ước
này là hết sức cần thiết, bởi hiện nay có rất nhiều nơi vi phạm công ước này,
vi phạm pháp luật môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và
môi trường sống của chúng ta.

Điển hình ta có thể thấy việc xuất nhập khẩu acquy chì, đây là một trong
những loại chất thải rất nguy hại, vì vậy việc kiểm soát chúng là vô cùng cần
thiết.

Việc nhập khẩu ắc quy chì axít phế thải tại cảng Hải Phòng

Tại báo cáo số 742/HQHP-PNV ngày 21/2/2006 số lượng ắc quy chì phế
thải làm thủ tục thông quan từ năm 2003 đến nay của 50 doanh nghiệp
(thuộc đủ các thành phần kinh tế) là 39.618 tấn, 2.278 container và 830.486
chiếc. Số ắc quy chì phế thải tồn đọng tại cảng đến ngày 17/2/2006 là 39
container, ít hơn 61 container so với báo cáo số 6300/HQHP/PNV-T1 ngày
7/12/2005 là 100 container. Trước đó, Cục Hải quan Hải Phòng đã có công
văn số 147 ngày 24/11/2005 yêu cầu các Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng
Hải Phòng thông báo cho các doanh nghiệp có hàng phế thải là ắc quy chì đã
qua sử dụng khẩn trương tái xuất khỏi Việt Nam. UBND thành phố Hải
Phòng kiên quyết chỉ đạo: Việc để số ắc quy chì phế thải được vận chuyển
khi chưa được phép bằng văn bản của cơ quan Nhà nước về bảo vệ môi
trường cấp TW là vi phạm pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và công
ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Do đó, UBND thành phố Hải Phòng yêu
cầu đến hết ngày 28/2/2006 phải tái xuất hoàn toàn số hàng hóa phế thải độc
hại này ra khỏi Việt Nam. Qua 1 tháng triển khai thực hiện, đến hết ngày
28/3/2006, vẫn còn 53 container nằm tại cảng Hải phòng (kể cả 14 container
cho tái xuất nhưng bị trả về).

Hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam...

Việc các doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập, tái xuất hoặc chuyển khẩu
ắc quy chì phế thải mà không xin phép các cơ quan nhà nước là vi phạm
pháp luật Việt Nam. Luật BVMT 1993 quy định: nghiêm cấm nhập khẩu,
xuất khẩu chất thải. Ngoài ra, trong Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu ban

17
hành kèm theo Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 của Thủ
tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001-
2005 có quy định cấm nhập khẩu phụ tùng ô tô, máy kéo và xe hai bánh, ba
bánh đã qua sử dụng (trong đó có ắc quy chì a xít), việc kinh doanh tạm
nhập tái xuất hoặc chuyển khẩu các mặt hàng trong Danh mục hàng hóa cấm
nhập khẩu phải xin phép Bộ Thuương mại. Đặc biệt, ắc quy chì a xít thải bị
liệt kê trong danh mục các chất thải nguy hại của công ước Basel và Quy chế
quản lý chất thải nguy hại, ban hành theo Quyết định 155/1999/QĐ-TTg
ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ (Mục A1160- ắc quy chì axít thải,
còn nguyên vẹn hoặc bẹp vỡ). Điều 14 của Quyết định ghi rõ: “Việc vận
chuyển quá cảnh chất thải nguy hại qua lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả nội
thủy và lãnh hải phải có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà
nước về môi trường TW và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan hữu
quan theo đúng pháp luật Việt Nam về hàng hóa quá cảnh. Việc vận chuyển
chất thải nguy hại qua vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam phải được
thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường TW Việt Nam”.

...Và vi phạm công ước Basel

Nguồn gốc của chất thải này là từ các nước phát triển, muốn loại bỏ chất
thải mà không muốn phải đầu tư tiền bạc,công sức ra để xử lý vì giá thành
xử lý còn cao hơn so với việc “đẩy” sang nước khác. Việc làm này đã vi
phạm công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới chất thải
nguy hại và tiêu hủy chúng - Việt Nam là thành viên của công ước.

Tại Điều 4, khoản 1, mục C nêu rõ: “Các bên phải cấm hoặc không cho
phép xuất khẩu những chất thải nguy hại và những chất thải khác nếu quốc
gia nhập khẩu từ chối bằng văn bản đối với việc nhập khẩu cụ thể này trong
trường hợp quốc gia nhập khẩu chưa cấm nhập các loại chất thải này”. Theo
công ước Basel thì việc vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới phải
được sự đồng ý chấp thuận bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về
BVMT nước nhập khẩu chất thải nguy hại và các nước quá cảnh. Tại điểm
A1010, Danh mục A- phụ lục VIII của công ước Basel ghi rõ: kim loại và
chất thải kim loại nguy hại có chì phế thải.

Cơ quan chức năng vào cuộc

Từ giữa năm 2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT- Cơ quan


đầu mối công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các chất
thải nguy hại và tiêu hủy chúng) nhận được thông tin từ cơ quan có thẩm

18
quyền công ước Basel của Nhật Bản, Hồng Kông về việc một số doanh
nghiệp nhập khẩu ắc quy chì a xít phế thải vào Việt Nam. Ngay sau khi nhận
được tin, ngày 5/8/2005, Bộ TN&MT gửi công văn số 3160/BTNMT-
BVMT đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo các cơ quan Hải quan thực hiện
đúng các quy định của pháp luật trong việc quản lý chuyển khẩu, tạm nhập
tái xuất các chất phế thải.

Bộ TN&MT đã phối hợp và cung cấp các căn cứ pháp luật cho Cục Điều
tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) và Cục Cảnh sát điều tra tội phạm
kinh tế và chức vụ (C15- Bộ công an) để tiến hành điều tra sự việc. Văn
phòng giúp việc Ban chỉ đạo 127/TW cũng đã tổ chức cuộc họp với các cơ
quan có liên quan và báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Ngày 4/1/2006, Bộ
TN&MT đã có công văn số 16/BTNMT-BVMT gửi UBND thành phố Hải
Phòng yêu cầu xử lý nghiêm sự việc theo đúng các quy định của pháp luật
và công văn số 432/BTNMT-BVMT ngày 26/1/2006 gửi UBND thành phố
Hải Phòng, UBND tỉnh Quảng Ninh về việc thực hiện các biện pháp xử lý
ắc quy chì a xít phế thải tại các cửa khẩu. Bộ TN&MT cũng đề nghị Thủ
tướng Chính phủ yêu cầu Tổng cục Hải quan chỉ đạo cơ quan Hải quan các
cửa khẩu yêu cầu các doanh nghiệp phải tái xuất, trả về nước xuất khẩu, nếu
không tái xuất được thì phải tiến hành xử lý các doanh nghiệp nhập khẩu
theo đúng pháp luật. Giao cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW nơi
có các cửa khẩu chỉ đạo các ngành liên quan tại địa phương điều tra làm rõ
các sai phạm của doanh nghiệp. Đồng thời, chỉ đạo việc thực hiện nghiêm
các quy định của pháp luật, lên phương án kỹ thuật và kinh tế để xử lý các lô
hàng trên theo đúng quy định BVMT trong trường hợp không thể tái xuất,
trả lại về nước xuất khẩu và buộc phải xử lý tại Việt Nam. Cục Bảo vệ môi
trường- Cơ quan thẩm quyền công ước Basel Việt Nam đã gửi công văn đề
nghị cơ quan thẩm quyền công ước Basel tại Nhật Bản, Hồng Kông cộng
tác, tạo điều kiện nhận lại số container ắc quy chì phế thải xác định từ 2
nước này xuất sang Việt Nam.

Tại cuộc họp ngày 27/3/2006 với sự tham gia của UBND thành phố Hải
Phòng, UBND tỉnh Quảng Ninh, Vụ I - Văn phòng chính phủ, Tổng cục Hải
quan, Cục Bảo vệ môi trường, Cục Hải quan Hải Phòng, Sở Tài nguyên và
Môi trường, Sở Khoa học và công nghệ, công an Hải Phòng thống nhất đưa
ra một số kết luận sau: Kiên quyết buộc tái xuất ra khỏi Việt Nam số ắc quy
chì đã qua sử dụng còn tồn đọng tại cảng Hải Phòng. Nếu không thể tái xuất
về nước xuất khẩu thì cho phép xuất khẩu sang nước thứ 3 tham gia công
ước Basel hoặc nước thứ 3 khác không tham gia công ước nhưng có nhu cầu
nhập khẩu, được chính quyền nước sở tại cho phép nhập sau khi đã làm thủ

19
tục theo quy định của công ước Basel (thông qua Cục Bảo vệ môi trường-
Bộ TN&MT).

Thống nhất đề xuất một số biện pháp nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn
việc nhập rác thải vào Việt Nam trong thời gian tới, đó là: Bộ TN&MT sớm
nghiên cứu và thống nhất với Bộ Thương mại có hướng dẫn cụ thể Nghị
định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/1/2006 về phế liệu không được
nhập khẩu, nhập khẩu có điều kiện (chất thải nguy hại); về tạm nhập - tái
xuất chuyển khẩu, gia công phế liệu và báo cáo, đề xuất Chính phủ có mức
chế tài mạnh đối với các hành vi nhập khẩu chất thải nguy hại, rác ảnh
hưởng đến môi trường, phải tiêu hủy. Tổng cục Hải quan và Cục Hàng hải
(Bộ Giao thông Vận tải) thống nhất quy chế quản lý chặt chẽ về việc khai
báo hàng hóa trước khi vào Việt Nam, tránh tình trạng hàng đưa vào kho
ngoại quan nhưng không có người nhận. UBND thành phố Hải Phòng và
UBND tỉnh Quảng Ninh yêu cầu các doanh nghiệp có hàng nhập khẩu là rác
tồn đọng ở cảng phải khai báo ngay với cơ quan Hải quan. Hết ngày
30/4/2006 là thời hạn cuối cùng cho các doanh nghiệp thực hiện tái xuất ra
khỏi Việt Nam số ắc quy chì còn tồn đọng.

Một số doanh nghiệp vì hám lợi nên đã có hành vi tiếp tay đem chất thải
nguy hại từ nước ngoài vào Việt Nam. Cơ quan có trách nhiệm cần điều tra
làm rõ mục đích, động cơ của các doanh nghiệp này và xử lý nghiêm theo
pháp luật hiện hành (Bộ Luật Hình sự, Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định
121/2004/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường...). Bên cạnh đó, áp dụng các biện pháp buộc tái xuất và
doanh nghiệp phải bỏ kinh phí để xử lý ô nhiễm, giải quyết hậu quả về môi
trường do việc làm của doanh nghiệp đó gây ra. Qua sự việc này cho thấy,
cần có sự quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp về nhận thức và ý thức
trong việc thực thi các văn bản, quy định luật pháp của quốc gia và quốc tế
nói chung, trong lĩnh vực môi trường nói riêng, nhất là trong giai đoạn hiện
nay khi chúng ta đang trong quá trình hội nhập, chuẩn bị gia nhập WTO.
Việc hiểu và thực thi luật pháp về môi trường quốc gia và các điều ước quốc
tế là vô cùng quan trọng trong xây dựng, phát triển bền vững đất nước. Đây
cũng là bài học cảnh báo cho các doanh nghiệp Việt Nam, không bị lợi
nhuận làm cho mờ mắt mà tiếp tay đưa rác - phế thải độc hại vào Việt Nam,
biến đất nước thành một bãi “rác thải”.

20
VI. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Công ước Basel là công ước về việc vận chuyển và tiêu hủy các chất
thải nguy hại. Công ước này là rất cần thiết bởi nó có những quy định về
việc vận chuyển cũng như các phương pháp tiêu hủy chúng.

Để thực hiện công ước này chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp sau :

1. Khẩn trương thảo luận đi đến thống nhất về chủ trương phát triển hoạt
động này giữa Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường , các bộ và các công
ty liên quan.

2. Xây dựng hệ thống văn bản pháp qui chặt chẽ bao gồm cả những hướng
dẫn kỹ thuật đối với việc xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình
sản xuất và các quá trình khác.

3. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ về mặt môi trường các cơ sở sản xuất , bắt
buộc các cơ sở phải thực hiện nghiêm chỉnh các qui định liên quan đến Luật
Bảo vệ môi trường và các yêu cầu của Quyết định phê chuẩn báo cáo đánh
giá tác động môi trường.

4. Tham gia đóng góp vào các nỗ lực quốc tế nhằm:

- Xây dựng một thị trường không độc hại: Chấm dứt ngay việc xuất khẩu các
chất độc hại trái qui định của công ước Basel về cấm xuất khẩu những loại
nguyên liệu có chứa các chất độc hại giữa các nước trên thế giới ; Hoàn
thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này.

- Xây dựng tiêu chuẩn môi trường toàn cầu đối với các cơ sở sản xuất ; áp
dụng các công nghệ hiện đại, an toàn và bảo vệ môi trường trong quá trình
sản xuất.

Đối với sinh viên chúng ta phải tích cực vận động, tuyên truyền giáo dục cho
mọi người cùng ý thức được tác hại của chất thải nguy hại

21
VII – PHỤ LỤC

Phụ lục 1

Các loại phế thải phải kiểm soát

Nguồn phế thải

Y1 Phế thải y tế từ bệnh viện, trung tâm y tế, trạm xá.

Y2 Phế thải từ sản xuất và pha chết các sản phẩm dược

Y3 Phế thải từ thuốc và sản phẩm dược

Y4 Phế thải từ việc sản xuất, pha chế và sử dụng các loại thuốc diệt sinh vật thiocidet và sản
phẩm thuốc chữa bệnh cho cây trồng phytopharamaceutique

Y5 Phế thải từ việc sản xuất, pha chế và sử dụng các loại thuốc để bảo vệ gỗ

Y6 Phế thải từ việc sản xuất, pha chế và sử dụng các chất dung môi hữu cơ

Y7 Phế thải rắn từ việc xử lý bằng độ nóng hoặc bằng độ lạnh.

Y8 Phế thải dầu mỏ không dùng được vào dự tính ban đầu .

Y9 Hoá hợp hoặc pha trộn dầu nước hoặc hydrocarbure/nước.

Y10 Tính chất hoặc các sản phẩm chứa đựng, hoặc nhiễm các chất diphényles, Polyclorés (PCB),
terphényles polyclorés (PCT) hoặc diphénylés polybromés (PBB).

Y11 Phế thải có mùi hắc từ sự lọc, sự chưng cất hoặc từ các hoạt động, phân tích thành phần khác
bằng hơi nóng.

Y12 Phế thải từ việc sản xuất, pha chế và sử dụng mực, chất keo, các sắc tố, sơn, sơn mài hoặc
vecni .

Y13 Phế thải từ việc sản xuất, pha chế và sử dụng nhựa thông, các loại nhựa cây, keo dán, hồ dán,
chất dính.

Y14 phế thải từ các chất hoá học không xác định được, và hoặc mới sinh sản từ các hoạt động
nghiên cứu, phát triển hoặc giảng dạy mà người ta chưa rõ tác hại đối với con người và/ hoặc đối
với môi trường.

Y15 Phế thải có tính chất dễ nổ không chịu sự kiểm soát của các luật lệ khác.

22
Y16 Phế thải từ sản xuất, pha chế và sử dụng các sản phẩm và vật liệu về nhiếp ảnh.

Y17 Phế thải từ việc xử lý bề mặt kim loại và vật liệu nhựa .

Y18 Phế thải còn lại sau khi thực hiện công việc tiêu huỷ các phế thải công nghiệp.

Phế thải có chứa 1 trong các thành phần sau

Y19 Kim loại carbonyles.

Y20 Béryllium, có thành phần Béryllium.

Y21 có thành phần Chrom sáu giá trị (Cr.6)

Y22 Có thành phần đồng

Y23 Có thành phần thiếc

Y24 Arcénic, có thành phần Arcénic

Y25 Sélénium, có thành phền Sélénium

Y26 Cadmium, có thành phần Cadmium

Y27 Antimoine, có thành phền Antimoine

Y28 Tellure, có thành phần Tellure

Y29 Thuỷ ngân, có thành phần thuỷ ngân

Y30 Thallium, có thành phần Thllium

Y31 Plomb, có thành phần Plomb

Y32 Có thành phần vô cơ, fluor, trừ fluor de alcium

Y33 Muối vô cơ

Y34 Dung dịch a-xít hoặc a-xit dưới thể rắn

Y35 Dung dịch kiềm hoặc kiềm dưới thể rắn

Y36 Chất Amiante hoặc kiềm dưới thể rắn

Y36 Chất Amiante (bột hoặc dây)

Y37 Có thành phần phốt pho hữu cơ

23
Y38 Muối hữu cơ

Y39 Phénols, có thành phần phénols hoặc gồm Chlorophémols.

Y40 Ethen (Ê-te)

Y41 Dung môi hữu cơ halogène

Y42 Dung môi hữu cơ mà không phải là dung môi halogène .

Y43 tất cả sản phẩm thuộc họ Dibenzofurannes polycloré.

Y44 Tất cả sản phẩm thuộc họ Dibenzofurannes polycloré.

Y45 Có thành phần halogène hữu cơ ngoài những chất đã được nêu trong phụ lục này (chẳng hạn
các chất Y39, Y41, Y42, Y43, Y44).

Phụ lục II

Chủng loại phế thải yêu cầu sự kiểm soát đặc biệt

Y46 Phế thải nội trợ gom lại

Y47 Phế thải còn lại sau khi đốt các phế thải nội trợ.

Phụ lục III

Danh sách các đặc tính nguy hiểm

Loại ONU(1)/Mã số/Tính chất

1 /Hệ thống/Vật liệu dễ nổ

Một vật liệu hoặc một phế thải nổ là một loại vật liệu (hoặc hỗn hợp vật liệu) rắn hoặc lỏng, bản
thân nó có thể do tác động hoá học, tạo ra các loại khí ga mà ở một nhiệt độ nhất định, áp suất
nhất định và độ nhanh nhất định gây ra thiệt hại cho môi trường.

-------------

1. Cách xếp số thứ tự này tương ứng với hệ thống xếp loại nguy hiểm đã được thông qua trong
các khuyến nghị của Liên Hợp Quốc về vận chuyển các hàng hoá nguy hiểm (ST/SG/AC 10/1/Rev
5 Nation Unies, New York, 1988).

24
3/H3/ Vật liệu dễ cháy

Chất lòng dễ cháy là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng chứa các chất rắn có thể tan
hoặc không tan (sơn, vécni, sơn mài ... chẳng hạn, tuy nhiên phải không tính các vật liệu hoặc các
phế thải đã được xếp loại o nơi khác vì tính nguy hiểm), các chất đó có thể tạo ra các loại hơi
nước dễ cháy ở nhiệt độ không quá 60,5oC ở trong nồi hơi kín hoặc 65,5oC ở trong nồi hơi hở.
(Bởi vì các kết quả của nhiều thử nghiệm trong nồi hơi hở và nồi hơi kín không nhất thiết hoàn
toàn giống nhau và các kết quả của nhiều thử nghiệm được tiến hành cùng phương pháp, thường
xuyên khác nhau, vì vậy các quốc gia không dùng các con số trên đây làm cơ sở là để hiếu cố tới
sự khác nhau đó, là phù hợp với tinh thần của định nghĩa này).

4.1/H4.1/ Vật liệu rắn dễ cháy

Các vật liệu rắn hoặc phế thải của vật liệu rắn dễ cháy là các vật liệu rắn ngoài những vật liệu đã
được xếp vào loại vật liệu dễ nổ và bốc cháy dễ dàng hoặc gây ra cháy do bị cọ sát trong quá trình
vận chuyển.

4.1/H4.2/ Vật liệu có thể bốc cháy bất thình lình.

Vật liệu hoặc phế thải có thể tự nóng lên bất thình lình trong điều kiện vận chuyển bình thường
hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và lúc đó có thể tự nó bốc cháy .

4.3/H4.3/ Vật liệu hoặc phế thải khi tiếp xúc với nước thì tạo ra khí cháy . Vật liệu hoặc phế thải,
do phản ứng với nước có khả năng cháy bất thình lình hoặc tạo ra khí cháy với số lượng nguy
hiểm.

5.1/H5.1/ Vật liệu là nguyên liệu đốt cháy .

Vật liệu hoặc phế thải, không phải lú nào cũng là nguyên liệu đốt cháy, nhưng nói chung khi tiếp
xúc với Oxy có thể gây ra hoặc tạo thuận lợi cho việc đốt cháy các vật liệu khác.

5.2/H5.2/ Peroxyde hữu cơ

Chất hữu cơ hoặc phế thải có kết cấu hai -O-O- là những chất không ổn định về nhiệt độ, có thể
bị phân huỷ tạo nhiệt nhanh.

6.1/H6.1/ Độc tốc (cấp tính).

Vật liệu hoặc phế thải có thể gây tử vong, thiệt hại trầm trọng hoặc huỷ hoại sức khoẻ con người .

6.2/H6.2/ Vật liệu gây bệnh

Vật liệu hoặc phế thải chứa các vi sinh vật sống hoặc độc tố của nó mà người ta biết hoặc có lý do
để tin rằng nó gây bệnh cho gia súc hoặc cho con người .

8/H8/ Vật liệu ăn mòn.

Vật liệu hoặc phế thải, bằng phản ứng hoá học có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các vật sống
àm nó tiếp xúc hoặc trong những trường hợp dò rĩ, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng, thậm chí

25
phá huỷ các hàng hoá khác được vận chuyển hoặc các phương tiện vận chuyển và còn có thể chứ
đựng các nguy hiểm khác.

9/H10/ Vật liệu giải phóng các khi độc, khi tiếp xúc với không khí ở mặt nước.

Vật liệu phế thải, do tiếp xúc với không khi hoặc nước, có khả năng sinh sản ra khí độc với số
lượng nguy hiểm.

9/H11/ Chất độc 9tác hại khác hoặc kinh niên).

Vật liệu hoặc phế thải có thể gây tác hại khác nhau hoặc kinh niên, hoặc gây ung thư do ăn phải,
hít thở phải hoặc ngấm vào da .

9/H12/ Vật liệu gây độc hại cho hệ sinh thái .

Vật liệu hoặc phế thải, nếu bị vứt bừa bãi, sẽ gây ra hoặc có nguy cơ gây ra tác động hại trước
mắt hoặc sau này đối với môi trường.

9/H13/ Vật liệu sau khi tiêu huỷ có khả năng tạo ra, bằng bất cứ cách nào, một tính chất khác,
chẳng hạn như một loại sản phẩm dùng để tẩy rửa và có một trong những đặc tính nêu trên.

Thí nghiệm

Những nguy hiểm mà một số loại chất thải có thể gây ra thì chưa được biết rõ lắm; không có thí
nghiệm đánh giá mức độ của các nguy hiểm đó. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng là cần thiết nhằm xây
dựng biện pháp để đặc tính hoá những nguy hiểm mà các loại phế thải này có thể gây ra đối với
con người và môi trường. Những thí nghiệm theo tiêu chuẩn hoá đã được hệ thống lại đối với các
tính chất và vật liệu nguyên chất.

Nhiều nước cũng đã được xây dựng các trung tâm thí nghiệm quốc gia mà người ta có thể áp
dụng đối với các vật liệu cần tiêu huỷ theo biện pháp ghi trong phụ lục III của Công ước để quyết
định xem các vật liệu này có một trong những đặc tính nào đó đã nêu trong Công ước này .

Phụ lục IV

Công việc tiêu huỷ

A . Công việc tiêu huỷ không xuất phát từ khả năng có thể thu nhặt lại để tái chế để sử dụng lại,
dùng lại trực tiếp hoặc dùng lại dưới dạng khác nhau .

Phần A này hệ thống lại tất cả các công việc tiêu huỷ phế thải theo thông lệ.

D1 Đồ phế thải ở trên hoặc trong lòng đất (chẳng hạn như đồ tự nhiên)

D2 Xử lý nơi đất liền (chẳng hạn đồ phế thải lòng hoặc bùn tự tiêu huỷ trong đất).

D3 Chôn sâu (chẳng hạn như các phế thải có thể được bơm vào các giếng, lỗ hổng của địa tầng...)

26
D4 Đổ xuống các chỗ (chẳng hạn đổ cá phế thải lỏng hoặc dạng bùn xuống các giếng, hồ ao,
thung lũng).

D5 Đổ phế thải có sự quản lý đặc biệt (chẳng hạn cho vào các thùng không thấm nước, đậy kín và
để thùng nọ riêng với thùng kia và cách môi trường bên ngoài ...)

D6 Đổ xuống nơi có nước (không phải nhấn chìm xuống biển).

D7 Nhấn chìm xuống biển (kể cả việc chôn xuống lòng biển)

D8 Xử lý bằng sinh học không theo quy định trong phụ bản này đưa đến những thành phần hoặc
hợp chất sẽ được tiêu huỷ theo một trong những biện pháp nêu ở mục A này .

D9 Xử lý bằng phương pháp lý hoá theo quy định trong phụ bản này, đưa đến các thành phần
hoặc hợp chất sẽ được tiêu huỷ theo một trong những biện pháp nêu ở mục A này (chẳng hạn như
làm hơi, phơi khô, đốt thành than, trung tính hoá, làm đông đặc...)

D10 Đốt trên đất liền

D11 Đốt trên biển

D12 Cất giữ vĩnh viễn (chẳng hạn đặt các container phế thải trong một lòng mỏ)

D13 Tập hợp lại trước khi tiêu huỷ theo một trong các phương pháp nêu tại điểm A .

D14 Xử lý lại trước khi tiêu huỷ theo một trong các phương pháp nên tại phần A .

D15 Tàng trữ lại trước khi tiêu huỷ theo một trong các biện pháp nêu tại phần A .

B. Công việc tiêu huỷ xuất phát từ khả năng có thể thu nhặt lại, tái chế, sử dụng lại, sử dụng lại
trực tiếp hoặc sử dụng lại dưới các dạng khác nhau .

Phần B này hệ thống tất cả các công việc tiêu huỷ liên quan đến các vật liệu được coi hoặc được
xác định về mặt luật pháp là những phế thải nguy hiểm và các loại vật liệu không thuộc một trong
những loại được tiêu huỷ được nêu trong mục A .

R1 Sử dụng như là chất đốt (không phải là đốt trực tiếp) hoặc bằng các phương tiện khác để sản
xuất năng lượng.

R2 Thu hồi hoặc làm tái sinh các chất dung môi (solvants)

R3 Trái tế hoặc thu hồi các chất hữu cơ chưa được dùng làm chất dung môi .

R4 Tái chế hoặc thu hồi các loại kim loại hoặc thành phần kim loại .

R5 Tái chế hoặc thu hổi các vật liệu vô cơ.

R6 Làm tái sinh a-xít hoặc chất kiềm (ba zơ)

27
R7 Thu hồi các sản phẩm dùng để phá huỷ các chất gây ô nhiễm.

R8 Thu hồi các sản phẩm từ các chất xúc tác.

R10 Rải xuống đất để phục vụ cho nông nghiệp và sinh thái .

R11 Sử dụng các vật liệu thừa thu được từ một trong các công việc từ R1 đến R10.

R12 Trao đổi các phế thải để xử lý theo một trong các loại công việc từ R1 đến R11.

R13 Dự trữ các vật liệu để xử lý theo một trong những các loại công việc nêu trong phần B.

Phụ lục V.A

Những thông tin cần cung cấp khi thông báo

1 Lý do xuất khẩu phế thải .

2. Người xuất khẩu phế thải (1)

3. Người (hoặc những người sản xuất phế thải và noi sản sinh(1)

4 Người tiêu huỷ các phế thải và nơi tiêu huỷ phế thải(1)

5. Người (hoặc những người) chuyên chở phế thải hoặc những người cụ thể (khi đã biết)(1)

6 Nước xuất khẩu phế thải

7. Nước quá cảnh được dự kiến

Cơ quan có thểm quyền (2)

8. Nước nhập khẩu phế thải phải

Cơ quan có thẩm quyền (2)

9. Thông báo chung hoặc thông báo duy nhất.

10. Ngày dự kiến chuyển giao, thời hạn của việc xuất khẩu phế thải và đường đi dự kiến, (nhất là
những cửa cửa nguy hiểm và cửa khẩu xuất) (3)

11 Phương tiện vận chuyển (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường không, đường nội thủ...)

12. Những thông tin về bảo hiểm. (4)

28
13 Tên gọi và mô tả vật chất phế thải, bao gồm cả số H và số ONU, cấu tạo phế thải (5) và những
thông tin về tất cả cơ cấu đặc biệt liên quan đến điều hành, nhất là những biện pháp khẩn cấp
trong trường hợp bị tai nạn.

14. Loại dụng cụ chứa đựng (không đóng gói, đựng trong thùng gỗ hoặc đừng trong thùng sắt đậy
kín).

15 Khối lượng ước tính về trọng lượng và khối lượng. (6)

16 Quá trình đưa đến phế thải .(7)

17 Đối với các phế thải nêu ở phụ bản I, việc xếp loại ở phụ bản III, đặc tính nguy hiểm, số H,
loại của ONU>

18 Thể thức tiêu huỷ theo phụ bản IV.

19 Tuyên bố (lời khai) của người sản xuất hoặc người xuất khẩu xác nhận sự chính xác của các
thông tin.

20 Những thông tin (gồm mô tả thiết bị) do người tiêu huỷ phế thải thông báo cho người xuất
khẩu hoặc cho người sản xuất phế thải và dựa trên thông báo đó người tiêu huỷ phế thải có đầy đủ
cơ sở để cho rằng không có lý do gì để tin rằng phế thải không được quản lý theo phương pháp
thích hợp với sinh thái phù hợp với luật pháp và quy định của nước nhập khẩu .

21 Tin tức liên quan đến hợp đồng ký kết giữa người xuất khẩu và người tiêu huỷ.

Ghi nhớ

(1): Tên và địa chỉ đầy đủ, số điện thoại, telex, fax, cũng như Tên, địa chỉ, số điện thoại, telex, fax
của người cần liên hệ.

(2): Tên, địa chỉ đầy đủ, số điện thoại, telex, fax.

(3): Trong trường hợp thông báo chung cho nhiều lần chuyển giao, chỉ rõ ngày tháng vận chuyển,
hoặc nếu chưa biết ngày vận chuyển thì thông báo nhịp độ vận chuyển.

(4): Thông báo về các điều kiện liên quan đến bảo hiểm và về cách thức mà người xuất khẩu,
người vận chuyển và người tiêu huỷ phế thải phải hoàn thành.

(5): Nói rõ thực chất và việc tập trung các thành phần nguy hiểm về mặt độc hại và các nguy
hiểm khác cho việc xử lý cũng như việc tiêu huỷ.

(6): Trong trường hợp thông báo chung cho nhiều lần chuyển giao, chỉ rõ số lượng tổng cộng cho
mỗi lần.

(7): Trong khuôn khổ mà những thông tin này cần thiết cho việc đánh giá sự nguy hiểm và xác
định giá trị của việc thực hiện tiêu huỷ.

29
Phụ lục V.B

Những thông tin cần cung cấp trong giấy tờ vận chuyển

1. Người xuất khẩu phế thải (1)


2. Người sản xuất phế thải và nơi sản xuất (1)
3. Người tiêu huỷ phế thải và nơi tiêu huỷ (1)
4. Người vận chuyển phế thải hoặc cơ quan vận chuyển (1)
5. Chủ đề thông báo chung hay thông báo riêng biệt.
6. Ngày xuất phát việc chuyên chở phế thải và ngày ký nhận phế thải (do những người có
trách nhiệm)
7. Phương tiện vận tải (đường bộ, đường sắt, đường nội thuỷ, đường biển, đường không)
gồm của nước xuất khẩu, nước quá cảnh, nước nhập khẩu cũng như các cửa khẩu xuất
cảnh, nhập cảnh nếu biết trước.
8. Mô tả chung về phế thải (tình trạng vật chất, tên gọi chính xác và loại gửi đi dưới ký hiệu
ONU, số ONU, số Y và số H nếu có).
9. Thông tin về các điều khoản đặc biệt liên quan tới việc xử lý, bao gồm cả biện pháp can
thiệp khi xảy ra tai nạn.
10. Thể loại và số lượng kiện, gói .
11. Số lượng về trọng lượng cũng như về khối lượng.
12. Tuyên bố của người sản xuất hoặc người xuất khẩu xác nhận độ chính xác của các thông
tin.
13. Tuyên bố của người sản xuất hoặc người xuất khẩu xác nhận không có sự phản đối của
các cơ quan có thầm quyền của các quốc gia liên quan là Bên tham gia Công ước.
14. Xác nhận của người tiêu huỷ về việc đã tiếp nhận vào cơ sở tiêu huỷ đã được chỉ định và
chỉ rõ biện pháp tiêu huỷ và người dự kiến tiêu huỷ.

Ghi chú

Các tin tức cần cung cấp về giấy tờ vận chuyển, trong điều kiện có thể, phải được tập hợp trong
cùng văn bản với các thông tin do thể lệ vận chuyển đòi hỏi . Trong trường hợp không thể có
được những thông tin do thể lệ vận chuyển đòi hỏi . Giấy tợ vận chuyển sẽ bao hàm những chỉ thị
về người có đủ tư cách cung cấp thông tin và điền vào mẫu các tờ khai .

(1) Tên và địa chỉ đầy đủ, số điện thoại, telex, fax cũng như tên, địa chỉ, và số điện thoại, telex,
fax của người cần liên hệ trong trường hợp khẩn cấp.

Phụ lục VI

Trọng tài

Điều 1

Ngoại trừ những quy định trái với thoả thuận ghi trong Điều 20 của Công ước này, thủ tục về
trọng tài được thực hiện theo các điều khoản ghi trong các điều từ 2 đến 10 dưới đây .

Điều 2

30
Bên khởi tố thông báo cho Ban thư ký rằng các Bên tham gia đã thoả thuận đưa tranh chấp ra cơ
quan trọng tài phù hợp với đoạn hai hoặc đoạn ba của Điều 20 của Công ước, bằng cách chỉ rõ
rằng các điều khoản của Công ước mà việc giải thích và áp dụng đã bị vi phạm. Ban thư ký thông
báo những thông tin đó đúng như họ đã nhận được cho các Bên tham gia .

Điều 3

Toà án trọng tài gồm 3 thành viên. Mỗi Bên tham gia có tranh chấp cử một trọng tài và 2 trọng tài
đã được chỉ định, thoả thuận với nhau cử một trọng tài thứ 3 và người này giữ chức chủ tịch của
toà án. Người trọng tài thứ 3 không được là công dân một rong các Bên tham gia Công ước, cũng
không sống thường trực trên lãnh thổ của một trong các Bên tham gia, cũng không phải là người
đã phục vụ (làm việc) cho một trong những Bên tham gia, cũng không giữ chức vụ gì trong vụ
tranh chấp này .

Điều 4

1. Nếu trong thời hạn 2 thánh kể từ khi chỉ định được người trọng tài thứ 2, mà Chủ tịch toà
án chưa được chỉ định, thì Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ tiến hành chỉ định Chủ tịch toà
án theo yêu cầu của một trong các Bên tham gia cũng trong thời hạn là 2 tháng.
2. Nếu trong thời hạn 2 tháng sau khi nhận được yêu cầu, một trong các Bên tham gia có
tranh chấp không cử trọng tài, Bên tham gia kia có thể yêu cầu Tổng thư ký ;1 chỉ định
Chủ tịch cơ quan trọng tài trong thời hạn hai tháng. Ngay khi được cử làm Chủ tịch, Chủ
tịch toà án trọng tài yêu ầu Bên tham gia chưa cử trọng tài phải tiến hành cử trọng tài
trong vòng hai tháng. Quá thời hạn trên, Chủ tịch toà án trọng tài yêu cầu Tổng thư ký
Liên Hợp Quốc chỉ định người trọng tài nói trên trong thời hạn 2 tháng.

Điều 5

1. Toà án tuyên án phù hợp luật pháp quốc tế và các điều khoản của Công ước này .
2. Mọi toà án được thành lập theo các điều khoản của phụ bản này từ xây dựng thể lệ riêng
cho họ.

Điều 6

1. Các quyết định của toà án trọng tài về mặt thủ tục cũng như về mặt nội dung phải được
thông qua bằng đa số tổng thành viên của nó.
2. Toà án có thể sùng mọi biện pháp thích hợp để xây dựng sự việc. Toà án theo yêu cầu của
một trong các Bên tham gia, có thể khuyến nghị những biện pháp bảo vệ cần thiết.
3. Các Bên tham gia trong vụ tranh chấp sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cần thiết cho việc
tiến hành vụ án.
4. Sự vắng mặt hoặc không có đại diện của một Bên tham gia không cản trở quá trình tiến
hành xử án.

Điều 7

Toà án có thể biết và quyết định về những yêu cầu làm giảm tác động trực tiếp liên quan đến đối
tượng của sự tranh chấp.

Điều 8

31
Ngoại trừ việc toà án quyết định khác do điều kiện đặc biệt của sự việc, các chỉ tiêu cho toà án,
gồm cả tiền thù lao cho các thành viên của mình sẽ chia đều cho các Bên tham gia trong vụ tranh
chấp. Toà án sẽ thanh toán tất cả các chi tiêu và sẽ cung cấp 1 quyết toán cuối cùng cho các Bên
tham gia .

Điều 9

Về đối tượng của vụ tranh chấp, tất cả các Bên tham gia nếu thấy quyết định của toà án ảnh
hưởng tới quyền lợi về mặt pháp lý thì có thể có can thiệp về thủ tục, với sự đồng ý của toà án.

Điều 10

1. Toà án phải tuyên án trong thời hạn 5 tháng kể từ ngày nó được thành lập, trừ khi toà án
thấy cần thiết phải kéo dài thời hạn này một thời gian không được quá 5 tháng nữa .
2. Tuyên án của toà án trọng tài là phải có căn cứ. án đó là vĩnh viễn và bắt buộc đối với
mọi Bên tham gia tranh chấp.
3. Mọi tranh chấp có thể nảy sinh giữa các Bên tham gia về việc giải thích và thực hiện bản
án đều có thể được một trong hai Bên tham gia đệ trình toà án trọng tài đã thông qua bản
án đó hoặc nếu không thể đưa ra toà án đó được thì đưa ra một toà án khác được lập ra để
giải quyết việc này theo thủ tục như đã thành lập toà án đầu tiên.

32
VIII . TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Đức Khiển , Quản lý chất thải nguy hại, NXB KHKT
2. Nguyễn Đức Khiển , Quản lý chất thải rắn , NXB KHKT

Và một số website http://www.nea.gov.vn/

http://www.epa.gov/

http://www.worldbank.org/

33