You are on page 1of 8

I.

Những vấn đề lý luận chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

1. Khái niệm nuôi con nuôi, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. a. Khái niệm nuôi con nuôi. Khái niệm nuôi con nuôi được quy định rõ ràng tại Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và nguwoif được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”. Luật nuôi con nuôi năm 2000 đã thừa kế khái niệm đó nhằm kiến tạo một hệ thống các thuật ngữ pháp lý về nuôi con nuôi. Theo đó, khoản 1 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 xác định: nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được thừa nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế. b. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Trước hết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong các nhóm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuoi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa ngườu nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài” (khoản 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010) Về cơ bản thì bản chất của nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là giống nhau khi đó đều là sự xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con không dựa trên nguyên tắc huyết thống hay do sinh ra mà là dựa vào sự công nhận của pháp luật. Điều khác biệt để

Đó là quan hệ giữa người nước ngoài vơi snhau thường trú ở Việt Nam Đo slaf quan hệ giữa Vệt nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài. Theo quy định của pháp luật thì để xác định một quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong đó thì ta dựa vào một trong các tiêu chí sau: - Đó là quan hệ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. . thay đổi. Đồng thời do đây là một quan hệ quốc tế. II. Tức là có căn cứ để xác lập. chấm dứt quan hệ đó teo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài . 2. điều này khác hẳn so với nuôi con nuôi trong nước là chỉ cần sự công nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mình.nhận biết đó là quan hệ nuôi con nuôi trong nước hay là quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chính là yếu tố nước ngoài được thể hiện qua chủ thể tham gia và pháp luật xác lập quan hệ đó là theo pháp luật trong nước hay pháp luật nước ngoài. người VN định cư ở nước ngoài… và luật áp dụng không chỉ là luật của Việt Nam mà có thể là luật của nước khác. Tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam hiện nay. đó không chỉ là giữa những người cso cùng quốc tịch Việt Nam với nhau như nuôi con nuôi trong nước mà có cả người nước ngoài. Đặc điểm của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. cso sự liên quan đến nước khác mà không chỉ bó gọn trong tầm quản lý của một quốc gia nên để quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoiaf có giá trị pháp lý thì nó cần sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của cả hai bên. - Với nuôi con nuôi trong nước thì nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có phạm vi rộng hơn.

1999) có tới 9322 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi.1. Ta có bảng thống kê số liệu như sau: Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Số trẻ em Việt nam làm con nuôi nước ngoài 60 181 432 638 1233 1584 1695 1576 1860 1474 1229 . qua đó cho thấy nhu cầu nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi trên thế giới là khá cao. Trong những năm gần đây nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu và được nhà nước đặc biệt quan tâm . tạo khung điều chỉnh cho quan hệ nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoải nói riêng. Tình hình chung về giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Tính trung bình cho đến nay mỗi năm có khoàng 2000 trẻ em VN được người nước ngoài nhận làm con nuôi. từ năm 1999 đến năm 2003 (theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ tư pháp) có khoảng trên 14600 trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi nước ngoài. con số đó mỗi năm tăng lên cao hơn so với năm trước. chính vì thế Quốc hội đã ban hành Luật nuôi con nuôi 2010 để làm cơ sở pháp lý. chỉ trong vòng 5 năm (từ 1994. Theo thống kê chưa dầy đủ của Bộ tư pháp. trong xu hướng đó. và nhất là ở môt số quốc gia có số lượng cho con nuôi nước ngoài nhiều như Viêt Nam thì càng cần phải quan tâm hơn nữa. Kể từ sau khi đất nước mở cửa giao lưu với thế giới thì nhu cầu nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng.

năm 2003 có 800 trường hợp.Tìm được mái ấm gia đình thay thế cho nhiều trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: qua báo cáo cho thấy trẻ em được nhận làm con nuôi chưa có trường hợp nào bị đối xử ngược đãi mà được chăm sóc chu đáo. Thái Nguyên là 624 em. đầu năm 2000. . năm 2005 có 1250 trường hợp. năm 2006 có 1550 trường hợp. a. Những thành công đã đạt được trong việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.Nhưng nhìn chung số trẻ em cho làm con nuôi ở nước ngoài vẫn tập trung ở những thành phố lớn. tạo điều kiện thuận lợi cjo việc học hành. năm 2009 có 1064 trường hợp và 7 tháng đầu năm 2010 cói 674 trường hợp trẻ em được giải quyết làm con nuôi người nước ngoài. Tuy nhiên trong quá trình đó còn tồn tại không ít hạn chế cần khắc phục để hướng tới quá trình hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn hiện nay. năm 2008 có 1200 trường hợp. 2. một số trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo . theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì số trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài của Thành phố Hồ Chí Minh là 3484 em. năm 2004 có 550 trường hợp. Nhận xét. Trong những năm qua với sự nỗ lực hết mình của những cơ quan ban ngành đã giúp hang nghìn trẻ em Việt Nam tìm được mái ấm gia đình ở trong cũng như ngoài nước. số trẻ em làm con nuôi người nước ngoài tăng lên so với thời kì cuối những năm 1990. Đà Nẵng là 337 em… Theo nguồn thông tin từ Cục con nuôi từ năm 2003. năm 2007 có 2000 trường hợp. Hiện nay Luật nuôi con nuôi 2010 đã ra đời để đảm bảo quyền và lợi ích cho người nước ngoài muốn làm con nuôi ở Việt Nam cũng như nhằm bảo vệ trẻ em Việt nam làm con nuôi ở nước ngoài thì ta hi vọng số trẻ em được nhận làm con nuôi ở nước ngoài sẽ còn tăng cao hơn nữa nhằm giúp nhừn trẻ em bất hạnh có một mái ấm giai đình.

sô lượng văn phòng con nuôi nước ngoài được phép hoạt động. Hiện nay.Tăng cường công tác thanh tra. . thủ tục giải quyết việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài được cải tiến hơn . Tăng cường công tác quản lý văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam. cá nhân nước ngoài. . Để khắc phục tình trạng này. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.vẫn còn tồn tại những trường hợp làm sai lệc hồ sơ. III. giám sát hoạt động của văn phòng con nuôi nước ngoài. cần phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt nam như: kiểm tra.cũng được chữa trị kịp thời và chế độ chăm sóc sức khỏe cho các em cũng tốt hơn. . quy hoạch cụ thể số lượng tổ chức con nuôi nước ngoài của mỗi nước được thành lập tại Việt Nam.Trình tự. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng .cải thiện đời sống của trẻ em tại nhiều cơ sở nuôi dưỡng. Những tồn tại còn gặp phải trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.Hoạt ddoonghj hợp tác nuôi con nuôi quốc tế được mở rộng hơn b. . mặc dufg Luật nuôi con nuôi đã được ban hành song vẫn còng thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành và cơ chế quản lsy chặt chẽ đối với các văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam. kiểm tra. cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau: 1. .Trình tư. .Nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi. . thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi còn bất cập.Thiếu minh bạch trong việc tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo của tổ chức. .

giáo dục pháp luật về nuôi con nuôi. Do việc chưa nhận thức đúng về vấn đề này nên đã có những hành vi vi phạm pháp luật. Nuôi con nuôi là vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc. chịu trách nhiệm về hồ sơ của cha mẹ nuôi. Tăng cường tuyên truyền. đúng pháp luật. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. 3. 4. cần có sự phối hợp giữa các bộ. Cơ quan con nuôi Trung ương phải là đầu mối trong việc tìm mái ấm cho trẻ em. cần phải tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền.2. Một trong những nguyên nhân lớn gây ra vấn đề này là do sự thiếu hiểu biết về pháp luật nuôi con nuôi. cũng như có thể tham gia các việc giám sát quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương để bảo đảm thực hiện tốt quản lí nhà nước về nuôi con nuôi cũng như thực hiện cácqcủa pháp luật về nuôi con nuôi có hậu quả việc giải quyết cho trẻ em lm con nuôi trong và ngoài nước một cách chặt chẽ. ban. . Trong cơ chế xử lý vấn đề nuôi con nuôi. tăng cường cả về số lượng và chất lượng để có thể đảm nhiệm được trọng trách nặng nề hơn trong điều kiện ước tat ham gia công ước Lahay. Do đó. giáo dục cho người dân hiểu một cách đầy đủ và căn bản về vấn đề này để có thể thực hiện tốt các quy định của pháp luật. xâm hại đến quyền và lợi ích của trẻ em. Do đó. Tăng cường vai trò của Cơ quan con nuôi Trung ương. Coq quan con nuôi Trung ương còn có trách nhiệm trực tiếp hoặc phối hợp với cơ quian nhà nước có thẩm quyền khác tiến hành mọi biện pháp thích hợp nhằm ngăn chặn việc thu lowuj bất chính liên quan đến nuoi con nuôi hoặc ngăn chặn mọi hành vi khác trái với mục đích của công ước La hay. Bên cạnh đó. Cơ quan con nuôi Trung ương cần được củng cố. bảo đảm trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi theo quy định của pháp luật và có sự tự nguyện của những người có quyền cho con nuôi.

soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi để trình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. triển khai thực hiện các Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi. Công tác thanh tra. nhất là lĩnh vực nuôi con nuôi có yêu stoos nước ngoài. Hoàn thiện yếu tố con người trong việc thực thi pháp luật vè nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. tdhlhn. chủ trì việc đàm phán. khóa luận tốt ghiệp. thẩm định các hồ sơ nuôi con nuôi. Bên cạnh đó cần phải ổn định và tăng cường đội ngũ cán bộ tư pháp ở địa phương. đối phó. giám sát hoạt động của các cơ quan. Cục Con nuôi đang phải đảm trách một khối lượng lớn công việc trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế từ việc có trách nhiệm chủ trì. 1. ký kết. hiện đại hóa cơ sở vật chất. pháp luật về nuôi con nuôi. phạm thị quỳnh anh. cho đến việc kiểm tra. thanh tra Việc thanh tra. Do đó. đến việc xử lí từng vụ việc cụ thể. trang thiêt sbij cho công việc là điều rất cần thiết. những điểm mới của luật nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Tăng cường công tác kiểm tra. ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nuyooi con nuôi. tổ chức trong quy trình giải quyết việc nuôi con nuôi có vai trò quan trọng nhằm phát hiện. hn . việc tăng cường năng lực và số lượng cán bộ. 6.ngành ở TƯ từ công tác hoạch định và thực thi chính sách. tránh hình thức. 5. 2011 . trọng điểm. kiểm tra cần được tiên shanhf thường xuyên. định kì và có trọng tâm.

2 nguyễn hồng nhung. kltnb. những điểm mới về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố có yếu tố nước ngời theo quy định của luật nuôi con nuôi 2010. . hn. 3. 2011. cục con nuôi (2008) hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện nghị định 68…. 4. nghị định số 68/ NĐ_CP? 2002 ngày 10/07/2002 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. bộ tư pháp.