LỜI NÓI ĐẦU

Bước vào thế kỷ 21, xu hướng chung của nền kinh tế thế giới là sự quốc tế hoá và hợp tác hoá. Các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau hơn về kinh tế chính trị...nền kinh tế càng được quốc tế hoá bao nhiêu thì sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các công ty càng trở nên mạnh mẽ. Tất cả các quốc gia đều phải vào cuộc cạnh tranh khốc liệt để tránh bị đẩy lùi lại phía sau. Thị trường tự do cạnh tranh đã thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của các doanh nghiệp, chính vì vậy mọi hoạt động kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải gắn với một thị trường nhất định. Doanh nghiệp phải căn cứ vào thị trường để quyết định những vấn đề then chốt và cơ bản là: Sản xuất ra cái gì ? Sản xuất cho ai ? Và sản xuất như thế nào với chi phí bao nhiêu ? Các doanh nghiệp phải căn cứ vào giá cả và lượng các yếu tố sản xuất kinh doanh để làm sao cho có một sự kết hợp tối ưu giữa các yếu tố đó nhằm tạo ra những sản phẩm mà doanh nghiệp mong muốn . Mặt khác các doanh nghiệp cũng thường xuyên nắm gíá cả thị trường, chấp nhận những sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp với tình trạng chi phí như thế nào để đạt được mức lợi nhuận tối đa. Thị trường chỉ thừa nhận mức hao phí lao động xã hội cần thiết trung bình để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hàng hoá và quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với các mức chi phí cá biệt khác nhau lên một mặt bằng trao đổi (thông qua giá cả) trên thị trường. Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, để có được lợi nhuận cao hay bình thường cũng phải phấn đấu hạ giá thành sản phẩm . Muốn vậy, doanh nghiệp phải xác định mức chi phí hợp lý để tạo ra sản phẩm từ đó mới có thể dẫn tới việc tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Đây là biện pháp quan trọng để đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh, vừa bảo toàn vốn, vừa có lãi và tăng tích luỹ. Bên cạnh đó, hạ giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp hạ

1

gía bán và do đó đầy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm, giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận, tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm bớt lượng vốn lưu động sử dụng vào sản xuất. Như vậy, sẽ tạo được khả năng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp. Do vậy thực hiện tốt vấn đề tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là cơ sở cho việc tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đúng, đủ, chính xác và kịp thời sẽ giúp cho công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của chi phí trong sản xuất, cung cấp thông tin cho quản lý. Trên ý nghĩa đó, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn là một vấn đề cấp bách đối với các doanh nghiệp, đòi hỏi các nhà kinh tế không ngừng bổ sung hoàn thiện lý luận làm cơ sở cho thực tiễn. Là một đơn vị sản xuất kinh doanh. Xí nghiệp Gỗ Hà nội đã sử dụng kế toán như một công cụ đắc lực để điều hành quản lý các hoạt động kinh tế và kiểm tra quá trình sử dụng tài sản, sử dụng vốn nhằm bảo đảm quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh của xí nghiệp. Xuất phát từ tầm quan trọng của hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội, được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn thực tập và các cán bộ Phòng Kế toán, em xin nghiên cứu đề tài : “Hoàn thiện hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc tăng cường quản trị Doanh nghiệp tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội” Phương pháp nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phân tích về mặt lý luận và tham khảo ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các cô chú ở đơn vị thực tập và có ý kiến nhằm hoàn thiện hợp lý kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm . Với những phương pháp nghiên cứu, ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, nội dung của Chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm có 3 phần chính sau:
2

Phần I : Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp Phần II : Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội Phần III : Nhận xét, đánh giá, kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội trong nền kinh tế thị trường.

3

Phần I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP I- BẢN CHẤT VÀ NỘI DUNG KINH TẾ CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1. a)

Chi phí sản xuất : Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất :

Trong bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào, quá trình sản xuất đều gắn liền với sự vận động tiêu hao các yếu tố cơ bản. Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có đầy đủ các yếu tố cơ bản, đó là : Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động .Sự tham gia của các yếu tố sản xuất vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp có khác nhau và nó hình thành các khoản chi tương ứng : Chi phí tiền lương trả cho người lao động, chi phí khấu hao tư liệu lao động và chi phí tiêu hao nguyên vật liệu .Đó cũng chính là 3 yếu tố chi phí cơ bản tạo nên giá trị sản phẩm bao gồm 3 bộ phận : C, V, M. Trong đó:

C : Là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình

tạo ra sản phẩm, dịch vụ như :Khấu hao TSCĐ, chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ... Bộ phận được gọi là hao phí lao động vật hoá .
•V

: Là chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động

tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ .Nó được là hao phí lao động sống cần thiết .
•(V+M)

: Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt

động tạo ra giá trị sản phẩm, dịch vụ . Như vậy C và V chính là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản phẩm .Trong điều kiện tồn tại quan hệ hàng hoá - tiền tệ, chi phí về

4

lao động vật hoá và lao động sống doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành sản xuất kinh doanh đều được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và được gọi là chi phí sản xuất kinh doanh. Như vậy, tại các doanh nghiệp sản xuất, theo chế độ kế toán Việt nam, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Chi phí có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thực chất là sự vận động của các yếu tố sản xuất bỏ ra và biến đổi chúng thành sản phẩm cuối cùng theo mục đích của doanh nghiệp .Trong các loại hình doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau và thuộc các thành phần kinh tế khác nhau : DNNN, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp liên doanh... thì về bản chất chi phí sản xuất đều không có gì khác nhau . ở Doanh nghiệp cũng cần phải phân biệt giữa chi tiêu (expenditure) và chi phí (expense). Phải chăng chi phí và chi tiêu của Doanh nghiệp lại giống nhau ? không hoàn toàn như vậy. Có trường hợp chi phí nhưng không phải là chi tiêu hoặc có trường hợp chi tiêu nhưng không phải là chi phí .Như vậy chỉ được tính là chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Còn chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của Doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì.Việc phân biệt giữa chi phí và chi tiêu rất có ý nghĩa trong việc tìm hiểu bản chất cũng như nội dung, phạm vi và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất. Để có thể quản lý tốt chi phí sản xuất, trước hết phải hiểu rõ về các loại phí hay nói cách khác là nắm vững các cách phân loại chi phí.
b)

Phân loại chi phí sản xuất :
5

Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc tính nhất định. Trong công tác quản lý cũng như việc tật hợp chi phí sản xuất, kế toán phải thực hiện đối với từng loại chi phí khác nhau. Hạch toán chi phí theo từng loại sẽ nâng cao tính chi tiết của thông tin hạch toán phục vụ đắc lực cho công tác kế hoạch hoá và quản lý nói chung, đồng thời có cơ sở tin cậy cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế của chi phí . Việc phân loại chi phí có tác dụng kiểm tra và phân tích quá trình phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm nhằm động viên mọi khả năng tiềm tàng trong việc hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất của xí nghiệp .Tuỳ theo việc xem xét chi phí ở góc độ khác nhau và mục đích quản lý chi phí mà chúng ta lựa chọn tiêu thức phân loại chi phí cho phù hợp .Chi phí sản xuất được phân loại theo một số tiêu thức sau :

Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh :

Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn bộ chi phí được chia làm 3 loại : + Chi phí sản xuất kinh doanh : Bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ và quản lý hành chính, quản trị kinh doanh . + Chi phí hoạt động tài chính : Gồm những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn và đầu tư tài chính . + Chi phí bất thường : Gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ quan hay khách quan mang lại . Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí được chính xác, phục vụ cho việc tính giá thành, xác định chi phí và xác định kết quả của từng hoạt động kinh đúng đắn cũng như lập Báo cáo tài chính nhanh chóng, kịp thời.
•Phân

loại theo yếu tố chi phí (theo nội dung kinh tế):

6

Theo cách phân loại này, mỗi yếu tố chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực sản xuất nào, ở đâu và mục đích hoặc tác dụng của chi phí như thế nào .Theo quy định hiện hành ở Việt nam, toàn bộ chi phí được chia làm 7 yếu tố : + Yếu tố nguyên liệu, vật liệu : Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ...sử dụng vào sản xuất - kinh doanh (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). + Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). + Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương : Phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ CNVC. + Yếu tố BHX, BHYT, KPCĐ : Phản ánh Phần BHX, BHY, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả CNVC. + Yếu tố khấu hao TSCĐ : Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho SXKD trong kỳ. + Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài : Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào SXKD . + Yếu tố chi phí khác bằng tiền : Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ . Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế có tác dụng cho biết kết cấu, tỷ lệ trong từng loại chi phí mà Doanh nghiệp đã chi ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh để lập bản thuyết minh Báo cáo tài chính (Phần chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố) phục vụ cho yêu cầu thông tin và quản trị Doanh nghiệp để phân tích tình hình dự toán chi phí, lập dự toán chi phí sản
7

xuất kinh doanh cho kỳ sau.
•Phân

loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm :

Việc phân loại chi phí theo cách này cho phép ta thấy được ảnh hưởng của từng loại khoản mục đến kết cấu của giá thành sản phẩm, đồng thời nó cũng cung cấp những thông tin cần thiết để xác định hướng và biện pháp hạ giá thành sản phẩm .Các khoản mục chi phí được quy định thống nhất trong từng ngành kinh tế . Theo quy định hiện hành, giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) ở Việt nam bao gồm 3 khoản mục chi phí : + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu ... tham gia trực tiếp vào việc chế tạo, sản xuất sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ . + Chi phí Nhân công trực tiếp : Gồm tiền lương phụ cấp lương và các khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh . + Chi phí sản xuất chung : Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp). Ngoài ra khi tính chỉ tiêu giá thành sản phẩm toàn bộ (giá thành đầy đủ) thì chỉ tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí Bán hàng và chi phí quản lý Doanh nghiệp . Việc phân loại chi phí sản xuất theo cách này có ý nghĩa hết sức quan trọng .Nó giúp cho Doanh nghiệp quản lý được chi phí theo từng loại sản phẩm, từng khu vực sản xuất, từng loại chi phí sản xuất .Từ đó giúp cho việc phân tích hoạt động kinh doanh trong Doanh nghiệp có hiệu quả . Cách phân loại này phù hợp với các nguyên tắc và thông lệ có tính phổ biến của kế toán ở một số nước phát triển trên thế giới .Bên cạnh tác dụng tạo điều kiện đễ dàng thuận lợi cho quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành

8

sản phẩm, phân loại chi phí sản xuất theo cách này sẽ góp phần quốc tế hoá hệ thống kế toán của nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hợp tác với các nước trên thế giới đẩy nhanh tiến trình đổi mới của đất nước .
•Phân

loại theo chức năng trong sản xuất kinh doanh :

Dựa vào chức năng của các hoạt động trong quá trình kinh doanh và chi phí liên quan đến việc thực hiện các chức năng mà chia chi phí sản xuất kinh doanh làm 3 loại : + Chi phí sản xuất : Gồm những chi phí phát sinh liên quan đến việc chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng . + Chi phí tiêu thụ : Gồm tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm , hàng hoá, lao vụ... + Chi phí Quản lý : Gồm những chi phí quản lý kinh doanh, hành chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đến hoạt động của Doanh nghiệp . Cách phân loại này là cơ sở để xác định giá thành sản xuất, xác định trị giá hàng tồn kho, phân biệt được chi phí theo từng chức năng cũng như căn cứ để kiểm tra, kiểm soát và quản lý chi phí .
•Phân

loại theo cách thức kết chuyển chi phí :

Toàn bộ chi phí kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ . + Chi phí sản phẩm : Là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua .Chi phí sản phẩm chỉ thu hồi khi sản phẩm được tiêu thụ .Khi sản phẩm chưa tiêu thụ được thì những chi phí này nằm trong các đơn vị sản phẩm tồn kho .Chi phí sản phẩm gồm : chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. + Chi phí thời kỳ : là những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán, vì thế chi phí thời kỳ có ảnh hưởng đến lợi nhuận của kỳ chúng phát

9

sinh .Chi phí thời kỳ không phải là những khoản chi phí tạo thành thực thể của sản phẩm hay nằm trong các yếu tố cấu thành giá vốn của hàng mua vào mà là những khoản chi phí hoàn toàn biệt lập với quá trình sản xuất sản phẩm hoặc là hàng hoá mua vào. Chi phí thời kỳ bao gồm: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý Doanh nghiệp.
•Phân

loại theo quan hệ giữa chi phí với khối lượng công việc, sản

phẩm hoàn thành: Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để ra quyết định kinh doanh thì chi phí lại được chia thành : Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp . + Biến phí : Là những chi phí thay đổi về tổng số, và tỷ lệ so với khối lượng công việc hoàn thành .Biến phí có 3 đặc điểm :
- Biến - Tổng - Biến

phí đơn vị sản phẩm ổn định, không thay đổi biến phí thay đổi khi sản lượng thay đổi phí bằng 0 khi không có hoạt động

Biến phí bao gồm các khoản chi phí sau đây :
- Chi - chi

phí nguyên vật liệu trực tiếp phí nhân công trực tiếp bộ phận chi phí sản xuất chung : Nguyên vật liệu phụ, lao động

- Một

gián tiếp, động lực lao động công cụ nhỏ, chi phí về nguyên liệu . + Định phí : Là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh... Tuy nhiên nếu trong kỳ có sự thay đổi về khối lượng sản phẩm sản xuất thì chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm sẽ biến động tương quan tỷ lệ nghịch với sự biến động của sản lượng . + Chi phí hỗn hợp : Bao gồm cả yếu tố biến phí lẫn định phí .ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí, quá mức
10

đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí . Chi phí hỗn hợp bao gồm những khoản chi phí như : Chi phí điện thoại,chi phí sử dụng điện nước, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, chi phí nguyên vật liệu gián tiếp .Chỉ có chi phí sản xuất chung mới có đặc điểm của chi phí hỗn hợp . Việc phân loại chi phí theo cách này có tác dụng to lớn đối với quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh .
•Phân

loại theo quan hệ với quá trình sản xuất :

+ Chi phí trực tiếp : Là những chi phí tự bản thân chúng có quan hệ trực tiếp tới quá trình sản xuất và có thể chuyển trực tiếp cho sản phẩm hoặc đối tượng chịu chi phí . + Chi phí gián tiếp : Là những chi phí chung, không phân định được cho từng đối tượng nên cần phải phân bổ. Mỗi cách phân loại chi phí đều có ý nghĩa riêng đồng thời có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và đều nhằm tới một mục đích chung là quản lý tốt chi phí sản xuất và tính đúng giá thành sản phẩm .Các cách phân loại chi phí khác nhau cho phép ta hiểu cặn kẽ hơn nội dung và tính chất của chi phí , vị trí mỗi loại chi phí trong quá trình sản xuất .Từ đó đi đến mục tiêu nghiên cứu, xây dựng hệ thống định mức các khoản mục giá thành cho từng loại hoạt động sản xuất . Bên cạnh các cách phân loại trên, trong quản lý kinh tế cón sử dụng một số loại thuật ngữ khác nhau như : chi phí cơ hội, chi phí khác biệt, chi phí tới hạn ... Trong sản xuất chi phí chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí đi .Để đánh giá chất lượng kinh doanh của các tổ chức kinh tế thì chi phí chi ra cũng phải xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản của quá trình sản xuất đó là kết quả sản xuất thu được. Quan hệ so sánh đó đã
11

hình thành nên chỉ tiêu ''Giá thành sản phẩm ''. 2. Giá thành sản phẩm : a) Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm: Giá thành sản phẩm cũng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt : Mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ. Giá thành sản phẩm là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá, giá thành là lượng hao phí kết tinh trong sản phẩm.giá thành sản phẩm lại là một chỉ tiêu tính toán không thể thiếu của quản lý theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, do vậy có thể nói giá thành sản phẩm vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan ở một phạm vi nhất định. Dùng thuật ngữ ''chi phí sản xuất'' C.Mác đã chỉ rõ bản chất của giá thành : "chi phí sản xuất của hàng hoá chỉ hoàn toàn do tư bản đã thực sự chi phí vào sản xuất hàng hoá cấu thành mà thôi ''. Bản chất của chi phí sản xuất và của giá thành sản phẩm là như thế, điều đó không chỉ đúng với sản xuất tư bản chủ nghĩa mà còn đúng với mọi hình thức sản xuất khác. Bởi vì như C.Mác viết :"chi phí sản xuất hoàn toàn không phải là một khoản mục chỉ có trong kế toán tư bản mà thôi. Tính chất độc lập của yếu tố giá trị ấy trong thực tiễn không ngừng biểu hiện ra quá trình sản xuất thực tế của hàng hoá...".

12

Giá thành sản phẩm có quan hệ mật thiết với gía trị hàng hoá và là một bộ phận cơ bản của giá trị hàng hoá. Ta biết : Giá trị hàng hoá = C + V + M . ở góc độ Doanh nghiệp, để tạo ra sản phẩm dịch vụ thì doanh nghiệp phải bỏ ra hai bộ phận chi phí là C và V. Đó là chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tạo ra sản phẩm dịch vụ, giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành trong kỳ. Như vậy, giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của xí nghiệp giá thành dược tíng toán chính xác cho từng loại sản phẩm hoặc lao vụ cụ thể (đối tượng tính giá) và chỉ tính toán xác định đối với số lượng sản phẩm hoặc lao vụ đã hoàn thành. Khi kết thúc một hay một số giai đoạn công nghệ sản xuất (nửa thành phẩm). b) Phân loại giá thành sản phẩm : Để đáp ứng nhu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành cũng được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng như trên thực tế, ngoài các khái niệm giá thành xã hội và giá thành cá biệt, còn có khái niệm giá thành công xưởng, giá thành toàn bộ...
•Căn

cứ vào thời gian và cơ sở số liệu để tính, giá thành sản phẩm

được chia thành: + Giá thành kế hoạch : Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch + Giá thành định định mức : Giống như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trược khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành k ế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức
13

bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức lại được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành định mức được xem là thước đo chính xác kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vồn trong doanh nghiệp, để đánh giá các giải pháp mà doanh nghiệp đã áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả chi phí. + Giá thành thực tế: khác với hai loại trên, giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế của sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của Doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế-tổ chứckỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của Doanh nghiệp.

Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành được chia

thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ: + Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưỏng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất. Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất :chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho những sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm được sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho bàn giao cho khách hàng. Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán và lãi gộp ở các Doanh nghiệp sản xuất

14

. + Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan tới việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, quản lý và bán hàng). Giá thành tiêu thụ của sản phẩm là căn cứ để tính toán lãi trước thuế lợi tức của Doanh nghiệp. Giá thành tiêu thụ còn được gọi là giá thành đầy đủ và được tính theo công thức: Giá thành toàn bộ Của Sản phẩm = Giá thành sản xuất của sản phẩm Chi phí + QLDN + Chi phí BH

Tuỳ theo từng loại hình Doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau, nếu quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ (bán hàng) diễn ra đồng thời (như đối với các hoạt động dịch vụ, du lịch, vận tải...) thì giá thành sản xuất thực tế và giá thành sản phẩm tiêu thụ được xác định đồng thời. ý nghĩa của giá thành sản xuất thực tế được sử dụng khi nhập kho thành phẩm còn giá thành sản phẩm tiêu thụ được sử dụng để tính toán xác định kết quả bán hàng (kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp ). 3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm : Xét về mặt nội dung, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt của quá trình sản xuất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giống nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm. Xét về mặt kế toán, thì kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai bước công việc liên tiếp và gắn bó hữu cơ với nhau. Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại không giống nhau về lượng sự khác nhau đó thể hiện ở các điểm sau: + Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí, còn giá thành lại gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. + Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí sản xuất đã trả

15

trước trong kỳ nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trước nhưng kỳ này mới phát sinh thực tế, nhưng không bao gồm chi phí trả trước của kỳ trước phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này nhưng thực tế chưa phát sinh. Ngược lại, trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm một phần chi phí thực tế đã phát sinh (chi phí trả trước) hoặc một phần chi phí phí sẽ phát sinh ở kỳ sau nhưng đã ghi nhận là sản phẩm của kỳ này (chi phí phải trả). + Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm đang còn dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể được khái quát qua sơ đồ sau :

Chi phí sản xuất dở Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ dang đầu kỳ B dang cuối kỳ D

A Tổng giá thành sản phẩm dịch vụ C hoàn Chi phí sản xuất dở thành

Qua sơ đồ trên, ta thấy: AC = AB + BD - CD Hay : Tổng giá thành Sản phẩm = chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ chi phí sản xuất chi phí sản xuất dở + phát sinh trong kỳ - dang cuối kỳ Nếu :
16

+ Chi phí sản xuất dở dang dầu kỳ = chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ. + Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ > chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ thì tổng giá thành sản phẩm lớn hơn tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ. + Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ < chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ thì tổng giá thành sản phẩm nhỏ hơn tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ rất mật thiết vì nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những chi phí Doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động sản xuất. Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ là cơ sở để tính giá thành của sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành . Sự tiết kiệm hay lãng phí về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm là cao hay thấp. Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai công việc kế tiếp nhau, gắn bó hữu cơ với nhau. Quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất . 4. Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sẩn phẩm: Trong công tác quản lý Doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn luôn được các nhà quản lý Doanh nghiệp quan tâm, vì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất của Doanh nghiệp. Thông qua những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm do bộ phận kế toán cung cấp, những người quản lý Doanh nghiệp nắm được chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thực tế của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng như kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, để phân tích đánh giá tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán chi phí,tình hình sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm để có các

17

quyết định quản lý thích hợp . Tổ chức kế toán đúng, hợp lý và chính xác chi phí sản xuất và tính đúng tính đủ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn trong quản lý chi phí, giá thành ;tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chi phí phát sinh ở Doanh nghiệp nói chung, ở từng bộ phận đối tượng nói riêng góp phần quản lý vật tư, tài sản, lao động, tiền vốn có hiệu quả. Mặt khác, tạo điều kiện và có biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm .Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm còn là tiền đề để xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Để thực hiện tốt như vậy thì kế toán có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
•Căn

cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất

sản phẩm của Doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành thích hợp.
•Tổ

chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối

tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định và bằng phương pháp thích hợp đã chọn, cung cấp kịp thời những số liệu thông tin tổng hợp về các khoản mục chi phí và yếu tố chi phí quy định, xác định đúng đắn chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ.
•Vận

dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá thành

và giá thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng các khoản mục quy định và đúng kỳ tính giá thành đã xác định.
•Định

kỳ cung cấp Báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành cho lãnh

đạo Doanh nghiệp và tiến hành phân tích tình hình thực hiện các định mức chi phí và đặc điểm toán chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành sản phẩm, phát hiện kịp thời khả năng tiềm tàng đề xuất biện pháp thích hợp để phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.

18

II - ĐỐI TƯỢNG TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM, DỊCH VỤ :
1.

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất :

Đối tượng kế toán tâp hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn sản xuất mà chi phí sản xuất cần phải tâp hợp theo đó nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, phân tích chi phí và yêu cầu tính giá thành sản phẩm. Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm tình hoạt động sản xuất, đặc điểm quy trình sản xuất sản phẩm và đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của Doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt nhất công việc kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản và sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định. Hoạt động sản xuất của các Doanh nghiệp có thể tiến hành ở nhiều địa điểm,nhiều phân xưởng, tổ đội sản xuất khác nhau, ở từng địa điểm sản xuất lại có thể sản xuất chế biến nhiều sản phẩm, nhiều công việc lao vụ khác nhau, theo các quy trình công nghệ sản xuất khác nhau. Do đó chi phí sản xuất của Doanh nghiệp cũng phát sinh ở nhiều địa điểm, nhiều bộ phận liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc. Để xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trước hết phải căn cứ vào đặc điểm phát sinh cuả chi phí và công dụng của chi phí trong sản xuất. Tùy theo cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, yêu cầu hạch toán kinh doanh của Doanh nghiệp mà đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể là toàn bộ quá trình công nghệ sản xuất của Doanh nghiệp, hay từng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt, từng phân xưởng, tổ đội sản xuất. Tuỳ theo quy trình công nghệ sản xuất và đặc điểm của sản phẩm mà đối tượng kế toán tập hợp chi

19

phí sản xuất có thể là từng nhóm sản phẩm, nhóm cây trồng, từng mặt hàng sản phẩm, từng công trình xây dựng, từng đơn đặt hàng, từng loạt hàng hoặc từng bộ phận, cụm chi tiết hoặc chi tiết sản phẩm. Thực chất của việc xác định đối tưọng tập hợp chi phí sản xuất là xác định hoạt động hay phạm vi của chi phí phát sinh làm cơ sở cho việc tập hợp chi phí sản xuất. Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã được quy định hợp lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời và đúng đắn .
2.

Đối tượng tính giá thành :

Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc lao vụ do Doanh nghiệp sản xuất ra, cần phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị. Khi tính giá thành sản phẩm dịch vụ trước hết phải xác định được đối tượng tính giá thành . Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên cần thiết trong toàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm của kế toán. Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của Doanh nghiệp, tính chất sản xuất và cung cấp sử dụng của chúng để xác định đối tượng tính giá thành cho thích hợp . Về mặt tổ chức sản xuất ,nếu Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có tính chất đơn chiếc như đóng tàu, sửa chữa ô tô... thì đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm dịch vụ hoàn thành. Về mặt quy trình công nghệ sản xuất, nếu quy trình công nghệ sản xuất giản đơn, thì đối tượng tính giá thành chỉ có thể là sản phẩm đã hoàn thành ở cuối quy trình sản xuất. Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục thì đối tượng tính giá thành có thể là thành phẩm ở giai đoạn chế biến cuối cùng, cũng có thể là các loại nửa thành phẩm hoàn thành ở từng giai đoạn sản xuất. Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu song song

20

(lắp ráp) thì đối tượng tính giá thành có thể là từng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm. Khi xem xét các loại nửa thành phẩm tự chế, các bộ phận hoặc chi tiết sản phẩm có là đối tượng tính giá thành hay không, còn cần phải cân nhắc đến các mặt : Chu kỳ sản xuất sản phẩm dài hay ngắn, nửa thành phẩm tự chế có phải là sản phẩm hàng hoá (có bán ra ngoài) hay không, yêu cầu về trình dộ quản lý và hạch toán kinh doanh của Doanh nghiệp như thế nào để xác định cho phù hợp. Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá thành cho từng đối tượng tính giá thành thích hợp, sẽ giúp cho tổ chức công việc tính giá thành sản phẩm được khoa học, hợp lý, đảm bảo cung cấp số liệu thông tin về giá thành thực tế của sản phẩm, lao vụ kịp thời trung thực phát huy được vai trò kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của kế toán. Xác định đối tượng tính giá thành đúng và phù hợp với diều kiện đặc điểm của Doanh nghiệp giúp cho kế toán tổ chức mở sổ kế toán, các bảng tính giá và tính giá thành sản phẩm theo từng đối tượng cần quản lý và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm có hiệu quả đáp ứng nhu cầu quản lý nội bộ Doanh nghiệp. 3. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành: Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành về cơ bản là khác nhau. Tuy nhiên chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau và trong nhiều trường hợp có sự phù hợp nhau. Nó có sự giống nhau, chẳng hạn về bản chất, chúng đều là những phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí, vì thế có sự trùng hợp nhau. Sự khác nhau đó là : Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để mở các tiểu khoản, các sổ chi tiết, tổ chức công tác ghi chép ban
21

đầu, tập hợp số liệu chi phí sản xuất chi tiết theo từng đối tượng (từng địa điểm phát sinh, từng đối tượng chịu chi phí sản xuất ) giúp tăng cường quản lý chi phí sản xuất và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong doanh nghiệp . Xác định đối tượng tính giá thành lại là căn cứ để kế toán mở các phiếu tính giá thành sản phẩm (bảng chi tiết giá thành sản phẩm ) tổ chức công tác tính giá thành theo từng đối tưọng, phục vụ cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, tính toán hiệu quả xác định thu nhập, phát hiện khả năng tiềm tàng để có biện pháp phấn đấu không ngừng hạ giá thành sản phẩm, phục vụ yêu cầu quản lý hạ giá thành . Cụ thể, để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào các cơ sở sau đây: • Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất : + Với sản xuất giản đơn: - Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một loại sản phẩm ) hoặc có thể là nhóm sản phẩm (nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm cùng tiến hành trong một quá trình lao động) - Đối tượng tính giá thành ở đây là sản phẩm cuối cùng. + Với sản xuất phức tạp : - Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm. - Đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở bước chế tạo cuối cùng hay thành phẩm ở từng bước chế tạo. • Loại hình sản xuất: + Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất nhỏ hàng loạt : - Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các đơn đặt hàng riêng biệt.

22

- Đối tượng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn đặt hàng . + Với sản xuất hàng loạt và sản xuất với khối lượng lớn, phụ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất (đơn giản hay phức tạp). - Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ. - Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm. • Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh : Dựa trên cơ sở trình độ, yêu cầu và tổ chức quản lý để xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành. Với trình độ cao có thể chi tiết đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở các góc độ khác nhau. Ngược lại, nếu trình độ thấp thì đối tượng đó có thể bị hạn chế và thu hẹp lại . Mặc dù có sự giống và khác như vậy nhưng đối tượng tính giá thành và đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau xuất thân từ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Mối quan hệ đó thể hiện ở việc sử dụng số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp được để xác định giá trị chuyển dịch của các yếu tố chi phí sản xuất và các đối tượng tính giá thành. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành gồm ba dạng sau: + Một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với một đối tượng tính giá thành + Một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với nhiều đối tượng tính giá thành + Nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với một đối tượng tính giá thành Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là vấn đề có ý nghĩa to lớn,

23

mang tính định hướng cho tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Đồng thời thể hiện được mục đích và phạm vi tiến hành hai giai đoạn của công tác kế toán nêu trên.

24

III - PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ

1. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất :
a)

Khái niệm, Nội dung các phương pháp hạch toán chi phí

sản xuất : Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của từng đối tượng hạch toán chi phí Nội dung chủ yếu của các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là kế toán mở thẻ (hoặc sổ ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí đã phát sinh có liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tượng. Mỗi phương pháp hạch toán chi phí ứng với một loại đối tượng hạch toán chi phí nên tên gọi của phương pháp này biểu hiện đối tượng mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí .Vì thế, trong thực tế thường áp dụng các phương pháp hạch toán chi phí sau:

Phương pháp hạch toán chi phí theo chi tiết hoặc theo bộ

phận sản phẩm : Theo phương pháp này các chi phí sản xuất được tập hợp và phân loại theo từng chi tiét hoặc bộ phận sản phẩm. Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành được áp dụng bằng tổng cộng số chi phí của các chi tiết bộ phận cấu thành sản phẩm .Phương pháp này khá phức tạp chỉ áp dụng hạn chế ở các Doanh nghiệp chuyên môn hoá sản xuất cao, sản xuất được ít loại sản phẩm hoặc mang tính chất đơn chiếc, có ít chi tiết và bộ phận cấu thành sản phẩm .

Phương pháp hạch toán chi phí theo sản phẩm :

25

Theo phương pháp này các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân loại theo từng thứ tự sản phẩm riêng biệt không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm và quy trình công nghệ sản xuất. Nếu quá trình chế biến sản phẩm phải trải qua nhiều phân xưởng khác nhau thì các chi phí được tập hợp theo từng phân xưởng trong đó có các chi phí trực tiếp được phân loại theo từng sản phẩm, các chi phí sản xuất chung được phân bổ cho từng sản phẩm theo các tiêu chuẩn phù hợp. Khi áp dụng phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm thì giá thành sản phẩm được xác định bằng phương pháp trực tiếp hoặc bằng phương pháp tổng cộng chi phí .Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở các Doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất hàng loạt và khối lượng lớn như xí nghiệp Dệt, xí nghiệp khai thác khoáng sản...

Phương pháp hạch toán chi phí theo nhóm sản phẩm :

Theo phương pháp này các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân loại theo nhóm sản phẩm cùng loại. Khi áp dụng phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm thì giá thành sản phẩm được xác định bằng phương pháp hỗn hợp sử dụng đồng thời một số phương pháp như : Phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ .Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở các Doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm có quy cách khác nhau như Doanh nghiệp đóng tàu, may mặc
•Phương

pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng :

Các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân loại theo thứ tự sản phẩm riêng biệt, không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm và quy trình công nghệ sản xuất. Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí tập hợp theo đơn đặt hàng là giá thành thực tế của sản phẩm, khối lượng công việc hoàn thành theo đơn đặt hàng. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở các Doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc như Doanh nghiệp cơ khí, sửa chữa...

26

Phương pháp hạch toán chi phí theo giai đoạn công nghệ:

Theo phương pháp này các chi phí phát sinh được tập hợp và phân loại theo từng giai đoạn công nghệ, từng loại sản phẩm và bán sản phẩm. Phương pháp này áp dụng ở xí nghiệp mà toàn bộ công nghệ sản xuất được qua nhiều giai đoạn công nghệ và nguyên vật liệu chính được chế biến một cách liên tục từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối theo một trình tự nhất định .
•Phương

pháp hạch toán chi phí theo đơn vị sản xuất :

Theo phương pháp này, chi phí phát sinh được tập hợp theo từng đơn vị sản xuất (phân xưởng, tổ đội...) trong mỗi đơn vị sản xuất các chi phí lại được tập hợp theo đối tượng chịu chi phí chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm .
•Phương

pháp hạch toán chi phí theo định mức :

Phương pháp này áp dụng ở những Doanh nghiệp đã xây dựng được một hệ thống định mức từng loại sản phẩm trong chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh một cách khoa học, hợp lý được thực tiễn kiểm nghiệm nhiều lần .Các khoản chi thực tế phát sinh sẽ được phân loại theo chi phí định mức và được tập hợp vào các TK chi tiết tương ứng.

Phương pháp hạch toán chi phí theo nội dung kinh tế :Theo

phương pháp này các TK chi phí của Doanh nghiệp được mở theo từng yếu tố .

Phương pháp liên hợp : Sử dụng đồng thời 2 hay nhiều phương

pháp khác nhau để tập chi phí sản xuất.
b)

Vận dụng các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất để

tập hợp chi phí sản xuất cơ bản,chi phí sản xuất chung : Chi phí cơ bản là những chi phí sản xuất thuộc các yếu tố cơ bản của sản xuất, có mối quan hệ trực tiếp đến sản phẩm sản xuất trong kỳ .Chi phí cơ bản ở các Doanh nghiệp gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp dùng vào quá trình sản xuất.

27

Đối với chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí thì được tập hợp trực tiếp cho đối tượng chi phí đó. Những chi phí cơ bản liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí thì vận dụng phương pháp tập hợp gián tiếp rồi phân bổ. Trên thực tế, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp ít liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí . Chi phí sản xuất chung là những chi phí quản lý phân xưởng, khấu hao TSCĐ và các chi phí khác liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí. Những chi phí này khi phát sinh sẽ hạch toán vào các khoản mục chi phí theo từng yếu tố cụ thể. Cuối kỳ để tập hợp chi phí theo từng đối tượng cụ thể thì phải tiến hành phân bổ cho từng đối tượng tập hợp chi phí theo từng tiêu thức phù hợp.Việc tính toán phân bổ các chi phí gồm 2 bước là : Tính hệ số phân bổ và tính chi phí phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí .
2. a)

Phương pháp tính giá thành sản phẩm, dịch vụ : Khái niệm, Nội dung các phương pháp tính giá thành :

Phương pháp tính giá thành là một phương pháp hoặc hệ thống phương pháp được sử dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm, nó mang tính thuần tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành .Việc tính giá thành sản phẩm trong từng Doanh nghiệp cụ thể, tuỳ thuộc vào đối tượng hạch toán chi phí và đối tượng tính giá thành mà có thể áp dụng một trong các phương pháp nói trên hoặc áp dụng kết hợp một số phương pháp với nhau .Những phương pháp thường được áp dụng là :
•Phương

pháp trực tiếp : Phương pháp này áp dụng trong các Doanh

nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có rất ít . Giá trị sản Giá thành Giá trị sản phẩm dở
28

Chi phí sản xuất

phẩm dở

đơn vị Sản phẩm =

dang đầu kỳ

+

trong kỳ

-

dang cuối kỳ

Số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
•Phương

pháp tổng cộng chi phí : Thường áp dụng với Doanh nghiệp

mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất .Giá thành sản phẩm được xác định bằng tổng cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí của giai đoạn bộ phận sản xuất tạo nên sản phẩm Giá thành thành phẩm =Z1 + Z2+ .......... + Zn Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng phổ biến trong các Doanh nghiệp khai thác, dệt, nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc ...
•Phương

pháp hệ số : áp dụng trong các Doanh nghiệp mà trong cùng

một quy trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất. Theo phương pháp này, trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy định, quy đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc rồi từ đó dựa vào tổng số chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính ra giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm . Giá thành đơn vị Sản phẩm gốc Giá thành đơn vị = Tổng số sản phẩm gốc quy đổi Giá thành đơn vị x Hệ số quy đổi Sản phẩm từng loại Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm

Sản phẩm từng loại = Sản phẩm gốc

29

Trong đó : Sản lượng sản phẩm quy đổi Tổng giá thành = Số lượng sản Hệ số quy đổi x sản phẩm loại i Giá trị sản - phẩm dở dang cuối kỳ
•Phương

∑ phẩm loại i

Giá trị sản

Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

sản xuất của các = phẩm dở dang + loại sản phẩm đầu kỳ

pháp tỷ lệ : áp dụng thích hợp trong Doanh nghiệp có cùng

quy trình công nghệ sản xuất, kết quả sản xuất là một nhóm sản phẩm cùng loại với những chủng loại, phẩm cấp, quy cách khác nhau .Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất kế hoạch (hoặc định mức ), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm từng loại . Giá thành thực tế Giá thành kế hoạch (hoặc x Tỷ lệ chi phí thực tế so với chi phí kế

đơn vị sản phẩm = định mức) đơn vị sản phẩm từng loại
•Phương

từng loại thực tế

hoạch (hoặc định mức)

pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ : Đối với các Doanh

nghiệp mà trong cùng quy trình sản xuất bên cạch sản phẩm chính thu được sản phẩm phụ, để tính giá thành sản phẩm chính phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ khỏi tổng chi phí sản xuất theo các phương pháp như giá kế hoạch, giá ước tính ... Tổng giá Giá trị sản Tổng chi phí Giá trị Giá trị sản thành Sản phẩm = phẩm chính dở + sản xuất phát - sản phẩm phụ Chính
30

phẩm chính dở

dang đầu kỳ sinh trong kỳ
•Phương

thu hồi

dang cuối kỳ

pháp liên hợp : Là phương pháp áp dụng trong những

Doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Trên thực tế, kế toán có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ, hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ v..v...
b)

Vận dụng các phương pháp tính giá thành sản phẩm, dịch

vụ trong một số loại hình Doanh nghiệp chủ yếu :
•Doanh

nghiệp sản xuất giản đơn : áp dụng trong các Doanh nghiệp

có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn sản xuất một hoặc một số ít hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể. Đối tượng tập hợp chi phí được xác định toàn bộ quy trình công nghệ và đối tượng tính giá thành có thể là một loại sản phẩm hoặc từng nhóm sản phẩm tương tự. Kỳ tính giá thành xác định theo kỳ Báo cáo .
•Doanh

nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng : Thường áp dụng ở

những Doanh nghiệp mà sản xuất sản phẩm ra được thiết kế và tiêu thụ theo từng đơn đặt hàng kỳ sau thường không lặp lại y nguyên .Chi phí sản xuất có thể tập hợp theo từng phân xưởng (nếu có nhiều phân xưởng) nhưng phải chi tiết theo từng đơn đặt hàng. Đối tượng tính giá thành là sản phẩm theo từng đơn đặt hàng. Kỳ tính giá thành được xác định theo chu kỳ sản xuất, kết thúc sản xuất một đơn đặt hàng nào đó mới tính giá thành .
•Doanh

nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức : Trên cơ sở

hệ thống định mức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự toán và chi phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản phẩm. Giá thành thực tế của sản phẩm được xác định dựa trên cơ sở của giá thành định mức và Phần sai lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức .

31

Giá thành thực tế

Giá thành định +

Chênh lệch do

+

Chênh lệch so của sản phẩm = mức sản phẩm - thay đổi định mức với định mức

Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục: Trong các Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục,

quy trình công nghệ phức tạp, sản xuất phải trải qua từng giai đoạn chế biến. Kết quả sản xuất của giai đoạn trước là đối tượng chế biến của giai đoạn sau. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất được xãc định theo từng giai đoạn công nghệ (theo từng phân xưởng) sản phẩm được sản xuất thường xuyên liên tục với khối lượng lớn. Kỳ tính giá thành được tính theo kỳ Báo cáo .Phương pháp tính giá thành thường là phương pháp trực tiếp kết hợp phương pháp tổng cộng chi phí hay phương pháp hệ số (hoặc tỷ lệ). Tuỳ theo tính chất hàng hoá của bán thành phẩm và yêu cầu công tác quản lý .Chi phí sản xuất có thể được tập hợp theo phương án có bán thành phẩm và phương án không có bán thành phẩm: + Tính giá thành phân bước theo phương án hạch toán có bán thành phẩm : Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các Doanh nghiệp có yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ cao hoặc bán thành phẩm ở các bước có thể dùng làm thành phẩm bán ra ngoài. Đặc điểm của phương án này là khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công trị Chi phí NVL Chi phí chế Giá nghệ, giá trị bán thành phẩm Giá thành
chính SPDD tế của bước trước chuyển biến B1 theo giá thựcB1 và được bán TP ánh theo sang tính phản B1

khoản mục chi phí và gọi là kết chuyển tuần tự.Trình tự tập hợp chi phí như sau :
Chi phí chế biến B2 Giá trị SPDD B2 Giá thành bán TP B2 Chi phí chế biến B3

Giá trị SPDD B3

Giá thành bán TP B(n-1)

Chi phí chế biến Bn
32

Giá trị SPDD Bn

∑ Z sp

+

+

-

-

+

=

-

-

=

=

+

+

=...=

=

+

+

-

+ =

-

-

+ Tính giá thành phân bước theo phương án không có bán thành phẩm : Trong những Doanh nghiệp mà yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ không cao hoặc bán thành phẩm chế biến ở từng bước không bán ra ngoài thì chi phí chế biến phát sinh trong các giai đoạn công nghệ được tính nhập vào giá thành thành phẩm một cách song song nên còn gọi là kết chuyển song song . Theo phương án này kế toán không cần tính giá thành bán thành phẩm trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá trị sản phẩm bàng cách tổng hợp các chi phí sản xuất trong các giai đoạn công nghệ. Có thể phản ánh qua sơ đồ sau :
Chi phí NVL Chính tính cho Thành phẩm

Chi phí chế biến B1tính cho thành phẩm

Chi phí chế biến B2 tính cho thành phảm

TỔNG GIÁ THÀNH SẢN PHẨM HOÀN THÀNH

33

................................
Chi phí chế biến Bn tính cho thành phẩm

Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất kinh doanh phụ : Sản xuất phụ là ngành được tổ chức ra để phục vụ cho sản xuất kinh

doanh chính. Sản phẩm lao vụ của sản xuất phụ được sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất kinh doanh chính, Phần còn lại có thể cung cấp ra cho bên ngoài . Phương pháp tính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất, kinh doanh phụ tuỳ thuộc vào đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất phụ trong Doanh nghiệp, cụ thể: + Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể : Chi phí sản xuất sẽ được tập hợp riêng theo từng bộ phận ,từng hoạt động. Giá thành sản phẩm lao vụ của từng bộ phận sẽ được tính theo phương pháp trực tiếp . + Trường hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ : Kế toán có thể áp dụng các phương pháp như :phương pháp phân bổ một lần, phương pháp đại số, hoặc phương pháp kinh nghiệm để xác định giá trị phục vụ trong thực tế . Trong thực tế thì phương pháp phân bổ lẫn nhau một lần sử dụng là phổ biến (nó gồm phương pháp phân bổ lẫn nhau một lần theo giá thành kế hoạch và theo giá thành ban đầu ).

34

IV - NỘI DUNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM, DỊCH VỤ
1.

Nguyên tắc hạch toán chi phí vào giá thành sản phẩm :

Theo chế độ quy định về hạch toán hiện nay chỉ tính vào giá thành sản phẩm dịch vụ chỉ hạch toán những khoản chi phí cơ bản trực tiếp (chi phí NVL trực tiếp, chi phí N C trực tiếp ) và chi phí sản xuất chung (chi phí quản lý phan xưởng, khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài...). Còn chi phí QLDN và chi phí BH được hạch toàn vào giá thành thực tế của sản phẩm bán ra. Thực chất đối với Doanh nghiệp sản xuất, chi phí QLDN và chi phí BH cũng là chi phí sản xuất song về kỹ thuật tính toán thì theo nguyên tắc thạn trọng trong kế toán, nó được tính cho sản phẩm, dịch vụ bán ra. Điều này cũng không có gì mâu thuẫn với bản chất của giá thành bởi vì đến khâu cuối cùng của quá trình kinh doanh của Doanh nghiệp (là khâu bán hàng) Giá thành sản phẩm dịch vụ được bảo đảm chứa đựng chi phí Doanh nghiệp chi ra cần bù đắp. Những khoản chi phí khác như : Chi phí đầu tư, chi cho hoạt động taì chính, chi các khoản bất thường ... Thì các khoản chi đã có nguồn bù đắp riêng thì không hạch toán vào chi phí sản xuất và tất nhiên là không tính vào giá thành sản phẩm . Việc xác định nguyên tắc hạch toán chi phí vào giá thành sản phẩm dịch vụ có ý nghĩa rất lớn trong việc tính đúng, tính đủ và hợp lý chi phí vào giá thành sản phẩm của Doanh nghiệp, đảm bảo tính nhất quán và các nguyên tắc kế toán trong kế toán chi phí.
2.

Tổ chức hệ thống chứng từ, hệ thống sổ sách để hạch toán

chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp : Chứng từ gốc liên quan đến các chi phí phát sinh là những chứng từ về các yếu tố chi phí như: Vật tư (phiếu xuất kho) tiền lương(Bảng phân bổ tiền lương ,BHXH, BHYT<KPCĐ) khấu hao TSCĐ (Bảng tính và phân bổ khấu
35

hao TSCĐ) tiền mặt (phiếu chi ) tiền gửi ngân hàng (giấy báo nợ hoặc bảng sao kê ). Sổ kế toán áp dụng để ghi chép, tập hợp chi phí sản xuất gồm hai hệ thống sổ: + Hệ thống sổ kế toán phục vụ cho kế toán tài chính (sổ kế toán tổng hợp ). Tuỳ theo hình thức kế toán mà Doanh nghiệp áp dụng để có sổ kế toán khác nhau . Nhưng ở mỗi hình thức kế toán cũng chung ở sổ cái tài khoản tổng hợp, mỗi tài khoản kế toán tổng hợp được mở một sổ cái. Mặc dù các Doanh nghiệp sử dụng các loại sổ sách khác nhau theo từng hình thức thì các loại sổ cũng đều phải cung cấp các thông tin, chỉ tiêu để lập báo cáo tài chính về chi phí, về giá thành. + Hệ thống sổ kế toán phục vụ cho kế toán quản trị (kế toán phân tích). Tuỳ theo yêu cầu quản lý cụ thể và đối tượng tập hợp chi phí của Doanh nghiệp để xác định mà kế toán chi phí mở các sổ kế toán chi tiết để tập hợp chi phí theo đối tựợng tập hợp chi phí. Mẫu sổ chi tiết tuỳ theo từng Doanh nghiệp thiết kế . Chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất và nội dung khác nhau. Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác kịp thời được. Trình tự này phu thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng Doanh nghiệp ,vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp ,vào trình đọ công tác quản lý hạch toán...Tuy nhiên có thể khái quát chung việc tập hợp chi phí sản xuất qua các bước sau : - Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng . - Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh phụ cho từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ

36

và giá thành đơn vị lao vụ . - Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm có liên quan . - Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm . Tuỳ theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng trong Doanh nghiệp mà nội dung và cách thức hạch toán chi phí sản xuất có những điểm khác nhau . A - hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên : Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) là phương pháp theo dõi tình hình hiện có ,biến động tăng giảm vật tư hàng hoá một cách liên tục trên sổ sách. áp dụng phương pháp này có ưu điểm là : Chính xác và có thể cho thông tin bất cứ lúc nào về tình hình nhập, xuất, tồn vật tư hàng hoá và tình hình biến động tăng giảm chi phí sản xuất, hàng hoá, tình hình chênh lệch thiếu hụt ... và kịp thời có biện pháp xử lý .

1. a)

Hạch toán chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT) : Khái niệm : Chi phí NVLTT bao gồm giá trị NVL chính, NVL

phụ, nhiên liệu ... được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm ...) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tập hợp chi phí riêng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ

37

theo định mức tiêu hao, theo hệ số, trọng lượng ... Công thức phân bổ như sau: Chi phí vật liệu phân bổ cho từng đối tượng = Hệ số Phân bổ = Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng x Tỷ lệ (Hệ số) phân bổ

Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ

b)

Tài khoản sử dụng:

Để theo dõi các khoản chi phí vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621 - Chi phí NVLTT .TK này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất...). Bên Nợ : Giá trị NVL xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm Bên Có : -Giá trị vật liệu xuất dùng không hết -Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp TK 621 cuối kỳ không có số dư.
c)

Phương pháp hạch toán cụ thể :

Cách hạch toán có thể được phản ánh qua sơ đồ sau:

38

Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí Vật liệu trực tiếp TK151,152,111,112 331,311,338...... Vật liệu dùng trực tiếp Chế tạo sản phẩm, tiến hành Lao vụ, dịch vụ TK621 Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng để tính giá thành TK154

TK133

TK152

Thuế GTGT được Khấu trừ (nếu có)

Vật liệu dùng không hết mhập lại kho

•Chứng

từ và sổ sách kế toán :

Trước hết từ Bảng kê số 3 (Bảng tính giá trị thực tế vật liệu và công cụ dụng cụ) kế toán vào Bảng phân bổ số 2 (Bảng phân bổ NVL, công cụ dụng cụ) .Sau khi vào bảng phân bổ số 2, kế toán vào tiếp Bảng kê số 4 (Tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng). Từ đó kế toán vào NKCT số 7 và vào sổ cái TK 621 .
2. a)

Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp (NCTT) : Khái niệm : Chi phí NCTT là những khoản tiền phải trả cho

công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện lao vụ dịch vụ như tiền lương chính, tiền lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương .Ngoài ra, Chi phí NCTT còn bao gồm những khoản đóng góp cho

39

các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ do chủ lao động chịu và tính vào chi phí kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định với số tiền lương phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất .
b)

Tài khoản sử dụng : Để theo dõi chi phí NCTT, kế toán sử

dụng TK 622 ''Chi phí NCTT ''. TK này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí như TK 621 Bên Nợ : Chi phí NCTT sản xuất sản phẩm thực hiện lao vụ dịch vụ Bên Có : Kết chuyển chi phí NCTT vào tài khoản tính giá thành TK 622 cuối kỳ không có số dư
c)

Phương pháp hạch toán cụ thể :

Cách hạch toán có thể phản ánh qua sơ đồ sau: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp TK334 Tiền lương, tiền công và Phụ cấp lương phải trả cho Công nhân trực tiếp sản xuất TK622 TK154 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp theo từng đối tượng tập hợp chi phí

TK338 (3382,3383,3384) Các khoản đóng góp theo tỷ Lệ với tiền lương thực tế của Công nhân trực tiếp sản xuất phát sinh (KPCĐ,BHXH,BHYT) TK335 Các khoản tiền lương tính trước vào chi phí (ngừng sản xuất
40

theo kế hoạch)

•Chứng

từ và sổ sách kế toán:

Từ các chứng từ ban đầu ,kế toán vào bảng phân bổ số 1 (Bảng phân bổ tiền lương và BHXH ).Tiếp đó kế toán vào bảng kê số 4 (Tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng) Từ bảng kê số 4 kế toán vào NKCT số, vào sổ cái TK 622. 3 . Hạch toán chi phí trả trước: a) Khái niệm : Chi phí trả trước (hay còn gọi là chi phí chờ phân bổ) là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết vào chi phí kinh doanh của kỳ này mà được tính cho hai hay nhiều kỳ sau đó. đây là những khoản chi phí phát sinh một lần quá lớn hoặc do bản thân chi phí phát sinh có tác dụng tới kết quả hoạt động cuẩ nhiều kỳ hạch toán. Chi phí trả trước bao gồm: - Giá trị công cụ, dụng cụ nhỏ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần - Giá trị sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch . - Tiền thuê TSCĐ. Phương tiện kinh doanh... trả trước. - Giá trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê. - Dịch vụ mua ngoài trả trước (điện, điện thoại, nước...) - Chi phí bán hàng, chi phí quản lý Doanh nghiệp (với Doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài) - Chi phí mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh... - Chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, phát minh,sáng chế...(giá trị chưa tính vào TSCĐ vô hình ) - Lãi thuê mua TSCĐ(thuê tài chính)... b) TK sử dụng:
41

Để theo dõi kế toán sử dụng TK 142 "chi phí trả trước" Bên Nợ: Các khoản chi phí trả trước thực tế phát sinh . Bên Có: Các khoản chi phí trả trước đã phân bổ vào chi phí kinh doanh . Dư Nợ: Các khoản chi phí trả trước thực tế đã phát sinh nhưng chứa phân bổ vào chi phí kinh doanh . TK 142 chi tiết làm 2 tiểu khoản : 1421: Chi phí trả trước 1422: Chi phí chờ kết chuyển. c) Phương pháp hạch toán cụ thể: Về nguyên tắc, các khoản chi phí trả trước phải được phân bổ hết cho các đối tượng chịu chi phí trong năm (trừ trường hợp chi phí trả trước phát sinh )ở tháng cuối năm hoặc còn liên quan đến các kỳ kinh doanh của năm sau. Bởi vậy, việc tính và phân bổ chi phí trả trước đã phát sinh vào các kỳ hạch toán phải được kế hoạch hoá chặt chẽ trên cơ sở các dự toán chi phí và kế hoạch phân bổ chi phí. Cách hạch toán có thể được phản ánh qua sơ đồ sau:

Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí trả trước TK111,112,153,331,342... TK142 TK627,641,642,241

Chi phí trả trước thực tế phát sinh

Phân bổ dần chi phí trả trước Vào chi phí SXKD cho các

42

TK133

Kỳ hạch toán TK911

Thuế GTGT được Khấu trừ (nếu có) TK 641,642 Kết chuyển chi phí BH, chi phí quản lý sang kỳ sau

Kết chuyển dần chi phí bán hàng, chi phí quản lý vào TK xác định kết quả

Chứng từ và sổ sách kế toán: Từ các chứng từ ban đầu, kế toán vào bảng kê số 6 (bảng kê chi phí trả

trước TK 142). Sau đó kế toán vào NKCT số 7(tập hợp chi phí sản xuất toàn Doanh nghiệp) và cuối cùng kế toán vào sổ Cái TK142. 4. Hạch toán chi phí phải trả : a) Khái niệm : Chi phí phải trả (còn gọi là chi phí trích trước) là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được ghi nhận trong kỳ hạch toán, được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ theo kế hoạch nhằm làm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ít bị biến động giữa các kỳ .Chi phí này gồm các khoản: - Tiền lương của công nhân sản xuất trong thời gian nghỉ phép - Chi phí sửa chữa TSCĐ theo kế hoạch - Chi phí trong thời gian ngừng sản xuất theo kế hoạch - Chi phí bảo hành sản phẩm trong kế hoạch - Lãi tiền vay chưa trả đến hạn - Tiền thuê TSCĐ, mặt bằng kinh doanh, phương tiện kinh doanh... chưa trả.

43

- Các dịch vụ mua ngoài sẽ cung cấp... b) Tài khoản sử dụng : Các khoản chi phí phải trả phản ánh trên TK 335 ''chi phí phải trả '' Bên Nợ : - Chi phí phải trả thực tế phát sinh - Phần chênh lệch do chi phí trích trước đã ghi nhận lớn hơn chi phí thực tế phát sinh được hạch toán giảm chi phí kinh doanh Bên Có : Các khoản chi phí phải trả được ghi nhận (đã trích trước) vào chi phí kinh doanh trong kỳ . Dư Có : Các khoản chi phí phải trả đã tính vào chi phí kinh doanh nhưng thực tế chưa phát sinh . Về nguyên tắc TK335 cuối năm không có số dư. Trừ trường hợp một số khoản chi phí phải trả liên quan đến nhiều niên độ kế toán được các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận c) Phương pháp hạch toán cụ thể : Cách hạch toán có thể được phản ánh qua sơ đồ sau: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí phải trả TK 334 TK335 TK622

Tiền lương phép, lương ngừng Tính trước lương phép, lương việc thực tế phải trả TK111, 112, 331, 241, 152.... Các chi phí phải trả khác thực tế phát sinh TK133 Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có) ngừng việc của công nhân TT TK627, 641, 642 Tính trước chi phí phải trả vào chi phí kinh doanh theo kế hoạch

44

TK622, 627, 641, 642

TK 622, 627, 642

Ghi giảm chi phí SXKD khi chi Ghi bổ sung chi phí SXKD khi phí đã trích trước lớn hơn số thực tế phát sinh chi phí đã trích trước lớn hơn số thực tế phát sinh

Chứng từ và sổ sách kế toán :

Từ các chứng từ ban đầu ,kế toán tiến hành vào Bảng kê số 6 (Bảng kê chi phí trả trước <TK 142> và chi phí phải trả <TK 335>). Từ đó kế toán vào NKCT số 7 và vào sổ cái TK 335. 5. Hạch toán chi phí sản xuất chung : a) Khái niệm : Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau chi phí NVLTT, chi phí NCTT .Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất của Doanh nghiệp . b) Tài khoản sử dụng : Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 ''Chi phí SXC '' và mở chi tiết cho từng phân xưởng bộ phận sản xuất dịch vụ ... Bên Nợ : Chi phí SXC thực tế phát sinh trong kỳ Bên Có : - Các khoản ghi giảm chi phí SXC - Kết chuyển <hay phân bổ> chi phí SXC vào chi phí sản phẩm hay lao vụ, dịch vụ TK 627 cuối kỳ không có số dư .TK 627 được chia thành 6 tiểu
45

khoản : TK 6271 : Chi phí nhân viên phân xưởng TK 6272 : Chi phí vật liệu TK 6273 : Chi phí dụng cụ sản xuất TK 6274 : Chi phí khấu hao TSCĐ TK 6277 : Chi phí dịch vụ mua ngoài TK 6278 : Chi phí bằng tiền khác c) Phương pháp hạch toán cụ thể : Mức chi phí SXC Phân bổ cho từng đối tượng =

∑ Chi phí SXC
x

Tiêu thức phân bổ cho từng đối tượng

∑ Tiêu thức phân bổ

Trong thực tế ,tiêu thức phân bổ thường là : định mức, giờ làm việc thực tế của công nhân sản xuất, tiền lương công nhân sản xuất... Cách hạch toán có thể được phản ánh qua sơ đồ sau: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất chung TK 334, 338 Chi phí nhân viên TK152, 153 Chi phí vật liệu, CCDC TK42, 335 Các chi phí theo dự toán TK 214
46

TK 627

TK 111, 112, 152, 138... Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung theo từng nguyên nhân xử lý TK 154 Phân bổ (hoặc kết chuyển) chi phí sản xuất chung

Chi phí khấu hao TK 111, 112, 331... Các chi phí sản xuất chung khác thực tế phát sinh TK 133 Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)

Chứng từ và sổ sách kế toán : Từ các chứng từ ban đầu, kế toán vào Bảng kê số 3 <Bảng tính giá

thành thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ>, sau đó kế toán vào bảng phân bổ số 2 <Bảng phân bổ vật liệu công cụ dụng cụ>. Kết hợp với các bảng phân bổ số 1 <Bảng phân bổ tiền lương, BHXH ...> Bảng phân bổ số 3 <Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ> kế toán vào bảng kê số 4. Trên cơ sở Bảng kê số 4 kế toán vào NKCT số 7 và vào sổ Cái TK 627. 6. Hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất : a) Hạch toán các khoản thiệt hại về sản phẩm hỏng : Sản phẩm hỏng là sản phẩm không thoả mãn các tiêu chuẩn chất lượng và đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm. Tùy theo mức độ hư hỏng và lợi ích kinh tế mà ta có 2 loại : - Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được - Sản phẩm hỏng không thể sửa chữa được Trong quan hệ với công tác kế hoạch, cả hai loại sản phẩm hỏng nói trên lại được chi tiết thành sản phẩm hỏng trong định mức và sản phẩm hỏng ngoài định mức. Sản phẩm hỏng trong định mức là sản phẩm được xem là không tránh khỏi trong quá trình sản xuất nên phần chi phí cho những sản phẩm này (giá trị sản phẩm hỏng không thể sửa chữa và chi phí sửa chữa sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được ) được coi là chi phí sản xuất chính phẩm.
47

Còn sản phẩm hỏng ngoài định mức là những sản phẩm nằm ngoài dự kiến của nhà sản xuất do các nguyên nhân. Khoản thiệt hại liên quan tới số sản phẩm này được xử lý theo từng nguyên nhân gây thiệt hại. Sơ đồ hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được TK 152, 153 334, 338, 241... Chi phí sửa chữa sản phẩm hỏng thực tế phát sinh Số thiệt hại được tính vào chi phí bất thường TK627 Số thiệt hại được tính vào giá thành chính phẩm TK 138, 152, 334, 111... Giá trị thu hồi, bồi thường được xử lý TK 142 TK821

Sơ đồ hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng không thể sửa chữa được TK154, 155, 157, 632 Giá trị sản phẩm hỏng không thể sửa chữa được Thực tế phát sinh TK138 Số thiệt hại tính vào chi phí bất thường TK 627 Số thiệt hại tính vào Giá thành chính phẩm TK138, 152, 334, 111... Giá trị phế liệu thu hồi Bồi thường được xử lý TK821

48

c)

Hạch toán các khoản thiệt hịa về ngừng sản xuất: Trong thời gian ngừng sản xuất vì những nguyên nhân chủ quan

hoặc khách quan (thiên tai, địch hoạ, thiếu nguyên vật liệu...) thì các Doanh nghiệp vẫn phải bỏ ra một khoản chi phí để duy trì hoạt động của Doanh nghiệp như tiền công lao động, khấu hao TSCĐ, chi phí bảo dưỡng... những khoản chi này gọi là những khoản thiệt hại về ngừng sản xuất. Việc ngừng sản xuất này có thể nằm trong kế hoạch hay nằm ngoài kế hoạch của Doanh nghiệp. Với những khoản chi phí về ngừng sản xuất theo kế hoạch dự kiến, kế toán theo dõi ở TK335 - chi phí phải trả. Trong trường hợp ngừng sản xuất bất thường không dự kiến được thì kế toán phải theo dõi riêng trên TK142- chi phí trả trước. Cuối kỳ, sau khi trừ phần thu hồi bồi thường (nếu có), còn lại là giá trị thiệt hại thực tế sẽ được xử lý theo quyết định tuỳ thuộc nguyên nhân gây thiệt hại. Sơ đồ hạch toán thiệt hại ngừng sản xuất TK334, 338, 152, 214, 111... Chi phí thực tế ngừng sản xuất trong kế hoạch Chi phí thực tế phát sinh do ngừng sản xuất ngoài kế hoạch TK821 Tính vào chi phí bất thường TK 335 TK 627, 642

Tính trước chi phí về ngừng sản xuất theo kế hoạch TK 138, 334

TK 142

Giá trị bồi thường thu hồi

49

7. Hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm kinh doanh phụ : Trong các Doanh nghiệp sản xuất, ngoài các phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh chính còn tổ chức các phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh phụ nhằm cung cấp lao vụ cho sản phẩm chính, tận dụng năng lực sản xuất để sản xuất những sản phẩm phụ, tiết kiệm chi phí, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động. Phương pháp hạch toán các khoản chi phí trên giống như đối với hoạt động sản xuất kinh doanh chính .Các TK 621, 622, 627 được mở theo dõi chi tiết theo từng hoạt động sản xuất kinh doanh phụ. Cuối kỳ sẽ được tập hợp vào TK 154 , chi tiết theo từng hoạt động để tính giá thành sản phẩm . Tuỳ theo đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ mà áp dụng phương pháp tính giá thành thích hợp .Cụ thể :
•Trường

hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất

kinh doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể : Chi phí sản xuất được tập hợp riêng theo từng bộ phận. Giá thành sản phẩm của từng bộ phận được tính theo phương pháp trực tiếp: Giá thành đơn vị Sản phẩm , Lao vụ
•Trường

∑ Chi phí sản xuất + Chênh lệch giá trị sản phẩm
= thực tế trong kỳ -dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

Số lượng sản phẩm lao vụ hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản

xuất kinh doanh phụ : Có thể áp dụng các phương pháp sau
- Phương - Phương - Phương

pháp đại số pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch

8. Tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở

50

dang :
a)

Tổng hợp chi phí sản xuất :

Các loại chi phí kể trên cuối cùng đều được tổng hợp vào bên Nợ TK 154 '' Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang '' .TK 154 được mở chi tiết theo từng ngành sản xuất, từng nơi phát sinh chi phí... của từng đối tượng tập hợp chi phí của các bộ phận sản xuất kinh doanh <chính, phụ, thuê ngoài gia công > Bên Nợ : Tập hợp các chi phí sản xuất trong kỳ Bên Có : - Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm -Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành Dư Nợ : Phản ánh chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang chưa hoàn thành
•Phương

pháp hạch toán cụ thể : Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất sản phẩm

Cách hạch toán có thể được phản ánh qua sơ đồ sau:

TK 621 Chi phí NVLTT TK 622 Chi phí NCTT TK627 Chi phí SXC

TK 154

K152, 138, 821... TK 155 Nhập kho TK 157

Các khoản ghi giảm chi phí

Giá thành thực tế

Gửi bán
TK632

Tiêu thụ thẳng

51

TK627, 641, 642 152, 153, 155, 632 Giá trị sản phẩm lao vụ của SXKD phụ phục vụ cho các đối tượng

•Chứng

từ và sổ sách kế toán :

Từ các chứng từ ban đầu kế toán vào Bảng kê số 3 <Bảng tính giá thành vật liệu công cụ dụng cụ> sau kế toán vào Bảng kê số 2 <Bảng phân bổ vật liệu công cụ dụng cụ>, tiếp đó kế toán vào Bảng kê số 4, trên cơ sở Bảng kê số 4 kế toán vào NKCT số 7 và vào sổ Cái TK 154 .
b)

Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang :

Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang nằm trong quá trình sản xuất. Để tính được giá thành sản phẩm, Doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang tại các bộ phận sản xuất. Tuỳ từng Doanh nghiệp mà áp dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau:
•Với •Vớí

bán thành phẩm : Có thể tính theo chi phí thực tế hoặc kế hoạch sản phẩm đang chế tạo dở dang : áp dụng các phương pháp sau :

+ Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương + Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến + Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí NVLTT hoặc chi phí vật liệu chính, chi phí NCTT . + Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch

52

+ Ngoài ra còn phương pháp như : Phương pháp thống kê kinh nghiệm .

B. hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ Phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK) là phương pháp mà các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hàng tồn kho không được ghi sổ liên tục về tình hình biến động của các vật tư, hàng hoá, sản phẩm mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng tồn kho thực tế chưa xuất dùng cho sản xuất kinh doanh và các mục đích khác .
1.

Hạch toán chi phí NVL :

Do đặc điểm của phương pháp KKĐK nên chi phí vật liệu xuất dùng rất khó phân định là xuất cho mục đích sản xuất, quản lý , hay tiêu thụ sản phẩm .Để phản ánh các chi phí vật liệu xuất dùng cho sản xuất sản phẩm, kế toán sử dụng TK 621 '' Chi phí NVLTT'' Bên Nợ : Giá trị vật liệu xuất dùng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ Bên Có : Kết chuyển chi phí vật liệu váo giá thành sản phẩm, dịch vụ TK 621 cuối kỳ không có số dư và được mở theo từng đối tượng hạch toán chi phí <phân xưởng, bộ phận sản xuất, lao vụ dịch vụ .. >
•Phương

pháp hạch toán cụ thể :

53

Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp TK151, 152 Kết chuyển giá trị Vật liệu chưa dùng đầu kỳ TK331, 311 111, 112, 411... Giá trị vật liệu tăng trong kỳ TK133 Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có) chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ TK621 Giá trị NVL dùng NVLTT TK631 Kết chuyển chi phí TK611 TK151, 152

Kết chuyển giá trị Vật liệu chưa dùng cuối kỳ

2.

Hạch toán chi phí Nhân công trực tiếp (NCTT):

Cách tập hợp chi phí trong kỳ giống như phương pháp KKTX .Cuối kỳ để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ, lao vụ... kế toán tiến hành kết chuyển chi phí NCTT vào TK 631 '' Giá thành sản xuất '' theo từng đối tượng : Nợ TK 631 Có TK 622
3.

Hạch toán chi phí SXC :

Toàn bộ chi phí SXC được tập hợp vào TK 627 và được chi tiết theo

54

các tiểu khoản tương ứng và tương tự như phương pháp KKTX .Sau đó sẽ được phân bổ vào TK 631 chi tiết theo từng đối tượng tính giá thành . Nợ TK 631 Có TK 627
4.

Tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm

dở dang : Để phục vụ cho việc tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán sử dụng TK 631 '' Giá thành sản xuất '' .TK này được hạch toán chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí, theo loại nhóm sản phẩm ... Được hạch toán vào TK 631 gồm 3 loại chi phí sau: - Chi phí NVLTT - Chi phí NCTT - Chi phí SXC Nội dung của TK 631 : Bên Nợ : Phản ánh trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ và các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ liên quan tới chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ Bên Có : -Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ vào TK 154 -Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành TK 631 cuối kỳ không có số dư
•Phương

pháp hạch toán cụ thể :

Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm:

TK154 Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ

TK631

TK154

Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ

55

TK621 Kết chuyển chi phí NVLTT TK622 Kết chuyển chi phí NCTT Tổng giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch TK627 Kết chuyển chi phí SXC hoàn thành TK632

Chứng từ và sổ sách kế toán : Từ chứng từ ban đầu kế toán vào Bảng kê số 3 <Bảng tính giá thành

vật liệu, công cụ dụng cụ>, sau đó kế toán vào bảng phân bổ số 2, vào Bảng kê số 4 <Tập hợp chi phí theo phân xưởng>. Từ bảng kê số 4 kế toán vào NKCT số 7 và vào sổ cái TK 631 .

56

V- HẠCH TOÁN CHI TIẾT CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ : Để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm được chính xác, nhanh chóng, cần tiến hành chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tính giá .Tuỳ theo từng đối tượng tập hợp chi phí, công việc hạch toán chi tiết chi phí sản xuất có thể khác nhau nhưng có thể khái quát lại qua các bước sau : Bước 1 : Mở sổ (hoặc thẻ) hạch toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tập hợp chi phí <phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản phẩm, nhóm sản phẩm ...>. Sổ được mở riêng cho từng tài khoản 621, 622, 627, 154, 631, 142, 335, 641, 642. Căn cứ để ghi sổ chi tiết các tài khoản tháng trước và các chứng từ gốc ,các bảng phân bổ <tiền lương ,BHXH, vật liệu, dụng cụ, khấu hao ...>, bảng kê chi phí theo dự toán. Sổ có thể mở riêng cho từng đối tượng hoặc mở chung cho nhiều đối tượng. Có thể sử dụng mẫu sổ sau : Mẫu : Sổ hạch toán chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh Tài khoản : ............... Phân xưởng : .................... Sản phẩm, dịch vụ : ................... Chứng từ Số Ngày hiệu tháng Dư đầu kỳ Phát sinh trong kỳ - ........... - ........... Cộng phát sinh Ghi Có TK Dư cuối kỳ Bước 2: Tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ có liên quan cho từng đối tượng hạch toán
57

Diễn giải

TK đối ứng

Ghi Nợ tài khoản Tổng Trong đó Số

Bước 3: Tổng hợp toàn bộ chi phí phát sinh theo từng nội dung thuộc từng đối tượng hạch toán vào cuối kỳ làm cơ sở cho việc tính giá thành. đồng thời lập thẻ tính giá thành sản phẩm, dịch vụ theo từng loại. Căn cứ để lập thẻ tính giá thành từng loại sản phẩm dịch vụ là các thẻ tính gía thành sản phẩm kỳ trước, sổ hạch toán chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh kỳ này và biên bản kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ cùng vơí bảng khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ. Có thể mở sổ theo mẫu: Mẫu : Thẻ tính giá thành sản phẩm, dịch vụ :

Khoản mục chi phí 1 1.chi phí NVLTT 2.Chi phí NCTT 3.Chi phí SXC Cộng

Giá trị SPDD đầu kỳ 2

CPSX phát sinh trong kỳ 3

Giá trị SPDD Cuối kỳ 4

Tổng giá thành

Giá thành đơn vị

VI-ĐẶC ĐIỂM HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM THEO CÁC HÌNH THỨC SỔ KẾ TOÁN Trong thực tế, việc tổ chức sổ kế toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng. Mỗi hình thức sổ có đặc điểm, tính chất và những mặt hạn chế riêng. Do vậy, tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình mỗi đơn vị có thể lựa chọn cho mình một hình thức sổ hợp lý.
1.

Hình thức sổ Nhật ký chung (NKC) :

a) Điều kiện áp dụng: Thường sử dụng cho các Doanh nghiệp có quy mô kinh doanh vừa và lớn, yêu cầu quản lý là cao. Số lượng tài khoản sử

58

dụng nhiều, trình độ nhân viên kế toán cao và thường áp dụng cho kế toán bằng máy vi tính. b) Đặc điểm tổ chức sổ: Đặc điểm cơ bản của hình thức nhật ký chung là tất cả các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát đều phải được ghi vào sổ NKC theo trình tự thời gian phát sinh và nội dung kinh tế của nghiệp vụ đó thể hiện qua định khoản kế toán. Sau đó, lấy số liệu từ NKC để ghi vào sổ cái theo từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
2. a)

Hình thức sổ Nhật ký-sổ cái (NK-SC): Điều kiện áp dụng : áp dụng cho các Doanh nghiệp có loại

hình kinh doanh đơn giản ít phức tạp, phù hợp với những Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, số lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh không nhiều, số lượng TK sử dụng ít, trình độ nhân viên kế toán thấp, công việc ghi sổ kế toán bằng tay (thủ công ) và không có nhu cầu phân công lao động kế toán, yêu cầu quản lý không cao.
b)

Đặc điểm tổ chức sổ: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết

hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế để vào Nhật kýsổ cái.
3. a)

Hình thức sổ chứng từ ghi sổ(CTGS): Điều kiện áp dụng: Được áp dụng trong các Doanh nghiệp có

quy mô vừa và nhỏ tính chất kinh doanh đơn giản không phức tạp, số lượng TK sử dụng không nhiều, yêu cầu quản lý không cao, trình độ nhân viên kế toán không cao áp dụng kế toán bằng tay hoặc bằng máy, và Doanh nghiệp có nhu cầu phân công lao động kế toán.
b)

Đặc điểm tổ chức sổ: Chứng từ ghi sổ là hình thức kế toán

giữa ghi sổ theo thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ với ghi sổ theo nội dung kinh tế trên sổ cái. Việc tập hợp chi phí sản xuất được tập hợp trên sổ kế toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối tượng tập hợp chi phí và sổ cái các TK 154"chi phí sản xuất dở dang " hay TK 631 "Giá thành sản xuất "
59

cùng các TK621, 622, 627
4. a)

Hình thức sổ Nhật ký chứng từ (NKCT): Điều kiện áp dụng: áp dụng cho những Doanh nghiệp có quy

mô lớn, số lương nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều, số lượng TK sử dụng nhiều, Doanh nghiệp có tính chất kinh doanh phức tạp và đa dạng, yêu cầu quản lý cao, trình độ nhân viên kế toán cao và đồng đều và công việc ghi chép bằng tay (thủ công) và Doanh nghiệp có nhu cầu phân công chuyên môn hoá cao trong lao động kê toán giữa các Phần hành.
b)

Đặc điểm tổ chức sổ: NKCT là hình thức tổ chức sổ kế toán

dùng để tập hợp và hệ thông hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của TK kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ đó theo bên Nợ của các TK đối ứng. đông thời, việc ghi chép kết hợp chặt chẽ giữa ghi theo thời gian với hệ thống, giữa hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết trên cơ sở các mẫu sổ sách in sẵn thuận lợi cho việc lập Báo cáo tài chính và rút ra các chỉ tiêu quản lý kinh tế. Hàng ngày kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc để tiến hành các sổ chi tiết, bảng kê và các sổ NKCT. Cuối tháng dựa trên số liệu phát sinh trên sổ NKCT kế toán tiến hành các sổ cái tương ứng.

60

VII - KẾ TOÁN MÁY TRONG CÔNG TÁC TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Để phù hợp với quyết định số 1141/TC/QĐ/ CĐKT của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán Doanh nghiệp đó là tin học hoá toàn bộ nghiệp vụ kế toán trong Doanh nghiệp từ khâu xử lý chứng từ ban đầu lên sổ sachs kế toán và lập các báo cáo tài chính. Để giảm bớt khối lượng ghi chép tính toán, tạo điều kiện thuận lợi cung cấp thông tin nhanh chóng kịp thời về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm thì áp dụng cơ giới hoá trong công tác kế toán là vô cùng quan trọng và thiết thực. Theo hệ kế toán máy fast accounting- một Chương mềm kế toán thuộc sản phẩm của công ty FAST chuyên nghiên cứu và thiết kế Phần mềm kế toán được nói đến như là một công cụ đắc lực phục vụ cho công tác kế toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành thành phẩm nói riêng. Phần mềm kế toán máy FAST ACCOUNTING bao gồm rất nhiều phân hệ kế toán (thường thì từng phân hệ kế toán tương ứng với một Phần hành kế toán tương đối độc lập trong Doanh nghiệp ). Trong đó có phân hệ kế toán tổng hợp dùng như một phân hệ cơ sở và độc lập hoặc liên kết thống nhất với tất cả các phân hệ khác của FAST ACCOUNTING phân hệ kế toán tổng hợp thực hiện tổng hợp số liệu từ tất cả các phân hệ kế toán khác dựa trên dữ liệu đã được cập nhật trực tiếp từ các chứng từ kế toán phát sinh. FAST ACCOUNTING tự động tính toán, thực hiện các bút toán kết chuyển và phân bổ theo yêu cầu của người sử dụng và tự động lên các báo cáo kế toán cần thiết sau khi đã tự thực hiện khóa sổ kế toán. Bằng cách sử dụng máy vi tính trong kế toán thì các bước công việc của người làm công tác này đã được giảm nhẹ một phần đáng kể, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Để cung cấp những thông tin đáp ứng nhu cầu quản lý, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm bao gồm 2 nhiệm vụ:

61

- Hạch toán tập hợp chi phí sản xuất - Tính giá thành sản phẩm hoàn thành. Để hạch toán thì Doanh nghiệp cũng có thể chọn một trong hai phương pháp hạch toán hàng tồn kho là phương pháp KKTX và phương pháp KKĐK Quy trình hạch toán kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành thành phẩm của Phần mềm kế toán FAST ACCOUNTING.
Nhập thông tin về CPSX Các điều kiện về thời gian,yêu cầu quản lý

Tệp CSDL lưu trữ thông tin chi tiết về CPSX

Định khoản

Sổ chi tiết CPSX theo tháng

Tệp CSDL lưu trữ thông tin tổng hợp về CPSX

Định khoản

Bảng tổng hợp CPSX

Bảng tính giá thành

Ghi chú : : Các thông tin về chi phí sản xuất, tính giá thành, các điều kiện cần thiết để người sử dụng đưa vào từ bàn phím : Dòng lưu chuyển thông tin trong phần trình giữa các tệp CSDL, các bước xử lý tính toán, đưa thông tin cần thiết ra màn hình hoặc máy in.
62

VIII - SƠ LƯỢC NỘI DUNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.

Tại Pháp :

Kế toán ở Pháp tuân theo kế toán tư bản cho nên được phân thành kế toán tổng quát <đại cương> và kế toán phân tích : + Kế toán tổng quát như là một thực thể duy nhất, bắt buộc đối với tất cả các loại hình Xí nghiệp. Nó phản ánh toàn bộ tài sản, vật tư ,tiền vốn, tình hình mua bán, chi phí, các khoản thu nhập, tính toán kết quả ở dạng tổng quát .Số liệu của kế toán tổng quát là cơ sở để lập Bảng tổng kết tài sản và các Báo cáo kế toán khác, cung cấp tình hình tài chính của Xí nghiệp cho cơ quan quản lý Nhà nước. + Kế toán phân tích phản ánh tình hình doanh thu, kết quả của từng loại hàng, từng ngành hoạt động, giá phí, giá thành của từng loại sản phẩm sản xuất ... Kế toán phân tích là phương tiện giúp Ban giám đốc kiểm soát một cách có hiệu quả tình hình hoạt động của Xí nghiệp mình. Trong hệ thống tài khoản của Pháp, ban hành năm 1982 được chia làm 9 loại .Từ loại 1 đến loại 8 dùng cho kế toán tổng quát. Riêng loại 9 dùng cho kế toán phân tích. Các tài khoản loại 9 chỉ đối ứng với các tài khoản loại 9 thôi . Điều 8 luật Thương mại Pháp bắt buộc mọi thương gia phải dùng sổ nhật ký để ghi chép hằng ngày các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong Xí nghiệp. Như vậy, sổ Nhật ký là một loại sổ bắt buộc. Các trang sổ được đánh số và từng tờ sổ được chánh án toà án Thương mại hoặc Thị trưởng ký tắt .Sổ Nhật ký phải được lưu giữ trong vòng 10 năm kể từ sau ngày ghi chép nghiệp vụ cuối cùng . Chi phí trong kế toán Pháp là số tiền bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết để tạo ra sản phẩm mang lợi cho Xí nghiệp. Theo chế độ kế toán của Pháp
63

thì toàn bộ chi phí được chia làm 3 loại: + Chi phí sản xuất kinh doanh + Chi phí tài chính + Chi phí đặc biệt <hay chi phí bất thường> Trong từng loại, các chi phí lại được phân chia theo nội dung kinh tế của chúng . Tại Pháp, giá thành bao gồm tất cả các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trong một đơn vị sản xuất thường người ta phân ra làm 3 loại giá phí cơ bản và trình tự tính giá thông qua 4 bước sau : Bước 1 : Tính giá phí tiếp liệu Giá phí tiếp liệu bao gồm giá trị NVL mua vào ghi trên hoá đơn và các chi phí về mua như : chuyên chở, bảo hiểm, bảo quản. Bước 2 : Tính giá phí sản xuất Giá phí sản xuất bao gồm giá phí vật liệu sử dụng trong sản xuất và các chi phí về sản xuất như : Nhân công, tu bổ sửa chữa, khấu hao ... Bước 3 : Tính giá phí phân phối Bao gồm các chi phí về tiêu thụ sản phẩm, chi phí vận chuyển, bao bì đóng gói, thuế, bảo hiểm . Bước 4 : Tính giá thành sản phẩm Bao gồm giá phí sản xuất cộng (+) với giá phí phân phối. Các chi phí trong kế toán tổng quát được phân loại bản chất gọi là chi phí thông thường .Việc phân loại này không đủ điều kiện để tính toán các giá phí trong kế toán phân tích .Vì vậy các chi phí của kế toán tổng quát <đại cương > mang sang kế toán phân tích phải được tái phân loại theo cơ năng .Ta có các cơ năng chủ yếu sau: 1. Cơ năng quản trị hành chính
64

2. Cơ năng tài chính 3. Cơ năng quản lý dụng cụ 4. Cơ năng tiếp liệu 5. Cơ năng sản xuất 6. Cơ năng phân phối hay cơ năng thương mại
2.

Tại Mỹ và Canađa :

ở Mỹ và Canađa cùng phân loại chi phí ra thành nhiều loại chi phí theo các tiêu thức khác nhau .Ví dụ như là phân loại chi phí theo khối lượng sản xuất thì chi phí được chia thành : Chi phí bất biến và chi phí khả biến .Phân loại chi phí thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất, trong đó chi phí sản xuất gồm : Chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động trực tiếp và chi phí chung của nhà máy <hay còn gọi là chi phí nhà máy>. Còn có cách phân loại chi phí thành : Chi phí lịch sử <là chi phí thực tế đã gánh chịu> và chi phí định mức <là chi phí phải gánh chịu xác định trước> .Các chi phí định mức được so sánh với chi phí lịch sử khi đánh giá kết quả . Chi phí còn được phân thành : Chi phí thay thế <là chi phí để mua lại, để thay thế hoặc xây dựng lại tài sản> .Chi phí biên tế <là chi phí phụ trội hoặc bổ sung thêm để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm >. Chi phí chênh lệch <nó cũng tương tự như chi phí biên tế. Đó là chênh lệch giữa các tổng chi phí thay đổi từ khối lượng sản xuất này đến khối lượng sản xuất khác, hoặc thay đổi từ phương pháp sản xuất này sang phương pháp sản xuất khác>. Trong kế toán Mỹ, sử dụng 3 hệ thống và Báo cáo tồn kho : + Hệ thống định kỳ + Hệ thống đơn hàng dịch vụ sử dụng phương pháp liên tục + Hệ thống chi phí theo quá trình sản xuất cùng sử dụng phương pháp
65

liên tục . Trên Bảng tổng kết tài sản, chi phí tồn kho được xác định theo danh mục chi tiết các loại tồn kho cuối kỳ kế toán. Tồn kho được kiểm kê theo nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, và thành phẩm hàng hoá. Sau đó cũng vào cuối chu kỳ kế toán, tính giá thành của hàng hoá được sản xuất và sau đó tính giá thành <chi phí > của hàng thực tế bán để làm Báo cáo thu nhập . Như vậy, trình tự tập hợp chi phí và tính giá thành thành phẩm về cơ bản giữa các nước không có sự khác biệt đáng kể, chỉ khác về tên gọi và các bước phân chia .Về nội dung thì do quan niệm khác nhau về bản chất và chức năng chỉ tiêu giá thành mà dẫn đến sự khác biệt trong tính toán, xác định phạm vi của giá thành.

66

Phần II THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP GỖ HÀ NỘI

Công tác hạch toán kế toán của Doanh nghiệp luôn luôn và bao giờ cũng gắn liền với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm kinh tế kỹ thuật, đặc điểm tổ chức quản lý của toàn Doanh nghiệp và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Để đi sâu nghiên cứu công tác hạch toán kế toán của Xí nghiệp nói chung và công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng ta cần phải tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp cũng như các đặc điểm quản lý và sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp. I – NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT, TỔ CHỨC SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP TÁC ĐỘNG ĐẾN HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM: 1. Hà nội: Xí nghiệp Gỗ Hà nội là một Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính và chịu sự quản lý của Sở Công nghiệp Hà nội về mặt pháp lý (cơ quan chủ quản). Cho nên, Xí nghiệp Gỗ Hà nội là một Doanh nghiệp Công nghiệp đặc thù của ngành Mộc, đồ Gỗ. Xí nghiệp Gỗ Hà nội có trụ sở chính tại : Số 2 . Chương Dương Độ – Quận Hoàn Kiếm – Hà nội. Ngay từ khi mới ra đời, Xí nghiệp có tên là : “Xí nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh các hàng Gỗ, Mộc Hà nội”. Sau đó, để đáp ứng với các
67

Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp Gỗ

điều kiện của nền kinh tế thị trường, để tiện cho việc giao dịch thì Xí nghiệp đổi tên thành : “Xí nghiệp Gỗ Hà nội” như tên hiện nay. Dự tính trong năm 2000-2001, Xí nghiệp có kế hoạch cổ phần hoá Doanh nghiệp theo chỉ thị của cơ quan chủ quản là Sở Công nghiệp Hà nội, và khi đó thì Xí nghiệp sẽ tiến hành chuyển đổi loại hình Doanh nghiệp, từ DNNN thành Công ty cổ phần và tiến hành đổi tên Doanh nghiệp. Ngành nghề kinh doanh chính của Xí nghiệp bao gồm : Những sản phẩm có kết cấu hoàn toàn bằng Gỗ hoặc chiếm tỷ trọng gỗ lớn, gồm các mặt hàng chủ yếu như : Bàn, ghế, tủ, giường, ốp trần, ốp tường, phào, vách ngăn, và các trang trí nội thất bằng gỗ khác... Trong đó từng loại sản phẩm chính trên lại được chi tiết thành nhiều loại sản phẩm khác nữa. VD: Sản phẩm là Bàn thì gồm các loại sau : + Bàn học sinh 2 chỗ + Bàn cho văn phòng chính phủ + Bàn điện thoại + Bàn dài (dùng cho họp hội nghị) ................ Trong mỗi loại bàn trên thì lại được chia thành nhiều loại theo kích cỡ, theo nguyên vật liệu đầu vào, theo chủng loại của vật liệu (gỗ) , theo giá của các yếu tố đầu vào khác nữa ... Xí nghiệp Gỗ Hà nội có nhiệm vụ sản xuất gia công đồ gỗ dân dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước. Cho tới nay, Xí nghiệp Gỗ Hà nội chưa có hoạt động Xuất nhập khẩu (XNK) các sản phẩm cũng như là Nguyên vật liệu thuộc đồ gỗ, mộc ra thị trường quốc tế cả. Xí nghiệp Gỗ Hà nội được hình thành từ những năm sau giải phóng Thủ Đô (1956). Xí nghiệp đã trải qua nhiều bước thăng trầm, từ một Xí
68

nghiệp Gỗ Hà nội ban đầu tách ra thành 2 Xí nghiệp, một là “Xí nghiệp Gỗ 42” và một là “Xí nghiệp Gỗ Hà nội”. Trước đây, Xí nghiệp có địa bàn hoạt động khoảng 5 ha và bây giờ Xí nghiệp có khoảng 8.717 m3 diện tích đất được sử dụng. Trong đó thì: + 1/3 diện tích đất được sử dụng cho làm nơi sản xuất, chế biến, gia công sản phẩm (là các phân xưởng sản xuất, nhà kho, nhà để xe...). + 2/9 diện tích đất được sử dụng làm các phòng ban thuộc lao động gián tiếp. + Phần diện tích còn lại bao gồm hệ thống đường đi lại trong Xí nghiệp, sân bãi ... Nhà xưởng hầu hết là nhà cấp 4 được xây dựng từ năm 1956-1960 nhà mái tôn, mái ngói kết cấu tường bao khung gỗ, vì kèo gỗ. Cùng với thời gian, nhà cửa đã xuống cấp. Xí nghiệp phải thường xuyên sửa chữa và gia cố để sử dụng. Xí nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp. Máy móc cũ và lạc hậu cho hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Hiện nay, hầu hết các trang thiết bị đã khấu hao gần hết, hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình đều rất lớn so với nguyên giá. Cho nên để hiệu quả sản xuất kinh doanh được cải thiện thì Xí nghiệp phải có hướng đầu tư đổi mới công nghệ và cân đối nguồn vốn đầu tư hợp lý. Thiết bị máy móc cồng kềnh khó di chuyển, không thích ứng các điều kiện sản xuất hiện nay (hiện nay yêu cầu là gọn nhẹ), đó là những nét chung của các DNNN trong giai đoạn hiện nay, cho nên việc đánh giá lại TSCĐ trong các DNNN là một bước mới và cần thiết của Bộ tài chính trong năm nay. Năm 1992, UBND thành phố Hà nội ra Quyết định số 3162/QĐ-UB thay đổi Xí nghiệp Gỗ Hà nội. Xí nghiệp chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, thực hiện kinh tế độc lập, tự trang trải chi phí và có doanh lợi dưới sự quản lý của Nhà nước.
69

Trong điều kiện thị hiếu của nhân dân lớn về mặt vật chất cũng như về mỹ thuật. Xí nghiệp đã không ngừng cải tiến công nghệ sản xuất cho ra đời hàng loạt các sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp và phù hợp với thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng. Hiện nay nhu cầu tiêu dùng của thị trường thì rất lớn song Xí nghiệp mới chỉ đáp ứng được một phần. Sản phẩm của Xí nghiệp ngày càng phong phú, đa dạng và phù hợp với sự phát triển của thị trường. Bên cạnh đó, lãnh đạo Xí nghiệp đã quyết định cải tiến và tăng thêm một số máy móc thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để có sức cạch tranh trên thị trường và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước. Theo Báo cáo tổng kết của năm 1998-1999, Xí nghiệp Gỗ Hà nội đã làm được thông qua một số chỉ tiêu sau : - Xí nghiệp đã tạo được công ăn việc làm tương đối ổn định, đã có phương án đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao để phục vụ cho Xí nghiệp được lâu dài. - Quá trình sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp được tiến hành liên tục và có hiệu quả cao. Tập hợp đủ chi phí phát sinh trong Xí nghiệp, đẩy nhanh công tác bán hàng và có lãi. Xí nghiệp từng bước có biện pháp thích hợp bảo toàn vốn của mình. - Nâng cao mức sống của cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp được thể hiện thông qua tiền lương, tiền phụ cấp của cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp được cải thiện đáng kể. - Làm nghĩa vụ đầy đủ với Nhà nước - Chất lượng sản phẩm của Xí nghiệp luôn luôn đảm bảo và được thị trường chấp nhận một số chỉ tiêu Xí nghiệp Gỗ Hà nội đã đạt được qua các năm 1998-1999. ST T Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 1998 Năm 1999

70

1 2 3 4 5

Doanh thu tiêu thụ Lợi nhuận sau thuế Số nộp Ngân Sách Nhà nước Số lao động Thu nhập bình quân 1 CNV

Đồng Đồng Đồng Người Đồng

3.169.712.110 59.341.344 135.700.000 74 7.210.000

3.763.425.670 23.796.821 200.300.000 73 7.308.000

Những con số ở trên cho thấy, Xí nghiệp hoạt động có lãi, đảm bảo đời sống cho người lao động, sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, nhằm phục vụ cho nhu cầu của thị trường hiện nay. Bảng tổng hợp nộp ngân sách nhà nước Năm 1999 Đơn vị tính : 1000đ

Ngày tháng 16/2 19/3 17/4 18/5 18/6 18/7 20/8 21/9 20/10 17/11 21/12 Cộng

Thuế Môn bài 850

Thu sử dụng vốn

Thuế lợi tức

Thuế

Thuê đất

850

20.000 20.000

doanh thu 21.670 14.050 13.144 13.479 26.721 5.120 9.211 4.569 11.240 6.190 11.270 8.336 11.270 133.730

34.450 34.450

2. nghiệp :

Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Xí

Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm là một trong những căn cứ quan trọng để xác định đối tượng tập hợp chi phí, và đối tượng tính giá thành, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành thành phẩm. Vì vậy, một trong các công việc thiết yếu của kế toán tập
71

hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phải tìm hiểu kỹ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Xí nghiệp có thể tóm tắt như sau: + Nguyên vật liệu đầu vào từ Gỗ rừng tự nhiên qua các khâu : Cưa, xẻ, pha, cắt thành hộp, ván với quy cách kích thước hợp lý từng loại sản phẩm. + Tiến hành xử lý thuỷ phần trong gỗ theo tỷ lệ nhất định bằng 2 phương pháp : 1.Hong phơi tự nhiên 2.Đưa vào lò sấy với nhiệt độ nhất định để đạt từ 12-14% thuỷ phần + Sau khi sấy khô được sơ chế thành các chi tiết sản phẩm trên các thiết bị máy móc theo dây chuyền. + Sau khi được các sản phẩm sơ chế thì chuyển sang bộ phận Mộc tay, tinh chế và lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm. + Khâu cuối cùng là làm đẹp sản phẩm bằng phương pháp thủ công là đánh Véc-ni hay sơn mài, khảm gỗ... Đối với sản phẩm kết hợp với Foóc, nhựa thì được thực hiện từ khâu Mộc tay, lắp ráp, cho đến khâu hoàn thành sản phẩm. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp bao gồm 2 khối sản xuất: + Khối sản xuất chính gồm : Phân xưởng Mộc - Đây là bộ phận sản xuất mặt hàng chính của Xí nghiệp là các sản phẩm, các mặt hàng đồ mộc. Phân xưởng Xẻ - Đây là phân xưởng hỗ trợ cho phân xưởng Mộc. + Khối sản xuất kinh doanh phụ gồm :

72

Phân xưởng Cơ điện có nhiệm vụ sửa chữa là chủ yếu, bảo dưỡng máy móc thiết bị cho tất cả các phân xưởng trong Xí nghiệp và phân xưởng dịch vụ, chúng bao gồm cả nhiệm vụ sản xuất và nhiệm vụ kinh doanh. Hoạt động sản xuất – kinh doanh – dịch vụ đã đem lại một nguồn lợi đáng kể cho Xí nghiệp. Số tiền này được dùng vào mục đích chung như : Mở rộng sản xuất, nhà xưởng ; chi thêm tiền lương cho bộ phận quản lý Xí nghiệp và một số chi phí khác của Xí nghiệp. Hiện nay, Xí nghiệp có 2 phân xưởng sản xuất chính là : + Phân xưởng Xẻ : Từ gỗ cây xẻ thành gỗ hộp, gỗ ván. Là bộ phận sản xuất chính của Xí nghiệp. Phân xưởng có 2 tổ sản xuất : Tổ sản xuất I Tổ sản xuất II + Phân xưởng Mộc : có 3 tổ sản xuất gồm: Tổ Mộc máy, tổ mộc tay, tổ Véc- ni. Ngoài ra, Xí nghiệp có một số phân xưởng phụ, dịch vụ, gia công cho bên ngoài. Phân xưởng Cơ điện phục vụ cho các phân xưởng sản xuất chính. Sơ đồ : Tổ chức sản xuất – kinh doanh của Xí nghiệp Gỗ Hà nội Phân xưởng sản xuất chính Phân xưởng sản xuất phụ

Phân xưởng Xẻ

Phân xưởng Mộc Phân xưởng Cơ điện

Tổ sản xuất I

Tổ Mộc Máy

Phân xưởng Dich vụ

Tổ sản xuất II

Tổ Mộc Tay

Tổ Véc- ni
73

3.

Đặc điểm tổ chức bộ máy Quản lý :

Tồn tại và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế đổi mới. Xí nghiệp Gỗ Hà nội đã từng bước sắp xếp lại lao động, đổi mới mặt hàng sản xuất để tận dụng năng lực sản xuất sẵn có nhằm bảo đảm sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất kinh doanh các sản phẩm hàng Mộc. Cơ cấu tổ chức quản lý theo một cấp, gọn nhẹ với yêu cầu quản lý. Đứng đầu Xí nghiệp là Ban Giám đốc, dưới là các phòng ban bộ phận, các phân xưởng liên quan trực tiếp làm nhiệm vụ sản xuất hay phục vụ sản xuất. Ban giám đốc bao gồm : + Giám đốc Xí nghiệp : Là người đứng đầu Xí nghiệp, với toàn quyền quyết định mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh của Xí nghiệp. Chỉ đạo chung, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh của Xí nghiệp. Chỉ đạo trực tiếp các phòng ban chức năng, phân xưởng và các chuyên viên giúp việc cho Giám đốc. + Phó Giám đốc : Chịu trách nhiệm giúp Giám đốc chỉ đạo một số khâu trong sản xuất và điều động lao động. Thay mặt Giám đốc điều hành công việc kinh doanh như giải quyết các vấn đề đầu vào, đầu ra... Tham mưu giúp Giám đốc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm hàng năm và đôn đốc thực hiện kế hoạch. Dưới Ban Giám đốc là các phòng chức năng. Các phòng chức năng là
74

những tổ chức bao gồm cán bộ, nhân viên kinh tế, kỹ thuật, hành chính... được phân công chuyên môn hoá theo các chức năng quản trị, có nhiệm vụ giúp Giám đốc (và cả Phó Giám đốc), chuẩn bị các quyết định, theo dõi, hướng dẫn cũng như những cán bộ, nhân viên cấp dưới thực hiện đúng đắn, kịp thời những quyết định quản lý. Trách nhiệm chung của các phòng ban chức năng là vừa phải hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vừa phải phối hợp chặt chẽ với các phòng khác, nhằm đảm bảo cho tất cả các lĩnh vực công tác của Xí nghiệp được tiến hành ăn khớp, nhịp nhàng và đồng bộ. Các phòng chức năng của Xí nghiệp Gỗ Hà nội được tổ chức theo hướng chuyên tinh gọn nhẹ sau : + Phòng Tổ chức Hành chính và Bảo vệ : Là phòng nghiệp vụ tổng hợp, tham mưa giúp Giám đốc quản lý các lĩnh vực công tác tổ chức nhân sự hành chính quản trị, bảo vệ nội bộ công tác y tế và các mặt an toàn xã hội tại Xí nghiệp bao gồm quản lý chất lượng CBCNV thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách của Nhà nước đối với người lao động khi nghỉ chế độ. Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại Xí nghiệp, bảo vệ tài sản an toàn. Tham mưu thực hiện công tác Quân sự địa phương, quản lý mọi công việc thuộc phạm vi hành chính nội bộ, tổng hợp giao dịch văn thư đánh máy và truyền đạt chỉ thị công tác của Giám đốc đến các đơn vị bộ phận an toàn xã hội. Quản lý hồ sơ sức khoẻ của người lao động. + Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật – Vật tư : Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật – Vật tư là phòng nghiệp vụ tổng hợp có chức năng tham mưa giúp Giám đốc trong công tác xây dựng và chỉ đạo hoàn thiện kế hoạch sản xuất kinh doanh từng quý, từng năm và nhiều năm. Nắm bắt các thông tin để trên tư tưởng kết hợp khai thác khả năng thực tế để lập phương án mặt bằng phương án sản phẩm. Nghiên cứu áp dụng công nghệ mới, kỹ thuật thuết bị mới tiên tiến thiết kế tạo dáng sản phẩm để đưa vào sản xuất nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng kế hoạch, quan sát kiểm tra và đề ra phương án, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Xây dựng các

75

định mức về đơn giá Vật tư, đơn giá giá thành sản phẩm. Giúp Giám đốc xây dựng và thực hiện kế hoạch cung ứng vật tư, nguồn nguyên vật liệu nhằm bảo đảm cấp phát vật tư theo kế hoạch sản xuất quản lý các kho vật tư sản phẩm trong Xí nghiệp. Quản lý chung trong toàn Xí nghiệp hồ sơ thiết bị máy móc công tác an toàn bảo hộ lao động theo quy định hiện hành. + Phòng Kế toán tài chính (Phòng Tài vụ) : Là phòng nghiệp vụ có chức năng tham mưu và thực hiện giúp Giám đốc về lĩnh vực thống kê kế toán tài chính, đồng thời có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, quan sát tình hình thực hiện kế hoạch và chấp hành các chính sách, quy tắc, chế độ theo kế toán thống kê như : Kiểm kê tài sản, kiểm tra kiểm soát, quản lý những tài liệu kế toán, nghiên cứu thị trường, kế hoạch cho vật tư, tiêu thụ và các vấn đề sản xuất – kinh doanh khác nữa. Đối với các Phòng chức năng, Xí nghiệp tính toán xác định số lượng cán bộ, nhân viên mỗi phòng chức năng một cách chính xác, có căn cứ khoa học nhằm vừa bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, vừa giảm bớt tỷ lệ nhân viên quản trị, giảm chi phí quản lý sao cho số lao động trong bộ máy quản lý của Xí nghiệp không quá 5% tổng số lao động trong Xí nghiệp. + Các phân xưởng sản xuất (gồm 4 phân xưởng sản xuất : cả sản xuất chính và sản xuất phụ): Các phân xưởng sản xuất là những đơn vị cơ sở thuộc Xí nghiệp có chức năng trực tiếp sản xuất các sản phẩm theo kế hoạch điều độ của Xí nghiệp, góp phần vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp. Trong đó các phân xưởng sản xuất phụĐỐC vị cơ sở PHÓ GIÁM là đơn trực thuộc Xí nghiệp có chức năng kinh doanh sửa chữa dịch vụ theo quy định Phòng Tổ luật, tự Hànhtrách nhiệm đảm bảo việc làm đời sống của cuả pháp chức – chịu chính và Bảo vệ CBCNV của mình và tham gia đóng góp tài chính đối với Xí nghiệp. Phân xưởng Xẻ Sơ đồ : Tổ chức bộ máy Quản lý tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội Phòng Kỹ thuật – Kế hoạch – Vật tư Phân xưởng Mộc Phòng Kế toán - tài chính
76

GIÁM ĐỐC

Phân xưởng Cơ điện Phân xưởng Dịch vụ

Xí nghiệp bố trí và sử dụng lao động một cách hợp lý về thời gian lao động. Xí nghiệp đã cung cấp các yếu tố vật chất như : Thiết bị, dụng cụ, phương tiện làm việc, phương tiện đi lại... cho người lao động. Ngoài các điều kiện về vật chất, Xí nghiệp cũng chú ý tới điều kiện về môi trường như : Chế độ, giờ giấc làm việc, vệ sinh công nghiệp, nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh phù hợp với nhu cầu sinh lý của người lao động. Các chế độ xã hội như : Chế độ lương thưởng, bảo hiểm, quan hệ cộng sự, khối lượng và chất lượng thông tin ... cũng được Xí nghiệp Gỗ Hà nội quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả trong lao động. Xí nghiệp hạn chế một cách tối đa các tai nạn lao động, tai nạn do nghề nghiệp như : Điều kiện làm việc không thuận lợi, kỷ luật lao động còn lỏng lẻo, ý thức phòng hộ của người lao động.

77

4. Gỗ Hà nội :

Đặc điểm chung về công tác hạch toán kế toán ở Xí nghiệp

Hoạt động sản xuất của Xí nghiệp Gỗ Hà nội được hình thành ở nhiều điểm, nhiều phân xưởng, tổ sản xuất khác nhau. ở từng địa điểm sản xuất lại chế biến nhiều sản phẩm, nhiều công việc lao vụ khác nhau, theo các quy trình công nghệ sản xuất khác nhau. Do đó, chi phí sản xuất của Xí nghiệp cũng phát sinh ở nhiều địa điểm, nhiều bộ phận liên quan tới nhiều sản phẩm, nên đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng phân xưởng, từng bộ phận dịch vụ và lại được chi tiết cho từng sản phẩm, từng nhóm sản phẩm. Phòng Kế toán - tài chính (Phòng Tài vụ) của Xí nghiệp phụ trách các công việc liên quan tới công tác kế toán – tài chính – thống kê của Xí nghiệp. Phòng Kế toán - tài chính có 3 người. Mỗi người đều có chức năng, nhiệm vụ riêng của mình song giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau, bổ trợ cho nhau, giúp cho cả bộ máy kế toán tiến hành đều đặn, hoạt động tốt công tác phục vụ quản lý của Xí nghiệp. Sơ đồ : Tổ chức Kế toán tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội

Trưởng phòng (Kế toán Trưởng) kiêm Kế toán tổng hợp

+ Kế toán Vật tư kiêm + Kế toán thành phẩm + Kế toán tiêu thụ sản phẩm + Thủ quỹ

+ Kế toán lương và các khoản trích theo lương kiêm + Kế toán Vốn bằng tiền + Kế toán thanh toán

78

Xí nghiệp Gỗ Hà nội đang áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chứng từ (NKCT). Bộ máy kế toán tập trung, các nhân viên kế toán tập trung ở một phòng gọi là phòng Kế toán - tài chính. Phòng Kế toán tổ chức ghi chép sổ sách ban đầu chính xác và thống nhất, cũng như việc ghi chép và lập các chứng từ kế toán. Tổng hợp chi phí sản xuất trong quá trình sản xuất của các phân xưởng, phản ánh chính xác kịp thời và đầy đủ khách quan giá thành sản phẩm và doanh thu tiêu thụ. Ghi chép, tính toán chính xác về nguồn vốn và TSCĐ, vật tư và các loại vốn bằng tiền. Cuối kỳ (cuối năm) đảm bảo hoàn thành công tác Báo cáo kế toán tài chính, giúp Giám đốc nắm vững tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của Xí nghiệp. Nộp Báo cáo tài chính cho các cơ quan chủ quản của mình (Sở Công nghiệp Hà nội) theo định kỳ và tiến hành nộp thuế và các khoản phải nộp Nhà nước khác. Do đặc điểm sản xuất – kinh doanh của Xí nghiệp nên Xí nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo 2 phương pháp là vừa dùng phương pháp Kê khai thường xuyên (KKTX) vừa dùng phương pháp Kiểm kê định kỳ (KKĐK). + Phương pháp KKTX dùng để hạch toán hàng tồn kho cho các sản phẩm chính của Xí nghiệp là đồ gỗ và các sản phẩm hàng mộc. + Phương pháp KKĐK dùng để hạch toán hàng tồn kho đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh dịch vụ thuộc bộ phận sản xuất sản phẩm phụ của Xí nghiệp. Xí nghiệp có quy trình sản xuất theo kiểu chế biến liên tục. Tất cả các chi phí sản xuất của giai đoạn trước dùng hết cho giai đoạn sau để tạo nên một dây chuyền sản xuất kiêủ liên tục. Toàn bộ chi phí sản xuất của phân xưởng Xẻ được kết chuyển ngay cho phân xưởng Mộc theo định kỳ cuối quý. Chi phí sản xuất của Xí nghiệp cũng được chia theo khoản mục chi
79

phí : Chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC. Định kỳ cuối từng quý, sau khi tổng hợp được chi phí sản xuất ở phân xưởng Mộc, kế toán tiến hành tính giá thành sản phẩm theo phương pháp giản đơn với từng sản phẩm đồ gỗ hoàn thành. Với công thức sau :

∑ Giá thành sản phẩm = Dư đầu kỳ Chi phí sản xuất – Dư cuối kỳ
Giá thành đơn vị sản phẩm =

∑ Giá thành sản phẩm
-----------------------------------------Khối lượng sản phẩm hoàn thành

• Về hình thức sổ sách kế toán : Để phù hợp với đặc điểm sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý. Xí nghiệp đã áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chứng từ (NKCT). Theo hình thức này, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh trên NKCT thông qua các Bảng kê, sổ chi tiết, các bảng phân bổ... Định kỳ căn cứ vào NKCT và các tài liệu kế toán khác để ghi vào Sổ Cái. Trình tự và phương pháp ghi sổ kế toán tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội như sau : Chứng từ gốc và các Bảng phân bổ

Sơ đồ : Công tác ghi sổ kế toán tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội Bảng kê số Nhật ký chứng từ Thẻ và sổ kế 3,4,5 số 7 toán chi tiết

Sổ Cái TK154,631

Bảng tổng hợp chi tiết

Báo cáo kế toán tài chính
80

: Ghi hằng ngày : Ghi cuối kỳ (quý) : Đối chiếu, kiểm tra

II - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI XÍ NGHIỆP GỖ HÀ NỘI Đối với một đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí và giá thành sản phẩm luôn luôn là một chỉ tiêu quan trọng và được coi trọng hàng đầu. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng, quyết định tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như sự tồn tại và phát triển của Xí nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường. Chính vì lẽ đó, tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội, bộ phận kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được đặt lên vị trí quan trọng và luôn được quản lý một cách chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của Xí nghiệp. Trước hết, ta hãy tìm hiểu đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của Xí
81

nghiệp đã. 1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất : Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là một khâu đặc biệt quan trọng trong toàn bộ công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Việc xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đơn vị sản xuất – kinh doanh và với yêu cầu quản lý chi phí sản xuất là yêu cầu cần thiết không thể thiếu được đối với công tác hạch toán chi phí sản xuất và phục vụ công tác tính giá thành. Quy trình công nghệ sản xuất và đặc điểm tổ chức sản xuất của Xí nghiệp có ảnh hưởng đến việc tập hợp chi phí sản xuất. Sản phẩm của Xí nghiệp bao gồm nhiều loại, được sản xuất qua nhiều công đoạn khác nhau theo công nghệ chế biến kiểu liên tục theo một trình tự nhất định, từ nguyên vật liệu đầu vào cho tới sản phẩm hoàn thành đầu ra. Xí nghiệp tổ chức sản xuất ở các phân xưởng sản xuất (Phân xưởng Mộc, phân xưởng Xẻ) nên phân xưởng sản xuất này là đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và Xí nghiệp tổ chức hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp KKTX. Còn phân xưởng Cơ điện là phân xưởng sản xuất phụ của Xí nghiệp thì được hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp KKĐK. Định kỳ cuối quý kết chuyển chi phí ở phân xưởng Cơ điện vào phân xưởng Mộc. 2. Tài khoản sử dụng : Với lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của mình là các sản phẩm đồ gỗ và hàng mộc và Xí nghiệp tiến hành hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp KKTX, nên Xí nghiệp sử dụng TK154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” để tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp và để phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm hoàn thành sau này. TK154 được mở chi tiết theo từng phân xưởng sản xuất : - TK154.1 : Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang phân xưởng Xẻ - TK154.2 : Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang phân xưởng Mộc
82

Kết cấu của TK154 : Bên Nợ : - NVL xuất dùng trực tiếp chế tạo sản phẩm (hay sản phẩm sơ chế ở phân xưởng trước chuyển sang). - Tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương phải trả cho CNV - Các khoản đóng góp theo tỷ lệ với tiền lương thực tế - Các chi phí sản xuất chung kết chuyển cuối kỳ Bên Có : - Giá thành thực tế của sản phẩm hoàn thành - Phế liệu thu hồi - Trị giá sản phẩm hỏng không sửa chữa được Dư Nợ : Chi phí thực tế của sản phẩm dở dang chưa hoàn thành. Với bộ phận sản xuất kinh doanh phụ của Xí nghiệp thì phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh là phương pháp KKĐK. Xí nghiệp sử dụng tài khoản tập hợp chi phí sản xuất và phục vụ công tác tính giá thành là TK631 “Giá thành sản xuất “. TK631 được chi tiết theo từng bộ phận phân xưởng sau đây : - TK631.1 : Phân xưởng Cơ điện - TK631.2 : Bộ phận đời sống - TK631.4 : Sửa chữa, XDCB - TK631.5 : Kinh doanh, dịch vụ Kết cấu của TK631: Bên Nợ : - Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ - Các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong kỳ liên quan tới việc chế tạo sản phẩm Bên Có : - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ vào

83

TK154 - Giá thành sản phẩm hoàn thành. Cuối kỳ (theo quý) TK631 không có số dư

3. Tổ chức quá trình hạch toán chi phí sản xuất của Xí nghiệp: Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính giá thành đồng thời thấy được tình hình quản lý chi phí theo khoản mục nhất định và theo địa điểm phát sinh chi phí khác nhau, chi phí sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp Gỗ Hà nội được phân theo nội dung kinh tế, bao gồm các yếu tố sau: + Nguyên vật liệu chính : Gồm những nguyên vật liệu mà sau quá trình sản xuất chế biến sẽ cấu thành nên cơ sở vật chất chủ yếu của sản phẩm như : Các loại gỗ lim, gỗ dổi, gỗ de, gỗ ván, gỗ hộp, gỗ ép dăm bào... + Nguyên vật liệu phụ : Gồm những vật liệu phụ trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh như : Véc- ni, ghim, mút, dạ, đinh, giấy ráp băng, foóc, nhựa, bọc đồng... + Nhiên liệu động lực : Gồm các chi phí về điện, nước, xăng dầu... + Tiền lương và các khoản phụ cấp : Gồm tiền lương chính, tiền lương phụ, tiền thưởng và các khoản trích có tính chất lương. + Khấu hao TSCĐ : Biểu hiện bằng tiền phần giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá trình sản xuất – kinh doanh. + Chi phí dịch vụ mua ngoài : Các khoản chi phí mua ngoài dùng cho SXKD + Chi phí khác bằng tiền Mặt khác, để phục vụ cho yêu cầu tính và phân tích giá thành sản
84

phẩm toàn bộ chi phí sản xuất của Xí nghiệp được tập hợp theo 3 khoản mục sau: + Chi phí NVLTT + Chi phí NCTT + Chi phí SXC Chi phí sản xuất của Xí nghiệp Gỗ Hà nội bao gồm nhiều loại với nội dung và tính chất khác nhau, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất vào giá thành cũng khác nhau. Khi phát sinh chi phí, trước hết biểu hiện theo yếu tố rồi mới biểu hiện thành khoản mục để tính giá thành sản phẩm. Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, hợp lý và kịp thời được.

a) Hạch toán chi phí NVLTT : NVL nói chung là những đối tượng lao động được thể hiện dưới dạng lao động vật hoá. Vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định, giá trị của nó chuyển hết một lần vào thành phẩm. Trong quá trình tham gia vào sản xuất, dưới tác động của các tư liệu lao động khác, vật liệu bị tiêu hao toàn bộ hay bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu thành thực thể của sản phẩm. Trong Xí nghiệp Gỗ Hà nội, nguyên vật liệu được sử dụng bao gồm nhiều loại khác nhau. Để quản lý và bảo vệ tốt các loại nguyên vật liệu đáp ứng một cách nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời cho các đối tượng sử dụng. NVL được quản lý tại các kho của Xí nghiệp và được phân loại theo chất lượng gỗ, loại gỗ, kích cỡ của gỗ, đã qua sơ chế hay chưa... Vật liệu của Xí nghiệp được ghi chép trên TK152 “Nguyên vật liệu” theo vai trò và tác dụng của vật liệu đối với quá trình sản xuất kinh doanh

85

của Xí nghiệp. Cụ thể TK152 được chi tiết ra như sau : - TK152B : Nguyên vật liệu chính - TK152P : Các loại vật liệu phụ - TK152E : Nguyên vật liệu theo dõi cho gỗ Xẻ - TK152E XDCB : Nguyên vật liệu xuất dùng cho XDCB và Đời sống. Nguyên vật liệu được sử dụng tại Xí nghiệp rất phong phú và đa dạng, có nhiều loại khác nhau, được theo dõi trên sổ chi tiết. Nguyên vật liệu chủ yếu là mua ngoài, được cung cấp mang tới và giao tại Xí nghiệp. Giá nhập kho là giá bán trên hoá đơn, không bao gồm thuế GTGT (Xí nghiệp đã và đang áp dụng luật thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ), nếu có chi phí khác thì đó chỉ là chi phí bốc dỡ chuyển vào kho. Giá NVL nhập kho = Giá bán (trên hoá đơn) + Chi phí vận chuyển bốc dỡ Kho NVL của Xí nghiệp chịu sự quản lý của Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật – Vật tư (về số lượng) và Phòng Tài vụ (cả về số lượng và giá trị). Hằng ngày, căn cứ vào phiếu nhập, xuất NVL Thủ kho tiến hành ghi vào thẻ kho. Đồng thời chi phí nguyên vật liệu do kế toán vật tư theo dõi và phản ánh hằng ngày thông qua các phiếu nhập và xuất kho vật tư. Tất cả các phiếu xuất kho vật tư đều phải có căn cứ và lệnh xuất phù hợp với nhu cầu sản xuất thực tế (Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, nhu cầu thực tế và định mức tiêu hao, phân xưởng lập một phiếu yêu cầu xuất kho vật liệu, ghi danh mục vật liệu cần lĩnh cụ thể và số lượng gửi bộ phận kế hoạch vật tư và trình Giám đốc hay Phó Giám đốc duyệt). Căn cứ vào các phiếu xuất kho, kế toán vật tư định kỳ theo quý mới phản ánh đơn giá xuất Vật liệu theo phương pháp giá bình quân gia quyền (bình quân cả kỳ dự trữ).

86

Đơn giá vật liệu xuất dùng

Giá trị VL tồn đầu kỳ + Giá trị VL nhập trong kỳ = -----------------------------------------------------------------Số lượng VL tồn đầu kỳ + Số lượng VL nhập trong kỳ

Dựa vào các phiếu nhập kho, xuất kho NVL, CCDC và các tài liệu kế toán có liên quan khác, kế toán vật tư tiến hành lập bảng kê số 3 để phản ánh lượng vật tư nhập, xuất trong kỳ là bao nhiêu. Sau đó kế toán tiến hành lập Bảng phân bổ NVL, CCDC.

87

Dựa vào Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ quý 1 năm 2000 của Xí nghiệp Gỗ Hà nội. Nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại Xí nghiệp được tập hợp và phân bổ như sau : + Đối với NVL xuất dùng để chế tạo sản phẩm của Xí nghiệp : Nợ TK621 : 89.563.500

Có TK152 : 89.563.500 Có TK152B : 18.138.000 Có TK152P : 14.857.500 Có TK152E : 56.568.000 + Xuất NVL cho phân xưởng Cơ điện : Nợ TK631.1 : 166.000

Có TK152P : 166.000 + Đối với NVL, CCDC dùng cho phục vụ sản xuất kinh doanh Nợ TK627.1 : 887.000

Có TK152P : 517.000 Có TK 153 : 370.000 Nợ TK627.2 : 19.000

Có TK152P : 19.000 + Với NVL, CCDC được phép xuất bán ra ngoài Nợ TK632 Có TK152B Có TK152P Có TK152E : 26.393.000 : 1.760.000 : 98.000 : 17.786.000

Có TK152E XDCB : 6.744.000

88

Có TK153

: 5.000

+ Với NVL phụ phục vụ cho công tác quản lý Xí nghiệp : Nợ TK 642 :181.000

Có TK152P : 181.000 + Với NVL xuất dùng phục vụ cho công tác sửa chữa và XDCB : Nợ TK241 Có TK152B Có TK152P : 130.303.000 : 369.000 : 116.096.000

Có TK152E XDCB : 13.838.000 + Còn có sự luân chuyển NVL phục vụ cho sửa chữa XDCB sang kho của phân xưởng Xẻ (luân chuyển nội bộ): Nợ TK152E : 650.000

Có TK152E XDCB : 650.000 b) Hạch toán chi phí Nhân công trực tiếp và các khoản trích theo lương: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Xí nghiệp Gỗ Hà nội luôn quan tâm đến chất lượng sản phẩm và khối lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Tiền lương là biểu hiện về mặt giá trị của chi phí về lao động sống, nó là yếu tố cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm. Vì thế Xí nghiệp rất chú trọng đến công tác trả lương cho cán bộ công nhân viên, coi đó là đòn bẩy tích cực nhằm nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ và cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp. Thu nhập của cán bộ công nhân viên chủ yếu là tiền lương chính, ngoài ra còn có các khoản phụ cấp và các khoản khác thì không đáng kể (như tiền ăn trưa, tiền nghỉ ốm đau, tiền tăng năng suất lao động. Theo

89

chế độ tài chính hiện hành, Xí nghiệp còn tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một bộ phận chi phí gồm các khoản BHXH và KPCĐ <không có phần BHYT>). Quỹ BHXH được trích lập để tài trợ cho những trường hợp công nhân viên tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như : ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, mất sức, nghỉ hưu ...<theo quy định của nhà nước>. KPCĐ chủ yếu là dành cho các hoạt động của tổ chức lao động, chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động. Để hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán của Xí nghiệp sử dụng các tài khoản sau: - TK334 “Phải trả cho CNV” - TK338 “Phải trả, phải nộp khác” TK3382 “Kinh phí công đoàn” TK3383 “Bảo hiểm xã hội” Tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất ở Xí nghiệp trả 100% lương sản phẩm tính theo đơn giá. Đơn giá tiền lương định mức do bộ phận kế hoạch (cụ thể là Phòng Kế hoạch – kỹ thuật – Vật tư) xây dựng căn cứ vào thời gian lao động tiêu hao (tính theo giờ) đối với từng loại sản phẩm. Tiền lương, BHXH và KPCĐ do kế toán tiền lương tính toán và phân bổ căn cứ vào các Bảng chấm công, Bảng thanh toán các hợp đồng sản xuất kinh doanh, khối lượng sản phẩm dịch vụ hoàn thành ... của từng bộ phận, từng phân xưởng đã được xác nhận để lập bảng phân bổ số 1 “Bảng phân bổ tiền lương và BHXH” cho từng phân xưởng và bộ phận sản xuất kinh doanh. Cuối quý chuyển toàn bộ Bảng phân bổ đó cho kế toán tổng hợp để tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm. Tiền lương sản phẩm tính theo công thức : Tiền lương Đơn giá tiêng lương Số giờ sản xuất hoàn

90

Sản phẩm = (tính theo giờ cho từng x thành sản phẩm (tính cho loại sản phẩm) từng loại sản phẩm)

Các khoản tiền lương, BHXH, và KPCĐ được hạch toán chi tiết trực tiếp vào bên nợ TK622 (Đối với các chi phí Nhân công trực tiếp sản xuất) và bên Nợ TK627 (Đối với các chi phí cho công nhân phục vụ phân xưởng) và bên Nợ TK631 (Đối với các chi phí phát sinh ở phân xưởng Cơ điện và bộ phận kinh doanh dịch vụ của Xí nghiệp). ở Xí nghiệp Gỗ Hà nội, BHXH và KPCĐ được thích theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tiền lương cơ bản của cán bộ công nhân viên Xí nghiệp. Ví Dụ : Tính lương sản phẩm của Anh Nguyễn Toàn Thắng tháng 3 năm 2000. Các tài liệu kế toán cho thấy : - Số giờ tham gia sản xuất : 200 giờ - Mức độ hoàn thàn định mức sản xuất : 100% - Đơn giá sản xuất hoàn thành sản phẩm A (ghế đẩu) là:2.300đ/giờ - Lương cơ bản là : 180.000đ/tháng Tiền lương sản phẩm phải trả cho Anh Thắng là : 2.300đ/giờ x 200giờ = 460.000đ Định kỳ, căn cứ các chứng từ tính lương và BHXH, kế toán tiền lương lập Bảng tổng hợp thanh toán lương theo sản phẩm và Bảng phân bổ tiền lương và BHXH. Chi phí Nhân công trực tiếp được tập hợp ở từng phân xưởng, từng bộ phận sản xuất kinh doanh (chính và phụ) sau đó được tập hợp chung cho toàn Xí nghiệp (Cho tất cả các loại sản phẩm được sản xuất ra và hình thành tại Xí nghiệp). Dựa vào số liệu của Bảng phân bổ tiền lương và BHXH. Kế

91

toán tiền lương tính ra lương phải trả và các khoản phải trả phải nộp khác: + Tính ra lương phải trả cho cán bộ công nhân viên ở từng phân xưởng và từng bộ phận sản xuất kinh doanh : Nợ TK622 Nợ TK627.2 Nợ TK631.1 Nợ TK631.2 Nợ TK631.4 Nợ TK631.5 : 41.261.000 : 1.340.000 : 9.491.000 : 5.669.000 : 65.462.000 : 613.000

Có TK334 : 123.836.000 + Tiến hành trích KPCĐ và BHXH theo tiền lương phải trả tại các phân xưởng hoặc bộ phận: Nợ TK627.2 Nợ TK622 Nợ TK631.1 Nợ TK631.2 Nợ TK631.4 :159.365 : 4.986.576 : 1.023.754 : 674.179 : 4.716.448

Có TK338 : 11.560.322 c) Hạch toán chi phí sản xuất chung : Để cho quá trình sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp được tiến hành liên tục, Xí nghiệp đã tổ chức ra bộ phận phục vụ, quản lý sản xuất tại các phân xưởng và bộ phận sản xuất. Muốn duy trì hoạt động của chúng thì phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định như : Chi phí nhân viên, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác... Để đảm bảo có nguồn bù đắp các khoản chi phí này (theo

92

quy định của Nhà nước) thì kế toán phải hạch toán vào giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất chung của Xí nghiệp được hạch toán theo từnh yếu tố chi phí rồi sau đó tiến hành phân bổ cho các đối tượng tập hợp chi phí liên quan. Việc phân bổ được tiến hành dựa trên tiêu thức phân bổ là giờ công sản xuất Khoản mục chi phí sản xuất chung được theo dõi trên TK627 “Chi phí sản xuất chung” và được chi tiết thành 3 tiểu khoản sau : - TK627.1 : Chi phí sản xuất chung Phân xưởng Xẻ - TK627.2 : Chi phí sản xuất chung phân xưởng Mộc - TK627.3 : Chi phí sản xuất chung phân xưởng Cơ điện • Chi phí tiền lương của nhân viên phân xưởng, bộ phận: Chi phí tiền lương của nhân viên phân xưởng, bộ phận bao gồm chi phí tiền lương chính, các khoản khác như (ăn trưa, nghỉ ốm, tiền trách nhiệm...) khoản trích BHXH và KPCĐ của nhân viên phân xưởng sản xuất như : Quản đốc, phó quản đốc, thủ kho của các phân xưởng. Việc trả lương cho các nhân viên quản lý tại các phân xưởng của Xí nghiệp được trả theo lương của bộ phận gián tiếp của Xí nghiệp (lương bộ phận văn phòng Xí nghiệp) và trả theo hệ số lương cấp bậc. Lương nhân viên quản lý = 180.000đ x hệ số lương + Phụ cấp khác

Ngoài ra, nhân viên quản lý phân xưởng (quản đốc phân xưởng) còn được hưởng các khoản phụ cấp khác như : Phụ cấp trách nhiệm, trợ cấp BHXH, phụ cấp do tăng năng suất lao động. Căn cứ vào đó kế toán tiền lương lập Bảng thanh toán lương cho nhân viên quản lý phân xưởng. Kế toán tiền lương hạch toán chi phí nhân viên phân xưởng trong quý

93

1 năm 2000 như sau: Nợ TK 627.2 : 1.340.000

Có TK 334 : 1.340.000 • Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ : Chi phí về vật liệu bao gồm những chi phí về vật liệu phụ xuất dùng để sửa chữa TSCĐ của phân xưởng, để phục vụ công tác sản xuất tại phân xưởng (như găng tay, áo bảo hộ lao động, đồ nhựa ...). Tất cả vật liệu xuất dùng cho phân xưởng để phục vụ sản xuất, Xí nghiệp đều coi là xuất vật liệu phụ. Công cụ dụng cụ sản xuất xuất dùng chủ yếu và thường xuyên xảy ra ở 2 phân xưởng sản xuất chính là 2 phân xưởng Mộc và phân xưởng Xẻ, chúng chủ yếu phục vụ cho gia công hoàn thiện sản phẩm như : lưỡi cưa, mũi khoan, giấy ráp, đá cắt, đá mài... Nguyên tắc xuất dùng : Phần lớn công cụ dụng cụ ở 2 phân xưởng sản xuất chính là những mặt hàng có bán rộng rãi trên thị trường nên dễ mua. Do đó, khi nhận được phiếu yêu cầu xuất kho công cụ dụng cụ, cán bộ vật tư đi mua giao cho phân xưởng theo phiếu xuất kho. Phiếu xuất kho được viết 2 liên, một liên giao cho phân xưởng, một liên lưu tại phòng Kế hoạch – Kỹ thuật – Vật tư. Cuối tháng, phân xưởng chuyển cho bộ phận kế toán vật tư để kế toán xác định giá trị công cụ xuất kho (tính đơn giá xuất theo phương pháp giá bình quân gia quyền ). Căn cứ vào phiếu xuất vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất chung, kế toán ghi vào sổ chi tiết NVL,CCDC. Cuối quý, căn cứ vào sổ chi tiết NVL, CCDC kế toán lập bảng phân bổ NVL, CCDC. Kế toán hạch toán chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ dùng cho phân xưởng sản xuất trong quý 1 năm 2000 như sau : Nợ TK 627.1 : 887.000

94

Có TK 152P : 517.000 Có TK 153 Nợ TK 627.3 : 370.000 : 19.000

Có TK152P : 19.000 • Chi phí khấu hao TSCĐ : Máy móc thiết bị và nhà xưởng chuyên dùng cho sản xuất sản phẩm tại Xí nghiệp là những tư liệu lao động có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài (gọi là TSCĐ). Vì vậy, việc quản lý chặt chẽ TSCĐ này là vô cùng cần thiết và phải được coi trọng. Trong quá trình sản xuất và sử dụng TSCĐ bị hao mòn dần. Để hình thành nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu tái sản xuất, đổi mới và mở rộng TSCĐ, Xí nghiệp phải trích khấu hao cơ bản. Khoản chi phí khấu hao mà Xí nghiệp sẽ trích hàng quý sẽ tính vàp chi phí sản xuất và vào giá thành sản phẩm. Trước đây, chi phí này là một trong những khoản mục cơ bản liên quan trực tiếp đến quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm (l;à một khoản mục độc lập) nhưng hiện nay theo hệ thống kế toán mới ban hành thì khảon chi phí này được tập hợp vào khoản mục chi phí sản xuất chung và được theo dõi trên TK627. Việc tính toán khấu hao máy móc thiết bị và nhà xưởng được thực hiện theo Quyết định số 1062 của Bộ tài chính. Theo đó, công tác tính khấu hao máy móc thiết bị sản xuất và tài sản khác ở Xí nghiệp Gỗ Hà nội được thực hiện theo Quy định 507/BTC. Theo quy định này tỷ lệ khấu hao TSCĐ được xác định cho từng tài sản riêng. Song, để đơn giản cho việc tính khấu hao, Xí nghiệp chọn tỷ lệ khấu hao bình quân cho từng loại TSCĐ, cụ thể: - Nhà cửa, vật kiến trúc : 8%/quý - Máy móc thiết bị công tác : 6%/quý Xí nghiệp tính chi phí khấu hao TSCĐ theo phương pháp bình quân

95

(phương pháp đường thẳng) cho từng loại TSCĐ và tính phân bổ khấu hao theo quý. Hằng quý, mức khấu hao cơ bản được tính theo công thức : Mức khấu hao TSCĐ ( quý ) Nguyên giá TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao

= ----------------------------------------------4

Hằng quý căn cứ vào số khấu hao đã trích kỳ trước và tình hình tăng giảm TSCĐ trong quý, kế toán xác định số khấu hao phải trích trong quý theo công thức : Số khấu hao phải trích quý này = Số khấu hao đã trích quý trước + Số khấu hao tăng trong quý này Số khấu hao giảm trong quý này

Chi phí khấu hao cơ bản TSCĐ thuộc các bộ phận, phân xưởng sản xuất được tập hợp theo toàn Xí nghiệp. Để theo dõi tình hình hiện có và biến động khấu hao TSCĐ, Xí nghiệp sử dụng TK214 “Hao mòn TSCĐ” Các chi phí khấu hao TSCĐ được hạch toán trực tiếp vào bên Nợ TK627 “Chi phí sản xuất chung” (đối với các phân xưởng sản xuất chính). Ngoài những khoản khấu hao TSCĐ ở các phân xưởng sản xuất chính, còn có khấu hao TSCĐ ở các bộ phận sản xuất kinh doanh dịch vụ và nó được phản ánh trực tiếp vào TK631. TK627.1 : Chi phí khấu hao tại phân xưởng Xẻ TK627.2 : Chi phí khấu hao TSCĐ tại phân xưởng Mộc TK627.3 : Chi phí khấu hao TSCĐ tại phân xưởng Cơ điện TK631.1 : Chi phí khấu hao TSCĐ tại phân xưởng Cơ điện TK631.2 : Chi phí khấu hao TSCĐ tại bộ phận đời sống
96

TK631.4 : Chi phí khấu hao TSCĐ cho bộ phận XDCB TK631.5 : Chi phí khấu hao TSCĐ cho bộ phận kinh doanh dịch vụ. Công việc này do kế toán TSCĐ thực hiện và số liệu được phản ánh trên bảng phân bổ số 3 “Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ”. Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ là cơ sở để vào Bảng kê số 4 và Nhật ký chứng từ số 7. Sở công nghiệp Hà nội Xí nghiệp Gỗ Hà nội Bảng phân bổ khấu hao cơ bản quý 1/2000 đvt : Đồng (VND) S TT 1 2 3 4 5 6 7 8 Đối tượng sử dụng Máy móc thiết bị phân xưởng Xẻ Nhà xưởng phân xưởng Xẻ Máy móc thiết bị phân xưởng Mộc Nhà xưởng phân xưởng Mộc Máy móc, nhà xưởng phân xưởng Cơ điện Máy móc, nhà xưởng bộ phận đời sống Máy móc, nhà xưởng bộ phận XDCB Máy móc, nhà xưởng bộ phận kinh doanh dịch vụ Cộng 40.000.000 Ngày ... tháng.... năm..... Người lập biểu (Ký, họ tên) Kế toán trưởng (Ký, họ tên) TK đối ứng 627.1 627.1 627.2 627.2 631.1 631.2 631.4 631.5 Khấu hao cơ bản 175.000 154.000 1.800.000 9.700.000 452.000 244.000 26.000.000 1.475.000

Căn cứ vào Bảng phân bổ số 3, kế toán phản ánh phần chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho sản xuất tại mỗi phân xưởng trong quý 1 năm 2000 theo định khoản: Nợ TK627.1 : 329.000
97

Nợ TK627.2

: 11.500.000

Có TK214 : 11.829.000 Nợ TK631.1 : 452.000

Có TK214 : 452.000 • Chi phí trích trước tính vào chi phí sản xuất chung : Chi phí trích trước (chi phí phải trả) là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được ghi nhận là chi phí của kỳ hạch toán. Căn cứ vào kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ của cả năm và căn cứ vào kế hoạch sản xuất trong quý của Xí nghiệp mà Xí nghiệp tiến hành trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. ở Xí nghiệp Gỗ Hà nội chỉ có chi phí sửa chữa lớn TSCĐ mới có thể dự toán được và lên kế hoạch tiến hành trích trước chi phí (vì TSCĐ của Xí nghiệp chủ yếu là nhà xưởng và máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, đã qua sử dụng nhiều năm rồi; cho nên cần phải thường xuyên sửa chữa và gia cố để sử dụng). + Khi lên kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ thì kế toán ghi sổ: Nợ TK335 Có TK liên quan (111,152,153,214...) + Định kỳ phân bổ vào chi phí sản xuất chung theo tiêu thức phân bổ là giờ công sản xuất: Nợ TK627 Có TK335 • Chi phí dịch vụ mua ngoài : Chi phí dịch vụ mua ngoài của Xí nghiệp để phục vụ sản xuất kinh doanh hiện nay chủ yếu là về tiền điện phục vụ cho hai phân xưởng sản xuất chính ở Xí nghiệp là phân xưởng mộc và phân xưởng Xẻ, Cuối tháng, căn cứ
98

vào giấy báo của chi nhánh điện về chỉ số điện sử dụng thực tế trên công tơ (đồng hồ đo điện) tại từng phân xưởng mà kế toán tính ra tiền điện phải trả cho Sở Điện lực Thành phố Hà nội. Chi phí dịch vụ mua ngoài là những khoản chi phí được thể hiện trên NKCT số 5. Căn cứ vào NKCT số 5, kế toán phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài (tiền điện) như sau: Ví Dụ : Tháng 3 năm 2000. Chi phí tiền điện của Xí nghiệp là: -Phân xưởng Xẻ : 1.040 kWh x 650 = 676.000 521 kWh x 650 = 338.650

-Phân xưởng Mộc :

Toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài của Xí nghiệp là : 1.014.650đ và được Sở Điện lực Thành phố Hà nội cho thanh toán chậm theo định khoản sau: Nợ TK627.1 Nợ TK627.2 : : 676.000 338.650

Có TK331 : 1.014.650 • Chi phí bằng tiền khác : Là những chi phí được thể hiện trên NKCT số 1, NKCT số 2, Bảng kê số 4 phần ghi Có TK111, ghi Có TK112 và dòng ghi Nợ TK627 “Chi phí sản xuất chung” có tác dụng phục vụ cho sản xuất tại phân xưởng Xẻ và phân xưởng Mộc của Xí nghiệp (như chi phí hội nghị, tiếp khách...). Cuối kỳ hạch toán, căn cứ vào các tài liệu kế toán có liên quan, kế toán tập hợp chi phí bằng tiền phát sinh vào chi phí sản xuất chung. Chi phí bằng tiền phục vụ cho sản xuất của quý 1 năm 2000 như sau: Nợ TK627 : 5.133.000

Có TK111 : 1.313.000 Có TK112 : 3.820.000
99

d) Hạch toán chi phí bán hàng, chi phí quản lý Doanh nghiệp : • Hạch toán chi phí bán hàng: Chi phí bán hàng của Xí nghiệp được sử dụng để phản ánh chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ thành phẩm, sản phẩm như chi phí chọn lọc, vận chuyển, bốc dỡ, giới thiệu, chào hàng ... và các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm. Việc tập hợp chi phí bán hàng được thể hiện trên TK641 “Chi phí bán hàng” + Trong kỳ, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến chi phí bán hàng: Nợ TK641 Có TK liên quan + Cuối kỳ, kết chuyển chi phí bán hàng đã tập hợp được vào TK911 “Xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh”. Nợ TK911 Có TK641 Chi phí bán hàng phát sinh tại Xí nghiệp là rất ít và hầu như có kỳ là không phát sinh chi phí. Sổ kế toán dùng để tập hợp chi phí bán hàng là bảng kê số 5 và được tập hợp trực tiếp vào NKCT số 7. • Hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý Xí nghiệp là những chi phí cho việc quản lý kinh doanh quản lý hành chính và phục vụ chung khác có liên quan đến hoạt động của toàn Xí nghiệp bao gồm: Chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu phục vụ cho quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao TSCĐ, thuế phí và lệ phí, chi phí dịch vụ mua ngoài bằng tiền khác. Tập hợp chi phí QLDN đã được thể hiện trên TK642 “Chi phí

100

QLDN” + Trong kỳ, các chi phí QLDN của Xí nghiệp được tập hợp như sau: Nợ TK 642 Có TK liên quan + Cuối kỳ, kết chuyển chi phí quản lý Xí nghiệp vào TK 911”Xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh” Nợ TK 911 Có TK 462 Sổ kế toán dùng để tập hợp chi phí QLXN là bảng kê số 5. Số liệu của bảng kê số 5 được tập hợp trực tiếp vao NKCT số 7 e) Hạch toán của bộ phận sản xuất kinh doanh phụ: Bộ phận đầu tư XDCB là một bộ phận trong bộ phận sản xuất kinh doanh phụ của xã hội. Nó được tổ chức ra để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bộ phận sản xuất kinh doanh phục tạo điều kiện để Xí nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất và thực hiện nhiệm vụ hạ thấp giá thành sản phẩm. Bộ phận sản xuất kinh doanh phụ bao gồm: Phân xưởng cơ điện, bộ phận đời sống , bộ phận XDCB , bộ phận kinh doanh dịch vụ. Trong đó chỉ phân xưởng cơ điện là có sự phục vụ sản xuất cho hai phân xưởng sản xuất chính là phân xưởng Xẻ và phân xưởng Mộc còn ba bộ phận còn lại thì không có sự phục vụ đáng kể cho sản xuất chính. Các Chi phí sản xuất kinh doanh phụ bao gồm: Tiền lương, BHXH, trợ cấp công nhân, khấu hao TSCĐ, chi phí về vật tư, các chi phí bằng tiền khác... + Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan tới chi phí XDCB được tập hợp:

101

Nợ TK 241 Có TK liên quan + Các chi phí phát sinh ở bộ phận sản xuất kinh doanh phụ (ngoài chi phí XDCB) được tập hợp: Nợ TK 631 (631.1 ; 631.2 ; 631.5) Có TK liên quan +Cuối kỳ kết quả chuyển chi phí XDCB Nợ TK 631.4 Có TK 241 Các khoản chi phí này được hạch toán vào NKCT số 7.

III- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP GỖ HÀ NỘI Như ở các phần trước ta đã biết muốn quản lý tốt được chỉ tiêu giá thành sản phẩm cần thiết phải có tổ chức tính đúng, tính đủ giá thành của các loại sản phẩm của Xí nghiệp sản xuất. Việc tính đúng tính đủ giá thành sản phẩm giúp cho Xí nghiệp phản ánh đúng đắn tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch của mình, xác định đúng đắn kết quả tài chínhn, tránh được hiện tượng lãi giả lỗ thật. Chính vì vậy tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội có ý nghĩa hết sức quan trọng và thiết thực đối với sự tồn tại và phát triển của Xí nghiệp. Để đảm bảo được như vậy thì khâu đầu tiên trong công tác tính giá thành sản phẩm là phải xác định cho được đôí tượng tính giá thành sản phẩm. 1. Đối tượng tính giá thành thành phẩm : Việc xác định đối tượng tính giá thành là căn cứ để nhân viên kế toán giá thành mở phiếu tính giá thành, tổ chức tính giá thành cho từng đối tượng,

102

phục vụ cho việc giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, phát hiện khả năng tiềm tàng để có biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm. Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm của kế toán. Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của Xí nghiệp, các loại sản phẩm mà Xí nghiệp sản xuất ra, cung cấp và sử dụng sản phẩm để xác dịnh đối tượng tính giá thành cho thích hợp. Do đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất của Xí nghiệp là theo kiểu chế biến liên tục gồm nhiều giai đoạn công nghệ kế tiếp nhau. Kết thúc mỗi giai đoạn sản xuất không cho ra bán thành phẩm bán ra ngoài mà chỉ những sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối cùng (ở phân xưởng Mộc) mới được coi là thành phẩm. Với đặc điểm đó, đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng theo từng mặt hàng. Cụ thể : Sản phẩm cuối cùng của Xí nghiệp có thể là bàn, ghế, tủ, giường, cửa, hòm... và từng sản phẩm đó lại được chia theo kích cỡ, số lượng, chất lượng của nguyên vật liệu... và từng nhóm sản phẩm, loại sản phẩm cuối cùng được tính theo cái, chiếc, bộ , đôi... Sản phẩm hoàn thành (sản phẩm cuối cùng) của Xí nghiệp được xuất xưởng nhập kho thành phẩm hoặc có thể được tiêu thụ ngay. 2. Kỳ tính giá thành thành phẩm : Để xác định được kỳ tính giá thành cho từng đối tượng tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất và chu kỳ sản xuất của sản phẩm. Như đã trình bày, quy trình công nghệ sản xuất của Xí nghiệp là quy trình công nghệ liên tục. Tổ chức sản xuất của Xí nghiệp là sản xuất nhiều mặt hàng nhưng chu kỳ sản xuất là không đều nhau, do vậy Xí nghiệp đã xác định kỳ tính giá thành là hằng quý, vào cuối quý phù hợp với kỳ sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp. Cuối quý, sau khi đã hoàn thành việc ghi sổ kế toán, kế toán giá thành căn cứ vào chi phí mà phân xưởng đã tập hợp được

103

đẻ tính giá thành cho sản phẩm hoàn thành trong quý. Việc xác định kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo kế toán, kế toán đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập hợp chi phí và tính giá thành kịp thời, chính xác và đúng đắn. 3. Phương pháp tính giá thành thành phẩm : Để việc tính toán và xác định giá thành được chính xác và hợp lý đối với sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Cuối quý, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở các phân xưởng và bộ phận phải tiến hành kiểm kê khối lượng sản phẩm dở dang cho từng loại sản phẩm hay nhóm sản phẩm. Xí nghiệp xác định trị giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVLTT. Theo phương pháp này, trong giá trị của sản phẩm dở dang chỉ bao gồm chi phí NVLTT thôi chứ không bao gồm các chi phí khác. Công thức tính giá trị sản phẩm dở dang như sau : Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ Chi phí sản phẩm Chi phí NVLTT Số lượng sản phẩm

dở dang đầu kỳ + phát sinh trong kỳ

= ------------------------------------------------- x dở dang Số lượng sản phẩm hoàn thành Số lượng sản phẩm + dở dang cuối kỳ cuối kỳ

Ví Dụ minh hoạ : Trong quý 3 năm 1999. Tại phân xưởng Mộc của Xí nghiệp tiến hành sản xuất sản phẩm “Bàn học sinh 2 chỗ” như sau: - Sản phẩm dở dang đầu quý : 0 - Chi phí tập hợp được trong quý : + Chi phí NVLTT : 30.479.269 + Chi phí NCTT : 16.700.51 + Chi phí SXC : 11.674.000
104

Cuối quý, sản phẩm hoàn thành nhập kho là 126 cái. Theo kết quả kiểm kê sản phẩm dở dang cuối kỳ là 9 cái, sản phẩm dở dang cũng được tiến hành đánh giá theo chi phí NVLTT như sau: Chi phí sản phẩm dở dang “Bàn học sinh 2 chỗ” cuối kỳ = 0 + 30.479.269 -------------------- x 9 = 2.031.949,2 126 + 9

Nhưng Xí nghiệp Gỗ Hà nội tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của mình theo quý. Đến cuối quý, sản phẩm dở dang cuối kỳ so với sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ là nhỏ không đáng kể. Và việc sản xuất sản phẩm của Xí nghiệp thường theo kế hoạch đề ra, cho nên đến cuối quý Xí nghiệp luôn cố gắng hoàn thành kế hoạch của mình, từ đó mà dẫn tới sản phẩm dở dang của Xí nghiệp là rất ít không đáng kể. Có những khi Xí nghiệp bỏ qua phần chi phí này không tính vào giá thành của sản phẩm. Do quy trình công nghệ sản xuất ở các phân xưởng sản xuất của Xí nghiệp là giản đơn, khép kín. Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng phân xưởng sản xuất và đối tượng tính giá thành là các sản phẩm đồ mộc hoàn thành. Do đó, Xí nghiệp áp dụng tính giá thành sản phẩm theo phương pháp giản đơn (phương pháp tính giá trực tiếp). áp dụng phương pháp này, Xí nghiệp đảm bảo tính giá thành sản phẩm một cách nhanh chóng. Công thức tính giá thành thành phẩm như sau: Tổng Chi phí sản Tổng chi phí Chi phí sản

Giá thành = phẩm dở dang + sản xuất phát - phẩm dở dang Sản phẩm đầu kỳ sinh trong kỳ cuối kỳ

Trong từng kỳ kế toán (hàng quý), sau khi đã tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh, căn cứ vào khoản chi phí được hạch toán ở các Bảng kê, Bảng phân bổ, và NKCT có liên quan, kế toán tiến hành tính giá thành sản

105

phẩm hoàn thành theo khoản mục. Tại Xí nghiệp, giá thành được tính theo 5 khoản mục và tính cho từng mặt hàng. 5 khoản mục của giá thành (khoản mục chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC, chi phí BH, chi phí QLDN) thì do kế toán giá thành – kế toán tổng hợp của Phòng Tài vụ – chịu trách nhiệm tập hợp. Tổng hợp số phát sinh Bên Có của các TK chi phí (TK152, 153, 334, 338, 214, 621, 622, 627, 641, 642, 631) đối ứng với Bên Nợ TK154 (TK154.1, TK154.2) và được tập hợp vào NKCT số 7. Kế toán tổng hợp chịu trách nhiệm tập hợp tính toán và phân bổ chi phí cho từng mặt hàng hoàn thành trong kỳ, và kế toán lập một bảng báo cáo chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng loại sản phẩm sản xuất trong quý.

Để làm rõ hơn về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, em sẽ minh họa cụ thể quá trình tính giá thành sản phẩm “Bộ bàn ghế dùng cho máy tính” gồm một bàn và một ghế xoay có bánh lăn tại phân xưởng Mộc. • Khoản mục chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí NVL là những chi phí sản xuất lớn chiếm từ 70% - 80% trong giá thành sản phẩm.Vì vậy, việc hạch toán chi phí NVL là một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để xác định lượng tiêu hao vật chất trong sản xuất và tính toán chính xác giá thành sản phẩm. Nhìn vào phiếu xuất vật tư cho sản xuất sản phẩm, ta thấy : - Chi phí NVL chính là các loại gỗ xuất dùng cho sản xuất như là: Gỗ dổi, (ván hộp), gỗ ép foóc dăn bào, gỗ ván sợi ép, gỗ dán, gỗ Teak chiếm 90% trong tổng chi phí NVL. Cụ thể là : 130.426.650 - Còn chi phí NVL còn lại, Xí nghiệp coi như là chi phí về phụ tùng, chi phí cụ thể là : 9.397.790 • Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp :

106

Chi phí nhân công trực tiếp (NCTT) là bộ phận quảntọng cấu thành nên chi phí sản xuất. Cho nên việc tính toán và phân bổ chính xác chi phí NCTT vào giá thành sẽ góp phần hạ thấp giá thành, tăng tích luỹ và cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp. Chi phí nhân công trực tiếp được phòng Kỹ thuật - Kế hoạch – Vật tư xác định và định mức chi phí nhân công theo giờ công sản xuất thực tế. Và được phòng lên kế hoạch cho sản xuất trong kỳ, đảm bảo khối lượng sản phẩm hoàn thành và chất lượng của sản phẩm. Đơn giá tiền lương này gồm đầy đủ lương chính và các khoản phụ cấp (nếu có) theo như định mức của phòng Kỹ thuật – Kế hoạch – Vật tư xác định. Số lượng công nhân phân xưởng Mộc làm sản phẩm “Bộ bàn ghế dùng cho máy tính” là 10 người. Đơn giá cho một giờ công sản xuất loại sản phẩm này là : 2.540đ/h cho một người. Tổng số giờ công sản xuất của công nhân trong cả quý là : 611 giờ Vậy : Tiền lương phải trả cho số công nhân này là : 10 x 2.540 x 611 = 15.519.400đ Các khoản trích theo lương (BHXH và KPCĐ) là : 2.638.298đ

107

Phiếu xuất vật tư sản xuất sản phẩm “Bộ bàn ghế dùng cho máy tính” Quý 4/1999 Tại PX Mộc đvt : Đồng (VND)

Khoản mục -Gỗ Dổi +Gỗ Dổi ván +Gỗ Dổi hộp -Gỗ ép foóc dăm bào -Gỗ ván sợi ép -Gỗ oóc + Teak -Gỗ dán 4 ly (1,2x2,4) -khoá ổ Tiệp - Thái -Đinh gim 1,5cm -Vòng sắt Inox -ống cao su chịu nhiệt -Ke sắt ghế (16x16) -Chốt -Chân tăng -Bàn trượt Vi tính Đài loan -Thanh trượt ô kéo 300-350 -Thanh nhôm kép tủ -Bánh xe di động (ghế) -bánh xe bàn Vi tính -Núm nhựa đen -Tay nắm chìm -Tay nắm Thái -Vải giả da, vải Nỉ -Keo sữa -Nẹp gân sần -Các loại vật liệu khác Cộng

Đơn vị M M3 M3 M3 M3 M3 Tấm Cái Cái Cái Cái Thanh Cái Cái Thanh Thanh Thanh Cái Cái Cái Cái Cái M Kg M .........
3

Số lượng

Đơn giá

Thành tiền 81.494.498 78.347.394 3.147.104 1.590.000 12.786.254 34.555.900 168.000 200.000 93.600 100.800 36.900 172.500 96.000 640.000 152.000 199.800 130.000 31.350 52.000 63.000 52.800 1.410.500 5.400.000 198.400 200.140 139.824.440

35,6 2.200.769 1,43 2.200.772 3 530.000 96,1 133.052 673 30 2.000 208 24 123 250 250 16 16 37 520 19 20 210 120 45,5 450 124 ........ 51.346 5.600 100 450 4.200 300 690 384 40.000 9.500 5.400 250 1.650 2.600 300 440 31.000 12.000 1.600 ........

108

Tổng chi phí NCTT cho sản phẩm “Bộ bàn ghế dùng cho máy tính” là: 15.519.400 + 2.638.298 = 18.157.698đ • Khoản mục chi phí sản xuất chung : Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản chi phí sau : - Chi phí NVL, CCDC - Chi phí tiền lương và BHXH : 527.600 : 2.186.790

- Khấu hao TSCĐ dùng cho phân xưởng : 10.714.554 - Chi phí dịch vụ mua ngoài - Chi phí khác bằng tiền Tổng cộng : 1.670.107 : 3.791.000 : 18.890.051

Chi phí sản xuất chung được phân bổ cho từng sản phẩm, nhóm sản phẩm theo số giờ công sản xuất thực tế của từng sản phẩm, loại sản phẩm đó. Phân bổ chi phí Chi phí SXC quý 4/1999 của FX Mộc Số giờ công

SXC cho sản phẩm = -------------------------------------------- x sản xuất cho “Bộ bàn ghế dùng cho máy tính” Tổng số giờ công sản xuất thực tế của FX Mộc trong quý 4/1999 18.890.051 = ----------------- x 611 = 7.465.601,8 1.546 Giá trị sản phẩm dở dang đầu quý và cuối quý cho loại sản phẩm này là nhỏ không đáng kể so với chi phí phân bổ cho sản phẩm trong quý, cho nên để đơn giản Xí nghiệp đã bỏ qua phần chi phí này (Xí nghiệp coi như chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ = chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ). Sau khi tính chính xác các khoản chi phí trên, kế toán lập thẻ tính giá
109

“Bộ bàn ghế

dùng cho máy tính”

thành sản phẩm.

Doanh nghiệp Xí nghiệp Gỗ Hà nội Thẻ tính giá thành sản phẩm dịch vụ Tháng : 10 + 11 + 12 năm 1999 Tên sản phẩm, dịch vụ : Bộ bàn ghế dùng cho máy tính Số lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ : 230 bộ đvt : Đồng (VND) S T Khoản phí SXKD Chi phí SXK D dở dang đầu kỳ 1 Chi phí 139.824.440 18.157.698 7.465.601,8 165.447.730 NVLTT 2 Chi phí NCTT 3 Chi phí SXC Cộng Chi phí SXKD phát sinh trong kỳ Chi phí SXK D dở dang cuối kỳ 139.824.440 18.157.698 7.465.601,8 165.447.730 719.337,95 Ngày ... tháng ... năm .... Người lập biểu (Ký, họ tên)
110

Giá thành sản phẩm, dịch vụ trong kỳ Tổng giá Giá thành thành đơn vị

T mục chi

Kế toán trưởng (Ký, họ tên)

Như vậy, giá thành sản xuất của sản phẩm “Bộ bàn ghế dùng cho máy tính” là : 719.337,95 đ/bộ • Khoản mục chi phí Bán hàng và chi phí Quản lý Doanh nghiệp: Trên NKCT số 7 quý 4/1999 của Xí nghiệp. Chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ là không có. Còn chi phí QLDN được tập hợp là : 76.400.443đ Chi phí QLDN phân bổ cho sản phẩm “Bộ bàn ghế dùng cho máy tính” theo giờ công sản xuất thực tế là :

76.400.443 ----------------- x 611 = 30.194.482 đ 1.546 Sau khi hoàn thành các khoản mục trên, kế toán giá thành cộng tất cả các khoản mục tính toán trên được chỉ tiêu giá thành toàn bộ là: Tổng giá thành toàn bộ là : 165.447.730 + 30.194.482 + 195.642.212 đ Giá thành đơn vị toàn bộ là: 195.642.212 ------------------ = 850.618,3 đ/bộ 230 Như vậy, thực trạng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được trình bày ở trên thông qua ví dụ minh hoạ tính giá thành cho sản phẩm “Bộ bàn ghế dùng cho máy tính”. Tương tự đối với các loại sản phẩm, nhóm sản phẩm khác cũng được tập hợp và tính toán như đối với loại sản phẩm trên.
111

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp không có tập hợp chi phí của các khoản thiệt hại trong sản xuất. Sở dĩ có sự khác biệt đó so với lý luận chung là theo quy định riêng của Xí nghiệp để đơn giản một bước hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của mình. Cuối quý, căn cứ vào NKCT số 7, kế toán vào sổ Cái TK154 (đối với sản xuất kinh doanh chính của Xí nghiệp) và vào sổ Cái TK631 (đối với sản xuất kinh doanh phụ của Xí nghiệp).

112

Sổ Cái TK154 Sản xuất kinh doanh chính Tháng : 1 + 2 + 3 năm 2000 đvt : Đồng (VND)

Số dư đầu năm Nợ Có

Ghi Có các TK đối ứng Nợ với TK này TK154 TK621 TK622 TK627 Cộng phát sinh Số dư cuối quý Nợ Có Nợ Có

Quý I 329.000 91.406.500 46.247.576 51.333.289 189.316.350 189.316.350

Quý II

.......

Cộng

113

Sổ Cái TK631 Sản xuất kinh doanh phụ Tháng : 1 + 2 + 3 năm 2000 đvt : Đồng (VND)

Số dư đầu năm Nợ Có

Ghi Có các TK đối ứng Nợ với TK này TK111 TK152 TK155 TK214 TK331 TK334 TK338 Cộng phát sinh Số dư cuối quý Nợ Có Nợ Có

Quý I 15.934.000 166.000 37.994.190 28.171.000 10.500.000 81.235.000 6.414.381 180.414.570 180.414.570

Quý II

.........

Cộng

114

4. Phân tích tình hình sản xuất – kinh doanh của Xí nghiệp Gỗ Hà nội: Chúng ta tiến hành phân tích tình hình sản xuất – kinh doanh của Xí nghiệp thông qua chỉ tiêu Hiệu quả kinh doanh sau: Hiệu quả kinh doanh = Tổng Doanh thu tiêu thụ Tổng chi phí Tổng Doanh thu tiêu thụ ở đây được Xí nghiệp xác định là tổng Doanh số bán hàng sản phẩm, dịch vụ của Xí nghiệp trong cả năm. Tổng chi phí là toàn bộ chi phí mà Xí nghiệp tập hợp được để sản xuất sản phẩm trong cả năm. Theo số liệu thực tế mà Xí nghiệp Gỗ Hà nội đã cung cấp, ta có: đvt : Đồng (VND)

Năm 1998 1999

Tổng Doanh thu tiêu thụ 3.169.712.110 3.763.425.670

Tổng Chi phí 2.974.670.800 3.539.328.800

Số nộp Ngân sách nhà nước 135.700.000 200.300.000

Hiệu quả kinh doanh (năm 1999) = 3.763.425.670 = 1,0633 3.539.328.800 Hiệu quả kinh doanh (năm 1998) = 3.169.712.110 = 1,0656 2.974.670.800 Như vậy, năm 1999 hiệu quả kinh doanh của Xí nghiệp kém hơn năm 1998 có nghĩa là năm 1999, Xí nghiệp đã bỏ ra 1đ chi phí thì thu được 1,0633đ doanh thu, nhưng năm 1998, 1đ chi phí thu được 1,0656đ doanh thu, tức là 1đ chi phí của năm 1999 thu được ít lợi nhuận hơn năm 1998. Về mặt giá trị tuyệt đối, Xí nghiệp xác định:

115

Lợi nhuận = Tổng Doanh thu tiêu thụ – Tổng chi phí – Các khoản phải nộp NSNN Lợi nhuận (năm1999) = 3.763.425.670 - 3.539.328.800 – 200.300.000 = 23.796.821 Lợi nhuận (năm 1998) = 3.169.712.110 - 2.974.670.800 135.700.000 = 59.341.344 Trong lĩnh vực sản xuất, năm 1999 Xí nghiệp chỉ đạt được 23.796.821đ lợi nhuận, trong khi đó năm 1998 đạt được 59.341.344đ lợi nhuận. Từ 2 chỉ tiêu (chỉ tiêu tương đối và chỉ tiêu tuyệt đối) đánh giá hiệu quả sản xuất - kinh doanh của Xí nghiệp ta thấy Xí nghiệp sản xuất với hiệu quả kinh doanh của 1đ chi phí giảm đi, đồng thời lợi nhuận của Xí nghiệp cũng giảm đi. Nhưng ta lại thấy tổng doanh thu tiêu thụ năm 1999 lớn hơn so với năm 1998. Từ đó ta có thể nói rằng Xí nghiệp đã mở rộng sản xuất, tiêu thụ được nhiều sản phẩm và mở rộng thị trường. Sản phẩm đồ Gỗ của Xí nghiệp tiêu thụ được nhiều trong giai đoạn này là do hiện nay mức độ xây dựng Thành phố ddang tăng rất mạnh, nhiều công ty được thành lập (theo kiểu Cty TNHH) trong điều kiện thị trường tự do cạnh tranh và sản phẩm đồ Gỗ hiện nay đang trở thành “mốt” mua sắm của dân thành phố. Mặc dù sản xuất và tiêu thụ được nhiều sản phẩm song lợi nhuận thu được lại ít đi. Chứng tỏ vấn đề sử dụng vốn của Xí nghiệp còn non yếu, giá thành đơn vị sản phẩm còn cao, chi phí cho NVL trực tiếp sản xuất cao (sản phẩm đồ Gỗ có đặc điểm tỷ trọng chi phí về vật liệu là lớn). Nguồn nhập NVL là nhiều nơi không ổn định (của tư nhân) nên chi phí về vật liệu thường xuyên biến động, lúc cao lúc thấp theo nhu cầu của thị trường. Để tăng cường hiệu quả sản xuất – kinh doanh của Xí nghiệp Gỗ Hà nội, Xí nghiệp phải tiết kiệm chi phí trong mọi khâu của quá trình sản xuất,
116

từ đó mới hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của Xí nghiệp trong đó chi phí về vật liệu cần được xem xét chú trọng hơn.

117

Phần III NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP GỖ HÀ NỘI

I - Ý NGHĨA CỦA VIỆC TIẾT KIỆM CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế, đòi hỏi các nhà sản xuất phải làm thế nào tránh được tình trạng thua lỗ phá sản. Đây là vấn đề bao trùm xuyên suốt hoạt động kinh doanh, thể hiện chất lượng của toàn bộ công tác quản lý kinh tế. Bởi vì, suy cho cùng quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động sản xuất nói riêng là để đảm bảo tạo ra hiệu quả cao nhất. Nguyên tắc cơ bản của hạch toán kinh doanh là lấy thu bù chi, tự trang trải và có lãi. Muốn có lãi cao nhất <có thể được> không có cách nào khác là các nhà sản xuất phải tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, năng lượng, máy móc, thiết bị và thời gian lao động, tiết kiệm chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng của sản phẩm sản xuất ra. Tiết kiệm chi phí sản xuất trong phạm vi doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận của Doanh nghiệp. Mặt khác chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản phẩm, vì thế việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở tiết kiệm các chi phí theo khoản mục giá thành sản phẩm. Giá thành không chấp nhận toàn bộ chi phí phát sinh mà chỉ chấp nhận những chi phí cho sản xuất để hoàn thành một khối lượng hàng hoá, dịch vụ. Đối với phạm vi một nền kinh tế quốc dân thì việc tiết kiệm chi phí có ý nghĩa lớn hơn nhiều. Tiết
118

kiệm chi phí của tất cả các ngành là để tăng thu cho ngân sách nhà nước cải thiện đời sống cho nhân dân. Việc hạch toán chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đảm bảo cho việc cung cấp chính xác, đầy đủ thông tin về hoạt động của doanh nghiệp, giúp cho công tác chỉ đạo, lãnh đạo của doanh nghiệp được chính xác, xác định chính xác hiệu quả của công tác sản xuất - kinh doanh và định hướng được công tác sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian trước mắt cũng như kế hoạch tổ chức sản xuất dài hạn của doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các Doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến mặt hàng nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ được giá thành. Như chúng ta đã biết, đối với các doanh nghiệp sản xuất việc hạ giá thành sản phẩm là con đường chủ yếu để tăng doanh lợi cho toàn bộ hoạt động sản xuất - kinh doanh. Nó cũng là tiêu đề để hạ giá bán nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường kể cả trong và ngoài nước. Việc tính giá thành là công việc cần thiết quan trọng đối với bất kỳ của doanh nghiệp nào. Tổ chức đánh giá giá thành sản phẩm giúp cho bộ máy quản lý và mọi thành viên trong doanh nghiệp nắm được tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và nhiệm vụ hạ giá thành cung cấp những tài liệu xác thực để chỉ đạo sản xuất - kinh doanh, phân tích đánh giá sản xuất, kiểm tra kiểm soát thường xuyên và có hệ thống nguyên tắc tiết kiệm trong sản xuất. Ngoài ra từ việc tính giá thành để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành còn giúp cho doanh nghiệp từ đó khai thác động viên mọi khả năng tiềm tàng nhằm mở rộng sản xuất, tăng năng suất lao động để không ngừng hạ giá thành sản phẩm. Trên ý nghĩa đó việc hoàn thiện công tác tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đang là vấn đề mà tất cả các doanh nghiệp đều quan tâm nghiên cứu nhằm từng bước nâng cao được hiệu quả sản xuất - kinh doanh của mình, góp phần vào việc quản lý doanh nghiệp
119

một cách chặt chẽ hơn.

II - NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP GỖ HÀ NỘI Qua quá trình thực tập và nghiên cứu đề tài : ''Hoàn thiện hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp Gỗ Hà nội'', em thấy cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế thì hoạt động của nền kinh tế thì hoạt động của xí nghiệp đã có những biến đổi để thích ứng Xí nghiệp gỗ hà nội có lịch sử phát triển hơn 40 năm (từ năm 1956) là một trong những đơn vị có bề dày kinh nghiệm trong sản xuất và kinh doanh các mặt hàng và sản phẩm đồ Gỗ và hàng Mộc, cung cấp các loại đồ dùng bằng gỗ và hàng mộc chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân của cả nước. Có được thành quả đó là do có sự quan tâm của Sở công nghiệp Hà nội cũng như sự phấn đấu của tập thể lãnh đạo của xí nghiệp và đội ngũ công nhân viên trong hơn 40 năm qua. Chuyển sang vận hành trong cơ chế thị trường, tuy còn nhiều bỡ ngỡ khó khăn trong cơ chế quản lý mới, song sự nhạy bén và năng động của cơ chế thị trường đã thúc đẩy xí nghiệp linh hoạt và nhạy bén trong các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Đặc biệt phải kể tới sự chuyển biến của bộ máy quản lý kinh tế đã góp phần không nhỏ vào kết quả chung của xí nghiệp, nó trở thành cánh tay đắc lực thúc đẩy quá trình phát triển của xí nghiệp trong việc vận dụng sáng tạo các quy luật kinh tế thị trường kết hợp với chủ trương chính sách của Nhà nước, đến nay Xí nghiệp đã khắc phục được những khó khăn và hoạt động bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế. Các phòng ban chức năng của Xí nghiệp được tổ chức sắp xếp lại cho phù hợp với quy mô hoạt động mới của Xí nghiệp, phục vụ sát sao với quá

120

trình sản xuất. Song song với quá trình chuyển đổi ấy, hệ thống công tác kế toán tài chính của Xí nghiệp không ngừng được hoàn thiện cả về cơ cấu lẫn phương pháp hạch toán. Ta có thể nhận thấy rõ điều đó qua những ưu điểm của công tác kế toán hiện nay ở Xí nghiệp. Ưu điểm : + Xí nghiệp đã áp dụng phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế của chi phí là hoàn toàn hợp lý. Xí nghiệp đã tách yếu tố chi phí NVL chính, NVL phụ một cách riêng biệt, tạo điều kiện cho việc đánh giá tỷ lệ NVL chính và NVL phụ trong giá thành thành phẩm, giúp cho việc tính giá thành được chính xác. Trên cơ sở đó, Xí nghiệp còn phân chia NVL chính và NVL phụ thành các khoản khác nhau theo các tiêu thức phân loại thích hợp để từ đó tính toán ra các chỉ tiêu cần thiết khác. + Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất theo từng phân xưởng và cụ thể là cho từng sản phẩm. Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ sản xuất cuối cùng là hoàn toàn hợp lý, có căn cứ khoa học và phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất quy trình công nghệ của Xí nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, giúp cho công tác chỉ đạo sản xuất và tính giá thành sản phẩm được tốt và hợp lý . + Hiện nay, Xí nghiệp đã và đang sử dụng hệ thống sổ sách theo hình thức Nhật ký chứng từ (NKCT). Sổ sách kế toán của Xí nghiệp tương đối là đầy đủ và đúng đắn theo quy định của chế độ kế toán do Bộ taì chính ban hành. Tạo mối quan hệ mật thiết lẫn nhau giữa các bộ phận trong toàn bộ hệ thống kế toán của Xí nghiệp. Các kế toán viên trong phòng Kế toán tài chính <Phòng tài vụ> của Xí nghiệp thực hiện theo đúng phạm vi và quyền hạn của mình theo từng nhiệm vụ và phần hành kế toán được giao cho, đồng thời kết hợp các bộ phận đó lại để tạo nên một hệ thống kế toán có liên hệ mắt xích nhau và hoạt động có hiệu quả. Công tác tổ chức luân chuyển chứng từ và sổ sách kế toán cũng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc hạch toán
121

chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được nhanh chóng và chính xác. + Việc áp dụng hình thức trả lương theo định mức số giờ công sản xuất thực tế của người công nhân được áp dụng đối với từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm. Việc trả lương theo hình thức này đảm bảo số lượng chất lượng, đúng quy trình kỹ thuật và ngành quy định. Định mức số giờ công sản xuất thực tế được phòng Kỹ thuật – Kế hoạch – Vật tư của Xí nghiệp nghiên cứu theo các phương pháp khoa học đã đề ra cho từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm được sản xuất. Người công nhân không thể cứ đảm bảo số giờ công sản xuất là đủ mà Xí nghiệp còn căn cứ vào chất lượng sản phẩm do người công nhân làm ra đó để có biện pháp thưởng phạt <bổ sung thêm vào tiền lương hay khấu trừ bớt tiền lương> rõ ràng nghiêm minh. Có như vậy, người công nhân mới có trách nhiệm đến cùng với sản phẩm của mình làm ra. Thành quả đạt được góp phần khuyến khích tinh thần lao động, tiết kiệm vật tư, tiền vốn và mang lại hiệu quả kinh tế cao. + Do đặc điểm hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của Xí nghiệp tiến hành chưa đều, không thường xuyên, thời gian ngừng sản xuất còn nhièu <sản phẩm của Xí nghiệp sản xuất ra chưa bán được cho nên đang nằm ở trong kho thành phẩm, vì thế Xí nghiệp chưa sản xuất ngay loại sản phẩm đó – ngừng sản xuất tạm thời – hoặc Xí nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng cho nên cần phải tiến hành sản xuất gấp rút để kịp hoàn thành đơn đặt hàng theo đúng thời hạn> cho nên kỳ tính giá thành của Xí nghiệp có thể là theo lô, mẻ, đơn đặt hàng sản xuất sản phẩm. Điều này thể hiện sự hợp lý trong công tác tính giá thành tránh sự nhầm lẫn trong công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. + Nhìn chung, Xí nghiệp đã tính toán và lập các Báo cáo tài chính theo đúng quy định của chế độ kế toán ban hành (Bộ tài chính ban hành). Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ hạch toán đã được theo dõi và cập nhật kịp thời. Bộ máy tổ chức kế toán gọn nhẹ (tất thảy chỉ có 3 người làm công tác kế toán tại Xí nghiệp) và công tác kế hoạch giá thành về cơ bản vẫn

122

đảm bảo được yêu cầu vẹn toàn hệ thống thông tin kế toán trong Doanh nghiệp, và giúp cho kế toán phát huy được chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành một cách kịp thời và đầy đủ. + Nhận thức được tầm quan trọng của việc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm nhất là trong cơ chế thị trường, Xí nghiệp đã ra sức tăng cường công tác quản lý kinh tế, quản lý sản xuất mà trước tiên là quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp, kế toán thực sự được coi là một công cụ quan trọng trong hệ thống quản lý Xí nghiệp. Hệ thống kế toán của Xí nghiệp tương đối hoàn chỉnh, gọn nhẹ, đội ngũ nhân viên có trình độ kế toán và nắm vững nhiệm vụ của mình. Việc phân công trách nhiệm giữa các phần hành kế toán trong việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm như hiện nay là phù hợp với trình độ và chức năng của các kế toán viên trong Xí nghiệp. Kế toán có nhiệm vụ tập hợp chi phí tại các phân xưởng một cách chính xác, tính đúng và tính đủ, sau đó kế toán chuyển số liệu đó làm cơ sở để tính giá thành sản phẩm trên cơ sở đối chiếu với các phần hành kế toán liên quan để lập thẻ tính giá thành sản phẩm . Công tác kế toán tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội ngoài những ưu điểm lớn trên còn tồn tại những vướng mắc chưa hợp lý cần tiếp tục được hoàn thiện. Nhược điểm : + Vần đề hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất <thiệt hại về sản phẩm hỏng>: Không có Doanh nghiệp sản xuất nào mà trong quá trình sản xuất lại không có một lần mắc lỗi và gặp khó khăn trong sản xuất <cả từ phía chủ quan và khách quan mang lại>. Cho nên bất cứ một khâu nào trong quá trình sản xuất của Xí nghiệp đều có phát sinh khó khăn và do đó đều có sản phẩm hỏng và trong một số trường hợp, chi phí thiệt hại sản phẩm hỏng cũng đáng

123

kể nhưng Xí nghiệp không mở tài khoản để theo dõi mà thực tế khoản chi phí này được hạch toán vào chi phí sản xuất. Chứng tỏ công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chưa được thực hiện tốt, giá thành phản ánh chưa thật chính xác. Ngoài ra, Xí nghiệp còn phản ánh chưa đủ các khoản chi phí thiệt hại trong sản xuất về ngừng sản xuất. Vì trong quá trình sản xuất năm này qua năm khác Xí nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn như : Thiếu nguyên vật liệu dùng cho sản xuất, ngừng sản xuất loại sản phẩm nào đó do không bán được hàng, tiến hành sửa chữa lớn TSCĐ…khiến cho công tác tập hợp chi phí sản xuất không đầy đủ và giá thành sản phẩm chưa thật chính xác. + Về chi phí khấu hao TSCĐ : Kế toán khấu hao TSCĐ thực hiện đúng theo chế độ quy định và Xí nghiệp tiến hành khấu hao theo phương pháp khấu hao “ Khấu hao theo đường thẳng’’ (phương pháp bình quân). Tuy nhiên, TSCĐ trong Xí nghiệp đã được Xí nghiệp chia thành 2 loại cơ bản là Nhà xưởng và Máy móc thiết bị. Mỗi loại TSCĐ có tỷ lệ khấu hao cơ bản nhất định và chúng đã được xác định từ trước rồi mà (8% và 6%) lại không phản ánh trên Bảng phân bổ số 3 “Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ’’. Đã phân TSCĐ thành 2 loại cơ bản trên và mỗi loại có tỷ lệ khấu hao cơ bản riêng mà lại gộp cả Nhà xưởng và Máy móc thiết bị ở phân xưởng Cơ điện, bộ phận Đời sống và bộ phận kinh doanh dịch vụ. Vấn đề này Xí nghiệp cần phải xem xét và giải quyết ngay. + Về các khoản trích theo lương : Xí nghiệp Gỗ Hà nội cũng tiến hành trích các khoản BHXH và KPCĐ theo lương phải trả thực tế cho cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp sau khi đã tính toán xong tiền lương phải trả Xí nghiệp chỉ trích các khoản BHXH và KPCĐ mà Xí nghiệp không trích BHYT cho cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp. Điều này là sai với

124

chế độ kế toán hiện hành của Việt nam, Xí nghiệp nên xem xét vấn đề này ngay và tìm biện pháp giải quyết cho thích hợp. Xí nghiệp chỉ có mỗi tiền lương chính cho CBCNV thôi, ngoài ra không có các khoản phụ cấp hay xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh như : ốm đau, thai sản… Thêm vào đó nữa là các khoản trích BHXH và KPCĐ có tiến hành trích nhưng không đúng với tỷ lệ quy định của Nhà nước là 15% đối với BHXH và 2% đối với KPCĐ Các khoản trích theo lương (BHXH và KPCĐ) chỉ được trích cho công nhân viên sản xuất trực tiếp mà không trích cho nhân viên quản lý phân xưởng (Quản đốc). + Về phương pháp tính giá thành : Xí nghiệp áp dụng phương pháp tính giá thành giản đơn là hoàn toàn hợp lý đối với tình hình thực tế của Xí nghiệp, song trong thực tế Xí nghiệp còn thực hiện sản xuất theo đơn đặt hàng do khách hàng mang lại, do vậy Xí nghiệp nên sử dụng phương pháp giản đơn để tính giá thành cho các sản phẩm theo kế hoạch của Xí nghiệp còn sử dụng phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng cho các đơn đặt hàng phát sinh trong kỳ hạch toán để đảm bảo công tác tính giá thành tại Xí nghiệp chính xác và hoàn thiện hơn nữa. + Hiện tại, bộ phận kế toán tài chính của Xí nghiệp sử dụng Bảng kê số 3 để tính giá thành thực tế nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ xuất. Bảng kê số 3 chỉ sử dụng ở trong Doanh nghiệp có sử dụng giá hạch toán trong hạch toán chi tiết vật liệu. Bảng kê số 3 được lập trên căn cứ là các NKCT có liên quan tới bên Nợ các TK 152, 153. Tổng hợp giá trị nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính ra hệ số giá chênh lệch giữa giá hạch toán và giá thực tế. Còn Xí nghiệp Gỗ Hà nội sử dụng Bảng kê số 3 mà lại sử dụng giá
125

thực tế không sử dụng giá hạch toán. + Trong cùng một hệ thống kế toán, Xí nghiệp hạch toán kế toán theo hình thức sổ Nhật ký chứng từ <NKCT>. Hình thức sổ kế toán NKCT chỉ thích hợp với Doanh nghiệp có quy mô lớn, mà Xí nghiệp Gỗ Hà nội mặc dù có lịch sử phát triển từ rất sớm nhưng quy mô của Xí nghiệp không lớn (có thể nói là nhỏ nữa), tổng nguồn vốn của Xí nghiệp chỉ xấp xỉ gần 4 tỷ đồng. Cho nên hình thức kế toán NKCT là không thích hợp đối với Xí nghiệp. + Cùng một lúc Xí nghiệp hạch toán hàng tồn kho (hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm) theo 2 phương pháp là : phương pháp KKTX và phương pháp KKĐK. Phương pháp KKTX áp dụng cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của Xí nghiệp, cón phương pháp KKĐK áp dụng cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh phụ. Cùng một lúc mà hạch toán 2 phương pháp hạch toán hàng tồn kho như vậy là rất phức tạp trong công tác tập hợp chi phí sản xuất. + Phân xưởng Cơ điện là một bộ phận của Bộ phận sản xuất – kinh doanh phụ nhưng phân xưởng này lại có ảnh hưởng và tác động tới phân xưởng sản xuất kinh doanh chính <phân xưởng Mộc> nhiều nhất và rõ nét nhất. Xí nghiệp phân chia như vậy là chưa hợp lý, vì các khoản chi phí phát sinh ở phân xưởng Cơ điện được tập hợp vào TK 631.1 rồi sau đó lại phân bổ khoản chi phí này cho phân xưởng Mộc theo số giờ công sản xuất thực tế cho sản phẩm hoàn thành. Xí nghiệp nên coi phân xưởng Cơ điện là bộ phận sản xuất kinh doanh chính thì đúng hơn và dùng TK 627.3 để tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh tại phân xưởng này . + Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh phụ hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp KKĐK thì dùng TK 631 để tập hợp chi phí. Đầu kỳ và cuối kỳ phải kết chuyển vào TK 154 <cụ thể là TK 154.3 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang của bộ phận SXKD phụ” > mà Xí nghiệp lại giữ nguyên các khoản chi phí ở TK 631 cả phần dư đầu kỳ và cuối kỳ và cả các khoản

126

chi phí phá sinh trong kỳ. + Lương trả cho công nhân viên sản xuất trong Xí nghiệp là trả theo hình thức lương sản phẩm <hợp lý> nhưng tính lương sản phẩm theo giờ công sản xuất thực tế là chưa hợp lý và các sản phẩm đồ Gỗ đòi hỏi phải hoàn thành trong một khoảng thời gian tương đối dài, cho nên trả lương theo giờ (không hợp lý vì nó ngắn quá so với chu kỳ sản xuất của Xí nghiệp). Nên trả lương theo ngày công sản xuất thực tế . + Lương cho nhân viên phân xưởng được trả theo lương của bộ phận gián tiếp thì không kích thích được sự đôn đốc, quản lý, kiểm tra theo dõi được sát sao của Quản đốc đối với phân xưởng mình chịu trách nhiệm theo dõi. Nên trả lương theo sản phẩm thì mới kích thích họ được. + Phần lương tập hợp cho chi phí sản xuất chung (TK 627) của Xí nghiệp được tập hợp lại và phân bổ cho vào chi phí sản xuất cho từng phân xưởng theo tiêu thức phù hợp. Nhưng phần chi phí chung này không bao gồm chi phí trích BHXH, BHYT và KPCĐ từ lương của nhân viên phục vụ phân xưởng. + Máy móc thiết bị của Xí nghiệp chủ yếu là cũ và lạc hậu nên luôn luôn Xí nghiệp phải chi ra những khoản chi phí để sửa chữa theo định kỳ Xí nghiệp nên dùng TK 335 để tập hợp các khoản chi phí đã được dự toán trước <chi phí sửa chữa> chứ không nên để cuối kỳ phát sinh ra thì mới tập hợp và phân bổ hết cho cả quý và để đảm bảo nguyên tắc chính xác và nguyên tắc thận trọng trong kế toán . + Kỳ tính giá thành sản phẩm, kỳ tập hợp chi phí sản xuất theo định kỳ là quý Giá xuất NVL được Xí nghiệp tính theo phương pháp bình quân gia quyền (bình quân cả kỳ dự trữ) cho nên cuối quý mới tính được giá xuất nguyên vật liệu, mới biết được các khoản chi phí phát sinh trong kỳ, cuối quý mới biết được giá thành đơn vị của sản phẩm. Việc cung cấp thông tin
127

cho Giám đốc Xí nghiệp không kịp thời được theo yêu cầu của quản lý kinh tế. Nên thay kỳ hạch toán bằng tháng thì tốt hơn. + Mặc dù Xí nghiệp có Báo cáo kế toán tài chính được lập theo đúng định kỳ nhưng Xí nghiệp vẫn thiếu 1 trong 4 Báo cáo kế toán quan trọng nhất đó là Báo cáo lưu chuyển tiền tệ .

128

III – HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP GỖ HÀ NỘI Qua nghiên cứu thực trạng công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp Gỗ Hà nội. Phân tích ưu điểm, nhược điểm dựa vào lý luận chung và tiến hành đối chiếu với Xí nghiệp, em xin mạnh dạn đưa ra một vài ý kiến góp phần hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để Xí nghiệp tham khảo như sau: Ý kiến 1 : Xí nghiệp Gỗ Hà nội từ khi hình thành, tồn tại và phát triển cho tới tận ngày hôm nay, đã phải trải qua nhiều bước biến chuyển thăng trầm của lịch sử, có lúc thuận lợi và cũng có lúc gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Cho đến bây giờ, Xí nghiệp đã và đang tồn tại và phát triển theo thời gian, điều đó chứng tỏ Xí nghiệp Gỗ Hà nội đã thực hiện đúng đắn Quy định và chế độ của Nhà nước ban hành, đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào sức mạnh của một nền kinh tế quốc dân của cả nước . Những gì tốt đẹp và đúng đắn đã làm được của Xí nghiệp thì Xí nghiệp nên cố gắng duy trì nó. Hiện tại, Xí nghiệp phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế là rất phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình. Theo cách thức phân loại này, cho ta thấy được tỷ lệ từng loại chi phí theo nội dung kinh tế của nó ; vì sản phẩm của Xí nghiệp là các mặt hàng đồ mộc, cho nên tỷ trọng chi phí về nguyên vật liệu là rất đáng kể trong tổng chi phí sản xuất của Xí nghiệp để từ đó có biện pháp thích hợp để tiết kiệm chi phí sản xuất cho Xí nghiệp. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là theo từng phân xưởng và cụ thể là theo từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm. Còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối cùng là hoàn toàn hợp lý và khoa học, phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất của Xí nghiệp.
129

Sổ sách của kế toán là tương đối đầy đủ và đúng đắn theo quy định của Bộ tài chính ban hành. Kế toán viên trong phòng kế toán được đào tạo và kinh nghiệm lâu năm trong nghề, độc lập thực hiện từng nhiệm vụ trong từng phần hành kế toán của mình ; đồng thời kết hợp với các bộ phận khác trong phòng kế toán, tạo nên một hệ thống kế toán hoạt động có hiệu quả. Hình thức trả lương theo số giờ công sản xuất thực tế của người công nhân <Định mức giờ công sản xuất được phòng Kỹ thuật Kế hoạch – Vật tư của Xí nghiệp xác định cho từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm>. Trả lương theo hình thức này sẽ khuyến khích người lao động trong sản xuất, nâng cao được trách nhiệm của công nhân đối với sản phẩm của mình làm ra. Xí nghiệp có sáng kiến khi xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm là theo lô, mẻ, đơn đặt hàng sản xuất sản phẩm ngoài các sản phẩm hoàn thành. Nó thể hiện sự hợp lý trong công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Xí nghiệp có bộ máy kế toán đơn giản và gọn nhẹ <có 3 người đảm bảo tất cả các khâu trong công tác kế toán nhưng vẫn đảm bảo thông tin cung cấp cho Giám đốc. Định kỳ, Xí nghiệp tính toán và lập các Báo cáo tài chính theo đúng quy định của chế độ kế toán ban hành>. Xí nghiệp có bộ máy quản lý kinh tế <đó là các phòng ban chức năng của Xí nghiệp> tương đối hoàn chỉnh nhưng gọn nhẹ, trong đó tốt hơn cả là bộ máy kế toán tài chính của Xí nghiệp, việc phân công trách nhiệm giữa những người trong bộ máy kế toán rất rõ ràng, theo từng phần hành cụ thể và riêng biệt, không có sự chồng chéo quyền hạn và chức năng giữa các kế toán viên, giúp cho bộ máy kế toán của Xí nghiệp hoạt động có hiệu quả và cung cấp thông tin kế toán cho Giám đốc được chính xác và kịp thời. Trên đây là những gì Xí nghiệp đã làm được. Để đảm bảo cho bộ máy quản lý kinh tế nói chung và bộ máy kế toán nói riêng phát huy được khả năng cuả mình thì Xí nghiệp Gỗ Hà nội phải tăng cường củng cố và hoàn

130

thiện hơn nữa những ưu điểm của mình. Có làm được như vậy thì sự tồn tại và phát triển của Xí nghiệp được bảo đảm một cách chắc chắn hơn. Ý kiến 2 : Kỳ tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp Gỗ Hà nội được tổ chức tính giá thành sản phẩm theo quý (3 tháng mới tổng hợp số liệu để tính giá thành). Trong điềukiện nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt thì kỳ tính giá thành này là không phù hợp vì như ta đã biết bản chất của kế toán là đưa ra những thông tin kinh tế chính xác, nhanh chóng và kịp thời để giúp những người có trách nhiệm đưa ra được các quyết định về hoạt động sản xuất kinh doanh. Những thông tin kinh tế (mà đặc biệt là thông tin về kế toán, về tình hình chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm) giúp cho Doanh nghiệp tổ chức tình hình sản xuất phù hợp, liên tục thực hiện biện pháp hạ giá thành có hiệu quả, góp phần vào việc tăng lợi nhuận, đẩy mạnh quy mô sản xuất – kinh doanh. Giá thành được tính vào cuối quý nên sang đầu quý sau Ban giám đốc có thể chưa có những thông tin cần thiết để ra Quyết định chính xác nên ảnh hưởng đến tình hình sản xuất chung của toàn Xí nghiệp. Theo em, việc tính giá thành nên theo từng tháng một để số liệu được đưa ra kịp thời, nhanh chóng góp phần đẩy mạnh sản xuất chung, hoà nhịp với sự phát triển nhanh chóng của thị trường cạnh tranh tự do. Khi mà kỳ tính giá thành sản phẩm được thay đổi từ quý thành tháng thì kỳ hạch toán tập hợp chi phí sản xuất của Xí nghiệp cũng phải thay đổi từ quý thành tháng theo để có sự phù hợp giữa các số liệu, vì quá trình tập hợp chi phí sản xuất có mối liên hệ rất mật thiết với quá trình tính giá thành sản phẩm, nó là cơ sở tiền đề cho quá trình tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp. Hay nói cách khác là kỳ hạch toán kế toán tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội nên thay đổi từ quý thành tháng là một việc làm hợp lý nhất. Nó không những tính toán và cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời mà còn vấn

131

đề theo dõi tình hình xuất nguyên vật liệu của Xí nghiệp được nhanh chóng (vì Xí nghiệp Gỗ Hà nội hiện tại đang tính theo phương pháp bình quân gia quyền đối với các nguyên vật liệu xuất kho; Nếu Xí nghiệp hạch toán theo quý thì đến cuối quý mới tính được giá xuất nguyên vật liệu, cuối quý mới mới biết được chi phí phát sinh trong kỳ, cuối quý mới biết được giá thành đơn vị sản phẩm trong kỳ. Một năm trời mới có 4 lần cung cấp thông tin kế toán tổng hợp cho Giám đốc biết nhưng nếu theo tháng thì một năm sẽ có 12 lần cung cấp thông tin kế toán tổng hợp cho Giám đốc, để giám đốc cập nhật được thông tin kịp thời và thích ứng được với nền kinh tế thị trường luôn luôn biến động). Ý kiến 3 : Trong phần thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp, ta thấy Xí nghiệp đã không hạch toán khoản mục chi phí do thiệt hại trong sản xuất <thiệt hại về sản phẩm hỏng, thiệt hại về ngừng sản xuất>. Những chi phí về thiệt hại trong sản xuất thực chất đã được tính vào chi phí sản phẩm của Xí nghiệp. Hạch toán chi phí về thiệt hại sản phẩm hỏng và ngừng sản xuất sẽ góp phần phản ánh chính xác giá thành sản phẩm.

• Đối với các khoản thiệt hại về sản phẩm hỏng : Sản phẩm của Xí nghiệp có 2 loại là : Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được thành thành phẩm và sản phẩm hỏng không sửa chữa được. Với sản phẩm hỏng sửa chữa được thì để sản phẩm hỏng trở thành thành phẩm, Xí nghiệp phải tốn thêm một khoản chi phí sửa chữa sản phẩm hỏng. Trình tự tập hợp và phân bổ chi phí sửa chữa sản phẩm hỏng theo từng nguyên nhân được hạch toán như sau :

TK152,153,334

TK142
132

TK 338

Bồi thường

TK821 Tập hợp chi phí Chi phí bất thường

Sửa chữa sản phẩm hỏng

TK627 Tính vào chi phí SXC

Với sản phẩm hỏng không sửa chữa được thì sản phẩm đó coi như bị loại bỏ. Phần thiệt hại từ những sản phẩm hỏng bị loại bỏ này sẽ được xử lý theo từng nguyên nhân và được thể hiện qua sơ đồ sau : TK111,112,152 TK154 Giá trị phế liệu thu hồi TK334 Bồi thường Giá trị sản phẩm hỏng Không sửa chữa được TK821 Tính vào chi phí bất thường TK627 Tính vào chi phí SXC TK138

• Đối với các khoản thiệt hại về ngừng sản xuất :

133

TSCĐ của Xí nghiệp chủ yếu là máy móc thiết bị và nhà xưởng cũ, sử dụng lâu năm rồi cho nên cần phải thường xuyên gia cố và sửa chữa để còn sử dụng được nữa. Khi tiến hành sửa chữa TSCĐ <máy móc thiết bị> thì quá trình sản xuất của Xí nghiệp tạm ngừng và Xí nghiệp phải bỏ ra những khoản chi phí để sửa chữa, khoản này được gọi là thiệt hại về ngừng sản xuất. Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ của Xí nghiệp Gỗ Hà nội do phân xưởng Cơ điện đảm trách và thường Xí nghiệp có kế hoạch về sửa chữa lớn TSCĐ. Cho nên, các khoản chi phí này của Xí nghiệp nên hạch toán vào TK335 – Chi phí phải trả, chứ không nên hạch toán vào TK 631.1 như Xí nghiệp đang làm hiện nay, đảm bảo nguyên tắc thận trọng trong kế toán. Quá trình hạch toán thiệt hại về ngừng sản xuất có thể được thể hiện qua sơ đồ sau: TK334,338,111,152 TK335 TK627,642

Trích trước chi phí về ngừng Chi phí thực tế về ngừng sản xuất theo kế hoạch(1)

sản xuất trong kế hoạch(2)

Tiến hành trích bổ sung(3)

Ghi giảm chi phí(4)

Ý kiến 4 : Bảng phân bổ số 3 “Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ” của Xí nghiệp tự tạo ra mẫu không theo quy định của Nhà nước. Theo bảng này (do Xí nghiệp tự làm mẫu) không cho biết được tình hình tăng giảm TSCĐ, tỷ lệ từng loại khấu hao TSCĐ, nguyên giá TSCĐ, số khấu hao đã trích trong tháng trước, số khấu tăng giảm trong tháng. Cho nên để thực hiện theo đúng
134

quy định của chế độ kế toán ban hành và cũng tăng cường công tác quản lý Xí nghiệp nên áp dụng biểu mẫu Bảng kê số 3 “Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ” do Bộ tài chính ban hành. Biểu mẫu này có ở trong Quyển “ Hệ thống kế toán Doanh nghiệp do Vụ chế độ kế toán ban hành. Vì biểu mẫu này phản ánh tất cả những nội dung kế toán mà Xí nghiệp chưa phản ánh trong biểu mẫu của mình. Mặt khác, Xí nghiệp đã chia TSCĐ thành 2 loại là Nhà xưởng và Máy móc thiết bị, tỷ lệ khấu hao cơ bản tương ứng của 2 loại này là 8% và 6%. Nhưng Xí nghiệp đã gộp cả Nhà xưởng và Máy móc thiết bị ở trong “Bảng tính khấu hao cơ bản” ở phân xưởng Cơ điện, bộ phận Đời sống, bộ phận XDCB, bộ phận kinh doanh dịch vụ. Để thấy được tình hình sử dụng TSCĐ của từng loại TSCĐ ở từng phân xưởng sản xuất thì kế toán nên sử dụng biểu mẫu Bảng phân bổ số 3 do Bộ tài chính quy định và ghi vào bảng này chi tiết cho từng loại TSCĐ ở từng phân xưởng. Ý kiến 5 : Với các khoản trích theo lương <BHXH, BHYT, KPCĐ>. Xí nghiệp Gỗ Hà nội cũng tiến hành trích trên cơ sở là tiền lương phải trả sau khi đã tính được nhưng Xí nghiệp chỉ trích BHXH và KPCĐ mà Xí nghiệp không trích BHYT trên quỹ lương phải trả. Điều này là sai với chế độ kế toán, cho nên Xí nghiệp phải trích thêm cả khoản BHYT nữa cho CBCNV của Xí nghiệp. Mặc dù Xí nghiệp đã trích BHXH và KPCĐ nhưng các khoản trích theo lương này không đúng tỷ lệ theo chế độ kế toán hiện hành là 15% (BHXH) và 2% (KPCĐ). Vậy : Để kế toán của Xí nghiệp Gỗ Hà nội hạch toán đúng các khoản trích theo lương thì kế toán của Xí nghiệp phải tiến hành trích đủ cả 3 khoản phải trả là BHXH, BHYT và KPCĐ. Trong đó đối với từng khoản trích, tỷ lệ trích phải đúng theo quy định, như : Quỹ BHXH được hình thành theo tỷ

135

lệ 20% trên tổng quỹ lương (trong đó 15% được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh và 5% được trừ vào thu nhập của người lao động). Quỹ BHYT được hình thành theo tỷ lệ 3% trên tổng quỹ lương (trong đó 2% được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh và 1% được trừ vào thu nhập của người lao động). KPCĐ được hình thành theo tỷ lệ 2% trên quỹ lương và khoản mục này được tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Ý kiến 6 : Theo đặc điểm tổ chức sản xuất ở Xí nghiệp thì Xí nghiệp áp dụng phương pháp tính giá thành theo phương pháp trực tiếp là phù hợp. Nhưng trong thực tế, Xí nghiệp còn tiến hành sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng mang lại Để đảm bảo cho công tác tính giá thành được chính xác và kịp thời thì kế toán tính giá thành có thể áp dụng như sau : Phân loại sản phẩm sản xuất theo đơn đặt hàng và sản phẩm không sản xuất theo đơn đặt hàng. Đối với các sản phẩm sản xuất theo đơn đặt hàng thì tiến hành tập hợp chi phí riêng cho đơn đặt hàng đó. Còn các sản phẩm sản xuất không theo đơn đặt hàng thì ta tính giá thành theo phương pháp trực tiếp đã và đang sử dụng. Ý kiến 7 : Hiện tại, Xí nghiệp đang sử dụng Bảng kê số 3 để tính giá thành thực tế nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho. Theo chế độ kế toán thì Bảng kê số 3 chỉ được sử dụng ở trong Doanh nghiệp có sử dụng giá hạch toán trong hạch toán chi tiết vật liệu. Mà Xí nghiệp sử dụng Bảng kê số 3 để tính giá xuất NVL, CCDC chỉ theo giá thực tế, điềuđó là sai với chế độ kế toán Việt nam. Nếu Xí nghiệp muốn sử dụng Bảng kê số 3 để tính giá xuất NVL, CCDC trong hạch toán chi tiết vật liệu thì Xí nghiệp phải sử dụng giá hạch toán để tính toán, và nếu Xí nghiệp sử dụng giá hạch toán để hạch toán chi tiết vật liệu thì nó rất phức tạp so với tình hình hạch toán thực tế vật liệu tại

136

Xí nghiệp. Cho nên Xí nghiệp muốn tính giá xuất NVL, CCDC theo giá thực tế thì không sử dụng Bảng kê số 3 được. Muốn vậy, Xí nghiệp nên đăng ký với Bộ tài chính một biểu mẫu thích hợp (Biểu mẫu này có thể gần giống bảng kê số 3 nhưng không bao gồm cột giá hạch toán) để hạch toán chi tiết Vật liệu. Ý Kiến 8 : Hình thức kế toán mà Xí nghiệp đang áp dụng là hình thức Nhật ký chứng từ (NKCT). Hình thức kế toán NKCT chỉ áp dụng trong những Doanh nghiệp có quy mô lớn, số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều, số lượng tài khoản sử dụng nhiều, yêu cầu quản lý cao và trình độ nhân viên kế toán cao và đồng đều. Xét thấy quy mô của Xí nghiệp không lớn (tổng tài sản gần 4 tỷ đồng), số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh không nhiều, tài khoản sử dụng ít, trình độ kế toán chưa cao, cho nên hình thức NKCT áp dụng cho Xí nghiệp là chưa hợp lý. Cho nên Xí nghiệp nên áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ (CTGS) là thích hợp nhất, vì hiện nay Xí nghiệp đang áp dụng kế toán thủ công (ghi chép bằng tay) mà áp dụng hình thức CTGS thì vẫn được, mà sau này khi có điều kiện Xí nghiệp áp dụng kế toán bằng máy Vi tính thì cũng áp dụng được hình thức CTGS một cách dễ dàng.

Ý kiến 9 : Xí nghiệp áp đồng thời 2 phương pháp hạch toán hàng tồn kho là phương pháp KKTX và phương pháp KKĐK. Phương pháp KKTX áp dụng cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính còn phương pháp KKĐK áp dụng cho bộ phận sản xuất kinh doanh phụ. Cùng một lúc sử dụng 2 phương pháp thì cũng phức tạp trong công tác kế toán. Có thể áp dụng đồng thời 2 phương pháp đó trong điều kiện lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính và Bộ phận sản xuất kinh doanh phụ là độc lập nhau. Nhưng ở tại Xí nghiệp Gỗ Hà

137

nội thì giữa 2 lĩnh vực kinh doanh (chính và phụ) này có mối liên hệ với nhau thông qua phân xưởng Cơ điện (vì chi phí tập hợp ở phân xưởng Cơ điện lại được phân bổ cho cả 2 lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở Xí nghiệp thông qua các phân xưởng và bộ phận). Cho nên Xí nghiệp chỉ có thể lựa chọn sử dụng một trong hai phương pháp hạch toán trên. Theo em thì Xí nghiệp nên chọn phương pháp KKTX vì theo phương pháp này, cho ta biết tình hình biến động tài sản của Xí nghiệp ở bất cứ thời điểm nào trong kỳ hạch toán và số dư đầu kỳ và cuối kỳ của mỗi khoản mục cần theo dõi. Ý kiến 10 : Phân xưởng Cơ điện thuộc bộ phận sản xuất kinh doanh phụ nhưng sự tác động và ảnh hưởng của nó tới 2 phân xưởng sản xuất chính là phân xưởng Xẻ và phân xưởng Mộc là rõ nét và cơ bản. Phân xưởng Cơ điện chủ yếu thực hiện nhiệm vụ gia cố và sửa chữa TSCĐ cho toàn Doanh nghiệp. Nên chi phí phát sinh tại phân xưởng Cơ điện mang tính chất của chi phí chung hơn vì chi phí của nó được phân bổ cho các phân xưởng và bộ phận khác theo số giờ công sản xuất thực tế. Vậy Xí nghiệp nên coi chi phí tại phân xưởng Cơ điện là một bộ phận của chi phí sản xuất chung và dùng TK627.3 để tập hợp chi phí phát sinh tại phân xưởng Cơ điện này (với TK627.1 “Chi phí sản xuất chung ở phân xưởng Xẻ”. TK627.2 “Chi phí sản xuất chung ở phân xưởng Mộc” ). Ý kiến 11 : Tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất trong Xí nghiệp là trả lương theo sản phẩm (rất tốt vì hình thức trả lương này là hình thức tiến bộ nhất vì nó kích thích được sức lao động của người lao động trong sản xuất, đẩy mạnh năng suất lao động của người lao động). Nhưng tính lương sản phẩm theo giờ công sản xuất thực tế là chưa hợp lý (ngắn quá) vì sản phẩm đồ mộc, gỗ hoàn thành trong khoảng thời gian không ngắn quá (khoảng 10

138

ngày). Cho nên, Xí nghiệp có thể thay đổi tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất là theo ngày công sản phẩm. Trong khi đó thì tiền lương của các nhân viên quản lý phân xưởng (Quản đốc phân xưởng) lại không làm cơ sở để tính và trích BHXH, BHYT, và KPCĐ, tức là các khoản trích theo lương BHXH, BHYT và KPCĐ của Xí nghiệp được trích trên cơ sở chỉ có tiền lương phải trả của công nhân trực tiếp sản xuất thôi. Cho nên, để đúng với chế độ kế toán thì các khoản trích theo lương phải được trích trên cơ sở tổng quỹ lương của CBCNV của Xí nghiệp theo đúng tỷ lệ trích được quy định như đã nói ở phần trước. Ý kiến 12 : Định kỳ, bộ máy kế toán của Xí nghiệp đã tính toán và lập ra các Báo cáo tài chính và gửi lên các cơ quan có thẩm quyền (cơ quan chủ quản – Sở Công nghiệp Hà nội – cơ quan thuế…) theo đúng kỳ hạn nhưng vẫn thiếu 1 trong 4 Báo cáo tài chính quan trọng và “bắt buộc phải có” của Xí nghiệp đó là “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”. Cho nên Xí nghiệp Gỗ Hà nội nên bổ sung lại bộ Báo cáo kế toán tài chính của mình cho đầy đủ theo đúng chế độ kế toán. Và điều này lại rất cần thiết cho Xí nghiệp trong điều kiện Xí nghiệp sẽ tiến hành Cổ phần hoá trong nay mai. Khi cổ phần hoá xong và có điều kiện, Xí nghiệp sẽ tham gia vào thị trường chứng khoán quốc gia, khi đó Xí nghiệp cần phải cung cấp tình hình tài chính của mình thông qua bộ Báo cáo kế toán tài chính để cho các đối tác, các nhà đầu tư tìm hiểu, nghiên cứu và tìm cách hợp tác và đầu tư với Xí nghiệp. Khi đó thì ngoài tình hình tài chính khả quan của Doanh nghiệp, bộ Báo cáo tài chính của Xí nghiệp được lập đầy đủ và đúng theo chuẩn của chế độ kế toán thì sẽ rất có lợi cho Xí nghiệp trong việc tìm đối tác để mở rộng quy mô và đẩy mạnh sự phát triển của Xí nghiệp. Ý kiến 13 : Bất kể một hoạt động nào thuộc lĩnh vực gì, theo quan điểm này hay

139

quan điểm khác thì hoạt động đó phải đem lại lợi ích gì cho bộ phận xã hội nào trong xã hội. Mà hoạt động đó có hợp pháp hay không, có đúng với các quy định mà nhà nước ban hành hay không ? Thì cần phải tiến hành theo dõi, giám sát, kiểm tra, kiểm soát nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động. Cho nên, công tác kiểm toán nội bộ trong Xí nghiệp cần phải được chú trọng hơn nữa và tính hiệu quả rất được quan tâm hiện nay. Thứ nhất là nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của Xí nghiệp hoạt động tốt thì các nghiệp vụ kinh tế qua Xí nghiệp xử lý thì rất an toàn về tính trung thực và tính chính xác của chứng từ và tài liệu kế toán, từ đó mà tạo được lòng tin cho các đối tượng quan tâm tới Xí nghiệp. Thứ hai là nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của Xí nghiệp hoạt động tốt thì các khoản chi ra là tương đối hợp lý, không bị thất thoát rò rỉ tài sản của Xí nghiệp ra ngoài, để mà từ đó xác định được chi phí và giá thành thành phẩm của Xí nghiệp là chính xác. Và cuối cùng là các Báo cáo tài chính được lập là trung thực, trình độ quản lý của nhân viên trong Xí nghiệp được nâng cao và tạo được uy tín lớn trên thương trường. Để làm được như vậy, Xí nghiệp cần tiến hành lập một Ban thanh tra kinh tế tài chính của Xí nghiệp (Ban này khoảng độ 2 người là đủ). Nhiệm vụ của ban là tiến hành kiểm toán nội bộ để từ đó đánh giá việc thực hiện công tác kế toán của các bộ phận trong Doanh nghiệp, có quyết định thưởng phạt cụ thể rõ ràng để nâng cao tinh thần trách nhiệm cho mọi thành viên trong Xí nghiệp. Bên cạnh đó, định kỳ kế toán cũng cần tổ chức phân tích tình hình tài chính và tình hình thực hiện kế hoạch của Xí nghiệp, vạch ra những nguyên nhân làm cho hoàn thành hoặc chưa hoàn thành, những tiềm năng khả năng tiềm tàng có thể khai thác và đề ra các phương hướng cần phấn đấu để không ngừng hạ thấp giá thành sản phẩm. Cụ thể để thực hiện tốt các hướng hoàn thiện ở trên thì Xí nghiệp phải

140

đảm bảo các điều kiện : - Cần có sự chỉ đạo chặt chẽ hơn nữa từ Giám đốc Xí nghiệp xuống các phòng, ban, phân xưởng, bộ phận sản xuất để tổ chức hạch toán đầy đủ các chỉ tiêu cần thiết để đánh giá được chất lượng công tác ở các phân xưởng, các phòng ban. - Công tác hạch toán ở các phân xưởng cần thực hiện tốt sát với mọi chi phí phát sinh. Phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa những nhân viên kế toán để tính đúng, tính đủ các chỉ tiêu thông tin kế toán. - Tất cả các phòng ban phải đảm trách tốt nhiệm vụ của mình. Phòng Kỹ thuật – Kế hoạch – Vật tư chịu trách nhiệm xây dựng các định mức tiêu hao và các thông số kỹ thuật phục vụ sản xuất ; dựa vào tình hình thực tế để xây dựng kế hoạch thu mua và cung cấp vật tư kịp thời cho các phân xưởng sản xuất để đảm bảo nhịp độ sản xuất được liên tục. Ý kiến 14 : Hiện nay, theo đà phát triển cao của khoa học kỹ thuật trên thế giới, đặc biệt là lĩnh vực điện tử tin học thì máy Vi tính là một công cụ rất đắc lực cho nhiều hoạt động khác nhau như : Ngân hàng, Bảo hiểm, Bưu chính viễn thông, An ninh quốc phòng, Lưu trữ hồ sơ… và lĩnh vực hạch toán kế toán cũng không nằm ngoài vùng tác động của nó. Trên thế giới, cụ thể là những nước tiên tiến phát triển thì việc áp dụng máy Vi tính vào công tác hạch toán kế toán được phổ biến vì máy Vi tính có những tính năng hoạt động rất tốt trong điều kiện hạch toán kế toán thủ công (ghi chép bằng tay) như : Xử lý dữ liệu cực nhanh, các bản báo cáo tài chính được in ra đẹp, đầy đủ và chính xác, cung cấp số liệu theo yêu cầu của quản lý rất kịp thời, lưu trữ thông tin một cách gọn nhẹ… Cho nên với nhiều tính năng như vậy thì xu hướng chung hiện nay là đưa máy Vi tính vào công tác hạch toán kế toán của Xí nghiệp. Khi mà Xí nghiệp áp dụng máy Vi tính vào công tác hạch toán kế toán
141

thì sẽ giảm được một lượng nhân viên kế toán, và từ đó để giảm được chi phí quản lý Doanh nghiệp của Xí nghiệp hay nói cách khác là trình độ quản lý Doanh nghiệp được nâng cao. Ý kiến 15 : Quản lý chỉ tiêu giá thành thành phẩm : Xí nghiệp Gỗ Hà nội là một Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) tự chủ về vốn kinh doanh, tự hạch toán kinh tế lãi lỗ. Muốn sản xuất và kinh doanh có lãi thì Xí nghiệp phải tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường. Khi phân tích chỉ tiêu giá thành để tăng cường quản lý, Xí nghiệp cần xây dựng chi phí định mức, giá thành định mức. Xí nghiệp nên lập hệ thống chi phí định mức dựa vào định mức kỹ thuật của sản phẩm cho mỗi khoản mục, dựa vào chi phí thực tế phát sinh kỳ trước và những yếu tố biến đổi tăng giảm dự kiến trong năm do phòng Kế hoạch và Ban giám đốc Xí nghiệp xác định. Từ hệ thống chi phí định mức này kế toán có thể so sánh với thực tế phát sinh để điều chỉnh tăng giảm các khoản mục chi phí một cách hợp lý. Các khoản mục chi phí khi phát sinh đều phải được kiểm tra kỹ càng từ khâu lập chứng từ đến quá trình sử dụng chi phí đó như thế nào. Sổ sách kế toán phải phù hợp tập hợp đầy đủ, không bỏ sót khoản chi nào, phản ánh một cách trung thực mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp giúp cho việc quản lý của Xí nghiệp ngày càng chặt chẽ hơn.

142

KẾT LUẬN

Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc tăng cường quản trị Doanh nghiệp là một công tác không thể thiếu được đối với công tác kế toán tài chính của Doanh nghiệp, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Xí nghiệp Gỗ Hà Nội là một Doanh nghiệp nhà nước (DNNN), chuyên sản xuất –kinh doanh các sản phẩm hàng mộc. Công tác hạch toán là khâu quan trọng, đặc biệt kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được coi là trung tâm của toàn bộ công việc kế toán, đã cung cấp được những thông tin thực sự cần thiết cho quá trình quản lý của Xí nghiệp. Tuy nhiên, quá trình tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp cũng còn một số hạn chế. Những ý kiến trong bài này không ngoài mục đích góp phần hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường công tác hạch toán kế toán, giám đốc chặt chẽ các chi phí sản xuất, tính đúng, tính đủ giá thành. Mục đích của em khi chọn đè tài này là để trình bày Chuyên đề thực tập tốt nghiệp với việc gắn lý luận với thực tế. Trước hết, thể hiện nhận thức về mặt lý luận của em đối với đề tài này và sau nữa là quá trình thực tập timf hiểu thực tế hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp Gỗ Hà Nội . Trong thời gian thực tập thầy giáo hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em cả về phương pháp và kién thức cùng với sự chỉ bảo nhiệt tình của các Cô ở Phòng Kế toán - Tài chính (phòng Tài vụ) của Xí nghiệp đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Do thời gian tìm hiểu thực tế không có nhiều và trình độ chuyên môn còn hạn hẹp nên bài viết này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.

143

144

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Kế toán tài chính trong các Doanh nghiệp Nhà xuất bản Tài chính - 1998 2. Kế toán Doanh nghiệp thực hành Chủ biên : TS. Nguyễn Văn Công 3. Chế độ Kế toán mới Nhà xuất bản Thống kê 4. Phân tích hoạt động kinh doanh Trường Đại học KTQD - Khoa Kế toán 5. Kế toán Quản trị và Phân tích kinh doanh Nhà xuất bản Thống kê - 1995 6. Tạp chí Tài chính 7. Nguyên lý Kế toán Mỹ 8. Đặc điểm Kế toán Pháp 9. Giáo trình Phần mềm Kế toán FAST ACCOUNTING .

145

MỤC LỤC
Lời nói đầu Phần I : Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp I - Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Chi phí sản xuất 2. Giá thành sản phẩm 3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 4. Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm II - Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm, dịch vụ 1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất 2. Đối tượng tính giá thành 3. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành III – Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành sản phẩm, dịch vụ 1. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất 2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm, dịch vụ IV – Nội dung hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, dịch vụ 1. Nguyên tắc hạch toán chi phí vào giá thành sản phẩm

146

2. Tổ chức hệ thống chứng từ, hệ thống sổ sách để hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp A – Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp Kê khai thường xuyên (KKTX) 1. Hạch toán chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT) 2. Hạch toán chi phí Nhân công trực tiếp (NCTT) 3. Hạch toán chi phí trả trước 4. Hạch toán chi phí phải trả 5. Hạch toán chi phí sản xuất chung (SXC) 6. Hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất 7. Hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm kinh doanh phụ 8. Tỏng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang B – Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp Kiểm kê định kỳ (KKĐK) 1. Hạch toán chi phí Nguyên vật liệu 2. Hạch toán chi phí Nhân công trực tiếp (NCTT) 3. Hạch toán chi phí SXC 4. Tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang V – Hạch toán chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, dịch vụ VI - Đặc điểm hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo các hình thức sổ kế toán 1. Hình thức sổ Nhật ký chung (NKC) 2. Hình thức sổ Nhật ký sổ cái (NKSC) 3. Hình thức sổ Chứng từ ghi sổ (CTGS) 4. Hình thức sổ Nhật ký chứng từ (NKCT) VII – Kế toán Máy trong công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm VIII – Sơ lược nội dung hạch toán chi phí sản xuất và tính giá

147

thành sản xuất tại một số nước trên thế giới 1. Tại Pháp 2. Tại Mỹ và Canađa

Phần II : Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội I – những đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tổ chức sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp tác động đến hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 1. Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp Gỗ Hà nội 2. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Xí nghiệp 3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 4. Đặc điểm chung về công tác hạch toán kế toán ở Xí nghiệp Gỗ Hà nội II - Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội 1. đối tượng hạch toán chi phí sản xuất 2. Tài khoản sử dụng 3. Tổ chức quá trình hạch toán chi phí sản xuất của Xí nghiệp III - Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội 1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm 2. Kỳ tính giá thành sản phẩm 3. Phương pháp tính giá thành thành phẩm 4. Phân tích tình hình sản xuất - kinh doanh của Xí nghiệp Gỗ Hà nội

148

Phần III : Nhận xét, đánh giá, kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội I – ý nghĩa của việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm với việc tăng cường quản trị Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường II – nhận xét và đánh giá tình hình hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội III – Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Gỗ Hà nội

Kết luận

149

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful