Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản

của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ quyền lợi của ai. Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất quán của HCM. Ngay khi vừa giành được chính quyền, Người khẳng định rằng: Nước ta là nước dân chủ, " bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... CHính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân". Ở nước ta, nhân dân là người nắm giữ mọi quyền lực, các cơ quan nhà nước , do dân tổ chức ra thực hiện ý chí nguyện vọng của dân, tức là làm công bộc, lo toan gánh vác công việc chung cho dân chứ không phải làm quan cách mạng mà áp bức dân. Thể chế dân chủ cộng hoà đã làm thay đổi tận gốc quyền lực chính trị và thực hiện quyền lực chính trị, nhân dân được đặt ở vị trí cao nhất. Nhà nước không bị coi là công cụ thống trị như trong thời kỳ đế quốc phong kiến. Nhà nước của dân tức là nhà nước của toàn thể nhân dân việt Nam quyền lực chính trị thuộc về tất cả nhân dân. Nhân dân có quyền bầu ra các địa biểu của mình và uỷ quyền cho họ gánh vác công việc chung của đất nước. Nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước. Trong nhà nước của dân, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước do dân nghĩa là nhà nước do dân lựa chọn bầu ra những đại biểu của mình, do dân ủng hộ giúp đỡ, do dân đóng thuế để xây dựng nhà nước, do dân phê bình xây dựng. HCM yêu cầu cán bộ nhà nước phải dựa vào dân, phải lấy dân làm gốc, liên hệ chặt chẽ với dân, lắng nghe ý kiến của dân và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chỉnh phủ" Nhà nước vì dân đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính. "Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Viẹc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh" Theo HCM, việc đáp ứng nhu cầu lợi ích của nhân dân là tiêu chí số một để đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà nước. Muốn đạt được mục đích cao cả đó, nhà nước phải thật sự trong sạch; nếu cán bộ nhà nước bị thoái hoá, biến chất thì nhà nước đó trượt ra khỏi quỹ đạo dân chủ nhân dân, trở thành thế lực đối lập với nhân dân. Bằng nhạy cảm chính trị và kinh nghiệm thực tiễn, HCM đã phát hiện và cảnh báo ngay từ rất sớm những căn bệnh có thể phát sinh, làm biến dạng tha hoá nhà nướcnhư trái phép, cậy thế, hủ hoá, chia rẽ... Người gọi những căn bệnh đó là giặc " nội xâm" hết sức nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng, làm xói mòn niêm tin của nhân dân, làm cho dân xa nhà nước. Vì thế, chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục những tiêu cực trong bộ máy nhà nước luôn đựoc HCM quan tâm. HCM cũng đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa nhân dân là người làm chủ đất nước với cán bộ nhà nước vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân. Người nói: " Nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường". Trong di chúc, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thực sự là người lãnh đạo là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Cán bộ phải vừa có đức, vừa có tài, vừa hiền lại vừa minh, hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

Đó là, tăng cường pháp luật với việc giáo dục đạo đức và chống tham ô, lãng phí, quan liêu

Thứ nhất, tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức. Trong tư tưởng về dân chủ và nhà nước kiểu mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có một vấn đề cần phải làm rõ: Đó là “phép trị nước” của Người, về hai phương diện đạo đức và pháp luật, xét ở góc độ: “đức trị” hay “pháp trị” là vấn đề mà trong tư tưởng chính trị phương Đông luôn được đặt ra và giải quyết dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở một số nhà tư tưởng vấn đề đặt ra thường quyết liệt theo hai khuynh hướng có tính chất đối lập nhau: “hoặc đức trị hoặc pháp trị”. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không đối lập pháp trị với đạo đức. Người lưu ý: “Luật pháp dựa vào đạo đức, mặt khác luật pháp bảo vệ đạo đức”[1] và Người đặc biệt lưu ý vấn đề nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Nuyên nội hàm các thuật ngũ: “Nhà nước pháp quyền”, “chế độ pháp trị” đã được Hồ Chí Minh thường sử dụng và có những kiến giải hết sức độc đáo và đặc sắc. Người nói đến pháp trị: “Tư pháp cần góp phần của mình là thực hiện chế độ pháp trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ của ta”[2]. Hồ Chí Minh ý thức rất rõ việc phải quản lý xã hội bằng pháp luật, đề cao pháp luật - hiện thân của chế độ dân chủ, hiện thân của chủ quyền nhân dân và Người chỉ đạo sát sao việc xây dựng hệ thống pháp luật của Việt Nam. ởi vì, pháp luật là cơ sở thực hiện các quyền tự do dân chủ, quyền làm chủ nhà nước của nhân dân, v.v Theo Hồ Chí Minh nền chính trị mới là một nền chính trị đạo đức (không phải nền chính trị thuần tuý, mà những quyết định chính trị hàm chứa lượng đạo đức cao trong đó) nếu chính trị mới bao hàm trong nó những nguyên tắc đạo đức. Ví dụ: trong Quốc lệnh do Người ban hành ngày 26-1-1946, đã đưa ra 10 điều khen thưởng (thể hiện cho đức trị) và 10 điều hình phạt (thể hiện cho pháp trị). Mười điều khen thưởng và 10 điều hình phạt trong Quốc lệnh là tư tưởng sáng ngời, công minh chính đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực tế lịch sử đã cho thấy rằng, Hồ Chí Minh là một nhà lập pháp sắc sảo, đồng thời là một nhà hành pháp nghiêm minh. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về sự kết hợp biện chứng giữa giáo dục đạo đức và tăng cường pháp luật cần được kế thừa và phát huy trên con đường xây dựng một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, trong sạch, vững mạnh, có hiệu quả. Thứ hai, kiên quyết chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nhà nước có mạnh, có hiệu lực cao hay không một mặt phụ thuộc vào tính nghiêm minh của việc thi hành pháp luật, mặt khác, dựa vào sự gương mẫu, sự trong sạch về đạo đức của đội ngũ cán bộ các cấp. Hồ Chí Minh coi: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là cách mạng… Tham ô, lãng phí, quan liêu là xấu xa củ xã hội cũ… Chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do, bình đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm, chính – cho nên chúng ta phải tẩy cho sạch hết những thói xấu của xã hội cũ”[3]. Hồ Chí Minh phê phán bệnh quan liêu: “không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn …, thành thử có mắt

mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững … Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu”[4], “ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó có nạn tham ô, lãng phí”. Hồ Chí Minh nêu rõ các biện pháp chống bệnh quan liêu, lãng phí, tham nhũng: Thực hành dân chủ, tôn trọng và bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân; tăng cường kiểm tra; phát triển kinh tế, cải tiến quản lý kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân. Tt HCM và CN Mác Lê nin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam cho mọi hành động , là đời sống tinh thần của nhân dân. Do vậy học tập, nghiên cứu tt HCM là nhiệm vụ của toàn đảng toàn dân. <br> 2. Kiên trì con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, con đường mà Bác, Đảng và nhân dân đã lựa chọn. <br> 3. Học tập phương pháp phong cách HCM phải có tư duy độc lập sáng tạo khi vận dụng và phát triển tt của Người trong hoàn cảnh mới. <br> 4. Đối với HSSV thế hệ trẻ cần học tập tt HCM để nâng cao tư duy lý luận, để rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức Cm, năng lực công tác. <br> Hưởng ứng lời kêu gọi của TW Đảng: học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh,

nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. - Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng Việt Nam gồm những điểm sau: Một là, trung với nước hiếu với dân. Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức. “Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau Hai là, yêu thương con người Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái... không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời" Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta". Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không tham lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá". Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư, Người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc". “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là, tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương vô sản đều là anh em"; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người - Con người là mục tiêu giải phóng của sự nghiệp cách mạng Mục tiêu của cách mạng là giải phóng con người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người; nhưng sự nghiệp giải phóng là do chính con người thực hiện. Với tư cách là mục tiêu của cách mạng, mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng phải vì dân, vì lợi ích của dân. Bao nhiêu lợi ích cũng vì dân. Dân trước hết là giai cấp công nhân, liên minh với nông dân, trí thức cũng là một tầng lớp cần coi trọng.

- Con người là động lực của cách mạng Với tư cách là động lực của cách mạng, cần phải tổ chức và thức tỉnh hàng chục triệu nông dân, phải thức tỉnh và tổ chức toàn thể giai cấp công nhân. Có như vậy mới tạo ra sức mạnh to lớn để có thể làm cách mạng thành công. Họ phải có trí tuệ, bản lĩnh, văn hoá, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hoá hàng ngàn năm của dân tộc. Lịch sử đã chứng minh, quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo cơ bản, có dân là có tất cả. Xuất phát từ sự đánh giá đúng con người và hiểu biết con người, con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Đảng cách mạng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, qua phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng sẽ nhân sức mạnh của con người lên gấp bội lần. b) Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược trồng người Hồ Chí Minh có quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Con người có ý nghĩa chiến lược của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa. Con người có hai mặt gắn bó nhau: một là, kế thừa giá trị tốt đẹp của con người truyền thống, hai là, hình thành những phẩm chất mới như: tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng, có trí tuệ, bản lĩnh để làm chủ, có lòng nhân ái, vị tha, độ lượng. Hồ Chí Minh quan niệm: Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Con người trong thời đại mới phải có học thức, chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học kỹ thuật. Vì vậy chủ nghĩa xã hội mới đủ tiềm lực vật chất để chiến thắng chủ nghĩa tư bản, mới làm cách mạng thắng lợi. Xây dựng con người mới phải toàn diện: có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có chính kiến. Xây dựng con người có ý thức làm chủ, tự lực, tự cường, gắn quyền lợi và nghĩa vụ. Luôn phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Con người có niềm tin và lạc quan cách mạng. Con người có trí tuệ, trình độ học vấn cao, ngày càng tiến bộ. Con người có sức khoẻ. Con người có lòng khoan dung, độ lượng. Để trồng người, xây dựng con người vừa có cá tính vừa có thể phát triển mọi mặt phải có nhiều biện pháp. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục là biện pháp quan trọng nhất. Cần hiểu mối quan hệ giữa tính người và giáo dục.

Tính người vốn thiện và ác, và đây là phạm trù được Nho giáo quan tâm. Hồ Chí Minh cho rằng tính người do giáo dục và nó gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người. “Ngủ thì ai cũng như lương thiện, Tỉnh dậy phân ra kẻ giữ, hiền. Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên.” Óc của trẻ trong sạch như tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ. Vì vậy sự học tập ở trong trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên. Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII (1996) có nêu định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 và 2020. Cần phải đưa nghị quyết đi vào cuộc sống. Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, thể, trí, mỹ, phải đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. Đức và tài thống nhất nhau, trong đó đức là gốc, là nền tảng phát triển, Học để làm người. Hồ Chí Minh coi trọng việc nâng cao dân trí cho toàn dân tộc. Người hướng mọi hoạt động văn hoá, giáo dục, tư tưởng vào việc rèn luyện dân tộc ta thành dân tộc cách mạng và văn minh. Hồ Chí Minh nêu khẩu hiệu : Diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Bác đi đầu trong việc khai dân trí. Mở các lớp xoá mù chữ, các lớp bình dân học vụ. Người nói: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”./.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful