You are on page 1of 36
Trường Đại học Mở Tp.HCM Khoa Kinh Tế & Luật Bài tiểu luận Hiệp định Nông Nghiệp AOA Nhóm 2012 Mở Đầu Trước sự phát triển của nền kinh tế quốc tế, các quốc gia trên thế giới luôn tự thích nghi và điều chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật của nước mình phù hợp với pháp luật quốc tế. WTO là một tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, gồm các Hiệp định và quy tắc về kinh tế, thương mại v.v..., trong đó các quy định về tổ chức và thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế chiếm một số lượng lớn. Đặc biệt các quy tắc về nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của WTO, có thế nói rằng, nông nghiệp là một trong các trụ cột chính của WTO do tính phức tạp ảnh hưởng đến hàng tỷ nông dân và người tiêu dùng trên toàn thế giới. Việc đưa ra các nghiên cứu Hiệp định nông nghiệp cũng như các đánh giá thực hiện Hiệp định này trong nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành chính sách pháp luật nông nghiệp quốc gia. Việt Nam đang từng bước khẳng định được lợi thế của mình sau khi tham gia Hiệp định nông nghiệp. Nhiều mặt hàng nông sản nước ta đã chiếm ưu thế về số lượng trên thị trường quốc tế nhưng bên cạnh đó vẫn còn gặp nhiều những khó khăn và thách thức. I. HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP l. Mục tiêu của Hiệp định:  Thiết lập hệ thống thương mại hàng nông sản công bằng  Làm cho các chính sách nông nghiệp có định hướng thị trường  Về dài hạn, Hiệp định nhằm nâng cao khả năng dự báo và an ninh cho các quốc gia nhập khẩu cũng như xuất khẩu. 2. Nội dung của Hiệp định: Hiệp định điều chỉnh 3 nội dung: (1) Tiếp cận thị trường: Các hạn chế thương mại ảnh hưởng tới nhập khẩu. (2) Chính sách hỗ trợ trong nước: Trợ cấp trong nước và các chương trình khác, bao gồm các biện pháp nhằm nâng cao hoặc đảm bảo sản xuất và thu nhập của nông dân. (3) Chính sách trợ cấp xuất khẩu nông sản: Các khoản trợ cấp được sử dụng để tạo khá năng cạnh tranh giá tạo trong xuất khẩu 2.1. Sản phẩm nông nghiệp bao gồm những loại nào? Trong WTO, hàng hoá được chia làm hai (02) nhóm chính: nông sản và phi nông sản. Nông sản được xác định trong Hiệp định Nông nghiệp là tất cả các sản phẩm liệt kê từ Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hoà hoá mã số thuế). Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:  Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…;  Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…;  Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô…  Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống thuế mã HS được xem là sản phẩm phi nông nghiệp (còn được gọi là sản phẩm công nghiệp). Trong thực tiễn thương mại thế giới, nông sản thường được chia thành 2 nhóm, gồm (i) nhóm nông sản nhiệt đới và (ii) nhóm còn lại. Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất thế nào là nông sản nhiệt đới nhưng những loại đồ uống (như chè, cà phê, ca cao), bông và nhóm có sợi khác (như đay, lanh), những loại quả (như chuối, xoài, ổi và một số nông sản khác) được xếp vào nhóm nông sản nhiệt đới. Trên thực tế, nhóm nông sản nhiệt đới được sản xuất chủ yếu bởi các nước đang phát triển. Đối với doanh nghiệp kinh doanh và xuất khẩu, cần xác định rõ sản phẩm của mình có thuộc nhóm nông sản theo quy định của WTO hay không. Việc xác định này là rất quan trọng bởi nhóm nông sản sẽ được/ phải áp dụng những quy chế pháp lý đặc thù, không giống với quy chế áp dụng chung cho các loại hàng hoá phi nông nghiệp. 2.2. Tại sao WTO phải có một Hiệp định riêng về hàng nông sản? Hàng nông sản vốn là nhóm mặt hàng nhạy cảm trong thương mại quốc tế.Vì vậy, không dễ đạt được thoả thuận về mở cửa thị trường và cắt giảm các hình thức trợ cấp cho loại hàng hoá này. Sau nhiều vòng đàm phán khó khăn, các nước đã thống nhất một cơ chế thương mại riêng cho hàng nông sản, thể hiện tại Hiệp định Nông nghiệp. Tuy nhiên, Hiệp định này cũng chỉ giới hạn vấn đề mở cửa thị trường liên quan đến 2 công cụ chủ yếu:  Các biện pháp tại cửa khẩu để kiểm soát nhập khẩu nông sản  Trợ cấp nông nghiệp (trợ cấp xuất khẩu và các loại trợ cấp trong nước đối với nông nghiệp nhằm ổn định thu nhập và đời sống của người làm nông nghiệp). Từ góc độ của doanh nghiệp, mức độ mở cửa thị trườngnông sản có tác động hai mặt: • Đối với việc xuất khẩu nông sản, đàm phán mở cửacàng thành công thì doanh nghiệp càng dễ tiếp cận thị trường nông sản nước ngoài (do mức thuế giảm,ít các biện pháp phi thuế…) và sức cạnh tranh củahàng nông sản xuất khẩu ở thị trường xuất khẩu cũng vì thế tăng lên. • Đối với thị trường trong nước, mở cửa đồng nghĩavới việc nông sản nước ngoài sẽ vào dễ dàng hơn,cạnh tranh mạnh mẽ hơn và do đó có thể làm ảnhhưởng đến thị phần hàng nông sản nội địa trênchính sân nhà. 2.3. Hiệp định Nông nghiệp đưa ra các nguyên tắc nào để mở cửa thị trường nông sản? “Mở cửa thị trường” được hiểu là việc giảm bớt các “rào cản” về vật chất và thủ tục để hàng hoá nước ngoài có thể tiếp cận thị trường nước nhập khẩu một cách thuận lợi. Trong WTO, “mở cửa” đồng nghĩa với việc giảm thuế nhập khẩu (và không được tăng trở lại), giảm và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu (như hạn ngạch, quy định giá nhập khẩu tối thiểu, các loại thuế-phí liên quan đến việc nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, các biện pháp mang tính hạn chế khác…). Đối với Hiệp định Nông nghiệp, nguyên tắc mở cửa thị trường cũng bao gồm các công cụ nêu trên. Tuy nhiên, do đàm phán mở cửa thị trường về nhóm hàng hoá đặc biệt này mới chỉ dừng ở những kết quả ban đầu, và chưa triệt để, nên các nguyên tắc mở cửa thị trường trong Hiệp định này cũng mang đặc trưng riêng với nhiều hạn chế so với nguyên tắc mở cửa thị trường nói chung. Những yêu cầu mở cửa thị trường nông sản về nguyên tắc là các nghĩa vụ của Chính phủ các nước thành viên WTO, không phải là nghĩa vụ của doanh nghiệp.Tuy nhiên, doanh nghiệp nông sản lại là những đối tượng chịu tác động trực tiếp từ việc các Chính phủ thực hiện những nghĩa vụ này (được lợi vì thị trường mở cửa hoặc bị ảnh hưởng do không còn được bảo hộ như trước).  Vì vậy, doanh nghiệp cần biết về các nguyên tắc chung về mở cửa thị trường nông sản này để có kế hoạch kinh doanh phù hợp, đồng thời cũng có căn cứ để khiếu nại, khiếu kiện bảo vệ lợi ích của mình khi cần thiết. 2.4. Biện pháp Thuế quan hoá trong nông nghiệp là gì? Thuế quan hoá là việc chuyển các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế quan (ví dụ hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu…) thành thuế quan. Đây là nguyên tắc quan trọng trong WTO bởi thuế quan là biện pháp minh bạch, ổn định và dễ dự đoán hơn nhiều so với các biện pháp phi thuế quan. Theo quy định của WTO, hầu hết các biện pháp phi thuế quan đối với hàng phi nông nghiệp bị buộc phải chấm dứt. Tuy nhiên, đối với hàng nông sản, các biện pháp phi thuế mà các nước thành viên WTO trước đó đang áp dụng vẫn được thừa nhận nhưng bị buộc phải quy đổi thành một giá trị cụ thể (tiền) và chuyển hoá thành thuế suất bổ sung vào mức thuế quan đang áp dụng; sau đó mỗi nước thành viên phải đàm phán và cam kết thuế ở một mức nhất định và đảm bảo rằng trong tương lai không được tăng thuế cao hơn mức cam kết đó. Trường hợp muốn tăng thuế cao hơn mức cam kết thì nước đó phải đàm phán lại và thông thường phải “đền bù” cho các nước liên quan do việc tăng thuế này. Đối với doanh nghiệp, thuế quan hoá mặc dù có thể làm tăng thuế nhập khẩu nhưng sẽ thuận lợi và minh bạch hơn rất nhiều về thủ tục so với trước. Hơn nữa, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được những khoản phí bổ sung hoặc chi phí không chính thức (vốn rất phổ biến khi các biện pháp phi thuế được áp dụng). Hiện tại, chỉ còn rất ít các biện pháp phi thuế được phép áp dụng ở các nước thành viên WTO với những điều kiện cụ thể; do đó nếu bị áp dụng biện pháp phi thuế, doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ quy định để có thể khiếu nại, khiếu kiện tại nước nhập khẩu hoặc thông qua Chính phủ khiếu kiện tại WTO để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình 2.5. Các biện pháp tự vệ đặc biệt đối với hàng nông sản là gì? Trong WTO, các nước thành viên được phép sử dụng các biện pháp tự vệ (tăng thuế, áp dụng lại chế độ hạn ngạch, duy trì cơ chế giấy phép nhập khẩu…) để đối phó lại với tình trạng nhập khẩu ồ ạt gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Các điều kiện và cách thức để tiến hành tự vệ được quy định trong Hiệp định về Tự vệ. Tuy nhiên, đối với một số loại nông sản sau khi đã thuế hoá các biện pháp phi thuế, hành động tự vệ sẽ chỉ phải tuân thủ một số điều kiện trong Hiệp định nông nghiệp (gọi là biện pháp tự vệ đặc biệt – Special safeguard measures - SSG) mà về cơ bản là dễ dàng hơn điều kiện tại Hiệp định về Tự vệ. Những loại nông sản làđối tượng của các biện pháp tự vệ đặc biệt này là nhữngloại được đánh dấu bằng chữ “SSG” trong Biểu cam kếtcủa từng nước và là kết quả của sự đàm phán, thoảthuận của các thành viên WTO. Như vậy, biện pháp tự vệ áp dụng cho đa phần nông sảnvẫn thực hiện theo Hiệp định về Tự vệ nhưng có một sốsản phẩm (nông sản có đánh dấu SSG) thực hiện theoquy định về tự vệ đặc biệt tại Hiệp định Nông nghiệp. Các doanh nghiệp khi xuất hàng nông sản cần chú ýquy định và thực tiễn về SSG của từng thị trường. Nếuhàng của doanh nghiệp thuộc nhóm có thể áp dụngSSG thì cần rất thận trọng khi tăng lượng xuất khẩu bởikhả năng bị áp dụng biện pháp tự vệ, tức là bị áp thuếbổ sung ngoài thuế quan đã ấn định trước, sẽ cao hơnnhiều so với các hàng hoá khác. 2.6. Các biện pháp bảo hộ đối với hàng nông sản cần dựa trên căn cứ nào? Mỗi nước đều có những nhu cầu đặc thù liên quan đến việc bảo hộ nông sản, nhóm mặt hàng được xem là nhạy cảm.Tuy nhiên, việc đưa ra các biện pháp khác nhau đối với thương mại hàng nông sản không được phép tuỳ tiện. Cụ thể, theo Hiệp định Nông nghiệp thì ngoài các vấn đề thương mại, các quốc gia chỉ có thể đưa ra các biệnpháp bảo hộ nông sản dựa trên các lý do sau:  Những vấn đề không liên quan đến thương mại (ví dụ như vấn đề an ninh lương thực quốc gia).  Bảo vệ môi trường.  Các hình thức đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước đang phát triển;  Những tác động có thể xảy ra khi thực hiện chương trình cải cách mở cửa thị trường nông sản theo quy định tại Hiệp định (đối với các nước chậm phát triển và nước thuần tuý nhập khẩu lương thực). Trên thực tế, các căn cứ này là rất rộng và như vậy nước nhập khẩu nông sản có tương đối nhiều cơ hội để ban hành những quy định không đi theo các nguyên tắc mở cửa thị trường nói chung. Hệ quả là chính sách về nông sản của các nước có thể có các ngoại lệ nhất định(thường là bất lợi cho hàng nhập khẩu) mà doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu cần dự tính trước để xử lý kịp thời nếu gặp phải. Ngược lại, đứng từ góc độ sản xuất trong nước, doanh nghiệp nông sản cần quan tâm đến nội dung này để có thể yêu cầu Chính phủ có biện pháp bảo hộ hợp lý trước hàng nông sản nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam mà vẫn tuân thủ WTO. 2.7. Trợ cấp trong nông nghiệp được quy định như thế nào? Các biện pháp trợ cấp thường là nguyên nhân dẫn tới sự bóp méo thương mại, khiến cạnh tranh không bình đẳng và không lành mạnh (đặc biệt giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa).Vì vậy, WTO đã có một Hiệp định riêng về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng.Tuy nhiên, Hiệp định này chỉ áp dụng cho hàng phi nông nghiệp. Đối với nông sản, do đàm phán mở cửa thị trường trong lĩnh vực này khá hạn chế, các hình thức trợ cấp được phép còn rất đa dạng (về phạm vi) và lớn (về mức độ) so với trợ cấp đối với hàng phi nông nghiệp. Hiệp định Nông nghiệp có quy định chi tiết về các loại trợ cấp và điều kiện trợ cấp trong nông nghiệp. Các quy định về trợ cấp nông nghiệp khá phức tạp, với những điều kiện chi tiết mà mỗi nước cần tính toán để tận dụng hỗ trợ cho nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp của mình mà không vi phạm WTO. Doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến các biện pháp hỗ trợ được phép để chủ động đề xuất với Chính phủ nếu có điều kiện và yêu cầu Chính phủ can thiệp nếu phát hiện đối thủ nước ngoài cạnh tranh không lành mạnh do được trợ cấp trái phép 2.8. Hiệp định nông nghiệp quy định ưu tiên cho các nước đang phát triển không? Các nước đang phát triển thành viên WTO (bao gồm các nước đang phát triển và chậm phát triển) hầu hết là những nước phụ thuộc khá nhiều vào sản xuất nông nghiệp. Đây được xem là nhóm chủ thể dễ bị tổn thương khi các nguyên tắc mở cửa thị trường trong nông nghiệp được thực thi.Vì vậy, Hiệp định Nông nghiệp đã ghi nhận những quy định về biện pháp đối xử đặc biệt, mang tính ưu tiên cho các nhóm các nước thành viên này. Cụ thể, Hiệp định Nông nghiệp cho phép các thành viên là nước đang phát triển được hưởng những “ưu tiên” sau đối với hàng nông sản: • Mức độ buộc phải giảm thuế nhập khẩu và giảm các biện pháp trợ cấp ít hơn (chỉ bằng khoảng 2/3 mức độ giảm áp dụng cho nước thành viên phát triển - thậm chí nhóm nước kém phát triển nhất còn được miễn nghĩa vụ giảm thuế và giảm trợ cấp này); • Thời hạn (lộ trình) thực hiện các nghĩa vụ giảm thuế và trợ cấp dài hơn. • Là nước đang phát triển, Việt Nam cũng được hưởng các ưu tiên này. Điều này đồng nghĩa với thị trường nông sản trong nước sẽ được mở cửa theo cam kết trong WTO nhưng là mở dần dần. Doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này sẽ có thời gian để điều chỉnh dần khả năng cạnh tranh của mình. II. NHỮNG CAM KẾT VỀ HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM TRONG WTO Gia nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra các cam kết mở cửa thị trường nông sản thuộc các nhóm sau: 1. Cam kết về thuế quan Việt Nam đã đưa ra cam kết về mức thuế nhập khẩu tối đa được phép áp dụng (gọi là mức cam kết) đối với 100% số dòng thuế hàng nông sản. • Về mức cam kết giảm thuế chung: Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế bình quân là 10,6% so với MFN hiện hành. • Về mức giảm thuế đối với từng nhóm nông sản: • Các loại nông sản chế biến (như thịt, sữa, rau quả chế biến, thực phẩm chế biến, quả ôn đới, và quả có múi) phải giảm nhiều hơn so với nông sản thô (do những sản phẩm chế biến này vào thời điểm đàm phán gia nhập WTO Việt Nam đang áp dụng mức thuế suất nhập khẩu cao); • Các loại nông sản thô (gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều…): mức thuế nhập khẩu những sản phẩm này giảm rất ít hoặc không giảm. • Về thời gian cắt giảm: Việt Nam cam kết cắt giảm dần các loại thuế nhập khẩu đối với nông sản trong thời gian từ 3-5 năm kể từ ngày gia nhập WTO (11/1/2007). Tức là việc cắt giảm sẽ phải hoàn thành vào 2009-2012 tùy theo sản phẩm. Mức giảm thuế sẽ được chia đều cho mỗi năm trong lộ trình cắt giảm. Bảng 1 - Cơ cấu cam kết về thuế đối với các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam Cơ cấu Số dòng thuế Các sản phẩm chính Tổng số dòng thuế nông sản Số dòng giảm so với MFN 1.185 500 Thịt trâu bò, thịt lợn, rau, quả, hoa, toàn bộ nông sản chế biến… Số dòng giữ nguyên 535 Động vật sống, giống cây trồng, gạo, chè, dầu TV nguyên liệu, lông, da động vật, kén tằm, lanh, gai… Số dòng tăng so với MFN 150 Chủ yếu là thuế ngoài hạn ngạch của các mặt hàng: đường ăn, trứng gia cầm, lá thuốc lá (NHN), thịt gia cầm, thuốc lá, xì gà… Bảng 1.1 – Biểu cam kết thuế nhập khẩu về một số cây công nghiệp Mã số HS Sản phẩm TS hiện hành (2007) 1 - Mía đường Đường thô 30 Đường 40 tinh luyện 2 - Lạc Lạc vỏ để 0 làm giống Lạc vỏ 10 khác Lạc nhân 10 3 - Đậu tương Đậu tương 0 giống Đậu tương 5 khác Cam kết WTO TS TS Năm ban cuối thực đầu cùng hiện AFTA 2006 2010 ACFTA 2008 2010 AKFTA 2008 2010 1701 1701 30 40 5 5 1202 1202 1202 1201 1201 0 10 10 0 5 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 10 10 0 10 0 10 10 0 10 0 10 10 0 5 0 8 8 0 5 52 5201 5202 0901 0901 2101 0904 0902 0801 0801 4001 4 - Bông Bông xơ chưa chải thô hoặc chưa trải kỹ Phế liệu bông 5 - Cà phê Cà phê nhân Cà phê đã rang, xay Cà phê hoà tan Hồ tiêu các loại (hạt, đã xay, nghiền…) 6- Chè các loại 7 - Hạt điều Hạt điều chưa bóc vỏ Hạt điều đã bóc vỏ 8- Cao su tự nhiên 0 0 0 0 0 0 0 0 10 20 40 50 30 20 20 40 50 30 15 30 40 20 2010 2011 2010 2010 0 5 5 5 0 0 5 5 5 0 10 15 30 30 20 10 15 30 30 20 10 15 35 35 25 8 15 25 25 20 40 40 5 5 30 30 35 25 5 40 3 30 40 5 25 2012 5 5 0 5 5 0 0 0 3 0 0 3 25 35 3 20 25 3  Cam kết thuế nông nghiệp: Mức cam kết thuế đối với hàng nông sản của mỗi nước thành viên WTO được quy định tại Biểu cam kết hàng nông sản của nước đó. Đối với Việt Nam, cam kết về thuế quan đối với hàng nông sản được nêu tại Biểu CLX Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam kết về hàng hoá - Thuế suất tối huệ quốc hàng nông sản trong Văn kiện gia nhập WTO của Việt nam. Bảng 2 - Ví dụ trích đoạn Biểu cam kết Nông nghiệp Mã hàng Mô tả hàng hóa TS kết gia (%) (1) 0201 (2) Thịt trâu, bò tươi hoặc ướp lạnh 0201 10 00 Thịt cả con hoặc 35 nửa con không đầu 0201 20 00 Thịt pha có 20 New Zealand Hoa Kỳ 0201 30 00 Thịt lọc không 20 xương 14 2012 Achentina, Australia , New Zealand , Hoa Kỳ, 0 30 2012 New Zealand 0 (3) (4) (5) (6) cam TS cam Thời hạn Quyền (năm) ban đầu Phụ nhập khẩu (%) (7) tại kết cắt thực hiện đàm phán thu nhập (%) thời điểm giảm xương khác Uruguay Cam kết thuế trong WTO của mỗi nước (đối với các sản phẩm nói chung và đối với nông sản nói riêng) là mức thuế tối đa mà nước đó có thể áp dụng đối với hàng nhập khẩu tương ứng. Các nước thành viên được khuyến khích áp dụng mức thuế thấp hơn mức cam kết. Vì vậy, các thuế suất nhập khẩu đối với nông sản trong Biểu cam kết thuế nông sản của Việt Nam là mức thuế suất nhập khẩu cao nhất mà Việt Nam được quyền áp dụng đối với từng loại nông sản nhập khẩu (không được áp thuế suất cao hơn mức đó). Còn Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng các thuế suất thấp hơn (giảm thuế nhiều hơn mức cam kết). Trên thực tế, các mức thuế suất hiện đang áp dụng đối với hàng nông sản nhập khẩu của Việt Nam thấp hơn so với mức cam kết. Nói cách khác, mức độ mở cửa thị trường nông sản trên thực tế của Việt Nam đã nhiều hơn mức cam kết Bảng 3: Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo một số nhóm mặt hàng nông sản chính TT Mặt hàng Thuế suất Cam kết với WTO MFN (%) Thuế khi suất Thuế suất Thời hạn gia cuối cùng thực hiện (%) 14 15 18 25 22 5 năm 5 năm 2 năm 5 năm 5 năm nhập (%) 1 2 3 4 5 - Thịt bò - Thịt lợn - Sữa nguyên liệu - Sữa thành phẩm - Thịt chế biến 20 30 20 30 50 20 30 20 30 40 6 - Bánh kẹo (t/s bình 39,3 quân) 34,4 25,3 3-5 năm 7 8 9 10 11 - Bia - Rượu - Thuốc lá điếu - Xì gà - Thức ăn gia súc 80 65 100 100 10 65 65 150 150 10 35 45-50 135 100 7 5 năm 5-6 năm 3 năm 5 năm 2 năm Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO của Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội Bảng 3a – Biểu cam kết về thuế nhập khẩu về một số loại rau quả Mã số HS Sản phẩm TS hiện hành (2007) Cam kết WTO TS TS Năm ban cuối TH đầu cùng AFTA 2006 2010 AC-FTA 2008 2010 ÂK-FTA 2008 2010 07 0701 0709 IRau quả tươi, sơ chế Rau các loại Các loại để làm giống (hạt, quả, củ, thân, cành…) Các loại rau tươi và ướp lạnh Rau tươi ăn lá (cải bắp, sup lơ, rau cải…) Rau tươi ăn quả (cà chua, dưa chuột, đậu rau…) Rau tươi ăn củ (khoai tây, cà rốt, củ cải…) Các loại gia vị (hành, tỏi…) Nấm tươi 0 0 0 0 0 0 0 0 30 20 0 0 0 0 15 15 30 20 0 0 0 0 15 15 30 20 0 0 0 0 15 15 30 0 0 0 0 15 15 30 30 25 15 20 2012 2010 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 15 25 15 15 20 10 0710 0711 Đậu hạt 30 Rau các 30 loại đã sơ chế (hấp chính, bảo quản tạm thời qua ngâm dấm, ngâm 2. Cam kết về các biện pháp phi thuế quan:  Các biện pháp phi thuế được phân chia thành các nhóm sau: a. Nhóm biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu: như cấm nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan (TRQ)... Cam kết về TRQ của Việt Nam quy định tại Biểu CLX – Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam kết về hàng hoá - Hạn ngạch thuế quan - Văn kiện gia nhập WTO của Việt nam. Theo cam kết này, Việt Nam được phép áp dụng TRQ với 4 nhóm (28 dòng thuế theo mã số HS 8 số, trong đó 21 dòng là nông sản và 7 dòng phi nông sản), bao gồm: • Đường ăn • Trứng gia cầm • Lá thuốc lá • Muối (phi nông sản, 7 dòng). Bảng 1: Tổng hợp tóm tắt cam kết TRQ của Việt Nam Stt 1 2 Mức hạn Mặt hàng ngạch ban đầu Trứng gia cầm 30.000 tá (trừ trứng giống) Đường Đường thô 55.000T Mức thuế (%) Trong hạn Ngoài hạn ngạch ngạch 40 80 Ghi chú Mức tăng hạn ngạch 5%/ năm. Mức tăng hạn ngạch 5%/ năm. Giảm thuế từ 30% (là thuế suất hiện hành) xuống 25% vào năm 2009. 25 85 3 4 Đường tinh 55.000T luyện Thuốc lá lá 31.000 T Muối Muối ăn Muối nghiệp 150.000 T công 150.000 T 60 (đường củ 85 cải 50%) 30 (cọng 80-90 thuốc lá là 15%). 30 15 60 50 Mức tăng hạn ngạch 5%/ năm. Mức tăng hạn ngạch 5%/ năm. b. Các biện pháp kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS): • Quy định của WTO: WTO cho phép áp dụng các biện pháp SPS ở mức cần thiết để bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật và môi trường. Không được áp dụng các biện pháp quá mức cần thiết nhằm ngăn cản thương mại, bảo hộ cho sản xuất trong nước. • Các nội dung chính của Hiệp định này là : khuyến khích các nước áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, khu vực; hài hoà hoá các thủ tục, quy định; trong trường hợp áp dụng cao hơn thì phải dựa trên cơ sở không phân biệt đối xử và có bằng chứng khoa học; Các nước thiết lập Văn phòng thông báo và điểm hỏi đáp quốc gia về SPS; Xây dựng kế hoạch hành động thực thi Hiệp định. Hiệp định quy định các nước kém phát triển nhất có thể hoãn việc thực hiện các điều khoản về nhập khẩu trong vòng 5 năm, các nước đang phát triển khác có thể hoãn thực hiện các điều khoản này, trừ phần liên quan tới đánh giá rủi ro và minh bạch hóa, đến cuối năm 1996. Hiệp định cũng quy định việc hỗ trợ kỹ thuật giữa các thành viên, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển để củng cố hệ thống an toàn thực phẩm, vệ sinh động thực vật. Hiệp định khuyến khích các nước có sự linh hoạt, nếu có thể, trong việc áp dụng các quy định vệ sinh dịch tễ có ảnh hưởng tới các sản phẩm thuộc lợi ích của các nước đang phát triển. Hiệp định cũng cho phép Uỷ ban, trong một số trường hợp cụ thể, đưa ra các ngoại lệ đặc biệt giới hạn về thời gian, đối với các nước đang phát triển trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình.  Danh mục nông sản thường có các quy định vệ sinh dịch tễ: • Rau quả tươi • Hoa quả và các loại thực phẩm khác • Thịt và sản phẩm thịt • Sản phẩm sữa • Các loại thực phẩm chế biến  Cam kết của Việt Nam: Nước ta cam kết sẽ thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của Hiệp định này ngay khi gia nhập. Với tư cách là nước đang phát triển, ta yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật để thực thi Hiệp định. c. Các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu đối với một số mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành nông nghiệp:  Theo cam kết đạt được trong WTO, Việt Nam được phép áp dụng một quy chế riêng về xuất nhập khẩu đối với một số sản phẩm vốn được xếp vào diện “quản lý chuyên ngành nông nghiệp” theo pháp luật Việt Nam, bao gồm: − Giống cây trồng, giống vật nuôi − Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và thức ăn chăn nuôi − Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; các nguyên liệu để sản xuất của chúng và các chế phẩm sinh học dùng trong lĩnh vực thú y và bảo vệ thực vật − Các loại phân bón và chế phẩm phân bón − Các loại gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên trong nước − Động thực vật hoang dã, quý hiếm − Nguồn gen cây trồng vật nuôi. Cụ thể, việc xuất nhập khẩu các sản phẩm này phải tuân thủ một số quy chế quản lý hành chính bổ sung (như tiêu chuẩn kỹ thuật/kiểm dịch; chế độ cấp phép nhập khẩu…). d. Biện pháp tự vệ (SG) và tự vệ đặc biệt (SSG) − Nước ta không được quyền áp dụng SSG cho mặt hàng nông sản nào vì đây là biện pháp quá độ hầu như chỉ dành cho các nước thành viên WTO trong vòng Urugoay. Trong trường hợp khẩn cấp, nước ta chỉ được quyền áp dụng biện pháp tự vệ. => Trong số các nhóm biện pháp phi thuế nêu trên, nhóm biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu thuộc diện bị quản lý chặt chẽ nhất, cụ thể là Việt Nam phải loại bỏ hoàn toàn các biện pháp hạn chế định lượng đối với nông sản trừ những biện pháp mà Việt Nam đạt được cam kết giữ lại. B. Chính sách nông nghiệp 1. Chính sách hỗ trợ trong nước Chính sách hỗ trợ trong nước là những hỗ trợ chung cho ngành, cho vùng hoặc cho sản phẩm không tính đến yếu tố xuất khẩu. Theo Hiệp định Nông nghiệp, trợ cấp trong nước đối với nông nghiệp được chia làm 03 nhóm với các cơ chế áp dụng khác nhau. Là thành viên WTO, Việt Nam sẽ phải tuân thủ các cơ chế này. Về cơ bản các loại trợ cấp này đều được phép thực hiện, nhưng theo các điều kiện và giới hạn cụ thể. Bảng 1 - Tóm tắt về các loại trợ cấp nội địa trong nông nghiệp Loại trợ cấp Trợ cấp “hộp xanh lá cây” Tính chất - Nội dung Phải là các trợ cấp: Cơ chế áp dụng Được phép áp dụng không bị hạn - Hầu như là không có tác động chế bóp méo thương mại - Không phải là hình thức trợ giá Trợ cấp “hộp xanh lơ” Hỗ trợ trực tiếp trong khuôn khổ Đây là các hình thức trợ cấp mà các chương trình hạn chế sản các nước phát triển đã áp dụng. Và xuất dường như chỉ những nước này được phép áp dụng nhưng có điều kiện. Trợ cấp “hộp hổ phách” Các loại trợ cấp nội địa không Được phép áp dụng trong mức thuộc hộp xanh lá cây và xanh lơ nhất định gọi là "Mức tối thiểu". (trợ cấp bóp méo thương mại) Phải cam kết cắt giảm cho phần vượt trên mức tối thiểu. Đây là sự ưu đãi đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển. Chỉ có các nước đang phát triển mới được quyền áp dụng biện pháp này mà không bị cấm Nhóm trợ cấp trong Ví dụ: chương trình “hỗ trợ - Trợ cấp đầu tư phát triển sản xuất” - Hỗ trợ “đầu vào” cho sản xuất nông nghiệp cho nông dân nghèo hoặc các vùng khó khăn - Hỗ trợ các vùng chuyển đổi cây thuốc phiện. => Chính sách hỗ trợ trong nước của ta hầu hết nằm trong các nhóm chính sách “Hộp xanh” và “Chương trình phát triển”. Nhóm chính sách “Hộp hổ phách” ở dưới mức tối thiểu. Do vậy, ta cam kết là sẽ thực hiện theo đúng quy định của WTO, nghĩa là: • Được tự do áp dụng các chính sách trong nhóm “hộp xanh”, “Chương trình phát triển”; • Đối với nhóm “Hộp hổ phách”, sẽ sử dụng ở mức tối thiểu (10% giá trị sản lượng nông nghiệp), ngoài ra, còn thêm 4.000 tỷ đồng trong tổng mức hỗ trợ tính gộp (AMS) nữa. 2. Trợ cấp xuất khẩu Theo quy định của WTO, do các chính sách trợ cấp xuất khẩu có tính bóp méo thương mại nhiều nhất nên WTO quy định chặt chẽ đối với nhóm này. Về nguyên tắc, WTO nghiêm cấm trợ cấp xuất khẩu. Nếu nước thành viên WTO có trợ cấp xuất khẩu thì phải cam kết cắt giảm.  Có 6 hình thức trợ cấp xuất khẩu: 1) Trợ cấp trực tiếp cho người sản xuất hàng xuất khẩu. 2) Bán thanh lý hàng nông sản dự trữ cho xuất khẩu với giá rẻ hơn. 3) Tài trợ các khoản chi trả cho xuất khẩu, kể cả phần được tài trợ từ nguồn thu thuế, các khoản được để lại. 4) Trợ cấp cho nông sản dựa theo tỷ lệ xuất khẩu 5) Trợ cấp để giảm chi phí tiếp thị, kể cả chi phí xử lý, nâng cấp, tái chế sản phẩm, chi phí vận tải quốc tế, cước phí vận chuyển. 6) Ưu đãi về cước phí vận tải trong nước và quốc tế đối với hàng xuất khẩu hơn hàng nội địa. Trong giai đoạn thực hiện, các nước đang phát triển được phép áp dụng 2 loại trợ cấp 5 và 6.  Cam kết của ta: • Nước ta đã cam kết bỏ trợ cấp xuất khẩu ngay khi gia nhập WTO; • Bảo lưu được quyền áp dụng điều khoản đối xử đặc biệt và khác biệt (S & D) dành cho các nước đang phát triển trong lĩnh vực này, nghĩa là là được phép áp dụng 2 loại trợ cấp nêu trên (được trợ cấp giảm chi phí tiếp thị và trợ cấp cước phí vận tải trong nước và quốc tế đối với hàng xuất khẩu) III. Những tác động đối với ngành nông nghiệp sau 4 năm Việt Nam gia nhập WTO 1. Tác động đến tăng trưởng ngành Tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp (SXNN) diễn ra với tỷ lệ từ 5% đến 6%/năm, giảm còn 3,5% vào năm 2009, tiếp đó tăng lên tới 4,7% năm 2010; tăng trưởng GDP của ngành thấp hơn và cũng thất thường, từ 3% đến 4%. Sự thay đổi về tốc độ tăng trưởng nông nghiệp trong 4 năm qua cho thấy, sau gia nhập WTO sản xuất nông nghiệp tăng giảm thất thường trong điều kiện những thay đổi trong nước theo các cam kết WTO chưa thật mạnh mẽ. Điều này phản ánh sự lệ thuộc mạnh của nông nghiệp Việt Nam vào thị trường thế giới trong điều kiện định hướng xuất khẩu sản phẩm nông sản đã mở rộng nhanh trong những năm vừa qua, đồng thời cho thấy tác động của gia nhập WTO đến nông nghiệp mang tính hai mặt, cả tích cực và tiêu cực. 2. Tác động đến xuất khẩu nông sản Giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã tăng khá mạnh trong 4 năm qua, đặc biệt ở những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, nhưng chủ yếu là các sản phẩm gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, rau quả... trong khi sản phẩm chăn nuôi hầu như chưa xuất khẩu. Điều này phản ánh tác động thuận hay nghịch của gia nhập WTO phụ thuộc rất nhiều vào chính năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp. Chẳng hạn, giá trị xuất khẩu gạo năm 2009 (đạt gần 2,7 tỉ USD) đã tăng gấp đôi so với năm 2007, trong khi khối lượng xuất khẩu tăng gần 22%, năm 2010 còn đạt cao hơn là 3,2 tỉ USD. Kết quả này khẳng định gia nhập WTO đã tác động tích cực tới xuất khẩu gạo, cơ bản do giá gạo trên thị trường quốc tế tăng mạnh từ cuối năm 2007 và đầu năm 2008 và xuất khẩu gạo của Việt Nam đã tận dụng được cơ hội này. Còn xuất khẩu cà phê trong các năm 2006, 2007 và 2008 không thay đổi nhiều về giá trị và khối lượng, phản ánh việc gia nhập WTO đã ảnh hưởng không nhiều đến xuất khẩu sản phẩm này. Với thế mạnh của mình, sản phẩm cà phê vẫn trụ vững trên thị trường, nhưng không tăng hơn nữa cả về khối lượng và giá trị như lúa gạo. Tương tự, việc thực hiện các cam kết về giảm thuế nhập khẩu và tự do hóa thị trường cao su đã không ảnh hưởng xấu tới sản xuất và xuất khẩu cao su nguyên liệu của Việt Nam. 3. Tác động đến hoạt động sản xuất trong nước a Đối với hoạt động trồng trọt: Về diện tích, trong 4 năm qua diện tích các loại cây trồng có định hướng xuất khẩu hoặc phục vụ nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng trong nước đều tăng lên, như rau, quả, cây công nghiệp ngắn ngày tăng khoảng 2% - 4%/năm; cây công nghiệp lâu năm tăng 80 nghìn héc-ta trong 2 năm 2008 - 2009. Hình thành rõ rệt hơn các vùng sản xuất tập trung phù hợp với yêu cầu sinh học của các loại cây ăn quả như vải, bưởi, sầu riêng, na, xoài, thanh long... và đã bước đầu ứng dụng công nghệ tiên tiến, thực hiện Việt GAP và global GAP... Về sản lượng, trong 4 năm qua, sản lượng các loại cây trồng có thị trường tiêu thụ tốt như cà phê, cao su, chè, điều đã tăng nhanh. Những cây trồng có định hướng phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến nông sản thay thế nhập khẩu không tăng, thậm chí giảm. Đó là mía đường, bông thuộc, cây thức ăn cho gia súc... Những cây trồng này đã bị giảm cả về diện tích và sản lượng trong điều kiện Nhà nước đã duy trì các chính sách hỗ trợ mạnh. b Đối với chăn nuôi: Nhóm sản phẩm chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn do dịch bệnh, điều kiện thời tiết những năm qua và giá thức ăn chăn nuôi tăng cao... Vì vậy, tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị SXNN chỉ tăng từ 24,5% (năm 2006) lên 30% (năm 2009); số đầu gia súc không tăng, gia cầm tăng, các sản phẩm trứng, sữa tăng nhẹ. c Đối với hoạt động dịch vụ nông nghiệp: Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động này là không đáng kể và bản thân hoạt động này có quy mô rất nhỏ, chưa tận dụng được những lợi thế từ việc gia nhập WTO. Có thể nói rằng, hoạt động dịch vụ nông nghiệp đã và đang là điểm hạn chế của ngành nông nghiệp Việt Nam những năm qua, chưa thể hiện vai trò tích cực đối với trồng trọt và chăn nuôi, chưa góp phần tích cực vào quá trình nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, mặc dù gia nhập WTO đã tạo ra những cơ hội lớn để gia tăng hoạt động dịch vụ trong toàn nền kinh tế. 4. Tác động mở rộng thị trường sản phẩm nông nghiệp a. Mở rộng thị trường xuất khẩu: Sau 4 năm gia nhập WTO ngành nông nghiệp Việt Nam đã mở rộng xuất khẩu, với kim ngạch xuất khẩu tăng 24%/năm, đạt 16.475 triệu USD vào năm 2008. Nhiều mặt hàng nông sản đã gia tăng thị phần và chiếm vị thế cao như hạt điều, hạt tiêu chiếm vị trí thứ nhất; lúa gạo, cà phê đứng thứ hai; cao su đứng thứ tư; chè đứng thứ năm và thủy sản đứng thứ bảy trong nhóm các nước xuất khẩu những sản phẩm này. Năm 2009, đã có 5 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD là gạo, cà phê, cao su, thủy sản, đồ gỗ (trong khi, năm 2005 chỉ có 3 mặt hàng là gạo, thủy sản và đồ gỗ).Cán cân xuất nhập khẩu nông nghiệp những năm qua là dương, trong khi cán cân xuất nhập khẩu của toàn nền kinh tế là âm. Sản phẩm nông sản xuất khẩu không ngừng mở rộng về thị trường và chủng loại. b. Mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước: Thị trường nông sản nội địa đã và đang được mở rộng giữa các vùng, miền cả về số lượng, chủng loại và mẫu mã. Các doanh nghiệp thương mại nỗ lực đưa hàng hóa nông sản chế biến về tiêu thụ tại vùng nông thôn để kích cầu tiêu dùng và chiếm lĩnh thị trường nông thôn trong nước trước khi các công ty nước ngoài mở rộng hoạt động về nông thôn. Những thay đổi về diện tích, sản lượng và giá trị nông nghiệp trong 4 năm qua phản ánh tác động của gia nhập WTO về cơ bản là tích cực, tạo cơ sở thực tiễn cho việc định hình một cơ cấu SXNN phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, phát huy cao nhất lợi thế tự nhiên của các vùng sinh thái, trên cơ sở đó có thể thiết kế các chính sách phát triển nông nghiệp phù hợp theo ngành sản phẩm và theo vùng sản xuất. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng cơ cấu SXNN hiện nay chưa ổn định, bộc lộ nhiều hạn chế. IV. Những hạn chế cơ bản của sản xuất nông nghiệp hiện nay 1. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp bất hợp lý: Cơ cấu sản phẩm nông nghiệp chưa phù hợp với nhu cầu thị trường và với khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên đất và nước cho sản xuất. Tính phân tán cao. Năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi còn thấp. 2. Chưa hình thành được các chuỗi giá trị nông sản mạnh và bền vững: Các yếu tố khách quan và chủ quan đối với việc tạo dựng và phát triển chuỗi giá trị nông sản hàng hóa còn rất sơ khai, chưa hình thành đầy đủ; phổ biến tình trạng thiếu cơ chế liên kết hữu cơ giữa SXNN với chế biến, đóng gói và tiêu thụ các loại nông sản; chính sách khuyến khích sản xuất và tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng theo quy định tại Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24-6-2002 của Thủ tướng Chính phủ chưa đủ mạnh để tạo ra những liên kết chặt chẽ giữa nông dân với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh doanh nông nghiệp. Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất trong nước chưa tạo động lực đủ mạnh để khắc phục tình trạng yếu kém của SXNN hiện nay. Cụ thể: Chính sách đất nông nghiệp chưa hướng tới củng cố các vùng SXNN tập trung, chưa thúc đẩy tạo ra các đơn vị sản xuất quy mô lớn. Chính sách hỗ trợ về thuế, cước vận chuyển, các loại phí chưa được áp dụng đầy đủ và chưa hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Chính sách tín dụng ưu đãi về mức vốn vay, điều kiện cho vay, thời gian vay chưa linh hoạt để hỗ trợ đắc lực cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Chính sách đầu tư cũng chưa đủ lớn để tạo ra kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển SXNN hàng hóa quy mô lớn, nhất là kết cấu hạ tầng ở các vùng sản xuất tập trung cây công nghiệp, cây ăn quả, các vùng chăn nuôi đại gia súc. Chính sách phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp chậm triển khai, bị coi nhẹ làm cho nguồn nhân lực nông nghiệp không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hiện đại, có tính hợp tác và tuân thủ nghiêm túc các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm theo các cam kết của WTO. Chính sách khoa học và công nghệ nông nghiệp chưa đủ tầm tác động nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Nhiều ngành sản phẩm nông nghiệp như chè, dâu tằm, rau, quả, chăn nuôi gia cầm, lợn thiếu công nghệ có sức cạnh tranh về giống, quy trình canh tác, thu hoạch... làm hạn chế việc nâng cao giá trị gia tăng. 3. Những yếu kém khác: Ngành công nghiệp chưa hướng vào phục vụ các nhu cầu về máy móc, trang thiết bị phù hợp, có năng suất lao động cao trong nông nghiệp. Phần lớn trang thiết bị sau thu hoạch, chế biến nông sản phải nhập khẩu với giá cao và không có dịch vụ hướng dẫn sử dụng, bảo hành, gây nhiều khó khăn cho người SXNN. Chưa hình thành hệ thống kiểm soát chất lượng nông sản và vật tư nông nghiệp để tạo ra thị trường nông sản và vật tư nông nghiệp lành mạnh. Tình trạng tồn đọng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kháng sinh cấm sử dụng trong nông sản hàng hóa và tình trạng vật tư nông nghiệp có hại, không có hướng dẫn sử dụng được nhập khẩu tự do đang tồn tại phổ biến, gây ra nhiều khó khăn, bức xúc đối với cả người SXNN và người tiêu dùng về tình trạng hàng giả, hàng kém phẩm chất, không bảo đảm yêu cầu về chất lượng và an toàn cho sức khỏe. 4. Những biến động bất lợi trên thị trường thế giới đối với nông nghiệp Việt Nam: Tình hình kinh tế thế giới hiện nay không ổn định và những nguy cơ khủng hoảng, suy thoái chưa bị loại trừ triệt để sẽ tiếp tục gây ra những biến động bất lợi cho sản xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Với mức độ mở cửa cao của SXNN Việt Nam, bất kỳ biến động nào trên thị trường thế giới đều có thể ảnh hưởng nhanh và trực tiếp đến các hoạt động SXNN, nhất là các ngành có sản phẩm xuất khẩu. Xu hướng bảo hộ và thắt chặt các hàng rào phi thuế quan ở các nước nhập khẩu, như: chống bán phá giá, xây dựng hàng rào kỹ thuật ngày càng cao và tinh vi tại các thị trường có sức mua lớn cũng sẽ tiếp tục tác động mạnh đối với sản xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Giá nhiên liệu, vật tư "đầu vào" biến động theo hướng tăng mạnh sẽ tiếp tục gây tổn thất đối với SXNN vốn đã chịu rủi ro cao về thiên tai, dịch bệnh và lợi nhuận thấp. Việc gia nhập WTO trong điều kiện các yếu tố cơ bản của sản xuất trong nước như tài nguyên, nhân lực và vốn liếng còn rất phân tán và chưa được chuẩn bị kỹ càng đã và sẽ tiếp tục đặt ra những thách thức to lớn hơn đối với nông nghiệp trong những năm tới. Đặc biệt, rất cần sự chuẩn bị cùng hợp tác, cố kết giữa nông dân với các doanh nghiệp và tổ chức kinh doanh nông nghiệp để cùng nhau vượt qua thách thức ngày càng lớn hơn trong hội nhập sâu rộng hơn, bởi vì, chính sách hỗ trợ của Chính phủ không thể giải quyết hết được những vấn đề của sản xuất nhỏ, phân tán trong nông nghiệp. Thách thức đối với nông nghiệp: Về tổng quát, trong nền kinh tế hiện đại, tầm quan trọng của lợi thế cạnh tranh truyền thống như tài nguyên thiên nhiên, chi phí lao động rẻ đang giảm sút, thay vào đó là tri thức, công nghệ và kỹ năng lao động giỏi trở thành yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh thị trường hàng hóa. Tiếp cận theo hướng đó cho thấy các yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh trị trường hàng hóa, trong đó có hàng hóa nông sản thì sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nhìn chung còn rất yếu và nhiều điểm đáng lo ngại. Quy hoạch trong sản xuất nông nghiệp đã làm nhiều năm, có một số kết quả, song quy hoạch sản xuất vẫn chưa thực sự gắn với chế biến, chưa gắn với thị trường. Quy hoạch chung làm chậm chạp, quy hoạch cụ thể rất thấp, còn nhiều mâu thuẫn. Sự chệch choạc trong quy hoạch giữa sản xuất và chế biến nông sản hàng hóa đã làm cho tự phát gia tăng, khủng hoảng thừa, thiếu diễn ra liên tục. Thực hiện việc chuyển nông nghiệp sang nền nông nghiệp hàng hóa vẫn còn rất chậm chạp, kinh tế nông thôn còn nặng về thuần nông. Trong nông nghiệp, còn nặng về trồng trọt. Sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân tán manh mún, mang nhiều yếu tố tự phát, các tỉnh miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa còn mang nặng tính tự cấp tự túc. Ngoài một số ít cây trồng đã hình thành được vùng chuyên canh theo quy hoạch còn lại các cây trồng khác đang trong quá trình xây dựng vùng chuyên canh, ít về số lượng, nhỏ bé về quy mô và chưa ổn định. Chăn nuôi gia súc phát triển vẫn dựa trên cơ sở các vùng truyền thống là chủ yếu. a Thách thức đối với nông dân: Kinh tế hộ nông dân phần lớn còn rất nhỏ bé. Hiện có trên 13,0 triệu hộ ở nông thôn trong đó hơn 12 triệu hộ làm nông nghiệp. Bình quân mỗi hộ có 2,5 lao động; 0,7 hecta đất nông nghiệp và có tới 70 triệu thửa đất nhỏ manh mún. Sản xuất của các hộ phần lớn có quy mô kinh doanh nhỏ, phân tán, đang là trở ngại lớn đối với sản xuất hàng hóa. Kinh tế hộ nông dân không những còn rất nhỏ bé, phát triển sản xuất gần như tự phát, không ít sản phẩm cung - cầu không cân đối, hậu quả là được mùa, mất giá, sản phẩm dư thừa không tiêu thụ được hết, thua thiệt lại thuộc về nông dân gánh chịu. Một bộ phận hộ nông dân đã phát triển trang trại, đến năm 2002 cả nước đã có 60.758 trang trại, trong đó 80,5% là nông dân, song sản xuất cũng gần như tự phát, thị trường không ổn định, 90% sản phẩm bán ở dạng thô, 60% sản phẩm chỉ bán được giá thấp. Trong sản xuất hàng hóa nông sản theo cơ chế thị trường và xúc tiến thương mại, thì thông tin về thị trường, giá cả là rất quan trọng. Tuy nhiên hiện nay, thông tin đến với nông dân còn quá ít và không kịp thời. Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2001-2002 thì chỉ có khoảng 25% nông dân tiếp cận được các thông tin thị trường thông qua báo chí và qua các phiên chợ, còn 75% nông dân không hề biết gì. Khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển chậm. Hiểu biết khoa học kỹ thuật và quy trình sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường của nông dân còn nhiều bất cập, chẳng hạn gieo sạ lúa quá dầy, bón quá nhiều phân hoá học, đặc biệt đáng lưu ý là tình trạng dùng thuốc bảo vệ thực vật với số lượng lớn và rất tuỳ tiện. Do vậy, cùng với các loại kháng sinh khác cũng cao nên ảnh hưởng đến chất lượng xuất khẩu, khó đảm bảo chữ tín trong thương mại. Lao động nông thôn phổ biến là thủ công đã qua đào tạo chưa được 10%, làm theo kinh nghiệm truyền thống, thiếu việc làm trầm trọng, thu nhập thấp nên đời sống của các hộ chưa được cải thiện nhiều. Tiền vốn để hộ nông dân phát triển sản xuất còn rất thiếu, nhất là vốn để thâm canh và mở rộng qui mô sản xuất, thực trạng này ít nhất có 50% số hộ nông dân đang thiếu vốn. Lao động nông thôn dôi dư dồn hết vào sản xuất nông nghiệp, trong khi các ngành nghề phi nông nghiệp thu hút lao động từ nông nghiệp còn rất thấp. b Thách thức đối với công nghiệp chế biến nông sản: Hiện nay Việt Nam có hơn 600 ngàn cơ sở chế biến nông - lâm - thủy sản, giá trị đạt khá so với tổng giá trị toàn ngành công nghiệp. Nông sản hàng hóa qua khâu chế biến đã đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Không ít mặt hàng nông sản qua chế biến được thị trường nước ngoài chấp thuận. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, nhất là khi Việt Nam tham gia WTO thì nông sản hàng hóa, đặc biệt là hàng nông sản chế biến phải đương đầu với những thách thức gay gắt và cạnh tranh quyết liệt, thể hiện như sau: Mở cửa thị trường trong nước bao gồm đưa ra mức thuế trần ràng buộc đối với tất cả các mặt hàng nông sản, bãi bỏ tất cả các biện pháp phi thuế quan; Đối với trợ cấp xuất khẩu: liệt kê tất cả các biện pháp trợ cấp xuất khẩu cam kết cắt giảm và tiến tới bãi bỏ các loại trợ cấp xuất khẩu trực tiếp; Đối với hỗ trợ trong nước khi đã là thành viên của WTO, các chính sách hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ đối với nhiều mặt hàng nông sản thực phẩm sẽ bị khống chế và cắt giảm dần. Ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức gay gắt, nhiều doanh nghiệp và nông dân buộc phải cạnh tranh quyết liệt với hàng nhập khẩu chất lượng cao, giá rẻ của nước ngoài. Một số ngành hàng mà khả năng cạnh tranh hạn chế sẽ bị thu hẹp sản xuất trong nước. Một số xí nghiệp, nhà máy chế biến bị thua lỗ triền miên, có thể phải đóng cửa, một số sản phẩm của nông dân có thể phải thu hẹp. Trên thương trường thế giới, Việt Nam còn rất yếu trong việc nắm bắt nhanh nhạy thông tin thị trường giá cả và luật lệ buôn bán của nhiều nước. Theo Phòng Thương mại Việt Nam quá trình gia nhập WTO thì 31% doanh nghiệp chưa hề biết thông tin, 45% không có kế hoạch chuẩn bị cho việc thực hiện gia nhập WTO, Hơn 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ đều thiếu kinh nghiệm về thương mại quốc tế và xa lạ với tập quán kinh doanh, hệ thống pháp lý trong buôn bán của các nước. Tỷ lệ nông sản chế biến so với tổng sản lượng còn rất thấp, như mía đường 68%, chè 35%, rau quả 5%, thịt 1%. Các cơ sở chế biến, đa phần sử dụng công nghệ lạc hậu cách đây khoảng 20 năm nên năng suất chất lượng và hiệu quả thấp. Rất nhiều nông sản chế biến của Việt Nam vệ sinh an toàn nông sản, thực phẩm chưa đảm bảo, dư lượng hóa chất, thuốc trừ sâu và các độc tố kháng sinh còn cao nên ảnh hưởng đến chất lượng trong khi WTO quy định cho phép các nước mua hàng sẽ lấy mẫu để kiểm tra trước khi nhập khẩu. Những quy định này sẽ đánh mạnh vào điểm yếu của Việt Nam. Trong cạnh tranh tương đối về phân công lao động trên thế giới, nếu không tự nhanh chóng vươn lên thì Việt Nam trở thành nước chỉ sản xuất và cung cấp các sản phẩm thô, tiêu tốn nhiều tài nguyên, sức lao động, gây ô nhiễm môi trường nhưng giá trị gia tăng và lợi nhuận thấp. Hậu quả sẽ là thu nhập của người dân, nhất là nông dân đạt thấp, cải thiện không đáng kể, và như vậy kinh tế Việt Nam sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu, khó đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. VI. Định hướng điều chỉnh chính sách nông nghiệp của Việt Nam: 1. Nguyên tắc chung về điểu chỉnh chính sách NN: • • Phù hợp với WTO, tận dụng tối đa S&D dành cho các nước ĐPT. Phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, nhất là về tài chính • Không tạo sự ỷ lại, trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước • Tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế 2. Các định hướng cụ thể: Từ các diễn biến và xu hướng của thương mại quốc tế thế giới, có thể đưa ra một vài định hướng chính sách phù hợp cho Việt Nam như sau: a. Thuế: Phân loại khả năng cạnh tranh của từng ngành hàng, XD chính sách hỗ trợ và bảo hộ hợp lý. b. Phi thuế: Tiếp tục đơn giản hoá các thủ tục quản lý XNK đối với các mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành Nông nghiệp. Đồng thời, củng cố, tăng cường năng lực bộ máy quản lý chuyên ngành SPS nhằm đảm bảo các sản phẩm nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn và vệ sinh an toàn thực phẩm. • Xây dựng một số công cụ quản lý mới: TRQ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, cơ chế tự vệ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà sản xuất trong nước. • • Tăng cường bộ máy và năng lực theo dõi tình hình nhập khẩu nông sản. Nhằm có khả năng đưa ra các cảnh báo sớm nếu có tình trạng nhập khẩu tràn lan làm ảnh hưởng đến sản xuất trong nước để có thể áp dụng biện pháp tự vệ. c. Hỗ trợ trong nước: Rà soát chính sách trong nước; Khuyến nghị Chính phủ tăng cường hỗ trợ cho nông nghiệp qua các nhóm chính sách hộp xanh, chương trình PT; sử dụng hợp lý nhóm hộp đỏ trong trường hợp cần thiết. • Về tư duy xây dựng chính sách: Theo đuổi chính sách hỗ trợ để nâng cao sức cạnh tranh ngành hàng, tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế hơn là chính sách bảo hộ. Chúng ta phải cắt giảm các nguồn trợ cấp cho xuất khẩu và nông nghiệp khi gia nhập WTO. Trong khi nền nông nghiệp với lối canh tác manh mún, lạc hậu, chưa hình thành nền sản xuất hàng hóa vẫn cần rất cần sự giúp đỡ, do đó, chính phủ có thể hỗ trợ nông dân thông qua các chương trình không gây bóp méo thương mại và không mang tính chất trợ giá như đào tạo nghề, khuyến nông, thu hẹp sản xuất nông nghiệp bằng cách mở rộng công nghiệp, dịch vụ và thông tin thị trường. • Thứ nhất: Đẩy mạnh phát triển theo hướng chuyên canh tập trung, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trên một đơn vị diện tích canh tác đối với cây ăn trái đặc sản, cây mía và cây lúa; Phát triển mạnh diện tích trồng mới vườn dừa bằng những giống chất lượng cao, nhân rộng hình thức trồng xen, nuôi xen trong vườn dừa; Ứng dụng công nghệ sinh học vào chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Tổ chức lại sản xuất nhằm tạo ra lượng lớn hàng hóa chất lượng đồng đều đáp ứng yêu cầu thị trường. • • Thứ hai: Tăng cường đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu nông sản đã qua chế biến. Thứ ba: Phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững với quy mô trang trại, quản lý giết mổ tập trung, đảm bảo an toàn môi trường, an toàn dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm. • Thứ tư: phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản đa dạng theo quy hoạch, phát huy lợi thế từng vùng gắn với thị trường xuất khẩu; Thu hút đầu tư sản xuất giống, đáp ứng nhu cầu giống chất lượng cao phục vụ nuôi thủy sản thâm canh của tỉnh; Phát triển mạnh hình thức quản lý cộng đồng trong nuôi thủy sản. Đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ, giảm cường lực khai thác ven bờ nhằm gia tăng hiệu quả đánh bắt, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đảm bảo an ninh, trật tự trên biển. • Thứ năm: Tăng cường quản lý, bảo vệ diện tích rừng hiện có, thực hiện trồng mới, khoanh nuôi tái sinh theo quy hoạch; Kết hợp phát triển lâm nghiệp với nông - ngư nghiệp và ngành nghề nông thôn, góp phần phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế tác động biến đổi khí hậu. • Thứ sáu: Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi đồng bộ, đảm bảo ngăn mặn, giữ ngọt, chủ động tưới tiêu cho vùng sản xuất lúa, vườn cây ăn trái, vùng nuôi thủy sản và phục vụ sinh hoạt cho nhân dân. • Thứ bảy: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, nâng cao đời sống vật chất tinh thần dân cư nông thôn, xã hội nông thôn ổn định. • Thứ tám: Phát triển mạnh kinh tế lâm nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hóa gắn liền với phát triển các trang trại phù hợp với tiểu vùng sinh thái và với công nghệ sinh học, đa dạng hóa sản phẩm, áp dụng công nghệ cao, chuyển đổi và sử dụng có hiệu quả lao động nông thôn, đồng thời giữ gìn và bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững. • Thứ chín: Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa. Phát triển hài hòa giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản và dịch vụ. Khai thác tiềm năng, điều kiện sinh thái của mỗi vùng, hình thành các vùng sản xuất tập trung cao sản, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tăng sản lượng hàng hóa, xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỉ trọng trồng trọt; phát triển ngành nghề nông thôn để chuyển một số lao động nông nghiệp sang các ngành sản xuất phi nông nghiệp. • Thứ mười: Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo bước chuyển biến về chất trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn. Nâng cao trình độ công nghệ, ứng dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất và chế biến nông sản, tăng giá trị thu nhập và hiệu quả trên một ha đất nông nghiệp. Đầu tư hình thành và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch. Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trong khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tận dụng các ao hồ, mặt nước để phát triển thủy sản. • Thứ mười một: Gắn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp với công nghiệp chế biến, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Mở rộng các loại hình dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn. d. Trợ cấp XK: • Mức trợ cấp xuất khẩu của nước ta rất nhỏ. Việt Nam đã cam kết loại bỏ trợ cấp xuất khẩu ngay khi gia nhập WTO. Trong khuôn khổ Hiệp định Nông nghiệp của WTO, Việt Nam đang bảo lưu hai hình thức trợ cấp xuất khẩu WTO cho phép các nước đang phát triển được áp dụng là: (i) trợ cấp để giảm chi phí tiếp thị, kể cả chi phí xử lý, nâng cấp, tái chế sản phẩm, chi phí vận tải quốc tế, cước phí vận chuyển và (ii) ưu đãi về cước phí vận tải trong nước và quốc tế đối với hàng xuất khẩu hơn hàng nội địa. Những hình thức trợ cấp cho doanh nghiệp thông qua các chương trình xúc tiến thương mại, tạo điều kiện doanh nghiệp đi tìm hiểu thị trường nước ngoài, quảng bá thương hiệu và sản phẩm nông sản ở thị trường nước ngoài và trợ cước cho các doanh nghiệp xuất khẩu là những biện pháp có thể sử dụng sau khi Việt Nam gia nhập WTO. • Hỗ trợ các hoạt động Xúc tiến thương mại để đẩy mạnh xuất khẩu. Tạo thuận lợi cho hoạt động XK (thủ tục, chi phí, kho bãi v.v… ). TÀI LIỆU THAM KHẢO http://trungtamwto.vn/wto/van-kien/hiep-dinh-nong-nghiep (Hiệp định nông nghiệp) http://wto.nciec.gov.vn/Lists/VietnamCommitmentsConcepts/DispForm.aspx?ID=4 (Cam kết WTO về nông nghiệp) Chu Tiến Quang_TS, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương. Viết ngày 25/10/2011 trên Tạp trí cộng sản ( Tác động đến nông nghiệp và hạn chế nông nghiệp) Bài viết của ông Nguyễn Đức Triều, Chủ tịch Hội Nông dân Việt nam. ( Thách thức đối với nông nghiệp) http://www.nguoitayninh.net/news/2711-271F/2761/nhung-cam-ket-wto-cua-viet-namve-nong-nghiep.html (Định hướng điều chỉnh chính sách nông nghiệp của Việt Nam) DANH SÁCH NHÓM KINH TẾ QUỐC TẾ NÂNG CAO STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Họ và tên Thẩm Thị Yến Nhi Đào Thanh Trúc Lê Thị Kim Cương Trần Thị Thùy Trinh Vũ Thùy Như Trang Trần Thị Kim Thơ Phạm Vũ Phương Thảo Lê Mạnh Cường Trịnh Doanh Thiên Nguyễn Thị Hằng Nguyệt Nga Huỳnh Đức Trí Lê Văn Khánh Võ Lê Thái Vũ Mạnh Bản Nguyễn Lương Thanh Phố Tuyết MSSV 0954020093 0954022167 0954022021 0954020162 0954022153 0954020133 0954022122 0954022022 0954022127 0954020081 0986263186 0954020053 0954022118 0954022098