1 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

MỤC LỤC PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU ---------------------------------------------------------------------------- 2 PHẦN II: NỘI DUNG------------------------------------------------------------------------------- 3 I. Lịch sử hình thành – Quá trình hình thành ------------------------------------------------- 3 1. Lịch sử hình thành --------------------------------------------------------------------------- 3 2. Quá trình hình thành và phát triển --------------------------------------------------------- 6 3. Tôn chỉ hoạt động -------------------------------------- Error! Bookmark not defined. II. Các nguyên tắc cơ bản – Các nội dung cơ bản ------- Error! Bookmark not defined. 1.Các nguyên tắc cơ bản --------------------------------- Error! Bookmark not defined. 2.Nội dung cở bản của WB ------------------------------ Error! Bookmark not defined. 3.Hoạt động của WB ------------------------------------------------------------------------- 13 III. Việt Nam và Ngân hàng thế giới - WB -------------------------------------------------- 19 1.Việt Nam gia nhập WB -------------------------------------------------------------------- 19 2.Các hoạt động chủ yếu của WB tại Việt Nam ------------------------------------------ 19 IV. Thuận lợi và khó khăn của Việt Nam – Doanh nghiệp Việt Nam ------------------- 24 1. Thuận lợi của Việt Nam khi tham gia vào WB ---------------------------------------- 24 2.Khó khăn của Việt Nam khi tham gia vào WB ----------------------------------------- 26 PHẦN III: KẾT LUẬN --------------------------------------------------------------------------- 30

2 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tổ chức tài chính - tín dụng. Các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế ra đời là một yêu cầu khách quan trên cơ sở quan hệ ngoại thương và thanh toán quốc tế; không chỉ là yêu cầu khách quan về mặt kinh tế mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển các mối quan hệ về chính trị, ngoại giao và các quan hệ khác giữa các nước. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế Thế giới bị tàn phá hết sức nặng nề, đặc biệt là ở các nước tham chiến Châu Âu. Trước sự kiệt quệ đó, nhằm khôi phục, vực dậy nền kinh tế Châu âu và tạo ảnh hưởng về nhiều mặt tại đây Hoa Kỳ đã đề xuất một giải pháp lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Theo đó, các quốc gia trên thế giới mà chủ yếu là Hoa Kỳ sẽ viện trợ về kinh tế cho các quốc gia Châu âu thông qua một Tổ chức tài chính – tiền tệ được gọi là Ngân hàng tái thiết và phát triển thế giới IBRD (hay còn được gọi là Ngân hàng thế giới). Với tiềm năng tài chính của mình, Ngân hàng thế giới đã không ngừng lớn mạnh và phát huy tầm ảnh hưởng không chỉ về mặt kinh tế mà còn can thiệp tới nhiều mặt chính trị, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Có thể nói, sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thế giới đã trở thành một sự cứu cánh cho không chỉ các quốc gia tư bản phát triển ở Âu châu, mà nó còn là một liều thuốc hữu hiệu cho nền kinh tế của các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Xác định được tầm quan trọng trong việc tận dụng và phát huy ngoại lực đối với việc phát triển kinh tế, nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn đề tài: Tìm hiểu về Ngân hàng thế giới. Với mục đích làm cho sinh viên kinh tế hiểu biết một cách sâu rộng hơn về Tổ chức tài chính - tiền tệ lớn nhất hành tinh này, với mục tiêu đẩy mạnh hơn nữa thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc phát triển kinh tế nước nhà.

3 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Phần II: NỘI DUNG I. Lịch sử hình thành – Quá trình hình thành và phát triển 1. Lịch sử hình thành: Ngân hàng Thế giới là một tổ chức tài chính quốc tế cung cấp các khoản vay trong các chương trình vốn cho các nước đang phát triển. Mục tiêu chính thức của Ngân hàng Thế giới là xoá đói giảm nghèo. Tất cả các quyết định của WB phải được hướng dẫn bởi một cam kết nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài , tự do thương mại quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông vốn đầu tư.

Ngân hàng Thế giới logo Lord Keynesvà Harry Dexter White, "người cha sáng lập của Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ IMF” Loại Địa vị pháp lý Trụ sở Thành viên Tổ chức quốc tế Hiệp ước Washington, DC, Hoa Kỳ 187 quốc gia (IBRD) 170 quốc gia (IDA) Mục đích Chủ tịch Tín dụng Robert Zoellick (chủ tịch hiện nay) Jim Yong Kim (được bầu vào ngày 16 tháng 4 năm

4 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Cơ quan chính Cơ cấu tổ chức Website  5 tổ chức thành viên:

2012, và nhậm chức vào ngày 01 Tháng Bảy 2012) Ban Giám đốc Tập đoàn Ngân hàng Thế giới worldbank.org

The World Bank Group consists of five organizations: The International Bank for Reconstruction and Development (IBRD)lends to governments of middle-income and creditworthy low-income countries (Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển(IBRD) cho vay tín dụng đối với chính phủ các nước có thu nhập trung bình và thu nhập thấp). The International Development Association (IDA) provides interest-free loans—called credits— and grants to governments of the poorest countries.(Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) cung cấp các khoản vay lãi được gọi là tín dụng và tài trợ cho chính phủ của các nước nghèo nhất)

The International Finance Corporation(IFC) provides loans, equity and technical assistance to stimulate private sector investment in developing countries.(Tổng công ty Tài chính Quốc tế (IFC) cung cấp các khoản vay, vốn chủ sở hữu và hỗ trợ kỹ thuật để kích thích đầu tư vào khu vực tư nhân ở các nước đang phát triển) The Multilateral Investment Guarantee Agency (MIGA) provides guarantees against losses caused by non-commercial risks to investors in developing countries. (Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA) cung cấp bảo lãnh đối với thiệt hại gây ra bởi các rủi ra phi thương mại cho các nhà đầu tư ở các nước đang phát triển). The International Centre for Settlement of Investment Disputes (ICSID) provides international facilities for conciliation and arbitration of investment disputes.(Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp đầu tư (ICSID) cung cấp các cơ sở hoà giải và trọng tài trong các tranh chấp đầu tư quốc tế)

5 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

1944

Thành lập Ngân hàng tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tại Bretton Woods Eugene Meyer được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch Ngân hàng và từ chức cũng trong năm này. Ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động John McCloy từ chức chủ tịch Ngân hàng, Eugene R.Black được bổ nhiệm thay thế và ông là người giữ vị trí này với nhiệm kì dài nhất trong số các Chủ tịch Ngân hàng thế giới. Nhật bản và Cộng hòa Liên bang Đức gia nhập Ngân hàng thế giới Thành lập Công ty tài chính Quốc tế (IFC) Thành lập Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA) Khoản vay đầu tiên dành cho giáo dục đã được cấp cho Tunisie để xây dựng các trường học Thành lập Trung tâm Quốc tế Giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID) Khoản tín dụng đầu tiên để điều chỉnh cơ cấu đã được cấp cho Thổ Nhĩ Kì. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa trở thành thành viên của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế và Hiệp hội Phát triển Quốc tế, nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia nợ nhiều nhất. Vốn hoạt động được phép của Ngân hàng Quốc tế tái thiết và Phát triển tăng từ 44 triệu đô la lên 85 triệu đô la Ngân hàng cung với Quỹ tiền tệ Quốc tế can thiệp giúp đỡ Mexico khi quốc gia này lâm vào khủng hoảng nợ Thành lập tổ chức bão lãnh đầu tư Đa phương (hay MIGA) Trung Quốc trở thành con nợ lớn nhất của Hiệp hội phát triển Quốc tế, vượt qua cả Ấn độ Liên bang Nga và 12 nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ trở thành thành viên của IBRD và IDA Ngân hàng, Quỹ tiền tệ Quốc tế và các nhà tài trợ khác đã khởi xướng sáng kiến dành cho các nước nghèo nợ ần chồng chất (HIPC)

1946

1947

1952 1956 1960 1962

1966 1980

1982

1988 1991

1992

1996

6 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

1997

Ngân hàng phối hợp chặt chẽ với Quỹ tiền tệ Quốc tế để can thiệp mạnh mẽ vào việc cứu trợ các quốc gia Châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính Ngân hàng và Quỹ tiền tệ Quốc tế đưa ra các chiến lược chống đói nghèo. Sáng kiếm HIPC được đẩy mạnh để thức đấy việc giảm nợ cho các nghèo Đây là lần đầu tiên sau gần 20 năm, tỷ lệ thành công các dự án của Ngân hàngđạt 75% (trong khi năm 1996 con số này chỉ là 60%). Ngân hàng liên kết với các tổ chức khác kêu gọi giảm trợ cấp nông nghiệp trong các nước phát triển. 42 quốc gia châu Phi cận Sahara và châu Mỹ Latinh đang nợ chồng chất Ngân hàng Thế giới, IMF và Ngân hàng Phát triển châu Phi có khả năng được hưởng chương trình sáng kiến xóa nợ Đa phương (MDRI). Ngân hàng Thế giới và Liên hợp quốc đã phát động chiến dịch thu hồi các khoản tiền tham nhũng của các lãnh đạo các nước đang phát triển (StAR – sáng kiến thu hồi tài sản bị đánh cắp.

1999

2000

2001

2006

2007

2. Quá trình hình thành và phát triển: 2.1. 1944-1968: Chủ tịch ngân hàng John McCloy lựa chọn Pháp là nước đầu tiên nhận viện trợ của Ngân hàng Thế giới, hai ứng dụng khác từ Ba Lan và Chile nhưng đã bị từ chối. Khoản vay 250 triệu USD, một nửa số tiền yêu cầu và đi kèm với điều kiện nghiêm ngặt. Nhân viên của Ngân hàng Thế giới theo dõi việc sử dụng các quỹ, đảm bảo rằng chính phủ Pháp sẽ kiểm soát một ngân sách cân bằng và ưu tiên trả nợ cho Ngân hàng Thế giới với các chính phủ khác. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói với chính phủ Pháp rằng các phần tử cộng sản trong nội các cần phải được loại bỏ. Chính phủ Pháp tuân thủ điều kiện này và loại bỏ các liên minh chính phủ Cộng sản . Trong vòng vài giờ Pháp đã được phê duyệt cho vay. Kế hoạch Marshall của năm 1947 gây ra sự thay đổi trong hoạt động cho vay của ngân hàng khi nhiều nước châu Âu đã nhận được viện trợ cạnh tranh từ Mỹ với các khoản vay của Ngân hàng Thế giới. Các khoản tín dụng của Ngân hàng Thế giới được chuyển sang các nước ngoài châu Âu và cho đến năm 1968, các khoản vay được dành cho các dự án có thể cho phép một quốc gia vay để trả nợ vay (chẳng hạn các dự án như cảng, hệ thống đường cao tốc, và nhà máy điện).

7 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

2.2. 1968-1980: Từ năm 1968 đến 1980, các ngân hàng tập trung vào việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân ở các nước đang phát triển. Quy mô và số lượng các khoản vay cho khách hàng vay được tăng lên rất nhiều; mục tiêu cho vay được mở rộng từ cơ sở hạ tầng sang các dịch vụ xã hội và các ngành khác. Những thay đổi này có thể được quy cho Robert McNamara, người được bổ nhiệm làm chủ tịch Ngân hàng vào năm 1968 bởi Lyndon B. Johnson . McNamara đã áp dụng một phong cách quản lý chặt chẽ cho Ngân hàng mà ông đã sử dụng khi còn làm Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kì và chủ tịch tập đoàn Ford Motor .McNamara thay đổi chính sách ngân hàng đối với các biện pháp như xây dựng trường học và bệnh viện, cải thiện đọc , viết và cải cách nông nghiệp. McNamara đã tạo ra một hệ thống thông tin mới thu thập từ các quốc gia vay tiềm năng để xử lý. Các ứng dụng cho vay nhanh hơn nhiều. Để tài trợ cho nhiều khoản cho vay, McNamara đã nói với thủ quỹ ngân hàng Eugene Rotberg tìm kiếm các nguồn vốn bên ngoài của các ngân hàng phía Bắc và là nguồn chính của ngân hàng tài trợ. , Rotberg sử dụng thị trường trái phiếu toàn cầu nhằm tăng vốn cho ngân hàng. Một hệ quả của thời kỳ cho vay xóa đói giảm nghèo là sự gia tăng nhanh chóng của nợ thế giới thứ ba . Từ 1976 đến 1980 phát triển nợ thế giới tăng với tốc độ trung bình hàng năm 20%. Năm 1980, Tòa án hành chính Ngân hàng Thế giới được thành lập để giải quyết tranh chấp giữa Ngân hàng Thế giới và nhân viên của mình, nơi các cáo buộc không tuân thủ hợp đồng làm việc hoặc các điều khoản bổ nhiệm đã không được công khai. 2.3. 1980-1989: Năm 1980, AW Clausen thay thế McNamara sau khi được Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đề cử. Clausen thay thế một số lượng lớn các nhân viên ngân hàng từ thời McNamara và thiết lập một hệ tư tưởng tập trung trong ngân hàng. Việc thay thế kinh tế trưởng Hollis B. Chenery Anne Krueger năm 1982 đánh dấu một sự thay đổi chính sách đáng chú ý tại ngân hàng. Krueger đã được biết đến với những lời chỉ trích từ các nước phát triển, cũng như của các chính phủ thế giới thứ ba là tìm kiếm các quốc gia thuê . Cho vay các khoản tín dụng với các nước thuộc thế giới thứ ba đánh dấu sự điều chỉnh cơ cấu chính sách nhằm tinh giản nền kinh tế của các quốc gia phát triển cũng là một phần lớn trong chính sách Ngân hàng Thế giới trong thời gian này. UNICEF báo cáo trong cuối thập niên 1980 các chương trình điều chỉnh cấu trúc của Ngân hàng Thế giới chịu trách nhiệm về "sức khỏe giảm, mức độ dinh dưỡng và giáo dục cho hàng chục triệu trẻ em ở châu Á, châu Mỹ Latinh, và Châu Phi".

8 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

2.4. 1989 đến nay: Từ năm 1989, chính sách của Ngân hàng Thế giới thay đổi để đáp ứng với những lời chỉ trích từ nhiều nhóm. Các nhóm môi trường và các tổ chức phi chính phủ đã được sự chấp thuận trong việc cho vay của ngân hàng để giảm thiểu sự tác động của những lời chỉ trích khắc nghiệt. Theo truyền thống, và do thỏa thuận ngầm giữa Hoa Kỳ và Châu Âu, Mỹ đã luôn luôn chọn Chủ tịch Ngân hàng Thế giới. Trong năm 2012, lần đầu tiên, có hai ứng cử viên được đề cử cho nhiệm kỳ tổng thống của Ngân hàng Thế giới những người không phải từ Hoa Kỳ. Ngày 23 tháng ba năm 2012, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ đề cử Jim Yong Kim là Chủ tịch tiếp theo của Ngân hàng. 3. Tôn chỉ hoạt động: Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế được thành lập tháng 12 năm 1945, khai trương doanh nghiệp vào tháng 6 năm 1946. Tôn chỉ của Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế là:  Thông qua đầu tư giúp đỡ các nước hội viên của ngân hàng khôi phục sản

xuất và xây dựng kinh tế trong nước gồm cả phục hồi kinh tế do chiến tranh tàn phá, và khuyền khích các nước đang phát triển gia tăng các công trình sản xuất, khai thác tài nguyên.  Bằng phương thức bảo trợ hoặc tham gia cho vay tư nhân và đầu tư tư nhân, thúc đẩy đầu tư tư nhân của nước ngoài, hoặc cung cấp vốn của ngân hàng cho sản xuất và vốn ngân hàng huy động để bổ sung phần thiếu hụt của đầu tư tư nhân.  Bằng phương thức khuyến khích đầu tư quốc tế và phát triển tài nguyên của các nước hội viên để thúc đẩy mậu dịch quốc tế tăng trưởng đồng đều, lâu dài, Cân đối thu chi quốc tế, giúp các nước hội viên nâng cao hiệu quả sản xuất, mức sống của nhân dân và cải thiện điều kiện lao động.  Dùng khoản vay của chính ngân hàng hoặc bảo trợ cho vay và dàn xếp với các chủ cho vay quốc tế khác để các dự án xây dựng bức thiết được ưu tiên thực thi.

9 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Khi thực hiện nghiệp vụ đầu tư quốc tế có chiếu cố thích đáng đến tình hình

công thương nghiệp trong nước của các nước hội viên, đặc biệt là những năm sau chiến tranh, cần tâp trung khôi phục sự phát triển kinh tế.

II. Các nguyên tắc cơ bản – Các nội dung cơ bản 1. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản cẩu WB: WB có mục đích hoạt động là hỗ trợ thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao mức sống của người dân tại các quốc gia thành viên các nước đang phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao động ở các nước này. Hoạt động của WB rất đa dạng, từ hỗ trợ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạch hóa gia đình, đến hỗ trợ phát triển nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng, các dự án phát triển năng lượng và giao thông vận tải. Cho vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách ở các nước đang phát triển (IBRD và IDA) và được phân công cho các tổ chức thành viên thực hiện. Ví dụ: + IBRD và IDA đi vay (phát hành trái phiếu) và cho các nước thành viên vay lại (hiện WB có 184 nước thành viên). Không phải nước thành viên nào cũng được vay WB. Cá nhân và công ty không được WB cho vay. Chính phủ của những nước đang phát triển nhưng có thu nhập quốc dân trên đầu người trên 1305 USD/năm được vay của IBRD. Các khoản vay này có lãi suất chỉ cao hơn lãi suất mà WB đã đi vay một chút. Chính phủ của các nước nghèo, có thu nhập quốc dân trên đầu người dưới 1305 USD/năm (trong thực tế là dưới 805USD/năm) được vay của IDA. Các khoản vay sẽ không đòi lãi suất và có thời hạn lên tới 35-40 năm.Trong hai thập kỳ đầu kể từ khi được thành lập, IBRD đã dành hơn 2/3 tổng giá trị các khoản cho vay của mình cho các dự án phát triển năng lượng và giao thông vận tải. + IFC cho các dự án tư nhân ở các nước đang phát triển vay theo giá thị trường nhưng là vay dài hạn hoặc cấp vốn cho họ. Sự tham gia của IFC như một sự bảo đảm đối với các nhà đầu tư khác quan tâm tới dự án và khuyến khích họ đầu tư vào dự án. + MIGA cung cấp những bảo đảm trước các rủi ro chính trị (rủi ro phi thương mại) để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển.

10 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Hoạt động Chống tham nhũng : WB khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân thừa nhận những hành vi sai trái như tham nhũng,hối lộ, móc nối… trong các dự án của WB và cam kết sửa chữa những việc làm đó. Những đối tượng như vậy sẽ không bị xử lý và sẽ được tiếp tục tham gia vào các dự án do WB tài trợ nếu đáp ứng được yêu cầu và tuân thủ chặt chẽ các quy tắc của WB và đảm bảo việc thừa nhận hành vi gian lận và tha bổng sẽ được giữ bí mật. WB đang nỗ lực trong hoạt động chống tham nhũng và cải thiện năng lực quản lý yếu kém, coi đó là những trở ngại chính đối với quá trình phát triển kinh tế ở các nước kém phát triển nhất trên thế giới. Mới đây, WB đã yêu cầu Campuchia trả lại khoản tiền 7 triệu USD tài trợ cho các chương trình phát triển của nước này sau khi hàng loạt các vụ tham nhũng ở nước này bị phát hiện. WB khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân thừa nhận những hành vi sai trái như tham nhũng,hối lộ, móc nối… trong các dự án của WB và cam kết sửa chữa những việc làm đó. Những đối tượng như vậy sẽ không bị xử lý và sẽ được tiếp tục tham gia vào các dự án do WB tài trợ nếu đáp ứng được yêu cầu và tuân thủ chặt chẽ các quy tắc của WB và đảm bảo việc thừa nhận hành vi gian lận và tha bổng sẽ được giữ bí mật. WB đang nỗ lực trong hoạt động chống tham nhũng và cải thiện năng lực quản lý yếu kém, coi đó là những trở ngại chính đối với quá trình phát triển kinh tế ở các nước kém phát triển nhất trên thế giới. Mới đây, WB đã yêu cầu Campuchia trả lại khoản tiền 7 triệu USD tài trợ cho các chương trình phát triển của nước này sau khi hàng loạt các vụ tham nhũng ở nước này bị phát hiện 2. Nội dung hoạt động của WB: Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế(International Bank for Reconstruction Development – IBRD): IBRD cung cấp các khoản cho vay đối với các chính phủ và doanh nghiệp nhà nước cùng với sự bảo đảm của chính phủ (hoặc bảo đảm tối cao - sovereign guarantee). Nguồn tiền cho vay được lấy từ các khoản nợ đã được trả và thông qua việc phát hành trái phiếu trên thị trường vốn thế giới. IBRD là một trong những tổ chức cho vay được xếp hạng cao nhất trên thị trường quốc tế và vì vậy có khả năng cho vay với mức lãi suất tương đối thấp. Ngân hàng cho các nước vay \với lãi suất rất hấp 2.1.

11 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

dẫn bằng cách thêm một mức lề (khoảng 1%) vào chi phí cho vay để trang trải các chi phí hành chính. Những quốc gia vay tiền của IBRD có thời hạn hoàn trả nợ lâu hơn so với vay tiền của ngân hàng thương mại - 15 tới 20 năm trong thời gian ưu đãi 3 tới 5 năm trước khi bắt đầu hoàn trả tiền vốn vay.Chính phủ các nước đang phát triển có thể vay tiền cho các chương trình nhất định, bao gồm các hoạt động giảm nghèo, cung cấp các dịch vụ xã hội, bảo vệ môi trường, và khuyến khích phát triển kinh tế để cải thiện mức sống. Trong năm tài khoá 2002, IBRD đã cho vay tổng cộng $11.5 tỷ để trợ giúp 96 dự án tại 40 quốc gia. Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế ra đời nhằm mục đích: Thông qua đầu tư giúp đỡ các quốc gia thành viên của Ngân hàng trong việc khôi phục sản xuất và xây dựng kinh tế trong nước bao gồm cả khôi phục nền kinh tế do chiến tranh tàn phá, khuyến khích các quốc gia đang phát triển gia tăng các công trình sản xuất, khai thác tài nguyên. Thông qua phương thức bảo trợ hoặc tham gia cho vay tư nhân và đầu tư tư nhân để thúc đẩy đầu tư tư nhân của nước ngoài hoặc cung cấp vốn của ngân hàng cho hoạt động sản xuất và vốn ngân hàng huy động để bổ sung phần thiếu hụt của đầu tư tư nhân. Thông qua phương thức khuyến khích đầu tư quốc tế và phát triển tài nguyên của các quốc gia thành viên để thúc đẩy quan hệ buôn bán quốc tế tăng trưởng đồng đều, lâu dài, cân đối các khoản thu chi quốc tế, trợ giúp các quốc gia thành viên nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao mức sống của người dân và cải thiện các điều kiện lao động. Sử dụng các khoản cho vay của chính ngân hàng hoặc bảo trợ cho vay đồng thời dàn xếp với các chủ cho vay quốc tế khác để ưu tiên thực hiện các dự án cấp thiết. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ đầu tư quốc tế có quan tâm thích đáng đến tình hình công thương nghiệp nội địa của các quốc gia thành viên. 2.2. Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation – IFC): Công ty tài chính quốc tế, với 176 thành viên, thúc đẩy đầu tư bền vững vào khu vực tư nhân ở các phát triển với mục đích giảm đói nghèo và tăng chất lượng cuộc sống

12 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

người dân thông qua việc cung cấp tài chính cho các dự án thuộc khu vực tư nhân, hỗ trợ các công ty tư nhân lưu chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế và cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật cho các chính phủ và doanh nghiệp. Công ty Tài chính quốc tế liên kết với các nhà đầu tư tư nhân ở các nước, giúp các xí nghiệp tư nhân nào có thể có những đóng góp cho sự phát triển của các quốc gia thành viên bằng nguồn vốn đầu tư của Công ty. IFC tìm cách phối hợp các hoạt động như tìm cơ hội đầu tư, tìm các nhà đầu tư tư nhân, tìm các nhà quản lý có trình độ kỹ thuật cao và có kinh nghiệm quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động. Công ty tiến hành giúp đỡ về kĩ thuật cho các dự án đầu tư cụ thể và các xí nghiệp nhưng không hỗ trợ về khía cạch quản lý. Công ty tài chính khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư có tính chất sản xuất vào các nước thành viên. Công ty tiến hành tư vấn đầu tư nước ngoài nhằm hỗ trợ các chính phủ thành viên xem xet và điều chỉnh những chính sách, quy định và chiến lược khuyến khích đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. 2.3. Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development Association – IDA): IDA có nhiệm vụ giúp đỡ các nước nghèo nhất thông qua các khoản cho vay với lãi suất ưu đãi và các chương trình tài trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện điều kiện sống. Các khoản cho vay dài hạn không lấy lãi của IDA dành cho các chương trình xây dựng chính sách, định chế, hạ tầng cơ sở và nguồn nhân lực cần thiết cho phát triển bền vững trên cơ sở tôn trọng môi trường và công bằng xã hội. Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư Quốc tế (International Centre for Settlement of Investment Disputes – ICSID): ICSID thực hiện hoà giải và trọng tài giữa các nước thành viên và các nhà đầu tư thuộc các nước thành viên khác. Việc sử dụng các phương tiện của ICSID là hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên, một khi đã đồng ý giải quyết với ICSID, không bên nào được đơn phương từ chối phán quyết của ICSID. 2.5. Tổ chức bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency - MIGA): Nhiệm vụ của MIGA là xúc tiến đầu tư nước ngoài trực tiếp F\DI vào các nước đang 2.4. phát triển nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và cải thiện cuộc sống

13 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

người dân. Với tư cách một nhà bảo hiểm quốc tế cho các nhà đầu tư tư nhân và nhà tư vấn cho các nước về đầu tư nước ngoài, MIGA tham gia xúc tiến các dự án với tác động phát triển bền vững lớn nhất bảo đảm các tiêu chí kinh tế, môi trường và xã hội. 3. Hoạt động của WB: Trên thực tế, Ngân hàng Thế giới là một trong các nguồn Hỗ trợ phát triển lớn nhất thế giới. Mỗi năm, Ngân hàng thế giới cho chính phủ các nước đang phát triển vay khoảng 20 tỷ USD để hộ trợ cho hơn 220 dự án. Bên cạnh việc cho vay vốn, Ngân hàng Thế giưói còn cung cấp hỗ trợ phát triển và tư vấn chính sách cho các chính phủ. Các lĩnh vực thường sử dụng vốn vay từ ngân \hàng Thế giới là: Cung cấp nước sạnh; xây dựng trường học và đào tạo giáo viên; tăng năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp; xây dựng và bảo dưỡng đường xá, đường sắt và các cảng; Quản lý rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác; giảm tình trạng ô nhiễm không khí và các vấn đề môi trường; Mở rộng mạng lưới viễn thông; xây dựng và phân phối năng lượng; mở rộng mạng lưới y tế đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em; Hiện đại hoá cơ cấu chính quyền. Ngân hàng thế giới mang một sứ mệnh lớn là đấu tranh chống đói nghèo trên toàn thế giới thông qua hình thức là cung cấp vốn và kiến thức chuyên môn cho chính phủ các nước đang phát triển. Khách hàng của Ngân hàng Thế giới là các quốc gia. Những hoạt động chính: WB thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và xã hội ở các nước đang phát triển thông qua trợ giúp kĩ thuật, cho vay vốn dự án đối với các chính phủ. WB huy động vốn từ những thị trường tài chính quốc tế và sử dụng chúng trong các dự án phát triển ở các nước đang phát triển. Tất cả các khoản vay của WB đều phải hoàn trả với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường. WB có năm thể thức cho vay chủ yếu: 1) Vay vốn đầu tư: dựa trên những dự án của chính phủ các nước tiếp nhận. Khoản vốn này có l\ãi suất cao hơn lãi suất thị trường với thời hạn 15 - 20 năm; thời gian ân hạn tới 5 năm. 2) Vay vốn điều chỉnh: trợ giúp chương trình cải cách kinh tế của các nước tiếp nhận nhằm khôi phục tăng trưởng kinh tế và cán cân thanh toán của nước đi vay. Kể từ khi có suy thoái kinh tế

14 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

toàn cầu những năm 1980, WB mở rộng phạm vi hoạt động cho vay tới những khoản vay điều chỉnh ngành và cơ cấu. 3) Đồng tài trợ: WB phối hợp với khu vực tư nhân, tổ chức song phương hoặc đa phương, và các tổ chức chính phủ tài trợ cho một số chương trình của mình. 4) Quỹ tín thác: được đóng góp từ những quốc gia tài trợ, tổ chức đa phương, các tổ chức phi chính phủ, quỹ và tổ chức tư nhân khác tập trung vào những dự án trợ giúp kĩ thuật ở các nước đang phát triển. Hiện nay, IBRD có trên 850 quỹ tín thác. 5) Trợ giúp kĩ thuật: cung cấp nguồn lực và chuyên gia cho các nước đang phát triển để xây dựng những thể chế cần thiết cho quá trình phát triển. Những chương trình này tập trung vào phát triển khu vực tư nhân, bảo vệ môi trường và xoá đói giảm nghèo. Trợ giúp kĩ thuật chiếm k\hoảng 10% các khoản cho vay. Chỉ cho vay đối với các nước thành viên; nếu là tư nhân vay thì phải được nhà nước bảo lãnh, vv. Mục đích cho vay không chỉ nhằm thăng bằng cán cân thanh toán và phát triển kinh tế, mà còn nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế về tiền tệ. Việc xây dựng hệ thống thanh toán nhiều bên, tạo sự ổn định của ngân hàng căn cứ vào số cổ phần của mỗi nước thành viên. Lợi dụng đa số phiếu, các nước phương Tây thường lái các hoạt động của tổ chức này theo hướng có lợi cho họ cả về kinh tế và chính trị. Theo dòng lịch sử, sau khi được định hình vào năm 1944, hai năm sau vào tháng 6-1946, Ngân hàng Thế giới chính thức bước vào hoạt động với đơn xin vay vốn đầu tiên của Chile, Tiệp Khắc, Đan Mạch, Pháp, Luxemburg và Ba Lan. Năm 1947 khoản vay đầu tiên trị giá 250 triệu USD được cung cấp cho nước Pháp. Chính phủ và nhân dân Pháp đã sử dụng có hiệu quả khoản vay này để phục hồi và phát triển kinh tế để giờ đây, nước Pháp vững vàng ở vị trí cao trong nhóm các nhà cung cấp viện trợ phát triển (ODA – Official Development Assistance) hàng đầu thế giới. Đến năm 1979, cam kết mới của Ngân hàng thế giới lần đầu tiên đã vượt mức 10 tỷ USD và đến năm 2004, Ngân hàng thế giới kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập với mức tài trợ đạt khoảng 20 tỷ USD. Sự phát triển của tình hình thực tế đã tạo tiền đề cho những cách thức mới. Cần lưu ý rằng mặc dù phần lớn của ngân hàng thế giới được phân phối dưới dạng vay nợ chính phủ nhưng một số vốn nhỏ vẫn luôn được dành cho các tổ chức thanh niên và cá nhân thông qua chương trình tài trợ quy mô

15 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

nhỏ và thị trường phát triển. Chương trình tài trợ vốn quy mô nhỏ được thành lập năm 1983 là một trong số ít chương trình của Ngân hàng Thế giới trực tiếp cấp vốn cho các tổ chức xã hội. Chương trình do văn phòng đại diện của Ngân hàng tại các nước điều hành nhằm hỗ trợ hoạt động của các tổ chức xã hội đang nỗ lực thu hút sự tham gia của người nghèo và người sống bên lề xã hội. Bằng cách thu hút sự tham gia của những người thường bị xã hội bỏ quên và thông qua việc nâng cao năng lực tác động lên các quyết định chính sách, chương trình tài trợ vốn quy mô nhỏ giúp tạo điều kiện để các tổ chức xã hội trở thành chủ sở hữu những sáng kiến phát triển. Sự hỗ trợ được cấp mỗi năm một lần, thường từ 3.000 USD đến 7.000 USD, mức cao nhất là 15.000 USD. Trong thập kỷ 80, WB đã phải chịu áp lực từ nhiều phía. Vào đầu thập kỷ, Ngân hàng phải đối mặt với các vấn đề kinh tế vĩ mô và gia hạn nợ. Đến cuối thập kỷ, các vấn đề xã hội và môi trường nổi lên cùng với sự chỉ trích mạnh mẽ từ phía xã hội cho rằng WB đã không kiểm soát tốt các chính sách của chính mình trong một số dự án quan trọng. Để đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động của Ngân hàng, báo cáo Wapenhans đã được thực hiện và dẫn tới cuộc cải cách ngay sau đó với việc thành lập Ban giám sát (Inspection Panel) nhằm điều tra các chỉ trích đối với WB. Tuy nhiên, chỉ trích vẫn tăng lên, cực điểm là năm 1994 tại Hội nghị thuờng niên ở Madrid, Tây Ban Nha. Từ đó, WB đã có nhiều tiến triển vượt bậc. 5 tổ chức, định chế, vừa thực hiện độc lập vừa kết hợp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho Ngân hàng. Báo cáo cho thấy khách hàng hầu hết hài lòng với sự thay đổi trong các cấp dịch vụ của WB, trong sự tham gia của Ngân hàng vào hiệu quả hoạt động của khách hàng cũng như trong chuyển giao và chất lượng. Hơn bao giờ hết, WB đang giữ vai trò quan trọng trên trường quốc tế. Ngân hàng đã gắn bó chặt chẽ với các đối tác và khách hàng trong các trường hợp khẩn cấp, từ việc tái thiết sau xung đột Bosnia đến hỗ trợ hậu khủng hoảng Đông Á, từ cứu trợ sau thảm hoạ Trung Mỹ, động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ tới Kosovo và Đông Timor. Vùng với 189 nước thành viên hiện nay và nhiều tổ chức khác, WB đang thực hiện mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ mới (Millennium Development Goals) cho đến năm 2015 bao gồm các vấn đề giáo dục, sức khoẻ và vệ sinh.

16 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Ngân hàng Thế giới quan tâm tới nhiều chủ đề phát triển của các quốc gia như: Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngăn ngừa xung đột và tái thiết, giảm nợ, nghiên cứu kinh tế và dữ liệu kinh tế, giáo dục, năng lượng và khai khoáng, môi trường, ngành tài chính, giới, toàn cầu hoá, quản trị điều hành và khu vực nhà nước, Y tế, dinh dưỡng, dân số, Công nghệ thông tin và truyền thông, cơ sở hạ tầng, lao động và bảo trợ xã hội, luật pháp và tư pháp, nghèo đói, phát triển khu vực tư nhân, phát triển xã hội, phát triển bền vững, thương mại, giao thông vận tải, phát triển đô \thị, nước sạch. Trong lĩnh vực phát triển đô thị, Ngân hàng Thế giới tập trung nâng cao chất lượng sống cho dân nghèo cũng như thúc đẩy công bằng, xây dựng chiến lược phát triển đô thị, quản lý đất đai, quản lý bất động sản, phát triển kinh tế địa phương, tài chính đô thị, nâng cấp cộng đồng thành thị, quản lý rác thải đô thị…Trong lĩnh vực nước sạnh, Ngân hàng Thế giới tập trung vào hai lĩnh vực: Quản lý nguồn nước và cung cấp nước sạnh và vệ sinh. Những vấn đề cụ thể về lĩnh vực này bao gồm quản lý các vùng biển và duyên hải, đập ngăn nước và hồ chứa nước, nước ngầm, tưới tiêu, quản lý các lưu vực sông và dòng chảy, quản lý nước liên quốc gia, nước sạch và môi trường, kinh tế nước…Chúng ta đều biết rằng nước là một trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ: phấn đấu đến năm 2015 giảm một nửa tỉ lệ người không được tiếp cận nước sạnh uống được. Vào năm 2003, nhóm Ngân hàng thế giới tham gia vào diễn đàn thế giới về nước tại Kyôtô (Nhật Bản) khẳng định rằng nước là một động lực chủ chốt thúc đẩy xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng. Cũng thời gian này, nhóm Ngân hàng thế giới tiếp cận thị trường tài chính thành thị với một dự án nước sạch tại Mêhicô. Trong mục tiêu xóa đói giảm nghèo, WB thực hiện rất nhiều hoạt động hỗ trợ như gây quỹ hỗ trợ nông nghiệp trị giá 1,5tỷ USD. Quỹ này có sự đóng góp từ các

17 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

nước Mỹ, Canda và Tây Ban Nha, Uỷ ban châu Âu cũng hứa sẽ đóng góp cho quỹ. Ông Zoellick – chủ tịch ngân hàng thế giới cho biết, tình trạng mất mùa tại Ấn Độ và Philippines kết hợp với tình trạng đầu cơ tăng cao tại các thị trường đang làm tăn\g nguy cơ đẩy giá lương thực lên cao như đã xảy ra hồi năm 2008. Theo thống kê của LHQ, hơn một tỷ người hiện đang sống trong đói nghèo do giá lương thực vẫn ở mức cao hồi năm ngoái, và do các quốc gia vấp phải suy thoái kinh tế toàn cầu. Các nước giàu nhất đã cam kết chi 20 tỷ USD trong 3 năm để giúp nông dân nghèo ở các quốc gia
Chống đói nghèolà mục tiêu của WB

đang phát triển tăng sản xuất lương thực. Tuy nhiên các nhà ngoại giao và các nhóm viện trợ ước tính chỉ

khoảng 3 tỷ USD được chi mới. Ông Zoellick nói vấn đề cốt yếu là các nước phải giữ đúng cam kết, đồng thời ông nói thêm rằng một số khoản hỗ trợ có thể được chia trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan trung gian khác. Nhật Bản và Ngân hàng thế giới (WB) ngày 2/2/2009 đã chính thức thống nhất về việc thành lập một quỹ chung trị giá 3 tỷ USD nhằm tái cấp vốn cho ngân hàng của các quốc gia nghèo, để hỗ trợ hoạt động cấp vốn đầu tư và thúc đẩy những nền kinh tế, vốn đã và đang bị ảnh hưởng nặng nề do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang lan rộng… Mới đây, tại cuộc họp thường niên của Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) diễn ra ở Singapore, WB cùng Ngân hàng Tái thiết và phát triển châu Âu (EBRD), Ngân hàng Phát triển châu Phi (AfDB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàng Phát triển liên Mỹ (IADB) đã bắt tay đấu tranh cho một thế giới trong sạch hơn. WB đồng thời cũng công khai hệ thống chống tham nhũng mới mang tên Tăng cường sự tham gia của WB vào quản trị và chống tham nhũng. Theo đó, WB sẽ tiến hành kiểm toán lại toàn bộ khoản vay để xác định xem có khoản nào bị tham nhũng, sau đó thu hồi tiền và cấm các bên vi phạm tiếp tục tham g\ia các dự án do WB tài trợ.

18 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Gần đây, WB công bố danh sách hơn 330 công ty không đủ tư cách tham gia các dự án như vậy vì đã vi phạm điều khoản về gian lận và tham nhũng của WB. Theo số liệu của WB, mỗi năm thế giới mất hơn 1.000 tỉ USD cho các vụ hối lộ, chưa kể tiền biển thủ công quĩ và ăn cắp tài sản công. Ở những nơi tham nhũng ―gây ra trở ngại chính cho việc giảm nghèo‖ nhưng chính phủ cam kết giải quyết vấn đề, WB sẽ xem quản trị là nội dung cải cách chính và sẽ sử dụng ―các kế hoạch hành động và đội ngũ chống tham nhũng‖ cũng như ―các cố vấn về quản trị‖. Với những nước tham nhũng lan tràn mà chính phủ sở tại không có cam kết gì, WB cho biết họ sẽ chuyển sang ―viện trợ hạn chế nghiêm ngặt‖ hoặc thậm chí là cắt bỏ hoàn toàn các khoản viện trợ. Tuy vậy WB cũng thừa nhận chưa có đủ nhân lực, kỹ năng và động lực cần thiết trong quản trị để tạo ra những thay đổi hiệu quả trong các hoạt động của ngân hàng. Ông Wolfowitz giải thích: ―Tham nhũng có hai mặt. Mỗi giao dịch tham nhũng đều có người đưa hối lộ và người nhận hối lộ, và thông thường người nhận hối lộ đến từ các nước phát triển. Các nước phát triển phải làm nhiều hơn để xử lý điều đó và họ cũng phải giải quyết thực tế là các khoản thu từ những vụ tham nhũng qui mô lớn thường được giấu ở ngân hàng các nước phát triển‖.Tham nhũng trở thành một vấn đề nổi cộm trong chương trình phát triển của WB khi định chế tài chính lớn nhất thế giới này vừa tuyên bố ngừng tài trợ các dự án ở Indonesia và Campuchia. Cuối tháng 6-2006, WB hủy ba khoản vay về cơ sở hạ tầng cho Indonesia, ngừng giải ngân 1,5 triệu USD và yêu cầu hoàn trả 4,6 triệu USD đã được giải ngân. Cùng tháng, 43 hợp đồng trị giá 11,9 triệu USD cũng bị hủy ở Campuchia sau khi phát hiện các khoản viện trợ bị sử dụng sai mục đích.

19 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

III.

Việt Nam và Ngân hàng thế giới – WB 1. Việt Nam gia nhập WB: Ngày 18/8/1956, chính quyền Sài gòn Nam Việt Nam gia nhập WB. Ngày 21/9/1976, nước CHXHCN Việt Nam tiếp quản tư cách hội viên tại WB của Chính quyền Sài gòn cũ. Cổ phần của Việt Nam tại: + IBRD là 968 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 1218, chiếm 0,08% + IDA là 14.778 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 19.203, chiếm 0,14% + IFC là 446 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 696, chiếm 0,03% + MIGA là 388 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 565, chiếm 0,29%

1976: Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nối lại quan hệ thành viên với Nhóm Ngân hàng Thế giới. Hai năm sau, phái đoàn kinh tế đầu tiên đến thăm Việt Nam và xuất bản Báo cáo Giới thiệu Tình hình Kinh tế. 1978: Việt Nam nhận khoản vay đầu tiên trị giá 60 triệu đô la Mỹ từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) cho Dự án Thủy lợi Dầu Tiếng xây dựng đập ở sông Sài Gòn và hệ thống thủy lợi cho 14.000 ha đất nông nghiệp. 2. Các hoạt động chủ yếu của WB tại Việt Nam: Việt Nam đang trải qua một sự chuyển biến sâu rộng từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế toàn cầu hóa và dựa trên cơ chế thị trường. Quan hệ đối tác của Ngân hàng Thế giới với với Việt Nam từ năm 1993 đã góp phần giúp Việt Nam đạt được kết quả to lớn trong quá trình phát triển. Với khoản tín dụng trị giá 70 triệu USD tài trợ cho dự án Giáo dục tiểu học. Từ đó đến nay, WB đã thông qua 27 khoản tín dụng với tổng số vốn cho vay đã ký kết khoảng 3 tỷ USD. Ngoài ra, WB còn cung cấp cho Việt Nam nhiều khoản hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị dự án và tăng cường thể chế thông qua nguồn viện trợ không hoàn lại do các nhà tài trợ song phương uỷ thác qua WB hoặc từ chính nguồn vốn của WB. WB cũng hỗ trợ Việt Nam các hoạt động phi dự án dưới hình thức tài trợ nghiên cứu, lập báo cáo kinh tế và

20 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

chủ trì Hội nghị thường niên Nhóm tư vấn các Nhà tài trợ cho Việt Nam (CG). Cũng trong thời gian này, riêng IFC đã vận động được khoảng 500 triệu USD cho đầu tư khu vực tư nhân, trong đó trên 40% từ nguồn vốn của IFC và phần còn lại từ khu vực tư nhân Vào tháng 1/1997, WB cử Giám đốc Quốc gia tại Hà Nội nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của Việt Nam. Sự phân cấp này tạo điều kiện cho WB hiểu rõ nhu cầu của Việt Nam và thiết kế hiệu quả hơn các chương trình hỗ trợ Việt Nam. Theo đánh giá chung, hoạt động của WB tại Việt Nam đã có tác động tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Nhằm nâng cao tính hiệu quả của các nguồn tài trợ cho Việt Nam thông qua sự phối hợp tốt hơn giữa các nhà tài trợ để giảm bớt sự trùng lắp và tăng cường tính bổ sung cho nhau giữa các nguồn tài trợ, năm 1998 WB đã phối hợp xây dựng "Chiến lược hỗ trợ quốc gia (CAS) giai đoạn 1999-2001". Năm 2009, Việt Nam nhận được khoản vay đầu tiên từ IBRD, đơn vị trực thuộc Ngân hàng Thế giới cung cấp tín dụng cho các nước thu nhập trung bình và các quốc gia nghèo có uy tín tín dụng, để hỗ trợ một chương trình cải cách đầu tư công. Khoản vay này đánh dấu một bước tiến gần hơn của Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp trong năm tiếp theo. Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò của mình trên trường khu vực và quốc tế, bằng việc chủ tọa thành công Hội nghị thường niên 2009 Hội đồng Thống đốc Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ IMF, và đóng vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhiệm kỳ 2010.Môt thách thức khác đối với Việt nam là cần đạt kết quả phát triển nhanh hơn. Tính đến tháng 2 năm 2012, các khoản cam kết tài chính của Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam (bao gồm cả IBRD và IDA) có giá trị gần 15 tỉ đô la Mỹ, cho 111 dự án. Sự hỗ trợ này mang lại thay đổi cho Việt Nam trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, bao gồm giao thông và phát triển đô thị, phát triển nông thôn, năng lượng, quản lý tài nguyên nước, cải cách hành chính công, tài chính, giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội, và môi trường. 2.1. Quan hệ VN - WB giai đoạn 1978-1993 :

Năm 1978, WB đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 60 triệu USD để thực hiện dự án Thuỷ lợi Dầu Tiếng. Tháng 1/1985, IMF và WB đình chỉ quyền vay vốn của Việt nam do Việt nam mắc nợ quá hạn.

21 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

2.2.

Quan hệ VN-WB giai đoạn 1993 đến nay:

Sau một thời gian bị gián đoạn, đến tháng 10/1993, với nỗ lực to lớn và quyết tâm thực hiện cải cách của Chính phủ Việt Nam cùng với sự vận động dàn xếp tài chính thiện chí của các nhà tài trợ thuộc Câu lạc bộ Paris, quan hệ tín dụng giữa WB và Việt Nam đã chính thức được nối lại. Văn phòng Đại diện của WB tại Việt Nam: Ngày 14/09/1994, WB chính thức mở Văn phòng tại Hà nội. Từ năm 1993 đến nay, WB đã bổ nhiệm 03 cán bộ giữ chức vụ Giám đốc Văn phòng WB tại Việt nam : ông Bradley Babson (1993-1997), ông Andrew Steer (1997-2002) và hiện nay là ông Klaus Rohland. Theo đề nghị của NHNN, Thủ tướng Chính phủ đã báo cáo Chủ tịch nước xét tặng Huân chương Hữu nghị cho ông Andrew D. Steer vì đã có nhiều đóng góp tích cực để mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác giữa VN và WB trong nhiệm kỳ công tác của mình. Ngày 19/8/2002, Chủ tịch nước đã ra quyết định số 550/2002/QĐ/CTN về việc tặng thưởng Huân chương Hữu nghị cho ông Andrew Steer nhân dịp Ông kết thúc nhiệm kỳ tại Việt nam. Trong số các tổ chức cho vay thuộc nhóm WB, hỗ trợ tài chính dưới hình thức cho vay ưu đãi và hỗ trợ kỹ thuật của IDA cho Việt nam chiếm vai trò chủ đạo trong mối quan hệ giữa Việt nam với nhóm WB (thời hạn vay 40 năm, phí dịch vụ 0,75%/năm, phí cam kết 0 - 0,5%/năm, không lãi suất, 10 nam ân hạn). Ngoài ra, IFC cũng cho vay các dự án thuộc khu vực tư nhân của Việt Nam với lãi suất thị trường. MIGA đã ký kết một số hiệp định bảo lãnh cho các dự án đầu tư vào Việt nam. Tài trợ của WB đối với Việt Nam: Tính đến tháng 31/12/2003, WB đã cam kết tài trợ 41 dự án và chương trình cho Việt Nam với tổng số vốn cam kết đạt hơn 4,38 tỷ USD (kể cả dự án Thuỷ lợi Dầu tiếng vay vốn WB tháng 8/1978 và khoản bảo lãnh dự án điện BOT Phú Mỹ 2-2). Tổng số vốn giải ngân tính đến tháng 31/12/2003 đạt hơn 2,18 tỷ USD, chiếm khoảng 50% tổng số vốn cam kết. Các dự án mà WB tài trợ cho Việt Nam tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực ưu tiên cao của Nhà nước như: nông nghiệp, thuỷ lợi, năng lượng, cơ sở hạ tầng đô thị và nông thôn, giao thông, y tế, giáo dục, tài chính ngân hàng. Các dự án này đã đóng góp tích cực và có hiệu quả vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển các dịch vụ xã

22 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

hội, tăng cường thể chế và phát triển nguồn nhân lực, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và xoá đói giảm nghèo. Hiện nay, Việt nam là nước vay IDA lớn nhất Ngoài việc cho vay các dự án và chương trình, WB cũng cung cấp các khoản Hỗ trợ Kỹ thuật (HTKT) cho Việt Nam, kể cả các khoản HTKT uỷ thác của các nước. Tổng số HTKT của WB tính đến tháng 31/12/2003 là hơn 135 khoản với trị giá khoảng 322 triệu USD; trong đó bao gồm 19 khoản đồng tài trợ trị giá 210,6 triệu USD. 2.3. Các tổ chức thành viên của WB tại Việt Nam:

Nhóm Ngân hàng Thế giới cung cấp tín dụng cho Việt Nam thông qua Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA. Là một nước có thu nhập thấp, Việt Nam được hưởng những khoản vay không tính lãi với thời gian ân hạn là mười năm, thời gian trả nợ trong vòng bốn mươi năm và chi phí hành chính dưới một phần trăm. Ngoài ra, Nhóm Ngân hàng Thế giới còn tài trợ cho Việt Nam thông qua tổ chức hỗ trợ cho doanh nghiệp tư nhân của mình là Công ty Tài chính Quốc tế IFC. Công ty Tài chính Quốc tế IFC trợ giúp phát triển khu vực tư nhân của Việt Nam thông qua tài chính của dự án, bằng việc huy động vốn trên các thị trường tài chính quốc tế, và thông qua các hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp và Chính phủ. 2.4. Thông tin chính về các dự án IFC tại Việt Nam:

2.4.1. Tài chính: Vào năm tài chính 1997 IFC giúp thành lập Công ty Cho Thuê Quốc Tế Việt Nam (Vietnam International Leasing Company Limited (VILC), công ty thuê tài chính đầu tiên tại Việt Nam. VILC đóng vai trò là quan trọng trong, cung cấp nguồn tài chính trung hạn cho các SMEs tại Việt Nam. Từ khi thành lập, VILC đã cung cấp 35 triệu USD vốn thuê mua tài chính cho gần 250 công ty. Nguồn vốn của công ty đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mua sắm nhiều tài sản cố định bao gồm máy móc, thiết bị văn phòng và cho nhà máy.

23 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

VILC phát triển từ chương trình hỗ trợ của IFC vào năm 1991: IFC tư vấn cho chính phủ Việt Nam về thuê mua và xây dựng khuông khổ pháp lý phù hợp cho việc cấp phép, quản lý và thực hiện hoạt động cho thuê tài chính. 2.4.2. Doanh nghiệp vừa và nhỏ: IFC cung cấp khoản vay trị giá 300,000 USD cho công ty Vĩnh Phát (Vinh Phat), một cơ sở sản xuất và xuất khẩu sản phẩm may mặc trong nước. Khoản đầu tư này tạo điều kiện cho Vĩnh Phát mỏ rộng sản xuất và trang thiết bị và mua dây chuyền thiết bị mới. Dự án giúp công ty tăng kinh ngạch xuất khẩu và tạo công ăn việc làm. 2.4.3. Giáo dục: Vào năm tài chính 2001 IFC phê duyệt khoản vay trị giá 7.25 triệu USD để thành lập Trường Đại Học Tổng Hợp RMIT (RMIT). Đóng tại Thành Phố Hồ Chính Minh, RMIT là trường đại học nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam. Do thiếu trường đại học và trung cấp, chỉ có 1 trong 6 sinh viên cón thể vào học tại các trường đại học tại Việt Nam. Dự án sẽ tạo điều kiện hàng nghìn học sinh có thể có được giáo dục đại học hiện đại chất lượng cao mà không phải đi ra nước ngoài. Trường đại học sẽ cung cấp các chương trình đào tạo có bằng, dạy ngoại ngữ và đào tạo chuyên môn xây dựng theo nhu cầu thị trường. Và ngày 3 tháng 8 năm 2009 - Ngân hàng Thế giới gần đây đã thông qua khoản tín dụng trị giá 50 triệu đô la cho Chương trình Chính sách Phát triển Giáo dục Đại học của Việt Nam và 127 triệu đô la cho Chương trình Bảo đảm Chất lượng Giáo dục Trường học. Với khoản tài trợ trị giá tới 30.000 đôla Mỹ cho từng sáng kiến, dự án giúp tài trợ cho các chương trình nâng cao năng lực áp dụng phương pháp học tập mới và tiếp cận với các mạng lưới chuyên môn trong và ngoài nước. Khoảng 145.000 đô la Mỹ đã được trao cho 5 tổ chức Việt Nam năm 2011, mang lại cơ hội học tập cho khoảng 150 nhân viên quản lý cấp khoa, 140 giáo viên và 40 cán bộ nghiên cứu.

24 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Năm 2012 này, vòng 6 của chương trình học tập tổng hợp sẽ cung cấp khoản tài trợ tương tự cho các tổ chức Việt Nam có dự án đổi mới hoạt động học tập và giảng dạy tốt nhất, đồng thời cũng thể hiện được năng lực thực hiện dự án hiệu quả.

IV.

Thuận lợi – khó khăn của Việt Nam khi tham gia WB. Doanh nghiệp Việt Nam: 1. Thuận lợi của Việt Nam khi tham gia vào WB:

Kể từ khi quay trở lại, WB đã cho Việt Nam vay tới 10 tỷ USD tín dụng ưu đãi cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, điện đường trường trạm, phát triển nông thôn, đô thị cũng như trực tiếp hỗ trợ ngân sách cho việc phát triển các chính sách mới, từng bước cải cách các mặt của nền kinh tế. ang có hiệu lực thực hiện. Không chỉ cung cấp tài chính, WB còn hỗ trợ Việt Nam các kinh nghiệm quốc tế liên quan đến quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô, đối phó với các thách thức phát triển bền vững, phát triển đô thị hiện đại thông qua các khoản đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực này. Những nghiên cứu của WB được giới học giả cũng như các nhà lập chính sách của Việt Nam sử dụng rộng rãi. Nhiều sản phẩm tri thức như Báo cáo Phát triển Việt nam hàng năm, Báo cáo cập nhật kinh tế, Báo cáo quản lý tài chính công, Chiến lược phát triển ngành môi trường, điện, giao thông... luôn được đánh giá cao. Ngoài việc trực tiếp cung cấp tín dụng ưu đãi và tư vấn chính sách, WB còn được Chính phủ Việt Nam đánh giá cao trong vai trò điều phối các nhà tài trợ. Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ thường niên, do WB và Bộ Kế hoạch-Đầu tư chủ trì luôn được đánh giá cao không chỉ qua số tiền các nhà tài trợ cam kết ngày càng tăng (năm 2009 là tám tỷ USD) mà đây đã thực sự trở thành một cơ chế thảo luận và đóng góp, qua đó các nhà tài trợ và Chính phủ đối thoại thẳng thắn về nhiều vấn đề phát triển của Việt Nam. Qua cơ chế thảo luận này, Chính phủ Việt Nam đã thu nhận được nhiều kinh nghiệm quốc tế trong việc quản lý điều hành đất nước nói chung, cũng như từng ngành nói riêng.

25 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Nhân kỷ niệm 64 năm, ngày WB chính thức hoạt động (25/6), phóng viên Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) đã thực hiện cuộc phóng vấn với bà Victoria Kwakwa, Giám đốc WB tại Việt Nam, nhằm tìm hiểu thêm về những thành công nổi bật của WB tại Việt Nam, những đánh giá cũng như dự báo của WB về nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Như bạn đã biết, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có rất nhiều tiến bộ trong việc nâng cao đời sống của người dân và WB cùng tham gia vào quá trình này. Cùng với đó,WB đã hỗ trợ về mặt tài chính, về mặt tri thức cũng như những ý tưởng mới cho Chính phủ Việt Nam để Việt Nam thực hiện cho quá trình phát triển của mình. Hiện có rất nhiều các dự án, kể cả các dự án về tài chính cũng như những chính sách mà WB hỗ trợ Chính phủ Việt Nam đều đã rất thành công như các khoản tín dụng về xóa đói giảm nghèo. Trong suốt 10 năm qua, WB luôn thực hiện các khoản tín dụng này và nó đã hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam thực hiện được rất nhiều, từ những cải tổ cải cách trong lĩnh vực y tế, xã hội cho đến kinh tế, giáo dục... Một số dự án khác cũng được Chính phủ Việt Nam đánh giá cao như Chương trình tín dụng nông thôn, WB đã hỗ trợ rất nhiều cho các khu vực nông thôn vùng xâu, vùng xa, đặc biệt là khu vực miền núi phía Bắc; Chương trình phát triển điện khí hóa nông thôn cũng là một trong những chương trình đã đạt được tỷ lệ thành công đáng khích lệ với mạng lưới điện bao phủ lên tới 96% lãnh thổ Việt Nam. Tóm lại, WB đã có những sự hỗ trợ rất rộng cho nhiều lĩnh vực của Việt Nam và đặc biệt là tham gia vào hỗ trợ công cuộc đổi mới của Việt Nam.

26 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

2. Những khó khăn của Việt Nam khi tham gia vào WB: 2.1. Lãi suất vay tăng: Việt Nam đang được WB xếp vào nhóm nước cho vay hỗn hợp giữa chương trình của Hiệp hội Phát triển Quốc tế (vốn IDA) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (vốn IBRD). Trong đó, chủ yếu vẫn là vốn IDA với các điều kiện ưu đãi hơn nhiều so với IBRD. Tuy nhiên, thu nhập đầu người dự kiến sẽ vượt ngưỡng 1.175 USD trong năm nay, theo cách phân loại của WB, Việt Nam sẽ "tốt nghiệp" IDA, phải chuyển sang vay vốn IBRD. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, mặc dù thu nhập bình quân hiện đã bước vào ngưỡng trung bình thấp nhưng tỷ lệ nghèo ở một số địa phương khó khăn tại Việt Nam vẫn còn cao. "Tôi vừa kết thúc chuyến công tác tại 11 tỉnh. Ở một số địa phương, đơn cử như Hậu Giang, dù rất gần một đô thị lớn là Cần Thơ nhưng tỷ lệ nghèo vẫn lên tới 19%. Do vậy, Việt Nam vẫn cần những nguồn vốn ưu đãi để thực hiện các chương trình giảm nghèo bền vững", Bộ trưởng cho biết. Ngoài ra, đại diện Chính phủ cũng cho rằng vốn vay ưu đãi rất cần thiết đối với một quốc gia nhạy cảm với hệ quả của biến đổi khí hậu như Việt Nam. Do đó, Việt Nam chưa muốn "tốt nghiệp sớm" IDA. Trong khi đó, thực tế cũng cho thấy trong số 36 nước "tốt nghiệp" trước đó, đã có 11 trường hợp phải quay lại sử dụng nguồn ưu đãi. Do vậy, việc chuẩn bị bước đệm đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam là rất cần thiết. Trước tháng 2/2010, VN hoàn toàn được vay IDA với lãi suất và phí cam kết 0%, phí dịch vụ 0,75% một năm. Thời gian vay 40 năm với 10 năm ân hạn. Kể từ tháng 2/2010, VN bắt đầu phải vay IBRD, các điều kiện vay IDA cũng ít ưu đãi hơn (lãi 1,25%, phí dịch vụ 0,75%, phí cam kết tối đa 0,5% một năm. Thời gian vay 25 năm, trong đó có 5 năm ân hạn.

Năm 2012, Việt Nam vay được từ WB cho 8 dự án, trong đó có 1,05 tỷ USD vốn IDA, 100 triệu USD vốn IBRD. Nợ nước ngoài của Việt Nam: Những vấn đề đáng quan ngại Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến ngày 31/12/2011, nợ nước ngoài của Việt Nam hiện đang nằm trong phạm vi giới hạn an toàn. Tuy nhiên, những vấn đề đáng lo ngại về nợ nước ngoài đang tăng lên do quy mô nợ, lãi suất, nghĩa vụ trả nợ… đang tăng nhanh. Do vậy, phải sớm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để không những sử dụng hiệu quả vốn vay, mà còn tránh gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai, nhất là qua những "điển hình" khủng hoảng nợ công ở châu Âu

27 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

2.2.

Hiện nay, tình hình và diễn biến nợ nước ngoài của Việt Nam đang có những biểu hiện đáng lo ngại:

Thứ nhất, quy mô nợ nước ngoài ngày càng lớn: Theo dữ liệu của Bộ Tài chính, trong những năm gần đây nợ nước ngoài so với GDP của Việt Nam tăng nhanh, từ 31,4% năm 2006 lên 41,5% năm 2011 (ở mức 1.042 nghìn tỷ đồng, khoảng 50 tỷ USD). Trong cơ cấu nợ công Việt Nam, nợ nước ngoài hiện chiếm tới 30%, vì thế, khi nợ nước ngoài tăng kéo theo tổng nợ công tăng lên. So với một số nước trong khu vực, mức nợ công của Việt Nam hiện đang ở mức quá cao: Thái Lan là 44% GDP, Indonesia là 39,7% GDP và Philippines là 47,3% GDP. Nếu xu hướng này vẫn tiếp tục và không có các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả, thì có thể nợ nước ngoài trở nên không an toàn. Thực tế, nếu nhìn bề ngoài qua các con số, thì tỷ lệ nợ không đáng ngại. Bởi, tỷ lệ nợ này của Việt Nam nằm trong phạm vi giới hạn an toàn, thậm chí nếu so với các nước đang phát triển có cùng hệ số tín nhiệm BB, chỉ số nợ của Việt Nam vẫn ở mức trung bình[1]. Kế hoạch trả nợ hàng năm khoảng 14%-16% tổng thu ngân sách nhà nước (thấp hơn giới hạn cảnh báo là dưới 30%), bằng khoảng 4,5% kim ngạch xuất khẩu (thấp hơn giới hạn cảnh báo là dưới 15%). Đây được coi là các chỉ tiêu an toàn, và chỉ số nợ công của Việt Nam được xếp loại ở mức trung bình so với các nước đang phát triển có cùng hệ số tín nhiệm. Tuy nhiên, nếu nhìn vào mức độ nợ nước ngoài tăng nhanh, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng nợ công đang có nguy cơ lan rộng ở châu Âu, cộng với nền kinh tế trong nước đang gặp khó khăn, thì sự việc lại rất đáng ngại. Hơn nữa, để bù đắp thâm hụt ngân sách, trong khi điều kiện vay nợ trong nước bị thu hẹp do kinh tế đang gặp khó khăn, thì nhiều khả năng phần nợ nước ngoài sẽ tăng lên. Trước tình hình này, không ít ý kiến của các chuyên gia tài chính cho rằng, Việt Nam đang đứng trước những rủi ro nợ tiềm ẩn. Bài học kinh nghiệm nợ công của Argentina năm 2001 cho thấy, do vay nợ tràn lan trong khi Chính phủ không kiểm soát được khả năng thu thuế, kim ngạch xuất khẩu thấp (chỉ chiếm khoảng 10% GDP), nên không có nguồn để trả nợ, cộng với tệ nạn tham nhũng, chính quyền địa phương cho vay quá dễ dãi, tự phát hành trái phiếu. Vào thời điểm Chính phủ Argentina tuyên bố vỡ nợ, nợ công của nước này cũng chỉ bằng 69% GDP, chưa phải là lớn so với nhiều nước. Thứ hai, tỷ lệ giải ngân còn thấp: Theo Bộ Tài chính, cơ cấu nợ của Việt Nam chủ yếu là nợ vay dài hạn với lãi suất ưu đãi, trong đó: vay ODA chiếm 75% tổng số nợ, vay ưu đãi khác 19% và vay thương mại chỉ chiếm 7%. Phần lớn các khoản vay nước ngoài của Chính phủ là các khoản vay có thời gian dài, từ 20-40 năm, thời gian ân hạn từ 5-10 năm, lãi suất khoảng từ 0,75%-2,5%/năm. Điển hình là các khoản vay của WB có thời hạn 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn, mức lãi suất là 0,75%/năm; Các khoản vay của

28 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

ADB có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn, lãi suất 1%/năm; Các khoản vay của Nhật Bản có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn và mức lãi suất khoảng từ 1 đến 2%/năm). Tuy nguồn vốn ODA có xu hướng tăng lên, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội, nhưng mức độ giải ngân còn thấp. Tính đến cuối năm 2011, mức giải ngân chỉ chiếm khoảng 47% tổng số vốn cam kết (Hình 2), thấp hơn mức giải ngân ODA bình quân của các nước trong khu vực. Đồng thời, tỷ lệ giải ngân chỉ đạt 72% so với tổng vốn ký kết. Nguyên nhân dẫn đến tính trạng giải ngân chậm là do: thiếu vốn đối ứng[2], giải phóng mặt bằng chậm, năng lực, cách thức điều hành của các ban quản lý dự án ở Trung ương và địa phương, nhất là các địa phương, hay thay đổi. Thứ ba, dự trữ ngoại hối quốc gia giảm mạnh: Do dư nợ tăng nhanh, tổng lượng tiền mà ngân sách phải dành để trả các chủ nợ nước ngoài khá lớn, lại đang có xu hướng tăng lên. Cụ thể: Năm 2010, Việt Nam phải trả các chủ nợ nước ngoài là 1,67 tỷ USD (riêng tiền lãi và phí là hơn 616 triệu USD), tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009. Bộ Tài chính cho biết, tính từ nay cho đến năm 2015, mỗi năm nước ta phải trả nợ nước ngoài cả gốc lẫn lãi khoảng 1,5 tỷ USD, và tính đến năm 2020, tổng số tiền phải trả là 2,4 tỷ USD. Điều đáng lưu ý, năm 2010, dịch vụ nợ nước ngoài bằng 50% tổng đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước. Đây là con số khá lớn trong điều kiện quy mô ngân sách nhà nước còn rất hạn hẹp. Điều đáng lo ngại là dự trữ ngoại hối của nước ta giảm dần qua các năm gần đây (giảm từ 21 tỷ USD năm 2007 xuống còn 13,5 tỷ USD năm 2011) (Hình 3). Nguyên nhân dự trữ ngoại hối giảm chủ yếu là do tình trạng thâm hụt cán cân thương mại duy trì ở mức độ cao trong nhiều năm liên tục, thâm hụt cán cân vãng lai cao hơn thặng dư tài khoản vốn. Một mối lo ngại khác nữa là tỷ lệ dự trữ ngoại hối nước ta so với tổng dư nợ ngắn hạn đang giảm mạnh, từ 2.808% năm 2008 xuống còn 290% năm 2009 và chỉ còn tương đương 187% năm 2010, trong khi mức khuyến nghị của WB là trên 200%. Đối phó với tình hình này, Chính phủ đã mua thêm 4 tỷ USD trong những tháng đầu năm 2011, song giải pháp này chỉ mang tính tình thế, và dễ trở thành nguồn xung lực làm gia tăng tỷ lệ lạm phát. Thứ tư, điều kiện cho vay nợ của các đối tác ngày càng ngặt nghèo hơn: Nguồn thông tin từ Bộ Tài chính cho biết, lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đang có xu hướng tăng lên. Nhiều đối tác đã chuyển từ quan hệ cho Việt Nam vay ODA sang hình thức ít ưu đãi hơn, kể từ sau khi Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình. Bên cạnh đó, việc uy tín nợ quốc gia bị ảnh hưởng do một số bất ổn của kinh tế vĩ mô (từ BB+ xuống còn BB) và sự kiện Vinashin. Cơ cấu nợ của Việt Nam chủ yếu là nợ dài hạn với mức lãi suất ưu đãi từ 1-2,99%/năm (chiếm khoảng 65,5% tổng dư nợ). Nhưng, lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54% năm 2006 lên 1,9% năm 2009 và tăng tới 2,1% năm 2010.

29 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Các nhà tài trợ này đã nâng lượng nắm giữ trái phiếu chính phủ Việt Nam lên hơn 2 tỷ USD trong năm 2010 (so với hơn 1 tỷ USD của năm 2009). Điều đáng lo ngại là, trong khi tỷ lệ vốn vay ODA tăng lên từ 80% giai đoạn 1993-2000 lên 81% giai đoạn 20002005, và đạt mức cao nhất 93% giai đoạn 2006-2009, thì vốn viện trợ không hoàn lại giảm xuống với tỷ lệ tương ứng trong các giai đoạn là 20%, 19%, và 7,1%. Thứ năm, tâm lý lo ngại do việc sử dụng dàn trải, kém hiệu quả nợ nước ngoài: Xét về mặt tổng thể, việc sử dụng vốn vay của Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá đạt hiệu quả khá cao trên các phương diện kinh tế - xã hội. Một minh chứng rõ nét là, báo cáo của Bộ Tài chính tháng 9/2011 cho biết, tỷ lệ nợ xấu trong số hơn 500 dự án của doanh nghiệp được Chính phủ cho vay lại bằng các khoản vay nước ngoài chỉ chiếm khoảng 0,7%.Tuy nhiên, không ít các khoản đầu tư của Nhà nước được coi là còn dàn trải, chậm tiến độ do sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư đã gây thất thoát, lãng phí lớn. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 4/2012, các dự án chậm tiến độ có xu hướng tăng lên. Trong số 302 dự án ở nhóm A được kiểm tra (nhóm dùng vốn ngân sách Nhà nước) thì phát hiện 93 dự án chậm tiến độ (chiếm 28,1%), cao hơn so với kỳ báo cáo năm 2010 là 19,35%, năm 2009 là 11,55% và năm 2008 là 16,73%. Điều này phản ánh tình trạng có vấn đề về kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước Hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn thấp thể hiện qua hệ số ICOR[3]. ICOR của Việt Nam tăng liên tục qua các thời kỳ, tăng từ 4,7 lần (thời kỳ 1996-2000), lên tới 5,2 lần (thời kỳ 2001-2005) và lên tới 6,2 lần (thời kỳ 2006-2010), chứng tỏ hiệu quả đầu tư không những thấp mà còn bị sụt giảm (Hình 4). Trong đó, xét giai đoạn 2006-2010, ICOR của khu vực nhà nước cao nhất (đạt 9,5 lần)- phản ánh hiệu quả đầu tư kém nhất, bình quân cao gấp 1,5 lần hệ số chung, cao gấp 2 lần hệ số của khu vực ngoài nhà nước (đạt 4,2 lần) và cao hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (đạt 6,4 lần).

30 GVHD: ĐOÀN NAM HẢI

Phần III: KẾT LUẬN

Nhờ những thành tựu phát triển và cải cách, Việt Nam đang từng bước trở thành nước nhận vốn vay/viện trợ lớn nhất của WB. Nguồn vốn IDA cho Việt Nam kể từ 1993 tới nay liên tục tăng, trong 2 năm tới IDA cho Việt Nam dự kiến sẽ tăng mạnh, năm 2007 khoảng 849,4 triệu USD, 2008 có thể đạt 1.068 triệu USD tuỳ thuộc vào tình hình tiếp nhận và thực hiện nguồn vốn IDA của phía Việt Nam. Vừa qua Chủ tịch WB đã chính thức tuyên bố Việt Nam đủ điều kiện tiếp nhận nguồn IBRD, điều này khẳng định sự hợp tác ngày càng tăng cường giữa WB và Việt Nam. Nhờ những thành tựu phát triển và cải cách, Việt Nam đang từng bước trở thành nước nhận vốn vay/viện trợ lớn nhất của WB. Nguồn vốn IDA cho Việt Nam kể từ 1993 tới nay liên tục tăng, trong 2 năm tới IDA cho Việt Nam dự kiến sẽ tăng mạnh, năm 2007 khoảng 849,4 triệu USD, 2008 có thể đạt 1.068 triệu USD tuỳ thuộc vào tình hình tiếp nhận và thực hiện nguồn vốn IDA của phía Việt Nam. Vừa qua Chủ tịch WB đã chính thức tuyên bố Việt Nam đủ điều kiện tiếp nhận nguồn IBRD, điều này khẳng định sự hợp tác ngày càng tăng cường giữa WB và Việt Nam. http://muaban.net/ho-chi-minh/raovat/chi-tiet/13913445/nhan-may-gia-cong-giare.html

Related Interests