1

Thông Tin Liên Lạc Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Đan Mạch
THÔNG TIN LIÊN LẠC SỐ 02 THÁNG 9-10-11 / 2011

Nhóm Chủ Trương
Ban Chấp Hành Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Đan Mạch Địa Chỉ Liên Lạc: c/o Lê Xuân Bảng Mellemvej 14, 5700 Svendborg Tlf. 6133 3523 Email: bang_nhung@hotmail.com

Mục Lục
Thư Ngỏ………………….…………….....…….........3 Thư cám ơn Đại Lễ CTTĐVN 2011 .…….....….…4 Tìm hiểu gốc tích tháng Mân côi ………….............5 Hiểu biết về Hôn Nhân Công Giáo……………..….6 Câu chuyện bí mật của Đức Thánh cha Gioan Phaolô II ………………………..…...…………........8 Ngày 11 tháng 9, người vợ góa không bao giờ chất vấn Thiên Chúa ………….…………….……..….19 Nguồn gốc Lễ Cầu hồn và Tháng Cầu hồn..…...20 Người tín hữu giáo dân trong Hiến Chế Lumen Gentium…………………………….………..……. 21 Một Phút Cho Bạn…..………….…….……..…….24 Giải đáp thắc mắc.……………,,,,…...……...……..25 ...29 Tin SH c ộng đoàn Aarhus…,,.………………….31 Khóa ca trưởng cấp I, đợt 2 tại Đan Mạch…..….32 Ân nhân báo Tiếng Vọng…...…….…...…………..33 Cảm Tạ & Tri Ân………………………………….34 Linh Thao cuối tuần t ại Aarhus….…...………….35

Ban Trị Sự
Chủ Nhiệm: Nhóm Chủ Trương Chủ Bút: Trần Văn Trí Thủ Qũy: Huỳnh Thị Thúy Hằng

Mục Đích
Phát huy đời sống đức tin người kitô hữu Việt Nam tại Đan Mạch. Bắc nhịp cầu liên lạc giữa các linh mục Việt Nam và giáo dân. Chia sẻ những kiến thức tôn giáo, văn hóa, xã hội để làm phát triển cộng đồng

Địa chỉ các linh mục Việt Nam:
Lm. Giuse Chu Huy Châu Kollegievej 4A, 1. Tv 2920 Charlottenlund Đt. 3990 5727 / 2016 2090 Email: chauhuy.chu38@gmail.com Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Tuyến Havnegade 1, 5700 Svendborg Đt. 6221 0542 / 2244 1306 Email: linhmuctuyen@yahoo.dk Lm. Giuse Nguyễn Minh Quang Sankt Leonisgade 12 8800 Viborg Đt. 8662 3641 / 5132 8896 Email: nmqdk@yahoo.dk

Thể Lệ
Những bài viết với bút hiệu phải có ghi tên thật và địa chỉ của tác giả để tiện việc liên lạc. Xin gửi bài trước ngày 10 của các tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 11 về email: thongtinlienlacdk@gmail.com

2

THƯ NGỎ
Kính thưa qúy cha Kính thưa qúy Ban Đại Diện các Cộng Đoàn, các Hội Đoàn, Đoàn Thể, cùng qúy Ông Bà Anh Chị Em. Đây là tờ TTLL thứ hai đến với qúy vị. Ban Chấp Hành Cộng Ðồng CGVN tại Ðan Mạch xin chân thành cám ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của qúy cha, cùng sự đóng góp của mọi người, cả về công sức, bài vở lẫn tài chánh, và từng bước, chúng ta vượt qua mọi khó khăn, để cải tiến nội dung và hình thức, sao cho tờ TTLL trở thành tờ báo của mọi người, mọi gia đình và đoàn thể. Trong tháng 8 vừa qua, Cộng Ðồng chúng ta đã thực hiện 2 công tác cụ thể là: Tổ chức Ðại Lễ Kính Các Thánh Tử Ðạo VN tại Ømborg, và khóa đào tạo ca trưởng được tổ chức tại Odense. Ðại Lễ Kính CTTÐ-VN năm nay, tuy thời tiết không hoàn toàn tốt, nhưng đủ cho chúng ta tham dự bình yên các nghi thức, thánh lễ và các sinh hoạt chung. BCH-CÐ đã mời linh mục Fernand Nguyễn Hữu Công đến từ Bỉ giảng thuyết. Ngài đã giúp mọi người hiểu tường tận hơn về chủ đề: Kính Lòng Thương Xót Chúa, và xen kẽ những mẫu chuyện vui, làm cho không khí buổi giảng thuyết thêm sinh động và hấp dẫn hơn. Cùng với các linh mục VN tại Đan Mạch, Lm. Nguyễn Thiên Tính và các linh mục khách đã giúp cho các nghi thức trong ngày đại lễ thêm long trọng, và nhất là giúp cho mọi người qua bí tích hòa giải được nhẹ nhàng thanh thoát trong tâm hồn, xứng đáng đón nhận ơn lành của Chúa. Khóa đào tạo Ca trưởng năm nay là hoàn tất cấp 1, được tổ chức cùng địa điểm như năm ngoái, gồm 22 học viên 14 tại Ðan Mạch, 6 từ Ðức và 2 từ Hòa Lan. Tất cả 22 học viên đều tham dự kỳ thi cuối khóa, và tất cả đủ điểm đậu để có thể tiếp tục học khóa cấp 2 vào năm tới. Tuy khóa học chỉ kéo dài 6 ngày, nhưng các học viên đã nổ lực cố gắng hết sức. Ngoài 11 giờ học chính thức mỗi ngày, mọi người còn tranh thủ học thêm hòa âm, xướng âm, nhạc lý căn bản, thanh nhạc và luyện tay nhịp đến 12 giờ đêm mới nghỉ. Thầy Phạm Ðức Huyến vì trục trặc giấy tờ không thể sang Ðan Mạch được, nhưng qua hệ thống skype, đã hiện diện giảng dạy mỗi ngày 4 giờ, cộng thêm sự nhiệt tình của Phụ Giáo Ca Trưởng Hoàng Viết Hùng đến từ Dallas, Hoa Kỳ, các học viên đã tiến rất nhanh. Với dĩa DVD và 2 cuốn sách giáo khoa cấp 1 về Ca Trưởng, các học viên sẽ tự luyện thêm ở nhà trong suốt cả năm và trao đổi kinh nghiệm với nhau, để hòan chỉnh tay nhịp và mở rộng kiến thức về âm nhạc gồm: Thanh Nhạc, Hòa Âm, Xướng Âm, Nhạc Bình Ca và nhạc lý cho Ca Trưởng. Ngoài kết qủa khả quan về chuyên môn, các học viên và Thầy dậy còn tạo được tình thân thương gắn bó qua những bữa cơm thân mật, những sinh hoạt ngoài giờ học với vô số mẫu chuyện vui làm tan đi sự mệt mỏi, căng thẳng sau giờ học. Sắp tới, chúng ta chuẩn bị bước vào tháng 10, tháng biệt kính Mẹ Maria, nhắc cho chúng ta thực hiên 3 mệnh lệnh của Mẹ tại Fatima: Cải thiện đời sống - Lần hạt Mân Côi - Tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ. Mẹ Maria vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta, để qua việc lành, qua tu sửa bản thân chúng ta thánh hóa chính mình và cầu nguyện cho Thế Giới ngày càng chồng chất tội ác và sư dữ vẫn hoành hành, thiên tai liên tiếp gây đau khổ cho nhân loại. Và bước vào tháng 11, tưởng nhớ đến các đẳng linh hồn. Chúng ta còn được sống trên trần gian, là còn cơ hội thu tích của cải không hư nát, để làm hành trang khi Chúa gọi chúng ta về đời sau và những việc lành của chúng ta cũng có thể cứu giúp các linh hồn còn bị giam cầm nơi luyện ngục, những linh hồn ông bà, cha mẹ chúng ta, những linh hồn ân nhân, thân nhân của chúng ta, và cả những linh hồn không ai nhắc nhớ tới. Chúng ta còn có cơ hội dâng những việc lành và lời cầu nguyện của mình để giải thoát những linh hồn đó, và khi họ đã được về cùng Chúa họ sẽ cầu nguyện lại cho chúng ta. Ước mong tình yêu thương của Chúa lan tỏa giữa mọi người chúng ta, để chúng ta biết yêu thương nhau, tha thứ cho nhau những lỗi lầm, vì chúng ta là anh em có cùng một Cha chung ở trên trời Trân trọng kính chào qúy Cha cùng qúy Ông Bà Anh Chị Em. Ban Biên Tập

3

THƯ CÁM ƠN ĐẠI LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM - 2011
Kính gởi: Đức Cha Czeslaw Kozon, quý Linh Muc Việt Nam, quý Tu sĩ man nữ . Qúy BĐD Cộng Đoàn, Ca Đoàn, Hội Đoàn, Ban, Nhóm cùng tòan thể quý ông bà, anh chị em. Trong tâm tình tri ân và cảm tạ, trước hết chúng ta cùng dâng lời cảm tạ Hồng Ân Thiên Chúa đã ban cho Cộng Đồng chúng ta một ngày Đại Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam 2011, tại Ømborg được bình an, tốt đẹp. Để có được ngày Đại Lễ vừa qua, là nhờ vào lòng thương yêu và công sức của tất cả cả mọi thành viên trong Cộng Đồng BCHCĐ kính gởi lời cám ơn đến: - Đức Cha Czeslaw Kozon, qúy LM. Việt Nam tại Đan Mạch, quý cha khách, qúy Soeur, đặc biệt LM. Fernand Nguyễn Hữu Công từ Bỉ, đã đến cùng hiệp dâng thánh lễ và thuyết giảng cho Cộng Đồng chúng con với đề tài: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA. - Qúy Cộng Đòan giúp về ẩm thực, dựng và dọn dẹp lều, giúp bán huy hiệu, đậu xe, dọn dẹp vệ sinh : CĐ Svendborg , CĐ Odense, CĐ Århus, CĐ Esbjerg, CĐ Hjørring, CĐ Åbenrå, CĐ Horsens, CĐ Viborg, CĐ Sjælland, Chương Trình TTHNGĐ / DK, Hội Văn Hóa Công Giáo VN tại Århus… - Qúy Cộng Đòan giúp về Phụng vụ / Phụng bái tổ tiên / Ban Giúp Lễ , Khiêng kiệu, Ca Đoàn Odense , Ca Đoàn Chương Trình TTHNGĐ, Ban Âm Thanh , Ban Phụng vụ , Ban Trang trí, Cắm hoa, Ban quay phim và chụp hình …v..v. - Quý CĐ đã mở sổ vàng và tất cả qúy vị ân nhân đã và đang âm thầm giúp đỡ Cộng Đồng trong mọi lãnh vực. - Quý vị đã hăng say đóng góp và hỗ trợ Cộng Đồng trong mọi công việc trước và sau Đại Lễ, và còn nhiều, rất nhiều những công việc và giúp đỡ khác mà chúng tôi không thể kể hết ra đây được. Đức Cha, quý Cha, quý Soeur cùng tất cả quý ông bà, anh chị em đã không quản ngại đường sá xa xôi, công sức, tiền của và thời gian qúy báu … để đến cùng dâng Thánh Lễ tưởng nhớ Các Thánh Tiền Nhân Anh Hùng Tử Đạo, tham dự, giúp đỡ và ủng hộ cho ngày Đại Lễ được thành công tốt đẹp. Trong tinh thần đó, tất cả chúng ta đã nói lên được lòng yêu thương, hiệp nhất và đoàn kết trong Cộng Đồng. Nguyện xin ơn trên qua lời cầu bầu của Hiền mẫu La Vang cùng Các Thánh Tiền Nhân Tử Đạo Việt Nam luôn đổ tràn đầy Hồng Ân xuống trên quý Cha, quý Soeur cùng toàn thể quý vị. BCHCĐ kính mong tiếp tục nhận được sự thương mến và giúp đỡ từ qúy vị, để có thể duy trì và phát triển Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Đan Mạch ngày càng được thăng tiến và vững mạnh hơn . Một lần nữa, chân thành kính gởi lời cám ơn đến Đức Cha, quý Cha , quý Soeur cùng tòan thể quý ông bà , anh chị em trong Cộng Đồng. Kính chúc Đức Cha, qúy Cha, quý Soeur cùng quý vị thật nhiều sức khỏe, bình an và hạnh phúc.

TM/ BCHCĐCGVN/ ĐK Chủ tịch

Lê Xuân Bảng

4

Tìm hiểu gốc tích tháng Mân côi
Kinh Mân Côi là hương hỏa tuyệt diệu thánh Ðaminh trối lại cho Dòng Thuyết Giáo. Các con cái cha Thánh đã luôn luôn làm cho di sản thánh thiện đó ngày một tăng trưởng. 1- Ðể cổ động việc tôn sùng Mẹ Maria, một Linh mục dòng này đã biên soạn một tập sách nhỏ trình bày 15 Mầu nhiệm chuỗi Mân Côi giúp độc giả suy niệm trong lúc lần hạt, đã đem lại nhiều thành tích tốt đẹp. 2- Giáo quyền nước Tây Ban Nha hưởng ứng và phổ biến nhanh chóng khắp nước việc đạo đức đầy sáng tạo và linh ứng đó của vị tu sĩ nhà. 3. Đức Piô 5, năm 1571, lập lễ Đức Mẹ Mân côi và ấn định mừng vào ngày 7 tháng 10 hằng năm. 4- Ðức Piô thứ 9 (1846-1878) tăng cường sự ủng hộ bằng nhiều ân xá ban cho những giáo dân tích cực tham gia việc tôn sùng Mẹ Maria bằng kinh Mân Côi trong tháng Mười. 5- Ðức Leô 13 (1878-1903) phổ cập viêc đạo đức này khắp thế giới: a/ Bằng nhiều Thông Ðiệp, Sắc lệnh, nhất là thông điệp Supremi Apostolatus, đề cao việc tôn sùng Kinh Mân Côi, ca ngợi, cảm mến và cầu xin với Mẹ Chúa Trời trong Tháng Mười. b/ Ngài ban nhiều ân xá và đại xá đặc biệt cho những ai sùng kính Kinh Mân Côi. Từ đó, tháng 10 đã trở thành tháng Mân côi kính Đức Mẹ. 6- Chính Ðức Trinh Nữ Maria ngày 13 tháng 10 năm 1917 tại Fatima đã xưng mình là "Đức Mẹ Mân côi", hiểu được là Mẹ muốn con cái tôn kính Mẹ trong tháng Mười, tháng Mân Côi của Giáo hội.

Tìm hiểu gốc tích kinh Mân côi
Thánh Ðaminh (Đôminicô 1170-1221) được mời đi giảng cho bè lạc đạo Albigensê, nước Pháp, bè này ở vào thời Trung cổ, ly khai với Hội thánh, chủ trương vũ trụ có thần thiện thần ác điều khiển, còn Chúa Kitô thì hão huyền không thật. Qua nhiều cố gắng, ngài không lôi kéo được ai trở về cùng Hội thánh. Ngài chạy đến cùng Ðức Trinh Nữ Maria, van nài Mẹ nhận lời mới thôi. Từ thành Toulouse, Ngài vào tận rừng sâu, ở đó ba ngày đêm ăn chay cầu nguyện không ngừng. Khi thánh nhân xuất thần, Mẹ Thiên Chúa hiện ra huy hoàng tuyệt mỹ, có ba nữ hoàng theo hầu. Mỗi nữ hoàng lại có 50 trinh nữ theo hầu. Nữ hoàng thứ nhất, cũng như đoàn tùy tùng mặc y phục trắng. Nữ hoàng thứ hai y phục đỏ. Nữ hoàng thứ ba mặc áo bằng vàng sáng chói hơn hết. Ðức Trinh Nữ phán: - "Ba nữ hoàng tiêu biểu cho ba Tràng hạt; năm mươi trinh nữ tùy tùng mỗi nữ hoàng là 50 kinh Kính Mừng của mỗi Tràng Hạt; màu trắng nhắc lại các Mầu nhiệm Vui; màu đỏ, các Màu Nhiệm Thương; và màu vàng, các Mầu Nhiệm Mừng". Các mầu nhiệm Nhập Thể, Giáng Sinh, Ðời Sống và Khổ Nạn của Con Mẹ, cũng như các mầu nhiệm Sống Lại và Lên Trời đều chứa đựng trong kinh Kính Mừng và kinh Lạy Cha. "Ðó chính là Tràng Chuỗi Mân Côi, nghĩa là Triều Thiên trong đó Mẹ tìm thấy trọn niềm hoan lạc. Con hãy truyền bá khắp nơi kinh ấy, và các người lạc giáo sẽ trở lại, các tín hữu sẽ vững tin và sẽ được phần rỗi muôn đời". Ðược phấn khởi, thánh Ðaminh vội về Toulouse, đi ngay vào nhà thờ. Theo như lời truyền khẩu khi đó chuông tự dộng vang lên inh ỏi. Nhân dân bỡ ngỡ nghe chuông đánh vào giờ khác thường, ồ ạt kéo nhau đến nhà thờ. Thánh Ðaminh lên tòa giảng nói đến phép công thẳng của Thiên Chúa ngày phán xét. Ðể tránh sự chí công đó, chỉ có phuơng thế chắc chắn là cầu khẩn với Mẹ Maria nhân từ. Thánh nhân giải thích Kinh Mân Côi và đọc to. Mọi người hưởng ứng lần hạt Mân Côi. Hiệu quả của kinh Mân côi thật lạ lùng: Trên 100 ngàn người lạc giáo dần dần qui chánh, vô số tội nhân trở về trong một thời gian ngắn ngủi.
(Theo Lm Nguyễn Tri Ân OP, Tháng Mân côi, Chân lý, 1964)

Thực hành:
Tháng Mẹ về, lòng chúng con tràn ngập yêu mến, yêu mến Mẹ từng giây, từng phút, yêu mến Mẹ trong ý nghĩ, trong lời nói, trong việc làm. Lòng trìu mến đó quyết thể hiện bằng: 1- Mỗi ngày đọc ít là 10 kinh Kính mừng như 10 bông hoa hồng kính Mẹ. 2- Mỗi ngày nếu có thể, đi dự Lễ và Rước Chúa sốt sắng kính Mẹ. 3- Hằng tuần chầu Thánh Thể, đọc kinh Mân côi với cộng đoàn, dâng lễ, rước lễ kính Mẹ. 4- Dự lễ kính Đức Mẹ Mân côi vào ngày 7 tháng 10

5

Hiểu biết về Hôn nhân công giáo

* Mười lăm đặc ân kinh Mân côi
Lm. Nguyễn Ngọc Tuyến. Đức Mẹ đã long trọng tuyên bố ban 15 ơn (đặc ân) cho những ai siêng năng lần hạt Mân côi trong khi Mẹ hiện ra với Thánh Alano O.P. Sự kiện này đã được Tòa thánh công nhận. 1. Mẹ sẽ ban một ơn đặc biệt quí hóa cho kẻ kiên tâm, sốt sáng lần hạt Mân côi kính Mẹ. 2. Mẹ sẽ bênh vực che chở cách riêng những người sốt sáng lần hạt Mân côi kính Mẹ. Ngoài ra Mẹ sẽ ban cho họ nhiều ơn thánh đặc biệt. 3. Tràng hạt Mân côi sẽ biến thành chiến cụ tinh nhuệ để chiến đấu với hỏa ngục, sẽ tiêu diệt mọi tính mê nết xấu, sẽ tấy uế mọi vết nhơ tội lỗi, sẽ tiêu trừ bè rối. 4. Tràng hạt Mân côi sẽ tô điểm vẻ đẹp siêu nhiên của các nhân đức và các việc lành, sẽ đem lại cho các linh hồn lòng thương yêu, nhân hậu của Thiên Chúa, sẽ diệt trừ lòng tham lam, ham hố, yêu của phù vân ở đời, để trở về yêu mến Thiên Chúa, tìm cầu và khao khát những của vĩnh viễn, bất diệt. Biết bao linh hồn đã được thánh hóa do thần lực kinh Mân côi. 5. Ai trung thành, sốt sắng đọc kinh Mân côi kính Mẹ, sẽ không phải hư mất. 6. Ai sốt sáng đọc và suy gẫm mầu nhiệm kinh Mân côi sẽ: 1) Không mắc phải tai nạn, 2) Được thoát cơn thịnh nộ của Chúa, 3) Không phải chết bất ưng, 4) Nếu là tội nhân sẽ được ơn sám hối, 5) Được bền vững trong ơn nghĩa Chúa và được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. 7. Những ai trung thành lần hạt Mân côi sẽ không phải chết trước khi chưa được chịu các phép. 8. Mẹ muốn những ai siêng năng lần hạt kính Mẹ, khi sống khi chết đều được dư dật ơn thánh và được chung hưởng công nghiệp cùng các thánh. 9. Mẹ sẽ mau cứu vớt những linh hồn năng lần hạt Mân côi ra khỏi luyện ngục. 10. Mẹ sẽ ban cho những ai trung thành lần hạt Mân côi phần thưởng lớn lao trên Thiên đàng. 11. Tôn sùng phép Mân côi, sẽ được mọi ơn lành. 12. Những ai tuyên truyền phép Mân côi kính Mẹ, sẽ được nâng đỡ trong lúc gian nan thiếu thốn. 13. Mẹ đã xin con Mẹ cho những đoàn viên Hội Mân côi, sống chết đều được vinh dự làm anh em với các thánh Thiên quốc. 14. Những người siêng lần hạt Mân côi đều là con riêng Mẹ, em Chúa Giêsu Con yêu dấu của Mẹ. 15. Quí mến lần hạt Mân côi là dấu chắc sẽ được cứu rỗi. 6 Kính thưa quí ông bà, anh chị em! Tổ tiên chúng ta thường nói: Có ba việc hệ trọng trong một đời người, đặc biệt đối với người đàn ông. Đó là: làm nhà - cưới vợ và tậu trâu. Tại sao thế? Thưa, là vì ba chuyện này có liên quan đến cả một đời người. Trong thế giới tân tiến hiện nay, việc làm nhà và việc tậu trâu không còn là những việc quan trọng như xưa, nhưng bù lại, việc lấy vợ, hay còn gọi là việc lập gia đình, vẫn còn quan trọng, và nó vẫn quan trọng trong mọi thời đại. Việc kết hôn đối với nguời công giáo còn quan trọng hơn nữa, khi người công giáo cử hành hôn nhân như một phép Bí Tích, qua đó, Chúa kết hợp một người nam và một người nữ nên một thân xác và phán rằng: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không đuợc phân ly”. Tiếc thay, rất nhiều nguời công giáo vẫn chưa hiểu hết những ý nghĩa sâu xa của Bí Tích Hôn Phối! Trong bài chia sẻ này, tôi xin trích lại những lời dạy bảo mà các Giám Mục Việt Nam đã cho phổ biến trong cuốn “Nghi Thức Cử hành Hôn Nhân”, ngõ hầu giúp cho độc giả hiểu thêm một số kiến thức quan trọng liên quan đến Bí Tích Hôn Phối của nguời công giáo: Tầm quan trọng và phẩm giá của Bí Tích Hôn Phối. 1. Giao ước hôn nhân, qua đó một người nam và một người nữ cùng nhau thiết lập một cộng đồng sống chung trọn đời có hiệu lực và được vững mạnh do chính công trình tạo dựng. Tuy nhiên, đối với các Kitô hữu, giao ước này còn được nâng lên địa vị cao hơn, vì được kể vào hàng các Bí Tích của giao ước mới. 2. Hôn nhân đuợc hình thành do giao ước hôn nhân, tức là do sự ưng thuận không thể rút lại của đôi bên, qua giao ước này những người phối ngẫu tự nguyện trao thân cho nhau và đón nhận lẫn nhau. Chính sự kết hợp độc đáo giữa một người nam và một người nữ cũng như lợi ích của con cái đòi hai người phối ngẫu phải hoàn toàn trung thành với nhau và phải kết hợp với nhau bằng một dây ràng buộc không thể tháo gỡ. 3. Do bản tính tự nhiên, chính cơ chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng đều hướng tới việc sinh sản và giáo dục con cái, và nhờ những hoạt động sinh sản và giáo dục con cái, cơ chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng đạt tới đỉnh cao. Quả thật, con cái là ân ban cao quí nhất của

hôn nhân và đem lại lợi ích nhiều nhất cho chính cha mẹ. 4. Cộng đồng thân mật về đời sống và tình yêu làm cho đôi bạn “không còn là hai, nhưng là một thân xác”, là cộng đồng được chính Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa thiết lập, đặt cho những luật lệ riêng và ban phúc lành. Chỉ có phúc lành này không bị hình phạt do tội nguyên tổ lấy đi. Vì thế, sợi dây thánh thiêng này không tùy thuộc ý muốn của con người, nhưng lệ thuộc vào Đấng thiết lập hôn nhân. Chính Ngài muốn ban tặng cho hôn nhân những thiện ích và mục đích riêng. 5. Còn Đức Kitô, khi làm nên một thụ tạo mới và đổi mới mọi sự đã muốn đưa hôn nhân trở về hình thức nguyên thủy, và sự thánh thiêng ban đầu, để con người không được phân ly sự gì Thiên Chúa đã kết hợp. Hơn nữa, để diễn tả hôn ước bất khả phân ly này cách rõ ràng hơn và làm cho hôn ước này dễ thực hiện hơn theo mẫu giao ước hôn nhân của Người với Hội Thánh. Người đã nâng hôn ước này lên hàng Bí Tích. 6. Sự hiện diện của Người đã đem phúc lành và niềm vui đến cho tiệc cưới Cana, khi Người làm cho nước lã hóa thành rượu. Như vậy, Người đã báo truớc giờ của giao ước mới và vĩnh cửu: “Như xưa, Thiên Chúa đã đến gặp gỡ dân Ngài bằng một giao ước yêu thương và thành tín, thì nay, Đấng Cứu Độ loài người” cũng tự đặt mình làm hôn phu của Hội Thánh, hoàn tất giao ước với Hội Thánh trong mầu nhiệm vượt qua của Người. 7. Nhờ bí tích Rửa Tội, nghĩa là bí tích của đức tin, người nam và người nữ được đưa vào giao ước của Đức Kitô với Hội Thánh một lần và mãi mãi, khiến cho cộng đồng phu thê của họ được sát nhập vào đức ái của Đức Kitô và được nên phong phú nhờ hy lễ của Nguời. Do tình trạng mới này mà hôn phối thành sự của những người đã được rửa tội bao giờ cũng là bí tích. 8. Nhờ bí tích Hôn Phối, đôi vợ chồng Kitô hữu biểu thị và được thông phần vào mầu nhiệm hợp nhất và tình yêu phong phú giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Bởi vậy, khi bước vào đời sống hôn nhân cũng như khi đón nhận và giáo dục con cái, họ giúp nhau nên thánh, và chính họ có chỗ đứng cũng như ân sủng riêng trong dân Thiên Chúa. 9. Nhờ bí tích này, Thánh Thần tác động, để như Đức Kitô đã yêu mến Hội Thánh và nộp mình vì Hội 7

Thánh, thì các vợ chồng Kitô giáo cũng phải cố gắng nuôi dưỡng và gìn giữ tình nghĩa vợ chồng qua việc tôn trọng sự bình đẳng, việc tận hiến cho nhau và tình yêu không chia sẻ, một tình yêu khởi phát từ nguồn mạch linh thánh của đức ái. Nhờ liên kết ơn thánh với nỗ lực của con người, họ luôn trung tín với nhau, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, trong tâm trí cũng như ngoài thân xác, hoàn toàn xa lánh mọi thứ ngoại tình và ly dị. 10. Việc chăm sóc đúng đắn cho tình yêu vợ chồng và toàn bộ nếp sống gia đình, trong khi không coi nhẹ những mục đích khác của hôn nhân, sẽ dẫn đưa nguời vợ, người chồng Kitô giáo tới chỗ can đảm, sẵn sàng cộng tác với tình yêu của Đấng Tạo Hóa và Cứu Độ; nhờ họ, Ngài làm cho gia đình của Ngài ngày thêm phát triển và phong phú. Vì vậy, tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng và thể hiện tinh thần hy sinh, họ làm vinh danh Đấng Tạo Hóa và tiến tới sự hoàn thiện khi chu toàn nghĩa vụ truyền sinh cách quảng đại với trách nhiệm của con người và của Kitô hữu. 11. Thiên Chúa là Đấng đã kêu gọi đôi vợ chồng vào hôn nhân, vẫn tiếp tục kêu gọi họ sống đời hôn nhân. Ai kết hôn trong Đức Kitô, thì trong niềm tin vào Lời Chúa, người ấy có khả năng cử hành cách hiệu quả mầu nhiệm hợp nhất giữa Đức Kitô và Hội Thánh, sống ngay chính và công khai làm chứng trước mặt mọi người. Hôn nhân được ước mong, được chuẩn bị, được cử hành và được diễn tả trong cuộc sống hằng ngày dưới ánh sáng đức tin, là hôn nhân “được Hội Thánh liên kết, được hiến lễ củng cố, được lời chúc hôn niêm ấn, các Thiên Thần công bố và Chúa Cha phê chuẩn… Đẹp thay hôn nhân của hai tín hữu có chung niềm hy vọng, chung một kỷ luật, chung một việc phụng thờ! Cả hai là anh em, cả hai cùng là tôi tớ, không còn khác biệt nào trong tinh thần và thể xác nữa. Cũng chẳng còn là hai trong một thể xác; vì nơi đâu thể xác là một, thì tinh thần cũng là một. (Xin đọc tiếp số tới về đề tài: Phận vụ và thừa tác)

Câu chuyện bí mật của Đức Thánh cha Gioan Phaolô II
(tiếp theo kỳ trước) Người chưa thể lường trước Ngày 4 tháng Bảy 1958, Wojtyla được triệu tập khẩn cấp tới nơi ở tại Warsaw của Đức Hồng y Wyszynski, giáo chủ, cũng là nhà lãnh đạo Giáo hội. Suốt mười năm, Đức Wyszynsky là biểu tượng cho Giáo hội Công giáo Ba Lan. Bằng những ứng xử khôn khéo và ngoan cường, bằng con đường ngoại giao, ngài bảo vệ truyền thống độc lập của Giáo hội. Lúc này, Đức Wyszynski lẹ làng đưa mắt nhìn vị linh mục trẻ rám nắng, kẻ mà ngay trong chiếc áo dòng của mình cũng cho thấy sự cường tráng và lực lưỡng. Đức Hồng y không hiểu nhiều về người trẻ tuổi này ngoại trừ số tuổi của người ấy, 38, và việc ngài bị người ấy ngắt lời trong một cuộc tỉnh tâm của một nhóm thanh niên. Wyszunski đưa bàn ta xương xẩu của ngài cầm một tờ giấy lên khỏi mặt bàn. Ngài mở lời: – Đây là một lá thư ưu ái mà Đức Thánh cha gởi cho chúng ta. Xin hãy nghe: ‘Tôi chỉ định Linh mục Karol Wojtyla làm Giám mục Phụ tá Giáo phận Krakow; xin vui lòng chấp thuận sự chỉ định này’. Đức Hồng Y nhìn Wojtyla ngưng lại để xem xét phản ứng của vị linh mục trẻ, rồi hỏi: – Cha có chấp nhận không? Wojtyla thưa vâng. Ngày 28 tháng Chín 1958, Karol Wojtyla được truyền chức giám mục tại Nhà thờ Chánh toà Wawel ở Krakow. Chưa đầy hai tuần sau, ngày 9 tháng Mười, Đức Thánh cha Piô XII qua đời ở tuổi 82, và ngày 28 tháng Mười các hồng y bầu Đức Angelo Giuseppe Roncalli, 76 tuổi, lấy danh hiệu là Đức Thánh cha Gioan XXIII. Chỉ mới nội trong ba tháng đầu, vị tân Đức Thánh cha này đã triệu tập một Công đồng toàn thế giới. Thiệp mời gởi tới cho 2.594 giám mục khắp thế giới, trong đó có Đức Karol Woltyla. Giáo hội Công Giáo là một định chế luôn luôn có khuynh hướng xem rất trọng tính liên tục. Nhưng hội nghị của các thủ lãnh Công giáo từ tháng Mười năm 8 1962 đến tháng Mười hai năm 1965 được xem chính xác như một đoạn tuyệt căn bản với quá khứ. Công đồng Vatican II là một cuộc cách mạng. Tại Vatican II, chủ trương chuyên chế của trung ương – bộ máy thư lại toà thánh tại La Mã hàng thế kỷ độc đoán cùng sự bắ t buộc tôn trọng tuyệt đối các luật lệ của cuộc sống Công giáo – bị tước bỏ. Công đồng phá vỡ kiểu thức của một Giáo hội kế thừa từ Thời đại Phục hưng của Công đồng Trentô (1545-63), và cho phép nối lại tình hữu nghị với các giáo hội Thệ phản (Tin lành) và Chính thống giáo phương Đông và từ bỏ chủ nghĩa chống Do Thái. Khi Giám mục Wojtyla lần đầu tiên đến La Mã, vị giáo sĩ 42 tuổi này là một người chưa ai lường trước được. Nhưng công đồng sẽ thay đổi cuộc đời của vị ấy. Các buổi hội luận của công đồng là trường học lớn lao cho ngài. Ngài quan sát, lắng nghe và học hỏi. Từ ghế ngồi của mình trong Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, ngài là chứng nhân các cuộc đối đáp, những tràng vỗ tay thắng lợi, những bùng nổ thịnh nộ, và sự thành hình các khối phiếu thể hiện lề lối dân chủ nghị trường của Giáo hội. Ngài bắt đầu tiếp xúc với những khuôn mặt có ảnh hưởng trong Giáo hội. Tại La Mã ngài gặp lại người bạn cũ, Cha Adrzej Maria Deskur từng cùng ngài theo học ở chủng viện và có một am hiểu sâu xa về trung ương. Cha Deskur giới thiệu Đức Wojtyla với những khuôn mặt chủ yếu trong các nhóm ở Vatican. Cha Deskur kể lại: – Mỗi ngày thứ hai tôi hỏi ngài muốn gặp ai, và Karol đưa cho tôi một danh sách. Tại Công đồng Vatican II, những người Ba Lan là phái đoàn quan trọng ra đi từ thế giới cộng sản, và chẳng bao lâu, Đức Wojtyla trở thành một trong các người phát ngôn của phái đoàn. Vị tân giám mục của Krakow bắt đầu lôi cuốn sự chú ý. Ngài nổi bật trong sự kính mến của Công đồng vì kiến thức, khả năng lắng nghe của ngài và việc ngài coi thường tính chất tinh thần của chủ nghĩa cộng sản.

Dù đôi khi bị đánh giá là người theo những nguyên tắc trừu tượng, quá cách biệt với chính trị, Đức Wojtyla biết cách sử dụng uy lực của các ý nghĩa tượng trưng. Khi ngài chính thức trở thành tổng giám mục của Krakow, ngài khải hoàn bước vào Nhà thờ Chánh toà Wawel, mặc phẩm phục được trao cho các tổng giám mục vốn có nguồn gốc từ thời Trung cổ. Phẩm phục tráng lệ ấy của Đức Wojtyla tiêu biểu cho gần một ngàn năm lịch sử Ba Lan. Nó không chỉ là tôn trọng truyền thống mà còn là cách nhắc nhở các tín đồ và “những người ngoại giáo” đang nắm quyền rằng Giáo hội của Ba Lan là của dân tộc, và lịch sử của Ba Lan đã không thể hiện hữu nếu tách biệt khỏi Giáo hội. Sự thách thức của Đức Wojtyla còn công khai hơn. Từ những ngày mới làm giám mục, ngài đã dài ngày vận động cố sở đắc cho được giấy phép dựng một nhà thờ tại Nowa Huta, một thành phố xã hội chủ nghĩa kiểu mẫu do Cộng sản xây dựng sát bên trong địa giới của giáo phận Krakow. Khi chính quyền không giữ lời hứa, vào dịp lễ Giáng sinh ngài đến khu vực đã hứa cho xây nhà thờ và cử hành Thánh lễ nửa đêm ngoài trời trong tuyết lạnh. Ngài tới tấp đòi hỏi giới cầm quyền bằng một chuỗi thỉnh nguyện kiên định và các yêu cầu về các chủng viện mới, nhà thờ mới và những cuộc rước kiệu công khai. Ngài phản đối toan tính của chính quyền ngăn chận việc dạy giáo lý cho trẻ em. Tính cách độc lập và cá tính của vị Tổng giám mục này đã sớm được nhận biết. Năm 1967, Đức Phaolô VI phong ngài làm Hồng y. Từ đó trở đi, cảm tình giữa Đức Phaolô VI và vị Tổng giám mục 47 tuổi của Krakow này ngày càng gia tăng, và ngài trở thành vị khách được ái mộ của Đức Thánh cha. Trong các chuyến đi La Mã, ngài thường viếng thăm Đức Phaolô VI bằng những cuộc tiếp kiến riêng tư. Và lúc ấy cả hai có sự hợp tác đặc biệt trong một thông điệp giáo hoàng đánh dấu một bước ngoặt, Humanae Vitae (Sự sống Con người). Có thể thấy dấu vết của vị Hồng y ở Krakow trong thông điệp ấy mà hầu hết nội dung duy trì sự nghiêm cấm của Giáo hội về các cách thức ngừa thai nhân tạo. Tại Vatican, Đức Wojtyla nổi tiếng như một triết gia và một người sử dụng dễ dàng nhiều ngôn ngữ châu Âu khác nhau: Tây Ban Nha, Nga, Pháp, Anh, Ý và

Đức ngữ. Ngài cũng nổi tiếng về sức quyến rủ lạ thường của mình đối với giới trẻ. Với các hồng y khác, vị Hồng y Ba Lan này vẫn còn điều gì như một cuốn sách chưa lật ra. Ngài nồng nàn trong những trao đổi riêng tư nhưng hiếm khi vui vẻ. Trong khi khao khát được lắng nghe lời người khác, ngài vẫn là kẻ thui thủi một mình. Một số người biết là ngài đã mất mẹ, anh và bố từ những năm tuổi nhỏ, nhưng ngài không bao giờ đề cập đến chuyện ấy. Thực tế, ngài chẳng sở hữu gì ngoài sách và những chiếc áo dòng, một ít vật kỷ niệm của gia đình, giày trượt tuyết và quần áo leo núi. Ngài cũng sớm được chú ý đến bên ngoài Vatican. Vào năm 1976, báo New York Times xếp ngài vào danh sách mười ứng viên thường được đề cập nhất để kế vị Đức Phaolô VI. Dù Đức Hồng y Albino Luciani đã được bầu khi Đức Phaolô VI qua đời vào tháng Tám 1978, những vị bên trong Giáo hội đều đồng ý với nhau rằng “ngôi sao Wojtyla đang lên”. Đức Thánh cha Người tài xế nhớ lại, tác động của tin Đức Thánh cha từ trần làm cho Đức Wojtya nhức một bên đầu. Suốt ngày vị Hồng y Krakow bị căng thẳng. Ngài biết là mình sắp sửa không thể nào tham dự các buổi họp kín của Hồng y đoàn như là một khán giả thuần túy. Dạo tháng Tám gần như việc bầu chóng vánh Đức Gioan Phaolô I thật sự là một phép lạ. Chỉ bốn vòng bỏ phiếu, các Hồng y đã đồng ý chọn ngài. Nay phải tìm cho ra một tên tuổi khác. Việc ấy có thể làm mệt phờ người. Chính thức, các Hồng y tin vào Chúa Thánh linh, nhưng các vị hiểu rằng diễn tiến bầu cử vị giáo chủ tối cao sẽ tác động đến mọi sự kiên định, khéo léo và có khi có khả năng tạo hiềm khích với nhau. Một lần nữa người Ý cố đặt một đồng bào của mình lên, nhưng Đức Wojtyla đã thành một ứng viên đáng chú ý. Ngài biết là có một vị Hồng y nhiều ảnh hưởng đang vận động cho mình: Đức Franz Konig của Vienna (Áo). Nhân vật cao lớn, bệ vệ này có 20 năm kinh nghiệm trong Hồng y đoàn. Ngài và vị Hồng y Krakow hiểu nhau rất rõ. Trong các lần Đức Wojtyla viếng thăm La Mã, cả hai đã có những cuộc thảo luận rất lâu về tình hình Đông Âu, đặc biệt tại các xứ sở mà phần lớn hoạt động của Giáo hội bị hạn chế trong thầm lặng.

9

Đức Konig thuyết phục nhiều Hồng y ở La Mã là vị Thánh cha sắp tới phải là người trẻ, mạnh khỏe và không là người Ý. Sau cái chết của Đức Phaolô VI, Đức Konig từng tuyên bố là các Hồng y Đông Âu cũng có quyền có ứng viên của mình. Nếu có ai hỏi tên, Đức Konig đưa Wojtyla ra. Và từ từ, ngài để lộ lời Đức Phaolô VI nói về vị Hồng y ở Krakow rằng: – Vị ấy là một người dũng cảm và đáng ca ngợi. Nhưng khi thăm dò các đồng sự, Đức Konig thấy không có sự đồng tâm tức thời. Ngài càng đề cập tới, càng nhận ra là thật khó khăn khi đập vỡ cái khuôn rập hàng ngàn năm nay đòi hỏi vị Thánh cha phải là người Ý. Đức Wojtyla nằm ngoài sự chú ý của mọi người, nhưng điều ấy không quan trọng gì. Đức Giám mục Deskur, người bạn và người đồng hương không mệt mỏi của ngài đã đóng vai người điều hành cuộc vận động và cũng nỗ lực để nhiều người ủng hộ khác nhau cùng đứng về phía Đức Wojtyla. Rồi thì, chỉ một ngày trước khi bắt đầu hội nghị, Đức Deskur bị lên cơn đau tin nặng và từ đó chẳng bao giờ ngài hoàn toàn bình phục. Đức Wojtyla dịu dàng và lo âu thăm viếng ngài tại bệnh viện nơi ngài nằm điều trị. Để thư giản, Đức Wojtyla ra bãi biển. Chỉ ngay bên ngoài La Mã, mặt nước mùa thu lạnh lẽo mới đủ ấm cho nhân vật cô độc này, một người đến từ phương bắc đang vùng vẫy bơi lui bơi tới. Trong vòng đầu phiếu đầu tiên, các Hồng y tụ họp tại Nhà nguyện Sistine. Các vị im lặng lắng nghe những luật lệ buộc phải giữ bí mật tuyệt đối, cấm mọi thông tin với thế giới bên ngoài. Không cho phép các máy truyền tin hai chiều cũng như không được ghi âm. Bộ phận bảo vệ của Vatican đã dùng các máy dò điện tử để lùng tìm các vật nghe lén. Sau khi gặp nhau, mỗi Hồng y vào phòng hay ngăn ở dành riêng cho mình. Vào ngăn 91, vị Hồng y Krakow chú ý tới chiếc giường đơn, tủ để đồ và một chiếc bàn nhỏ. Hôm sau, Chúa nhật ngày 15 tháng Mười, diễn tiến bầu cử bắt đầu. Cuộc bầu cử diễn ra cho thấy rõ là các ứng viên người Ý bị chia phiếu của nhau. Và những ứng viên đang loại trừ lẫn nhau đó không đạt kết quả trong việc giành được sự nhất trí mạnh mẽ.

Tính chất gay gắt của cuộc tranh đua bầu phiếu tương phản với sự trầm lặng không thực tràn ngập hội nghị. Thực tế, tại Nhà nguyện đường Sistine chỉ có tiếng kêu sột soạt của các lá phiếu khi xếp chúng lại và bỏ vào chén thánh được dùng làm thùng phiếu. Giữa cảnh im ắng này, đang trang trọng diễn ra cuộc chiến đấu cho tương lai của Giáo hội. Vào tối Chúa nhật, rõ ràng là các ứng viên dẫn đầu đã đánh mất vị trí của mình. Ở vòng phiếu thứ tư, Đức Wojtyla nhận thêm được một ít phiếu, một điềm báo hiệu. Đức Konig cảm thấy sẵn sàng lao vào cuộc tiến công tối hậu. Ngài nói với các Hồng y Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ, luôn luôn bằng một thái độ tự nhiên như thể đó là vấn đề tầm thường nhất. Một ít lời trao đổi trong hành lang, trò chuyện trong khi rời phòng ăn, viếng thăm ngắn ngũi ngăn ở của một vị nào đó, ngài thận trọng và thuyết phục. Sự căng thẳng rì rào khắp hội nghị khi các cử tri nghiêm trọng cân nhắc khả năng bỏ phiếu cho một vị không phải người Ý. Ngày Thứ hai 16 tháng Mười, trong vòng phiếu thứ sáu – vòng cuối trước khi đi ăn trưa – các lá phiếu bầu cho hồng y Krakow đột nhiên tăng lên. Chiều ấy, sau hai vòng bầu nữa, Đức Wojtyla nghe xướng tên mình. Một đa số lớn lao các Hồng y đã làm điều không tưởng tượng nổi: các vị chọn một Đức Thánh cha từ một xứ sở có chính quyền Cộng sản vô thần, vị Thánh cha đầu tiên không phải người Ý tính từ suốt 456 năm qua, một Thánh cha trẻ 58 tuổi, kẻ khi còn đi học từng nói mình không thích làm linh mục. Giữa sự thinh lặng ấy, nghe rõ tiếng vị Hồng y thị thần hỏi: – Ngài có chấp nhận không? Sự căng thẳng tan trên khuôn mặt của Đức Wojtyla, ngài trả lời nghiêm trang: – Có. Với sự vâng phục trong đức tin vào Đức Kitô, Chúa chúng ta, và với sự tin tưởng vào Mẹ của Đức Kitô và của Hội thánh, bất chấp mọi khó khăn, tôi chấp nhận. Và để vinh danh di sản của ba vị Thánh cha tiền nhiệm, ngài lấy danh hiệu Gioan Phaolô II. Chỉ có nhịp mạch máu giật trên trán của Đức Wojtyla để lộ cơn bão trong tâm hồn ngài khi ngài chuẩn bị rời 10

nhà nguyện ấy. Trầm lặng, ngài để cho mình được hộ giá tới phòng ngoài, được xem là camera lacrimatoria (phòng than khóc). Ở đây, vị tân Đức Thánh cha chờ đợi người thợ may toà thánh mặc thử cho ngài một trong ba loại áo chùng trắng – cỡ nhỏ, vừa hoặc lớn – đã được đặt sẵn ở đó. Sau khi Đức Thánh cha Gioan Phaolô II mặc chiếc lớn nhất trong ba chiếc áo dòng ấy, các Hồng y lần lượt từng người tới bái ngài để tỏ lòng tôn kính. Sau đó, vị tân Đức Thánh cha tự mình bước quả quyết vào hành lang rộng lớn ngoài Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô để chào La Mã và thế giới. Ngày 22 tháng Mười, Đức Wojtyla xuất hiện tại Quảng trường Thánh Phêrô cử hành thánh lễ đăng quang ngôi Thánh cha của mình. Ngài có sự thoải mái của một nghệ sĩ vốn đã thuộc lòng vai tuồng của mình. Khi các nốt nhạc của bài tụng ca kết thúc trong im lặng, vị giáo chủ tối cao phá vỡ truyền thống và bắt đầu tiến gần đến dân chúng chung quanh ngài. Bằng những bước dài, ngài đi nhanh qua quảng trường lúc các Hồng y đứng ngắm hết sức kinh ngạc. Ngài ôm một nhóm những người tật nguyền đang ngồi xe lăn. Ngài bắt tay, hôn các em bé và vỗ các lẵng hoa dân chúng dâng ngài. Tiếp đến, ngài dồn ánh mắt của mình vào đám đông cuồng nhiệt, và cầm quyền trượng của mình bằng hai tay như một thanh kiếm, ngài vạch dấu hiệu chúc phúc đầy quyền năng. Qua các vệ tinh, những tín hữu cũng như không phải tín hữu khắp thế giới quan sát nghi lễ trang trọng ấy. Tại Ba Lan, thực tế mọi người đều dán mắt vào máy truyền hình của mình. Toàn bộ sinh hoạt xứ sở dường như tạm ngưng lại. Ngày 5 tháng Mười một, Đức Wojtyla thăm Assisi, thành phố của Thánh Phanxicô, vị thánh đỡ đầu nước Ý. Nhiệt tình của đám đông khi gặp ngài thật cuồng nhiệt. Với sự tưng bừng hớn hở của đám đông ngân vang bên tai, Đức Thánh cha nghe ai đó la lớn: – Xin đừng quên Giáo hội Thầm lặng! Câu đó có nghĩa đề cập tới Giáo hội bị bách hại bên kia Bức màn sắt. Không để lỡ nhịp hô, Đức Gioan Phaolô II đáp lại: – Không còn Giáo hội Thầm lặng nữa, vì Giáo hội ấy nói với tiếng nói của tôi! 11

Ngài đã sẵn sàng để nhắc nhở các chế độ Cộng sản rằng có những Kitô hữu không có tự do ngôn luận. Và ngài sẽ cho thấy rất nhanh điều ngài muốn đề cập. Đức Gioan Phaolô II sắp sửa đốt sáng ngọn lửa bên dưới hàng giáo phẩm Công giáo tại các nước Đông Âu. Với các giám mục Nam Tư, Hungary, Latvia và Lithuania, ngài hứa hỗ trợ và khuyến khích các vị ấy dũng cảm hơn trong việc đối phó với chế độ Cộng sản mà họ đang sống dưới chúng. Trong lúc ấy, tại Mátcơva, cấp lãnh đạo đang đánh giá vị tân Thánh cha. Ngày 4 tháng Mười một 1978, Ủy ban Trung ương của đảng Cộng sản Sô viết nhận được bản báo cáo đặc biệt về vị tân giáo chủ này với những đúc kết tiên đoán về vai trò mới của ngài trong cương vị giáo hoàng, rằng “Wojtyla rõ ràng là sẽ ít muốn thoả hiệp (hơn trước đây) với cấp lãnh đạo các nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Có một điều mà bản báo cáo ấy không thấy trước được là Đức Gioan Phaolô II sớm sủa nhận lời thách đấu biết chừng nào. Các tuyến mặt trận Thách đố đến với hình thức chiếc phi cơ phản lực màu trắng Alitalia bắt đầu hạ cánh xuống phi trường Warsaw ngày 2 tháng Sáu 1979. Trên máy bay, Đức Thánh cha bồn chồn ôn lại bản sơ thảo bài diễn văn đầu tiên của mình. Ngài nói: – Tôi trở lại. Tôi sắp gặp gỡ Giáo hội mà từ đó tôi xuất thân. Nhưng không ai hiểu hết cuộc viếng thăm này của ngài sẽ tác động tới mức nào. Khi Leonid Brezhnev, lãnh tụ Sô viết, nghe tin chính phủ Ba Lan đang thương thảo về thời gian thăm viếng của Đức Thánh cha, y giận dữ điện thoại cho đệ nhất bí thư của Warsaw và truyền lệnh là không được đón nhận ngài. Viên bí thư ấy trả lời: – Làm thế nào tôi không thể tiếp đón vị Thánh cha người Ba Lan khi đại đa số đồng bào tôi là người Công giáo? Xin lỗi đồng chí Leonid, tôi không thể từ chối Đức Thánh cha. Brezhnev nói cách xui xẻo: – Cứ làm điều ngươi muốn nhưng hãy cẩn thận và về sau chớ hối tiếc!

Năm 1966, đảng Cộng sản ở Warsaw từng từ chối chấp thuận cho Đức Thánh cha Phaolô VI thăm viếng. Nay lịch sử đã phục thù. Sau khi vào không phận Ba Lan viên phi công chiếc Alitalia lái bay vòng trên thành phố Krakow. Đức Thánh cha nhìn xuống quang cảnh rất quen thuộc phía dưới; ngọn đồi hùng vĩ Wawel Castle và nhà thờ chánh toà; chỗ rẽ mênh mông của sông Visula nơi ngài từng tản bộ với bố mình; khu kỹ nghệ nằm trườn ra ở vùng ngoại ô Nowa Huta, “thành phố mới của công nhân” nơi người Cộng sản thuở trước từ chối không cho ngài xây nhà thờ. Từ trên không, ngài có thể nhìn thấy nhà máy hoá học già nua Solvay, toà nhà gạch đỏ nhếch nhác nơi ngài làm việc cực nhọc trong thời Quốc xã chiếm đóng. Lúc 10 giờ 7 phút sáng, máy bay của Đức Thánh cha đáp xuống thủ đô Ba Lan. Vào lúc ấy, chuông các nhà thờ Ba Lan reo lên. Từ biển Baltic đến các ngọn núi Tatra, từ Silesia đến biên giới Liên bang Xã hội Chủ nghĩa Sô Viết, chuông thánh đường dội vang khắp xứ sở. Tại phi trường, ban thánh ca Sinh viên Công giáo trổi lên điệu ca thời trung cổ “Gaude, Mater Polonia” (Vui lên, Mẹ Ba Lan ơi!), và khắp toàn cõi Ba Lan dường như biến mất lá cờ đỏ cộng sản. Chỉ còn lại các biểu ngữ của quốc gia Ba Lan và của Vatican. Giữa hàng ngàn người Ba Lan bu quanh các con dường vào phi trường để nhìn Đức Thánh cha, có Zbigniew Bujak. Đó là nơi cuối cùng đáng cho anh đến. Anh là một người bị tình nghi. Công an mật đang đánh hơi anh, lập hồ sơ về anh. Mới đây anh đã tham gia thành lập một nhóm nghiệp đoàn bất hợp pháp. Khi Đức Thánh cha đi qua trên một chiếc xe jeep nhà binh màu trắng, tiếng la hét của đám đông điếc cả tai. Bujak xúc động vì nụ cười của Đức Wojtyla khi ngài chúc phúc cho đám đông cuồng nhiệt. Bỗng nhiên, anh nhận ra rằng, ” Đây cũng là một cuộc biểu tình chống cộng sản,” và anh cảm thấy có một sức mạnh nâng mình lên. Khi đến Quảng trường Castle, ngay lối vào Khu Phố Cổ Warsaw, xe Đức Thánh cha chạy lên trên những sỏi lát đường trải đầy các vòng hoa. Vừa thấy nhà thờ chánh toà, gương mặt của Đức Thánh cha mất vẻ biểu lộ quả quyết, và nước mắt bắt đầu tuôn ướt đẫm má. Đức Wojtyla dùng lưng bàn tay quệt nước mắt.

Vì đây là Thánh lễ đầu tiên Đức Karol Wojtyla cử hành tại Ba Lan trong cương vị Đức Thánh cha, các giám mục xây cất một khán đài khổng lồ ngay trung tâm Quảng trường Victoria, nơi mai táng Người Chiến sĩ Vô danh Ba lan. Bình thường chính phủ chỉ dùng quảng trường này để diễn binh. Lúc này, ba đợt cầu thang dẫn lên bàn thờ có cắm cây Thánh giá bằng gỗ cao 11 thước. Quảng trường rộng thênh thang ấy, thường là biểu tượng của sức mạnh Cộng sản, nay đã trở thành một chốn thờ tự tôn giáo. Khi Đức Thánh cha đến quảng trường lúc bốn giờ chiều, đã có 300.000 người đợi sẵn. Mọi điều Đức Thánh cha nói trong bài giảng đều báo hiệu sự bắt đầu một chuyển hướng cho Giáo hội – tại Ba Lan, tại phần còn lại của Đông Âu, tại Liên bang Sô viết, và trong bang giao quốc tế. Giáo hội không còn chỉ giản dị đòi hỏi không gian sống cho chính mình. Qua Đức Thánh cha này, Giáo hội đòi hỏi tôn trọng quyền con người cũng như các giá trị Kitô giáo, tôn trọng đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Những đòi hỏi này thể hiện một cuộc đổ bộ trực tiếp vào những khoác lác khắp thế giới của hệ tư tưởng Mác-xít mà lúc này đã trở thành chiếc vỏ ốc rỗng tuếch. Khi Đức Gioan Phaolô II nói, mọi người có thể cảm thấy có một loại điện từ liên kết trọn vẹn diễn giả và cử tọa. Mười phút vỗ tay không ngừng đã làm chìm khuôn mặt nhỏ bé của Đức Thánh cha đang đứng thẳng người trong đám đông khổng lồ. Lạc loài trong buổi hành lễ là các đại diện cao cấp của đảng Cộng sản. Họ quay về các sở chỉ huy ủy ban trung ương, căng thẳng dán sát mắt vào máy truyền hình của mình. Các ống kính máy thu hình của nhà nước chỉ được phép hướng một bề vào Đức Thánh cha và đoàn tùy tùng, không được quây đám đông mênh mông đang tham dự buổi tụ họp tôn giáo lớn lao nhất tại Đông Âu tính từ trước Thế chiến Hai. Các bản báo cáo đầy hoảng hốt xuất phát từ chuyến đi ấy của Đức Thánh cha. Tại Lithuania, hàng trăm ngàn tín đồ lắng nghe các chương trình truyền thanh từ Warsaw, và các nhà thờ chật ních vì Thánh lễ tôn vinh Đức Thánh cha. Tại Latvia và Estonia cũng thế, dân chúng xem chương trình truyền hình phát đi từ Phần Lan. Tại Mátcơva, giới lãnh đạo hàng đầu Sô viết cũng quan sát. Và tại Hoa Kỳ, trong số những người đang chứng kiến biến cố ấy bằng máy truyền hình là Ronald 12

Reagan tại hàng hiên nông trại của ông ở Santa Barbara, California. Cùng xem với ông là Richard Allen, người sau này trở thành cố vấn an ninh quốc gia đầu tiên của ông. Ngồi trước máy truyền hình xách tay, họ quan sát đám đông Ba Lan đang trong trạng thái say sưa chất ngất. Mắt của Reagan đẫm lệ. Cuộc khải hoàn trở về quê mẹ của Đức Gioan Phaolô II đã khiến cho nhà cầm quyền Cộng sản ở Warsaw và Mátcơva rúng động. Họ choáng váng khi Đức Thánh cha ra điều kiện cho người Cộng sản nếu muốn chung sống hoà bình với Giáo hội: ”Từ nay phải làm kẻ bảo đảm cho các quyền con người cơ bản – mà người Cộng sản không thể nào tưởng tượng nổi – tại bất cứ nơi nào trong khối Đông”. Trong chuyến đi của ngài, Đức Thánh cha gặp gỡ các công nhân quận Nowa Huta. Những kinh nghiệm công trường của mình đã cho Đức Gioan Phaolô II một am hiểu mà không vị Thánh cha người Ý nào từng có. Ngài phát đi một thông điệp sấm sét: “Không được ngược đãi công nhân bằng cách xem họ đơn thuần là phương tiện sản xuất!” Sau cùng, ngày 10 tháng Sáu, loé lên tính cách cách mạng tại một xứ sở xã hội chủ nghĩa. Hơn một triệu tín hữu đến đồng cỏ ở Krakow lắng nghe thông điệp từ biệt của Đức Thánh cha. Ngài nói lớn: – Anh chị em thân mến! Anh chị em phải dũng cảm với sức mạnh tuôn trào từ đức tin! Không việc gì phải sợ hãi. Các ranh giới phải được mở ra. Khi Đức Thánh cha tiến lên bàn thờ, hai quả bong bóng được thả lên trời, mang biểu hiệu cuộc kháng chiến của Ba Lan trong thời Thế chiến Hai: một chữ “P” trên một chữ “W”. Có nghĩa: “Ba Lan tiếp tục chiến đấu.” Đã vạch ra các tuyến mặt trận. Đức Thánh cha chống lại Đế quốc Sô viết. Công đoàn Đoàn kết Năm 1980, một năm sau chuyến viếng thăm của Đức Thánh cha, kinh tế Ba Lan bị suy sụp trầm trọng, hậu quả của nhiều năm quản lý tồi tệ. Hàng triệu công nhân xí nghiệp khắp xứ sở đều bất mãn. Những cuộc đình công tự phát bắt đầu vào tháng Bảy 1980, đến đầu tháng Tám, lan tràn tới 150 xí nghiệp gồm cả Nhà máy Đóng tàu Lênin ở Gdansk. 13

Trong lúc Đức Thánh cha làm việc ở văn phòng của mình tại La Mã thi ở Ba Lan, một người thợ điện lực lưỡng, thất nghiệp, với hàng ria mép đặc biệt, đang leo lên một chiếc xe xúc ở Nhà máy Đóng tàu Lênin. Thoạt đầu, công nhân trong nhà máy đóng tàu quan trọng nhất của Ba Lan này ít có thiện cảm với cuộc đối đầu ấy. Họ nhớ năm 1970 công an đã tàn sát hàng tá công nhân đình công dọc theo bờ biển Baltic. Viên giám đốc nhà máy đóng tàu cũng hứa sẽ thảo luận tăng lương nếu công nhân quay lại làm việc. Nhưng Lech Walesa sáng đó đã leo lên bức tường cao ba mét rưỡi của sân nhà máy và lúc này đứng trên đầu chiếc máy xúc, phản đối kịch liệt viên giám đốc, và kêu gọi đình công. Ông là một khuôn mặt nổi tiếng trong công nhân, và khi ông nói những người đình công sẽ tự giam mình trong nhà máy đóng tàu để tự bảo vệ mình trước các lực lượng an ninh, đám đông lưu ý tới lời kêu gọi của ông. Hôm sau, 15 tháng Tám, Đức Thánh cha phái thư ký của mình, Đức ông Stanislaw Dziwisz, đi Ba Lan “để nghỉ ngơi ngắn hạn”. Dziwisz là một trong những phụ tá được tín nhiệm và giá trị nhất của ngài, và sẽ là tai mắt của ngài. Tại nhà nghỉ mùa hè dành cho mình ở Castel Gandolfo, Đức Thánh cha xem các phóng sự truyền hình về những biến cố tại quê nhà. Hình của Đức Thánh cha và ảnh Đức mẹ Sầu bi của Tiệp Khắc, một họa phẩm nổi danh về Mẹ Maria Đồng trinh, được trưng bày ở cổng vào nhà máy đóng tàu. Các chính trị gia Tây phương kinh ngạc trước cảnh công nhân đình công tụ họp quì gối xưng tội ứng khẩu ngoài trời và quanh các biểu tượng tôn giáo mà họ đã chọn làm thước đo tranh đấu. Cuộc đình công lan tràn khắp nước. Số người đình công lên đến 300.000. Suốt một tuần lễ, Đức Gioan Phaolô II giữ im lặng. Tuy thế, ngày Thứ tư 20 tháng Tám, khi phong trào đình công đe dọa sẽ sách động để đưa tới một tình trạng tê liệt chính trị dài hạn, Đức Thánh cha dâng hai lời cầu nguyện ngắn với một nhóm người hành hương Ba Lan ở Quảng trường Thánh Phêrô. Ngài tóm kết: – Hai lời cầu nguyện này biểu lộ rằng tất cả chúng ta ở tại La Mã này hiệp thông với đồng bào mình tại Ba Lan, cách riêng với Giáo hộI Ba Lan, mà những vấn đề của nó gần gũi biết bao với con tim của chúng ta.

Như thế, ngài đã công khai ban phép lành cho cuộc đình công. Cùng ngày ấy, Đức Thánh cha gởi Hội đồng Giám mục Giáo hội Ba Lan một lá thư đầy tinh tế: – Tôi cầu nguyện hết lòng mình rằng hàng giám mục Ba Lan tiếp tục giúp đỡ dân chúng trong cuộc đấu tranh khó khăn vì bánh mì hằng ngày, vì công bình xã hội, và vì sự bảo vệ những quyền bất khả xâm phạm để sống và để phát triển. Tối đó, chính quyền Ba Lan đưa ra một nhượng bộ có tính lịch sử, đồng ý tham dự thương thảo trực tiếp với các ủy ban đình công tại Gdanks và những cơ sở lao động khác. Và ngày 31 tháng Tám, một thoả ước chưa từng có được ký ở Gdanks, cho phép thành lập đầu tiên ở bên trong Bức màn sắt một công đoàn độc lập. Công đoàn ấy được gọi là Đoàn kết. Trong buổi lễ ký kết, Walesa trịnh trọng rút từ túi áo ra một cây bút lớn, màu sáng bóng. Cây bút ấy là món quà kỷ niệm chuyến đi Ba Lan của Đức Gioan Phaolô II, có hình của Đức Thánh cha trên bút. Vào mùa thu 1980, các nhà lãnh tụ Cộng sản ở Đông Bá linh, Budapest và Prague than phiền Mátcơva về những diễn biến ở Ba Lan. Các nhà lãnh đạo điện Kremlin đề nghị “các bạn hữu Ba Lan” của họ cứu xét việc thiết quân luật và họ đề nghị khẩn trương chống lại Công đoàn Đoàn kết cùng những người ủng hộ nó. Trong cuộc họp bất thường với Bộ Chính trị, các nhà lãnh đạo Cộng sản Ba Lan biện hộ cho chủ quyền của mình. Sau cùng, lãnh tụ Sô viết Leonid Brezhnev nhượng bộ và nói: – Lúc này chúng tôi sẽ không tiến quân vào Ba Lan, nhưng nếu tình hình tồi tệ, chúng tôi sẽ làm. Tháng Giêng 1981, Sô viết càng mất tinh thần hơn khi Lech Walesa du hành Vatican để gặp Đức Thánh cha và được ngài cử hành Thánh lễ riêng cho tất cả 14 thành viên của đoàn đại biểu Công đoàn Đoàn kết. Walesa làm cho báo chí cùng La Mã say mê y hệt cuộc viếng thăm của một diễn viên điện ảnh. Walesa nói: – Đứa con đang đến gặp thân phụ của mình. Liên minh Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu của Ronald Reagan, một người đàn ông râu cá ngạnh, ăn mặc lôi thôi với bộ đồ vét màu xám được đưa vào văn phòng giản dị 14

của Đức Thánh cha ở Vatican. Đó là William Casey, một người Công giáo nhiệt thành, hầu như dự Thánh lễ hàng ngày, giám đốc Cơ quan Trung ương Tình báo Hoa kỳ (CIA). Ông đến với một sứ mệnh riêng biệt có tính cách toàn cầu. Ông trao tận tay Đức Gioan Phaolô II một bức hình độc đáo đáng chú ý do vệ tinh gián điệp của Mỹ chụp được từ hàng trăm cây số cách mặt đất. Tại bàn làm việc trong chỗ riêng của mình, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II cẩn thận xem kỹ bức hình. Các chi tiết dần dà được tập trung lại: giữa vô số dân chúng, ngay tại trung tâm, có những chấm trắng chính là ngài đang đứng nói với đồng bào của mình tại Quảng trường Victory năm 1979. Từ lúc vệ tinh Mỹ chụp hình Đức Thánh cha tại Ba Lan, Casey và Reagan tin chắc đã tiềm ẩn một siêu quyền lực thứ ba trên thế giới – thị quốc rộng 44 mẫu Vatican – và vương quyền của nó, Đức Thánh cha Gioan Phaolô II, đang làm chủ một nguồn vũ khí đặc biệt có thể làm lệch cán cân cuộc Chiến tranh lạnh. Cuộc họp ấy mà suốt mười năm sau không được tiết lộ cho thế giới, Casey – bằng việc sử dụng bức hình ấy, và hơn nữa, bằng việc cho Đức Thánh cha thấy khả năng mà kỹ thuật vệ tinh tình báo cung cấp – đã giúp ký kết một liên minh giữa Toà thánh Vatican và Chính quyền Reagan. Thực tế, trước ngày Reagan cầm quyền 20 tháng Giêng 1981, đã diễn ra tiếp xúc đầu tiên giữa chính phủ Hoa Kỳ và Đức Thánh cha. Zbigniew Brzezinski, một người sinh ở Ba Lan và là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Jimmy Carter, đã đại diện Hoa Kỳ dự lễ đăng quang của Đức Wojtyla lên ngai của Thánh Phêrô. Vào tuần lễ đầu tháng Chạp năm 1980, Brzezinski điện thoại cho Đức Thánh cha cảnh giác ngài về nguy cơ một cuộc xâm lăng của Sô viết vào Ba Lan. Khi nói, Brzezinski nhìn vào các bức ảnh vệ tinh chụp những lều trại có thể xếp để di động, kế bên khu vực các bệnh viện Nga cạnh biên giới, chuẩn bị có thể xâm lăng. Đức Thánh cha bị rúng động. Sô viết đã nhận được một chuỗi các lời cảnh cáo nghiêm trọng từ Tổng thống Carter và vị Tổng thống đắc cử Reagan, sợ rằng vào lúc gián đoạn giữa cuộc bầu cử và lễ đăng quang của Reagan có thể có nổ bùng tại Ba Lan. Đối mặt với những lời cảnh cáo ấy, Sô viết

thoái bộ, nói rằng lúc này sẽ không có sự can thiệp nào. Nhưng Reagan hiểu tức thời mối đe dọa liên tục mà Công đoàn Đoàn kết đặt ra cho Mátcơva. Mười ngày sau khi nhậm chức, ông họp với Richard Allen, phụ tá an ninh quốc gia của mình, và William Casey. Kết quả vị tân tổng thống ra lệnh là sự hỗ trợ cho Công đoàn Đoàn kết – vốn lâu nay chỉ phát xuất từ các phong trào lao động Hoa Kỳ – nay được cung ứng bằng tài khoản và chuyên biệt của chính phủ. Đức Thánh cha là người hưởng lợi một số các bí mật cẩn trọng nhất của Hoa Kỳ: các tin tức từ vệ tinh và cơ quan tình báo, từ máy điện tử nghe trộm và từ những cuộc họp thảo luận về chính sách của Toà Bạch Ốc, Bộ Ngoại Giao và CIA. Trong các cuộc nói chuyện thường xuyên, Đức Gioan Phaolô II về phần mình cập nhật cho Casey những tin tình báo mới nhất thu nhặt được qua mạng lưới thông tin riêng của ngài ở Ba Lan. Casey nhận biết rằng Đức Thánh Cha, qua hàng giáo phẩm của mình, biết Công đoàn Đoàn kết đang làm gì, và giới lãnh đạo Ba Lan đang nghĩ gì. Các tin tức ấy thật vô giá. Khi mùa xuân 1981 đến ở Ba Lan thì nổ ra nhiều cuộc biểu tình hơn, và Công đoàn Đoàn kết hăm dọa một cuộc tổng đình công. Quân đội Sô viết lại nhận được lệnh tập trận. Ngày 30 tháng Ba, Ba Lan và Đức Thánh cha chiếm lĩnh gần trọn tâm trí của Reagan. Không phận Ba Lan bị đóng cửa hai ngày trước để tạo thêm thuận lợi cho cuộc tập trận của các đội quân Liên sô. Chiều đó, trong diễn từ nói với AFL-CIO (Tổng Liên đoàn Lao công Hoa Kỳ), Tổng thống Reagan ngưng lại để chào mừng các công nhân Ba Lan vì cuộc đấu tranh can trường của họ “như những vệ binh nhân danh các nguyên tắc nhân sinh phổ quát.” Ít phút sau, trên đường ra xe riêng của mình, ông bị John Hinckley, Jr. bắn trọng thương. Tại bệnh viện, Reagan trải qua cuộc giải phẩu. Viên đạn xuyên qua phổi và nằm sát bên trái tim, xém trúng động mạch chủ. Một số người cho rằng ông sống sót quả là phép lạ. Liên quan người Bungari Tại La Mã, Đức Thánh cha ngưng công việc lại để cầu nguyện cho Tổng thống Reagan được bình phục và gởi 15

ông một thông điệp cá nhân với những lời cầu nguyện và hy vọng của ngài. Đây là khoảng thời gian đầy âu lo. Không lâu trước đó, trong cuộc hội họp ở Vatican với phụ tá ngoại trưởng của Đức Thánh cha, William Casey từ giã với câu nói sau cùng là một lời cảnh báo. Trạm CIA ở La Mã đã chuyển về một bản tin lạ lùng, có thể là quan trọng. Khi Lech Walesa viếng thăm Đức Thánh cha, người chủ trì cho của ông ta là một nhân vật của Liên minh Lao động Ý. CIA được các viên chức phản gián Ý báo cho biết người chủ trì ấy hoạt động cho Bungari. Vì Bungari chịu sự kiểm soát của Sô viết nên có thể có nghĩa là các kế hoạch của Công đoàn Đoàn kết bị thiệt hại hoặc là Walesa đang bị nguy hiểm. Lúc 5 giờ chiều ngày 13 tháng Năm 1981, Đức Thánh cha xuất hiện trong buổi tiếp kiến công chúng hàng tuần tại Quảng trường Thánh Phêrô. Sau khi vào cửa Popemobile, Đức Thánh cha đi qua dãy cột. Vị phụ tá Stanislaw Dziwisz ở kế bên ngài. Đột nhiên Đức ông Dziwisz nghe một âm thanh điếc tai, và hết thảy chim bồ câu khắp quảng trường vụt bay lên. Liền đó, Đức Thánh cha sụm xuống gục vào người của Đức ông. Đức Thánh cha trúng thương ở bao tử, cùi chỏ mặt và ngón trỏ bàn tay trái. Ngài được chuyền lên xe cứu thương chạy lẹ tới bệnh viện. – Maria, mẹ ơi! Maria, mẹ ơi! Đức Thánh cha lặp đi lặp lại lời kêu cầu đó. Ngài nhắm mắt, đau đớn cực kỳ. Tại Nhà thương Gemelli, Đức Gioan Phaolô II được đẩy gấp tới căn phòng ở tầng thứ mười dành cấp cứu cho Thánh cha và rồi tới phòng giải phẩu. Ngài mất nhiều máu và vì tình trạng trầm trọng, nghi lễ xức dầu được cử hành. Cuộc giải phẩu kéo dài năm giờ 20 phút. Cắt đi hơn 56 phân ruột của Đức Thánh cha. Đức ông Dziwisz kể: – Hy vọng dần dần trở lại trong suốt cuộc giải phẩu. Rõ ràng là không có bộ phận quan trọng nào bị trúng thương, và ngài có thể sống sót. Giống như viên đạn suýt giết chết Ronald Reagan, viên đạn này chỉ trượt động mạch chủ vài li. Đức ông Dziwisz nhận xét: – Nếu nó bị trúng phải thì chết lập tức. Nó không chạm trúng yếu điểm nào. Quả thật lạ lùng! Còn Đức Thánh cha, ngài nói sau đó:

– Bàn này bắn còn bàn tay kia thì lái viên đạn! Kẻ bóp cò súng bị bắt gần như tức khắc. Hắn bị nhận diện là Mehmet Ali Agca, một tên khủng bố người Thổ Nhĩ Kỳ. Trong chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ của Đức Thánh cha năm 1979, Agca đã công khai thề sẽ giết chết ngài. Nhưng khi cuộc thẩm vấn bắt đầu. Lý do bên trong cuộc mưu sát Đức Thánh cha này trở thành một trong những bí mật lớn lao không giải quyết được của thế kỷ 20. Các phụ tá và những người quen biết thân cận với Đức Thánh cha tin là Sô viết hoặc đồng minh của họ đứng đằng sau vụ nổ súng. Thật ra, sau vụ toan tính sát nhân ấy, các điều tra viên tìm thấy bằng chứng lửng lơ không xác định được, gợi ra rằng Agca được thuê bởi cơ quan mật vụ Bungary, một công cụ hiển nhiên của KGB Sô viết. Tháng Bảy 1981, một tùy viên Đại sứ quán Bungary ở Paris đào thoát và kể với cơ quan Tình báo Pháp rằng âm mưu giết Đức Thánh cha là do cơ quan mật vụ Bungary đảm trách theo chỉ thị của KGB. Người đào tị ấy nói mình biết được chuyện này qua người bạn, một viên chức cao cấp trong một đơn vị phản gián thuộc cơ quan tình báo Bungary. Một số đoạn quan trọng nhất của biên bản ấy, nêu ra một âm mưu được Sô viết khơi mào cho người Bungary, được phổ biến trước hết trên tạp chí Reader’s Digest do Claire Sterling, một ký giả có hợp tác với các điều tra viên người Ý. Giám đốc CIA Casey luôn luôn tin rằng Sô viết chịu trách nhiệm về mưu toan ám sát đó và xúc động với bản tường trình của Sterling. Trong số những người khác cùng tin như thế có cả Zbigniew Brzezinski và Henry Kissinger. Dù sự thật như thế nào đi nữa, rõ ràng là cấp lãnh đạo Cộng sản Sô viết bận tâm về Đức Thánh cha – và thất vọng thấy nhà cầm quyền Ba Lan không thẳng tay đàn áp Giáo hội Ba Lan. Bên bờ vực Cả Tổng thống Ronald Reagan lẫn Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đều chịu những biến chứng trầm trọng của vết thương do đạn bắn và phải dưỡng thương từ cuối mùa xuân cho đến hết mùa hè năm đó trong khi lòng họ âu lo cho Ba Lan. 16

Đức Giáo Hoàng GP II và Walesa Các biến cố tại Ba Lan diễn ra theo một tốc độ chóng mặt. Công đoàn Đoàn kết khai mạc hội nghị toàn quốc lần thứ nhất vào tháng Chín và kêu gọi công nhân các nước khác ở Đông Âu thành lập những công đoàn độc lập. Đáp lại, Sô viết bắt đầu cuộc thao diễn quân sự lớn lao trong chín ngày tại Biển Baltic và dọc theo biên giới Ba Lan. Rất có thể có một cuộc thẳng tay đàn áp. Đức Thánh cha lại càng âu lo hơn. Vị cộng sự lão thành của ngài là Đức Hồng y Wyszynski đã từ trần, và ngài cảm thấy một cách sâu xa việc mất mát vị cố vấn dày dạn kinh nghiệm nầy. Vào giữa tháng Mười, tình hình gần như hỗn loạn. Nổi loạn và xung đột giữa dân sự và lực lượng an ninh lan rộng. Đức Thánh cha hiểu rằng chính quyền Cộng sản Ba Lan đang chịu sức ép không giảm của Mátcơva để giữ Công đoàn Đoàn kết trong vòng kiểm soát. Ngày 18 tháng Mười, theo mệnh lệnh của Mátcơva, đảng Cộng sản Ba Lan bổ nhiệm một quân nhân, Đại tướng Wojciech Jaruzelski, làm Bí thư thứ nhất, củng cố thêm ảnh hưởng của quân đội trong chính phủ. Trong khoảng thời gian ấy, Vermon Walters, đặc sứ của Tổng thống Reagan thăm viếng Vatican với các bức ảnh tình báo. Suốt một phút, Đức Thánh cha xem kỹ các hình ảnh vệ tinh đó. Ngài nhận ra ngay Nhà máy Đóng Tàu Lênin ở Gdansk. Ngài để ý tới một vòng đen đặc ở cách không xa các toà nhà của nhà máy liên hợp quen thuộc. Chỉ vào vòng tròn ấy, ngài hỏi: – Cái gì đây? – Thưa Đức Thánh cha, vật liệu nặng, Walters nói như thế và cắt nghĩa đó là quân xa, tàu vận chuyển người, xe thiết giáp. Bức ảnh ấy và những bức ảnh khác mà Walters lôi ra từ bì thư cho thấy sự triển khai và những di chuyển tiếp sau đó của các lực lượng vệ binh Sô viết hướng về biên giới Ba Lan, hàng chục

ngàn toán quân từ doanh trại của họ đang hướng sang quê hương của Đức Thánh cha. Sợ hãi cuộc xâm lăng của Sô viết nếu mình không thẳng tay đối phó với Công đoàn Đoàn kết, Jaruzelski chuẩn bị thiết quân luật. Vào sáng Chúa nhật 30 tháng Chạp, người dân thức dậy thấy xe bọc sắt trên đường phố và không được phép tụ tập tại bất cứ nơi nào ngoại trừ tham dự Thánh lễ ở nhà thờ. Lúc 6 giờ sáng, Jaruzelski hiệu triệu quốc gia trên đài truyền hình, tuyên bố thiết quân luật toàn quốc. Trước khi ông ta kết thúc bài huấn thị dài 22 phút của mình, hàng ngàn người đã bị bắt giam. Những tù nhân ấy, ông ta nói, phạm tội âm mưu phá hoại quốc gia. Tại Vatican, thư ký của Đức Thánh cha, Đức ông Dziwisz vội vàng báo cáo lên Đức Gioan Phaolô II. Đức Thánh cha hội họp với các phụ tá để triển khai một chính sách đối phó. Ngài tin là Công đoàn Đoàn kết phải duy trì sự tồn tại trong bóng tối. Với điều ấy trong tâm trí, ngài bắt đầu lên kế hoạch cho một chuyến đi đột ngột về thăm quê hương mình. Đức Giáo Hoàng GP II và Tổng thống Mỹ Ronan Reagan Sau khi Toà Bạch ốc nhận được tin tức từ Ba Lan, Ronald Reagan kêu gọi phong toả cả Liên Sô lẫn Ba Lan về kinh tế, ngoại giao và kỹ thuật. Sáu tháng sau, ngày 7 tháng Sáu 1982, Reagan đến Vatican để họp thượng đỉnh, cá nhân hoá liên minh bí mật đặc biệt giữa Đức Gioan Phaolô II với bản thân ông trong cương vị Tổng thống Hoa Kỳ. Dù trái ngược nhau về trí thức, Đức Thánh cha và Tổng thống Hoa kỳ sớm tìm thấy một nền tảng chung. Hai vị đều tin sâu xa vào sức mạnh của hành động tượng trưng cũng như vào vai trò của sự quan phòng thiêng liêng. Tổng thống từng tâm sự với phu nhân và các phụ tá thân cận sự tin chắc rằng vai trò của mình và Đức Thánh cha trong việc đánh bại chủ nghĩa cộng sản là lí do khiến cả hai không tử nạn vì những viên đạn ám sát.

Gặp gỡ riêng không cần thông dịch viên, hai người quyền uy nhất quả đất này thảo luận về một xác nhận căn bản: sự sụp đổ của Đế quốc Sô viết là điều không tránh nổi. Reagan xác minh rằng Chính quyền của mình không rút lại sự cấm vận Liên Sô hoặc Ba Lan cho tới khi chấm dứt thiết quân luật, thả các tù nhân chính trị và bắt đầu cuộc đối thoại giữa chính phủ Ba Lan, Giáo hội Ba Lan và Công đoàn Đoàn kết. Đức Thánh cha thực hiện áp lực riêng của ngài. Ngày 16 tháng Sáu, thêm lần nữa ngài trở về Ba Lan. Hôm sau, ngài gặp Jaruzelski để nối tiếp việc thảo luận nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng. Jaruzelski sửng sờ kinh ngạc khi tiếp đón Đức Thánh cha. Y hệt nhiều người Ba Lan khác, ông thấy ngài là một khuôn mặt gần như bí nhiệm. Viên tướng này muốn Đức Thánh cha dùng ảnh hưởng của ngài để cô lập phía cực đoan nhất bên trong Công đoàn Đoàn kết. Đức Thánh cha nghiêm chỉnh trong lời đáp của mình: – Tôi khao khát đạt tới một tình trạng ổn định bền vững càng sớm càng tốt. Và ngài tuyên bố, có ý đề cập tới việc chấm dứt thiết quân luật: – Lúc đó, Ba Lan sẽ được các nước khác đánh giá một cách rất khác. Ngược lại, phương Tây sẽ không hủy bỏ cấm vận dưới bất cứ hình thức nào khác. Sau đó, Đức Thánh cha tiếp xúc với Lech Walesa và các trí thức có liên hệ bí mật với Công đoàn Đoàn kết trong bóng tối. Tổ chức ấy không còn chỉ là một công đoàn lao động ngoài vòng pháp luật. Nó đã trở thành biểu tượng cho sự đề kháng. Đức Giáo Hoàng GP II và Wojciech Jaruzelski Vào lúc kết thúc cuộc viếng thăm, Đức Thánh cha gặp riêng

17

Jaruzelski hơn 90 phút, bề ngoài là theo lời yêu cầu của chính ngài. Đức Gioan Phaolô II nói một cách trực tiếp và đầy sức thuyết phục. Không lâu sau khi ngài quay về Vatican, thiết quân luật được bãi bỏ. Đời sống ở Ba Lan dần dần trở nên bình thường. Ngày 11 tháng Chín 1986, chính quyền tuyên bố ân xá rộng rãi và thả 225 tù nhân. Lần đầu tiên trong năm năm qua, các lãnh tụ Công đoàn Đoàn kết cảm thấy một số cấm kỵ được hủy bỏ. Năm 1990, với nền dân chủ được khôi phục đầy đủ tại Ba Lan, Lech Walesa, người cựu thợ điện và thủ lãnh Công đoàn Đoàn kết trúng cử tổng thống. Ảnh hưởng vang đội từ Ba Lan làm rúng động khối Đông Âu. Hunggari lần đầu mở cửa biên giới với Áo tháng Năm 1989. Đến tháng Mười, hàng trăm ngàn người xuống đường phản đối chính phủ Đông Đức. Sau cùng, Bức tường Bá Linh sụp đổ vào tháng Mười một. Hôm sau, nhà lãnh tụ 35 năm của đảng cộng sản Bulgary Todor Zhivkov bị kết liễu với sự thanh lọc đảng, và tại Tiệp Khắc, một chính phủ liên hiệp giữa người Cộng sản và những người Czech đối lập được thành lập. Và tháng Tám 1991, Đế quốc Đỏ đi vào cơn thống khổ chết chóc khi Boris Yelsin, chủ tịch Cộng hoà Liên bang Nga, phá vỡ cuộc đảo chánh của các phần tử bảo thủ của Bộ Chính trị. Các quân cờ đô-mi-nô cộng sản đổ nhào. “Cây ấy đã mục sẵn. Tôi chỉ khéo rung, và các trái táo thối rữa rơi xuống.” Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Khi những người khác qui kết cho Đức Thánh cha việc sụp đổ của cộng sản, ngài nói: – Tôi không tác động cho việc đó xảy ra. Cây ấy đã mục sẵn. Tôi chỉ khéo rung, và các trái táo thối rữa rơi xuống.” Lúc này, Đức Gioan Phaolô II chuyển sự chú ý của ngài vào những vấn đề làm ngài quan tâm, sâu xa hơn sự sụp đổ của cộng sản: tương lai của Giáo hội trong thiên niên kỷ tới; phẩm giá của người lao động, vai trò của Công đồng Vatican khiến cho những cội rễ Do Thái của Kitô giáo được thừa nhận và khiến cho không khoan dung chủ nghĩa bài Do Thái. Vấn đề sau cùng trên gây thương tâm cách riêng cho Đức Gioan Phaolô II vì có quá nhiều người Do Thái Ba Lan bỏ mình trong các trại tử thần của Quốc xã. 18

Ngài cũng không bao giờ quên việc mất mát người bạn của mình Ginka Beer. Hàng chục năm sau lời từ biệt u sầu của họ, Đức Thánh cha, trong một buổi triều kiến công chúng tại Quảng trường Thánh Phêrô có sự tham dự của dân chúng đến từ thành phố quê nhà của mình. Có người đến báo cho ngài một tin tức kỳ diệu: – Thưa, Ginka có mặt ở đây. – Đâu? Ngài hỏi ngay và lẹ bước tới gặp nàng. Ginka Beer Reisenfeld lúc này lớn tuổi, thuật lại: – Ngài hỏi tôi đủ thứ câu hỏi. Bà nói với Đức Thánh cha – Mắt ngài thương cảm sâu xa. Ngài nắm lấy hai tay tôi, chúc lành cho tôi và cầu nguyện ngay trước mặt tôi. Đức Giáo Hoàng GP2 viếng thăm Hội đường chính của Do Thái giáo ở La Mã Từng đầy ắp tâm trí về nhu cầu đối thoại với Do Thái, Đức Gioan Phaolô II biểu lộ một cử chỉ cao cả khi băng ngang Sông Tiber viếng thăm Hội đường chính của Do Thái giáo ở La Mã, đấy là một việc mà trước đây chưa từng có vị Thánh cha nào làm. Như người La Mã gốc Do Thái biết, cộng đồng họ xưa hơn Hội thánh Kitô giáo lâu năm nhất. Khi hai Thánh Phêrô và Phaolô tới La Mã, sách Torah (Ngũ Kinh) đã được đọc và ngày Sabbath đã được tuân giữ từ trước tại kinh đô của Đế quốc La Mã. Những người xem kể lại rằng khi phát biểu trong Hội đường ấy, có lúc Đức Thánh cha dường như gần kiệt sức. Có lần, khi còn bé, ngài đi với bố vào một hội đường Do Thái trong làng mình để nghe hát thánh ca. Giờ đây, ngài ngồi trên chiếc ghế mạ vàng lắng nghe ca đoàn hát bài “Ani Maamin” (Tôi tin), từng được

những người Do Thái bị kết án trong các trại tử thần hát trên đường đi vào lò hơi ngạt. Khi tiếng ca đoàn vang cao lên, Đức Thánh cha chúi về trước, đầu cúi xuống và tay ngài che miệng mình. Dù sức khoẻ của Đức Gioan Phaolô II đang sa sút, những năm cuối tại vị Thánh cha của ngài được biểu thị đặc điểm bởi những bùng nổ hoạt động. Và dù tay ngài càng lúc càng yếu khi ngài đưa lên chúc phúc tín đồ, nó vẫn chỉ tới một chân trời bao la hơn. Carl Berstein và Marco Politi Nguyễn Ước dịch

truyền hình. Trong cơn hốt hoảng, nàng không còn nhớ rõ Anthony, 39 tuổi, chồng nàng, một người buôn bán chứng khóan tại Cantor Fitzgerald, làm việc ở Bắc hay Nam của Tòa Tháp Đôi. Nàng nghĩ mình phải tìm được xác chồng. Nhưng khi chứng kiến tòa tháp thứ hai xụp đổ, nàng thấy điều ấy không cần thiết nữa. Khi nàng tới nơi, trường St Ignatius đã đầy phụ huynh. Điều này làm nàng hơi bỡ ngỡ vì nàng có cảm giác các biến cố này chỉ diễn ra cho riêng nàng mà thôi. Có ai mất người thân không? Nàng tự hỏi. Phần đông các học sinh được đưa tới phòng tập thể dục. Nhưng các con nàng, Katie 11 tuổi, Alexandra 10 tuổi, Anthony 7 tuổi và Patrick, 5 tuổi, vừa mới bắt đầu trọn ngày đầu tiên học lớp vườn trẻ, thì được đưa tới văn phòng hiệu trưởng. Khi các con bước vào, Patty có linh cảm chúng đã biết rõ hung tín rồi. Được vị hiệu trưởng nhà trưởng, một tâm lý gia, và linh mục Walter Modrys, S.J., lúc ấy là cha xứ giáo xứ St Ignatius Loyola, tháp tùng, Patty đăm đăm nhìn các con. Nàng còn nhớ như in khuôn mặt đứa con gái út. Chẳng còn gì để làm ngoài việc cho các con biết sự thật. Nàng nói: “Tòa nhà nơi Bố làm việc bị đánh xập và Bố đã qua đời”. Giọng đầy hy vọng, một đứa bảo: “Biết đâu Bố thoát được hả má?”. Nàng buông thõng: “Bố không thoát được”. Nhìn quanh gian phòng nơi có những người lớn khác ngồi, nàng thấy không ai trả lời cách khác. Nàng tự nghĩ: mình phải lo liệu lấy thôi! Quay qua các con, nàng nói tiếp: “Má còn đây. Chúng ta còn đây. Chúng ta được an lành. Má còn đây để săn sóc các con”.



Ngày 11 tháng 9, người vợ góa không bao giờ chất vấn Thiên Chúa
Vũ Văn An (nguồn Vietcatholic) Vào một buổi sáng đầy nắng của Tháng Chín, Patty Fallone và một người bạn đang cuốc bộ dọc theo Park Avenue ở New York, thì một người đàn ông chặn họ lại. Ông ta hỏi: “Các chị có nghe nói về chiếc máy bay đâm vào tòa Tháp Đôi chưa?”. Nếu bộ mặt ông ta không nghiêm chỉnh đến thế, thì câu hỏi này chắc chắn sẽ bị liệt vào loại bông đùa để mở màn cho một câu chuyện. Cả hai người phụ nữ đều chưa biết gì về các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, nên khi nghe người đàn ông đưa tin, chỉ trong tích tắc họ hiểu ngay tầm quan trọng của vấn đề. Patty ngước mắt nhìn về hướng nam. Bên kia tòa nhà Met Life, cách đó mấy dẫy phố, nàng thấy khói bốc ra từ Khu Hạ Manhattan. “Chúa ôi” nàng buột miệng nói, dù không được ai báo tin, “chồng tôi chắc chết”. Patty biết chắc: nếu các xúc cảm của nàng lúc đó lộ ra trên nét mặt, thì sự biểu lộ ấy sẽ hằn vào tâm trí người khách lạ suốt đời. Đột nhiên, thế giới của Patty diễn ra thật chậm chạp. Mới 35 tuổi, Patty như người vô hồn bước ra khỏi lề đường xuống phố, giữa những luồng xe cộ đang thi nhau vượt qua; người bạn vội kéo nàng trở lại lề đường, và dìu nàng hẳn vào phía trong. Từ căn phòng của bạn, nàng gọi cho Trường St Ignatius Loyola nơi 4 đứa con của nàng đang học. Nàng dặn nhân viên nhà trường đừng nói gì với bày trẻ trước khi nàng tới. Sau đó, nàng gọi cho bác sĩ rồi ngồi thừ trước màn ảnh 19

Đường về nhà thật xa
Patty cùng các con đợi ở nhà người bạn chờ ai đó đến lái xe đưa về nhà tại Roosevelt Island, một giải đất dài 2 dặm nằm giữa Manhattan và Queens. Gia đình Fallones vốn là thành viên tích cực của cộng đoàn đa dạng nhưng rất gần gũi nhau này. Thành thử, ngay giữa cảnh tang chế, Patty vẫn ưu tư lo lắng cho những người đàn ông đang làm việc tại tiệm thịt nguội của cộng đoàn, một người gốc Ai Cập, một người gốc Palestine. Nàng hy vọng không ai trong họ trở thành mục tiêu của kỳ thị và hận thù trút không đúng chỗ. Nàng muốn cộng đoàn của nàng, “cái thế giới tí hon đa dạng” của nàng, nàng vẫn gọi như thế, không biến mất như người chồng thân yêu của nàng. (xem tiếp trang 27)

Nguồn gốc Lễ Cầu hồn và Tháng Cầu hồn

trẻ mồ côi tới gia đình họ rồi cho chúng ăn, cho quần áo, cho quà bánh, đồ chơi. - Tại miền quê nước Poland, người ta kể: nửa đêm lễ Cầu hồn, người ta thắp sáng nhà thờ giáo xứ, để các linh hồn trong xứ đã qua đời về quanh bàn thờ cầu ơn giải thoát khỏi luyện ngục. Người ta nói là, sau đó linh hồn trở lại thăm lại nhà mình, thăm nơi mình quen thuộc, làm việc mình đã làm khi còn sống. Và để đón tiếp những linh hồn này, người ta để cửa sổ mở suốt đêm mùng 2. -Tại Việt nam, nhất là miền Bắc, trước Công đồng Vaticanô 2 (1962-65) người ta thường sửa mồ mả cha ông vào dịp Tết Nguyên đán. Còn lễ Cầu hồn, người ta đi viếng các nhà thờ chung quanh suốt ngày lễ Các Thánh để lãnh ân xá chỉ cho các linh hồn đã qua đời. Cảnh người lớn trẻ em tấp nập ra vào nhà thờ rất vui vẻ. Người ta dự lễ và xin lễ rất nhiều để cầu cho Tổ tiên, Ông bà, Cha mẹ sớm về hưởng phước Thiên đàng. *Thương nhớ người quá cố, nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình là chuyện tự nhiên của con người. Ao ước cho người thân mình được "nghỉ yên muôn đời trong nơi mát mẻ hạnh phúc" cũng là tâm lí thông thường. Do đó việc cầu cho người thân đã qua đời là việc cần thiết, vừa cho linh hồn người chết được cứu thoát khỏi Luyện ngục, vừa cho người sống được tỏ lòng hiếu thảo đền ơn. * Ngày 10 tháng 8 năm 1915, Trong một Tông hiến, Tòa thánh cho các linh mục được dâng 3 lễ vào ngày lễ Cầu hồn: 1 cầu như ý người xin (được lấy bổng lễ), 1 cầu theo ý ĐTC (không bổng) và 1 cầu cho các linh hồn (không bổng). *Giáo hội cũng xác định dành trọn tháng 11 để cầu cho các linh hồn Luyện ngục. * Ngày 1 tháng 11 năm 1967, ĐTC Phaolô 6, trong Tông huấn Ân xá đã ban một đại xá với điều kiện thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu theo ý ĐGH) cho những ai "viếng nhà thờ vào Chúa nhật trước hoặc sau, hoặc chính lễ Các Thánh (số 67), và ơn đại xá cho những ai viếng nghĩa địa trong 8 ngày đầu tháng 11 để cầu cho các linh hồn (số 13).

Theo sách vở ghi lại, thì thánh Odilo (962- 1048) là viện phụ đan viện Cluny. Đan viện này thời đó nằm trong phần đất của đế quốc Germany. Ngài là người thánh đức, thường cầu nguyện, hi sinh, và dâng lễ cầu cho các linh hồn đã qua đời. Truyện kể rằng: Một hôm, một đan sĩ Dòng ngài đi viếng Đất thánh Giêrusalem. Trên đường trở về Đan viện Cluny. Tầu chở đan sĩ bị bão đánh giạt vào một hòn đảo. Tại đó, đan sĩ gặp một ẩn sĩ và được ẩn sĩ cho biết: "Trên đảo này có nhiều hang lửa, trong hang có nhiều người bị hành hạ, đánh đập. Tôi thường nghe các tên quỉ phàn nàn với nhau về Viện phụ Odilo và các đan sĩ Dòng của ngài rằng: ngày nào họ cũng giải thoát một số linh hồn ra khỏi hang lửa đó. Vì thế, xin thầy về nói với cha Odilo và các anh em trong Dòng cứ tiếp tục cứu giúp các linh hồn đau khổ. Đó cũng là niềm vui cho các thánh trên Thiên đàng và là sự đau khổ cho quỉ dữ dưới Hỏa ngục". Sau khi nghe biết sự việc này, cha Odilo đã lập lễ Cầu hồn vào ngày 2 tháng 11, trước hết cử hành trong đan viện Cluny của ngài vào năm 998 (có sách nói năm 1030). Về sau lễ cầu hồn đã được truyền sang nuớc Pháp, tới giữa thế kỉ 10, Đức Giáo hoàng Gioan 14 đã lập lễ Cầu hồn trong Giáo hội Rôma. (Catholic Encyclopedia, St. Odilo). -Từ thời đó, nhiều nơi đã có thói quen cầu nguyện tuần chín ngày cho các linh hồn, họ đi thăm viếng, sửa mồ mả cha ông. Vào buổi chiều lễ Các Thánh, có những người đi từng nhà xin quà cho các linh hồn, họ hát những bài ca cổ truyền, cổ động cầu cho các linh hồn mau ra khỏi Luyện ngục. - Tại nước Hungary, người ta gọi ngày 2/11 là "Ngày người chết". Ngày đó, người ta có thói quen tụ họp các


20

NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN TRONG HIẾN CHẾ LUMEN GENTIUM, CHƯƠNG IV. Tiến Sĩ Nguyễn Học Tập 1 - Người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội ( LG, 30). Các Vị Chủ Chăn biết: - người tín hữu giáo dân cộng tác lợi ích bao nhiêu cho cả Giáo Hội, - rằng tự mình các ngài không thể đảm nhận được hết trọng trách cứu độ của Giáo Hội, - rằng các vị phải nhận biết chức vụ và ân sủng của người tín hữu giáo dân; như vậy, tất cả cùng cộng tác với nhau, mỗi người trong lãnh vực và khả năng của mình, cho công ích. 2 - Bản tính và sứ mạng của người tín hữu giáo dân ( LG, 31). Người tín hữu giáo dân là ai ? Là tất cả các tín hữu Chúa Ki Tô, ngoại trừ các thành phần có chức thánh và các bậc tu sĩ được Giáo Hội chứng nhận. Người tín hữu giáo dân là - các tín hữu được hội nhập vào Chúa Ki Tô qua Phép Rửa, - thành phần kiến tạo nên Cộng Đồng Dân Chúa, - những người được làm cho trở thành tham dự vào chức năng tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Ki Tô, - những người thực hiện, trong Giáo Hội và giữa trần thế, sứ mạng của cả Cộng Đồng Dân Chúa. Sứ mạng chính yếu của thành phần có chức thánh: Thánh Vụ Thừa Tác Viên. Sứ mạng chính yếu của các tu sĩ: chứng nhân giữa trần thế tinh thần của các Mối Phước Thật. Sứ mạng của người tín hữu giáo dân là: - Tìm kiếm Nước Chúa, * hành xử các sự việc và sự vật trần thế, xếp đặt chúng theo thánh ý Chúa, * đương đầu với các bổn phận và việc làm trần thế mỗi ngày, trong gia đình, ngoài xã hội. - Góp phần từ trong nội tại trần thế để thánh hoá thế gian, bằng những động tác theo sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm. - Bày tỏ Chúa Ki Tô cho người khác, qua nhân chứng bằng đời sống nhứt là với ánh sáng của đức tin, niềm hy vọng và đức bác ái. - Nhìn sự việc trần thế, làm thế nào để: * chúng đươc thực hiện và tăng trưởng lên theo Chúa Ki Tô,

* chúng làm vinh danh Chúa là Đấng Tạo Hoá và là Đấng Cứu Độ. 3 - Phẩm giá người tín hữu giáo dân trong Cộng Đồng Dân Chúa ( LG, 32 ) Giáo Hội được cấu trúc và hướng dẫn bởi nhiều chức năng khác nhau một cách tuyệt diệu. " Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều, nhưng chỉ là một thân thể trong Chúa Ki tô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể " ( Rom 12, 4-5). * địa vị như nhau của các phận bộ, bởi lẽ tất cả đều được tái sinh trong Chúa Ki Tô, * ân sủng được trở thành con của Chúa như nhau, * được ơn gọi trở nên thánh thiện như nhau. Mặc dầu có những chức năng khác nhau, giữa tất cả anh em với nhau đều có phẩm giá như nhau và cùng cộng tác kiến tạo Thân Thể Chúa Ki Tô như nhau. Sự khác biệt được Chúa đặt giữa các vị thừa tác viên và giáo dân, tự mình cho thấy sự hiệp nhứt với nhau, bởi lẽ giữa chủ chăn và các tín hữu được liên kết với nhau bởi một cộng đồng liên hệ nhau. * các vị chủ chăn, theo gương Chúa Ki Tô, là để cho người nầy phục vụ người khác và phục vụ các tín hữu giáo dân. * đến phiên mình, các tín hữu giáo dân cung cấp sự cộng tác của mình với các vị chủ chăn và với các vị có chức năng huấn dạy. Như vậy, tất cả là đều nhân chứng cho sự hiệp nhứt huy hoàng của Thân Thể Chúa Ki Tô. 4 - Phận vụ tông đồ của người tín hữu giáo dân ( LG, 33). Người tín hữu giáo dân * quy tựu nhau trong Cộng Đồng Dân Chúa, * cấu trúc thành một Thân Thể Duy Nhứt của Chúa Ki Tô, dưới một vị lãnh đạo duy nhứt. Ngưòi tín hữu giáo dân được mời gọi góp phần như là những phần thân thể sống động với tất cả năng lực mà mình nhận được từ Đấng Tạo Hoá và từ ơn của Đấng Cứu độ, " để phát triển Giáo Hội và triển nở việc thánh hoá không ngừng của Giáo Hội". " Phân vụ tông đồ của người tín hữu giáo dân là tham dự vào sứ mạng cứu rổi của Giáo Hội ". Phận vụ tống dồ đó được Chúa ủy thác cho tất cả qua Phép Rửa và Phép Thêm Sức.

21

Từ các Phép Bí Tích, nhứt là Phép Thánh Thể, mọi tín hữu Chúa Ki Tô đều được ban cho tình yêu thương đối với Chúa và đức bác ái đối với anh em. Đó là linh hồn của mọi động tác tông đồ. Người tín hữu giáo dân, nhứt là họ, là những người được Chúa gọi hãy làm cho Giáo Hội hiện diện và tác động được ở những nơi và những trường họp, mà trong đó Giáo Hội không thể trở thành muối đất nếu không nhờ những anh em đó. - " Mỗi tín hữu giáo dân, vì những ơn đã được ban cho mình, là chứng nhân và là dụng cụ sống động của chính sứ mạng Giáo Hội, bởi lẽ họ là mức đo lường ân sủng của Chúa Ki Tô ". Người tín hữu giáo dân có thể được mời gọi để * cộng tác với việc tông đồ của hàng giáo phẩm, * hành xử một vài chức năng trong Giáo Hội. Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được mọi người tín hữu giáo dân đều ra tay tác động, mỗi người tùy theo hoàn cảnh và khả năng của mình, để cho đồ án cứu rổi của Chúa mọi ngày đều đến được với tất cả mọi người, ở mọi thời gian và không gian. 5 - Người tín hữu giáo dân tham dự vào chức vụ tư tế chung ( LG, 34). Chúa Ki Tô, Vị Tư Tế tối thượng và vĩnh cửu, vì muốn tiếp tục là nhân chứng và chức năng tư tế của mình qua các tín hữu giáo dân, nên Người làm cho họ trở nên sống động bằng Thánh Thần của Người. Thật vậy, mọi động tác của họ, động tác cầu nguyện và sáng kiến tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công việc hằng ngày, lúc tinh thần cũng như thể xác được an ủi, nếu họ tác động thực hiện trong Chúa Thánh Thần, và cả ngay khi đời sống bị quấy nhiểu, nếu họ chịu đựng với lòng kiên nhẫn, tất cả những điều đó đều trở thành của lễ thiêng liêng dâng lên đẹp lòng Chúa, nhờ Chúa Ki Tô ( cfr. Pt 2,5). Và qua đó họ dâng thế giới lên cho Chúa. 6 - Người tín hữu giáo dân tham dự vào chức vụ ngôn sứ của Chúa ki Tô ( LG, 35). Chúa Ki Tô, vị đại ngôn sứ, thiết lập các tín hữu giáo dân thành các nhân chứng của Người bằng cách ban cho họ ý nghĩa của đức tin và ân sủng lời dạy bảo của Người, để cho sức mạnh của Phúc Âm được chiếu sáng lên trong đời sống hằng ngày, trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Người tín hữu giáo dân tỏ ra mình là con cái của lời Chúa hứa, khi họ, vững mạnh trong đức tin và trong niềm hy vọng, làm cho thời gian hiện tại đâm hoa kết quả và kiên nhẫn chờ đợi vinh quang trong tương lai.

Niềm hy vọng đó, người tín hữu giáo dân không ẩn giấu trong bí ẩn nội tâm của mình, mà phải diễn tả ra cả qua các cấu trúc của cuộc sống trần thế. Người tín hữu giáo dân trở thành người anh hùng đích thực của đức tin, nếu họ biết kết hợp đời sống chức nghiệp của họ với chính cuộc sống đức tin, nhứt là trong các trường hợp cá biệt của đời sống. Đời sống hôn nhân và gia đình có giá trị cao cả. Chính trong cuộc sống đó là nơi mà hai vợ chồng được Chúa kêu gọi: trở thành nhân chứng, người nầy cho người kia và cho con cái, về đức tin và tình thương của Chúa Ki Tô. Người tín hữu giáo dân, ngay cả khi phải chăm lo những việc trần thế, họ cũng có thể và phải hành xử một động tác qúy báu để loan báo Phúc Âm cho trần thế. - Một vài người trong ho, khi thiếu các vị có chức thánh hoặc khi các vị bị cản trở, họ có thể thay thế các vị trong một vài phận vụ thánh, tùy theo khả năng của mỗi người. - Những người khác tiêu hao sức lực của mình trong công việc tông đồ. Như vậy, tất cả các tín hữu giáo dân - cùng cộng tác cho việc rộng mở và phát triển Nước Chúa Ki Tô giữa trần thế, - phải chuyên cần học hỏi sâu rộng về các chân lý được mặc khải - hãy biết không ngừng cầu xin Chúa ban cho mình có được ơn khôn ngoan. 7 - Người tín hữu giáo dân tham dự vào tước vị vương giả của Chúa Ki Tô ( LG, 36). Chúa muốn trải rộng - vương quốc chân lý và đời sống của mình, - vương quốc thánh thiên và ân sủng, - vương quốc công lý, tình yêu thương và hoà bình bằng cả qua trung gian người tín hữu giáo dân. Bởi đó người tín hữu giáo dân cần - nhận biết bản thể sâu đậm của tất cả mọi tạo vật, giá trị của chúng và mục đích của chúng làm vinh danh Chúa. - giúp đỡ lẫn nhau để có được một đời sống thánh thiện hơn, ngay cả bằng những động tác trần thế của mình, làm thế nào để cho thể gian được thấm nhuần Thánh Thần của Chúa Ki Tô và đạt được hữu hiệu cùng đích của mình trong công bằng, bác ái và hoà bình. Người tín hữu giáo dân với thẩm quyền của mình công tác để cho tạo vật được dựng nên - được làm cho phát triển để tạo lợi ích cho tất cả mọi người, 22

* nhờ vào việc làm của con người, * nhờ kỷ thuật, * qua văn hoá dân sự. - để cho các vật thể đó được phân phối một cách thích hợp giữa các con người với nhau - và đem lại lợi ích tổng thể phổ quát trong tự do của con người và tự do Ki Tô giáo. Như vậy, Chúa Ki Tô qua các phần tử của Giáo Hội càng ngày càng sẽ soi sáng rõ rệt hơn cho cả xã hội con người bằng Ánh Sáng Cứu Độ của mình. Người tín hữu giáo dân, bằng cách cùng hợp lực với nhau, hãy thay đổi , sửa chữa các cơ chế và các điều kiện sống trần thế, để cho các hoàn cảnh sống đó - được làm cho trở nên phù hợp với lề luật công lý, - tạo điều kiện thuận lợi để tập tành và hành xử các đức tính, - văn hoá và các động tác con người được thấm nhuần giá trị luân lý. Nhờ vào sự hiện diện và tác động giữa các thực tại trần thế, người tín hữu giáo dân có thể dọn sẵn môi trường đất đai, để cho hạt giống lời Chúa và lời loan báo hoà bình có thể đâm rễ vào được và đâm hoa kết quả trở thành mẫu gương cuộc sống con người. Người tín hữu giáo dân phải biết phân biệt giữa quyền và bổn phận của mình, - với tư cách là thành phần Giáo Hội, - và với tư cách là thành phần cộng đồng xã hội. Họ hãy tìm cách sắp xếp đồng thuận với mọi người, trong khi nhận thức rằng mọi việc trần thế đều phải được hướng dẫn bởi lương tâm Ki Tô giáo, bởi vì không có một động tác nào của con người, kể cả những động tác thuộc lãnh vực trần thế có thể hành xử ngược lại với giới răn Chúa. 8 - Người tín hữu giáo dân và hàng giáo phẩm ( LG, 37). Người tín hữu giáo dân có quyền được đón nhận từ nơi các vị mục tử các của cải thiêng liêng của Giáo Hội, nhứt là các trợ lực của lời Chúa và các Phép Bí Tích. - người tín hữu giáo dân cảm nhận được ý nghĩa trách nhệm của mình. - nguời tín hữu giáo dân cảm thấy hăng hái, đầy nghị lực và mọi năng lực của mình * được dễ dàng hội nhập vào với các động tác của các vị chủ chăn, * được trợ lực bởi kinh nghiệm của các tín hữu giáo dân, các vị có thể phán đoán một cách rõ ràng và thích hợp đối với các sự việc trong lãnh vực thiêng liêng cũng như trần thế.

Tùy theo thẩm quyền chuyên môn và uy tín mà mỗi người có được, người tín hữu giáo dân có quyền và đôi khi cũng có cả bổn phận, nói lên ý kiến của mình về những gì có lợi ích cho Giáo Hội, luôn với - sự thật, sức mạnh và sự khôn ngoan, - lòng kính trọng và đức bác ái đối với những đấng bậc, vì chức vụ của mình, đại diện cho Giáo Hội. Người tín hữu giáo dân - hãy biết lắng nghe những gì được các vị mục tử dạy bảo cho, nhân danh quyền giảng dạy và uy quyền trong Giáo Hội, - cũng như phó thác các vị cho Chúa bằng lời cầu nguyện của mình. Các vị mục tử: - phải nhận biết và phát huy phẩm giá và trách nhiệm của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội. - phải biết sẵn sàng xử dụng ý kiến khôn ngoan của họ. - với lòng tin cậy, phải biết ủy thác cho họ phận vụ phục vụ trong Giáo Hội. - phải biết để cho họ có thẩm quyền và trương độ thoả đáng để hoạt động chu toàn trách nhiệm. - phải biết khuyến khích người tín hữu giáo dân, để họ có sáng kiến bắt tay vào những việc mình thấy phải làm cho Giáo Hội và xã hôi. - phải biết chú tâm suy nghĩ và với tình yêu thương cha con trong Chúa Ki Tô đối với những sáng kiến, các lời đòi hỏi và mong muốn của người tín hữu giáo dân. - phải kính trọng và nhận biết quyền tự do chính đáng, mà mọi người đều phải có trong cuộc sống trần thế. Qua những gì vừa đề cập về các mối tương quan giữa người tín hữu giáo dân và hàng giáo phẩm, chúng ta có thể mong mỏi được nhiều lợi ích cho Giáo Hội. Với phương thức đó

Với viễn ảnh đó, Giáo Hội đầy năng lực trong mọi thành phần của mình, có thể thực hiện một cách hiệu quả hơn sứ mạng của mình đem đời sống đến cho thế giới. 9 - Kết luận (LG, 38). Mỗi người tín hữu giáo dân phải là - nhân chứng trước thế giới về sự phục sinh và đời sống của Chúa Giêsu.
(xem tiếp trang 26)

23

Một Phút Cho Bạn
Sống Lòng Tin
Trí tuệ dẫn chúng ta vượt một chặng đường ít, nhiều, dài, ngắn, dẫn đưa đến lòng tin. Nhưng nó không thể trao ban cho chúng ta lòng tin. Thật vậy, mặc dầu lòng tin dựa trên trí tuệ (bởi vì tin tưởng cũng là một sự kiện thuộc lý trí), nhưng sẽ không bao giờ có lý luận nào có thể cắt nghiã được biến cố Ðức Giêsu Con Người-Thiên Chúa nhập thể làm người, cắt nghĩa được sự hiệp nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa, hay tình phụ tử của Thiên Chúa... Trí tưởng tượng, lòng nhậy cảm cũng không thể trao ban lòng tin cho chúng ta, và cũng không thể nào làm cho lòng tin lớn mạnh được. Bởi vì chúng chỉ là những tâm tình của con người. Trong khi đó lòng tin là một ơn Thiên Chúa ban, và vì thế nó tùy thuộc vào lời cầu nguyện. Ðể trợ giúp lòng tin của chúng ta và lòng tin của người khác, những lý luận không hiệu qủa bằng tình yêu thương và lời cầu nguyện. Thuyết phục người khác không quan trọng bằng thông truyền Lời Chúa và làm chứng cho Lời Chúa, bằng hành động và bằng chính cuộc sống của chúng ta. Gương sáng, nụ cười đầy tình yêu thương, cử chỉ huynh đệ đối với một người anh em túng thiếu....đó là những cách thức dẫn đưa người khác đến lòng tin. Bởi vì chúng xuất phát từ tình yêu thương, mà Thiên Chúa muốn thấy có nơi mỗi một người trong chúng ta, trong mọi lúc và ở mọi nơi. Một hành động tốt có giá trị hơn là hàng ngàn lời nói bép xép. Nếu chúng ta sống lòng tin bằng những hành động nhỏ nhặt và chu toàn chúng liên lỉ mỗi ngày, chúng ta sẽ trợ giúp được lòng tin của mình và của người khác rất nhiều. Người khác sẽ nhận ngay ra rằng chúng ta sống và hoạt động vì tình yêu thương hay chỉ vì thói quen nhàm chán. Tình yêu thương đích thực biến đổi mọi sự, kể cả những điều vô nghĩa nhất. Và nó tỏa lan hơi ấm, một thứ hơi ấm rất phong phú cho lòng tin. Chúng ta hãy luôn nhớ rằng người có lòng tin đích thực là người sống rất an bình, thư thái và hạnh phúc. Chính vì vậy nên dấn thân, nỗ lực sống lòng tin thật nghiêm chỉnh, là điều đáng công lắm.

Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta thời giờ và dưỡng khí
Trong các nhân tố cuộc sống Thiên Chúa trao ban cho chúng ta, có thời giờ và dưỡng khí : thời giờ để sống và dưỡng khí để thở. Trái lại, con người chúng ta chạy bán sống bán chết và nổi điên. Bởi vì nó có cảm tưởng là thiếu thời giờ. Nét đặc thù trong cuộc sống thường ngày của chúng ta là chạy, đi lui đi tới, bôn chôn, hớt hải. Xe đạp chạy, thành phố chạy. Tất cả đều chạy để khỏi phải mất thời giờ, để tranh thủ gấp rút và để được lợi giờ. Chúng ta chào nhau vội vã, vì không có thời giờ. Chúng ta không thể suy nghĩ hay quyết định, tư lự hoặc đọc sách hay cầu nguyện, vì thiếu thời giờ. Nhưng có thật bởi vì thời giờ qúa ít ỏi, qúa ngắn ngủi hay là bởi vì chúng ta đang nhầm lẫn điều gì đó? Hay là, Chúa ơi, tại chính Chúa đã tính nhầm khi trao ban thời giờ cho chúng con là những tạo vật do Chúa dựng nên. Chúa không thấy chúng con phải bó buộc sống hấp tấp, vội vã, nặng nề và bồng bột đó sao? Nhưng rất tiếc là điều đó đã xảy ra. Bởi vì chúng con đã bỏ điều rất quan trọng Chúa đã nói với bà Mar-ta ngày xưa, khi đến thăm hai chị em bà. Vào dịp đó Mar-ta đã lăng xăng sửa soạn nấu nướng, trong khi cô em là Maria ngồi yên lặng dưới chân Chúa, lắng nghe Chúa nói và nhìn ngắm Chúa với tất cả tình yêu thương trìu mến. Lúc Mar-ta trách Chúa sao không bảo em là Maria phụ giúp mình một tay, Chúa đã nói với Mar-ta: chỉ có một điều cần thiết thôi. Đó là yêu thương, chỉ yêu thương và yêu thương vô bờ!

Giá biểu quảng cáo, phân ưu hoặc chúc mừng trên tờ TT&LL là: Trang trong giá tiền 1/8 150,00 kr. 1/6 200,00 kr 1/4 350,00 kr. 1/2 500,00 kr. 1/1 700,00 kr.

24

Giải Đáp Thắc Mắc
CÓ ĐƯỢC CẦU NGUYỆN VÀ AN TÁNG TRONG NGHĨA TRANG CỦA XỨ ĐẠO NHỮNG AI ĐÃ CHẾT VÌ TỰ TỬ KHÔNG?

cho sống lại, kết hợp cùng với linh hồn để hoặc được vào an nghỉ muôn đời với Thiên Chúa trong Nước Hằng Sống hay bị xa lìa Thiên Chúa vĩnh viễn trong nơi gọi là hỏa ngục. Do đó, người tín hữu ngày nay được phép hỏa táng thân nhân đã qua đời hay đem chôn cất ngoài nghĩa trang như tục lệ đã có từ lâu đời. Nhưng phải tôn trọng xác chết của thân nhân được mai táng hay được thiêu đốt thành tro bụi đựng trong các hộp để cất giữ trong gia đình hay ở nơi nhà thờ nào có nhận cất giữ các hộp tro này. Nghĩa là được hỏa táng nhưng phải tin xác dù đã ra tro bụi, vẫn sẽ được sống lại như Giáo Hội dạy. Do đó, phải cất giữ tro của xác được hỏa táng chứ không được đem ra trải ngoài sông, hồ hay biển cả như những người ngoài Công giáo đã làm. Vì như vậy, là vô tình chia sẻ niềm tin của những người này cho rằng con người là hư không nên phải trở về với hư vô, để tan biến trong thiên nhiên vũ trụ, và không còn hy vọng nào về sự sống lại nữa. Đây là điều nghich với niềm tin của Kitô Giáo dạy phải “tin xác loài người ngày sau sống lại” (dù được chôn cất hay hỏa thiêu), như chúng ta đọc trong Kinh Tin Kính mỗi ngày Chúa Nhật và Lễ trọng.. 2- Về những người đã tự tử chết: Giáo lý mới của Giáo Hội cũng dạy rằng: “Tự tử là nghịch với tình yêu của Thiên Chúa hằng sống… Nhưng không nên tuyệt vọng về ơn cứu độ của những người đã tự tử. Thiên Chúa có thể dành cho họ một cơ hội để sám hối bằng những con đường mà chỉ mình Ngài biết. Giáo Hội cầu nguyện cho những người đã tìm cách hủy hoại mạng sống mình.” ( x. SGLGHCG, số 2281, 2283). Như thế rõ rệt cho thấy là, mặc dù lên án hành vi tự sát hay trợ giúp cho hành vi này, nhưng Giáo Hội không phán đoán gì về số phận đời đời của những người tự tử mà chỉ dạy phải cầu nguyện cho họ mà thôi. Có nghĩa là vẫn phải dành cho họ mọi nghi thức an táng như Thánh lễ ở nhà thờ hay cầu nguyện ngoài nhà quàn (Funeral Home) và được chôn cất như mọi tín hữu khác. (việc này các giáo xứ ở Mỹ đang làm. Khi có ai chết thì cha xứ phải làm lễ chọ họ theo lời yêu cầu của thân nhân, nhưng không được hỏi lý do chết và từ chối lễ an táng nếu người chết đã tự tử). Sở dĩ thế, vì không có khoản giáo lý, giáo luật nào cấm đem xác người tự tử vào nhà thờ để cầu nguyện hoặc cấm chôn cất xác đó ở nghĩa trang Công giáo. Do đó, nơi nào cấm đoán như vậy là đã đi ngược lại với giáo lý của Giáo Hôi dạy phải cầu nguyện cho 25

Trước khi trả lời câu hỏi trên, xin được nói qua về những thay đổi trong giáo lý của Giáo Hội về việc hỏa táng (cremation), và cầu nguyện cho những người đã tự tử chết. Chắc mọi tín hữu còn nhớ là trước Công Đồng Vaticanô II (1962-65), Giáo Hội cấm việc hỏa táng xác người chết vì lý do có bè rối (heresy) kia đã chống lại niềm tin về sự sống lại của xác kẻ chết như giáo lý Giáo Hội dạy. Nhóm này đã hô hào đốt xác người chết để thách đố xem Giáo Hội còn gì nữa để tin vào sự sống lại của xác kẻ chết đã ra tro bụi.. Vì thế, Giáo Hội đã cấm các tín hữu không được thiêu xác người chết để không làm cớ cho những kẻ sai lầm nói trên huyênh hoang quảng bá tà thuyết của chúng. Mặt khác, từ trước đến nay, Giáo Hội vẫn dạy rằng tự tử chết không những là tội nghich điều răn thứ Năm, mà còn là một gương xấu to lớn phải tránh. Cho nên, đã có thời Giáo Hội, đặc biệt ở Viêt Nam trước Công Đồng Vaticano II, đã cấm cử hành tang lễ cho người tự tử cũng như không cho an táng trong đất thánh của họ Đạo vì gương xấu tự sát. Nhưng phải nói ngay là thời đó Giáo Hội cấm vì gương xấu của tội tự sát chứ không phải vì muốn phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi, nên không cần cầu nguyện cho họ nữa. Rồi thời gian trôi qua, bề rối kia cũng tiêu tan, vì không ai tin theo họ cả, nên từ sau Công Đồng đến nay, Giáo lý mới của Giáo Hội, được Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II (nay là Chân Phước) ký ban hành ngày 11 tháng 10 năm 1992 có những lời dạy đáng chú ý như sau về việc hỏa táng và an táng kẻ chết vì tự tự. 1- Về việc hỏa táng (cremation) xác kẻ chết: Giáo lý mới mới dạy rằng: “Giáo Hội cho phép hỏa táng, nếu việc này không động đến niềm tin vào sự sống lại của xác kẻ chết”. (x.SGLGHCG, số 2301) Nghĩa là theo Giáo Hội dạy, thì dù được chôn cất và bị tiêu tan trong lòng đất hay được hỏa thiêu thành tro bụi, xác kẻ chết vẫn được quyền năng của Thiên Chúa

những người tự sát như đã trích dẫn ở trên. Cầu nguyện cho họ có nghĩa là mình không biết Chúa đã phán đoán họ ra sao, nên chỉ biết phó thác họ cho lòng nhân từ, khoan dung vô biên của Chúa mà thôi. Đây là quan điểm thần học quân bình hơn về phần rỗi của kẻ chết, và cách riêng của những người tự sát, vì chỉ một mình Thiên Chúa biết rõ lý do đã thức đẩy họ đến chỗ tự tử. Chúng ta tin tưởng lòng nhân từ và phán đoán công minh của Thiên Chúa dành cho những người chẳng may đã tự chọn hay bị thức đẩy vào con đường tự hủy hoại đời mình, nhất là thông cảm và nâng đỡ cho thân nhân còn sống của những người đã tự tử chết. Trong tang lễ, linh mục cũng phải tránh không nên nói gì về nguyên nhân cái chết mà chỉ nhấn mạnh đến lòng thương xót vô biên và phán đoán công minh của Chúa để phó thác người đã chết cho lòng thương xót của Chúa mà thôi. Tuy nhiên, giáo luật của Giáo Hội có cấm việc cử hành tang lễ theo nghi thức của Giáo Hội cho những ai rơi vào một trong những trường hợp sau đây: 1- Những người lạc giáo (heretics) tức những người cố chấp phủ nhận hay nghi ngờ một chân lý đức tin phải tin, sau khi đã được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo 2- Những người bội giáo (apostates) là những người chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô Giáo và ngoan có không chịu thay đổi sai lầm của mình. 3- Những người ly giáo (schismatics) là những người không còn muốn tùng phục Đức Thánh Cha và những vị thay mặt ngài coi sóc tín hữu trong toàn Giáo Hội.Nghĩa là không còn muốn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo do Đức Thánh Cha là Chủ Chăn duy nhất có sứ mệnh chăn dắt “các chiên của Thầy” thay mặt cho Chúa Kitô trên trần thế này. 4- Những người chọn hỏa táng thi hài của mình vì những lý do nghịch với đức tin Kitô Giáo. (không tin xác ngày sau sống lại) Nếu những người nói trên không tỏ dấu ăn năn thống hối nào trước khi chết thì phải từ chối an táng họ theo nghi thức của Giáo Hội. (x. giáo luật số 1184). Có nghĩa là không được cử hành lẽ tang theo nghi thức của Giáo Hội. Ngoài những trường hợp trên, không có khoản giáo luật hay giáo lý nào cấm cử hành tang lễ cho người tự tử cũng như cấm chôn xác đó trong nghĩa trang công giáo.

Như vậy, ai cấm đoán như trên là đã tự ban hành luật riêng của mình, trái ngược với giáo lý và giáo luật của Giáo Hội. Tại sao người ta lại tự dành quyền phán đoán số phận đời đời của kẻ chết? Tại sao không nghĩ rằng những người tự tử không hẳn là đã hoàn toàn chối từ Thiên Chúa, (mà có thì cũng không ai biết được, trừ một mình Chúa). Họ chọn cái chết có thể vì những hoàn cảnh vô cùng khó khăn gặp phải trong cuộc sống, hoặc những đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công xã hội hay vì hoàn cảnh éo le, tuyệt vọng trong gia đình... đã thúc đẩy họ chọn cái chết để tự giải thoát mà không biết đó là điều trái nghịch với tình thương của Chúa là Đấng duy nhất nắm quyền sinh tử của mọi người. Hơn thế nữa, tại sao lại muốn giới hạn lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, “ Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2 :4) để tự ý ban hành luật riêng của mình cấm cầu nguyện hay cho an táng người tự tử trong nghĩa trang của họ Đạo? Sau hết, làm như vậy có giúp an ủi, nâng đỡ thân nhân người chẳng may đã tự sát, hay là bêu xấu họ cách công khai trong giáo xứ địa phương, và do đó, có thể làm mất đức tin của họ chỉ vì chủ chăn không biết cảm thương và thực hành giáo lý mới của Giáo Hội dạy phải cầu nguyện cho những người tự tử, nghĩa là không được phán đoán gì về số phận đời đời của họ như đã trích dẫn ở trên. Lm Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn

NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN TRONG HIẾN CHẾ…….
(tiếp

theo trang 23)

- và là dấu chứng của Thiên Chúa đang sống giữa các con người. Tất cả cùng nhau, mỗi người tùy theo phần của mình, phải biết nuôi dưỡng thế giới bằng các hoa trái thiêng liêng và phổ biến tinh thần làm cho người nghèo khó, người hiền hậu và yêu chuộng hoà bình đều có được tinh thần hăng say để sống, như những gì Chúa Giêsu đã tuyên bố trong Tám Mối Phước Thật.
"NHƯ LINH HỒN Ở TRONG THÂN XÁC, CŨNG VẬY NGƯỜI TÍN HỮU CHÚA KITÔ Ở GIỮA TRẦN THẾ"


26

Ngày 11 tháng 9, người vợ góa không bao giờ chất vấn Thiên Chúa
(tiếp theo trang 19) Roosevelt Island là một nơi mà ngay những người Patty không biết cũng mỉm cười với nàng và với Anthony, chồng nàng. Sự hiện diện của Anthony trong cộng đoàn này còn lớn hơn cả đời thực. Con trai Patrick của vợ chồng nàng từng theo lớp mẫu giáo tại trường công của cộng đoàn, và các bà mẹ luôn duy trì mối liên hệ gắn bó. Cho nên, trong các ngày tiếp theo cuộc tấn công 11 tháng 9, không ai ngạc nhiên khi các bà mẹ này kéo nhau tới nhà Patty thăm hỏi. Họ cùng ngồi lại với nhau, và theo đề nghị của một bà, họ nắm tay nhau cùng đọc một kinh ngắn. Thế là các phụ nữ, cả người theo Do Thái Giáo, người theo Kitô Giáo lẫn người theo Hồi Giáo, cùng tham gia lời cầu nguyện hàn gắn. Mười ngày sau cuộc tấn công, theo yêu cầu của Patty, một nhóm còn đông hơn nữa tụ họp nhau để cử hành một cuộc tưởng niệm có tính liên tôn. Thánh Lễ Công Giáo cầu cho Anthony chỉ được tổ chức vào ngày hôm sau, nhằm ngày Thứ Bẩy. Còn hôm nay, Patty muốn có buổi tưởng niệm bao gồm cả cộng đoàn nơi gia đình nàng vốn sinh sống. Em trai và em gái chồng hoài nghi không biết có cần phải tổ chức một buổi tưởng niệm như thế hay không. Nhưng Patty thì nhất quyết “Đây là việc gia đình chị cần làm, đây cũng là điều cộng đoàn chị cần phải làm”. Thế lả gia đình chồng nàng ai cũng tham dự. Và khi thấy trẻ em hàng xóm ngồi tréo chân trên sàn nhà, chung quanh bàn thờ, của ngôi nhà nguyện đại kết, họ rất mừng là mình đã tham gia. Ngày hôm sau, cách nơi nàng được tin về cái chết của Anthony khoảng 20 dẫy phố, một Thánh Lễ tưởng niệm chàng đã được tổ chức tại Nhà Thờ St Ignatius Loyola. Bên ngoài nhà thờ, đội kèn bao (bagpipes), do một bà mẹ của trường thuê bao, chơi một bài tang chế buồn bã. Khung cảnh rất cảm động, nhưng cũng là khung cảnh làm một số bạn bè rất Ý Đại Lợi của Anthony tự hỏi không biết mình có tới đúng địa điểm hay không. Khung cảnh bên trong thì đúng rồi: nhà thờ chật ních bạn bè và các gia đình có con em học trường nhà xứ cũng như những người cần một nơi chốn để thương tiếc, một nơi để cảm thấy Thiên Chúa gần gủi hơn.

Patty luôn cảm nhận được một liên hệ gần gũi với Thiên Chúa. Nàng rất tích cực tham gia sinh hoạt giáo xứ, dự các buổi tĩnh tâm và có cảm thức mạnh về sự tốt lành của thế giới. Và lạ thay, nàng thấy cái chết của Anthony, cả các cuộc tấn công lẫn những người khủng bố đều không thay đổi được cảm thức ấy. Không thể thay đổi được nó. Nàng cũng rút tỉa được sức mạnh từ lòng tin tưởng của Cha Modrys vào khả năng nàng có thể đương đầu được với những chuẩn bị tang chế này cũng như cuộc đời trước mắt. Patty bảo: “Hãy để con làm điều con cảm thấy cần phải làm”. Nhưng khi chuẩn bị cho nghi lễ, nàng nói với cha: “Xin thú thực với cha, con không tìm được phấn khích nào từ sách thánh; chính đức tin vào Chúa đã nâng đỡ con qua các biến cố này”. Cha Modrys đành chọn các bài đọc. Patty có những chọn lựa khác phải làm. Nàng chọn không đổ lỗi cho Chúa. Nàng chọn lợi dụng tối đa hoàn cảnh hiện nay của nàng. Hàng ngày, nàng chọn thức giấc vào mỗi buổi sáng và cương quyết tiếp tục sống. Nàng bảo: “Tôi cảm thấy như người ta ai cũng muốn thấy ta o.k., và nếu ta o.k. thì họ cũng o.k. Nhưng không thiếu người không biết họ có ok. hay không” Nói một cách chính xác, làm thế nào để mọi chuyện o.k. là một trong những câu hỏi mà Patty phải đương đầu trong nhiều tháng sau cuộc tấn công 11 tháng 9. Những câu hỏi ấy không có giải đáp dễ dãi, nhất là những câu hỏi do Anthony, con trai nàng, đặt ra trước khi đi ngủ. Nó thường hỏi má, tại sao lại có người lái máy bay đâm vào tòa nhà để sát hại một ai đó? Patty suy nghĩ một hồi. Đáng lẽ nàng có thể đổ lỗi cho nhiều thứ: chiến tranh, chủ nghĩa khủng bố, tôn giáo. Nhưng nàng biết: câu hỏi ở đây là về lòng hận thù, nó cưỡng bức người ta phải làm gì, nó làm con người hư rỗng ra sao. Nên nàng bảo con: “Cũng giống như Star Wars, con ạ. Con có sức mạnh và phía tối, điều này trong ta ai cũng có. Điều làm cho Anakin hướng về phía tối chính là anh ta đã tức giận và hận thù, thế là phía tối chiếm hữu anh ta. Chúa Giêsu bảo ta phải chiến đấu chống lại bóng tối ở trong ta để duy trì con người tốt ở bên trong”. Câu nói ấy không ngờ có hiệu nghiệm với cậu bé 8 tuổi. Nhưng đối với Patty, cuộc chiến giữa bóng tối và ánh sáng, giữa thiện và ác, không khởi nguyên từ phim ảnh Holywood mà từ nền thần học sâu sắc. Nàng bảo: “Điều trọng yếu là ta có ý chí tự do. Thiên Chúa rõ ràng cho phép ta tự do chọn điều mình làm. Nếu mỗi lần có lỗi lầm mà Người bước vào can thiệp, 27

chẳng hóa ra tự do không có. Nuôi dậy con cái cũng thế: bạn muốn dưỡng dục để chúng trở thành những người trưởng thành hạnh phúc, tự lập, tự chủ. Bạn đâu chỉ muốn một dịch bản cũ mèm ngày chúng 12”.

Chúa!”. Đó là điệp khúc Patty rất muốn nghe và không bao giờ quên. Sau ngày 11 tháng 9, nhiều bạn hữu có ý ngay lành muốn an ủi nàng. Họ bảo: “mọi sự xẩy ra đều có lý do”. Với Patty, những câu như thế vô nghĩa. “Mày không thể nói Anthony bị xé tan xác là có lý do chính đáng. Tao thì tao bảo luôn có cơ hội làm cho sự việc tốt hơn, và đôi khi cần có bước nhẩy vọt của đức tin mới nhận ra và lợi dụng được các cơ hội như thế”. Thí dụ, có lần vào tháng 11 năm 2001, giữa lúc Patty chỉ muốn ở nhà, thì bè bạn thuyết phục được nàng ra ngoài với họ. Đàng sau một tiệm rượu ở New York, họ gặp một nhóm nhân viên cứu hỏa đến từ Los Angeles. Họ chuyện trò với nhau, nhắc lại kỷ niệm rồi cùng òa lên khóc. Họ nói về đức tin, về Thiên Chúa, rồi các nhân viên cứu hỏa giới thiệu Patty với gia đình họ qua điện thư. Kết cục, Patty và các con nàng đã qua California gặp gỡ họ và hiện nay vẫn duy trì liên lạc. Theo Patty “Bạn cần phải cởi mở. Bạn phải muốn thấy sự việc tốt hơn. Bạn phải muốn được hạnh phúc trở lại. Bạn phải chọn lựa: trở nên hạnh phúc hay bị chìm ngập. Có đức tin, bạn có thể chọn lựa được”. Sự nâng đỡ và tình bạn của các nhân viên cứu hỏa đóng một vai trò quan trọng trong diễn trình phục hồi của Patty. Sẽ khác biệt biết bao nếu đêm đó Patty cứ luẩn quẩn ở nhà. Các biến cố trong một ngày, ngay cả trong vài giờ, cũng có thể thay đổi đường đi của mọi sự, điều này Patty biết rõ. Một thập niên sau, thỉnh thoảng Patty lại nhớ tới người lạ trên đường Park, người đàn ông, chỉ với ít lời, đã vô tình cho nàng hay chồng nàng đã chết hay có thể sẽ chết; con cái nàng sẽ lớn lên không có bố; tương lai như nàng vẫn tưởng tượng đã không còn. Đôi lúc nàng muốn được gặp lại người đàn ông ấy. Nàng muốn làm ông an tâm, như nàng vẫn làm với nhiều người khác. Và nếu người đàn ông ấy thấy nàng, đọc được nét mặt nàng bây giờ, có lẽ không cần được thông báo ông ta cũng biết chính xác rằng nàng muốn nói ”mọi sự đều thuận buồm xuôi gió”. Theo Kerry Weber, phụ tá chủ bút tờ America, A Father's Love, số ngày 9 tháng 9 năm 2011

Nói với người cha
Patty và chồng nàng không thuộc loại người ưa hỏi “Tại sao lại là tôi?”. Nhưng sau ngày 11 tháng 9, nhiều người hỏi câu đó thay cho nàng, to tiếng thắc mắc tại sao gia đình Fallones, những con người yêu thương là thế, sống trọn cuộc sống là thế, mà lại chịu nhiều đau khổ như thế? Patty chỉ có một câu trả lời: “Vậy ra một ai khác đáng phải thế hay sao?”. Đối với Patty, câu hỏi tại sao luôn luôn ít quan trọng hơn câu hỏi: làm gì bây giờ? Trong những ngày và tuần lễ sau cuộc tấn công, Patty liên tiếp cầu nguyện. Ngày nay, nàng vẫn còn cầu nguyện. Đôi lúc nàng chuyện trò với Anthony y như lúc nàng điện thoại cho chàng tại sở làm. Đôi lúc, nàng chuyện trò với Chúa. Nàng xin Người sức mạnh và dâng lời tạ ơn. “Có những lúc, khi nói chuyện với Chúa, tôi thấy xốn xang trong bụng, một thứ bướm bay bạn thấy khi biết mình được yêu thương”. Tuy nhiên, thỉnh thoảng, thực tế cuộc đời không buông tha nàng. Nàng nghĩ “trời ơi, mấy con tôi lớn lên không có bố”. Lần đầu tiên thấy cảnh cha và con gái người ta khiêu vũ, nàng thấy như có dao cắt ruột. Ở buỗi lễ mãn khóa trung học của con gái, tim nàng thắt lại khi nghĩ tới sự vắng bóng của chồng. Không phải trong những lúc khó khăn, mà là trong những thời điểm đẹp đẽ nhất, cảm kích nhất, nàng mới thấm thía cái đau của việc mất chồng. Nàng biết chàng sẽ hãnh diện xiết bao khi thấy các con khôn lớn. Nàng biết các con tiếc nuối xiết bao khi không có Anthony trong đời chúng, không được nghe giọng cười oang oang của chàng, không được gần gũi bóng hình tươi vui của chàng. Nhưng nàng cảm thấy an ủi về thời gian gia đình còn đông đủ. Nàng nói với các con: “Các con thấy thời gian các con còn sống với Bố tốt đẹp như thế nào, vì Bố thương yêu các con. Có những người sống với bố suốt đời nhưng nào có cảm nhận được chi”. Hồi các con còn nhỏ, Patty thường cuốc bộ với chúng tới đường xe điện ngầm vào buổi sáng. Họ đi dọc theo Sông Đông (East River), băng qua những dẫy hồng và cây bách xù (juniper). Vào những ngày nắng vàng rự rỡ, nàng thường hỏi các con “Các con nói gì vào những ngày đẹp như hôm nay?”. Các con nàng biết ngay phải trả lời như thế nào: “Lạy Chúa, tạ ơn 28



VN

q

.

.

c . , ở Đan M .

-

. . . . . . . .

. !. con.”

. 29

ca do

18g00. .

, nh

. .

.

, t

.

.

. .

30

Tin sinh hoạt CĐ. Aarhus
”Forårsrulle, fire for tyve kroner…!” Cái giọng lánh lót vui tai vang cả một góc đường trước cổng nhà thờ Vor Frue kirke tại giáo xứ Århus, nơi cái miệng dịu ngọt của chị Nữ. Chị không hề nghĩ đến cái phát âm và cách sắp câu sao cho chính xác của 4 cái chả giò chỉ 20 krone đúng hay sai, mà hăng hái mời gọi người qua đường đến gian hàng chả giò thưởng thức. Nhưng người bản xứ hay dân Việt đi ngang đều nghe chị rao và nhìn vào gian hàng chả giò vì cái âm thanh ngọt ngào tiếng Đan giọng rặt miền nam. Dù hiểu hay không hiểu chẳng ai đi ngang qua mà ”bắt lỗi” sai hay trúng, cho bằng mùi thơm và gian hàng trưng bày đủ loại thức uống và lò chả giò, như mời mọc cùng với tiếng rao vui tai của chị Nữ. Giọng rao hàng ”độc nhất vô nhị”, chưa có ai… rao như chị. Có lẽ… phụ nữ nhà mình có tính thẹn thùng dù quá tuổi hay đủ tuổi, cũng ít can đảm rao hàng thật sự. Chắc cũng có người rao đó chứ nhưng tôi chưa được dịp gặp hoặc nghe? Những điều trên tôi dẫn nhập không biết có đúng với cái nhan đề năm nay của tuần lễ hội của Århus không? ”Skønne fejl og andre lykketræf” tạm dịch những lỗi lầm đáng yêu và những hạnh phúc chợt đến. Phát âm và cách dùng câu tiếng Đan, có thể không chỉnh nhưng cái dễ thương và tuyệt đẹp qua cái nghĩa cử không ngần ngại mời mọc người qua đường đến với gian hàng chả giò. Người ta sẽ thưởng thức những cái chả giò thơm ngon hương vị và một cách nào đó, người ăn cũng gián tiếp ủng hộ để làm cho những kẻ đang đói khát cũng được hạnh phúc lây. Hạnh phúc cũng là nghĩa cử từ thiện của những giáo dân nơi cộng đoàn Công Giáo Việt Nam giáo xứ Århus. Mặc dù cộng đoàn không đăng bảng… cứu đói Phi Châu. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tha thiết kêu gọi công đồng quốc tế mau chóng huy động việc cứu trợ dân chúng sống trong vùng Sừng Phi châu, đặc biệt là Somalia, đang lâm cảnh đói khát trầm trọng vì nạn hạn hán kèo dài từ 2 năm qua. Ngài nói: “Với sự âu lo sâu xa, tôi theo dõi các tin tức đến tứ vùng Sừng Phi châu, đặc biệt là Somalia, đang bị hạn hán trầm trọng, và trong vài vùng lại bị mưa lớn, đang gây ra một tai ương cho con người. Nhiều người đang trốn chạy khỏi cảnh đói kém này để tìm thực phẩm và các trợ giúp.”

Tôi cầu mong sự huy động quốc tế gia tăng để cấp thời gửi các trợ giúp tới các anh chị em bị thử thách nặng nề này, đặc biệt là các trẻ em. Ước chi các dân tộc khổ đau này không thiếu tình liên đới của chúng ta và sự trợ giúp cụ thể của tất cả những người thiện chí”. Với việc làm từ thiện giúp những người đói nghèo không phân biệt chủng tộc màu da, người Việt Nam nơi đâu cũng luôn động lòng trắc ẩn và luôn bày tỏ tình liên đới. Huống chi là người Công Giáo lại cần phải tỏ lòng xót thương hơn. Vì vậy việc thực hiện một bàn tay, hai bàn tay… và rất nhiều nữa những bày tay, gói ghém tấm lòng bác ái như người Samaria nhân hậu, trong cộng đoàn Århus cho những cuốn chả giò ân tình. Và sức đóng góp của giáo dân VN không chỉ ngưng lại nơi gian hàng chả giò, mà còn đi xa hơn nữa như hương vị chả giò, như men, như muối làm cho những kẻ đau khổ được hạnh phúc vì đã được cứu bởi những tấm lòng quảng đại nơi quyên góp. Những hình ảnh của gian hàng chả giò, tuy có thay đổi cách trình bày gian hàng hàng năm. Nhưng những khuôn mặt quen thuộc hằng năm cứ đến tuần lễ hội của thành phố Århus là hiện diện nơi khâu cuốn, khâu bán, khâu dọn… rồi khâu dẹp. Khâu quảng cáo khâu trang hoàng gian hàng, à… còn khâu thanh toán chi phí. Dù trời mưa, gió hay nắng đẹp ấm áp, sáng- trưachiều tối đứng từ 10 giờ sáng đến 20giờ tối. Bà con giáo dân thay phiên để làm cho gian hàng được sung mãn phục vụ khách qua đường. Dù cực nhọc dù hy sinh thời giờ kể cả tài chánh,… gương mặt luôn luôn tươi vui chào đón khách đến ăn ngon miệng, vừa lòng khách no bụng và có khách mua… khách xách bọc chả giò mĩm cười ra đi với tiếng cám ơn trìu mến. Tấm lòng của các giáo dân chỉ có Đấng là Lòng Thương Xót sẽ đoái nhìn vào tận thẳm sâu của mọi công việc và sẽ đền bù thỏa đáng nơi cuộc sống hôm nay và hạnh phúc đời sau. Vài hàng giới thiệu cái vài nét độc đáo gian hàng chả giò của bà con giáo dân cộng đoàn Århus đến các cộng đoàn bạn trên tờ thông tin cộng đồng CGVNĐM. Kim Long.

31

Khóa ca trưởng cấp I, đợt 2 tại Đan Mạch.

Ngày 23 đến ngày 28 tháng 8 vừa qua, Cộng Đồng
Công Giáo Việt Nam tại Đan Mạch đã tiếp tục tổ chức Khóa Ca Trưởng cấp I, đợt 2… năm nay có lẽ tiếng lành đã đồn xa hơn, nên có rất nhiều học viên muốn tham dự. Các học viên đến từ các cộng đoàn tại Đan Mạch cũng như Hòa Lan và Đức quốc. Tuy nhiên vì phòng ốc giới hạn nên chỉ ưu tiên cho những người đã mau mắn ghi danh. Khóa học năm nay gồm có tất cả 22 học viên tham dự, trong số đó có 2 anh từ Hòa Lan, 6 anh chị từ Đức, số còn lại là anh chị em từ khắp các cộng đòan trong Cộng Đồng Đan Mạch. Nhạc sư Phạm đức Huyến năm nay vì có vài trắc trở không thể đích thân qua Đan Mạch để hướng dẫn nhưng đã gởi 1 phụ tá tâm đắc là Nhạc sĩ, Ca Trưởng Hòang Viết Hùng từ Dallas, Hoa Kỳ qua Đan Mạch để hướng dẫn, tuy nhiên Thầy Huyến cũng vẫn theo dõi và hướng dẫn học viên ”online” qua màn ảnh mỗi ngày 4 tiếng, 2 tiếng buổi sáng và 2 tiếng buổi chiều. Thiết nghĩ, đây cũng là dịp may híếm có cho anh chị em học viên vì anh Nhạc sĩ kiêm Ca Trưởng Hòang viết Hùng là người không những vững vàng về tay nhịp mà còn chuyên môn trong lãnh vực Thanh Nhạc, môn học mà các anh chị em sinh họat trong ca đoàn rất cần thiết. Qua đó tất cả các học viên được chỉ dẫn rõ ràng về Thanh Nhạc, cách khép âm, xướng âm, âm giai và cách đặt hợp âm trên bài hát ..v..v… Trong 6 ngày, mỗi ngày học viên bắt đầu học từ 8.00 sáng cho đến 19.00 g tối, có khi sau bữa cơm chiều lại tiếp tục cho đến 21.00 – 22.00 giờ, Tuy mệt mỏi nhưng thật hào hứng. Các học viên chăm chỉ theo dõi 32

học tập về lý thuyêt cũng như phần thực hành, thầy Hoàng Viết Hùng cũng theo dõi quan sát từng học viên để chỉnh sửa tay nhịp….. tuy trình độ có chút khác biệt lúc ban đầu vì đợt 1 và 2 học chung lại trong kỳ này. Nhưng qua sự cố gắng của chính bản thân học viên và sư tận tình chỉ dẫn của thầy Hoàng Viết Hùng học viên đã cảm thấy có đủ tự tin để tiếp tục…. 6 ngày học mau chóng đi qua, và rồi ngày thi cũng đến, để đạt được cấp I học viên phải qua một cuộc thử nghiệm về phần xướng âm, lý thuyết và đánh nhịp. Mỗi học viên được thử nghiệm bằng 2 bài xướng âm cũng như đánh nhịp: 1 bài bắt thăm và 1 bài học viên tự chọn, phần thi lý thuyết gồm có 25 câu hỏi bao gồm tất cả về Phụng Vụ cũng như sự quan trọng của thánh nhạc trong Phụng vụ, vai trò của người ca trưởng, chọn lựa bài hát phù hợp với Phụng Vụ trong thánh lễ ..v..v…. Như vậy, cứ tuần tự từng học viên đều phải qua những thử nghiệm này. Nhưng rồi từng người một với những cố gắng, vào những thời gian giải lao, chia ra từng nhóm 2, 3 người, nơi đánh nhịp, nơi xướng âm vang lên khắp mọi nơi, từ lớp học, phòng ngủ, nhà bếp, ngoài sân, vườn cây… Rồi mọi người cũng vượt qua được nỗi nhút nhát, sợ hãi của chính mình để hoàn thành những thử nghiệm nói trên. Tạ ơn Chúa! Xin gởi lời cám ơn đến Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Đan Mạch đã không quản ngại bao khó khăn vẫn tiếp tục tổ chức khóa Ca Trưởng , để các anh chị em trong các cộng đoàn có thêm cơ hội học hỏi hầu giúp cho các Cộng Đòan ,Cộng Đồng khắp nơi thấu hiểu được tầm quan trọng của Thánh Nhạc trong Phụng Vụ .

Cám ơn đến gia đình ông bà Trần văn Trí, đã hy sinh rất nhiều cho các anh chị em học viên có được chỗ ăn, chỗ ngủ thật chu đáo và những bữa cơm thật ngon miệng sau những giờ học tập. Cám ơn quý vị ân nhân đã yêu thương, động viên giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cho khóa học, cám ơn anh Ngô Dương Song Thao tuy bận rộn với công việc nhưng cũng đã hết mình lo cho khóa học về phần điện tử để khóa học có thể liên lạc trực tuyến với Thầy Phạm Đức Huyến qua mạng lưới internet mỗi ngày. Xin chân thành cám ơn đến Nhạc sư Phạm Đức Huyến và anh phụ giáo Nhạc sĩ, Ca Trưởng Hoàng Viết Hùng đã không quản ngại đường sá xa xôi… đến tận quốc gia bé nhỏ Đan Mạch để giúp đỡ cho khóa học. Cũng

xin thầy Phạm Đức Huyến chuyển lời cám ơn đến các Ca Trưởng khắp nơi trên thế giới đã cùng hiệp thông dâng lời cầu nguyện cho lớp Ca Trưởng cấp I, đợt 2 tại Đan Mạch được thành công tốt đẹp. Hy vọng năm tới học viên lại có cơ hội tiếp tục học lớp Ca Trưởng cấp II tại Đan Mạch. Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời cầu bầu của Mẹ Maria ban muôn Hồng Ân, sức khỏe và hạnh phúc cho quý Thầy cùng tất cả quý vị.

Copenhagen 4 /9-2011 Têrêsa Huỳnh Thị Thúy Hằng

___________________________________________________________________________________ Ân nhân báo Thông Tin Liên Lạc. Danh sách đã nhận được trong konto TV và tiền mặt nhờ chuyển.
København - Bà Hồng - AC Vũ – Huyền - 1 Ẩn danh Odense - AC Nguyễn Hải Trường – Thay - AC Nguyễn Ngọc Huy - Hồng - AC Trần Đức Thắng - Yến - AC Trần Đức Thuấn - Uyên Hjørring - AC Quản Đức Trung Horsens - AC Dũng – Phương - Cô Lan 300 kr. 200 kr. 33 500 kr. AC Trần Trung Quân ÔB Vũ Văn Lâm AC Phan Quốc Toàn AC Nguyễn Hữu Nhân AC Ðồng Xuân Tĩnh AC Hồng Minh AC Nguyễn Quốc Lợi 150kr. 150kr. 200kr. 150kr. 150kr. 150kr. 200kr.. 200 kr. 200 kr. 200 kr. 200 kr. 200 kr. 500 kr. 500 kr. Svendborg - Bà Loan - Bà Trương Thị Bạch - ÔB Nguyễn Hữu An - ÔB Đòan Hữu Tế - ÔB Nguyễn Văn Kiên - ÔB Phạm Hữu Kính - ÔB Phạm Văn Quyền - AC Phạm Văn Hòa - ÔB Lê Xuân Bảng Viborg 100 kr. 150 kr. 100 kr. 100 kr. 200 kr. 200 kr. 200 kr. 200 kr. 200 kr.

Cảm Tạ và Tri Ân
Gia đình chúng tôi, xin chân thành Cảm Tạ và Tri Ân đến: Linh mục chánh xứ Hørsholm Andrzej Papuga. Linh mục Tuyên úy Chu Huy Châu. Linh mục Hoàng Đô Đốc (Việt Nam). Linh mục Trần Thiên Tĩnh (Roma). Ban Chấp Hành Cộng Đòan Công Giáo Việt Nam vùng Sjælland. Khu giáo Lyngby. Khu giáo Hvidovre. Nhóm giáo lý. Lớp việt ngữ. Nhóm buồn. Ca đoàn Cùng quý ông bà, thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần đã giúp đỡ, thăm viếng, phân ưu, gởi vòng hoa phúng điếu, gởi tiền xin lễ, điện thoại, e-mail, đọc kinh, cầu nguyện, tham dự thánh lễ an táng và tiễn đưa chồng, cha, em, anh, bác, cậu, của chúng tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng là:

Gioan Trần Ngọc Minh
Sinh ngày 22.05.1959. Từ trần tại bệnh viện Hillerød ngày 11.08.2011.
Trong lúc tang gia bối rối, có điều gì sơ sót kính mong quý Cha cùng quý ông bà, anh chị em niệm tình tha thứ. Nguyện xin Thiên Chúa qua lời cầu bầu của Mẹ Maria, ban muôn Hồng Ân và trả công bội hậu cho quý Cha cùng quý vị.

Tang gia đồng bái tạ:
Vợ: Lê Thị Thu Trưởng nam: Trần Lê Hoàng Út nữ: Trần Trúc Ly Chị: Trần Thị Liên, chồng và các con (Danmark) Em: Trần Anh Tuấn, vợ và các con (Việt nam) Em: Trần Đức Trọng, vợ và các con (Danmark) Em: Trần Thị Mỹ Dung, chồng và các con (Việt nam) Em: Trần Thị Hồng Oanh, chồng và các con (Việt nam) Em: Trần Thị Mỹ Hạnh, chồng và các con (Danmark) Em: Trần Thị Hồng Quế, chồng và các con (Danmark)

34

LINH THAO CUỐI TUẦN
TỪ CHIỀU THỨ SÁU 18.00 GIỜ, NGÀY 30/9/2011 TỚI CHIỀU CHÚA NHẬT 14.00 GIỜ, NGÀY 2/10/2011 TẠI ÅRHUS PRODUKTIONSSKOLE, KATRINEBJERGVEJ 113, 8200 ÅRHUS N HƯỚNG DẪN: LINH MỤC HOÀNG TIẾN ĐOÀN S.J. (DÒNG TÊN) TỪ HOA KỲ

 Để đích thân, đích thật cảm nhận tình yêu ngọt ngào vô biên và bình an vô tận mà Chúa dành riêng cho bạn.  Để diện đối diện biết Chúa hằng ở bên bạn trong mọi nỗi vui buồn, sướng khổ của cuộc sống.  Để được tựa kề bên lòng Chúa, nghe Chúa thủ thỉ về ý nghĩa đích thật của đời người.  Để được thanh tẩy và đổi mới, giải thoát khỏi mọi dính bén và được sống tự do, hạnh phúc làm con Chúa.
Để tiện việc sắp xếp chỗ ngủ và ẩm thực xin qúi cụ, quí bác cùng quí anh chị em xin ghi danh nơi các anh chị sau đây: - Chị Trần Thị Thanh Minh: đại diện Cộng Đoàn Århus Email: minh3t@hotmail.com, tlf. 86247117, hoặc 30247272 - Anh Lê Xuân Bảng, chủ tịch CĐCGVN/DK Email: bang_nhung@hotmail.com, tlf.62217858,hoặc 61333523 Anh Nguyễn Văn Thảo, thư ký CĐCGVN/DK Email: thaohang.nguyen@gmail.com, tlf. 48441062,hoặc 25126462 Thay mặt Ban Chấp Hành CĐCG VN/ DK

Chủ tịch: Lê Xuân Bảng

35

36

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful