ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ NGUỒN LỢI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM MỘT MẢNH VỎ (GASTROPODA) TRONG HỆ SINH

THÁI RỪNG NGẬP MẶN KS. Đỗ Thanh An, KS. Đỗ Anh Duy & CN. Lưu Xuân Hòa TÓM TẮT Từ năm 2008 đến năm 2009 đề tài đã thực hiện 4 chuyến khảo sát tại 4 vùng rừng ngập mặn Đồng Rui (Quảng Ninh); Hưng Hoà (Nghệ An); Long Sơn (Bà Rịa Vũng Tàu); Vườn Quốc Gia mũi Cà Mau (Cà Mau), kết quả nghiên cứu đã xác định được 63 loài thuộc 16 họ của 8 bộ thân mềm một mảnh vỏ. Trong đó, vùng rừng ngập mặn Đồng Rui có thành phần loài cao nhất (38 loài), vùng rừng ngập mặn Hưng Hoà có thành phần loài thấp nhất (13 loài. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Phân bố của động vật thân mềm một mảnh vỏ nhiều nhất ở nền đáy cát bùn (33 loài) và thấp nhất ở nền đáy bùn kết hợp mùn hữu cơ (12 loài). Số lượng loài phân bố tương ứng với các thể nền đáy bùn cát, đáy bùn, đáy cát lần lượt là 29, 23 và 15 loài. Mức độ tương đồng của quần xã ĐVTM một mảnh vỏ giữa các khu vực nghiên cứu có mức tương đồng thấp. Chỉ số tương đồng Sorensen về thành phần loài giữa các khu vực nghiên cứu dao động trong khoảng từ 0,29 – 0,55. Tổng trữ lượng tức thời của ĐVTM một mảnh vỏ ở cả 4 vùng rừng ngập mặn ước đạt khoảng 23.167 tấn, trong đó trữ lượng ở vùng Cà Mau là 19.614 tấn,, tiếp đến là vùng Đồng Rui 2.242 tấn. Trữ lượng ước tính đạt thấp nhất ở khu vực rừng ngập mặn Hưng Hòa 7,2 tấn. Với thành phần loài đã xác định, đã ghi nhận được 8 loài thân mềm một mảnh vỏ có giá trị kinh tế. Trong đó, vùng rừng ngập mặn Long Sơn có số lượng loài lớn nhất với 8 loài, Hưng Hoà có số loài ít nhất với 3 loài. Hai vùng rừng ngập mặn Đồng Rui có 7 loài và Cà Mau có 6 loài. ABSTRACT SPECIES COMPOSITION AND RESOURCES OF GASTROPODA IN MANGROVES IN VIET NAM From 2008 to 2009, 4 surveys of biodiversity and resources in 4 areas of mangroves Dong Rui (Quang Ninh), Hung Hoa (Nghe An), Long Son (Ba Ria Vung Tau), Ca Mau Nation Park Cape (Ca Mau) was researched by Research Institute For Marine Fisheries. The study results showed there were 63 species of gastropoda identified belonging to 16 families and 8 orders. In particular, Dong rui mangrove has the highest number of species with 38 species and Hung Hoa mangrove has the lowest number of species with 13 species. Number of species distribution was the highest in mud sand bottom (33 species) and the lowest in the bottom mud combined organic humus (12 species). Sorensen index (S) was the difference between the areas and range from 0,29 to 0,55. Total reserves of gastropoda estimated about 23.167 tones, of which reserves in the Ca Mau is 19.614 tones, Dong Rui is 2.242 tones, Hung Hoa is the lowest with 7,2 tones. The study result also showed that has 8 species has economic value.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1. vì vậy việc nghiên cứu đa dạng sinh học ĐVTM một mảnh vỏ trong hệ sinh thái rừng ngập mặn là hết sức cần thiết. ĐVTM một mảnh vỏ được coi là nguồn nguyên liệu quý giá để chiết xuất ra các chất có hoạt tính sinh học cao phục vụ các ngành y tế. 2003). 2. Phạm vi khảo sát Từ phía trong tới khu vực phía ngoài vùng rừng ngập mặn (đến khoảng 1km chiều dài) của 4 địa điểm nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu Thời gian nghiên cứu từ tháng 1/2008 – tháng 12/2009. Tuy nhiên.1. 1998).1. mỹ phẩm. Địa điểm nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu là 4 vùng rừng ngập mặn đại diện cho mỗi khu vực địa lý dọc theo vùng ven biển Việt Nam: + Vùng rừng ngập mặn Đồng Rui (huyện Tiên Yên. Các công trình nghiên cứu về thành phần loài.4. + Vùng rừng ngập mặn tại Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau. Ở nước ta từ 1990 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐVTM một mảnh vỏ trong RNM. + Vùng rừng ngập mặn Hưng Hoà (gần cửa sông Cả.MỞ ĐẦU Động vật thân mềm (ĐVTM) một mảnh vỏ là nguồn lợi quan trọng về tài nguyên sinh vật. những nghiên cứu này còn tản mạn. ĐVTM một mảnh vỏ là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên của nhiều loài.Phân loại động vật thân mềm một mảnh vỏ bằng phương pháp hình thái so sánh. chưa mang tính hệ thống. Đối tượng nghiên cứu Các loài ĐVTM một mảnh vỏ (Gastropoda) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. kinh tế xã hội và là nguồn nguyên liệu có giá trị cho xuất khẩu.2. đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý ô nhiễm và nhiều loài được xác định là sinh vật chỉ thị cho các vùng bị ô nhiễm dầu và kim loại nặng.Sử dụng các tài liệu hướng dẫn phương pháp nghiên cứu sinh vật biển đã được áp dụng trong và ngoài nước như: + Phương pháp điều tra giám sát đa dạng sinh học (WWF. PHẦN II. Phương pháp nghiên cứu 2. Quảng Ninh). chất lượng khoa học còn hạn chế. Đồng thời. + Phương pháp thu mẫu sinh vật biển (Wilkinson & Baker. 1. Nghệ An). dược phẩm… Ngoài ra. Báo cáo “Đa dạng thành phần loài và nguồn lợi động vật thân mềm một mảnh vỏ (Gastropoda) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn” dựa trên nguồn số liệu đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đánh giá nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học của một số vùng rừng ngập mặn điển hình để khai thác hợp lý và phát triển bền vững” bước đầu đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học và nguồn lợi ĐVTM một mảnh vỏ trong hệ sinh thái rừng ngập mặn ở nước ta. sự phân bố nguồn lợi ĐVTM một mảnh vỏ trong hệ sinh thái rừng ngập mặn còn mang tính nhỏ lẻ. . 1. Tài liệu hướng dẫn phương pháp nghiên cứu . + Vùng rừng ngập mặn Long Sơn (Vũng Tàu). dựa trên các chỉ tiêu hình thái cấu tạo ngoài và cấu tạo bên trong của cơ thể theo tài liệu 2 . 1. kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học cho việc đề xuất hướng nghiên cứu sâu hơn và các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi ĐVTM một mảnh vỏ trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam.3. chúng còn có khả năng lọc các chất cặn bã làm sạch môi trường.

5m x 0. trường hợp mẫu cùng loài quá nhiều.3.2. Poutiers (2005). J. đánh số đem về phân tích và định loại. Phương pháp chọn mặt cắt khảo sát. sử dụng công thức: W=b*S Trong đó: b: Khối lượng trung bình các điểm thu mẫu (g/m2): 3 . 2. ngâm formalin 10%.5m (đối với các loài sống đáy) và 10m x 10m (đối với các loài sống bám trên cây) và cách nhau 100m.1. gồm có: sổ nhật ký thực địa. rửa sạch trước khi cố định mẫu trong formalin 10% hoặc cồn 70 0. Kurnaen Sumadhiharga và Katsumi Tsukamoto (2000). nhặt mẫu và ghi chép số liệu + Rửa và nhặt mẫu: Dùng sàng có mắt lưới 20 .5m x 0. khảo sát sơ bộ khu vực thu mẫu và quyết định đặt mặt cắt và các trạm thu mẫu ở tất cả các dạng chất đáy và các dạng sinh thái khác nhau để đảm bảo tính đại diện và thống kê của số liệu. Thu toàn bộ mẫu vật trong khung định lượng bỏ vào lọ. nhặt mẫu. dùng nhãn hoặc thẻ để đánh dấu địa điểm. Phương pháp phân tích mẫu . Phương pháp thu mẫu Thu mẫu định lượng: Chọn vị trí thu mẫu thích hợp để phản ánh được tình hình phân bố của sinh vật. thu mẫu ngoài thực địa 2. Đối với mẫu định lượng.4. Keiichi Matsuura. Methol) cho đến khi sinh vật mê hoàn toàn rồi mới dùng hoá chất cố định (formalin hoặc cồn). + Ghi chép số liệu: Công việc này được thực hiện từ khi đến trạm thu mẫu cho đến khi kết thúc chuyến khảo sát.2. các bảng biểu ghi chép tình hình thu mẫu (gồm bảng ghi thu mẫu định lượng và bảng ghi mẫu định tính). 2. Mỗi điểm thu mẫu sử dụng khung định lượng 0. đem về phòng thí nghiệm để xác định thành phần loài và sinh vật lượng.2. ghi chép thành phần và mức độ ưu thế của sinh vật ở chung quanh trạm thu mẫu để nắm được đặc điểm nguồn lợi của toàn bộ vùng rừng ngập mặn. Động vật thân mềm một mảnh vỏ rất đa dạng với nhiều cách sống và thích nghi với nhiều sinh cảnh khác nhau. Thu mẫu định tính: Ngoài thành phần động vật thân mềm một mảnh vỏ thu được trong khung định lượng. Phương pháp rây rửa. Mặt cắt và trạm vị thu mẫu được lựa chọn hợp lý để có thể đại diện cho địa hình và chất đáy của từng vùng rừng ngập mặn. Phương pháp khảo sát. + Cố định và bảo quản mẫu: Để cho mẫu vật sau khi được cố định vẫn giữ nguyên hình dạng như lúc sống. M. Có thể chọn phương pháp ngẫu nhiên (bằng cách ném khung) hoặc chọn chủ ý (chỗ nhiều. kèm nhãn. 2. Những mẫu chưa định được tên khoa học tại hiện trường sẽ thu mẫu. Đối với mẫu định tính. bảo quản mẫu trong các lọ có kích thước phù hợp để bảo quản mẫu. ngày thu mẫu và các chỉ số khác cần thiết. thu nhặt hết tất cả mẫu để tính sinh vật lượng. Mỗi khu vực nghiên cứu đặt 15 mặt cắt (mặt cắt vuông góc với đê biển). Trong trường hợp điều tra nguồn lợi. 2. Trên mỗi mặt cắt chọn 5 điểm thu mẫu. chỗ ít…).Đánh giá trữ lượng: Để ước tính trữ lượng (W) của động vật thân mềm một mảnh vỏ ở các vùng thu mẫu.30 mm để rây rửa mẫu. O. có thể chỉ thu một ít mẫu nhưng ghi chép lại thành phần loài ưu thế tại trạm đó.của các tác giả: Takashi Okutani (2000). trước khi cố định mẫu tiến hành gây mê bằng cách nhỏ từng giọt thuốc mê (Sulfat Mg.2.

4 họ.. Hai bộ Caenogastropoda và Vetigastropoda có số loài ít nhất. Xử lý số liệu Các số liệu được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.5. Trong đó. bộ Sorbeoconcha có 4 loài. loài ĐVTM một mảnh vỏ trong rừng ngập mặn Số lượng loài STT Tên bộ Tên họ Tên tiếng Việt Assimineidae Họ ốc nước lợ 1 Naticidae Họ ốc hương 2 1 Mesogastropoda Potamididae Họ ốc mút 9 Turridae 1 Littorinidae Họ ốc bám cây 6 2 Pulmonata Ellobiidae Họ ốc mít 11 3 Neotaenioglossa Batillariidae 3 Bursidae Họ ốc da cóc 1 Muricinae Họ ốc gai 2 4 Neogastropoda Thaidinae 3 Nassariidae Họ ốc bùn 7 5 Prosobranchia Neritidae Họ ốc chân châu 12 Triviidae 1 6 Sorbeoconcha Melongenidae 2 7 Caenogastropoda Provannidae 1 8 Vetigastropoda Turbinidae 1 Tổng 63 Thành phần loài động vật thân mềm một mảnh vỏ tại 4 vùng nghiên cứu tương đối phong phú và đa dạng về thành phần loài. Cấu trúc các họ. S là chỉ số Sorensen. PHẦN III. Bảng 1. Thành phần loài ĐVTM một mảnh vỏ Kết quả nghiên cứu cho thấy. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 1. Kết quả nghiên cứu của đề tài tại 2 vùng RNM xã Đồng Rui và Hưng Hòa (xác định được 40 loài) phù hợp với kết quả nghiên cứu của Hoàng Ngọc Khắc và Đoàn Văn Long (2004) khi nghiên cứu về thành 4 . 4 họ. 5 họ. 2.. thành phần loài ĐVTM một mảnh vỏ bắt gặp ở 4 vùng rừng ngập mặn bao gồm 63 loài thuộc 16 họ của 8 bộ (Bảng 1). Tiếp đến là bộ Chân bụng mới (Neogastropoda) có 13 loài. B là số loài trong RNM thứ hai và C là số loài chung giữa 2 RNM so sánh.Đánh giá mức độ tương đồng loài giữa các quần xã động vật thân mềm một mảnh vỏ trong hệ sinh thái rừng ngập mặn: Sử dụng chỉ số tương đồng loài Sorensen. Công thức tính toán như sau: S = 2C/(A + B) Trong đó: A là số loài trong RNM thứ nhất.b= b1 + b 2 + . + bn n b1: Khối lượng tại điểm thu mẫu ngẫu nhiên thứ nhất b2: Khối lượng tại điểm thu mẫu ngẫu nhiên thứ hai bn: Khối lượng tại điểm thu mẫu ngẫu nhiên thứ n n: Số lần thu mẫu S: Diện tích khu vực thu mẫu (m2) . bộ Chân bụng trung (Mesogastropoda) có số lượng loài nhiều nhất. với 19 loài. mỗi bộ chỉ có 1 loài trong tổng số 63 loài đã xác định.

đầy đủ các thông tin về loài. Sở dĩ có sự khác biệt như vậy một phần cũng do đề tài được triển khai trong thời gian 2 năm (20082009) với 4 chuyến khảo sát với thời lượng dài ngày. rừng ngập mặn đại diện vùng ven biển Miền Bắc (Đồng Rui) chiếm ưu thế về thành phần loài ĐVTM một mảnh vỏ.. phát hiện thấy 38 loài.. Đoàn Văn Long (2004) khi nghiên cứu về thành phần loài thân mềm một mảnh vỏ trong rừng ngập mặn. Phân bố thành phần loài 5 . bãi bồi. Và cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Nhượng và Hoàng Ngọc Khắc (2004) khi nghiên cứu về động vật đáy trong RNM vùng cửa sông Hồng (xác định được 19 loài động vật thân mềm một mảnh vỏ). đề tài đã xác định được 36 loài. Khu vực Hưng Hoà có số lượng loài phát hiện thấp nhất. tên tác giả định loại năm và tên đồng danh (synonym) của các loài ĐVTM một mảnh vỏ mà các tác giả trước đây chưa xác định được hoặc có sự nhầm lẫn khi sử dụng danh pháp phân loại cũ. Kết quả nghiên cứu của đề tài cao hơn hẳn so với kết quả nghiên cứu của Đào Huy Giáp (2007) khi nghiên cứu về đa dạng sinh học tại VQG Cà Mau (chỉ xác định được 11 loài động vật thân mềm một mảnh vỏ). Ngoài ra. đại diện cho 2 mùa trong năm. các luồng. các cán bộ nghiên cứu còn đi sâu vào trong rừng để thu thập mẫu vật. Khu vực chiếm tỷ lệ về thành phần loài ít nhất là vùng rừng ngập mặn ven biển miền Trung (Hưng Hoà). Phân bố của ĐVTM một mảnh vỏ 2. lạch trong và ven RNM. So sánh thành phần loài giữa các vùng rừng ngập mặn cho thấy số lượng loài ĐVTM một mảnh vỏ ở vùng rừng ngập mặn Đồng Rui chiếm tỷ lệ cao nhất. Tỷ lệ các loài bắt gặp trong mỗi vùng rừng ngập mặn được thể hiện ở Hình 1: % 100 90 80 70 60 50 40 30 20 10 0 Đ ồng R ui H ưng H oà Long Sơn C M à au Vùng R M N Hình 1: Tỷ lệ các loài ĐVTM một mảnh vỏ bắt gặp trong 4 rừng ngập mặn nghiên cứu Như vậy. Khi nghiên cứu về động vật thân mềm một mảnh vỏ tại VQG Cà Mau. Long Sơn 28 loài.phần và sự phân bố của thân mềm chân bụng trong RNM xã Giao Lạc . Tiếp theo là RNM Cà Mau ở Tây Nam Bộ và RNM Long Sơn ở Đông Nam Bộ. chỉ có 13 loài.Nam Định (cũng xác định được 40 loài). Bên cạnh đó. ngoài việc thu mẫu ở các khu vực vùng triều. Vùng rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau 35 loài.1. danh mục thành phần loài trong nghiên cứu này cũng được rà soát. Kết quả nghiên cứu này đã bổ sung thêm cho danh mục thành phần loài của quần xã ĐVTM một mảnh vỏ trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. chỉnh sửa bổ sung một cách hoàn chỉnh. 2. kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu trước đây của Hoàng Ngọc Khắc.

chân đập nuôi tôm (Đồng Rui. Long Sơn. Ellobiidae phân bố ở 3 vùng rừng ngập mặn Đồng Rui. Pythia… Kết quả về sự phân bố các loài ĐVTM một mảnh vỏ theo các dạng nền đáy thể hiện ở hình 3: 35 30 25 20 15 10 5 0 Đ cát áy C bùn át B cát ùn B ùn B +M ùn ùn hữ cơ u N đáy ền 6 . Turbinidae phân bố ở rừng ngập mặn Đồng Rui và Long Sơn. nền đáy cát bùn. Kết quả phân tích về sự phân bố 16 họ ĐVTM một mảnh vỏ cho thấy: 4 họ Potamididae. Long Sơn và Cà Mau.Số loài Kết quả nghiên cứu cho thấy. Muricinae. nền đáy bùn kết hợp mùn bã hữu cơ (Nguyễn Văn Chung & Hà Lê Thị Lộc. Nassariidae. sét và mùn bã sinh vật… đã tạo nên nhiều dạng thể nền khác nhau là: nền đáy cát. 4 họ Batillariidae. tại các khu vực có nền đáy cao. nền đáy bùn cát. Provannidae chỉ phân bố ở vùng rừng ngập mặn Đồng Rui và họ Triviidae có số loài chỉ phân bố ở vùng rừng ngập mặn vườn Quốc gia Mũi Cà Mau (Hình 2). Nền đáy cao ven rừng ngập mặn có thành phần cơ giới của nền đáy là đất thịt hơi rắn kết hợp có nhiều mùn. Cassidula. Thaidinae phân bố ở cả 4 vùng rừng ngập mặn. Littorinidae. cây bụi nhỏ thường là nơi phân bố của các nhóm một mảnh vỏ sống ở cạn như các loài trong giống Ellobium. Assimineidae. thể hiện tính đặc trưng phân bố của các loài và các nhóm loài sinh thái thích nghi với từng vùng rừng ngập mặn khác nhau. 1 0 9 8 7 6 5 4 3 2 1 0 Assimineidae Bursidae Naticidae Batillariidae Provannidae Littorinidae Potamididae Nassariidae Melongenidae Muricinae Ellobiidae Triviidae Turbinidae Neritidae Turridae Thaidinae H ọ H n Hà ưg o Ln S n og ơ C Mu à a Đn Ri ồg u Số loài Hình 2: Sự Phân bố các loài trong các họ ĐVTM một mảnh vỏ ở các vùng rừng ngập mặn nghiên cứu 2. Ngoài ra. nền đáy bùn. Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng. bùn. Cà Mau). 2005). nhiều cây cỏ. Melongenidae. họ Bursidae. Phân bố ĐVTM một mảnh vỏ theo các loại thể nền đáy Bằng sự kết hợp của các yếu tố như cát. 3 họ Neritidae. có sự phân bố không đều về số lượng và cấu trúc thành phần loài giữa các vùng rừng ngập mặn.2. đất có thành phần cơ giới nặng và hơi rắn như các khu vực ven bờ đê.

Ốc Cerithidea sống bò trên mặt nền đáy để kiếm ăn. Littoraria scabra.06 22. Tiếp theo đó là nền đáy bùn cát với mật độ tương ứng là 22. Cassidula nucleus gặm vỏ. có một số loài lại sống ở nhiều môi trường khác nhau: Neritina violacea (ốc chân trâu) sống ở cả trên mặt nền đáy và bám cả trên các gốc cây và thân cây ngập mặn. Bảng 2 : Phân bố thành phần loài và sinh vật lượng theo các thể loại nền đáy của ĐVTM một mảnh vỏ Bùn + Mùn Đặc điểm phân bố Cát Cát bùn Bùn cát Bùn hữu cơ Số lượng loài bắt gặp 15 33 29 23 12 Mật độ trung bình 13. 2. Phân bố ĐVTM một mảnh vỏ theo một số dạng khác Các loài sống trên cây: Bao gồm các loài ĐVTM một mảnh vỏ thường xuyên bám trên thân. lá cây ngập mặn và ăn các bộ phận của cây như: Cerithidea ornata.22 87. Littoraria intermedia bám trên cành và lá.55 51. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 6 loài thuộc họ Littorinidae có đời sống bám trên thân. Chỉ số đánh giá mức độ tương đồng của quần xã ĐVTM một mảnh vỏ Chỉ số tương đồng Sorensen về thành phần loài giữa các khu vực nghiên cứu biến động trong khoảng từ 0.55.14 cá thể/m2 và khối lượng trung bình đạt 51.14 27. nền đáy cát.39 0. Có thể nhận thấy rằng.0 0.41). Clithon souverbiana bám vào gốc cây. Ngoài ra.Hình 3: Mối quan hệ giữa thành phần loài ĐVTM một mảnh vỏ với các loại thể nền đáy ở 4 rừng ngập mặn nghiên cứu ĐVTM một mảnh vỏ có số lượng loài phân bố nhiều nhất là ở khu vực có nền đáy cát bùn. Đồng Rui và Cà Mau (S = 0.4. Bảng 3: Chỉ số tương đồng Sorensen (S) giữa các khu vực nghiên cứu Vùng RNM Đồng Rui Hưng Hoà Long Sơn Cà Mau Đồng Rui 1.55 0.0 0. tiếp đến là Cà Mau và Long Sơn (S = 0.3. Hưng Hoà và Long Sơn (S = 0.bùn và bùn-cát rất thích hợp với đời sống của nhiều loài ĐVTM một mảnh vỏ. lá của cây ngập mặn (tham khảo phần phụ lục).35 0. Mật độ và khối lượng trung bình đạt thấp nhất tại nền đáy cát (13.55).0. Trong đó mật độ và khối lượng trung bình cao nhất là ở nền đáy cát bùn (28.36 18.27 28. ở nền đáy cát có 15 loài chiếm 24% và cuối cùng là ở nền đáy bùn kết hợp mùn hữu cơ có số lượng loài thấp nhất 12 loài chiếm 19%. ăn lá và mầm của cây ngập mặn.48 (cá thể/m2) Khối lượng trung bình 17.54). cành.27 cá thể/m2 và 17. * Phân bố về sinh vật lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy.09 14. Ở nền đáy bùn cát có 29 loài chiếm 46%.29 7 .41 Hưng Hoà 1.13 21. Trong đó.29) (Bảng 3).79 (gam/m2) 2. nhưng khi có mưa thì chúng có thể ở lớp bùn mỏng ngay trên bề mặt nền đáy.06 cá thể/m 2 và 87.39). mật độ của các loài ĐVTM một mảnh vỏ phân bố không đồng đều giữa các nền đáy trong hệ sinh thái rừng ngập mặn.29 . Đồng Rui và Hưng Hoà (S = 0.35) và Chỉ số tương đồng về thành phần loài đạt giá trị thấp nhất là quần xã ĐVTM một mảnh vỏ giữa 2 vùng rừng ngập mặn Hưng Hoà và Cà Mau (S = 0.22 g/m2). cành. với 33 loài chiếm 52% tổng số loài đã xác định. ở nền đáy bùn có 23 loài chiếm 37%.55g/m2).14 g/m2. đây là nơi thành phần thức ăn phong phú hơn nhiều so với các khu vực có nền đáy khác (Bảng 2). chỉ số tương đồng đạt giá trị cao nhất là quần xã ĐVTM một mảnh vỏ giữa vùng rừng ngập mặn Long Sơn và Đồng Rui (S = 0.

Dựa trên các kết quả nghiên cứu. Trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản.277.0 7.953. Trong đó.614 tấn.1 13.1 Ven rừng 26. Bảng 5: Một số loài ĐVTM một mảnh vỏ có giá trị kinh tế trong các vùng rừng ngập mặn Ghi chú: có phân bố: + không phân bố: STT Tên khoa học Tên tiếng Vùng rừng ngập mặn Việt Đồng Hưng Long Cà 8 .0 7. Một số loài có giá trị kinh tế ĐVTM một mảnh vỏ là đối tượng có giá trị sử dụng đa dạng.8 6107.0 Tổng cộng 45..3 23.862. nhiều loài là đối tượng xuất khẩu quan trọng. chỉ có 3 loài (Bảng 5). Kết quả nghiên cứu đã thống kê được 8 loài được coi là đối tượng có giá trị kinh tế trong tổng số 63 loài đã xác định. Bảng 4 : Trữ lượng của ĐVTM một mảnh vỏ phân bố trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Trữ lượng (tấn) Trữ lượng Vùng RNM Diện tích Mùa gió Mùa gió trung bình /khu vực (ha) (tấn) Đông Bắc Tây Nam Đồng Rui 2.753.167.242 tấn.0 0. Trong lĩnh vực dinh dưỡng. Vùng rừng ngập mặn Hưng Hòa có trữ lượng ước tính đạt thấp nhất 7.0 2202. sự phân bố của các loài ĐVTM một mảnh vỏ ở một số vùng rừng ngập mặn thể hiện nét đặc trưng của các nhóm loài có sự sự thích nghi khác nhau theo các vùng địa lý. ĐVTM một mảnh vỏ là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên của nhiều loài.8 1. tiếp đến là vùng rừng ngập mặn Đồng Rui với trữ lượng ước tính đạt 2.661. trong đó vùng rừng ngập mặn Cà Mau có trữ lượng ước tính đạt cao nhất 19. 3.0 1582.3 4.303.9 14.4 5.Long Sơn 1. thống kê và điều tra ngoài thực địa từ năm 2008 – 2009 đã ước tính tổng trữ lượng của ĐVTM một mảnh vỏ trong 4 vùng rừng ngập mặn khoảng 23. Vùng rừng ngập mặn Cà Mau có 6 loài và khu vực Hưng Hoà có số loài kinh tế ít nhất.1 Trong rừng 15.242.5 19. vùng rừng ngập mặn Long Sơn có số lượng loài kinh tế chiếm nhiều nhất 8 loài sau đó đến khu vực Đồng Rui 7 loài.303 tấn. ĐVTM một mảnh vỏ còn là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao.600.4 2281.54 Cà Mau 1.7 2. ĐVTM một mảnh vỏ còn có khả năng lọc các chất cặn bã làm sạch môi trường.2 Long Sơn 1. Long Sơn 1.076.0 Như vậy có thể thấy.4 7. mỹ phẩm.614.044.151. Ngoài ra.809.9 VQG Cà Mau 41.167 tấn. ĐVTM một mảnh vỏ là nguồn nguyên liệu quý giá để chiết suất ra các chất có hoạt tính sinh học cao phục vụ cho các ngành như y tế. Nguồn lợi các loài ĐVTM một mảnh vỏ Nguồn lợi ĐVTM một mảnh vỏ là thành phần quan trọng trong cấu trúc nguồn lợi động vật đáy ở dải ven biển nói chung và vùng rừng ngập mặn nói riêng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy.0 22.0 Hưng Hoà 55.2 tấn (Bảng 4).262. mức độ tương đồng của quần xã ĐVTM một mảnh vỏ giữa các khu vực nghiên cứu ở các vùng rừng ngập mặn có mức tương đồng tương đối thấp.0 5798. ĐVTM một mảnh vỏ là đối tượng thích hợp cho phát triển nuôi biển.. đóng vai trò quan trọng trong việc sử lý ô nhiễm và nhiều loài được xác định là sinh vật chỉ thị cho các vùng bị ô nhiễm dầu và kim loại nặng.7 20.3 23.0 13.0 19.139.868. dược phẩm.1 1025.466. Trong lĩnh vực sinh hóa.

Tổng trữ lượng tức thời của ĐVTM một mảnh vỏ ở cả 4 vùng rừng ngập mặn ước đạt khoảng 66. 1791) Sự phân bố về thành phần các loài ĐVTM một mảnh vỏ có giá trị kinh tế trong các vùng rừng ngập mặn thể hiện mức độ phong phú và phổ biến ở các bãi triều (Đỗ Văn Nhượng & Hoàng Ngọc Khắc. Do vậy. KẾT LUẬN Đề tài đã xác định được 63 loài thuộc 16 họ của 8 bộ ĐVTM một mảnh vỏ ở bốn vùng rừng ngập mặn. qua phỏng vấn trực tiếp những người tham gia khai thác nguồn lợi ĐVTM một mảnh vỏ có giá trị kinh tế trong các vùng rừng ngập mặn cho thấy: loài ốc len (Cerithidea ornata) là một trong những đối tượng được khai thác chủ yếu và là nguồn thu nhập chính của người dân. 1855 Neritina violacea (Gmelin. trong đó trữ lượng ở vùng Cà Mau là 50. vùng rừng ngập mặn Đồng Rui có thành phần loài cao nhất với 38 loài.Rui 1 2 3 4 5 6 7 8 Cerithidea cingulata (Gmelin. Bảng 4 cho thấy.29 – 0. Long Sơn. Tuy nhiên. Số loài phân bố tương ứng với các thể nền đáy bùn cát. tiếp đến là vùng Đồng Rui 11. Phân bố của các loài ĐVTM một mảnh vỏ nhiều nhất ở nền đáy cát bùn (33 loài) và thấp nhất ở nền đáy bùn kết hợp mùn hữu cơ (12 loài). Hai vùng rừng ngập mặn Đồng Rui có 7 loài và Cà Mau có 6 loài. Chỉ số tương đồng Sorensen về thành phần loài giữa các khu vực nghiên cứu dao động trong khoảng từ 0. Trong đó. Đã ghi nhận được 8 loài ĐVTM một mảnh vỏ có giá trị kinh tế. Adams. 1778) Thais gradata (Jonas. ốc nứa (Cerithidea rhizophorarum) phân bố ở 4 vùng rừng ngập mặn. Các vùng khác: Cà Mau có 35 loài. 1790) Cerithidea djadjariensis (Martin. 9 . đáy bùn. 2004). ốc vôi (Thais gradata) chỉ phân bố ở khu vực Đồng Rui. cần có biện pháp quản lý nguồn lợi phù hợp cho riêng từng vùng rừng ngập mặn. các loài ốc mút (Cerithidea djadjariensis). Cà Mau. Mức độ tương đồng của quần xã ĐVTM một mảnh vỏ giữa các khu vực nghiên cứu có mức tương đồng thấp. Trong đó. 23 và 15 loài. vùng rừng ngập mặn Long Sơn có số lượng loài lớn nhất với 8 loài. 1791) Telebralia sulcata (Born. đáy cát lần lượt là 29. 1899) Cerithidea ornate A. Loài ốc chân châu (Neritina violacea) cũng là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế và loài này phân bố ở cả 4 vùng rừng ngập mặn nghiên cứu.092 tấn (chiếm 18%). Long Sơn có 28 loài. PHẦN IV.13%).55. một số loài như ốc dạ (Cerithidea cingulata).331 tấn (chiếm 76. Loài này chỉ phân bố tại khu vực Long Sơn và Cà Mau. 1839) Ốc dạ Ốc mút Ốc len Ốc nứa Ốc chân châu Ốc bút Ốc vôi + + + + + + Hoà + + + - Sơn + + + + + + + Mau + + + + + + Turbo coronoatus coronatus Ốc mút + + (Gmelin. Trữ lượng ước tính đạt thấp nhất ở khu vực rừng ngập mặn Hưng Hòa 0.285 tấn (chiếm 1%). Hưng Hoà có số loài ít nhất với 3 loài. 1863 Cerithidea rhizophorarum A.114 tấn. Adams. Ngoài ra. vùng rừng ngập mặn Hưng Hoà có thành phần loài thấp nhất với 13 loài.

The living resource of the western central pacific. viii + 449 pages. Tr 75 – 84. Volume 1. Poutiers J. Marine Mollusks in Japan. Rome. Hoàng Ngọc Khắc & Đoàn Văn Long.Hà Nội. Đinh Văn Hải & Đoàn Đăng Phi Công. Keiichi Matsuura. 7. 3. 1863 Cerithidea rhizophorarum A. Thành phần loài và sinh vật lượng động vật thân mềm vùng biển Ninh Thuận – Cà Mau.1998. Fao species indentification guide for fisheries purposes. Nhà xuất bản giao thông vận tải. Họ Assimineidae Assiminea lutea Adams.Hà Nội.M. pp 364 – 382. University of Tokyo. (1998). Tuyển tập báo cáo khoa học Hội thảo Động vật Thân mềm toàn Quốc. The ASEAN-Australia Marine Science Project: Living Coastal Resources by the Australian Institute of Marine Science. Ocean research institute. Adams. Nguyễn Văn Chung & Hà Lê Thị Lộc. & Wilkinson. 9. NXB Nông Nghiệp . 2004.Hà Nội. Danh mục thành phần loài ĐVTM một mảnh vỏ trong rừng ngập mặn Vùng RNM Hưng Hoà Long Sơn + + + + + Đồng Rui STT Thành phần loài Tên địa phương Cà Mau + + + + + + + + + I 1 2 3 4 5 6 7 Bộ Mesogastropoda 1. 2007. 1790) Cerithidea djadjariensis (Martin. S. Đỗ Văn Nhượng & Hoàng Ngọc Khắc. 1173 pages. Identification guide to marine organisms in seagrass beds of lombok island. 4. Kurnaen Sumadhiharga and Katsumi Tsukamoto. NXB Nông Nghiệp . Japan. Tokyo. Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng.. C. Sổ tay hướng dẫn giám sát và điều tra đa dạng sinh học. 8.Hà Nội. 2007. Thành phần và sự phân bố của Thân mềm chân bụng (Gastropoda) trong rừng ngập mặn xã giao Lạc. NXB Nông Nghiệp . Thành phần loài động vật thân mềm sống đáy tại các khu vực thăm dò và khai thác dầu khí biển nam Việt Nam. Tr 67 – 74. Tanea sp. Tuyển tập báo cáo khoa học Hội thảo Động vật Thân mềm toàn Quốc. Takashi Okutani. Seaweeds. FAO. PHỤ LỤC Phụ lục 1. & Baker V. 1899) Cerithidea ornata A. Hà Nội. 2004. 5. 2000. 3. Survey Manual for Tropical Marine Resources. 2005. NXB Nông Nghiệp . Họ Potamididae Cerithidea cingulata (Gmelin. 2005. bivalves and gastropods. corals. 2004. English. 1 plate. Tr 79 – 96. 2003. WWW.TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Họ Naticidae Mammilla sp. 2004. Adams. Một số dẫn liệu về động vật đáy trong rừng ngập mặn vùng cửa sông Hồng. 6. 2. huyện Giao Thuỷ. Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng. O. 1861 2. tỉnh Nam Định. 360p. 2005. 1855 10 Họ ốc nước lợ Ốc bùn Họ ốc hương Họ ốc mút Ốc rạ Ốc mút Ốc len Ốc nứa + + + + + + . 2000. Tr 97 – 108. Indonesia. Tokai University press. 2003.

Littoraria undulata (Gray. 1758) Littoraria sp. 1807) Chicoreus capucinus (Lamark. 1865 Pythia trigona (Troschel F. Họ Muricinae Chicoreus brunneus (Link. 1852) Zeuxis mitralis (A. 1855 Melampus flavus fasciatus (Deshayes. 1826 Cerithium subscalatum Pilsbry. Họ Thaidinae Thais gradata (Jonas. 1839) Thais sp. 1822) 3. 1791) Ellobium aurisjudae (Linnaeus. Họ Turridae Pseudanachis duclosiana (Sowerby. 1791) Batillaria multiformis (Lischke. G. 1839) Bộ Pulmonata 1. 1830) Melampus sincaporensis Pfeiffer. Adams. Họ Bursidae Buforaria rana (Linnaeus.. 1838) Cassidula mustelina (Deshayes. Telebralia sulcata (Born. 1885) Littoraria intermedia (Philippi. 1904 Telebralia sp. 1792) Bộ Neogastropoda 1.P. 1832) Cassidula crassiuscula Mousson. 1774) 4. Adams. 1839) Littoraria scabra (Linnaeus. 1830) Bộ Neotaenioglossa Họ Batillariidae Batillaria minima (Gmelin. Cerithium lividulum Risso. 1852) Zeuxis sp. 1758) Ellobium chinensis (Ffeiffer. 1869) Batillaria zonalis (Bruguière. 1844) 5.H. Họ Littorinidae Littoraria ardouiniana (Heude. 1846) Littoraria melanostoma (Gray. 1869 Cassidula nucleus (Gmelin. Melanoides tuberculatus (Müller. 1855 Melampus sulculosus Martens. 1758) 2. Họ Nassariidae Zeuxis scalaris (A. Họ Ellobiidae Auriculastra subula (Quoy & Gaimard. 1778) 4. Ốc mút Ốc bút Ốc bút Họ ốc bám cây Ốc cây hương Ốc cây hương Ốc bám cây Ốc bám cây Ốc bám cây Ốc bám cây Họ ốc mít Ốc bùn Ốc mít Ốc mít Ốc mít Ốc mít Ốc mít Ốc mít - + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + Họ ốc da cóc Ốc da cóc Họ ốc gai Ốc vôi Ốc vôi Ốc bùn Họ ốc bùn - + + + + + + + + + + + + + 11 .. 1854) Melampus cristatus Pfeiffer.8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 II 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 III 31 32 33 IV 34 35 36 37 38 39 40 41 42 Cerithidea sp.

1832 Neripteron siquijorensis (Ricluz. 1792) Ốc gạo + + 5 12 . Họ Neritidae Clithon sp. Clithon corona (Linnaeus. 1833) Bộ Prosobranchia 1. 1758) Clithon faba (Sowerby.. 1832) Batillaria minima (Gmelin. Họ Melongenidae Hemifusus crassicaudus (Philippi. 2. 1798) Nassarius festivus Powys Pliarcularia pullus (Linnaeus. Họ Triviidae Erato sp. 1843) Bộ Sorbeoconcha 1. Phân bố của ĐVTM một mảnh vỏ theo các loại thể nền đáy trong rừng ngập mặn Ghi chú: . 1791) Neritina cornucopia Sowerby.Martens. 1758 Neritina violacea (Gmelin. 1855 Nerita histrio Linnaeus. 1836) Clithon leachii Philippines Clithon retropicta (v. 1791) Ốc bùn Họ ốc chân châu Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc đỏ Ốc đỏ Ốc chân châu Ốc gạo Ốc mút + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + Phụ lục 2. 1781) Bộ Caenogastropoda Họ Provannidae Rhinoclavis aspera (Linnaeus. C. 1758) Reticunassa festiva (Powy. 1848) Hemifusus tuba (Gmelin. 1879) Clithon oualaniensis (Lesson. 1861 Ốc bùn + + + + 1 Auriculastra subula (Quoy & Ốc bùn 2 Gaimard. 1791) Ốc gạo + + 3 Batillaria multiformis (Lischke.43 44 45 46 V 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 VI 59 60 61 VII 62 VIII 63 Zeuxis dorsatus (Roding. 1758) Bộ Vetigastropoda Họ Turbinidae Turbo coronoatus coronatus (Gmelin. 1863) Nerita balteata Reeve.Chưa biết tên tiếng Việt + Phân bố Các loại nền đáy Bùn Tên tiếng + STT Tên Loài Đáy Cát Bùn Việt Bùn Mùn cát bùn cát hữu cơ Assiminea lutea Adams. 1831) Clithon souverbiana (Montrouzier. 1869) Ốc gạo + + 4 Batillaria zonalis (Bruguière.

lá. Littoraria undulata (Gray. 1863 Cerithidea rhizophorarum A. lá. Clithon corona (Linnaeus. 1855 Cerithidea sp. lá. 1830) Cassidula nucleus (Gmelin. thân cây Sống bám trên cành. 1899) Cerithidea ornata A. 1758) Cassidula crassiuscula Mousson. 1758) Clithon faba (Sowerby. bám thân cây + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + Sống bám cây và gặm vỏ cây + + + + + + + + + Bám vào gốc cây ngập mặn + + + + Nền cạn. 1781) Littoraria ardouiniana (Heude. 1836) Clithon leachii Philippines Clithon oualaniensis (Lesson. rắn. rắn. 1854) Erato sp.6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 Buforaria rana (Linnaeus. thân cây Sống bám trên cành. thân cây Sống bám trên cành. 1831) Clithon retropicta (v. Cerithium lividulum Risso. rắn. thân cây + + + 13 . thân cây Sống bám trên cành. 1846) Littoraria melanostoma (Gray. Mammilla sp. 1791) Cerithidea cingulata (Gmelin. lá. 1758) Littoraria sp. 1848) Hemifusus tuba (Gmelin. 1869 Cassidula mustelina (Deshayes. 1790) Cerithidea djadjariensis (Martin. thân cây Sống bám trên cành. lá. 1904 Chicoreus brunneus (Link. 1826 Cerithium subscalatum Pilsbry. bám thân cây Nền cạn. ẩm. rắn. ẩm.Martens. Adams. 1822) Clithon sp. 1879) Clithon souverbiana (Montrouzier. lá. 1807) Chicoreus capucinus (Lamark. bám thân cây Nền cạn. Adams. 1758) Ellobium chinensis (Ffeiffer. 1839) Littoraria scabra (Linnaeus. 1839) Melampus cristatus Pfeiffer. 1863) Ellobium aurisjudae (Linnaeus. ẩm. 1885) Littoraria intermedia (Philippi. Hemifusus crassicaudus (Philippi. rắn. ẩm + + + + + + + Sống bám trên cành. 1855 Ốc da cóc Ốc mít Ốc mít Ốc mít Ốc rạ Ốc mút Ốc len Ốc nứa Ốc mút Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc gạo Ốc mít Ốc mít Ốc cây hương Ốc cây hương Ốc bám cây Ốc bám cây Ốc bám cây Ốc bám cây + + Nền cạn. ẩm Nền cạn.

Adams. 1852) Zeuxis sp.TS. 1774) Nassarius festivus Powys Neripteron siquijorensis (Ricluz. 1855 Melampus sulculosus Martens. 1791) Zeuxis dorsatus (Roding. Tổng Ốc mút Ốc bùn Ốc đỏ Ốc đỏ Ốc gạo Ốc chân châu Ốc mít Ốc bút Ốc bút Ốc vôi Ốc vôi Ốc mút + + + 15 + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + Nền cạn. 1865 Melanoides tuberculatus (Müller. 1852) Zeuxis scalaris (A. 1838) Reticunassa festiva (Powy. 1758) Tanea sp.P. 1778) Thais gradata (Jonas.. 1844) Pythia trigona (Troschel F. 1839) Thais sp. G. + + + + + + + + + + + + 33 + + + + 29 + + + + + + + + + + + + + + + 23 12 Người phản biện: PGS..39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 Melampus flavus fasciatus (Deshayes. Telebralia sp. 1791) Pliarcularia pullus (Linnaeus. Telebralia sulcata (Born. 1833) Rhinoclavis aspera (Linnaeus. 1758) Pseudanachis duclosiana (Sowerby. Turbo coronoatus coronatus (Gmelin. 1843) Nerita balteata Reeve. 1830) Melampus sincaporensis Pfeiffer. 1832 Neritina violacea (Gmelin. rắn. 1758 Neritina cornucopia Sowerby. 1798) Zeuxis mitralis (A. C. Đỗ Văn Khương 14 . 1855 Nerita histrio Linnaeus.H. Adams.. ẩm.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful