THÔNG TIN LIÊN LẠC

SỐ 07 THÁNG 12/2012 - 1 02/2013 01,

Nhóm Chủ Trƣơng
Ban Chấp Hành Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Đan Mạch Địa Chỉ Liên Lạc: c/o Lê Xuân Bảng Mellemvej 14, 5700 Svendborg Tlf. 6133 3523 Email: bang_nhung@hotmail.com

Mục Lục
03………………......………..…………....…..Lời ngỏ 04……………….Thƣ mời: Tham dự Tết Nguyên Đán Năm Qúy Tỵ. 05………. …..Bài Giáo Lý I của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm Đức Tin 08………………….Năm Đức Tin: Ý nghĩa và gía trị của sự đau khổ 11......………...…………………...Ân nhân báo TTLL 12…………………….Ơn toàn xá trong Năm Đức Tin 13……Giáng Sinh: Suy niệm về mầu nhiệm Tình Yêu 15……………..Nguồn gốc và ý nghĩa Hang đá Belem 17...………Các Biểu Tƣợng và Ý Nghĩa Thiêng Liêng của Mùa Vọng 19……………………………………….Đêm giao hòa 20……………………………Qùa Giáng Sinh cho con 21……….Bức thƣ ngỏ Thiên Chúa gửi cho loài ngƣời 23…………..Chân dung và gƣơng linh mục Việt Nam ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận 33……...…………..…………..Sức mạnh của Đức Tin 37…………………...………………Giải đáp thắc mắc 40…………………...……….Khai mạc Năm Đức Tin, tại København – Đan Mạch 42……………………………..Năm Tỵ nói chuyện rắn 42…………………...Sổ vàng ĐLCTTĐVN năm 2012

Ban Trị Sự
Chủ Nhiệm: Nhóm Chủ Trƣơng Thủ Qũy: Huỳnh Thị Thúy Hằng Mọi đóng góp, ủng hộ cho TT & LL xin chuyển vào trương mục: Danske Bank Reg.nr. 3307 konto nr. 4070202522 hay có thể đưa tay cho vị Đại diện Cộng Đoàn mình, nhờ chuyển.

Địa chỉ các linh mục Việt Nam:
Lm. Giuse Chu Huy Châu Kollegievej 4A, 1. Tv 2920 Charlottenlund Đt. 3990 5727 / 2016 2090 Email: chauhuy.chu38@gmail.com Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Tuyến Havnegade 1, 5700 Svendborg Đt. 6221 0542 / 2244 1306 Email: linhmuctuyen@yahoo.dk Lm. Giuse Nguyễn Minh Quang Sankt Leonisgade 12 8800 Viborg Đt. 8662 3641 / 5132 8896 Email: nmqdk@yahoo.dk Lm. Dominique Trần Đức Thành Thorsgade 22, 8900 Randers Đt. 8642 9730 / 2098 6359 Email: tdt1952@gmail.com Lm. Phêrô Nguyễn Kim Thăng Stenosgade 4A 1616 København V Đt. 5271 1880 Email: petkimthang@yahoo.com Lm. JB. Nguyễn Ngọc Thế S.J. Ryesgade 28, 3. 8100 Århus C Postboks 5054 Đt. 8730 7043 Email: ngocthe@jesuits.net

Mục Đích
Phát huy đời sống đức tin ngƣời kitô hữu Việt Nam tại Đan Mạch. Bắc nhịp cầu liên lạc giữa các linh mục Việt Nam và giáo dân. Chia sẻ những kiến thức tôn giáo, văn hóa, xã hội để làm phát triển cộng đồng

Thể Lệ
Những bài viết với bút hiệu phải có ghi tên thật và địa chỉ của tác giả để tiện việc liên lạc. Xin gửi bài trƣớc ngày 10 của các tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 11 về email: thongtinlienlacdk@gmail.com

2

Lời ngỏ
Kính thƣa quý cha, quý ông bà và anh chị em, Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam chúng ta đã long trọng khai mạc Năm Đức Tin vào ngày 27, tháng 10, năm 2012 vừa qua tại Tåstrup / København, với sự chủ tế thánh lễ của ĐGM địa phận và các linh mục, cùng đông đảo tín hữu tại các cộng đòan Sjælland, Århus, Odense, Svendborg... Đến cuối Tháng 11, với tinh thần tái Truyền Giáo cho bản thân, gia đình và xã hội, chúng ta kết thúc năm Phụng Vụ cùng dạt dào niềm hy vọng canh tân và phát triển Đức Tin. Sang Tháng 12, chúng ta bƣớc vào lịch Phụng Vụ Năm C: 2012 - 2013, khởi đầu bằng Mùa Vọng. Cùng hƣởng ứng lời kêu gọi ăn năn sám hối của Thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta chuẩn bị và thanh tẩy tâm hồn, xứng đáng đón mừng Chúa Hài Đồng Giáng Sinh. Ngay trong thƣợng tuần, chúng ta sẽ mừng trọng thể lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, vào Thứ Bảy đầu tháng, ngày 8/12/2012. Kính xin Mẹ Maria dìu dắt chúng ta hƣớng về Bê Lem với hai tiếng Xin Vâng, luôn mãi sẵn sàng đón nhận Chúa làm gia nghiệp suốt cuộc đời. Vào dịp Giáng Sinh 2012, kính xin Chúa Hài Đồng ban muôn phƣớc lành cho toàn thể Cộng Đồng chúng ta. Ban Biên Tập TT LL cũng kính chúc mọi ngƣời đƣợc bình an và hạnh phúc trong Mùa Hồng Ân này. Chúng ta giã từ năm 2012 với nhiều kỷ niệm, nhƣ 50 năm khai mạc Công Đồng Vatiacan II, và 20 năm xuất bản sách Giáo Lý Công giáo. Bƣớc qua Năm Mới 2013, Kính xin Thiên Chúa chúc lành cho Cộng Đồng, luôn tăng trƣởng các nhân đức Tin Cậy Mến, hầu cho Danh Chúa đƣợc cả sáng muôn nơi. Khởi sự Năm Mới, chúng ta cùng trọng thể mừng lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Kính dâng lên Mẹ toàn thể thời gian 365 ngày, để Mẹ thánh hóa và che chở đoàn con đang phải vất vả chống trả ba thù. Ngày 6, Tháng Giêng, chúng ta mừng lễ Chúa Hiển Linh. Hiệp thông cùng Ba Vua dâng lễ vật, chúng ta nguyện dâng cả cuộc đời, gia đình và con cái, cùng toàn thể sản nghiệp lên Chúa Hài Đồng, phó thác mọi sự trong tay Chúa Quan Phòng, cũng nhƣ luôn vâng theo Thánh Ý Chúa mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh vui lẫn buồn. Ngày 25, Tháng Giêng, năm 2013, lễ kính Thánh Phaolô Tông đồ Trở Lại, kết thúc tuần cầu cho Kitô hữu hợp nhất. Chúng ta cùng hiệp ý, nguyện xin Chúa luôn ban sự hợp nhất từ Chủ Chăn đến con chiên, từ Giáo phận đến Giáo xứ, từ các Cộng Đoàn, hội đoàn và giáo dân. Sang thƣợng tuần Tháng 2, tại Århus chúng ta sẽ mừng Tết Quý Tỵ vào Thứ Bảy, ngày 9/2/2013, nhằm vào 30 Tết. Kính chúc toàn thể Cộng Đồng Việt Nam An Khang và Hạnh Phúc. Vào Mồng Bốn Tết Quý Tỵ, Thứ Tƣ, ngày 13, Tháng Hai, Lễ Tro, chúng ta khởi sự bƣớc vào Mùa Chay Thánh. Một sự trở về toàn tâm, toàn ý, chuẩn bị kỹ lƣỡng tâm hồn chúng ta, đón nhận mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Cứu Thế. Một lần nữa Ban Biên Tập kính chúc quý cha và quý vị Mùa Giáng Sinh tràn đầy Hồng Phúc và Năm Mới Hạnh Phúc. Ban Biên Tập 3

CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI ĐAN MẠCH
DEN KATOLSKE FÆLLESFORENING FOR VIETNAMESERE I DANMARK Mellemvej 14, 5700 Svendborg - DK

THƢ MỜI THAM DỰ TẾT NGUYÊN ĐÁN, NĂM QUÝ TỲ Thứ Bảy, ngày 09 / 02 / 2013 ( nhằm ngày 29 Tết Âm Lịch )
tại PRODUKTION SKOLE, Katrinebjergvej 113 , 8200 Århus
quý BĐD Cộng Đoàn, Ca Đoàn, Hội Đoàn, Ban, Nhóm cùng tòan thể quý vị trong Cộng Đồng. Trích yếu : v/v tổ chức Đại Hội Xuân Quý Tỵ - 2013 Trong niềm hân hoan chuẩn bị đón chào năm mới 2013, CĐCGVN tại Đan Mạch sẽ tổ chức buổi Đại Hội Xuân Quý Tỵ vào thời gian và địa điểm nêu trên. Đại Hội Xuân thật đông đủ để thắt chặt tình đòan kết và cổ vũ cho buổi sinh họat đầy ý nghĩa và hữu ích này Mong quý vị cùng hưởng ứng và tham gia trong mọi lãnh vực: văn nghệ, ẩm thực cũng như rất nhiều công tác khác như trang trí, sắp xếp hội trường, ẩm thực, phụng vụ, vệ sinh, trật tự, quảng cáo và xổ số ….v..v…) Xin quý BĐD-Cộng Đoàn phổ biến rộng rãi đến mọi thành viên dân Chúa trong Cộng Đoàn, kêu gọi sự hỗ trợ và đóng góp của mỗi Cộng Đòan, Hội Đòan, Đòan thể và mỗi cá nhân trong Cộng Đồng cùng tham dự Đại Hội Xuân để nói lên sự đoàn kết, yêu thương, gắn bó trong Cộng Đồng và để cùng nhau xây dựng Cộng Đồng CGVN của chúng ta ngày càng tốt đẹp. Để cho chương trình văn nghệ được thêm phần phong phú, đặc sắc tình tự quê hương như Ca, Vũ, Nhạc, Kịch, Họat Cảnh. v.v… Xin liên lạc về anh Nguyễn Khắc Hiếu, số điện thoại nhà 86251071, mobil 28703391, email: khachieu69@hotmail.com. Để có những món ăn, món bánh đậm đà thuần túy hương vị quê hương, BCHCĐ rất tha thiết mời gọi sự cộng tác và hỗ trợ của tất cả quý cộng đoàn, quý ban nghành và tất cả quý vị. BCHCĐ xin chân thành gởi lời cám ơn đến tất cả quý cha và quý vị và kính chúc quý vị cùng toàn gia quyến thật nhiều bình an và thịnh vượng trong năm mới . Nhân mùa Giáng sinh và năm mới sắp đến, kính chúc quý Cha và quý vị một mùa Giáng Sinh an lành, thánh đức. Một năm mới 2013 an khang, hạnh phúc. Nguyện xin ơn trên ban nhiều hồng ân, sức khỏe trên quý Cha.

TRÂN TRỌNG Ban Chấp Hành Cộng Đồng

4

Bài Giáo Lý I của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm Đức Tin
“Giới thiệu Năm Đức Tin” Dưới đây là bản dịch Bài Giáo Lý của ĐTC Bênêđictô XVI ban hành tại Quảng Trường Thánh Phêrô hôm thứ tư 17 tháng 10, 2012. Hôm nay, ĐTC bắt đầu một loạt bài giáo lý mới về Kinh Tin Kính để giúp chúng ta đào sâu hơn nền tảng của Đức Tin và sống Đức Tin trong đời sống thường nhật của mình. ***

Anh chị em thân mến, Hôm nay tôi muốn giới thiệu một chu kỳ giáo lý mới. Chu kỳ này sẽ đƣợc kéo dài trong suốt Năm Đức Tin vừa bắt đầu, và tạm ngừng chu kỳ dành riêng cho trƣờng cầu nguyện vào lúc này. Với Tông Thƣ Porta Fidei, tôi đã công bố năm đặc biệt này, chính là giúp Hội Thánh canh tâm lòng nhiệt thành trong việc tin vào Đức Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của thế gian, phục hồi niềm vui đi theo con đƣờng mà Ngƣời đã chỉ cho chúng ta, và làm nhân chứng một cách cụ thể quyền năng biến đổi của đức tin. Dịp kỷ niệm năm mƣơi năm khai mạc Công đồng Vatican II là một

cơ hội quan trọng để trở về với Thiên Chúa, để đào sâu và sống đức tin của chúng ta với lòng can đảm hơn, để củng cố việc là phần tử của Hội Thánh, “thầy của nhân loại”, qua việc công bố Lời Chúa, cử hành các bí tích và các công việc bác ái, dẫn chúng ta đến gặp gỡ và biết Đức Kitô, là Thiên Chúa thật và là ngƣời thật. Đây không phải là cuộc gặp gỡ với một ý tƣởng hoặc một kế hoạch của đời sống, nhƣng một Con Ngƣời sống động, là Đấng biến đổi chúng ta tận đáy lòng, và tỏ cho chúng ta biết căn tính thật sự của chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Cuộc gặp gỡ với Đức Kitô đổi mới những liên hệ nhân loại của chúng ta, bằng cách hƣớng chúng, ngày này qua ngày khác, về một tình liên đới và huynh đệ to lớn hơn, theo tiêu chuẩn của tình yêu. Có đức tin vào Chúa không phải là một điều gì chỉ ảnh hƣởng đến trí tuệ của chúng ta, lãnh vực tri thức, mà còn là một sự thay đổi liên hệ đến đời sống, và toàn thể con ngƣời chúng ta: tình cảm, trái tim, trí thông minh, ý chí, thân xác, cảm xúc và những liên hệ giữa con ngƣời. Với đức tin, tất cả đều đƣợc thật sự biến đổi trong chúng ta và cho chúng ta, và nhƣ thế cho chúng ta thấy rõ định mệnh tƣơng lai của mình, sự thật về ơn gọi của mình trong lịch sử, ý nghĩa 5

cuộc đời, niềm vui thích đƣợc làm một khách lữ hành đang trên đƣờng tiến về Quê Trời. Nhƣng chúng ta tự hỏi: đức tin có thực sự là sức mạnh biến đổi cuộc đời chúng ta, cuộc đời tôi hay không? Hay nó chỉ là một trong những yếu tố là một phần của cuộc đời, chứ không phải là điều quyết định liên hệ đến toàn thể cuộc đời? Với những bài giáo lý Năm Đức Tin này, chúng ta muốn mở ra một con đƣờng để củng cố hoặc tìm lại niềm vui của đức tin, bằng cách hiểu rằng đức tin không phải là một điều gì xa lạ, tách rời khỏi đời sống cụ thể, nhƣng chính là linh hồn của đời sống. Đức tin vào một Thiên Chúa là Tình Yêu, và là Đấng đến gần con ngƣời qua việc nhập thể và hiến mình trên Thánh Giá để cứu độ chúng ta và tái mở cửa Thiên Đàng cho chúng ta, chỉ cho chúng ta thấy một cách rạng ngời rằng sự sung mãn của con ngƣời chỉ đƣợc tìm thấy trong tình yêu. Ngày nay, cần phải tái xác nhận điều ấy một cách rõ ràng, trong khi những biến đổi văn hóa trong việc làm thƣờng cho thấy biết bao nhiêu hình thức dã man, đang xảy ra dƣới chiêu bài “những chinh phục của nền văn minh”: đức tin khẳng định rằng không có sự nhân đạo thật trừ khi ở các nơi, các cử chỉ, thời gian và

những hình thức mà ở đó con ngƣời đƣợc đƣợc sinh động hóa bằng tình yêu đến từ Thiên Chúa, đƣợc diễn tả nhƣ một hồng ân, đƣợc biểu lộ bằng những liên hệ đầy bác ái, cảm thƣơng, chú tâm và phục vụ vô vị lợi đối với tha nhân. Nơi nào có sự thống trị, chiếm hữu, lợi dụng, biến ngƣời khác thành món hàng để mƣu lợi cho sự ích kỷ của mình, nơi nào có sự kiêu căng của cái tôi đóng kín nơi mình, thì con ngƣời trở nên nghèo nàn, bị mất phẩm giá và dị hình. Đức tin Kitô giáo hoạt động trong đức ái và mạnh mẽ trong đức cậy (hy vọng), không giới hạn, nhƣng nhân bản hóa đời sống, và làm cho nó hoàn toàn nhân loại. Đức tin nghĩa là đón nhận sứ điệp có sức biến đổi này trong cuộc đời chúng ta, là đón nhận mạc khải của Thiên Chúa, Đấng làm cho chúng ta biết Ngài là ai, Ngài hoạt động ra sao và những kế hoạch của Ngài dành cho chúng ta là gì. Đƣơng nhiên, mầu nhiệm của Thiên Chúa luôn luôn vƣợt ra ngoài những quan niệm và lý lẽ, các nghi lễ và kinh nguyện của chúng ta. Tuy nhiên, với mạc khải, chính Thiên Chúa tự truyền thông cho chúng ta, tự kể cho chúng ta về Ngài và cho chúng ta có thể đến gần Ngài. Và Chúng ta trở nên có khả năng lắng nghe Lời Chúa và đón nhận chân lý của Ngài. Và đây chính là điều kỳ diệu của đức tin: Thiên Chúa, trong tình yêu của Ngài, đã tạo ra nơi chúng ta, nhờ công trình của Chúa Thánh Thần, những điều kiện thích hợp để chúng ta có thể nhận ra Lời Ngài. Chính Thiên Chúa, trong ý muốn tự tỏ mình ra, tiếp xúc chúng ta, hiện diện trong lịch sử của chúng ta, làm cho chúng ta có khả năng lắng nghe và đón nhận Ngài. Thánh Phaolô đã diễn tả điều đó

với lòng vui mừng biết ơn khi ngài nói: “Chúng tôi không ngừng cảm tạ Thiên Chúa, bởi khi anh em đã đón nhận Lời Thiên Chúa mà anh em được nghe từ chúng tôi, thì anh em đã đón nhận không phải như lời người ta, nhưng đúng thật là Lời Thiên Chúa; và Lời đó đang hoạt động nơi anh em là những người tin” (1 Ts 2:13). Thiên Chúa đã tỏ mình ra bằng những lời nói và việc làm trong suốt dòng lịch sử dài của tình bằng hữu với con ngƣời, và đạt đến tột đỉnh trong việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa và trong Mầu Nhiệm Cái Chết và Phục Sinh của Ngƣời. Thiên Chúa không những đã tỏ mình ra trong lịch sử của một dân tộc, không những đã chỉ nói qua các ngôn sứ, nhƣng Ngƣời đã vƣợt qua ranh giới của Thiên Đình để vào thế giới của loài ngƣời, nhƣ một ngƣời, để chúng ta có thể gặp gỡ và lắng nghe Ngƣời. Và từ Giêrusalem, việc loan báo Tin Mừng cứu độ đƣợc loan truyền cho đến tận cùng trái đất. Hội Thánh, đƣợc khai sinh từ cạnh sƣờn Đức Kitô, trở nên sứ giả của niềm hy vọng mới và chắc chắn: Chúa Giêsu thành Nazareth, chịu đóng đanh và sống lại, Đấng Cứu Thế, đang ngự bên hữu Chúa Cha, và là Đấng phán xét kẻ sống và kẻ chết. Đó là lời rao giảng ban đầu, là lời loan báo chính yếu và không ngừng của đức tin. Nhƣng ngay từ đầu, đã có vấn đề “qui luật của đức tin”, nghĩa là sự trung thành của các tín hữu với Chân Lý Tin Mừng, là điều mà họ phải tiếp tục trung thành, với chân lý cứu độ về Thiên Chúa và về loài ngƣời, đƣợc giữ gìn và đƣợc truyền lại. Thánh Phaolô viết: “Anh em được cứu độ, nếu anh em giữ [Tin Mừng] dưới hình thức mà tôi đã công bố cho 6

anh em. Nếu không, anh em tin cách vô ích” (1 Corinthians 15:2). Nhƣng chúng ta tìm thấy công thức thiết yếu của đức tin ở đâu? Chúng ta tìm thấy chân lý đƣợc trung thành truyền lại và là ánh sáng cho đời sống hằng ngày của chúng ta ở đâu? Câu trả lời thật đơn giản: trong Credo (Kinh Tin Kính), trong bản Tuyên Xƣng Đức Tin, (hay Biểu Tƣợng Đức Tin), trong đó chúng ta gắn liền với biến cố nguyên thủy của Con Ngƣời và lịch sử của Chúa Giêsu thành Nazareth; nó cụ thể hóa điều mà Vị Tông Đồ Dân Ngoại đã nói với các tín hữu thành Côrinthô: “Vì trước tiên, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà tôi đã cũng nhận được là, Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta theo như Thánh Kinh, đã được mai táng và sống lại trong ngày thứ ba” (1 Corinthians 15:3). Ngày nay cũng thế, chúng ta cần phải biết, hiểu và cầu nguyện Kinh Tin Kính một cách tốt hơn. Điều quan trọng đặc biệt có thể nói là về Kinh Tin Kính phải “lại đƣợc nhận biết”. Thực ra, nhận biết có thể là một hoạt động thuần túy tri thức, trong khi “tái nhận biết” có nghĩa là sự cần thiết để tái khám phá ra những liên hệ sâu xa giữa những chân lý mà chúng ta tuyên xƣng trong kinh Tin Kính với cuộc sống hàng ngày của chúng ta, bởi vì những chân lý ấy thực sự và cụ thể là, nhƣ chúng đã luôn luôn là, ánh sáng soi các bƣớc đi của cuộc đời chúng ta, là nƣớc tƣới lên những đoạn đƣờng khô cằn trong cuộc hành trình của chúng ta, là sức sống thắng vƣợt một số sa mạc của cuộc sống hiện đại. Đời sống luân lý của ngƣời Kitô hữu đƣợc gắn liền với Kinh Tin Kính, và tìm thấy

trong đó nền tảng và lý do biện minh cho nó. Không phải ngẫu nhiên mà Chân Phƣớc Gioan Phaolô II muốn rằng Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, một tiêu chuẩn vững chắc cho việc giảng dạy đức tin và nguồn tài liệu chắc chắn cho việc canh tân giáo lý, phải đặt trọng tâm vào Kinh Tin Kính. Sách này nhằm xác nhận và bảo vệ điều cốt yếu của các chân lý đức tin, trong khi truyền đạt nó bằng một ngôn ngữ dễ hiểu hơn cho dân chúng trong thời đại của chúng ta, cho chúng ta. Nhiệm vụ của Hội Thánh là truyền thụ đức tin, thông truyền Tin Mừng, để những chân lý của Kitô giáo trở thành một ánh sáng trong những biến đổi mới về văn hoá, và các Kitô hữu có thể trả lời về niềm hy vọng mà họ đang mang nơi mình (x.1 Proverbs 3:14). Hôm nay chúng ta đang sống trong một xã hội thay đổi sâu xa, ngay cả so với một quá khứ gần đây, và liên tục biến hóa. Tiến trình tục hóa và sự lan tràn của một não trạng hƣ vô, trong đó tất cả mọi sự đều là tƣơng đối, có một tác động mạnh mẽ đến tâm lý chung. Vì vậy, đời sống thƣờng bị sống một cách lơ là, không có lý tƣởng rõ ràng và hy vọng chắc chắn, trong các liên hệ xã hội và gia đình lỏng lẻo và tạm thời. Đặc biệt là những thế hệ trẻ không đƣợc giáo dục về việc tìm kiếm chân lý và ý nghĩa sâu xa của cuộc đời, là điều vƣợt trên những gì bất ngờ, về sự ổn định của

những tình cảm, về lòng tin tƣởng. Ngƣợc lại, chủ thuyết tƣơng đối dẫn họ đến chỗ không có những điểm quy chiếu vững chắc, sự nghi ngờ và thiếu kiên định tạo ra những đổ vỡ trong những liên hệ giữa con ngƣời, trong khi cuộc sống đƣợc sống trong những kinh nghiệm ngắn ngủi và vô trách nhiệm. Nếu chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tƣơng đối dƣờng nhƣ thống trị tâm trí của nhiều ngƣời đƣơng thời, chúng ta không thể nói rằng các tín hữu vẫn hoàn toàn không bị lây nhiễm bởi những nguy hiểm mà chúng ta đang phải đƣơng đầu trong việc truyền đạt đức tin. Cuộc điều nghiên đƣợc đẩy mạnh ở tất cả các châu lục để chuẩn bị cho Thƣợng Hội Đồng Giám Mục về Tân Phúc Âm Hóa, đã cho thấy rõ một số điều: một đức tin đƣợc sống một cách thụ động và riêng tƣ, việc chối từ giáo dục đức tin, sự cách biệt giữa đời sống và đức tin. Các Kitô hữu thƣờng không biết cốt lõi chính của đức tin Công Giáo của họ, về Kinh Tin Kính, đến nỗi để dành chỗ cho một chủ nghĩa pha trộn và tƣơng đối về tôn giáo, mà không có sự rõ ràng về những chân lý cần phải tin, và đặc tính cứu độ độc đáo của Kitô giáo. Theo trào lƣu ngày nay, có nguy cơ xây dựng một tôn giáo, có thể nói là “tự pha chế”. Ngƣợc lại, chúng ta phải trở về với Thiên Chúa, Thiên Chúa của Đức Chúa Giêsu Kitô, chúng ta phải tái khám phá ra sứ điệp của Tin Mừng, để đƣa nó vào sâu hơn

trong tâm trí của chúng ta và trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Trong các bài giáo lý về Năm Đức Tin này, tôi muốn cung cấp cho anh chị em một sự trợ giúp để đi trọn cuộc hành trình này, để hiểu rõ và đào sâu những chân lý của đức tin về Thiên Chúa, về con ngƣời, về Hội Thánh, về tất cả các thực thể xã hội và vũ trụ, trong khi suy niệm và suy nghĩ về những điều xác định của Kinh Tin Kính. Và tôi mong ƣớc rằng nó làm sáng tỏ nội dung hay chân lý của đức tin (fides quae) có liên hệ trực tiếp đến cuộc đời chúng ta. Chúng đòi buộc chúng ta phải có hoán cải đời sống, là điều mang đến cho cuộc đời một cách tin vào Thiên Chúa (fides qua) mới mẻ. Hãy biết Thiên Chúa, hãy gặp gỡ Ngài, hãy đào sâu những nét (đặc tính) của dung nhan Ngài đang làm cho cuộc sống của chúng ta hoạt động, bởi vì Ngài đi vào những động lực thầm kín của con ngƣời. Chớ gì cuộc hành trình mà tất cả chúng ta sẽ thực hiện năm nay giúp chúng ta lớn lên trong đức tin và trong tình yêu của Đức Kitô, để chúng ta có thể học sống, trong những lựa chọn và hành động hàng ngày của chúng ta, cuộc sống tốt lành và xinh đẹp của Tin Mừng. Cảm ơn anh chị em.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Mt 5:13 Chính anh em là muối cho đời. Nhƣng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng. Cầu nguyện: Xin sống chứng nhân cho Chúa qua hành động và lời nói yêu thƣơng.
7

NĂM ĐỨC TIN: Ý NGHĨA VÀ GÍA TRỊ CỦA SỰ ĐAU KHỔ
Đau khổ là một thực tế hiển nhiên trong đời sống của con ngƣời, dù có niềm tin hay không. Đây là một thực trạng mà không ai có thể phủ nhận hay tránh đƣợc trong cuộc sống trên trần gian này. Nào đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công xã hội, vì thiên tai, động đất, bão lụt. Nào đau khổ vì bị tù đầy, tra tấn, bị kỳ thị, khinh chê và cô lập (dân Untouchable bên Ấn Độ). Sau hết, đau khổ lớn lao nhất là chết chóc đau thƣơng. Vì đâu có đau khổ ? Thực khó tìm đƣợc câu trả lời thỏa đáng theo suy nghĩ của con ngƣời cho câu hỏi này. Tuy nhiên, có điều nghịch lý đáng nói ở đây là ở khắp nơi, và ở mọi thời đại, luôn có những kẻ gian ác, làm những sự dữ, sự tội, nhƣ giết ngƣời, trộm cắp, hiếp dâm, đặc biệt là cai trị độc ác và gây ra chiến tranh khiến hàng triệu ngƣời vô tội bị giết … nhƣng những kẻ đó vẫn sống phây phây với địa vị và tiền bạc dƣ thừa của chúng, trong khi biết bao ngƣời lành, lƣơng thiện, đạo đức lại nghèo khó, bệnh tật nan y hay gặp tai nạn xe cộ, tầu bè. Cụ thể, năm 2008, một xe buýt chở giáo dân ở Houston, Texas đị dự Đại Hội Thánh Mẫu ở Carthage, Missouri đã gặp tai nạn khiến hàng chục ngƣời chết hoặc bị thƣơng nặng ! trong khi những xe và phi cơ chở ngƣời đi đánh bạc ở Las Vegas, Lake charles (Louisiana).. hoặc du hí ở các nơi tội lỗi nhƣ Cancun (Mexico) Thái lan, Kampuchia… thì chƣa hề gặp tai nạn tƣơng tự !! Lại nữa, những ngƣời nghiện rƣợu và thuốc lá thƣờng dễ bị ung thƣ phổi, nhƣng biết bao ngƣời không uống rƣợu và hút thuốc lá mà vẫn bị ung thƣ phổi, thì sao? Lại nữa, phụ nữ sinh con thì dễ bị ung thƣ ngực, nhƣng có nữ tu không hề sinh đẻ mà vẫn bị ung thƣ ngực ! Vậy không lẽ Chúa phạt những ngƣời bị tai nạn hay bệnh tật kia ??? Chắc chắn là không. Nhƣng phải giải thích thế nào cho hợp lý và tìm ra ý nghĩa của sự đau khổ với con mắt đức tin của ngƣời tín hữu Chúa Kitô trong năm Đức Tin này. Thật vậy, đau khổ là một thực trạng không thể tránh đƣợc trong trần gian này nhƣ Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xƣa :‟ “ Trong thế gian Anh em sẽ phải gian nan khốn khó Nhưng hãy can đảm lên Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16: 33) Nhƣng trƣớc khi Chúa đến trần gian để chia sẻ thân phận con ngƣời với nhân loại, sự đau khổ, sự dữ đã đầy rẫy trong trần gian nhƣ Kinh Thánh Cựu Ƣớc đã ghi lại. Cụ thể ông Gióp (Job) là ngƣời “vẹn toàn, ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và tránh xa điều ác.”( G 1: 1). Vậy mà ông đã gặp hoạn nạn, đau khổ lớn lao bất ngờ, không thể tƣởng tƣợng đƣợc: nào con cái (bảy con trai ba con gái) bỗng chốc lăn ra chết hết trong một trận cuồng phong từ sa mạc thổi đến. Nào đàn gia súc của ông gồm bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái và một số đông tôi tớ cũng bỗng chốc bị giết và cƣớp mất khỏi tay ông ! Nhƣng trƣớc tai ƣơng khủng khiếp này, ông Gióp chỉ biết quỳ xuống than thở với Chúa nhƣ sau : “ Thân trần truồng Sinh ra từ lòng mẹ Tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng ĐỨC CHÚA đã ban cho ĐỨC CHÚA lại lấy đi 8

Xin chức tụng danh ĐỨC CHÚA ! (G1 : 21) Chính vì lòng trung kiên yêu mến, kính sợ Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, nhƣ khi đƣợc mọi điều sung sƣớng và nhất là khi phải đau khổ vì tai ƣơng bất ngờ, ông Gióp đã đƣợc Thiên Chúa khen lao và ban lại cho ông gấp đôi những gì ông đã mất: ông lại sinh đƣợc bảy con trai và ba con gái xinh đẹp nhất trong xứ sở và sống thọ thêm một trăm bốn mƣơi năm nữa. (cf.G 42: 12-17) Nhƣ thế, sự đau khổ, tai ƣơng là phƣơng tiện hữu hiệu Thiên Chúa đã dùng để thử thách các tôi tớ trung kiên của Ngƣời nhƣ các ông Mô-sê, Ap-bra-ham, Gióp và Tô-bia. Ngƣợc lại, đôi khi Thiên Chúa cũng dùng tai ƣơng, đau khổ để trừng phạt con ngƣời vì tội lỗi và ngoan cố không muốn ăn năn sám hối để đƣợc tha thứ. Đó là hình phạt Đại hồng thủy trong thời Cựu Ƣớc, đã cuốn đi vào lòng đai dƣơng tất cả mọi ngƣời, mọi sinh vật trên mặt đất, trừ gia đình ông Nô-e và các sinh vật đƣợc ông đem vào tàu trƣớc khi mƣa tuôn đổ xuống địa cầu. ( St 6: & 7) Lại nữa, Thiên Chúa đã dùng lửa và mƣa sinh diêm từ trời xuống để hủy diệt thành Xô-đôm, vì ông Ap-braham không tìm đƣợc ngƣời ngay lành nào trong thành tội lỗi đó, để xin Chúa tha chết cho thành ấy. ( Sđd : 19) Nhƣng khi dân thành Ni-ni-vê nghe theo lời kêu gọi của ngôn sứ Giô-na ăn chay, cầu nguyện và sám hối thì Thiên Chúa đã tha không đánh phạt họ nhƣ Ngƣời đã ngăm đe. (Gn 3: 1-10) Nhƣ vậy, trong thời Cựu Ƣớc, Thiên Chúa đã dùng đau khổ, gian nan khốn khó để thử thách các tôi tớ trung thành và cũng để đánh phạt những kẻ làm những sự dữ, tội lỗi mà không chịu sám hối và từ bỏ con đƣờng gian ác. Dân Do Thái, cho đến thời Chúa Giêsu xuống trần và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, vẫn quen nghĩ rằng sự khó, sự đau khổ và tai ƣơng xảy ra cho ai thì tại tội lỗi của ngƣời đó hay của cha mẹ nạn nhân. Cho nên khi thấy một ngƣời mù từ bé, các môn đệ của Chúa Giêsu đã hỏi Ngƣời nhƣ sau : “Thƣa Thầy, ai đã phạm tội khiến ngƣời này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?( Ga 9 : 2). 9

Chúa Giêsu đã trả lời họ nhƣ sau : “không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhƣng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa đƣợc tỏ hiện nơi anh.” ( Sđd 9; 3) Việc của Thiên Chúa đƣợc tỏ hiện là Chúa Giêsu đã chữa cho anh mù đƣợc xem thấy để minh chứng Ngƣời là quả thực là Đấng Thiên Sai (Mê-si-a) đã đến trong trần gian để “cho ngƣời mù đƣợc thấy, kẻ què đƣợc đi, ngƣời cùi đƣợc sạch, kẻ điếc đƣợc nghe, ngƣời chết trỗi dậy, kẻ nghèo đƣợc nghe Tin Mừng.” ( Lc 7 : 22 ) . Nhƣng cũng trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu cũng nói với một ngƣời đã đau ốm lâu năm và Chúa đã chữa lành cho anh ta. Nhƣng khi gặp lại anh này trong Đền Thờ sau đó, Chúa đã nói với anh điều đáng chú ý nhƣ sau : “Này, anh đã đƣợc khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trƣớc.” (Ga 5: 14) Nhƣ thế có nghĩa là tội lỗi cũng có thể là nguyên nhân gây ra đau khổ cho con ngƣời nhƣ Chúa đã nói trên đây. Kinh nghiệm thực tế ngày nay cũng chứng minh điều này. Kẻ trộm cắp cứ quen sống bất lƣơng nhƣ vậy, sẽ có ngày gặp tai họa khi vào nhà ai để ăn trộm và có thể bị chủ nhà bắn chết. (ở Mỹ rất nhiều ngƣời dân có súng trong nhà để tự vệ). Ngƣời ngoại tình cũng có thể bị tình địch giết chết vì đã gian díu với vợ hay chồng của ngƣời khác. Lái xe ẩu, vƣợt đèn đỏ có thể gây ra án mạng cho ngƣời khác và cho chính ngƣời lái xe ẩu. Đúng là tội đâu vạ đấy nhƣ ngƣời Việt Nam chúng ta thƣờng nói. Tuy nhiên, là ngƣời tín hữu, chúng ta đƣợc dạy dỗ để tin rằng sự đau khổ về thể lý hay tâm hồn cũng là phƣơng tiện mà Thiên Chúa dùng để cho chúng ta đƣợc thông phần sự thƣơng khó đau khổ với Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi sự khốn khó cho đến chết đau thƣơng trên thập giá để cho chúng ta đƣợc cứu độ và có hy vọng đƣợc hƣởng hạnh phúc Nƣớc Trời với Chúa sau hành trình đức tin trên trần thế này. Thật vậy, Chúa Giê-su Kitô là Đấng Thiên Sai (Messaih) đã đến trần gian làm Con Ngƣời, đã chiu khốn khó ngay từ khi sinh ra trong cảnh cực kỳ khó nghèo nơi hang lừa máng cỏ, bị đe dọa giết chết bởi Hêrôđê khiến Đức Mẹ và Thánh Giuse phải mang chạy trốn sang Ai Cập lúc đêm khuya… Lớn lên, Ngƣời đi rao giảng Tin Mừng trong điều kiện rất khó

nghèo, lang thang đó đây nhƣ kẻ vô gia cƣ đúng nhƣ Chúa đã nói với các môn đệ: “con chồn có hang, chim trời có tổ, nhƣng Con Ngƣời không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8 : 20) Là Đấng Thiên Sai, Chúa Kitô sẽ “phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thƣợng tế và kinh sƣ gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại.” (Sđd 16: 21) Phêrô, môn đệ đƣợc Chúa khen ngợi vì đã tuyên xƣng đúng Ngƣời là “ Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống.”. Nhƣng khi nghe Chúa nói đến những đau khổ mà Ngƣời sắp phải chịu trƣớc khi chết, sống lại và lên trời vinh hiển, Phêrô đã tìm cách can ngăn Chúa nhƣ sau: “Xin Thiên Chúa thƣơng đừng để cho Thầy gặp chuyên đó.” ( Sđd 16: 22) Để trả lời cho Phêrô và cũng để dạy cho chúng ta biết giá trị của đau khổ, Chúa đã quở trách ông nhƣ sau: “Xa tan, hãy lui lại đàng sau Thầy ! anh cản lối Thầy, vì tƣ tƣởng của anh không phải là tƣ tƣởng của Thiên Chúa, mà là của loài ngƣời.” (Sđd 16: 23) Phêrô can ngăn Chúa vì đã hành động đúng với suy tƣ của mọi ngƣời trần thế là không ai muốn chịu sự gì khốn khó, đau khổ. Ai cũng muốn đƣợc luôn khỏe mạnh, sung sƣớng, an nhàn, có nhiều tiền của và danh vọng ở đời. Không ai muốn bệnh tật, nghèo đói và bị khinh chê, tù đầy hay bắt bớ. Ƣớc vọng đƣợc khỏe mạnh cũng rất chính đáng và đẹp lòng Chúa, nhƣ tác giả Sách Huấn Ca đã viết: “ Người đã chết thì hết xưng tụng vì nó không còn nữa Chỉ người đang sống và khỏe mạnh mới ca ngợi Đức Chúa.” ( Hc 17 : 28) Vì thế, ngƣời đau ốm cầu xin Chúa cho đƣợc lành bệnh tật của thân xác: “Lậy Chúa, xin đoái thương, này con đang kiệt sức Chữa lành cho vì gân cốt rã rời Toàn thân con rã rời quá đỗi Mà lậy Chúa, Chúa còn trì hoãn đến bao giờ ?” (Tv 6 : 3-4)

Cầu xin cho đƣợc khỏe mạnh và bình an trong cuộc sống là điều tốt phải xin Chúa và không có gì đáng chê trách. Nhƣng bệnh tật và rủi ro thì không ai tránh đƣợc trong cuộc sống ở đời này. Ngƣời đạo đức, lƣơng thiện và kẻ bất lƣơng gian ác đều không ít thì nhiều phải đau khổ nhƣ bệnh tật, tai nạn bất ngờ, tang chế trong gia đình vì ngƣời thân mất đi…. Tuy nhiên, cứ xem gƣơng Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các Thánh thì ngƣời có đức tin phải hiểu rằng đau khổ có giá trị cứu rỗi và là phƣơng thế hiệu nghiệm mà Thiên Chúa dùng để thánh hóa và cải hóa con ngƣời, cũng nhƣ để thử thách lòng tin yêu của các tôi tớ trung kiên nhƣ trƣờng hợp các ngôn sứ Mô-Sê, Abraham, Gióp và Tôbia đã nói ở trên. Vì đau khổ có giá trị xin tha tội, nên ông Mô-sê đã xin hiến mạng sống mình làm của lễ để xin Thiên Chúa tha tội cho dân Do Thái xƣa: “Ông Mô-sê trở lại với ĐỨC CHÚA và thƣa : “than ôi dân này đã phạm một tội lớn. Họ đã làm cho mình một tƣợng thần bằng vàng. Nhƣng giờ đây ƣớc gì Ngài miễn chấp tội họ. Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn Sách Ngài đã viết.” ( Xh 32 : 31-32) Chính vì giá trị cứu chuộc của đau khổ mà Chúa Kitô, Đấng Thiên Sai, Ngƣời Tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa, đã vui lòng “uống chén đắng” là vác thập giá, chịu mọi cực hình cho đến khi chết đau thƣơng trên thập giá để đền tội cho nhân loại và cho chúng ta hy vọng đƣợc sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nƣớc Trời mai sau. Phải nói là có hy vọng thôi chứ không phải là bảo đảm chắc chắn ngay từ bây giờ, không phải vì sự đau khổ của Chúa Kitô chƣa đủ cho con ngƣời đƣợc cứu rỗi, mà vì con ngƣời còn có tự do để cộng tác với ơn Chúa để đƣợc cứu chuộc hay bị loại vì đã tự ý khƣớc từ ơn cứu rỗi đó để sống buông thả theo tính hƣ nết xấu của xác thịt và chạy theo những quyến rũ của thế gian đang tràn ngập với “văn hóa của sự chết” mà những kẻ không có niềm tin đang ngụp lặn trong đó. Nếu con ngƣời không có thiện chí muốn cộng tác với ơn Chúa để sống theo đƣờng lối của Chúa, thì Chúa không thể cứu ai đƣợc, mặc dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con ngƣời đƣợc cứu rỗi.

10

Tóm lại, không ai có thể tránh đƣợc đau khổ trong cuộc sống trên trần gian này. Tuy nhiên, nhƣ đã nói ở trên, với ngƣời có niềm tin nơi Chúa thì đau khổ là phƣơng thế tốt nhất cho ta đƣợc trở nên giống Chúa Kitô, Ngƣời đã đi vào vinh quang phục sinh qua khổ hình thập giá để dẫn đƣa chúng ta vào hƣởng hạnh phúc Nƣớc Trời, nếu chúng ta cũng vui lòng vác thập giá theo Ngƣời. Nghĩa là chúng ta phải vui lòng chấp nhận những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không kiêu căng đi tìm kiếm nhƣng không hậm hực kêu trách Chúa khi gặp phải trong cuộc sống trên trần gian này. Đó là cách chấp nhận đau khổ đẹp lòng Chúa, đúng theo lời dạy của chính Chúa Kitô, là “ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16: 24).

Vác thập giá theo Chúa có nghĩa là vui lòng chịu mọi sự khó Chúa gửi đến trong cuộc đời của mỗi ngƣời chúng ta. Vậy chúng ta hãy can đảm và bằng lòng chịu những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không ai muốn kiếm tìm nhƣng không tránh đƣợc, vì Chúa đã tha phép cho xảy ra để cho ta đƣợc thông phần sự thƣơng khó của Chúa Kitô để đền tội mình và tội của ngƣời khác, cũng nhƣ để cầu xin cho nhiều ngƣời chƣa biết Chúa đƣợc nhân biết và tin yêu Chúa để cùng hƣởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Đó là điều quan trọng chúng ta cần suy tƣ và sống trong Năm Đức Tin này. LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Ân nhân báo Thông Tin Liên Lạc. 12/2012 – 1,2/2013
Danh sách đã nhận đƣợc trong konto TTLL và tiền mặt nhờ chuyển. CĐ København - AC Lâm - Lan CĐ Odense - ÔB Trần độc Lập - AC Bình Hằng CĐ Åbenrå - AC Luyện CĐ Århus - AC Chi - Minh CĐ Svendborg - ÔB Bảng - Nhung - ÔB Nguyễn văn Hòa - AC Phạm văn Hòa

- AC Nguyễn văn Phƣớc - AC Phạm quách Phƣơng - ÔB Đòan hữu Tế CĐ Hjøring - ÔB Quản đức Trung CĐ Horsens - Chị Kim Mai CĐ Viborg - Bà Vũ thị Hẹn - Chị Huyền - AC Nhân

200 kr. 200 kr. 200 kr.

500 kr

250 kr.

400 kr.

200 kr. 200 kr.

200 kr. 200kr. 200kr.

200 kr.

200 kr.

Quý vị muốn ủng hộ, đóng góp tài chánh về Thông Tin Liên Lạc xin gởi cho vị Đại Diện Cộng Đoàn mình hay chuyển thẳng vào trƣơng mục dƣới đây: Danske Bank Reg. nr. 3307 Konto: 4070202522 Huỳnh thị Thúy Hằng (ghi chú Tên và Cộng Đoàn)

200 kr. 200 kr. 300 kr.

11

Ơn toàn xá trong Năm Đức Tin
WHĐ (06.10.2012) / VIS – Theo một nghị định công bố hôm qua, 05-10, với chữ ký của Đức hồng y Manuel Monteiro de Castro, Chánh án Tòa Ân giải tối cao và Đức giám mục Krzysztof Nykiel, Chánh lục sự, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI sẽ ban ơn toàn xá nhân dịp Năm Đức Tin. Ân xá có hiệu lực từ ngày khai mạc đến khi bế mạc Năm Đức Tin (từ 11 tháng Mƣời 2012 đến 24 tháng Mƣời Một 2013). Nghị định viết: “Vào ngày kỷ niệm năm mƣơi năm khai mạc trọng thể Công đồng Vatican II, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã quyết định mở một Năm đặc biệt dành để tuyên xƣng đức tin chân thật và giải thích đức tin đúng đắn, bằng việc đọc – hoặc tốt hơn nữa, suy niệm các văn kiện của Công đồng và các điều trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo”. “Ân xá sẽ mang lại lợi ích lớn lao, để trƣớc hết, cuộc sống đạt đến sự thánh thiện ở mức cao nhất qua việc thanh tẩy tâm hồn nên trong sạch. Nhờ quyền năng Chúa Kitô trao cho, Giáo Hội ban ân xá cho tất cả những ai tuân theo các quy định đã đƣợc đề ra”. “Trong Năm Đức Tin, sẽ kéo dài từ ngày 11 tháng Mƣời 2012 đến 24 tháng Mƣời Một 2013, ơn Toàn xá tha các hình phạt tạm vì tội, đƣợc ban do lòng Chúa thƣơng xót và có thể chỉ cho các linh hồn các tín hữu đã qua đời, có thể đƣợc ban cho mọi tín hữu thành tâm sám hối, xƣng tội, rƣớc lễ và cầu nguyện theo ý Đức giáo hoàng”. – (A) Mỗi khi tham dự ít nhất ba bài giảng về truyền giáo, hoặc ít nhất là ba bài học về các văn kiện của Công đồng hoặc các điều của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, tại nhà thờ hay bất kỳ nơi nào khác thích hợp. – (B) Mỗi khi hành hƣơng thăm viếng một Vƣơng cung thánh đƣờng của giáo hoàng, một hầm mộ, một 12 nhà thờ chính tòa hay một nơi thánh mà Vị bản quyền địa phƣơng chỉ định trong Năm Đức Tin (chẳng hạn: các Tiểu Vƣơng cung thánh đƣờng và các Đền thánh kính Đức Trinh Nữ Maria, các thánh tông đồ hoặc vị thánh bổn mạng), và tham dự một cử hành phụng vụ tại nơi ấy, hoặc ít là ở lại một thời gian thích hợp để cầu nguyện và suy niệm đạo đức, kết thúc bằng kinh Lạy Cha, kinh Tin kính bằng bất kỳ bản kinh hợp pháp nào, và khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria, và tùy hoàn cảnh, các thánh Tông đồ và các thánh bổn mạng. – (C) Mỗi khi, vào những ngày trong Năm Đức Tin do Vị bản quyền địa phƣơng ấn định, ... ở bất kỳ nơi thánh nào, tham gia Thánh lễ trọng thể hay Phụng vụ Các giờ kinh, đồng thời đọc Tin kính bằng bất kỳ bản kinh hợp pháp nào. – (D) Vào một ngày tùy chọn trong Năm Đức Tin, nếu lấy tinh thần đạo đức đến thăm Giếng Rử i, hoặc nơi mình đã chịu phép Rửa Tội, và tuyên xƣng lại lời hứa rửa tội bằng bất kỳ hình thức hợp pháp nào. “Giám mục giáo phận hoặc giáo khu (thuộc Giáo hội Đông phƣơng), và những vị có cùng quy chế giáo luật, vào ngày thích hợp nhất trong thời gian ấy hoặc vào những dịp lễ chính, ... có thể ban phép lành của Đức Thánh Cha với ơn Toàn xá”. Trong phần kết luận, văn kiện cũng nhắc lại rằng các tín hữu, vì bệnh tật hoặc những lý do hợp pháp khác, không thể ra khỏi nơi cƣ trú (các tu sĩ tại các đan viện kín, tù nhân bị giam giữ, ngƣời đang chữa bệnh, ngƣời phải túc trực chăm sóc bệnh nhân), vẫn có thể đƣợc hƣởng ơn toàn xá “nếu, hiệp thông trong tinh thần và tƣ tƣởng với tín hữu khác, và nhất là vào những lúc các phát biểu của Đức Thánh Cha và các giám mục giáo phận đƣợc phát qua truyền hình hoặc truyền thanh, họ đọc kinh Lạy Cha, kinh Tin kính bằng bất kỳ bản kinh hợp pháp nào, và những kinh nguyện khác phù hợp với các ý hƣớng của Năm Đức Tin, và dâng lên những đau khổ và âu lo trong cuộc sống của mình”. Minh Đức

Giáng Sinh: Suy niệm về mầu nhiệm Tình Yêu.
Giáng Sinh lại sắp đến với chúng ta. Tôi xin đƣợc suy niệm với quí ông bà và anh chị em về mầu nhiệm Tình Yêu qua một câu chuyện ngụ ngôn: Ngày xƣa ở Việt Nam, có một gia đình nọ, chúng ta cứ tạm gọi là gia đình ông Thiện, vì quả thực, ông ấy có cái tên là Nguyễn Đức Thiện. Ông là một ngƣời chồng chung thủy và là một ngƣời cha tài đức khôn ngoan, một lòng yêu thƣơng vợ con và gia đình. Ban ngày, ông đi làm việc nơi công sở, tối về quây quần với vợ con. Còn ngày chủ nhật thì lễ lạy rất đàng hoàng. Phải nói, ông Thiện là một ngƣời tốt lành, xứng đáng với cái tên ”Thiện” của ông. Hai ông bà sinh ra hai ngƣời con: một đứa con gái đầu lòng, ông đặt tên cho là ”Lành”, và sau đó 3 năm, thì bà lại cho ra đời một cậu con trai, mà ông đặt tên cho nó là ”Nhân”. Hai ông bà rất thƣơng con cái và mong mỏi cả hai sẽ trở nên những ngƣời hiền lành đạo đức, xứng đáng với cái tên mà ông bà đã đặt cho chúng. Cô lành càng lớn, càng tỏ ra là một cô gái ngoan hiền, đẹp xinh và hiếu thảo. Nhìn vào cô, ai cũng thích và quí mến. Cô gái quả là một bông hoa quí, đẹp từ ngoài thể xác vào trong tâm hồn. Cô gái học đƣợc từ nơi cha mẹ mình lòng đạo đức thƣơng ngƣời. Bởi thế, cô thƣờng đi theo mấy soeur đi thăm viếng ngƣời nghèo khó trong làng, mang theo ít gạo, quần áo và thức ăn, vừa giúp đỡ, vừa an ủi những kẻ đói nghèo hoạn nạn. Niềm vui cô mang đến cho ngƣời nghèo không chỉ là những tặng phẩm vật chất, nhƣng nhất là nụ cƣời tƣơi mát của ngƣời thiếu nữ khiêm tốn, duyên dáng. Ngay cả những ngƣời khó tính nhất cũng cảm thấy dịu lòng, mỗi khi đƣợc cô gái đến thăm hỏi, nói chuyện… Nhiều trai tráng trong làng tỏ lòng yêu mến, tìm đến cầu hôn, nhƣng cô gái từ chối khéo, nói rằng mình còn bé, chƣa đủ trƣởng thành để lập gia đình. Hơn nữa, cô còn nại có cha mẹ già, mỗi mình là gái, cần đƣợc giúp đỡ những việc trong nhà… Chúng ta hãy tạm gác chuyện cô Lành để nói chuyện về ngƣời con trai một tí. Cậu Nhân của chúng ta quả đúng là ”quí tử” của ông bà Thiện. Là con trai duy nhất và út ít nữa, cho nên ông bà Thiện thƣơng cậu Nhân lắm, chiều cậu hết mức. Ông bà dạy dỗ cậu con 13 trai theo gƣơng sáng của một đời sống đạo đức và đặt nhiều hy vọng vào cậu. Thời niên thiếu, cậu Nhân tỏ ra là một cậu bé thông minh, nhanh nhẹn và ngoan ngoãn. Dĩ nhiên, con trai bao giờ cũng phá phách và bƣớng bỉnh hơn con gái, cậu Nhân vẫn bị cha mẹ răn đe sửa phạt, nhƣng cậu đƣợc mẹ yêu thƣơng bênh đỡ, chở che, nên cậu rất yêu thƣơng mẹ. Gia đình ông bà Thiện sống trong êm đềm hạnh phúc nhƣ thế cho đến một ngày kia, khi cậu Nhân đƣợc 16 tuổi và cô Lành 19. Ngày hôm ấy, cũng nhƣ mọi ngày khác, ông Thiện đi làm, bà Thiện ở nhà lo nội trợ, hai chị em Lành-Nhân đi học. Chiều về, cả gia đình quây quần thân mật bên mâm cơm. Nhƣng hôm đó, cậu Nhân đi đâu mất mà mãi tới tối vẫn chƣa thấy về. Cả nhà nôn nao lo lắng! Trễ cả tiếng đồng hồ mà vẫn không thấy bóng dáng cậu con trai yêu quí đâu cả. Ông Thiện lo lắng nhất, bèn bỏ dở bữa cơm đi lên trƣờng dò hỏi xem thế nào! Lên tới trƣờng thì trƣờng đóng cửa! Hỏi thăm ngƣời này ngƣời nọ, thì chẳng a biết chi cả! Ông Thiện buồn rầu trở về đƣa tin cho vợ và con gái. Bà Thiện òa khóc nức nở! Bữa cơm chiều hôm ấy giống nhƣ một bữa tiệc đám ma! Chẳng ai còn tinh thần ăn uống chi cả! Ráng nuốt miếng cơm trong đau đớn, ông Thiện an ủi vợ, nói rằng: mai ông sẽ lên sở xin tạm nghỉ việc, để đi kiếm con trai. Cả tuần lễ kế tiếp, ông Thiện bôn ba xuôi dọc, tìm hỏi tất cả những ngƣời ông quen biết, từ trƣờng học cho tới tƣ nhân, ông đi từng nhà, từ đầu làng đến cuối làng, dò hỏi. Nhƣng cậu con trai của ông vẫn ”biệt vô âm tín”, không có một manh mối gì cả! Gia đình ông Thiện sống trong khủng hoảng lo âu. Cô Lành hết sức an ủi cha mẹ, nhƣng vẫn không làm giảm đƣợc sự đau buồn của ông bà Thiện!!! Một lá thƣ đƣợc gửi đến địa chỉ nhà ông bà Thiện. Và kìa! Đó chính là nét chữ của cậu Nhân. Cậu con trai đã viết thƣ về nhà nói rằng: Cậu đã đi theo một ngƣời lạ, đến một phƣơng trời mới, và cậu không muốn trở về nhà nữa! Ôi thật là kinh hoàng! Ông bà Thiện sửng sốt muốn té xỉu khi đọc xong lá thƣ của cậu quí tử! Ông bà không biết mình đã làm gì khiến cho cậu con trai bỏ nhà ra đi

nhƣ vậy? Sự đau đớn cắn xé ông Thiện. Ông nghĩ rằng: Có thể là do sự giáo dục nghiêm khắc của mình, mà con trai sinh ra hiềm ghét mình chăng? Nhƣng quả thực, ông đâu có bao giờ nặng tay với con trai! Những lời răn đe của ông chỉ là do lòng yêu thƣơng phụ tử, muốn uốn nắn đầu óc non dại của trẻ thơ biết đâu là lẽ phải! Nhƣng sự tình đã đi đến đây, phải giải quyết thế nào đây? Ông Thiện bàn luận quyết định của mình với vợ. Ông nhất định đi tìm cậu con trai và nói cho cậu hiểu rằng, ông thƣơng nó hơn là ông thƣơng chính mình. Ông đã lên sở xin nghỉ việc luôn; dặn dò con gái phải ở nhà phụng dƣỡng mẹ trong lúc ông vắng nhà. Thời gian ông đi tìm con trai không biết là bao lâu, nhƣng ông hy vọng sẽ về nhà sớm chừng nào tốt chừng ấy! Bà Thiện và cô Lành gạt nƣớc mắt tiễn chồng, tiễn cha lên đƣờng, sau khi đã cầu chúc ông sự may mắn. Và ông Thiện đã đi tìm cậu Nhân. Biết tìm ở đâu bây giờ? Lá thƣ không ghi địa chỉ ngƣời gửi! Coi con mộc đóng trên lá thƣ thì thấy đề tên một tỉnh lạ hoắc và xa xôi. Nhƣng đó là manh mối duy nhất về hành tung của cậu Nhân. Ông Thiện đã dò hỏi và đón xe lên tới tỉnh đó. Trời đất bao la, ngƣời sống ở đây thì nhiều, biết ai để hỏi thăm về con trai mình đây? Nhƣng ông Thiện vẫn không nản chí! Tình thƣơng của ông dành cho con trai còn mạnh hơn những gian khổ ông đang gánh chịu: nỗi khổ nhớ vợ, nỗi khổ nhọc nhằn bôn ba, nhịn đói nhịn khát. Số tiền dành dụm bao năm qua, ông đã để lại cho vợ và con gái một phân nửa, chỉ còn là một số tiền nhỏ ông mang theo, chi phí dọc đƣờng. Biết bao giờ mới gặp lại con trai mình? Dù là phƣơng trời vô định, ông Thiện vẫn tin tƣởng, ông sẽ gặp lại con trai. Ông Thiện đã ở lại đó 2 tháng trời, làm công việc dò hỏi tìm kiếm. Nhiều ngày trôi qua, kết quả vẫn là ”con số không”! Nhƣng chợt một ngày kia, ông đi ngang qua một sạp báo. Đôi mắt của ông bắt đƣợc hàng ”tít” lớn, ghi lại vụ cƣớp nhà Băng của một nhóm du đãng ở tỉnh bên, đã sang đây làm ăn, nhƣng bị cảnh sát ”chộp” nguyên ổ! Ông Thiện rút tờ báo, trả tiền cho ngƣời bán và nhanh nhẹn đọc kỹ bản tƣờng thuật. Sau đó, ông đến Ty cảnh sát dò hỏi. Ngƣời ta cho ông biết là nhóm du đãng cƣớp nhà Băng đang bị giam giữ trong phòng cấm, chờ ngày đƣa ra Tòa xét xử, và không ai đƣợc phép thăm hỏi gì cả! Phải chờ phiên toà, tức là một tuần lễ sau! 14

Ngày Tòa xử, ông Thiện đã xin chính quyền cho mình đƣợc vào xem, vì ông nghĩ: Có thể con mình trong nhóm ngƣời bị án này, nhƣng trong lòng ông hy vọng là mình bị lầm! Bƣớc vào phòng xử, ông chọn một chiếc ghế ở khoảng giữa, ngồi chờ. Ngƣời ta dẫn các bị cáo ra. Kìa! Ông nhìn thấy cậu Nhân, con trai mình, hai tay còng ở phía sau, đầu tóc rối bù, thểu não! Cậu thiếu niên vẫn chƣa nhìn thấy cha mình ở phía dƣới… Tòa xử các tội phạm phải phạt 5 năm tù! Khi ngƣời ta dẫn các phạm nhân ra ngoài đểchở đến trại giam, mắt của cậu Nhân mới chạm vào tia mắt của ông Thiện. Cậu có vẻ sửng sốt lắm! Làm thế nào mà ông biết đƣợc mình gia nhập đảng cƣớp và bị bắt nhƣ thế này? Nhƣng hai cha con không thể nói với nhau lời nào! Từ khi biết con mình bị tù, ông Thiện viết thƣ về cho vợ, tƣờng thuật sự việc và khuyên vợ cứ an lòng, ông sẽ tìm cách cứu con trai bằng mọi giá. Ông Thiện đã liên hệ với chính quyền, với Tòa án để kháng cáo. Nhƣng Tòa vẫn không thay đổi hình phạt. Ông Thiện đã trình bày hoàn cảnh gia đình của mình với ông chánh án và đề nghị, xin đƣợc ở tù thay cho con, vì nó còn nhỏ dại, chỉ làm theo sự xúi giục của bạn bè xấu. Thấy sự nài nỉ của ông Thiện, và nhất là cảm động vì tình thƣơng của ông đối với con trai, ông chánh án cho gọi phiên họp bất thƣờng để xử lại. Quyết đinh của phiên tòa hôm ấy là: - Hình phạt của tội cƣớp nhà Băng vẫn không thay đổi là 5 năm tù, nhƣng nếu hai ngƣời ngồi tù, thì thời gian rút xuống còn 2 năm rƣỡi. Và ông Thiện đã ngồi tù chung với cậu Nhân 2 năm rƣỡi, ngõ hầu chuộc lại lỗi lầm cho con. Quí ông bà và anh chị em thân mến! Sẽ có ngƣời thắc mắc: tại sao tôi lại kể chuyện nhƣ trong phim vậy? Thƣa: Là để nói cho mọi ngƣời nghe biết về tình yêu của Thiên Chúa nhập thể, mà Thiên Chúa đã thực hiện vì yêu thƣơng con ngƣời. Nếu chúng ta thay đổi tên của các nhân vật trong truyện nhƣ sau: - Ông Bà Thiện chính là Thiên Chúa Ba Ngôi, đã sinh dựng ra cô ”Lành” là các thiên thần; còn cậu Nhân quí tử, chính là loài ngƣời. Cũng nhƣ cậu Nhân, loài ngƣời chúng ta đã bỏ Thiên Chúa, để đi

theo sự dữ, đã phạm tội, đáng phải phạt muôn đời trầm luân. Nhƣng Thiên Chúa đã ”bôn ba”, xuống thế làm ngƣời, để tìm kiếm chúng ta, và còn sẵn lòng ”ngôi tù” với chúng ta suốt 33 năm, sẵn sàng chịu chết để chuộc lại án tù ”chung thân” của loài ngƣời. Vậy sau khi bạn đọc xong câu truyện này, bạn sẽ có tâm tình gì đối với Chúa đây? Bạn vẫn dửng dƣng, hay là bạn sẽ ôm lấy Chúa, khóc lóc và nói rằng: ”Thƣa cha, con đã lỗi phạm đến trời

và đến cha, xin cha tha thứ và nhận còn về nhà Giáo Hội. Nếu bạn có đƣợc tâm tình nhƣ thế, thì quả là niềm vui Giáng Sinh đã và đang đến với bạn. Mong rằng, thật nhiều ngƣời, sẽ có đƣợc niềm vui của mùa Giáng Sinh hồng phúc. Thân ái: Lm. Nguyễn Ngọc Tuyến.

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA HANG ĐÁ BÊ-LEM
Biến cố lịch sử Chúa Giáng Sinh và Hang đá Bê-lem là hai sự kiện luôn gắn liền với nhau, đến nỗi ngƣời kitô hữu không thể mừng Lễ Chúa Giáng Sinh mà lại không có một Hang đá nào đƣợc dựng nên tại các Giáo xứ hay tại các gia đình công giáo. Chỉ có một điều làm chúng ta tự hỏi, có phải mọi ngƣời đều hiểu rõ ý nghĩa của Hang đá Bê-lem và những tƣợng mà chúng ta đặt trong đó không? Hầu hết các Hang đá đƣợc trƣng bày rất phong phú và đa dạng tuỳ theo quan niệm cũng nhƣ truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc. Ở Việt Nam, ngƣời ta thƣờng dựng mái bằng tranh, bằng rơm.v.v…, nhƣng cho dù bằng bất cứ hình thức nào đi nữa, thì tất cả mọi trƣng bày về Hang đá đều mang một nội dung, đó là trình bày quang cảnh mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh.

I. Nguồn gốc Hang đá Ai là ngƣời đã trƣng bày Hang đá đầu tiên? Đó là một khám phá tuyệt vời của thánh Phanxicô

thành Assisi. Theo tác giả Omer Englebert kể: vào năm 1223, chỉ còn đúng 2 tuần lễ nữa là đến ngày mừng lễ Chúa Giáng sinh, Phanxicô Assisi lúc đó đang trên đƣờng từ Rôma trở về làng Assisi, quê hƣơng của Ngài; khi đi ngang qua làng Greccio thì Phanxicô gặp một thày tên là Jean Velita, thày này mới tập tu, Phanxicô liền ngỏ lời với thày ấy rằng : “Ta mong ƣớc cử hành lễ Giáng sinh để suy tôn Chúa ra đời ở Bê-Lem, nhƣng để thể hiện nỗi cơ cực và khổ đau của Chúa ngay từ lúc còn thơ để cứu chuộc nhân loại, Ta xin con làm một hang đá giống nhƣ thật với 15

cỏ khô, rồi con dẫn một con lừa và một con bò vào để cho giống với con bò con lừa đã chầu quanh Chúa Hài đồng năm xƣa nhé‟‟. Thế là thày vâng lời, đi làm một hang đá giống nhƣ lời Phanxicô dặn. Còn Phanxicô, sau khi công bố Tin Mừng xong, ngài chia sẻ lời Chúa cho những ngƣời đến nghe. Ngài kể chuyện sự tích về một vị „„Hoàng đế nghèo‟‟ sống trƣớc ngài 12 thế kỷ, đƣợc sinh ra tại BêLem mà ngƣời ta thƣờng gọi Ngài là Giêsu, tức “Hài đồng Bê-Lem”. Giảng xong, Phanxicô giả bắt chƣớc giọng của con chiên, con lừa kêu “Bethlélem! Bethélem!!!‟‟, tức

thì ngƣời ta liền thấy Hài nhi Giêsu đang ngủ trong hang đá chợt thức giấc và nhoẻn miệng cƣời. Kể từ máng cỏ đầu tiên tại Greccio, sau đó hàng năm, tại các giáo xứ và nhà nhà khắp nơi trên thế giới, ngƣời ta bắt đầu làm Hang đá với cây thông để mừng lễ Chúa Giáng sinh.

trẻ sẽ lớn lên thế nào? Nó sẽ sống ra sao trong một thế giới thiếu tình ngƣời, ích kỷ, hận thù, ghen ghét?.... Tuy băn khoăn lo lắng, nhƣng Mẹ không bao giờ thất vọng trƣớc tình thƣơng quan phòng của Thiên Chúa. Mẹ hoàn toàn tín thác tất cả cho Đấng đã tin tƣởng Mẹ. 3) Thánh Giuse Thánh Giuse thƣờng mang một chiếc áo choàng rộng, tƣợng trƣng cho sứ mệnh cao cả nhƣng đầy khó khăn mà Thiên Chúa Cha đã giao phó cho thánh nhân: Đó là sứ vụ bảo vệ Con Một của Ngƣời là Chúa Giêsu, Đấng Cứu độ nhân loại và Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Ngƣời. Chiếc đèn thắp sáng mà thánh Giuse cầm trong tay nói lên sứ mạng chăm sóc và gìn giữ Hài Đồng Giêsu. Tƣợng thánh Giuse đƣợc đặt đứng ở phía bên tay phải, bên cạnh các con bò đang chiêm ngắm Chúa Hài Đồng với vẻ mặt vui sƣớng và tin tƣởng. 4) Các Thiên Thần Vào đêm Chúa giáng sinh trong hang chiên lừa xa xôi hẻo lánh, thiếu bóng ngƣời qua lại thăm viếng, nhƣng ca đoàn các Thiên Thần từ trời cao xuất hiện thờ lạy và ca hát mừng Chúa Hài Đồng với những điệu nhạc du dƣơng huyền diệu: «Gloria in excelsis Deo», “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Chính các Thiên Thần là những vị đi báo tin cho các mục đồng đang ngủ ngoài đồng một tin vui: “Hôm nay, Đấng cứu độ đã sinh ra cho loài ngƣời”. 16

II. Ý nghĩa của các hình tƣợng Về các tƣợng đƣợc trƣng bày trong Hang đá, mỗi tƣợng đều có một ý nghĩa tƣợng trƣng riêng biệt:
1) Chúa Hài Đồng Là tƣợng nhỏ nhất trong Hang đá. Tuy là tƣợng nhỏ nhất nhƣng lại là trung tâm của Hang đá, đƣợc đặt trong một cái máng ăn của loài vật lót đầy cỏ khô. Chúa Hài Đồng đƣợc quấn bằng một chiếc khăn màu trắng. Chiếc máng ăn của chiên bò và nắm cỏ khô lót trên đó tƣợng trƣng cho sự nghèo hèn tột độ của Chúa. Ngài nghèo đến độ chẳng có gì là tài sản của mình. Còn chiếc khăn trắng quấn Chúa Hài Nhi Giêsu là dấu hiệu báo trƣớc chiếc khăn sẽ liệm xác Ngài sau khi Ngài chết trên núi sọ vì tội lỗi của nhân loại. 2) Mẹ Maria Từ năm 1400, tƣợng Mẹ Maria mới đƣợc trƣng bày trong Hang đá nhƣ một ngƣời đang chìm sâu trong sự thờ lạy, yêu mến và suy ngắm mầu nhiệm Giáng sinh của Chúa Cứu Thế. Tuy vậy, khuôn mặt của Mẹ Maria cũng không thiếu những băn khoăn, những lo âu nhƣ của bao ngƣời mẹ khác khi sinh đứa con đầu lòng cùng với những vui buồn lẫn lộn. Nhƣ suy nghĩ về con

5) Các Mục đồng Các mục đồng với nét mặt vô cùng vui mừng và ngạc nhiên chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu mới sinh đặt nằm trong máng cỏ. Họ biểu tƣợng cho từng lớp ngƣời nghèo mà Thiên Chúa đặc biệt quan tâm ƣu ái. Họ cũng là đối tƣợng đƣợc Chúa Cứu Thế yêu thƣơng, bảo vệ và đề cao, vì họ sẽ đƣợc “Nƣớc Trời là của họ”. Con Thiên Chúa đã muốn trở nên một trong những ngƣời bé nhỏ nhƣ họ, sinh ra trong cảnh nghèo hèn và khiêm tốn. Ngƣời còn tự đồng hóa với họ khi tuyên bố: «mỗi lần các ngƣơi làm nhƣ thế cho những kẻ bé mọn nhất của ta đây, là các ngƣơi đã làm cho chính Ta» (Mt 25,40). 6) Các con bò và lừa Các loài vật là «các bầy tôi» dễ thƣơng phục dịch cho Chúa Giêsu Hài Đồng ngay từ giờ phút đầu tiên khi Ngƣời cất tiếng chào đời. Những con bò tƣợng trƣng cho ngƣời Do-thái đang phải gồng mình dƣới sức nặng của luật pháp, nhƣng đồng thời cũng tƣợng trƣng cho sức mạnh và quyền lực. Còn những con lừa tƣợng trƣng cho dân ngoại mang thân phận loài vật chuyên chở trên mình bao gánh nặng tội lỗi, trong đó gánh nặng nề nhất là tội không nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Tối Cao duy nhất và là Tạo Hoá của muôn loài. Đồng thời những con lừa cũng tƣợng trƣng cho sự lao công và sự thờ tự. Sự hiện diện của những con bò và lừa trong Hang đá Bê-lem muốn diễn tả ý nghĩa: Đức Kitô đã gánh mọi tội lỗi nhân loại, và sau cùng Ngài hiến tế chính bản thân Ngài làm của lễ đền tội cho nhân loại.

7) Ba Vua Nghe tin Đấng Cứu Thế đã sinh ra, ba nhà đạo sĩ từ Phƣơng Đông đến để triều bái và dâng tiến Hài Nhi những lễ vật. Những nhân vật đó là: • Melchior : quì gối dâng lên Chúa vàng, tƣợng trƣng cho quyền lực và sự giàu sang. Ông là ngƣời Âu Châu. • Balthasar : đứng ôm trên tay bình đựng nhũ hƣơng, tƣợng trƣng của lễ hiến tế và sự cầu nguyện. Ông là ngƣời Á Châu. • Caspar : là vị đạo sĩ trẻ nhất, đứng sau hai vị kia và ôm trên tay bình đựng mộc dƣợc, tƣợng trƣng cho sự đau khổ và sự chết. Ông là ngƣời gốc Phi Châu với nƣớc da đen sậm.

Ngoài ra, còn có một vị vua thứ bốn tên là Artaban, ông là ngƣời ít đƣợc nhắc đến và đƣợc trƣng bày trong Hang đá, tƣợng trƣng bằng viên đá quý. 8) Các hình tượng khác Tuỳ theo quan niệm văn hóa và sở thích của mỗi nơi, mỗi miền mà ngƣời ta trƣng bày trong Hang đá những tƣợng khác nữa; mặc dù trên thực tế, những tƣợng đó không có chỗ đứng chính thức và quen thuộc trong Hang đá, nhƣng mỗi tƣợng cũng mang một ý nghĩa tƣợng trƣng, sâu sắc. Chẳng hạn, tƣợng bác nông phu đang cầm cày, tƣợng trƣng cảnh thiên nhiên chốn thiên đàng trong Đêm Giáng Sinh. Bác tiều phu, tƣợng trƣng cho ngƣời quản trị những mầu nhiệm nguyên

thuỷ của nhân loại, mà ngày nay trong thời đại kỹ thuật đã bị đào thải. Bác ngƣ phủ, tƣợng trƣng cho sự cứu thoát đã đƣợc thực hiện. Và sau cùng là các nhạc công, tƣợng trƣng cho sứ mệnh đi loan báo Tin Mừng cho mọi ngƣời. Nguyện xin Chúa Hài Đồng Giêsu, qua lời bầu cử của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, ban cho mỗi ngƣời chúng ta một Lễ Giáng Sinh AN BÌNH, đầy PHÚC LÀNH và trào tràn NIỀM VUI SÂU THẲM của Chúa Hài Đồng Giêsu trong Đêm Hồng Phúc.

Nt. Maria Phạm Thị Hoa Sưu tầm

Các Biểu Tƣợng và Ý Nghĩa Thiêng Liêng của Mùa Vọng
Mùa Vọng có nhiều biểu tƣợng. Tại Âu Châu có tập tục văn hóa, vào Mùa Vọng họ bện đan một vòng tròn bằng cành lá cây thông còn tƣơi xanh, chung quanh có bốn cây nến hoặc mầu trắng hoặc mầu đỏ hoặc mầu tím tùy nơi, dựng treo trên cung thánh hay tại phòng khách ở nhà riêng. Vòng hoa cũng nhƣ những ngọn nến có những ý nghĩa thiêng liêng. 1. Vòng Hoa Từ thời xa xƣa, vòng hoa tƣợng trƣng cho sự chiến thắng. Hình tròn của vòng hoa nhắc nhở cho biết về tình yêu thƣơng bất tận của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Những cành lá thông nhỏ đƣợc đan bện liền vào nhau nói lên ý nghĩa cùng chung hợp gắn bó lại làm nên một 17 vòng tròn. Ý tƣởng này gợi nhớ lời suy niệm của Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận:”Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đƣờng dài.Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.Chấm mỗi chấm cho đúng, đƣờng sẽ đẹp.Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.Đƣờng hy vọng do mỗi chấm hy vọng.Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng.” (Đƣờng Hy vọng số 978) 2. Màu Xanh của Vòng Hoa Vòng tròn bện bằng những cành lá thông màu xanh nói lên ý nghĩa sự sống và niềm hy vọng Thiên Chúa mang đến cho trần gian. Màu xanh lá cây chính là màu chỉ năm phụng vụ, diễn tả niềm hy vọng trong tình yêu Thiên Chúa dành cho con ngƣời. Quanh năm, những cành lá cây thông luôn xanh tƣơi. Những cành lá xanh tƣơi cùng đan kết lại

với nhau hình thành nên một vòng hoa với ý nghĩa: Thiên Chúa và Lời Mạc Khải không bao giờ thay đổi “Trời đất qua đi, nhƣng những Lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Lc 21, 33). 3. Các Ngọn Nến Có 4 cây nến thắp lên trong thời gian của Mùa Vọng. Mỗi cây nến tƣợng trƣng cho một ngàn năm suốt dài lịch sử đợi chờ Đấng Cứu Thế. Bốn Cây Nến Mùa Vọng loan báo sứ mạng của Chúa Giêsu xuống trần gian làm ngƣời ở giữa với loài ngƣời và cho con ngƣời. Cây nến màu tím đầu tiên đƣợc thắp sáng lên vào ngày Chúa Nhật I Mùa Vọng. Màu tím tƣợng trƣng cho thời gian chuẩn bị, ăn năn hối cải, tỉnh thức. Cây nến thứ nhất chiếu ánh sáng Hoà bình cho những tâm hồn có lòng khoan dung nhân ái. Cây nến màu tím thứ hai đƣợc thắp sáng lên vào Chúa Nhật II Mùa Vọng. Ánh sáng thêm lên, giống nhƣ lòng mong chờ dâng cao ngày Đấng Cứu Thế hạ sinh nơi lòng ngƣời. Cây nến thứ hai mang ánh sáng Niềm Tin cho những tâm hồn khao khát tìm về với Chúa là cội nguồn của đời sống. Chúa Nhật III Mùa Vọng, cây nến màu hồng đƣợc thắp sáng lên cùng với hai cây nến màu tím. Màu hồng tƣợng trƣng cho niềm vui hân hoan đợi chờ Chúa đến. Cây nến thứ ba chiếu toả hơi ấm Tình Yêu cho những tâm hồn tìm sống tình liên đới với ngƣời khác. Chúa Nhật IV Mùa Vọng. Cây nến thứ tƣ mang niềm Hy Vọng cho những tâm hồn cần niềm vui phấn khởi.

Cây nến màu trắng (thêm vào) đƣợc thắp sáng lên trong Ngày Giáng Sinh và trong suốt Mùa Giáng Sinh nhằm nhắc nhở cho chúng ta biết và ý thức hơn về ánh sáng vẹn toàn và nguyên thủy của Chúa Kitô.Trong tƣ cách là những ngƣời Kitô hữu, chúng ta đón nhận và đem ánh sáng đích thực của Chúa Kitô vào trong thế giới, để cùng sẽ chia những niềm vui và ơn phúc mà chúng ta đã lãnh nhận đƣợc từ chính Ngài. Mùa Vọng chính là mùa của Sự Đợi Chờ cùng với niềm Hy Vọng về Ánh Sáng của Chúa Kitô. Bốn cây nến đƣợc lần lƣợt thắp sáng trong bốn tuần lễ muốn nói lên ý nghĩa: Nứơc Thiên Chúa cũng triển nở lần lƣợt nhƣ bốn cây nến đƣợc thắp lên cho tới ngày lễ Chúa Giêsu giáng sinh, Đấng là ánh sáng trần gian. Ánh sáng bốn cây nến toả ra bốn phƣơng trời đất trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Cây nến là hình ảnh Chúa Giêsu, ánh sáng trần gian (Ga 8,12). Khi cây nến đƣợc đốt lên cũng cắt nghĩa về hình ảnh Chúa Giêsu. Chất sáp làm nên cây nến là hình ảnh thân xác con ngƣời của Chúa Giêsu. Thân xác con ngƣời đƣợc Thiên Chúa dựng nên có khởi đầu, có phát triển, có những yếu đuối bệnh tật giới hạn và sau cùng có ngày cùng tận. Chúa Giêsu xuống trần gian làm ngƣời, sống cuộc sống hy sinh của con ngƣời nhƣ chất sáp bị cháy hao mòn thiêu huỷ. Còn ngọn lửa đốt sáng cây nến là hình ảnh bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Thiên Chúa và cũng là ngƣời, nên ngài có hai bản tính: Thiên Chúa và con ngƣời. Ngọn lửa đốt cháy chất sáp và tỏa ra ánh sáng hơi ấm tình yêu cho mọi ngƣời.

Mc 1:3 Hãy dọn sẵn con đƣờng của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngƣời đi. Cầu nguyện: Xin Chúa giúp loại bỏ những con đƣờng cong queo, ghồ ghề không ngay chính trong cuộc sống.
18

ĐÊM GIAO HÕA

còn lạnh cóng vì hừng đông đã ló dạng. Maria lại gần bên máng cỏ xem bà lão đã để lại vật gì. Maria vô cùng ngạc nhiên và kêu lên: - Ôi, một quả táo vàng. Bà lão ấy là hình ảnh tƣợng trƣng cho Evà, đã trao lại cho Hài nhi Giêsu quả táo của tội lỗi đầu tiên. Và giờ đây, Hài nhi Giêsu đang cầm trên tay nhƣ cầm một trái cầu nhỏ, cho một thế giới mới xuất hiện. Bà lão ấy còn là hình ảnh tƣợng trƣng cho toàn thể nhân loại chúng ta. Thực vậy, tội nguyên tổ đã ảnh hƣởng trên chúng ta, khiến chúng ta phải cúi đầu lãnh nhận bản án của đau khổ và chết chóc. Tội nguyên tổ là nhƣ chiếc móc xích đầu tiên, kéo theo tội lỗi của toàn thể nhân loại: Từ tội của Cain, tội của ngọn tháp Babel cho đến tội của mỗi ngƣời chúng ta, đã làm cho sợi dây xích ấy kéo dài ra tƣởng nhƣ vô tận, biến con ngƣời trở thành thù địch với Thiên Chúa và với nhau. Tội nguyên tổ là nhƣ một trái phá, đã giật sập cây cầu cảm thông, nối liền trời với đất, nối liền Thiên Chúa với nhân loại. Một khi cây cầu đã gẫy đổ, thì chỉ còn là vực thẳm ngăn cách, tự sức riêng, con ngƣời không thể nào vƣợt qua để tìm về gặp gỡ. Một khi cây cầu đã gẫy đổ, thì chỉ còn là giông tố và xáo trộn, tự sức riêng, con ngƣời không thể đem lại một nền hòa bình và ổn định. Một khi cây cầu đã gẫy đổ, thì chỉ còn là thất vọng và đắng cay, tự sức riêng, con ngƣời không thể thắp lên cho mình niềm hy vọng giải thoát và cứu độ. Con ngƣời sinh ra là để kéo lê một kiếp sống đọa đày và sẽ kết thúc bằng cái chết. Thế nhƣng, Thiên Chúa đã lên đƣờng tìm kiếm. Và đêm hôm nay, 19

bàn tay Ngài đã nắm chặt lấy bàn tay nhân loại, cho tình yêu mở hội đâm bông và kéo chúng ta khỏi hố sâu tội lỗi, khỏi vực thẳm diệt vong. Ngôi Lời đã nhập thể. Thiên Chúa đã ở cùng chúng ta. Hài nhi Giêsu đã hòa giải nhân loại với Thiên Chúa, đã nối lại nhịp cầu cảm thông giữa trời và đất, đã thắp lên cho chúng ta niềm hy vọng. Hài nhi Giêsu là Adong mới, đã gánh lấy tội lỗi chúng ta, nhờ đó chúng ta đƣợc tha thứ, đƣợc thoát khỏi bản án của tử thần. Hài nhi Giêsu đã chiến thắng sự chết, để con ngƣời phải chết của chúng ta đƣợc sống muôn đời. Hài nhi Giêsu đã đem lại cho chúng ta nguồn sống mới, khiến chúng ta lấy lại đƣợc vẻ đẹp nguyên thủy, chƣa từng bị hoen ố bởi tội lỗi, để từ nay chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Hài nhi Giêsu đã mở đầu cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của vui mừng và hy vọng, kỷ nguyên của ơn sủng và tình thƣơng. Hài nhi Giêsu là một nhà cách mạng chuyên chính nhất, bởi vì Ngài đã xóa sạch mọi dấu vết của tội lỗi, đã khai sinh một triều đại mới trong công bằng và tự do, cũng nhƣ đã xây dựng một con ngƣời mới trong yêu thƣơng và tôn trọng lẫn nhau. Mặt đất này không còn là hoang mạc cằn cỗi, nhƣng đã trở thành thửa vƣờn xanh tƣơi của Thiên Chúa. Xã hội này không còn là một địa ngục, trong đó ngƣời với ngƣời là nhƣ chó sói của nhau, nhƣng đã thực sự trở nên một thiên đàng vì có Thiên Chúa ở cùng. Hãy cảm tạ tình thƣơng tuyệt vời của Thiên Chúa, đồng thời hãy cộng tác với Ngài trong việc biến đổi bộ mặt thế giới, để mỗi ngày một trở nên tốt đẹp hơn.

Có một chuyện ngắn, mang tựa đề là “Ngƣời khách cuối cùng”, tôi xin đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Thôn ấp Bêlem còn chìm trong bóng tối. Hài nhi Giêsu còn thiếp ngủ trong máng cỏ. Bỗng cửa chuồng bò mở ra. Một bà lão xuất hiện. Thân hình gầy guộc. Nƣớc da nhăn nheo. Áo quần rách rƣới. Maria nhìn bà lão bằng cặp mắt canh chừng, lo âu và thoáng một chút sợ hãi. Bà lão tiến lên, tiến lên nữa, đến tận máng cỏ. Rất may là Hài nhi Giêsu vẫn còn ngủ yên. Nhƣng rồi bất ngờ, đôi mắt Hài nhi Giêsu khẽ mở và nhìn bà lão. Maria càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy cặp mắt của bà lão giống hệt cặp mắt của Hài nhi Giêsu, vì cả hai cùng sáng lên một tia hy vọng. Bà lão nghiêng mình trên máng cỏ. Bàn tay thọc sâu vào trong túi. Dƣờng nhƣ bà lão lấy ra một vật gì đó, rồi đặt xuống bên cạnh Hài nhi Giêsu. Maria thắc mắc không hiểu là vật gì. Yên lặng một lúc, bà lão đứng lên và cất bƣớc. Nhƣ có một sức mạnh thần bí thúc đảy, bà lão bƣớc đi nhanh nhẹn. Lƣng không còn còng xuống và nét mặt lấy lại đƣợc vẻ tƣơi trẻ. Bà lão mất hút trên khoảng đồi xa xa. Bấy giờ, ngọn gió không

QUÀ GIÁNG SINH CHO CON
Sắp đến lễ Giáng sinh rồi mà trong văn phòng ông Giám đốc một xí nghiệp còn chồng chất bao nhiêu công việc. Hầu nhƣ ngày nào cô thƣ ký cũng phải làm thêm giờ phụ trội. Thấy ông Giám đốc lính quýnh nhìn đồng hồ rồi nhìn lịch treo tƣờng, cô thƣ ký hỏi: - Thƣa ông, còn phải làm việc gì nữa không? Ông đáp: - Chúng ta phải ra về thôi, muộn rồi, cũng chẳng làm thêm đƣợc việc gì nữa. Cô thƣ ký mỉm cƣời nói: - Thật ra, còn một việc nữa cần phải làm sớm, đó là mua quà cho con gái cƣng của ông. Ông đừng quên là chỉ còn hai hôm nữa là tới lễ Giáng sinh rồi đó. Ông Giám đốc giơ hai tay ôm đầu nói: - Thật may là cô nhắc, suýt nữa tôi quên mất. Ngày nào cũng bao nhiêu công việc dồn dập. Có lẽ con bé sẽ giận tôi lắm. Mỗi buổi tối khi tôi về đến nhà thì nó đã ngủ say. Ít khi tôi có thì giờ nói chuyện hoặc chơi với con gái tôi, nhƣng ít là dịp lễ Giáng sinh tôi muốn tặng nó một món quà thật đẹp mà nó ƣa thích. Nhƣng tôi cũng không có thì giờ đi mua cho nó. Hay là cô mua dùm tôi nhé ? Cô đọc dùm tôi lá thƣ nó gởi cho tôi xem nó muốn gì, tốn kém bao nhiêu cũng đƣợc, nó thích gì cô cứ mua cho nó. Cô thƣ ký mở tờ giấy hồng mà cô bé nguệch ngoạc mấy hàng chữ. Cô đọc qua rồi mỉm cƣời lắc đầu với ông Giám đốc. Ông Giám đốc ngạc nhiên hỏi: - Có điều gì khó khăn đến nỗi không thể làm vui lòng một đứa trẻ 8 tuổi, nó muốn gì vậy? Cô đƣa lá thƣ cho tôi xem. Cô thƣ ký trao cho ông Giám đốc lá thƣ với mấy hàng chữ của con gái cƣng nhƣ sau: Ba yêu dấu của con, Con chỉ xin Ba cho con một món quà Giáng sinh này, là bắt đầu từ năm mới mỗi ngày, Ba dành ra nửa tiếng đồng hồ để chơi với con, con không xin gì thêm nữa đâu. Con cƣng của Ba Ký tên Mến thƣơng *** Giáng Sinh là lễ của Tình yêu. Không phải là lễ của những món quà vật chất, đắt tiền nhƣng không gói ghém đƣợc tình yêu thƣơng. Sống trong thế giới hƣởng thụ, ngƣời ta chỉ nghĩ đến vật chất. Món quà càng đắt tiền thì càng có giá trị. Nhƣng thật ra chỉ có quà tặng thắm đƣợm tình thƣơng mới có giá trị lớn nhất. Paul Claudel có nói: "Quà tặng phải đƣa vào tận con tim, chứ không phải chỉ trên đôi tay." Thánh Phalo cũng nhắc nhở: "Anh em chớ mắc nợ nhau điều gì, ngoài tình thƣơng mến". Vì thế quà tặng chỉ có ý nghĩa và có giá trị khi nó nói lên tình cảm sâu sắc, sự quan tâm tế nhị, lòng yêu mến chân thành. Do đó, tặng quà không có nghĩa là cho đi của cải dƣ thừ, mà chính là trao tặng chính bản thân mình. Bà góa dâng cúng trong đền 20 thờ hẳn phải là tấm gƣơng để chúng ta noi theo. Dù chỉ bỏ vào thùng tiền 2 đồng xu nhỏ, nhƣng Chúa Giêsu đã khen ngợi: "Bà đã cho nhiều nhất, vì bà đã cho chính một phần sự sống của mình". Có thể nói, quà tặng đƣợc coi là quí giá nhất phải là quà tặng dốc cạn túi. Trao ban đích thực chính là trao ban thì giờ, trao ban sự tôn trọng, trao ban lòng quí mến, trao ban sự thứ tha. Đó là quà tặng cao quí nhất mà mọi ngƣời đang chờ đợi nơi chúng ta. Trong mầu nhiệm Giáng Sinh, qua Con Một yêu dấu, Thiên Chúa muốn trao ban chính Ngài cho loài ngƣời. Ngài không chỉ hài lòng với món quà vật chất mà Ngài đã ban tặng nhƣ vũ trụ bao la với muôn vàn phúc lộc trong đó, nhƣng Ngài đã đích thân ở giữa nhân loại để chia sẻ cuộc sống con ngƣời. Chúa Giêsu là hiện thân rõ nét và sống động nhất của tình thƣơng vô biên và lòng ƣu ái của Thiên Chúa đối với con ngƣời. Đức Chúa Giêsu là quà tặng quí giá nhất mà Thiên Chúa Cha đã trao ban cho loài ngƣời. Lạy Chúa, xin cho những nghĩa cử con làm cho anh em luôn đƣợc đi kèm với lòng yêu thƣơng chân thành. Xin cho con cảm thấy mình đƣợc lớn lên trong tình yêu Chúa mỗi khi con thực thi một nghĩa cử yêu thƣơng nào đó cho anh em con. Lạy Chúa Hài Đồng, Chúa đã trao ban trọn vẹn cho nhân loại chúng con. Xin cho con luôn ý thức rằng sống đích thực là sống trọn vẹn cho tha nhân. Amen!

BỨC THƢ NGỎ THIÊN CHÚA GỬI CHO LOÀI NGƢỜI
Tác giả:: Gabrielle Adani - Chuyển ngữ: Hoàng Minh Thắng

Các thụ tạo của ta ơi. Kể từ khi tạo dựng nên chúng con, Ta đã là một, ngƣời cha bị phần đông con cái mình quên lãng. Nhƣng Thiên Chúa của chúng con là tình yêu thƣơng, nên không thể nào lại chịu nhận cảnh không đƣợc thƣơng mến đó. Ta đã tạo dựng nên chúng con cho chính Ta, và chúng con sẽ không bao giờ đƣợc hạnh phúc nếu không có Ta. Chúng con không muốn hiểu điều đó. Nhƣng Ta biết chƣơng trình dành để cho mỗi một ngƣời trong chúng con, một chƣơng trình mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể tạo nên cho chúng con mà thôi. Chƣơng trình đó đã bắt đầu bằng sự kiện mỗi một ngƣời trong chúng con đƣợc sinh ra từ trong lòng một ngƣời mẹ, có bổn phận tiếp tục công trình tạo dựng của Ta. Khi chúng con đƣợc mẹ sinh ra trên trái đất, Ta đã sắp đặt để chúng con phát triển sự nhậy cảm, và hình ảnh Ta đặt để trong chúng con, cùng một lần với thân xác của mình. Hình ảnh đó là linh hồn, là

tinh thần , là trí thông minh, tình yêu thƣơng, sự tự do và ý chí. Những ơn đó Ta đã chỉ trao ban cho chúng con mà thôi, chứ không trao ban cho một sinh vật nào khác trên trái đất này. Đó là những ơn rất cao cả. Nhƣng rất nhiều ngƣời không biết ý thức điều ấy, mà lại lầm lẫn chiêm ngƣỡng chính mình, và tƣởng rằng mình có thể tự lực tự cƣờng, không cần đến ai và không phải nhờ ai cả. Chính vì thế nên chúng con sống cô đơn, lẻ loi, yêu sách, tƣởng mình là thần thánh, coi trái đất này là tổ ấm và là đích điểm vận mệnh cuộc sống. Tuy nhiên Ta không rời xa chúng con, dù chỉ là một giây đi nữa. Ta nhìm ngắm chúng con ngày đêm. Ta yêu thƣơng và chuyện vãn với chúng con. Mọi loài mọi vật đều nghe thấy tiếng nói của Ta: đại dƣơng, sông hồ, suối lạch, cỏ cây, thú vãt, và tất cả đều vâng lời Ta, sống theo luật lệ của Ta. Chúng con, trái lại, gỉa điếc làm ngơ, và không nghe theo tiếng lƣơng tâm thôi thúc, không chú ý đến cái đói khát của tâm lòng. Từ mấy ngàn năm nay. Ta đã gởi nhiều ngƣời đến nhắc nhở cho chúng con biết tình yêu thƣơng của Ta, bằng những tiếng nói rõ ràng, dễ hiểu vang vọng bên tai chúng con. Họ đã thắp lên ánh sáng soi đƣờng cho chúng con bƣớc đi trong an bình. Hình nhƣ chúng con ngạc nhiên, không tin đƣợc rằng Thiên Chúa lại có thể để ý chăm sóc chúng con nhƣ vậy, không tin đƣợc rằng chính Thiên Chúa yêu thƣơng, gần gủi chúng con và muốn chúng con là con cái trong gia đình bất tử 21

của Ngài, Chúng con khó mà tin đƣợc rằng Thiên Chúa tha thứ cho chúng con những lỗi lầm, những nhẹ dạ, sai quấy, mỗi khi chúng con cần đến, miễn với một điều kiện duy nhất là chúng con bầy tỏ một chút tình yêu thôi. Xem ra qúa dễ dàng chăng ? Chúng con nghĩ rằng Ta qúa tốt lành ƣ ? Nhƣng Ta chính là TÌNH YÊU, và mọi sự trên đây chỉ là kết qủa của tình yêu đó. Ngay từ khi dòng giống nhân loại khai nguyên - khi vì kiêu căng, lạm dụng ơn tự do Ta đã trao ban cho chúng con, chúng con phản loạn chống lại Ta, và vì đó thú vật cũng nhƣ thiên nhiên nổi loạn chống lại chúng con - thì Ta đã có chƣơng trình đến sống giữa chúng con trên trần gian này rồi. Ta đã đến trong đêm khuya, trong thinh lặng và nghèo nàn, để không phải làm cho chúng con mù mắt vì quyền năng và vinh quang của Ta, để sống gần gủi với những ngƣời rốt hèn nhất trong chúng con, Ta đã làm ngƣời nhƣ chúng con. Nhƣng chúng con đã không hiểu biết Ta, và cũng chẳng nghe theo Ta nữa. Cùng với mẹ, Ta đã phải sang lánh nạn bên Ai Cập, rồi trở về trú ngụ tại Na-gia-rét. Ta đã sống ở đó nhƣ mọi trẻ em và nhƣ mọi thanh thiếu niên khác, không ai có thể tƣởng tƣợng đƣợc những lần xuất thần giữa mẹ ta và Thiên Chúa, trong sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa, trong căn nhà đá bé nhỏ tại làng Na-gia-rét xƣa kia. Thế rồi đến giờ Ta bắt đầu cuộc sống công khai giữa mọi ngƣời,

mọi giới, nam nữ, gìa trẻ lớn bé, ngƣời ốm yếu, kẻ tật nguyền. Ta đã rong ruổi trên khắp mọi nẻo đƣờng đất Palestin. Dân chúng thay đổi thái độ nhƣ chong chóng,. Lời nói và quyền Con Ngƣời Thiên Chúa của Ta làm cho họ hăng say và bực tức. Khi thì họ phấn khởi cuồng nhiệt, lúc lại thờ ơ dửng dƣng. Khi thì họ chỉ trích Ta không tiếc lời, lúc khác lại thù ghét Ta, tùy theo mức độ mỗi ngƣời cột buộc con tim và tâm lòng mình ít nhiều vào các chuyện trần tục. Trong ba mƣơi năm trời, Ta đã luôn luôn tôn trọng sự tự do của chúng con, và tìm đem tình yêu thƣơng, cũng nhƣ ánh sáng đến cho con tim loài ngƣời. Ta đã nhắc nhở cho con ngƣời biết đến vận mệnh của mình, và chú ý đến cuộc đối thoại thân tình với Cha trên trrời. Thế rồi để minh chứng cho thấy tình yêu thƣơng vô tận của Ta, Ta đã để thân xác ta chịu đựng đau đớn, cô đơn và chịu chết, khi Ta cảm thấy bản chất nhân loại của Ta cô đơn và bị bỏ rơi trong vƣờn Cây Dầu, Ta đã chảy mồ hôi pha lẫn máu, rất nhiều máu. Ta chịu đựng điều đó vì con. Cái khổ đau nặng nề và liên tục nhất của con phát xuất từ sự trống rỗng và cô đơn, vì thế nên Ta muốn gần gủi con. Nếu con muốn, nếu con chấp nhận Ta, con sẽ không bao giờ lè loi cô đơn cả. Lịch sử cuộc đời Ta, con đã biết rồi. Hãy đọc sách tin Mừng đƣợc viết cho các tín hữu dƣới sự linh ứng của Ta. Các tín hữu thời đó đã là những ngƣời chứng kiến mọi sự. Nếu con muốn nhìn ngắm Ta, hãy cầm lấy một cây thập gía, Con Ngƣời đang hấp hối trên ấy chính là Ta. Khi đã trao ban tất cả bản tính nhân loại của mình, khi đã hoàn tất và đổ cho đến giọt máu và

giọt nƣớc cuối cùng trong cơ thể, sau khi đã trao ban cả mẹ của Ta cho con, Ta đã chấp nhận chết cho con. Giờ đây hãy nói cho Ta biết, còn có gì có thể làm đƣợc mà Ta đã không làm cho con ? Để con khỏi phải ghen tƣơng với những anh chị em đã sống cạnh Ta trên trái đất này, Ta đã thật sự ở lại bên cạnh chúng con, giữa chúng con nhƣ ngày xƣa, nhƣng ẩn dấu dƣới hình bánh rƣợu. Ta đã chọn bánh rƣợu, bởi vì đó là lƣơng thực mọi ngƣời đều có thể tìm đƣợc, nhƣng đặc biệt bởi vì nhƣ vậy, mọi ngƣời đều có thể ăn và uống đƣợc. Ta đã làm nhƣ thế để hợp nhất với con, để sống với con trên trần gian này, nếu con tự do chấp nhận Ta. Ngày đêm Ta chờ đợi con đến tìm Ta. Ta chờ đợi con chứng minh cho thấy ít nhất một chút chú ý, một chút cần thiết, một chút tình yêu thƣơng của con đối với Ta. Con cho rằng cả điều này nữa cũng qúa dễ dàng, và không thể nào tin đƣợc hay sao ? Hãy suy nghĩ kỹ đi ! Đó là luật lệ của tình yêu thƣơng. Và con hãy nhớ rằng tình yêu thƣơng của Ta đối với con thì vô tận. Chẳng lẽ Ta sẽ phải luôn luôn tìm kiếm chúng con, mà không đƣợc một lần chúng con kiếm tìm hay sao? Từ mấy ngàn năm nay, từ thời tiên tổ chúng con, lời cầu nguyện thầm lặng, nhƣng chói chang, đầy sức sống của Ta đã rơi xuống trên nỗi thất vọng hoang vắng của chúng con, đến nỗi đã biến Ta trở thành tiếng kêu la của ngƣời bị chúc dữ. Lời cầu nguyện ấy của Ta trở thành niềm hy vọng tỉnh thức chờ đợi bên cạnh chúng con, đang mệt mỏi, âu lo trong nhịp thở gẫy gập, đứt quãng, xen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào đau thƣơng. Từ hàng 22

ngàn năm nay, thế giới, vạn vật, sự sống và cả cái chết nữa, cũng đều nói về Ta trên dòng sông sốt bỏng của sự sống đích thực. Những trẻ em vô tội bị nghiền nát trên ngực, trên những tình yêu thƣơng tắt ngấm chết lịm của chúng con, lập lại lời cầu đó của Ta.

Nếu không có tình yêu thƣơng của Ta mỗi ngày khiến cho bầu trời xanh và mây trời hạ thấp, nếu mặt trời không nở hoa ánh sáng nữa, thì giờ đây trái đất của chúng con đã trở thành một chiếc đầu lâu bị lũ giòi bọ không bao giờ đƣợc thỏa mãn gặm nhấm từ lâu rồi, lũ giòi bọ gồm các sinh vật không hề biết ngƣớc mắt lên nhìn trời cao đó. Chúng con không muốn nhận biết Ta, thì Ta cũng không rên siết trong những hệ thống kẽm gai của các hầm trú ẩn, Ta cũng sẽ không than phiền về miếng bánh thừa khô cứng trong chiếc bị của ngƣời ăn mày, về bàn tay đang băng bó các vết thƣơng dơ bẩn… Các con ơi, các con đang sống trong cạm bẩy, trong đêm đen. Các con đang trốn chạy tình yêu thƣơng chờ mong mỏi mòn của Thiên Chúa. Các con đang khổ đau, cả khi sống trong những niềm vui, đang mệt mỏi, cả khi ngủ nghỉ. Các con đang lầm đƣờng lạc lối và làm mồi cho hiểm nguy. Các con đang khinh thƣờng lòng tha thứ dễ dàng của Ta, đang rối loạn giữa những khuôn mặt không đƣờng nét, lạnh lùng, trơ cứng nhƣ đá cuội. Các con, những sinh vật dòn mỏng yếu đuối, hay đổi thay vô ích ơi, hãy nhìn xem, và hãy lắng nghe bƣớc chân của một Vì Thiên Chúa sống kiếp ăm mày giữa thế giới sự vật nghèo hèn này của các con !

Chân dung và gƣơng linh mục Việt Nam: ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
(tiếp theo kỳ trướ, và kết thúc) B. Đức Vâng Lời. Ngày 24.04.1975, Cha đƣợc Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sàigòn với quyền kế vị. Thƣa Cha, Cha quyết định đi vào Sàigòn, noi gƣơng Đức Kitô đã phải đi Giêrusalem, dù Cha có thể tiên đoán những gì mình sẽ phải gặp tại đó nhƣ Cha viết trong „NĂM CHIẾC BÁNH VÀ HAI CON CÁ‟: “Giờ đây, tôi phải đi vào Sàigòn lập tức, theo lệnh Đức Phaolô VI bổ nhiệm… Đêm ấy 07.05.1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt Giáo phận Nha trang, tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc thổn thức trong tám năm ở Nha Trang - vì thương nhớ. Nhưng tâm hồn tôi rất bình an, vì tôi vâng lời Đức Thánh Cha. Tiếp đến là gian khổ, thử thách tại Sàigòn…” Từ ngày 08.05.1975, nhóm 14 Linh mục do Trƣơng bá Cần và Huỳnh công Minh đứng đầu đã gởi một kiến nghị đến Đức Tổng Giám mục Nguyễn văn Bình bày tỏ mối quan tâm lo ngại về việc thuyên chuyển Cha về Sài-gòn trong tình thế hiện nay sẽ không thuận lợi cho Giáo hội tại Việt-Nam. Trong phiên họp ngày 27.06.1975, tại Dinh Độc lập, kéo dài từ 15 đến 19 giờ, Cha đã đối diện với ba Cán bộ cao cấp của Ủy Ban Quân Quản cùng các Linh mục và giáo dân tự nhận là „Công giáo yêu nƣớc‟. Đối với Chính quyền Cộng sản, sự thuyên chuyển độ một tuần trƣớc khi họ tiếp thu Sàigòn vào ngày 30.04.1975, là bằng cớ âm mƣu giữa Vatican và các Đế Quốc. Để trả lời sự cáo buộc đó, Cha chỉ xác nhận sự vâng lời của Cha đối với Bài Sai của Đức Thánh Cha. Cha cũng bác bỏ lời cáo gian có âm mƣu nói trên. Chiều 15.08.1975, Ủy Ban Quân Quản mở cuộc họp tại Nhà hát Thành phố để cáo buộc „sau lƣng‟ Cha. Khoảng 350 giáo sĩ, tu sĩ đƣợc mời buộc nghe. Ủy Ban muốn ngừa tránh mọi phản ứng của ngƣời dân đối với vụ bắt Cha. 23 Trƣớc đó, Đức Tổng Giám mục Nguyễn văn Bình và Cha đƣợc đƣa đến Dinh Độc Lập lúc 14 giờ. Tại đó, Đức cha Bình bị đƣa vào một căn phòng khác với Cha. Sau đó, Cha bị bắt và đem đi trên một xe hơi có hai công an đi kèm và cuộc phiêu lƣu của Cha bắt đầu… Trong cuộc hành trình, Cha biết mình đang mất tất cả. Cha ra đi với chiếc áo chùng thâm trong túi có một cỗ tràng hạt. Cha chỉ còn biết phó thác cho Chúa Quan Phòng. Nhƣng giữa bao lo âu ấy, Cha vẫn thấy có một niềm vui lớn: „Hôm nay là lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời...‟ và Chúa yêu cầu Cha hãy trở về với điều cốt yếu. Trên đƣờng dài 450 cây số, không có một ai. Cha thực sự bị bỏ rơi. Cha đã bị giam giữ nhiều nơi khác nhau, trong đó, có 9 năm bị biệt giam, cho đến ngày 23.11.1988, Cha đƣợc trả tự do nhƣng vẫn bị quản chế tại Hà Nội. HÀNH TRÌNH HY VỌNG PHÚ Từ Nha phận, vâng lời: nhận bài sai Tòa Thánh, Đến Sài thành, tân nhiệm: Tổng Giám Mục kế quyền. Ba mƣơi tháng tƣ - cơ trời vận nƣớc. Một chín bảy lăm – ngừng cuộc đao binh. Thay cờ đổi chủ, Quốc pháp gia hình. Năm đinh mão chính ngày Mông Triệu! Tiết trời thu đến khắc nộp mình? Không bản án thế gian, mà cùm gông ngục thất? Chẳng văn bài cáo trạng, sao xiềng xích xà lim? Không bị gậy hành trang, không áo xống! Chẳng bạc tiền lƣơng thực, chẳng thông tin. Nơi lao lý rực tràn ân cứu độ. Chốn đọa đày cháy bỏng lửa thần linh. Một giọt nƣớc hòa chung ba giọt rƣợu! Hai bàn tay dâng tiến lễ hy sinh. ... (Trích thơ Bùi Nghiệp) C. Linh mục nuôi Dân Chúa bằng Mình Thánh Đức Kitô. Qua Bí tích Truyền Chức Thánh, Thiên Chúa trao cho Linh mục đặc ân “xin Chúa Thánh Thần đoái thương

thánh hóa những của lễ này, để trở nên Mình và Máu Thánh Đức Kitô, Chúa chúng tôi… Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con… Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì này là Chén Máu Thầy, Máu Giao Ước mới và vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội.” và Linh mục vâng lời Thầy Chí Thánh dạy “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Chúa Quan phòng đã hƣớng dẫn Cha chọn thâm cứu và viết luận án Tiến sĩ về „Tuyên úy Quân đội‟ và đã từng là Tuyên úy Lao xá Thừa Thiên, Cha có những kinh nghiệm để trở thành Tuyên úy trại giam các tù nhân không bản án. Cha thấu biết mọi ngƣời Công giáo cần Mình Đức Kitô để sống trong những ngày đen tối nhƣ Cha kể: “Trong Thánh Thể, chúng tôi loan truyền sự chết của Chúa Giêsu và tuyên xƣng sự sống lại của Ngài. Có lúc buồn nản vô cùng, tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên Thánh giá: Ngài không giảng dạy, thăm viếng, chữa lành bệnh tật; Ngài hoàn toàn bất động. Đối với con mắt loài ngƣời, cuộc đời Chúa Giêsu là vô ích, là thất bại. Nhƣng đối với đôi mắt Thiên Chúa, chính giây phút ấy lại là giây phút quan trọng nhất của đời Ngài, vì trên Thánh giá Ngài đã đổ máu mình để cứu chuộc nhân loại. Chúa Giêsu là mẫu gƣơng của tình yêu tuyệt đối với Đức Chúa Cha và các linh hồn. Ngài đã cho tất cả, yêu thương đến cùng (Ga 13, 1), cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng và nói lên tiếng „hoàn tất‟ (Ga 19, 30).” Nhƣng làm sao để Thánh Thể hiện diện trong nhà tù? Cha đã kể cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và các Giáo sĩ và nhân viên Giáo Triều Rôma nhân dịp giảng tĩnh tâm Mùa Chay năm 2000: “… Tôi không bao giờ có thể diễn tả hết hết niềm vui lớn lao của tôi: mỗi ngày, với ba giọt rƣợu và một giọt nƣớc trên lòng bàn tay, tôi cử hành Thánh Lễ. Và đó cũng là bàn thờ, là nhà thờ chính tòa của tôi ! Đó là liều thuốc đích thực cho linh hồn và thân xác tôi: „thuốc trƣờng sinh bất tử, thuốc giải độc để khỏi chết, nhƣng luôn đƣợc sống trong Chúa Giêsu‟, nhƣ Thánh Ignatio thành Antiokia đã nói. Mỗi lần nhƣ thế tôi đƣợc dịp giang tay và đóng đinh mình vào thập giá với Chúa Giêsu và cùng Ngài uống chén đau khổ nhất. Mỗi ngày, khi đọc lời truyền phép, với tất cả tâm hồn, tôi làm lại một giao ƣớc mới, giao ƣớc vĩnh cửu giữa tôi và Chúa Giêsu, hòa lẫn Máu Ngài với máu của tôi. Đó là những Thánh Lễ đẹp nhất trong đời tôi ! 24

Tuy nhiên cách dâng lễ mỗi nơi mỗi khác. Dƣới hầm tàu thủy chở tôi ra miền Bắc, ban đêm tôi ngồi giữa mấy bạn tù, bàn thờ là túi cói đựng đồ, dâng lễ thánh Phanxicô quan thầy của tôi và cho các bạn chịu lễ. Lúc ở trại Vĩnh Quang, tôi phải dâng lễ trong góc cửa ban sáng lúc ngƣời ta đi tắm sau giờ thể dục. Lúc đã quen với thời khóa biểu của trại, tôi dâng lễ ban đêm, vì chúng tôi đƣợc chia thành từng đội 50 ngƣời, ngủ chung trên một láng gỗ, mỗi ngƣời đƣợc 50 cm, đầu đụng nhau, chân quay ra ngoài. Chúng tôi đã thu xếp để năm anh em Công giáo nằm quanh tôi. Đến 9 giờ rƣỡi đêm, nghe tiếng kẻng là tắt đèn và mọi ngƣơi phải nằm trong mùng muỗi cá nhân: tôi ngồi cúi sát xuống để dâng lễ thuộc lòng. Tôi đƣa tay dƣới mùng để chuyển Mình Thánh cho anh em chịu lễ. Chúng tôi nhặt lấy giấy nylon bọc bao thuốc hút để làm những túi nhỏ đựng Mình Thánh. Nhƣ thế Chúa Giêsu luôn ở giữa chúng tôi. Chúng tôi tin một sức mạnh: Thánh Thể. Thịt Máu Chúa làm cho chúng tôi sống. “Ta đã đến là để chúng được có sự sống, và có một cách dồi dào” (Ga 10,10). Nhƣ manna nuôi dân Do Thái đi đƣờng về Đất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường Hy vọng (Ga 6, 53). Mỗi tuần, sáng thứ sáu có buổi học tập, tất cả 250 anh em phải tham dự. Đến lúc xả hơi, các bạn Công giáo thừa dịp đó mang các túi nylon đựng Mình Thánh đến chia cho bốn đội kia, mỗi ngƣời thay nhau mang trong túi áo một ngày… Những ngƣời tù biết có Chúa Giêsu Thánh Thể đang ở giữa trại tù với họ. Chính Ngài an ủi, xoa dịu những khổ đau thể xác và tinh thần; chính Ngài thêm can đảm chịu đựng cho họ. Ban đêm, họ thay phiên nhau làm giờ thánh. Sự hiện diện thinh lặng của phép Thánh Thể biến đổi họ cách lạ lùng. Nhiều ngƣời Công giáo trở lại sống đạo đức hơn; nhiều anh em không Công giáo tìm hiểu Phúc âm và lãnh phép Thánh tẩy trong trại cải tạo, hoặc sau lúc đƣợc tự do. Nhà tù trở thành trƣờng dạy giáo lý. Không có gì cƣỡng lại đƣợc tình yêu Chúa Giêsu. Đêm tối của ngục tù trở thành ánh sáng, hạt giống đã đâm chồi dƣới đất đang lúc trời giông tố phong ba. Những ơn trọng này do Chúa Giêsu Thánh Thể chứ không phải do sức loài ngƣời.” VI. TÔI PHẢI CHỌN CHÚA CHỨ KHÔNG PHẢI VIỆC CỦA CHÚA. Khi còn trẻ tuổi và sức khỏe dồi dào, Cha chẳng những thành công nơi giáo phận Nha Trang mà còn đứng đầu một tổ chức bác ái có thế lực là Cơ quan Hợp tác Tái

thiết Việt-Nam. Nhƣng đêm 01.12.1975, cùng với 1500 bạn tù đói, mệt, chán nản, bị còng tay hai ngƣời chung một khóa số 8, bƣớc xuống gầm tàu „Hải Phòng‟ đậu tại bến Tân cảng gần cầu Xa lộ, để chở ra trại cải tạo Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phú, trong thung lũng núi Tam Đảo, mùa đông 1976-77 lạnh rét 2°C. Cha thuật lại: “Nỗi gian khổ của 9 năm biệt giam một mình với hai ngƣời gác, không bạn bè, không có việc làm, tôi ở trong một sự trống rỗng tuyệt đối, đến mức có thể điên đi đƣợc. Tôi đi lại suốt ngày trong buồng giam, để vận động cơ thể kẻo nằm luôn thì tôi sẽ chết vì thấp khớp, viêm phổi. Nhiều lúc một mình, tôi bị đau khổ giày vò, tại sao đang lúc mình 48 tuổi, trƣởng thành và khỏe mạnh, sau tám năm Giám mục tôi đã có nhiều kinh nghiệm mục vụ, lại phải vào phòng biệt giam, xa giáo phận những 1700 km? Một đêm thanh vắng, một tiếng từ đáy lòng nhắc nhở tôi: “Tại sao con quẫn trí, hoang mang nhƣ thế làm gì? Con phải biết phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa. Những gì con đã làm và tiếp tục làm nhƣ kinh lý giáo phận, huấn luyện nam nữ tu sĩ, giáo dân, thanh niên, kiến thiết thánh đƣờng, cƣ xá sinh viên, mở mang các thí điểm truyền giáo... tất cả những công tác ấy đều là những việc tốt lành, là việc của Chúa, nhƣng không phải là Chúa! Nếu Chúa muốn con trao tất cả các việc ấy trong tay Ngài, con hãy làm ngay, và hãy tin tƣởng vào Ngài. Chúa có thể làm tốt hơn con muôn nghìn lần; Ngài có thể trao việc của Ngài cho những ngƣời tài đức hơn con. Hãy chọn một mình Chúa thôi, chọn thánh ý Ngài, chứ đừng chọn việc của Chúa!” Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa. Nhƣng ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vƣợt qua những bƣớc gian truân mà hầu nhƣ cơ thể không chịu đựng nổi. Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi “một sự bình an mà thế gian không cho đƣợc”. Theo tính tự nhiên, những lúc chƣơng trình đang thực hiện tốt đẹp phải bỏ dở, hoạt động đang hăng say phải bó tay, nhiệm vụ đang quan trọng phải hạ tầng công tác! Uất ức và chán nản! Tôi tự hỏi: Chúa gọi con “Hãy theo Thầy” hay “Hãy theo việc nọ, ngƣời kia?” Để đó, Chúa sẽ liệu, Ngài sẽ giải quyết tốt hơn con là cái chắc. Ở trại Phú Khánh, tôi bị giam trong một phòng không có cửa sổ, phải đi qua ba lớp cửa trong một hành lang mới đến khí trời. Vào đó nóng cực kỳ, tôi ngột ngạt và cảm thấy trí óc mất sáng suốt dần dần, cuối cùng là mê man. Có lúc ngƣời ta để đèn sáng nhƣ ban ngày, lúc 25

khác lại nằm trong bóng tối. Buồng vừa nóng vừa ẩm, đến nỗi tôi xuống nằm dƣới nền, còn nấm thì mọc lên trắng cả chiếc chiếu của tôi. Lúc nằm trong tối tăm, tôi thấy có một lỗ dƣới vách, ánh sáng lọt vào, tôi lết đến, kê mũi vào đó để thở. Lúc nào trời mƣa, nƣớc ở ngoài ngập, những con trùng ở ngoài bò vào, có cả giun và có lần có cả con rết dài; dù thấy vậy, nhƣng tôi yếu mệt quá không làm gì đƣợc, tôi cứ để cho chúng bò quanh, ngày nào nƣớc xuống, thì chúng lại bò ra. Sau này hai linh mục bị giam cách tôi hai lớp cửa, đã thuật lại cho tôi biết: “Một hôm cô Thanh, cấp dƣỡng, đã mỡ cửa cho chúng con ra đứng nhìn Đức Cha nằm dƣới đất và bảo: cho hai anh nhìn thấy ông Thuận, ông sắp chết!” Nhƣng trong cơn cơ cực này, Chúa đã cứu tôi! Tôi phải chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa: Chính Chúa muốn cho tôi ở đây, chứ không phải nơi khác.” VII. SỐNG PHÚT HIỆN TẠI. Chiều tối ngày 15.08.1975, trên đƣờng dài 450 km, xe công an chở Cha về nơi quản thúc. Tâm tình lẫn lộn trong đầu óc Cha nhƣ Cha đã viết trong „NĂM CHIẾC BÁNH VÀ HAI CON CÁ‟: “Lúc đó, tôi lo lắng có, cô đơn có, mệt mỏi có, sau mấy tháng căng thẳng... nhƣng trong trí tôi, một quyết định sáng tỏ đã đánh tan mây mù. Tôi nhớ lời Đức Cha John Walsh, một Giám mục truyền giáo gốc Mỹ, đã nói lúc ngài đƣợc tự do sau 12 năm tù ở Trung cộng: “Tôi đã mất nữa đời ngƣời để chờ đợi”. Rất đúng! tất cả mọi tù nhân, trong đó có tôi, phút giây nào cũng mong đợi tự do. Suy nghĩ kỹ, trên chiếc xe Toyota trắng, tôi đã đặt cho mình một quyết định: “Tôi sẽ không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thƣơng”. Đây không phải là một cảm hứng đột xuất, nhƣng là một xác tín đã ấp ủ suốt quãng đời mãi từ tiểu chủng viện: “Nếu tôi mất giờ đợi chờ, không làm gì hết, biết đâu những điều tôi đợi sẽ không bao giờ đến. Chỉ có một điều, dù không đợi cũng vẫn đến, đó là sự chết!” Trong làng Cây Vông, nơi tôi bị quản thúc, ngày đêm có nhân viên an ninh chìm nổi theo dõi. Trong óc một tƣ tƣởng không ngừng làm tôi xót xa, thao thức: “Giáo dân của tôi! một đoàn chiên hoang mang, giữa bao hiểm nguy, thách đố của một giai đoạn lịch sử mới. Làm sao tôi có thể gần gủi, liên lạc với họ, trong giai đoạn họ cần đến ngƣời mục tử nhất! Các nhà sách Công giáo bị đóng cửa, trƣờng học Công giáo do Nhà nƣớc quản lý, tôn giáo sẽ không còn đƣợc dạy dỗ trong

các trƣờng nữa; các linh mục, sƣ huynh, nữ tu có khả năng phải đi ra thôn quê, đi nông trƣờng lao động, không đƣợc dạy học nữa! Sự xa lìa giáo dân là một cú “sốc” giày vò tan nát quả tim tôi. Tôi không đợi chờ. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thƣơng. Nhƣng làm thế nào? Một đêm, một tia sáng đến với tôi: “Con hãy bắt chƣớc thánh Phaolô. Khi ngài ở tù, không hoạt động tông đồ đƣợc, ngài đã viết thƣ cho các giáo đoàn. Đơn giản vậy mà con đi tìm đâu cho xa?” Sáng hôm sau, vừa mới tinh sƣơng, giữa tháng 10 năm 1975, tôi làm hiệu cho một cậu bé 7 tuổi, tên Quang, vừa đi lễ 5 giờ ra, trời còn mù và lạnh: “Quang! con về nói má con mua cho ông mấy “bloc” lịch cũ, ông cần dùng”. Chiều tối, chú bé mang lại mấy “bloc” lịch cũ. Thế là mỗi đêm trong tháng 10 và tháng 11, 1975, tôi đã đóng hết cửa, lấy giấy xi-măng dán bên trong và viết “Sứ điệp từ ngục tù” cho giáo dân của tôi, dƣới ánh đèn dầu leo lét, mặc cho muỗi tha hồ đốt. Mỗi sáng thực sớm tôi trao cho bé Quang, mấy tờ lịch tôi đã viết sau lƣng, mang về cho anh, chị của Quang chép lại kẻo mất. Nếu để trên bàn tôi, “ông An” (một giáo dân) thấy sẽ sinh tai họa. Đấy là đầu đuôi sách “Đƣờng Hy Vọng”, sứ điệp lao tù thành hình là nhƣ thế. Hiện nay sách đã đƣợc xuất bản bằng tám thứ tiếng. Chúa đã ban ơn cho tôi có nghị lực để tiếp tục làm việc, kể cả những lúc chán nản nhất. Tôi đã viết đêm ngày trong một tháng rƣỡi, vì tôi sẽ bị “chuyển trại” và không có điều kiện hoàn tất đƣợc. Lúc viết đến số 1001 tôi quyết dừng lại, xem đây nhƣ công trình “nghìn lẻ một đêm”. Ngày 8-12-1975, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Tội, tôi đã tạ ơn Đức Mẹ cho tôi viết xong “Đƣờng Hy Vọng” và trao trong tay Đức Mẹ gìn giữ, đó là của Đức Mẹ, nhờ ơn của Đức Mẹ, xin Đức Mẹ tiếp tục lo liệu. Đoán vậy mà không sai, đến ngày 183-1976, tôi bị đƣa vào trại Phú Khánh, biệt giam vất vả nhất. Năm 1980, lúc bị đƣa ra quản thúc ở Giang Xá, Bắc Việt, tôi đã tiếp tục viết mỗi đêm trong bí mật cuốn thứ hai, “Đƣờng Hy Vọng Dƣới Ánh Sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II”, cuốn thứ ba, “Những Ngƣời Lữ Hành Trên Đƣờng Hy Vọng”. Tôi không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy yêu thƣơng. Trong Phúc âm, các Tông đồ muốn chọn con đƣờng dễ nhất, khỏe nhất: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ mua thức ăn”...Nhƣng Chúa Giêsu muốn hành động trong phút hiện tại: “Chính các con hãy cho họ ăn đi” (Lc 9, 1). Trên Thánh giá, khi ngƣời ăn trộm thƣa với 26

Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, khi về thiên đàng xin Ngài nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Hôm nay con sẽ ở cùng Ta trên nước thiên đàng” (Lc 23, 42-43). Trong tiếng “hôm nay” của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy tất cả sự tha thứ, tất cả tình thƣơng của Ngài. Cha Maximiliano Kolbe sống tinh thần ấy khi ngài khuyên các tập sinh trong dòng: “Tất cả, tuyệt đối, không điều kiện”. Tôi đã nghe Đức Cha Helder Camara nói: “Cả cuộc đời là học yêu thƣơng”. Một lần Mẹ Têrêxa Calcutta gửi thƣ cho tôi, Mẹ viết: “Điều quan trọng không phải là số công tác đã thực hiện nhƣng là mức độ tình yêu ta đã để vào mỗi công việc”. Làm sao yêu thƣơng đến cao độ nhƣ thế trong mỗi phút hiện tại? Tôi nghĩ rằng tôi phải sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút nhƣ là giờ phút cuối cùng của đời tôi. Dẹp bỏ những gì là phụ thuộc, tập trung cả tâm hồn cho những gì là chính yếu. Mỗi lời nói, mỗi tƣ tƣởng, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là “đẹp nhất” của đời tôi. Tôi phải dành cho mỗi ngƣời tình yêu của tôi, nụ cƣời của tôi: tôi phải lo sợ đánh mất một giây phút nào trong đời mình vì đã sống không ý nghĩa... Tôi đã viết trong sách Đƣờng Hy Vọng: “Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: giây phút hiện tại (x Mt 6, 34; Gc 4, 13-15). Sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn, đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó (ĐHV 997). … Lạy Chúa, con không đợi chờ, con quyết sống phút hiện tại, và làm cho nó đầy tình thƣơng, vì chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đƣờng dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đời sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Đƣờng hy vọng do mỗi chấm hy vọng. Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng. Nhƣ Chúa Giêsu, trọn đời đã làm những gì đẹp lòng Đức Chúa Cha. Mỗi phút giây con muốn làm lại với Chúa, “một giao ƣớc mới, một giao ƣớc vĩnh cửu”. Con muốn cùng với Hội thánh hát vang: Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Alleluia! Alleluia! Alleluia! Cây Vông, Nha Trang, nơi tôi bị quản thúc

16.08.1975, hôm sau lễ Đức Mẹ Lên Trời. VIII. NGƢỜI TÙ KHÔNG BẢN ÁN. Thuật lại việc ra khỏi nhà tù của mình, Đức Cha đã viết trong „NĂM CHIẾC BÁNH VÀ HAI CON CÁ‟ nhƣ sau: “Một hôm trời mƣa, tôi đang thổi cơm trƣa, tôi nghe điện thoại của chiến sĩ trực reo. „Biết đâu có tin gì cho tôi? Đúng rồi, bữa nay là lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thánh, 21 tháng 11 mà!‟ Năm phút sau, anh chiến sĩ trực đến: - Ông Thuận ơi, ông ăn chƣa? - Chƣa ạ, tôi đang thổi cơm đây. - Ăn xong, ăn mặc sạch sẽ, đi gặp lãnh đạo. - Lãnh đạo là vị nào vậy? - Tôi không biết, tôi chỉ đƣợc báo thế. Chúc ông may mắn. Tôi đã đƣợc đƣa đến nhà khách chính phủ, bên hồ Hale, và tôi đã gặp ông Mai Chí Thọ, Bộ trƣởng Nội vụ (Bộ công an). Sau lời chào hỏi xã giao, ông Bộ trƣởng đã hỏi: - Ông có nguyện vọng gì không? - Thƣa có, tôi muốn đƣợc tự do. - Bao giờ? - Hôm nay. Ông Bộ trƣởng có vẻ ngạc nhiên, thƣờng tình phải có thời gian cho cơ quan nhà nƣớc xếp đặt... Nhƣng hôm nay là lễ Đức Mẹ nên tôi tin chắc và xin nhƣ vậy. Để đánh tan bầu khí lúng túng và ngạc nhiên ấy, tôi nói: - Thƣa ông Bộ trƣởng, tôi ở tù lâu lắm, suốt ba đời Giáo hoàng: Phaolô VI, Gioan Phaolô I, và Gioan Phaolô II. Về phía xã hội chủ nghĩa thì tôi đã ở tù bốn đời Tổng Bí thƣ Liên Xô: Brezhnev, Andropov, Chernenko, và Gorbachev. Ông Bộ trƣởng bật cƣời và nói: - Đúng! đúng! Ông quay qua bảo ngƣời bí thƣ: - Hãy liệu đáp ứng nguyện vọng của ông. Trong lòng tôi vui mừng tạ ơn Đức Mẹ Maria, vì không những đƣợc tự do mà còn đƣợc cả dấu chỉ. Chắc Mẹ tha tội tôi cả gan thách đố Mẹ”. IX. MỤC TỬ VIỆT-NAM LÀM VIỆC TẠI GIÁO TRIỀU. Năm 1989, các Giám mục Việt-Nam hy vọng trao cho Cha trách vụ Chủ tịch hay Tổng thƣ ký Hội đồng Giám mục trong kỳ Đại hội thƣờng niên dự trù diễn ra vào 27

cuối năm. Tuy nhiên, cùng thời gian đó, Cha bệnh nặng phải đƣa vào điều trị tại Sài-Gòn vì Hà Nội không đủ phƣơng tiện. Bộ Nội vụ gởi ông Nguyễn tƣ Hà vào gặp Cha tại bệnh viện và yêu cầu Cha từ chối bất cứ chức vụ nào, kể cả Chủ tịch các Ủy ban hay Tiểu ban. Cha trả lời Cha không kiểm soát sự chỉ định của Hội đồng và nếu đƣợc cử, Cha không thể từ chối. Ông Hà đã đến phiên họp của các Giám mục và thông báo rằng chánh phủ không muốn thấy Cha đƣợc bầu vào một chức vụ nào trong Hội đồng. Trong khi Hội đồng Giám mục nhóm Đại hội, Cha phải chịu giải phẫu, chẳng những không thành công mà còn bị nhiễm độc. Cha không thể đến họp và các Giám mục không bầu cho Cha đƣợc. Nhờ sự can thiệp của Medical Community of Saint Egidio tại Rôma, Cha đƣợc phép sang chữa trị tại Ý. Cuộc giải phẫu thành công và sau vài tuần tịnh dƣỡng, Cha đã trở lại Quê Nhà. Về đến phi trƣờng, hộ chiếu của Cha bị tịch thu để Cha không thể đi lại, dù trong nƣớc và Cha bị canh chừng cẩn mật… vì, lúc đó, chế độ cộng sản tại các quốc gia Đông Âu lần lƣợt tan râ. Đầu năm 1991, Đức Hồng Y Phạm đình Tụng viết thƣ xin Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm Cha vào Sứ nhiệm Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Hà nội với quyền kế vị. Giáo quyền Vatican thăm dò đề nghị này với thẩm quyền Việt-Nam. Họ nổi giận tức thì. Cha đƣợc mời đến Bộ Nội vụ gặp Đại tá Nguyễn hồng Lam, đứng đầu cơ quan phản gián và phụ trách tôn giáo vụ. Ông này vừa cáo buộc Cha „chơi trò‟ với chánh phủ vừa nói rằng Vatican không thể bổ nhiệm Cha mà không hỏi ý họ trƣớc. Ông nổi xung nói: « Bây giờ, những ngƣời lãnh đạo ở Rôma đã đi xa. Bao nhiêu năm qua, cả họ và ông (Đức cha Thuận) đã biết chúng tôi không chấp nhận ông là Tổng Giám mục TP.Hồ chí Minh. Giờ đây, thật bất ngờ, khi Vatiacn muốn ông trở thành Tổng Giám mục tƣơng lai của Hà nội. Đây là một mƣu đồ lớn hơn kế hoạch đƣợc đề ra bởi Vatican và đế quốc vào năm 1975.» Cha đã im lặng nghe và, sau đó, nhẹ nhàng trả lời: « Đó là một sự hiểu lầm, Tòa Thánh không „chỉ đạo‟, đó không phải là một sự „bổ nhiệm‟ tôi. Các Giám mục Việt-Nam đề nghị Tòa Thánh chọn tôi trở thành Tổng Giám mục phó Hà nội. Các Vị này đã làm nhƣ vậy vì muốn xây dựng một tƣơng lai lâu dài (cho Giáo hội Việt-Nam). Các Vị biết tôi không đƣợc cho phép giữ một chức vụ lãnh đạo nào trong hiện tại, nên „chỉ định tôi lãnh nhận một chức vụ trong tƣơng lai‟. Tòa Thánh

hiểu sự khôn ngan này và, do đó, Tòa Thánh yêu cầu chính phủ Việt-Nam chấp thuận đề nghị này.» « Ông luôn luôn nói với một vọng dịu dàng ». Ông Lam trả lời, « nhƣng ông không ngừng gây cho chúng tôi những vấn đề. Hiện giờ, chúng tôi có những chuyện phải giải quyết gấp. » Ông quay lƣng đi và, khi đối diện lại với Cha, bổng nhiên, ông đổi ý: « Sao ông không đi thăm song thân? » Ông Lam tử tế nói « và ở lại với ông bà một thời gian và trở lại khi mọi sự yên lặng lại. » - Tôi đã đi thăm cha mẹ tôi rồi. Cha đáp. Nhƣng ông lại đề nghị: - Nhƣ vậy, sao ông không đi Rôma trong một thời gian? Câu chuyện đƣợc chấm dứt khi Cha nói: - Đƣợc rồi. Tôi sẽ suy nghĩ đến việc đó. (Tóm dịch theo „The Miracle of Hope‟) Ngày 21.09.1991, Cha rời Việt-Nam và chánh phủ Việt-Nam đã không cho Cha trở lại Quê Hƣơng. Sau nhiều lần Tòa Thánh thƣơng nghị với Việt-Nam để Cha về lại Quê Hƣơng, nhƣng không kết quả. Ngày 09.04.1994, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm Cha làm Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công Lý và Hòa Bình. Ngày 24.11.1994, Cha chính thức từ chức Tổng Giám mục phó Sài-Gòn. Quyết định nhƣ vậy, Cha phó thác mình cho Chúa Quan Phòng để phục vụ tại Giáo Triều Rôma. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói với Cha: « Hiền huynh đến từ một quốc gia chiến tranh và hiền huynh đã bị giam cầm trong mƣời ba năm. Bây giờ, hiền huynh chia sẻ kinh nghiệm đó cho những ngƣời dân tại các quốc gia đang chịu đau khổ và bất công. Nhƣ vậy, chúng ta có thể thăng tiến Công lý và Hòa bình và giúp họ tìm hiểu những quyền của họ. » Cha đã học hỏi những vấn đề của thế giới phức tạp về chính trị và công bằng xã hội từ Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Angelo Sodano và Đức Hồng Y Roger Etchegaray, Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình. Những vấn đề về nhân quyền, thƣơng mại thế giới, toàn cầu hóa, các quốc gia đang phát triển và những hậu quả tiếp diễn do sự sụp đổ của Liên bang Sô viết và các chế độ Cộng sản tại Đông Âu. Cha rất thích những cuộc tiếp xúc với các Giám mục đến từ các quốc gia khắp Năm Châu. Tiếp đến, ngày 24.06.1998, Đức Cha đƣợc bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình, thay thế Đức Hồng Y Roger Etchegaray. Vài tháng sau, ngày 18.11.1998, Cha kêu gọi sự xóa giảm nợ cho các quốc gia Trung Mỹ châu bị tàn phá 28

bởi cơn bão xoáy (cyclone) Mitch. Sau đó, Cha gởi lời cám ơn những quốc gia giảm nợ theo lời Cha yêu cầu và, đồng thời, Cha cũng nhắc nhở lãnh đạo các quốc gia Trung Mỹ trách nhiệm của họ khi vay nợ ngoại quốc. Trong Nhà Nguyện Mẹ Đấng Cứu Thế, từ chiều ngày 12 đến 18.03.2000, Đức Cha đã giảng tĩnh tâm cho Đức Giáo Hoàng và Giáo Triều Rôma và đã đƣợc Đức Giáo Hoàng cám ơn nhƣ sau: « …Tôi đã ƣớc mong rằng trong năm Đại Toàn Xá nầy, cần có một chỗ đặc biệt đƣợc dành cho chứng tá của những ngƣời đã chịu „đau khổ vì đức tin, đã trả bằng máu sự gắn bó của họ đối với Chúa Kitô và Giáo Hội, hoặc can đảm chịu đựng những năm thật dài cảnh tù ngục và thiếu thốn đủ loại‟ (Tông sắc „Mầu nhiệm nhập thể‟, số 13). Hiền Đệ đã chia sẻ chứng tá đó một cách nồng nhiệt và đầy xúc động, chứng tỏ rằng, trong toàn thể cuộc sống con ngƣời, tình thƣơng xót của Thiên Chúa, Đấng vƣợt trên mọi lý luận của loài ngƣời, tại những phần đất khác nhau trên thế giới, đang tiếp tục phải trả giá thật đắt cho chính niềm tin của mình nơi Chúa Kitô… ». Những bài giảng tĩnh tâm nầy đã đƣợc in thành sách „Chứng Nhân Hy Vọng‟, phát hành bằng ít nhất 12 thứ tiếng. Ngày 19.03.2000, Lễ Thánh Giuse, ngày bế mạc cuộc tĩnh tâm cũng là ngày mà Giám mục kế vị Cha tại Giáo phận Nha Trang, Đức cha Nguyễn văn Hòa, khánh thành một nhà thờ mới tại Cây Vong, nơi Cha bị tù trong giai đoạn đầu tiên. Ngày 21.01.2001, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố tuyển chọn Cha vào Hồng Y Đoàn. X. SỰ HÌNH THÀNH „TÓM LƢỢC HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO‟ Đáp ứng nguyện vọng của các Đức Giám mục tham dự Thƣợng hội đồng Giám mục Mỹ châu năm 1997, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã yêu cầu Hội Đồng Giáo hoàng Công Lý và Hoà Bình thực hiện một „Toát yếu về Học thuyết Xã hội Giáo Hội‟. Khi đó, Cha đang là Phó Chủ tịch Hội Đồng Giáo hoàng Công Lý và Hoà Bình và, từ ngày 24.06.1998, Đức Gioan-Phaolô II bổ nhiệm Cha giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng này. Đầu năm 1999, Đức Gioan-Phaolô II đề nghị Cha viết „Tóm Lƣợc Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo‟. Nhƣ vậy, vị Mục Tử Việt-Nam đã chịu nhiều bất công (13 năm tù không bản án, công dân mang hộ chiếu

Việt-Nam bị cấm trở về Quê hƣơng) nay giữ nhiệm vụ Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Cổ Võ Công Lý và Hoà Bình. Với trách vụ đó, tại Vatican City, ngày 01.05.2000, Lễ kính Thánh Giuse Thợ, Cha đã ký ban hành „SƢU TẬP NHỮNG BẢN VĂN CỦA HUẤN QUYỀN VỀ HỌC THUYẾT XÃ HỘI CÔNG GIÁO‟. Trong bản Sƣu Tập nầy, Đức Cha đã thu nhặt từ các văn kiện đang có trong kho tàng Giáo huấn về xã hội và viết thành 11 chƣơng về các đề tài: Bản chất Học thuyết Xã hội Công giáo, Con Ngƣời, Gia Đình, Trật tự Xã hội, Vai trò Nhà Nƣớc, Kinh tế, Lao Động và Tiền Lƣơng, Sự Nghèo đói và Đức Bác ái, Môi trƣờng, Cộng Đồng Quốc tế và Chƣơng Kết. Văn kiện này đƣợc dùng làm căn bản cho việc hoàn thành „Toát yếu về Học thuyết Xã hội Giáo Hội‟. Cha tiếp tục viết „Tóm Lƣợc Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo‟. Nhƣng tình trạng sức khỏe Cha không cho phép nhƣ Đức Hồng Y Renato Raffaele Martino, đã viết trong „Lời Giới Thiệu‟: « Vị tiền nhiệm của tôi, Đức cố Hồng y đáng tiếc và khả kính Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận, với sự khôn ngoan, sự kiên quyết và tầm nhìn xa trông rộng, đã thực hiện phần chuẩn bị phức tạp của tài liệu này. Chứng bệnh hiểm nghèo đã không cho ngài cơ hội hoàn thành phần kết thúc và xuất bản. Công việc trên đã đƣợc giao phó cho tôi và hôm nay dành cho tất cả những ai đọc quyển sách này, vì thế công trình này mang dấu ấn vị chứng nhân vĩ đại của Thập Giá, ngƣời đã có niềm tin mãnh liệt trong những năm gian khổ của đất nƣớc Việt-Nam. Vị chứng nhân này sẽ thấu hiểu lòng biết ơn của chúng ta đối với sự lao động quý báu, tràn ngập bởi tình yêu và sự tận tuỵ của ngài, và ngài sẽ chúc lành cho những ai biết dừng lại để suy tƣ khi đọc những trang sách này. XI. CHÚA GỌI CHA RA KHỎI THẾ GIAN. Lúc 18 giờ, ngày 16.09.2002, Cha đã đƣợc Thiên Chúa gọi ra khỏi thế gian. Ngay khi hay tin Cha qua đời, Đức Cha Giampaolo Crepaldi, Tổng Thƣ Ký Hội đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, đã tuyên bố với báo chí: « Một vị Thánh vừa qua đời. » Chiều ngày 20.09.2002, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II từ Castel Gandolfo đã trở về Vatican, để chủ sự Thánh Lễ An táng Cha với Giáo Triều và 172 phái đoàn ngoại giao cạnh Tòa Thánh đã tiển biệt trong một Thánh Lễ trọng thể. Nhân dịp nầy, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ngỏ lời: 29

« Trong 13 năm ngục tù, ngài (Đức Hồng Y Thuận) đã hiểu nền tảng của đời sống Kitô hữu là „chọn một mình Chúa mà thôi‟ nhƣ các vị tữ đạo Việt-Nam đã làm trong những thế kỹ trƣớc. Chúng ta đƣợc mời gọi rao giảng cho tất cả mọi ngƣời „Tin Mừng Hy Vọng‟, và Đức Hồng Y giải thích rằng: chúng ta chỉ có thể chu toàn Ơn Gọi ấy với sự hy sinh quyết liệt, dù phải chịu những thử thách cam go nhất. Đức Hồng Y nói: „Hãy nêu cao giá trị của sự đau khổ nhƣ một trong muôn vàn khuôn mặt của Chúa Giêsu chịu đóng đanh và hiệp nhất đau khổ của mình với khổ đau của Chúa, có nghĩa là đi vào chính năng động khổ đau, yêu thƣơng có nghĩa là tham dự vào ánh sáng, sức mạnh, an bình của Chúa; có nghĩa là tìm lại đƣợc nơi chính mình một sự hiện diện mới mẻ, sung mãn, của Thiên Chúa. Đây không phải là sự anh hùng, nhƣng là sự trung thành chín chắn, hƣớng cái nhìn về Chúa Giêsu là mẫu gƣơng của mọi chứng nhân và mọi vị tử đạo. Một gia sản cần đƣợc đón nhận mọi ngày trong một cuộc sống đầy yêu thƣơng và dịu hiền. Con ngƣời Đức Hồng Y là một tấm gƣơng sáng ngời về đời sống Kitô, phù hợp với Đức Tin, cho đến độ tử đạo. Đức Hồng Y nói về mình với sự đơn sơ thật đặc biệt: "Trong vực thẳm những đau khổ của tôi,.. . tôi không bao giờ ngừng yêu mến tất cả mọi ngƣời, tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi". Bí quyết của Đức Hồng Y là lòng tín thác kiên cƣờng nơi Thiên Chúa, đƣợc nuôi dƣỡng bằng kinh nghiệm và đau khổ đƣợc Đức Hồng Y chấp nhận với lòng yêu mến. Trong tù, mỗi ngày Đức Hồng Y đã cử hành Thánh Lễ với ba giọt rƣợu và một giọt nƣớc trên lòng bàn tay. Đó là bàn thờ của Ngƣời, là Nhà thờ chính tòa của Ngƣời, Mình Thánh Chúa Kitô là „thuốc‟ của Ngƣời, Đức Hồng Y cảm động kể lại: „Mỗi lần nhƣ thế tôi đƣợc dịp giang tay ra và chịu đóng đinh bản thân trên Thánh giá với Chúa Giêsu, đƣợc sống chén đắng với Chúa. Mỗi ngày khi đọc lời truyền phép, tôi hết lòng củng cố một giao ƣớc mới, giao ƣớc đời đời giữa tôi và Chúa Giêsu, nhờ máu của Chúa hòa lẫn với máu của tôi‟. Trung thành cho tới chết, Ngài giữ đƣợc sự bình thản và niềm vui cả trong lúc nằm lâu và phải đau đớn trong bệnh viện và, trong những ngày cuối, khi không còn nói đƣợc nữa, Ngài nhìn chăm chú vào ảnh Thánh giá, Ngài cầu nguyện trong thinh lặng, khi hy lễ tối cao của Ngài tới tuyệt đỉnh, hoàn thành cách vinh quang một cuộc đời đánh dấu bằng sự đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô trên Thánh giá.

Trong chúc thƣ tinh thần, sau khi xin lỗi, Đức Hồng Y cam đoan tiếp tục yêu mến tất cả mọi ngƣời. Đức Hồng Y quả quyết: „Tôi thanh thản ra đi, và tôi không giữ lòng oán hận nào đối với ai. Tôi dâng tất cả những đau khổ tôi đã trải qua cho Đức Mẹ Vô Nhiễm và Thánh Giuse‟. Chúc thƣ tinh thần kết thúc với ba lời nhắn nhủ: „Hãy yêu mến Đức Mẹ, hãy tín thác nơi Thánh Giuse, hãy trung thành với Giáo hội, hãy đoàn kết và yêu thƣơng tất cả mọi ngƣời‟. Đây chính là tổng hợp trọn cuộc sống của Đức Hồng Y. » và Đức Thánh Cha đã kết luận: « Giờ đây, ƣớc gì cùng với Thánh Giuse và Mẹ Maria, Đức Hồng Y đƣợc đón nhận vào trong niềm vui của Thiên Đàng, chiêm ngắm Tôn Nhan rạng ngời của Chúa Kitô, Đấng trên trần thế đã nhiệt thành tìm kiếm nhƣ niềm Hy vọng duy nhất của mình. Amen! »
XII. ÁN PHONG CHÂN PHƢỚC

Năm năm sau ngày Ngƣời về Nhà Cha, Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình đã tổ chức Thánh Lễ đồng tế do Đức Hồng Y Renato Raffael Martino, đƣơng kim Chủ tịch và là ngƣời kế vị Cha, chủ sự lúc 11 giờ ngày chúa nhật 16.09.2007 tại Nhà thờ Đức Mẹ Cầu Thang (Santa Maria della Scala, nhà thờ dành cho Cha tại Rôma), để tƣởng nhớ một chứng nhân hòa bình và hy vọng. Tham gia sáng kiến mở án phong Chân Phƣớc cho Đức Hồng Y, ngoài Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình còn có Quỹ Thánh Matthêu tƣởng niệm Cha, Hội Quan sát Quốc tế Văn Thuận về Đạo lý xã hội Công Giáo, thân nhân và bạn hữu của Cha, cũng nhƣ cộng đoàn Công giáo Việt-Nam ở Rôma. Đức Hồng Y Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình đã mời bà luật sƣ Silvia Monica Correale làm thỉnh nguyện viên Án phong Chân phƣớc cho Cha. Nhân dịp này, một buổi triều yết đã diễn ra ngày thứ hai 17.09.2007 tại Dinh thự Giáo Hoàng ở Castel Gandolfo. Trong diễn văn, Đức Thánh Cha Biển Ðức XVI đã nói: « Tôi vui mừng, nhân cơ hội này để, một lần nữa, nêu lên chứng tá Đức Tin sáng ngời mà vị Mục Tử anh dũng này đã để lại cho chúng ta. Giám Mục Phanxicô Xavie đã đƣợc vị tiền nhiệm Gioan Phaolô 2 đáng kính của tôi bổ nhiệm làm Chủ Tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa Bình. Nguời đã tiến hành „Toát Yếu Giáo Huấn xã hội của Hội Thánh‟. Làm sao quên đƣợc những nét nổi bật về sự đơn sơ và thân thiện ngay của Ngƣời? 30

Chúng ta tƣởng nhớ Ngài với sự thán phục lớn lao, trong khi chúng ta nghĩ lại trong tâm trí chúng ta những dự phóng lớn lao và tràn đầy Hy vọng, đã làm cho Ngài luôn sống động và Ngài tìm cách thế để dễ dàng loan truyền ra và thuyết phục nhiều ngƣời; sự dấn thân đầy nhiệt huyết của Ngài để quảng bá học thuyết xã hội của Hội Thánh giữa những ngƣời nghèo trên thế giới, và lòng hăng say truyền bá Phúc âm trong lục đia Á Châu của Ngài, khả năng Ngài điều hợp các hoạt động bác ái và thăng tiến con ngƣời mà Ngài làm tăng thêm và nâng đỡ tại những nơi nặng nề nhất trên thế giới. Đức Hồng Y Văn Thuận là một con ngƣời của Hy Vọng, Ngài sống bằng Hy Vọng, Ngài phổ biến Hy Vọng cho tất cả những ai Ngài gặp. Chính nhờ năng lực thiêng liêng này mà Ngài đã chống lại đƣợc tất cả những khó khăn thể lý và luân lý. Hy Vọng đã nâng đỡ Ngài khi là Giám mục bị cô lập trong vòng 13 năm trời, xa cách khỏi cộng đoàn giáo phận của Ngài; Hy Vọng giúp Ngài biết nhìn ra qua cái vô lý của các biến cố xảy đến cho Ngài - không bao giờ đƣợc xét xử trong những năm tù ngục - một kế đồ của sự quan phòng của Thiên Chúa. Tin về bệnh ung thƣ, căn bệnh đƣa Ngài tới cái chết, tin này đã đến với Ngài cùng lúc với việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đặt Ngài làm Hồng Y, vị Giáo Hoàng này bày tỏ với Đức Hồng Y một sự trân trọng và tình cảm thật lớn lao. Đức Hồng Y Văn Thuận thƣờng nhắc lại rằng Kitô hữu là một con ngƣời của từng giờ, của lúc này, của giây phút hiện tại, cần đƣợc đón nhận và sống với tình yêu Chúa Kitô. Trong khả năng sống giây phút hiện tại này chiếu tỏa ra cái sâu thẳm của việc phó thác trong bàn tay Thiên Chúa và tính đơn sơ nhƣ trong Phúc âm dạy mà chúng ta tất cả đều kính phục Ngài. Và làm sao có thể xấy ra điều này - ngƣời ta tự hỏi - một ngƣời đặt tin tƣởng vào Chúa Cha trên trời mà lại từ chối để mình đƣợc ôm ấp vào cánh tay của Chúa Cha sao? Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là một ngƣời hy vọng, đã sống hy vọng và phổ biến hy vọng nơi tất cả những ngƣời Ngƣời gặp. Chính nhờ năng lực tinh thần ấy, Đức Hồng Y đã chống lại tất cả những khó khăn về thể lý và tinh thần. Niềm hy vọng ấy đã nâng đỡ Ngƣời nhƣ một Giám Mục bị cô lập trong 13 năm trời xa cách cộng đoàn giáo phận của Ngƣời; niềm hy vọng đã giúp Ngƣời nhận thấy, trong sự vô lý của các biến cố xảy ra cho Ngƣời, một kế hoạch của Chúa Quan Phòng - Đức Hồng Y không hề đƣợc xét xử trong thời gian lâu dài bị giam cầm. »

Và Đức Thánh Cha kết luận rằng: « Anh chị em thân mến, tôi vui mừng sâu xa đón nhận tin về việc khởi sự án phong chân phƣớc cho vị Ngôn Sứ đặc biệt này của niềm hy vọng Kitô, và trong khi chúng ta phó thác cho Chúa linh hồn ƣu tuyển của Ngƣời, chúng ta hãy cầu nguyện để tấm gƣơng của Đức Cố HY là giáo huấn hữu hiệu cho chúng ta. Với lời cầu chúc đó, tôi thành tâm ban phép lành cho tất cả anh chị em. » XIII. KHEN THƢỞNG VÀ VINH DANH A.- Lúc 18 giờ ngày 09.06.1999 tại Tòa Đại sứ Pháp cạnh Tòa Thánh, ở Roma, ông Đại sứ Pháp, đã nhân danh Tổng thống Cộng hòa Pháp, trao tặng Huy Chƣơng „Commandeur de l‟Ordre National du Mérite‟ (Huân chƣơng Quốc gia cho Ngƣời có Công Trạng, Đệ Tam Đẳng) cho Cha. Trƣớc khi trao tặng Huy chƣơng, Ông Đại sứ nói đến công trạng của Cha đối với Nƣớc Pháp và cách riêng với Giáo hội Pháp. Ông cũng nhắc đến những năm Cha bị giam tù và những tác phẫm rất hấp dẫn và bổ ích, đã đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng, do Cha viết trong những năm dài của cuộc thử thách. Trong đáp từ, Cha cám ơn Tổng thống, Dân tộc và Giáo hội Pháp về cử chỉ tốt đẹp này. Rồi Cha nhắc lại những mối giây liên kết từ lâu đời của gia đình mình và của chính Cha với nền văn hóa Pháp, với các nhà truyền giáo Pháp và với Giáo hội Pháp, nhất là trong những năm vừa qua, nhờ vào những hoạt động tại nhiều nơi, tại nhiều đoàn thể và nhờ vào tình nghĩa thiết với nhiều vị Linh mục và Giám mục tại Pháp và tại Rôma. B.- Năm 2000, Cha đƣợc trao tặng hai giải thƣởng hòa bình: Giải Man For Peace (Ngƣời Vì Hòa Bình) và giải thứ hai là Artefice della Pace (Ngƣời Kiến Tạo Hòa Bình). C.- Sáng ngày 15.09.2009, tổ chức „San Matteo‟ mở cuộc họp báo tại Văn phòng Báo chi Tòa thánh để tuyên bố kết quả giải thƣởng Nguyễn Văn Thuận lần thứ hai và các giải thƣởng Đoàn kết và Phát triển Nguyễn Văn Thuận. Giải này đƣợc tƣởng thƣởng cho những ngƣời xuất chúng trong sự nghiệp đề cao và bảo vệ nhân quyền. Tham dự cuộc họp báo có Đức Hồng Y Renato Martino, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, và Đức ông Marco Frisina, Giám đốc ca đoàn Tổng Giáo phận Rôma đồng thời là tác giả ca khúc vinh danh cố Hồng y Thuận nhan đề „Sentieri 31

della speranza‟ (những nẻo Đƣờng Hy vọng), trích từ các kinh Cha đã biên soạn. Trong buổi lễ trao giải vào ngày 16.09.2009 tại Palazzo Colonna ở Roma, Giải Nguyễn Văn Thuận năm 2009 đƣợc trao cho Đại Công tƣớc (Grand Duke, tƣơng đƣơng Quốc trƣởng) Henri de Nassau của Luxembourg vì những nỗ lực của ông trong việc bảo vệ quyền sống và quyền tự do tôn giáo. Mùa thu 2008, ông lên tiếng cho biết ông sẽ từ chối ký ban hành Dự luật Trợ Tử, khiến Quốc hội Luxembourg phải tu chính Hiến pháp để Dự luật trở thành Luật đƣợc áp dụng hợp hiến. Các giải Đoàn kết và Phát triển, mỗi giải trị giá 15000 euro, đƣợc trao cho 4 dự án hoạt động nhân đạo nhằm tài trợ các hoạt động cho nhân quyền và xã hội: 1- Trung tâm Phát triển Khả năng cho Ngƣời Khiếm thị tại Pakkred, Thái lan, do Lm Carlo Velardo dòng Don Bosco điều hành. 2- Dự án ALAS của Tổ chức "Caminos de Libertad" thuộc tổng giáo phận Bogota nƣớc Colombia, để xây dựng một trung tâm quốc gia dành cho công tác mục vụ trong các trại giam. 3- Tổ chức Bất vụ lợi "Cooperazione Missionaria e Sviluppo" do Đức ông Andrea Vece điều hành tại giáo xứ Đức Mẹ Fatima ở Salemo, nƣớc Ý. 4- "ROCHER L'oasis des cites", một hiệp hội chuyên về các dự án giáo dục và xã hội để phục vụ cƣ dân những vùng ngoại ô gặp „khó khăn‟ cạnh các đô thị ở Pháp. Ngày 17.09.2009, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã tiếp Đại Công tƣớc Henri de Nassau và đại diện 4 tổ chức nhận giải thƣởng tại Castel Gandolfo. Đức ông Marco Frisina và ca đoàn Tổng Giáo phận Rôma trình diễn ca khúc vinh danh Cha nhan đề „Sentieri della speranza‟ (những nẻo Đƣờng Hy vọng). C.- Ngoài ra, một tổ chức khác mang tên Viện Quan sát Quốc tế Văn Thuận www.vanthuanobservatory.org có nhiệm vụ phổ biến các văn kiện, tổ chức hội thảo các vấn đề liên quan đến Giáo huấn xã hội Công giáo. XIV. LỜI NGƢỜI ĐI TRƢỚC. Sau khi trở thành Hồng Y, Cha đã đi Sydney để gặp Bà Cố. Một ngƣời đã hỏi Bà, trƣớc sự hiện diện của Cha, là Bà có hãnh diện về sự thăng chức Hồng Y của con mình. Bà trả lời: « Tôi luôn hãnh diện về con tôi. Là Hồng Y, hay Tổng Giám mục, hay một Linh mục ý

nghĩa gần nhƣ nhau miễn sao Cha luôn phụng sự Thiên Chúa một cách xứng đáng nhất. Đƣợc tham gia Hồng Y Đoàn để làm sáng danh Thiên Chúa. Lúc đó, dĩ nhiên, tôi rất hạnh phúc. » Mạng lƣới VietCatholic News ngày 14.07.2009 có đăng „10 ĐIỀU RĂN CỦA LINH MỤC‟ do Cha viết: 1. Những gì tôi sống trong tƣ cách là một Linh Mục, thì quan trọng hơn những gì tôi làm. 2. Những gì Chúa Kitô làm qua trung gian của tôi, thì quan trọng hơn những gì do chính tôi làm. 3. Những gì tôi với anh em Linh Mục cùng sống, thì quan trọng hơn những gì tôi làm một mình, dù hăng say tới mức suýt bị mất mạng. 4. Những gì tôi sống cho Kinh nguyện và Lời Chúa, thì quan trọng hơn những tổ chức sinh hoạt bên ngoài. 5. Những gì tôi sống vì lợi ích thiêng liêng của ngƣời cộng tác, thì quan trọng hơn những công việc tôi làm cho lợi ích của mình.

6. Hiện diện ít nơi nhƣng thiết yếu để đem lại sức sống, thì quan trọng hơn có mặt khắp nơi nhƣng vội vàng và nửa vời. 7. Hoạt động cùng với ngƣời cộng tác, thì quan trọng hơn là làm một mình, cho dù mình có nhiều khả năng hơn họ. Nói cách khác, hợp tác thì quan trọng hơn hành động riêng rẽ. 8. Hy sinh thập giá âm thầm bên trong, thì quan trọng hơn những thành quả đạt đƣợc bên ngoài. 9. Mở rộng tâm hồn đến những thao thức của cộng đoàn, Giáo phận và Giáo hội toàn cầu, thì quan trọng hơn chăm chú vào những bận tâm riêng, cho dù thiết yếu đến đâu đi nữa. 10. Làm chứng về Đức Tin trƣớc mặt mọi ngƣời, thì quan trọng hơn tìm cách thoả mãn thị hiếu của họ. Hà Minh Thảo

(tiếp theo trang 39) Nói khác đi, chính nhờ siêng năng làm việc đạo đức và hiệp thông với Giáo Hôi trong mọi cử hành phung vụ nhƣ cầu nguyện đọc kinh chung, đi Đàng Thánh Giá, chầu Thánh Thể, năng xƣng tội, nhất là tham dự Thánh Lễ để đƣợc rƣớc Mình Máu Thánh Chúa Kitô, mà đời sống thiêng liêng của chúng ta đƣợc lớn lên, đƣa chúng ta đến gần với Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta tin có thật, Ngƣời đang yêu thƣơng và muốn “ đến và ở lại trong chúng ta” ( Ga 14: 23) , nếu chúng ta thực tâm yêu mến và tìm kiếm Ngƣời trên hết mọi sự ở đời này. Nhƣ thế, yêu mến Chúa thì không thể coi nhẹ đời sống thiêng liêng, coi thƣờng các phƣơng tiện hữu hiệu và cần thiết là các bí tích mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội cử hành để mƣu ích cho phần rỗi của mỗi ngƣời chúng ta, bao lâu còn sống trên trần gian này. Do đó, không thể “sống Đạo” một mình mà không cần đến Giáo Hội, không tham gia đời sống bí tích và phụng vụ của Giáo Hội nhƣ thực trạng sống Đạo hiện nay của rất nhiều ngƣời.. Sau hết, liên quan đến việc đọc Kinh Thánh, có thể nói vắn tắt nhƣ sau: đọc Kinh Thánh là cần thiết và hữu ích.Tuy nhiên, không thể tự đọc mà hiểu đúng đƣợc Lời Chúa trong Kinh Thánh. 32

Vì thế , cần thiết phải tham dự Thánh lễ để đƣợc nghe và giải nghĩa lời Chúa qua các bài đọc ,đặc biệt là bài Phúc Âm. Nhƣng muốn đƣợc hiểu biết thêm về Kinh Thánh thì có thể tham dự những lớp học hỏi về Kinh Thánh do những ngƣời có khả năng chuyên môn hƣớng dẫn ở các giáo xứ, hoặc tốt nhất đi học một khóa về Kinh Thánh ở Đại Học hay Chủng Viện. Ở Mỹ, có nhiều chủng viện thâu nhận cả học viên bên ngoài vào học các lớp Thần học và Kinh Thánh dành cho chủng sinh đang chuẩn bị làm linh mục. Nghĩa là không thể tự học Kinh Thánh để hiểu cho đúng lời Chúa đƣợc. Tóm lại, quan niệm sống Đạo tách rời khỏi , hay không cần hiệp thông hữu hình với Giáo Hội là rất sai lầm. Là tự lừa dối mình nếu không muốn nói là tự kiêu tự đại, cho mình có đủ khả năng để tìm đến với Chúa, không cần phƣơng tiện hữu hiệu mà Chúa Kitô đã có ý ban cho chúng ta là Giáo Hội của Chúa trên trần thế này. Với chức năng siêu phàm, Giáo Hội đƣợc ví nhƣ “ con Tàu của ông Nô-e” trong thời đại ngày nay để cho những ai muốn vào sẽ đƣợc cứu sống giữa cơn phong ba của hồng thủy đang nổi lên để cuốn đi vào lòng đại dƣơng mọi sinh vật bên ngoài con Tàu cứu nguy này. Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN
Trong năm Đức Tin, Giáo Hội mời gọi mỗi ngƣời chúng ta hãy tham gia vào công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu cho mọi ngƣời qua chính đời sống chứng nhân của mình. Đó là một lời mời gọi đầy ý nghĩa và thiết thực nhất để Lời Chúa đƣợc rao truyền đến cho tất cả mọi ngƣời trên tòan thế giới. Trong tâm tình đó, tôi muốn chia sẻ về đời sống chứng nhân Tin Mừng qua công việc truyền giáo của linh mục Gioan Lee Tae Suk tại Nam Sudan- Phi Châu (19622010). Tìm hiểu về cuộc đời truyền giáo của cha và những việc làm nhỏ bé nhƣng chứa đựng TÌNH YÊU phi thƣờng của cha để hiểu rõ hơn rằng: Chính Thiên ChúaNguồn sức mạnh của Đức Tin và Tình Yêu đã giúp cha sống trọn vẹn một cuộc đời chan chứa thƣơng yêu, chia sẻ cho đến tận cùng và sẵn sàng từ bỏ tất cả để theo Chúa. Và cũng chính Đức Tin đã ban nguồn sức mạnh phi thƣờng cho cha để cha đến và sống giữa những ngƣời dân nghèo, đau khổ tại Nam Sudan và trở thành một nguồn hy vọng, một ngọn lửa bừng sáng trong lòng những ngƣời dân tại Nam Sudan- Phi Châu. Cuộc đời của cha đẹp nhƣ những lòai hoa biết nói để tỏa hƣơng sắc của Tình yêu đến cho tất cả mọi ngƣời chung quanh. Cha Gioan Lee là linh mục dòng Salêriêng Don Bosco. Tốt nghiệp bác sĩ y khoa nhƣng cha đã bỏ tất cả công danh sự nghiệp sau lƣng, và cha đã đáp lại tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa để trở thành một linh mục truyền giáo trong

dòng Salêriêng Don Bosco. Ngay sau khi đƣợc truyền chức linh mục tại Tòa Thánh Vatican, cha đã tình nguyện đến truyền giáo tại miền Nam Sudan thuộc Phi Châu. Cha đã từ bỏ tất cả công danh, sự nghiệp của ngƣời bác sĩ để trở thành linh mục. Và hơn thế nữa, cha còn muốn trở thành ngƣời mục tử nhân lành sống giữa đoàn chiên nghèo khổ để chăn dắt họ. Vì thế nên cha đã tình nguyện đến sống tại một xứ sở nghèo đói nhất thế giới, giữa những ngƣời đói khổ và bệnh tật trong làng Tonj thuộc miền Nam Sudan- Phi Châu trong suốt 8 năm trƣớc khi cha qua đời vị căn bệnh ung thƣ ruột già. Cuốn phim tài liệu: “Don‟t Cry for Me Sudan” năm 2010 (“Đừng Khóc Thƣơng Tôi - Sudan”) đã chia sẻ về cuộc đời truyền giáo của linh mục Gioan Lee Tae Suk và là cuốn phim sẽ tham dự Đại hội điện ảnh lần thứ 61 tại Bá Linh vào năm tới2013. Xem phim Don't cry for me Sudan (Xin đừng khóc thƣơng tôi Sudan) phụ đề tiếng Việt do hội truyền giáo Phanxicô Xaviê thực hiện. Một phim đầy cảm động và chan chứa yêu thƣơng. A must see... Sinh trƣởng trong một gia đình nghèo khó gồm 10 anh chị em, cha Gioan Lee Tae Suk là ngƣời con thứ chin. Năm cha lên 9 tuổi, ngƣời 33

bố qua đời để lại gánh nặng gia đình trên đôi vai ngƣời mẹ. Ngƣời mẹ đã phải tần tảo làm nghề may vá để nuôi nấng đàn con 10 anh chị em. Ngay từ khi còn bé, cha Gioan Lee đã phải sống trong cảnh nghèo khó. Sân chơi của cha chính là ngôi nhà thờ gần nhà. Ngay khi còn học bậc tiểu học, cha đã tỏ ra yêu thƣơng các ngƣời nghèo khổ và có ý tƣởng thành lập một cô nhi viện cho các trẻ em mồ côi. Một ngày nọ, khi chứng kiến cảnh một ngƣời ăn xin nghèo khó, rách rƣới mà cha (lúc đó là một cậu bé) không có gì để giúp đỡ ngƣời ăn xin này. Cha đã chạy về nhà và hỏi mƣợn ngƣời chị 1 cây kim và sợi chỉ để khâu lại chiếc quần rách rƣới cho ngƣời ăn xin. Sống trong tuổi thơ nghèo túng, có những ngày cậu bé Gioan Lee Tae Suk đã phải ngồi chờ mẹ về ở ngoài đƣờng, trong con hẻm gần nhà… Do đó, tuổi thơ của cha đã sớm cảm thông với những nỗi bất hạnh của con ngƣời. Khi lên bậc trung học, cha đã tự học đàn Guitar và chơi dƣơng cầm… Năng khiếu âm nhạc đến với cha một cách tự nhiên và dễ dàng. Có lẽ đó là nguồn cảm hứng giúp cha giải bày những xúc động ẩn chứa trong tâm hồn khi chứng kiến những cảnh nghèo đói, bất công và bệnh tật của những ngƣời nghèo khổ trong xã hội. Cha đã tự sáng tác ra những bản nhạc lúc còn học ở

trung học. Những bản nhạc này nhƣ một cầu nối giúp cha đến gần với Thiên Chúa. Cha đã chia sẻ những cảm nhận của mình qua âm nhạc. Âm nhạc đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của cha, giúp cha sống đạo hạnh hơn ngay khi còn là một học sinh bậc trung học. Và sau này, trong cuộc đời truyền giáo của mình, âm nhạc đã giúp cha đến đƣợc với những đứa trẻ quen sống trong cảnh bạo lực tại Nam Sudan và từ đó, âm nhạc đã giúp cha chuyển hƣớng tâm hồn chúng thành những đứa trẻ đầy năng khiếu sáng tạo trong âm nhạc. Là một trong những đứa trẻ rất nghèo, nhƣng cha Gioan Lee Tae Suk đã cố gắng học và thi đậu vào trƣờng y khoa – một nơi mà ngay cả những đứa trẻ nhà giàu đƣợc cho ăn học tử tế - cũng rất khó đƣợc chọn vào. Và cha đã trở thành một bác sĩ y khoa với con đƣờng giàu sang và danh vọng mở rộng trƣớc mặt; đƣợc trở thành một ngƣời giàu sang, quyền quí và đƣợc xếp vào bậc thƣợng lƣu trong xã hội. Viễn ảnh tƣơng lai thật huy hoàng ngay trƣớc mặt….Nhƣng sau những năm tháng phục vụ nhƣ một bác sĩ y khoa trong quân đội, cha đã cảm nhận đƣợc tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa. Và cha đã quyết định từ bỏ tất cả con đƣờng sự nghiệp đang mở rộng thênh thang trƣớc mắt để bƣớc vào dòng tu Salêriêng- Don Bosco và trở thành linh mục - ngƣời của Chúa. Đứng trƣớc sự chọn lựa của cha, ngƣời mẹ đã đau đớn vì phải hy sinh trong suốt bao năm tháng nuôi con trƣởng thành; nay lại nhìn thấy viễn cảnh của cuộc sống khó nghèo do bởi sự chọn lựa đó của con mình. Ngƣời mẹ đã không đành lòng mất đi ngƣời con yêu dấu sau những tháng ngày vất vả

nuôi nấng con nên ngƣời. Nhƣng rồi bà cũng phải nhận ra Ơn gọi mãnh liệt mà Thiên Chúa đã gieo vào tâm hồn cậu bé Gioan Lee Tae Suk ngay những ngày còn nhỏ. Cha đã biết ơn ngƣời mẹ đã hy sinh trọn vẹn cuộc sống để lo cho đàn con. Và giờ đây, lại một lần nữa, ngƣời mẹ đó đã hy sinh những danh vọng lẽ ra sẽ nhận đƣợc nếu ngƣời con tiếp tục con đƣờng phục vụ nhƣ một ngƣời bác sĩ tại nơi chính quê nhà của ông – Hàn quốc. Ngƣời mẹ cuối cùng đã nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa đối với con mình còn cao cả hơn tất cả những gì mà thế gian mang lại. Thế là Gioan Lee Tae Suk bƣớc vào dòng tu Salêriêng- Don Bosco. Vào những năm tháng còn ở chủng viện, thầy Gioan Lee Tae Suk đã có lần đƣợc đến thăm miền Nam Sudan- Phi Châu. Ở nơi đó đã xảy ra cuộc chiến tranh Nam- Bắc vào năm 1983, và cuộc chiến đó đã tàn phá khủng khiếp đất nƣớc này. Cuộc chiến đã làm hơn hai triệu ngƣời bị chết và đã để lại bao nhiêu tang tóc cho những ngƣời dân quê nghèo khổ. Những ngƣời còn sống sót sau chiến tranh thì lại bị chết vì bệnh tật và nghèo đói. Họ phải sống nơi một vùng đất mà nguồn nƣớc uống bị ô nhiễm trầm trọng. Do đó, ngay sau buổi lễ truyền chức linh mục tại Vatican- Rome, cha Gioan Lee Tae Suk đã xin tình nguyện đến phục vụ tại miền Nam nƣớc Sudan ở Phi Châu. Tại nơi đây, vào năm 2001, cha đã mở phòng khám bệnh đầu tiên tại Nam Sudan, và là ngƣời bác sĩ duy nhất tại đó. Mỗi ngày, cha khám và chữa trên 30 bệnh nhân. Có những bệnh nhân đã đi bộ hàng trăm Kilômét để đến với cha. Có cả những ngƣời phải đi bộ 2-3 ngày đƣờng để đến 34

đƣợc nơi phòng khám. Mỗi ngày đều có 30-40 ngƣời chờ đợi để đƣợc khám bệnh. Nhận thấy nhu cầu quá lớn của những ngƣời dân tại Nam Sudan, cha đã quyết định xây một bệnh viện bằng những viên gạch do chính tay cha và dân làng tự làm nên. Cha đã đặt mua xi măng từ Kenya và lấy cát từ dòng sông Tonj thuộc Nam Sudan. Dƣới cái nóng trên 50 độ C, cha đã cùng làm việc với những ngƣời dân làng để đúc những viên gạch và dung chính những viên gạch đó để xây dựng thành một bệnh viện. Năm 2007, bệnh viện do cha Gioan Lee Tae Suk và dân làng xây đƣợc hình thành gồm 12 phòng. Nơi đây, cha đã chữa trị cho các bệnh nhân bị bệnh phổi, tiêu chảy, sốt rét, các phụ nữ mang thai, các trẻ em cần chủng ngừa dịch tả v.v… Cha không bao giờ từ chối bất kỳ một bệnh nhân nào đến với cha, ngay cả vào ban đêm khi cha đang yên ngủ sau một ngày làm việc mệt nhọc. Khi có những bệnh nhân đang trong tình trạng nguy kịch đến cầu cứu cha vào ban đêm, cha vẫn sẵn lòng giúp họ mà không một lời phàn nàn than trách. Các bệnh nhân vẫn liên tục kéo đến với hy vọng đƣợc cha chữa lành các vết thƣơng cả thể xác lẫn tâm hồn. Với họ, cha là một ngƣời cha và là một thầy thuốc. Cha đã đến với họ bằng tất cả tình yêu thƣơng mà họ chƣa bao giờ đƣợc ban phát. Cha là hiện thân của Chúa Giêsu trong trái tim và tấm lòng của họ. Tại nơi này không có nguồn điện. Do đó, cha đã tự làm những tấm năng lƣợng mặt trời để tạo ra nguồn điện dùng để cung cấp điện năng cho các tủ lạnh để bảo quản các loại thuốc chủng ngừa cho trẻ em. Mỗi ngày thứ Tƣ trong tuần, cha lái xe đến 8 ngôi làng khác nhau để chữa bệnh cho

những ngƣời phong cùi, mù lòa ... khi họ không thể đi xa đƣợc, mà chỉ có thể ngồi tại nhà của họ. Thậm chí, có những ngƣời không có ai chăm sóc thì bị chết trong nhà mà không ai hay biết. Cha luôn sẵn sàng giúp đỡ bất kỳ ai cần đến Ngài. Năm 2005, khi hòa bình đƣợc tái lập giữa miền Nam và Bắc Sudan, bảo đảm sự an ninh khi di chuyển; thì đến năm 2006, cha bắt đầu chƣơng trình thăm viếng các bệnh nhân bị phong cùi khi họ không thể bƣớc chân ra khỏi nhà. Trƣớc khi cha đến, họ đã chết mà cũng không biết chết vì bệnh gì? Cha đã thành lập một ngôi làng cho những ngƣời mắc bệnh phong ở và cấp thuốc để chữa trị và ngăn ngừa chứng bệnh lây lan. Cha là ngƣời duy nhất yêu thƣơng họ, đến với họ và lắng nghe họ. Mỗi lần cha đến thăm họ, cha không bao giờ đi với hai bàn tay không. Cha luôn có quà cho tất cả mọi ngƣời, khi thì là những cái áo, khi thì là những đôi vớ, lúc thì là những cái quần, những đôi giày, những cái áo ấm v.v... Cha là ngƣời đã khâu những vết thƣơng đầy máu mủ nơi chân tay những ngƣời bệnh phong và băng bó vết thƣơng cho họ. Cha đã đo chân từng ngƣời và đặt làm những đôi giày cho họ mang để họ bớt đau đớn mỗi khi di chuyển. Không hề có một rào cản nào ngăn cách giữa cha và những ngƣời mắc bệnh phong cùi này. Họ đã sống trong hạnh phúc vì đã đƣợc yêu thƣơng mặc dù họ rất nghèo và bị xã hội bỏ rơi. Cha là một linh mục đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc đã từ bỏ đất nƣớc của mình và sang phục vụ bên Phi Châu. Cha đã sống và đã hội nhập để trở thành một ngƣời dân làng Tonj.

Trong cuốn tự truyện: “Các con là những ngƣời bạn của cha”, cha đã chia sẻ động lực thúc đẩy cha đến miền Nam Sudan là: Ngay khi còn nhỏ, cha đã cảm nhận đƣợc sự hy sinh của ngƣời mẹ nuôi nấng và lo lắng, chăm sóc cho đàn con 10 ngƣời. Lớn lên, cha nhìn thấy gƣơng hy sinh phục vụ của các cha, các soeur nơi cha sinh trƣởng; và nhất là của chính một ngƣời anh làm linh mục, và một ngƣời chị làm nữ tu. Đặc biệt hơn cả là sự hy sinh tận cùng của ngƣời mẹ khi chấp nhận cho cha từ bỏ con đƣờng sự nghiệp của ngƣời bác sĩ để trở thành linh mục. Bà mẹ đã từ bỏ sự hƣởng thụ giàu sang khi có con làm bác sĩ để sẵn sàng nâng đỡ cha khi Ngài quyết tâm đi theo lời mời gọi của Chúa. Chính những tấm gƣơng sáng đó đã là những động cơ thúc đẩy cha lên đƣờng đi đến Sudanmột nơi nghèo khổ nhất trên thế giới để phục vụ cho những ngƣời nghèo, bệnh tật và bất hạnh. Ở nơi đó, cha là ngƣời đã xây dựng một ngôi trƣờng học đầu tiên từ cấp mẫu giáo đến cấp trung học. Các giáo sƣ đƣợc cha mời đến từ Keyna để dạy cho các em. Và chính cha cũng đã dùng thời gian eo hẹp của mình để dạy môn toán cho các em. Nhìn cảnh các trẻ em ngay từ nhỏ đã làm quen với súng đạn, cha quyết tâm phát triển năng khiếu âm nhạc nơi tâm hồn các em để thay những khẩu súng trong tay các em thành những chiếc kèn đồng. Cha đã dùng âm nhạc để xoa dịu những vết thƣơng chiến tranh trong lòng các em. Thế là cha đã hy sinh những giờ ngủ để tập những nhạc cụ, tập thổi kèn trƣớc rồi sau đó dạy cho các em học. Và cuối cùng, giấc mơ của cha đã thành hiện thực. Một đội kèn đầu tiên ở Nam Sudan đã đƣợc thành lập. Cha đã 35

xin các ân nhân để gửi tặng những bộ đồng phục của ban kèn cho các em mặc. Cha nâng đỡ những đứa trẻ và phát triển tài năng về âm nhạc của chúng để chống lại bạo lực tại nơi đây. Khi tâm hồn những đứa trẻ bị tan vỡ do những vết thƣơng chiến tranh tạo ra, qua âm nhạc, chúng sẽ tìm đƣợc niềm vui và hy vọng. Đây là một biến cố vô cùng trọng đại trong một đất nƣớc bị tàn phá quá nhiều do bởi chiến tranh. Đối với những ngƣời dân tại Sudan thì có đƣợc một ban kèn là một sự việc ngoài trí tƣởng tƣợng của họ, và là một biến cố gây kinh ngạc mãnh liệt cho họ. Vì từ đây, những đứa trẻ không còn cầm súng trên tay mà thay vào đó là những chiếc kèn mang lại những âm thanh của hòa bình, tình yêu và hy vọng…. Nhƣng thật đau buồn thay, trong một chuyến nghỉ hè vào tháng 10/2008: Khi trở về Hàn Quốc, cha đã làm một cuộc xét nghiệm sức khỏe tổng quát theo lời khuyên của một bác sĩ, và cha đã phát hiện ra mình đang mang chứng bệnh ung thƣ ruột già ở giai đoạn cuối. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, cha vẫn chiến đấu dũng cảm với cơn bệnh qua 14 lần chạy hóa trị (chemotherapy) để mong đƣợc trở về lại Sudan thăm các em. Cũng trong những ngày tháng chữa bệnh này, cha đã viết cuốn sách: “Các con là những ngƣời bạn của cha”. Và cuốn sách đã đƣợc phát hành vào tháng 05/2009. Một tháng trƣớc khi về với Chúa, biết mình không thể trở lại Sudan đƣợc, cha đã mời hai em trong đội kèn đến thăm cha tại Hàn Quốc. Và tại đây, cha đã bảo trợ cho hai em đó đƣợc vào học đại học.

Cuối cùng, vào ngày 14/01/2010, cha đã ra đi về với Chúa khi đã sống trọn vẹn 48 năm cuộc đời tại dƣơng thế với những ngày tháng phục vụ trọn vẹn cho những ngƣời đau khổ, bệnh tật, phong cùi, nghèo đói ... tại Sudan. Ngày 16/01/2010 là thánh lễ an táng cha tại nhà dòng Saleriêng – Don Bosco. Cha đã ra đi trong nụ cƣời, còn những ngƣời ở lại đã đƣa tiễn cha trong những giọt nƣớc mắt của đau đớn và tiếc thƣơng. Mặc dù cha đã ra đi về với Chúa, nhƣng Niềm Tin của cha đã biến thành hiện thực. Cha đã sống và đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời của cha cho những ngƣời đau khổ và bất hạnh. Tin cha qua đời bay đến Sudan và những ngƣời dân ở đây đã đau đớn và không thể chấp nhận một thực tại phũ phàng, quá nhiều mất mát cho họ. Họ khóc thƣơng cha nhƣ khóc thƣơng một ngƣời thân yêu duy nhất đã yêu thƣơng họ, đã chăm sóc tận tình cho họ, đã chia sẻ và ủi an họ với một tình yêu đồng lọai mà họ chƣa từng đƣợc biết đến. Có những ngƣời dân làng xa xôi đã đi bộ hơn 4 ngày trời để đƣợc đến tham dự nghi thức tiễn biệt cha lần cuối tại ngôi Thánh đƣờng mà chính cha đã cùng với họ xây cất nên. Họ mang trên tay những tấm ảnh của cha nhƣ muốn níu kéo cha ở lại mãi với họ. Các em trong ban kèn đã diễn hành từ căn nhà thƣơng- nơi cha xây dựng và chữa bệnh đến ngôi thánh đƣờng- nơi cử hành nghi thức tiễn biệt ngƣời cha thân yêu của họ. Tất cả những ngƣời dân làng từ khắp nơi kéo về, có những ngƣời đã đi bộ hơn 400Km để đến tham dự nghi thức tiễn biệt cha lần cuối. Những dòng nƣớc mắt khóc thƣơng cho một ngƣời cha hiện thân của

Tình Yêu và Hy Vọng; hiện thân của Chúa Giêsu trong tâm hồn họ. Chính cha là ngƣời đã xoa dịu và chữa lành bao vết thƣơng nơi thể xác lẫn tâm hồn của những ngƣời dân đau khổ đang sống tại một nơi nghèo nhất thế giới văn minh này. Tại nơi đây, những ngƣời dân làng đơn sơ, chất phát đã khóc thƣơng cha nhƣ khóc thƣơng ngƣời cha tinh thần của họ. Trong tâm hồn và trong trái tim của họ đã không còn ranh giới giữa giàu sang và đói khổ, mà chỉ còn lại tình yêu và sự đau xót nhớ thƣơng. Họ đau đớn vì đã mất đi một con ngƣời đã đến sống và ở giữa họ; đã yêu thƣơng và trao tặng họ món quà vô giá của tình ngƣời. Họ đau đớn vì đã không còn một niềm an ủi và hy vọng giữa cảnh sống nơi một xã hội mà họ đang bị bỏ rơi một cách nghiệt ngã. Cha Gioan Lee Tae Suk không chỉ là một ngƣời cha, một linh mục mà cha đã là TẤT CẢ của họ. Cha đã sống và đã rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu bằng chính cuộc đời của cha. Cha là hiện thân của Chúa Giêsu trong lòng những ngƣời dân làng Tonj tại Nam Sudan, nơi mà bản thân họ đang phải chịu đựng những tổn thƣơng do bởi một xã hội đầy rẫy những bất công và một thế giới tràn ngập những đau khổ tạo ra… Cha đã gieo những hạt giống của Đức Tin và Tình Yêu trong tâm hồn những ngƣời dân đau khổ và bất hạnh này. Sự ra đi của cha ở độ tuổi 48 khi Ngài còn đang tha thiết muốn phục vụ và đƣợc phục vụ những ngƣời dân nghèo là một nỗi đau và là sự mất mát không thể bù đắp nơi tâm hồn của những ngƣời dân làng Tonj đầy bất hạnh này. Nhƣng Niềm Tin mà

cha đã gieo rắc và vun đắp trong trái tim và tâm hồn của các trẻ em, nơi các ngƣời già yếu, bệnh tật, phong cùi, mù lòa v.v… ; Niềm Tin đó vẫn sống mãi trong lòng họ… Vì trong một thế giới đầy đầy bất hạnh và bạo lực này, vẫn đang có những bàn tay và những tâm hồn của những ngƣời môn đệ theo chân Chúa, những ngừời đang hy sinh cả cuộc đời để sống cho Tình Yêu của Chúa, và mang Tình Yêu đó xoa dịu những vết đau và lau rửa những vết thƣơng trong tâm hồn và nơi thể xác của bao ngƣời bất hạnh. Trong năm Đức Tin này, hy vọng mỗi ngƣời chúng ta cũng sẽ là những bàn tay nối dài của Thiên Chúa. Những bàn tay của những tâm hồn đƣợc lớn mạnh trong Đức Tin và đƣợc nuôi dƣỡng trong Ân sủng để có thể sẵn sàng chia sẻ và làm chứng về Tình Yêu Thiên Chúa cho mọi ngƣời. Ƣớc chi cuộc sống chứng nhân của cha Gioan Lee Tae Suk trong thời đại hôm nay luôn sống động trong lòng của tất cả mọi ngƣời chúng ta. Qua đó, mỗi ngƣời chúng ta cũng sẽ trở nên những ngƣời truyền giáo, rao giảng Tin Mừng của Chúa qua chính những việc làm bác ái và yêu thƣơng, cùng với những đóng góp xây dựng một thế giới trong hòa bình qua việc chia sẻ, nâng đỡ, ủi an và yêu thƣơng những ngƣời kém may mắn, bất hạnh hơn chúng ta. Xin thân ái kính chúc Cộng đòan dân Chúa sống năm Đức Tin tràn đầy Ân sủng và Tình Yêu của Thiên Chúa và qua Ơn lành từ mẫu của Mẹ Maria. Ngày 16 Tháng 10 Năm 2012 Maria Trần Thị Lệ Xuân

36

CÓ CẦN THIẾT PHẢI THỰC HÀNH ĐỨC TIN TRONG GIÁO HỘI ĐỂ ĐƢỢC CỨU RỖI KHÔNG ?

Hỏi : Thực tế là có rất nhiều ngƣời Công giáo ngày nay không muốn đi xƣng tội, không đi lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc vì nhiều lý do. Nhiều ngƣời nghĩ rằng chỉ cần giữ đức tin trong lòng và đọc Kinh Thánh ở nhà là đủ, không cần phải đi nhà thờ nữa ! Nhƣ vậy có đƣợc không ? Trả lời ; Thực trạng sống Đạo của rất nhiều ngƣời Công giáo ở khắp nơi trên thế giới ngày nay (trong đó có ngƣời công giáo ViệtNam ở hải ngoại) quả thật là điều đáng buồn. Con số ngƣời đi xƣng tội chiều thứ bảy, tham dự Thánh lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc đã giảm rất nhiều theo các thống kê đáng tin cậy. Có nhiều lý do để giải thích thực trạng này. Nào vì hấp lực của văn minh vật chất, chủ nghĩa tục hóa (secularism) và hƣởng thụ khoái lạc (hedonism) đã lôi cuốn nhiều ngƣời bỏ Chúa để chậy theo những quyến rũ của “văn hóa sự chết” nhƣ Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã cảnh giác. Đó là những ngƣời đang mê mải kiếm tiền để làm giầu bằng mọi phƣơng tiện, bắt chấp công bằng và bác ái cũng nhƣ tìm vui trong trong việc ăn uống, nhẩy nhót,(già trẻ, xồn xồn đều thích trò chơi thiếu lành mạnh này) cờ bạc, du hí ở những nơi tội lỗi , và do đó bỏ quên hay lơ là việc sống Đạo, cần thiết hơn. Mặt khác, cũng vì tình trạng tha hóa về luân lý, đạo đức ngày

một bành trƣớng ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở những quốc gia vốn tự nhận là thuộc về KitôGiáo (Christian Countries) nhƣ Pháp, Ý, Đức , Tây Ban Nha, Canada và Hoa kỳ… nhƣng nay lại dung dƣỡng hay cho phép những thực hành phản Kitô Giáo nhƣ phá thái, chết êm dịu (Euthanasia) ly dị, hôn nhân đồng tính (same sex marriage) Lại nữa ,họ cũng làm ngơ hay tiếp tay cho kỹ nghệ sản xuất phim ảnh dâm ô (pornorgraphy), và mãi dâm phát triển làm đồi trụy không những ngƣời lớn mà đặc biệt là thanh thiếu niên vì những kỹ thuật và hình ảnh kích thích dâm tính công khai bầy bán trong các tiệm DVD for Adaults và trên mạng vi tính toàn cầu. Sau nữa, vì cuộc sống tƣơng đối đễ dàng, thoải mái cộng với tự do quá trớn ở các nƣớc Âu Mỹ đã làm cho nhiều ngƣời không còn cảm thấy cần Chúa nữa và chỉ muốn vui sồng cho thỏa thích trong giây phút hiện tại mà thôi. Cứ đi một vòng quanh những nơi tụ họp công công sẽ thấy trẻ già,trai gái, xồn xồn ôm nhau nhẩy nhót trong những chƣơng trình gọi là “văn nghệ cuối tuần” hay “ hát cho nhau nghe” trong đó chắc chắn có những ngƣời công giáo không đi lễ ngày Chúa Nhật nhƣng lại có mặt đúng giờ để tham dự các cuộc vui thâu đêm suốt sáng này.! Đặc biệt, còn có rất nhiêu ngƣời không đi Lễ mừng Chúa Giáng Sinh nhƣng lại tích cực tổ chức và tham dự những buổi ăn uống, dạ vũ vui chơi trong đêm Giáng Sinh !!. Đây quả thực là một sỉ nhục cho ý nghĩa trọng đại của ngày kỷ niệm “Thiên Chúa làm Ngƣời và cƣ ngụ giữa chúng ta.” ( Ga 1 :14).Do đó, không thể lấy cớ mừng Chúa Giáng Sinh để ăn chơi phóng túng nhân dịp này, thay vì dọn tâm hồn cho sốt sắng để cùng với Giáo Hội cảm tạ 37

Chúa đã giáng sinh để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết đời đời vì tội. Nhƣng đáng buồn thay, là đứng trƣớc thực trạng này, những ngƣời có trách nhiệm giáo dục luân lý và đạo đức, -cách riêng hàng giáo sĩ với sứ mệnh rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, chăm lo cho phần rỗi của các tín hữu đƣợc trao phó cho mình dạy dỗ, và hƣớng dẫn về mặt thiêng liêng, lại không có can đảm nhìn vào sự thật và mạnh mẽ lên án những nguy cơ đe dọa cho đức tin Công Giáo dẫn đến sự thờ ơ sống Đạo của nhiều tín hữu trong Giáo Hội ngày nay.Đáng lý phải mạnh mẽ nói cho mọi tín hữu biết sự cần thiết phải tìm kiếm Thiên Chúa và Vƣơng Quôc bình an, hạnh phúc của Ngƣời trên hết mọi vui thú và danh lợi chóng qua ở trần thế này, thay vì im lặng để đƣợc an thân,hay đáng buồn hơn nữa – là một số ngƣời còn cộng tác với thế quyền để tìm tƣ lợi, bỏ quên sứ vụ rao giảng và làm nhân chứng cho Chúa trƣớc mặt ngƣời đời. Nhƣng thử hỏi : đƣợc mọi lợi lãi ở đời này mà không đƣợc cứu rỗi thì ích lợi gì ? Tin mới nhất vừa cho biết là nhà độc tài Gadahfi của Libya đã bị bắn chết cách thê thảm, kết thúc 42 năm cai trị sắt máu ở quốc gia Phi Châu này. Nhƣng nếu giả sử ông ta không đƣợc cứu rỗi để sống đời đời, thì thử hỏi những lợi lãi trần thế to lớn mà ông có đƣợc nhƣ 6 bà vợ chính thức, quyền uy tột đỉnh danh vọng, tiền bạc vơ vét đầy túi, đầy kho, sau 42 năm cai trị xừ giầu hỏa Libya liệu có thể bù đắp đƣợc cho sự thiệt thòi to lớn là mất sự sống hay không?

Dầu sao đây cũng là bài học đắt giá cho những kẻ độc tài, cai trị vô nhân đạo còn sót lại trên thế giới phải suy nghĩ mà sám hối để kịp thời rút lui, kẻo chắc chắn có ngày sẽ bị quần chúng trừng trị đích đáng. nhƣ số phận của Gadahfi, Mubareck, Sadam Hussein, Binladen…

Chắc chắn đây không phải là cách sống Đạo đúng nghĩa của ngƣời tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo.

Thật vậy, trƣớc hết là vấn đề đức tin.Thế nào là tin ? tin có Thiên Chúa tốt lành thì phải yêu mến và giữ Luật của Ngƣời. Mà yêu mến thì phải thể hiện bằng hành động cụ Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã thể chứ không thể nói suông ngoài nói nhƣ sau với các môn đệ xƣa: miệng là tin mà không có việc làm Câu chuyện trên chỉ là “Nếu ngƣời ta đƣợc cả thế giới mà nào bề ngoài để chứng minh. chuyện tƣởng tƣợng, nhƣng cũng phải thiệt mất mạng sống, thì nào giúp minh chứng phần nào điều Một chuyện vui kể rằng, ở một giáo Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ dạy nhƣ có lợi gì ? Hoặc ngƣời ta sẽ lấy gì mà đổi mang sống mình? (Mt 16: xứ kia, Cha Xứ chợt lƣu ý đến một sau về sự cần thiết phải thể hiện ông già nọ vốn thƣờng sốt sắng đức tin qua hành động cụ thể: 26; Mc 8: 36; Lc 9 : 25) tham dự không những Thánh Lễ Có ai đƣợc lợi lãi cả thế giới này ngày Chúa Nhật mà còn siêng năng “Hởi ngƣời đầu óc rỗng tuếch, bạn đâu.? Nhƣng cho dù có ai chiếm đi lễ mỗi ngày nữa.. Nhƣng bẵng đi có muốn biết rằng đức tin không có đƣợc mọi của cải và danh vọng trên một thời gian lâu, ông cụ vắng hành động là vô dụng không ? Ông trần thế này mà cuối cùng mất linh bóng ở nhà thờ. Cha Xứ lấy làm lạ, Abraham tổ phụ chúng ta đã chẳng hồn thì những lợi lãi kia cũng tƣởng ông cụ bị đau ốm hay đã di đƣợc nên công chính nhờ hành không thể bù đắp đƣợc cho sự thiệt chuyển đi nơi khác. Cha bèn đến động khi ông hiến dâng con mình là thòi lớn lao là mất sự sống, mất linh nhà thăm ông xem sao. Đến nơi I-xa-ác trên bàn thờ đó sao? hồn. Đó là điều Chúa muốn nói với cha vẫn thấy ông ở nhá. Hỏi lý do mỗi ngƣời chúng ta đang sống vì sao ông vắng mặt ít lâu nay ở nhà Bạn thấy đó : đức tin hợp tác với hành động của ông, và nhờ hành trong môi trƣờng thế giới quá bị thờ thì ông trả lời cha nhƣ sau: động mà đức tin nên hoàn hảo.” nhiễm độc vì chủ nghĩa tục hóa “con thấy không cần phải đi lễ, đọc (Gc 2:20-22) (secularism) tôn thờ vật chất và chủ nghĩa khoái lạc (hedonism) kinh chung nữa. Con ở nhà đọc Chúa Kitô đã thiết lập Giáo Hội của lôi kéo con ngƣời đi tìm mọi mọi Kinh Thánh, lần chuỗi và nhớ đến Ngƣời trên trần thế và ban các bí Chúa trong lòng là đủ rồi. vui thú vô luân vô đạo. tích nhƣ phƣơng tiện hữu hiệu và Cha mỉm cƣời và hỏi ông : “ thế cần thiết để thông ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn các con cháu cụ bây giờ ở đâu” ? nhận lãnh qua Giáo Hội. Ông cụ đáp : “chúng ở xa con lắm, Nhƣng không phải cứ rửa tội rồi là nhƣng hàng năm cứ vào dịp Lễ sẽ đƣợc cứu rỗi. Cũng không thể Giáng Sinh và Tết thì đều trở nói khơi khơi nhƣ anh em Tin về thăm con và cho quà tử tế.” Lành rằng “tôi tin Chúa Kitô” là Nghe xong cha xứ nói : “tốt lắm, xong, không cần phải làm gì nữa, nhƣng cụ làm ơn cho tôi xin địa Tôi đã hơn một lần nói rõ là : theo chỉ hay số phôn của của các con Thần học và giáo lý của Hội Thánh, dựa trên Kinh Thánh và ơn mạc cháu cụ đi ”. khải của Chúa Thánh Thần, - “Để làm gì thƣa cha” ? ông cụ hỏi. thì muốn đƣợc cứu rỗi, nghĩa là Chúng ta phải nghĩ thế nào về quan đƣợc sống hạnh phúc đời đời với niệm này của những ngƣời nói trên? Cha trả lời ngay: “để tôi viết thƣ Thiên Chúa trên Thiên Nƣớc Trời hay phôn cho các con cháu cụ bảo mai sau đòi hỏi chúng ta trƣớc hết Để bào chữa cho việc thờ ơ sống Đạo, không muốn tham dự các nghi thức phụng vụ của Giáo Hội- cụ thể là tham dự Thánh Lễ các ngày Chúa Nhật và Lễ buộc- nhiều ngƣời nghĩ rằng chỉ cần tin và đọc Kinh Thánh ở nhà, hay nghe những chƣơng trình giàng Kinh Thánh của các mục sƣ Tin Lành trên truyền hình là đủ, không cần phải năng xƣng tội hoặc tham dự Thánh Lễ hàng tuần nữa ! 38

họ đừng tốn công và tiền bạc về thăm cụ nữa. Họ chỉ cần nhớ đến cụ trong lòng là đủ rồi; không cần thiết phải về thăm cho tốn thì giờ và tiền bạc nữa. Nói xong cha xứ cáo từ ra về trong khi ông cụ ngồi suy nghĩ những lời của cha vừa nói.. Và mấy hôm sau, ngƣời ta lại thấy ông cụ xuất hiện ở nhà thờ nhƣ cũ.

phải cậy nhờ lòng thƣơng xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô cộng thêm phần đóng góp của cá nhân con ngƣời vào ơn thánh.. Chính yếu tố cần đóng góp thêm của con ngƣời vào ơn cứu độ, mà ngƣời tín hữu không thể thờ ơ với nhu cầu tối quan trọng là phải sống và thực hành đức tin trong Giáo Hội sau khi đƣợc lãnh Phép Rửa. Thật vậy, đức tin đƣợc ví nhƣ hạt giống gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ hay ngƣời tân tòng khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Hạt giống này không thể tự nó lớn lên và sinh hoa kết quả đƣợc, nếu không có sự vun xới, tƣới bón của những ngƣời có trách nhiệm hỗ trợ về mặt thiêng liêng là cha mẹ và ngƣời đỡ đầu đối với trẻ em, của ngƣời bảo trợ và cộng đoàn đức tin đồi với ngƣời tân tòng.. Do đó, nếu cha mẹ không lo giáo dục đức tin cho con cái trong gia đình, nhất là cho con cái đƣợc tiếp cận với một cộng đoàn đức tin – cụ thể là một giáo xứ- để con em đƣợc học hỏi giáo lý và lãnh nhận các bí tích quan trọng và cần thiết khác nhƣ xƣng tội , rƣớc lễ lần đầu, và thêm sức thì đức tin của các em sẽ không thể lớn lên đƣợc. ( tiếp theo trang 42)

Đối với ngƣời tân tòng (catechumens) và những ngƣời lớn ( adults) đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy từ ngày sơ sinh, thì việc nuôi dƣỡng và thực hành đức tin trong Giáo hội cũng cần thiết không kém..Cụ thể, nếu không tham dự việc cầu nguyện chung với cộng đoàn đức tin là giáo xứ, và nếu không tin –hay không nhìn nhận lợi ích của bí tích hòa giải để năng đi xƣng tội, nhất là không tham dự Thánh Lễ, và rƣớc Mình Máu Thánh Chúa là “ nguồn suối và đỉnh cao của đời sống Giáo Hội” thì ngƣời ta lấy gì để nuôi dƣỡng và lớn lên trong đức tin ? Đằng rằng tin có Chúa là điều quan trọng và đọc Thánh Kinh là cần thiết và bổ ích. Nhƣng đức tin phải đƣợc nuôi dƣỡng sung mãn với ơn Chúa thông ban qua các bí tích quan trọng nhƣ Phép rửa, Thêm sức, Hòa giải và nhất là bí tích Thánh Thể là nguồn mạch chính nuôi dƣỡng đời sống thiêng liêng của Giáo Hội nói chung và của cá nhân mỗi tín hữu nói riêng. Vì thế, nêu không tham dự mọi cử hành phụng vụ thánh của Giáo Hội mà đỉnh cao là Thánh Lễ Tạ Ơn thì đức tin và đời sống thiêng liêng của chúng ta sẽ không thể tăng trƣởng đƣợc và có đủ sức để sống đức tin ấy trƣớc những thách đố của

sự dữ, dịp tội đầy rẫy trong trần thế này, nhất là những mƣu chƣớc thâm độc của ma quỉ “ Thù địch của anh em nhƣ sƣ tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé” ?( 1Pr 5: 8) Kinh nghiệm cá nhân và phổ quát chứng minh rằng muốn đƣợc thăng tiến trong bất cứ lãnh vực nào, ngƣời ta cần phải cố gắng học hỏi và trau giồi kiến thức và kỹ năng chuyên môn của lãnh vực ấy. Một lực sĩ không thể giữ đƣợc thành tích của minh nếu không chuyên cần tập luyện mỗi ngày. Chân lý này hoàn toàn đúng trong lãnh vực thiêng liêng, đạo đức. Một ngƣời siêng năng cầu nguyện nhất là tham dự Thánh Lễ và rƣớc Minh Thánh Chúa sẽ tăng lòng yêu mến và gần Chúa hơn ngƣời làm biếng không cầu nguyện và rƣớc Minh Thánh Chúa.Tình trạng “nguội lạnh thiêng liêng” này sẽ đƣa đến sự sa sút đức tin, đức cậy và đức mến theo thời gian. Đó chính là điều Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xƣa: “Và phàm ai đã có thì đƣợc cho thêm và sẽ dƣ thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi.” ( Mt 25:29) (xem tiếp trang 32)

Ở Việt Nam ta có rất nhiều trại nuôi rắn. Tất cả các trại nuôi rắn này vẫn không làm sao cung cấp đủ cho giới tiêu thụ, vì vậy mà giá rắn, nhất là loại rắn hổ, càng ngày càng đắt giá. Các ông bà chủ trại nuôi rắn cứ tha hồ mà hốt bạc! Một con rắn đeo mắt kính, giá cả mấy trăm đô la! trong cái xứ mà các công ty, nhất là các công ty quốc doanh cứ bảo nhau mà khai phá sản, thì chỉ có các công ty nuôi rắn là tiến mau, tiến mạnh lên chủ nghĩa... hốt bạc!

Cái gì của rắn cũng mắc cả. mắc thứ nhất là nọc rắn, rắn càng độc thì nọc càng mắc. Da của rắn cũng không rẻ, còn thịt rắn thì lại là cái thứ thịt vùa thơm ngon, trân quý, lại chữa đƣợc bệnh, thì thử hỏi còn có thứ thịt nào sánh đƣợc với thịt rắn không? Do đó mà rắn rất có giá! một gia đình mà nuôi đƣợc mấy cặp rắn hổ đeo kính (king cobra) thì một năm chỉ cần sản xuất lấy mƣơi mƣời lăm con rắn con là đủ nuôi sống cả gia đình trong cái xứ cộng huề xã hội chủ nghĩa muôn năm ….vậy!

39

Cộng Đồng CGVN tại Đan Mạch

Khai mạc Năm Đức Tin, tại København – Đan Mạch
Vào lúc 13g thứ 7 ngày 27 tháng 10 năm 2012, tại Thánh đƣờng Sankt Paul - Tåstrup / Sjælland đồng hành cùng Hội Thánh, Cộng Đồng Công Giáo VN tại Đan Mạch, với sự hiện diện của Cộng Đoàn København/ Sjælland, Cộng Đoàn Århus và các Cộng Đòan xa gần ... đã long trọng bƣớc vào Năm Đức Tin qua thánh lễ khai mạc. Đức Giám Mục Czeslaw Kozon, giáo phận København – Đan Mạch chủ tế cùng với các Linh Mục Việt Nam : LM Giuse Chu Huy Châu, LM Phêrô Nguyễn Kim Thăng, LM Gioan Baotixita Nguyễn Ngọc Thế và LM Giuse Nguyễn bá Thành từ địa phận Quy Nhơn nhân dịp đến viếng thăm København. Mặc dù Đan Mạch sắp vào đông khá lạnh, nhƣng trời quang mây tạnh. Gần đến giờ lễ mọi ngƣời bắt đầu kéo đến nhà thờ nhƣ ngày hội. Đặc biệt cộng đoàn Århus đã tích cực huy động 2 xe buýt đƣa đón 110 tín hữu, gồm quý ông bà, anh chị em và các cháu. Trƣớc khi bắt đầu thánh lễ, Cô Têrêsa Huỳnh Thị Thúy Hằng, đại diện của cộng đoàn København/ Sjælland đọc bài diễn văn khai mạc năm Đức Tin. Tóm tắt ý nghĩa và mục đích, cùng mời gọi mọi ngƣời củng cố, cải thiện niềm tin, để sám hối, hoán cải trở về với Thiên Chúa. Anh Joseph Hòang Vũ Phúc đã chuyển dịch và đọc tiếng Đan để Đức Giám Mục dễ dàng theo dõi. Sau khi công bố Lời Chúa, Đức Giám Mục chân thành chia sẻ: Trong năm đức tin, mỗi người chúng ta hãy tìm lại chân dung của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc. Để tìm được chân dung đích thực của Ngài, chúng ta phải siêng năng đọc và hiểu Lời Chúa. Tin vào Chúa Giêsu và thực thi những giáo huấn của Ngài. Đồng thời chúng ta cũng phải trung thành với Giáo Hội, vì Giáo Hội là chi thể của Chúa Giêsu. Giáo Hội như một Giêrusalem mới mà Tiên tri Elêsia đã đề cập đến (Bài Đọc 1). Giêrusalem xưa chỉ tụ tập được một sắc dân, Giêrusalem mới qui tụ được muôn dân thành một dân biết sống hiệp thông và chia sẻ (Bài đọc 2). Giêrusalem xưa đã bị tàn phá, Giáo Hội ngày nay cũng bị tấn công và bôi nhọ đủ điều, nay chúng ta 40 muốn trung thành và bảo vệ Giáo Hội, chúng ta cũng phải trau dồi thêm kiến thức về Giào Hội. Kiến thức đó chúng ta có được là qua các giáo huấn của Giáo hội, nên trong Năm Đức Tin này, chúng ta hãy cùng nhau học hiểu những điều trong các văn kiện của Thánh Công Đồng Vaticanô II. Học hỏi để biết về Đức Tin thôi chưa đủ, nhưng còn phải làm cho Đức Tin được triển nở trong tâm hồn mình và nơi tha nhân, và phải biết sống một Đức Tin sống động qua việc thực thi Đức Ái, có như thế chúng ta mới trở thành một cành nho có thêm nhiều hoa trái trong cùng một thân nho Giêsu Kitô.(Phúc Âm) Phần dâng của lễ đƣợc 12 em trong nhóm Giáo Lý của Cộng Đoàn København / Sjælland, với những vũ điệu nhẹ nhàng dâng lên Thiên Chúa bánh, rƣợu, hoa và nến, kết hợp nhịp nhàng với lời ca. Các em thật sự đã nâng tâm hồn mọi ngƣời, để cùng hiến dâng lên Thiên Chúa tấm lòng nhỏ bé của mỗi ngƣời tham dự. Nhân tháng kính Đức Mẹ mân côi, phần kết lễ đƣợc 17 em gồm thiếu nhi và thiếu niên của Cộng Đòan Århus đặc biệt kính dâng Mẹ những tràng chuỗi mân côi với những bƣớc nhịp nhàng cùng với lời ca vang Ave Maria, tung hô, tán tụng danh Mẹ. Cuối buổi lễ, ông Antôn Lê xuân Bảng, Chủ tịch Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Đan Mạch, đã ngỏ lời cám ơn đến Đức Cha, quý Cha, các Cộng Đòan, đặc biệt Cộng Đòan København/Sjælland và Århus, cùng tòan thể Cộng Đồng dân Chúa đã sốt sắng tham dự thánh lễ khai mạc. Đồng thời cầu xin Chúa ban cho tất cả mọi ngƣời trong Năm Đức Tin này một niềm tin vững mạnh. Sau thánh lễ, sang phần văn nghệ do các anh chị và các cháu trong Cộng Đòan København đảm trách, đặc biệt bé Thảo Trinh cùng ban nhạc cây nhà lá vƣờn của cộng đòan, trình diễn những bài ca thật sinh động, hợp với chủ đề Năm Đức Tin, nhƣ Hãy Thắp Sáng Lên, Cho Con Vững Tin, Ngƣời Mù Giêricô… Nhân dịp này, Cha Nguyễn Ngọc Thế chia sẻ cho mọi ngƣời những cách thức để sống niềm tin trong năm nay. Cha Nguyễn Kim Thăng chia sẻ và giải thích cho mọi ngƣời biết và hiểu rõ về Kinh Năm Đức Tin, ngõ

hầu giúp mọi ngƣời hiểu thấu hơn về mục đích của Đức Thánh Cha khi ấn định cho Giáo Hội cử hành Năm Đức Tin. Cha Chu Huy Châu cũng chia sẻ và nhắn nhủ mọi ngƣời hãy cố gắng sống niềm tin và noi gƣơng Các Thánh Tiền Nhân Tử Đạo. Xen kẽ giữa chƣơng trình văn nghệ, Đại diện BĐH Cộng Đoàn Århus: cô Trần thị Thanh Minh ngỏ lời chúc mừng Ban Tổ Chức và gởi lời chúc mừng cùng cám ơn đến Cộng Đoàn København/ Sjælland đã tổ chức lễ khai mạc. Và theo chƣơng trình dự định Cộng Đồng CGVN tại Đan Mạch cũng sẽ bế mạc Năm Đức Tin tại Århus vào năm 2013.. Ông Jos. Ngô Ngọc Lâm, Trƣởng ban Phục vụ Cộng Đoàn Sjælland cũng thay mặt cộng đoàn ngỏ lời cám ơn đến Đức Gíam Mục, Cộng Đồng CGVN - ĐK, các Cộng đoàn và toàn thể Cộng Đồng dân Chúa, đã hƣởng ứng lời mời gọi tham gia lễ khai mạc, đặc biệt cám ơn đến tất cả các khu giáo, ban, ngành, đòan thể ... trong cộng đoàn đã tích cực đóng góp tiền bạc, công sức và thời gian … để chúng ta có thể hoàn thành ngày lễ hôm nay. Sau phần văn nghệ, Đức Giám Mục ở lại dùng cơm chiều với Cộng Đòan. Riêng Cộng Đòan Århus vì đƣờng xa đã không kịp dùng bữa tối cùng anh em. Các anh chị trong nhóm ẩm thực đã chuẩn bị sẵn những hộp cơm và nƣớc uống trên xe búyt để mọi ngƣời trên đƣờng về cùng nhau lót dạ trên xe. Còn lại những ông bà, anh chị em, các cháu quây quần cùng nhau dùng bữa tối thật vui và đầm ấm, trong tiếng cƣời nói thật vui nhộn. Hy vọng chúng ta sẽ còn nhiều dịp cùng nhau sinh họat vui vẻ nhƣ hôm nay. Tuy địa điểm nhỏ hẹp và giờ giấc cũng chƣa thoải mái cho tất cả các tiết mục, nhƣng có lẽ buổi lễ khai mạc năm Đức Tin cũng tạm gói ghém tất cả tấm lòng của giáo dân khắp nơi, cùng nhau bỏ qua những thiếu sót, để hƣớng đến niềm tin đang tỏa sáng trên từng khuôn mặt. Đức Giám Mục rất vui mừng, chân thành cám ơn toàn thể Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Đan Mạch, đã tổ chức long trọng buổi lễ khai mạc Năm Đức Tin. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta, bền vững mãi các nhân đức Tin, Cậy, Mến, hầu xứng đáng trở nên các Chứng Nhân của Chúa Kitô trong thế kỷ mới này. Therese Huỳnh Thúy Hằng 41

Khu giáo Tåstrup vùng Sjælland.
Trong 2 thập niên 1975 - 1995, khi cao trào thuyền nhân Việt nam tỵ nạn tràn vào các nƣớc tự do, trong đó có Đan mạch, thì giáo xứ Tåstrup đƣợc coi nhƣ trung tâm sinh hoạt của giáo dân Việt nam tại Sjælland dƣới sự hƣớng dẫn của các linh mục Giuse Chu Huy Châu, Bảo Tịnh Bùi Văn Bảo. Lòng nhiệt thành của giáo dân Việt đã tạo sinh khí mới cho các giáo dân địa phƣơng (theo nhận định của cố linh mục quản nhiệm). Khu giáo Tåstrup nói chung, càng ngày càng phát triển. Ngôi nhà thờ gỗ trên đƣờng Køgevej đã trở nên quá bé nhỏ so với số giáo dân ngày một đông đảo! Đức cố Giám mục Hans Martensen đã quyết định xây ngôi nhà thờ khang trang hiện nay, lớn gấp sáu lần ngôi nhà thờ cũ, với những tiện nghi cần thiết đáp ứng nhu cầu sinh hoạt giáo dân vùng này. Sinh hoạt giáo dân Việt Nam thuộc khu giáo Tåstrup đã trải qua những giai đoạn hƣng chấn rồi lắng đọng trong một thời gian… Nhƣ những thân cây bám rễ trên vùng đất lạ, yên nghỉ trong mùa đông, nhƣng mạch sống vẫn âm thầm chuyển động, ấp ủ những chồi non. Giáo dân Việt vẫn một lòng tín thác vào Chúa Thánh Linh, Chúa Xuân của muôn loài, và ... theo niềm tin của ông Ngô Ngọc Lâm, một thành viên kỳ cựu của khu giáo Tåstrup: ”Chúa đã biểu lộ tình thương của Ngài cho Khu Giáo và cho Cộng Đoàn Sjælland…” qua sự kiện một số gia đình trẻ, với sự cộng tác tích cực của chị Hoàng thị Kim Ngọc, ngƣời chịu trách nhiệm coi sóc ngôi nhà thờ này, và cũng là Trƣởng khu giáo Tåstrup về phía ngƣời Việt, đã tình nguyện vận động các gia đình thân quen, cùng nhau phục hồi sinh hoạt trong khu giáo. Họ tình nguyện đảm trách phần ẩm thực gây quỹ cho giáo xứ sau mỗi buổi lễ đầu tháng, hoặc tổ chức những buổi tiệc Xuân, tiệc Giáng Sinh cho giáo dân Việt nam tại khu giáo, song song với việc đóng góp tích cực vào các sinh hoạt chung của Cộng đoàn CGVN tại Sjælland. Nhƣ Chúa Xuân thổi hơi ấm cho những chồi non vƣơn mình lớn mạnh, mang mùa Xuân tới; Khu giáo Tåstrup đã đƣợc chọn làm nơi tổ chức buổi lễ khai mạc NĂM ĐỨC TIN cho Cộng Đoàn CGVN tại Đan mạch do Đức Giám mục Czeslaw Kozon chủ tế. Buổi lễ quy tụ gần 400 giáo dân Việt từ các nơi đổ về. Trong bài giảng, Đức Giám mục ân cần đề cập đến NIỀM TIN và tinh thần sống đạo của giáo dân Việt nam đã có một ảnh hƣởng không nhỏ trong khối Công giáo bản xứ, tƣơng tự nhƣ nhận định của cố linh mục quản nhiệm giáo xứ Tåstrup cách đây 37 năm. MC. Kbh

NĂM TỲ NÓI CHUYỆN RẮN
Rắn là con giáp thứ 6 trong 12 con giáp, nếu tính theo Âm lịch. ( Âm lịch là cách tính ngày tháng theo sự vận chuyển của mặt trăng). Trong Âm Lịch, có hai chu kỳ là tiểu chu kỳ và đại chu kỳ. Trong tiểu chu kỳ có 12 con giáp mà đứng đầu là năm Tý hay năm Chuột tiếp theo là Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi (chuột, trâu ,hổ, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó và lợn). Trong một đại chu kỳ, có 60 năm. Nhƣ vậy 60 năm nữa, chúng ta lại có một năm Tân Tỵ khác. Vậy nếu ai sinh vào năm tỵ hay những em bé nào mà sinh ra trong năm nay thì ta gọi những ngƣời đó là họ cầm tinh con rắn. những nhà chiêm tinh, hay các ông bà thầy bói thì rất rành về cách tính ngày tháng,tuổi này hợp hay kỵ với tuổi kia. Thí dụ ai mang tuổi tỵ thì kỵ với tuổi dần, thân và hợi, ngƣời bình dân thì quan sát các vật chung quanh ta thì lại có cái nhìn khác. Các bậc làm cha làm mẹ thì nhất định không chịu gả con gái của mình khi con nhỏ có tuổi tý (chuột) cho anh chàng nào có tuổi Tỵ (rắn), vì không ai dại gì mà dâng chuột vào hàm rắn cả ! Nó sẽ ăn tƣơi nuất sống con nhỏ mất . Rắn là con vật bị ghét bỏ, chẳng những vậy mà nghiều ngƣời còn gớm tởm rắn nữa là khác. Trong thánh kinh của ngƣời Thiên Chúa Giáo thì rắn là con vật bị chúc dữ. Sau khi rắn lừa phỉnh Adam và Eva, thì con rắn bị Thiên Chúa trừng phạt: Bởi vì ngƣơi đã làm việc đó, thì ngƣơi hãy là đồ bị chúc dữ, giữa mọi súc vật, cùng tất cả các muông dã. Ngƣơi phải bò bằng bụng và ăn bùn đất mọi ngày trong đời ngƣơi. Ta sẽ dặt hận thù giữa ngƣơi và ngƣời nữ, giữa dòng dõi ngƣơi và dòng dõi ngƣời nữ (St 3,14-15). Chúng ta thấy đó, rắn là cự thù của nhân loại cho đến... Tận thế. Ngƣời bình dân cũng không ƣa gì rắn. Ngƣời ta gắn những cái xấu xa tồi tệ cho rắn: Ngƣời nào có lòng dạ nham hiểm thì ngƣời ta gọi họ là ngƣời có lòng dạ rắn rết. những ngƣời lừa phỉnh ngƣời khác, nói lành, hành ác thì gọi là cái quân "khẩu Phậtø, tâm xà". cái miệng độc ác, chuyên môn nói hành, bỏ vạ cho ngƣời khác thì ngƣời ta gọi là "ngậm máu phun ngƣời". Con nít hƣ đốn, ngỗ nghịch, bƣớng bỉnh thì gọi chúng là "rắn đầu, rắn mặt "! Nhƣng thực ra, rắn rất có ích cho nhân loại. Có một thời kỳ tại Ấn Độ, ngƣời ta đồn nhắng lên rằng, rắn là thần dƣợc chữa bệnh... Thế là ngƣời ta đổ 42

xô ra đi tìm rắn, nhất là những chú rắn lừng danh thiên hạ là rắn đeo kính (king cobra)... chẳng bao lâu thì rắn hầu nhƣ tuyệt nòi. mùa lúa năm đó gần tới, thì ngƣơi ta nhận thấy chuột bọ sinh sôi nẩy nớ rất nhanh, chúng phá nát mùa màng hoa mầu của dân Ấn, thế là cái lợi nho nhỏ bán rắn không thể nào bù vào cái hại gấp ngàn lần vì thiệt hai do chuật phá hại mùa màng gây ra! Thế là ngƣời ta lại lo gầy dựng rắn trở lại! Cả Đông Y và Tây Y đều coi rắn là thần dƣợc để chữa bệnh phong thấp mà không có một loại thuốc nào dứt điểm đƣợc chúng ngoài rắn ra! Tây Y đã lấy hình hai con rằn cuộn lấy một khúc cây là huy hiệu cho ngành của mình. Những năm gần đây thì các bác sỹ Tây Y đã lấy từ trong cái độc giết ngƣơi là nọc rắn ra một chất mà họ cho rằng có thể tri đƣợc bệnh ung thƣ. Ngƣơi ta túm lại thử nghiệm trên các con vật thì thấy nọc rắn có thể chữa đƣợc một số loại ung thƣ dù chúng trong thời kỳ mãn thính (thời kỳ bệnh nhân chờ về với Chúa). Vài năm gần đây thì ngƣời ta bắt đầu thử trên con ngƣời , Các ông lang tây này đã đƣa đƣợc một số bệnh nhân từ tử môn quan trở về! Do đó, nọc rắn bây giờ, còn đắt hơn cả vàng nữa! (xem tiếp trang 39)

Sổ vàng ĐLCTTĐVN năm 2012
Hội Legio Mariæ Aarhus Chị Xinh Aarhus Các Cụ trong Cộng đoàn Aarhus Anh Chị Đỗ Xuân Khải Aarhus Cộng đoàn Silkeborg Cộng đoàn Viborg Cộng đoàn Horsens Cộng đoàn Odense Cộng đoàn Haderslev Cộng đoàn Kolding Cộng đoàn Esbjerg Cộng đoàn Svendborg Bà cụ Long Aabenraa Tổng cộng 1.600 1.000 1.000 300 500 1.100 500 2.000 1.900 5000 6.000 2.000 100 18.500,00

Tổng kết Thu - Chi ĐLCTTĐVN năm 2012 Tổng số thu 108.613,50 Tổng số chi -94.736,50 Số còn lại 13.877,00

Chân thành kính chúc
Qúy Linh mục Việt Nam, qúy tu sĩ nam nữ Qúy vị trong các ban đại diện và các đoàn thể Qúy ông bà cô bác và toàn thể cộng đoàn dân Chúa tại Đan mạch Giáng Sinh 2012 & Năm Mới 2013 Tràn đầy an bình, khang an và hồng ân cứu chuộc BCH Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Đan Mạch

SANG TIỆM ĂN
Tiệm nằm ngay trên đƣờng chính gần trung tâm Bogense Địa chỉ tiệm Adelgade 97, 5400 Bogense Tiền nhà rẻ 43 Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc qua điện thoại: 6061 0839

Thánh lễ khai mạc năm Đức Tin tại København / Đan Mạch

44

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful