http://tuyengiao.vn/Home/kinhte/2008/8/1433.aspxhttp://tuyengiao.vn/Home/kinhte/2008/8/1433.as px http://www.

gopfp.gov.vn/so-7112;jsessionid=E6870FDD33CC4BD11B54E6E8C4592921?p_p_id=62_INSTANCE_Z5vv&p_p_lifecycle=0& p_p_state=normal&_62_INSTANCE_Z5vv_struts_action=%2Fjournal_articles%2Fview&_62_INSTANCE_Z 5vv_version=1.0&_62_INSTANCE_Z5vv_groupId=18&_62_INSTANCE_Z5vv_articleId=2598 http://baigiang.violet.vn/present/show/entry_id/2634404 http://baigiang.violet.vn/present/show/entry_id/8493980 http://baigiang.violet.vn/present/show?entry_id=8106658 http://baigiang.violet.vn/present/show?entry_id=8506667 http://baigiang.violet.vn/present/show?entry_id=8030508
Di cư và đô thị hóa qua kết quả tổng điểu tra dân số 2009

Dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng gia tăng rõ rệt. Từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên tới 3,4 triệu người năm 2009 (hình 1). Tỷ trọng di cư trong tổng dân số cũng tăng tương ứng từ 2,5% trong năm 1989 lên 2,9% năm 1999 và 4,3% năm 2009. Trong khi tỷ lệ tăng hàng năm của dân không di cư giảm 2,4% trong giai đoạn 19891999 xuống 1,1% trong giai đoạn 1999-2009. Tỷ lệ tăng hàng năm của dân di cư giữa các huyện tăng từ 0,6% lên 4,2% và tỷ lệ này trong nhóm dân di cư giữa các tỉnh từ 4,0% lên 5,4%. DI CƯ Di cư, đặc biệt là di cư giữa các tỉnh tăng mạnh cả về số lượng và tỷ lệ Dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng gia tăng rõ rệt. Từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên tới 3,4 triệu người năm 2009 (hình 1). Tỷ trọng di cư trong tổng dân số cũng tăng tương ứng từ 2,5% trong năm 1989 lên 2,9% năm 1999 và 4,3% năm 2009. Trong khi tỷ lệ tăng hàng năm của dân không di cư giảm 2,4% trong giai đoạn 1989-1999 xuống 1,1% trong giai đoạn 1999-2009. Tỷ lệ tăng hàng năm của dân di cư giữa các huyện tăng từ 0,6% lên 4,2% và tỷ lệ này trong nhóm dân di cư giữa các tỉnh từ 4,0% lên 5,4%. Hiện tượng “nữ hóa di cư” Số liệu TĐT đã cung cấp bằng chứng rõ ràng về hiện tượng “nữ hóa di cư”, điều này được thể hiện rất rõ qua hai chỉ số. Thứ nhất, dân số nữ di cư chiếm khoảng một nửa tổng số dân di cư. Thứ hai, tỷ lệ dân số nữ di cư trên tổng số dân di cư liên tục tăng trong hai thập kỷ qua. Ngay từ năm 1989, nữ giới đã chiếm hơn một nửa dân số di cư trong huyện và di cư giữa các huyện trong giai đoạn 1984-1989. Nữ giới chiếm dưới một nửa dân số di cư giữa các tỉnh năm 1989 nhưng đến năm 1999, tỷ lệ nam và nữ trong dân số di cư đã cân bằng. đến năm 2009, số lượng nữ giới đã nhiều hơn số lượng nam giới trong tất cả các nhóm dân số di cư. Các điều tra khác cũng cho các kết quả tương tự. Sự giảm cầu lao động trong các hoạt động nông nghiệp tại nông thôn và gia tăng các cơ hội việc làm cho phụ nữ tại các thành phố và các khu công nghiệp là những lý do chính cho hiện tượng gia tăng số lượng và tỷ lệ nữ giới di cư này. Xu hướng ngược lại được quan sát thấy trong nhóm dân số không di cư với tỷ lệ dân số nữ không di cư giảm dần theo thời gian. Dân số di cư đang dần trẻ hóa, đặc biệt là phụ nữ Đa số dân di cư, đặc biệt di cư liên tỉnh, là những người trẻ, tập trung trong nhóm 15-29 tuổi. Dân di cư giữa các tỉnh có độ tuổi trẻ nhất với tuổi trung vị là 24 tuổi; di cư giữa các huyện và di cư trong huyện nhiều tuổi hơn một chút và tuổi trung vị tương ứng của hai nhóm này là 25 và 26 tuổi. Trái lại, người không di cư có tuổi trung vị là 30 tuổi. So sánh cấu trúc tuổi của người di cư và không di cư qua 3 cuộc tổng điều tra dân số cho thấy dân di cư, đặc biệt là nhóm phụ nữ di cư, ngày càng trẻ hơn trong khi dân số không di cư ngày càng già hơn. Tuổi trung vị của nhóm phụ nữ di cư giảm từ 25 tuổi năm 1989 xuống 24 tuổi năm 1999 và còn 23 tuổi năm 2009. Trong khi đó, tuổi trung vị của phụ nữ không di cư tăng tương ứng từ 25 tuổi năm 1989 lên 28 tuổi năm 1999 và 31 tuổi năm 2009. Có sự khác biệt về luồng di cư giữa các vùng và các tỉnh Đông Nam bộ là vùng nhập cư chủ yếu trong giai đoạn 1994-1999 và tốc độ nhập cư đến vùng này tăng nhanh hơn trong giai đoạn 2004-2009. Ngược lại, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu

Long là nơi xuất cư chủ yếu trong giai đoạn 1994-1999 và tốc độ xuất cư khỏi các vùng này cũng tăng nhanh hơn trong giai đoạn 2004-2009. Năm 2009, dân nhập cư chiếm tới trên 10% tổng số dân ở một số tỉnh; đặc biệt, trên một phần ba số dân của tỉnh Bình Dương là người nhập cư. TP.Hồ Chí Minh có khoảng một triệu người và Bình Dương có khoảng nửa triệu người nhập cư thuần (số dân nhập cư trừ số dân xuất cư). Ngược lại, ở nhiều tỉnh, dân nhập cư chỉ chiếm dưới 1% số dân của các tỉnh đó và ở một số tỉnh dân số xuất cư nhiều hơn nhập cư. Dân số di cư có trình độ và điều kiện sống tốt hơn so với dân số không di cư Nhìn chung, người di cư trong độ tuổi lao động có trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật cao hơn so với những người không di cư; người di cư có điều kiện sống tốt hơn; người di cư cũng có tỷ lệ sử dụng nước sạch và hố xí hợp vệ sinh cao hơn. Di cư nông thôn-thành thị làm gia tăng khoảng cách nông thôn-thành thị Dân không di cư sống ở thành thị có nhiều lợi thế hơn dân không di cư sống ở nông thôn. Dân không di cư sống ở thành thị được đào tạo cao hơn, mức sống cao hơn, tỷ lệ người lớn đã hoàn thành bậc tiểu học cao hơn, tỷ lệ sử dụng nguồn nước sạch và hố xí hợp vệ sinh cao hơn. Một mặt, chất lượng sống của dân di cư từ nông thôn ra thành thị có những cải thiện đáng kể sau di cư do điều kiện sống ở khu vực thành thị cao hơn hẳn khu vực nông thôn. Mặt khác, dân di cư từ nông thôn ra thành thị là những người khá giả hơn và có trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật cao hơn những người không di cư ở nông thôn nơi họ ra đi. Tính chọn lọc của di cư này góp phần làm gia tăng khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Di cư ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục của trẻ em di cư trong độ tuổi đến trường Tỷ lệ đang học tiểu học và trung học cơ sở của trẻ em trong độ tuổi đến trường ở nhóm trẻ em di cư thấp hơn đáng kể so với nhóm trẻ em không di cư. Khác biệt rõ ràng và lớn nhất được tìm thấy trong nhóm trẻ em di cư giữa các tỉnh. Di cư đóng góp đáng kể vào tăng dân số thành thị và quá trình đô thị hóa Các đô thị đông dân cũng chính là những nơi có nhiều người nhập cư. Ngoại trừ một số tỉnh là nơi tập trung các khu công nghiệp, những tỉnh có tỷ trọng dân nhập cư cao là những tỉnh có tỷ trọng dân số thành thị cao và ngược lại. Các khu vực có tỷ lệ đô thị hoá cao cũng là nơi có tỷ lệ dân nhập cư cao; các đô thị đặc biệt bao gồm các tỉnh thành phố lớn có tỷ trọng dân nhập cư cao nhất. ĐÔ THỊ HÓA Việt Nam có mức độ đô thị hóa thấp Mặc dù số lượng các khu vực đô thị đang tăng lên trong vòng ba thập kỷ qua nhưng mức độ đô thị hóa của Việt Nam tương đối thấp do một số yếu tố. Ví dụ, nhiều thành phố được hình thành và phát triển như là các trung tâm hành chính thay vì là trung tâm kinh tế, vì vậy sự thu hút dân lao động nhập cư tới các thành phố này không cao nếu so với các thành phố khác ở các nước trên thế giới. Sự phát triển của các thành phố ở Việt Nam gặp khó khăn do thiếu các cơ hội nghề nghiệp, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ xã hội yếu kém - nhà ở, điện, nước sạch, giao thông, bệnh viện và trường học không đáp ứng được nhu cầu của cư dân. Sự tăng trưởng dân số đô thị tập trung chủ yếu ở các trung tâm đô thị lớn Trong thập niên qua, tỷ lệ dân số đô thị Việt Nam đã tăng từ 23,7% năm 1999 lên 29,6% năm 2009. Điều đó có nghĩa là dân cư đô thị chiếm 25,4 triệu người trong tổng số 85,8 triệu dân toàn quốc năm 2009. Sự tăng trưởng dân số đô thị chủ yếu diễn ra ở các khu vực đô thị lớn, với 200.000 dân trở lên. Số các trung tâm đô thị với qui mô dân trên đã tăng từ 9 năm 1999 lên 15 năm 2009. Quá trình đô thị hóa diễn ra chủ yếu ở các tỉnh phía Nam và các đô thị đặc biệt Các tỉnh phía bắc có tỷ lệ dân số đô thị thấp hơn nhiều so với các tỉnh phía Nam. Đông Nam Bộ có tỷ lệ dân số đô thị gần 60%, cao hơn nhiều so với các vùng khác. Dân số đô thị ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chiếm gần 1/3 tổng dân số đô thị toàn quốc. Với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội nhanh ở Đông Nam Bộ hiện nay, đồng thời nếu tính đến tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai tới khu vực ven biển, các vùng trũng thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, rất có thể sẽ dẫn tới việc tập trung một số lượng lớn dân cư ở Đông Nam Bộ và điều đó sẽ tạo nên những thách thức cho sự phát triển của khu vực này trong tương lai. Khác biệt về mức sống giữa dân cư đô thị và nông thôn Nhìn chung, dân cư đô thị được hưởng lợi nhiều hơn so với dân cư nông thôn, nhìn từ quá trình phát triển của đất nước. Điều này được phản ánh qua các chỉ tiêu về chất lượng nhà ở, nguồn nước hợp vệ sinh, điều kiện vệ sinh và mức độ sử dụng các tiện nghi trong gia đình của cư dân đô thị so với cư dân nông thôn. Trong khi ở nông thôn có 4,3% hộ gia đình không có điện thì chỉ có 0,2% hộ gia đình đô thị của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phải chịu tình trạng đó. Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch ở đô thị cao hơn đáng kể so với nông thôn (96,8% so với 86,6%). Điều này làm tăng thêm tính hấp dẫn của các thành phố lớn và vì thế thúc đẩy sự di chuyển dân cư đến các khu vực này. Khác biệt về điều kiện sống giữa các khu vực đô thị Mức độ sở hữu các trang thiết bị trong gia đình phản ánh điều kiện sống cao phổ biến hơn ở các khu vực đô thị loại đặc biệt so với các khu vực đô thị khác. Ở các khu vực đô thị loại đặc biệt, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng máy tính cao

gấp 2 lần so với ở đô thị loại IV và loại V, trong khi tỷ lệ hộ có máy giặt cũng cao gấp 2 lần và có điều hòa nhiệt độ cao gấp 3 lần so với các khu vực đô thị khác. Điều đó giải thích tại sao các thành phố lớn hơn, chẳng hạn loại đặc biệt và loại I có sức hấp dẫn hơn đối với dân cư và thu hút được một số lượng lớn người nhập cư. Cách biệt lớn về trình độ chuyên môn và học vấn giữa đô thị và nông thôn 27,4% dân số đô thị từ 5 tuổi trở lên có học vấn THPT, 15,3% có trình độ cao đẳng/đại học và 0,7% có trình độ sau đại học. Trong khi đó, tỷ lệ tương ứng cho khu vực nông thôn là 16,9%, 3% và 0,03%. Thực tế người dân di chuyển tới các khu vực đô thị để tiếp tục theo học ở các bậc học cao hơn hoặc để được học ở các cơ sở giáo dục có chất lượng tốt hơn lý giải một phần cho những khác biệt trên. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, chỉ có 8% dân cư nông thôn từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc trình độ cao hơn (cao đẳng, đại học, trên đại học). Trong khi, tỷ lệ dân cư đô thị có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 25,4% và có trình độ cao đẳng hoặc cao hơn là 13,4%. Điều đó bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân bố trình độ kỹ thuật, chuyên môn và giáo dục giữa thành thị và nông thôn. Dân cư đô thị đang đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp cao Tỷ lệ thất nghiệp của dân cư đô thị từ 15 tuổi trở lên là 4,6%, trong khi ở nông thôn là 2,3%. Tại cả hai khu vực đô thị và nông thôn, tỷ lệ thất nghiệp đặc biệt cao hơn trong các nhóm tuổi trẻ (tỷ lệ thất nghiệp ở độ tuổi 15-19 tại khu vực đô thị là 11,2% và 8,9% đối với độ tuổi 20-24). Các con số đáng báo động này phản ánh tình trạng đang tăng lên của lực lượng lao động trẻ và cấu trúc kinh tế quốc gia đã không đủ khả năng cung cấp việc làm cho những người lao động trẻ đang tham gia vào thị trường lao động. Di cư và đô thị hóa góp phần mở rộng khoảng cách giữa các khu vực xuất và nhập cư Di cư đóng góp phần chủ yếu vào sự tăng trưởng dân số đô thị. Các khu vực có tỷ lệ di cư cao cũng đồng thời có tỷ lệ dân cư đô thị cao hơn. Một mặt di cư được thúc đẩy bởi sự khác biệt giữa các vùng kém phát triển và phát triển hơn, mặt khác di cư và đô thị hóa cũng phần nào làm gia tăng sự cách biệt về điều kiện sống và phát triển kinh tế xã hội giữa khu vực xuất cư và khu vực nhập cư. CÁC HỆ LỤY VỀ CHÍNH SÁCH VÀ ĐỀ XUẤT Do di cư Dân di cư đã và đang tăng nhanh và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng dân số. Số lượng và đặc điểm dân di cư cần được quan tâm hơn khi xây dựng các kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở trung ương và địa phương. Các chiến lược nhằm giúp cải thiện cuộc sống và phát triển nhân lực dành cho người dân di cư cần phải được lồng ghép vào tất cả các chính sách, kể cả các kế hoạch phân bổ ngân sách có liên quan. Các chính sách di cư cần tính tới khía cạnh giới để không bỏ quên nhóm dễ bị tổn thương và sự thiệt thòi của nữ di cư. Các chính sách phát triển quốc gia và vùng cần phát huy tối đa những lợi ích do di cư mang lại và giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi và những khó khăn mà người dân nơi đi phải đối mặt. Tiền gửi về của người di cư chủ yếu được sử dụng cho tiêu dùng hơn là cho phát triển kinh tế ở nơi đi. Người di cư tạm thời, di cư mùa vụ hay di cư con lắc gặp nhiều khó khăn và dễ bị tổn thương hơn, cần có sự quan tâm chính sách. Nơi đến nhận được nhiều lao động trẻ thông qua di cư trong khi nơi đi phải đối mặt với già hóa dân số và những hệ quả như gia tăng tỷ lệ phụ thuộc, tăng hỗ trợ an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người già. Vì vậy, việc phân bổ ngân sách quốc gia cho các tỉnh cần tính đến các yếu tố này nhằm giảm bớt sự cách biệt giữa nông thôn và đô thị, giữa nơi đi và nơi đến. Sửa đổi các chính sách giáo dục để tạo cơ hội đến trường bình đẳng cho trẻ em di cư và không di cư; chỉnh sửa các chính sách tiếp cận các dịch vụ xã hội nhằm dỡ bỏ các rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người di cư tại nơi đến. Do đô thị hóa Đảm bảo quá trình đô thị hóa được quản lý một cách thích hợp để thúc đẩy sự phát triển tiếp tục về kinh tế-xã hội. Hơn nữa, cần có các chính sách thích hợp cho sự phát triển đô thị cân đối hơn trong tất cả các vùng. Xây dựng Tầm nhìn quy hoạch hóa đô thị đến năm 2050 với mục tiêu: các trung tâm đô thị chủ yếu của mỗi vùng kinh tế-xã hội đóng vai trò như động lực phát triển trong vùng, tạo nên sự phát triển cân đối về địa lý cho toàn quốc. Cần có những chính sách nhằm cung cấp cơ hội cho nhóm lao động trẻ tuổi đang tăng; Tăng cường trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhóm dân số trẻ sẽ rất quan trọng nếu muốn nhóm dân số này có công ăn việc làm ổn định trong tương lai; Các chính sách và biện pháp cần hướng tới nâng cao khả năng cạnh tranh và sức hấp dẫn của các đô thị nhỏ nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển. Chẳng hạn, phát triển của các đô thị vệ tinh xung quanh các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, có thể tập trung hỗ trợ phát triển các khu vực nông thôn nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị.

Sau khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, quá trình đô thị hóa đã diễn ra hết sức nhanh chóng, đặc biệt trong 10 năm trở lại đây chúng ta đã chứng kiến một quá trình đô thị hóa với tốc độ cao chưa từng có ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Lượng dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc và mỗi năm có khoảng 1 triệu dân tiếp tục tham gia vào "đại gia đình" đô thị. Đô thị hóa đã làm thay đổi diện mạo của đất nước, góp phần nâng cao mức sống của một số bộ phận dân cư, tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực cũng đã phát sinh nhiều vấn đề phức tạp cần sớm được giải quyết như: vấn đề di dân nông thôn ra thành thị; tình trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề hệ thống cơ sở hạ tầng quá tải và ô nhiễm môi trường. 1. Tổng quan về quá trình đô thị hoá ở Việt Nam

Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị. Tính đến năm 2007, cả nước đã có 729 đô thị bao gồm 2 đô thị đặc biệt: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội; 4 đô thị loại 1: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, và Huế; 13 đô thị loại 2; 36 đô thị loại 3; 39 đô thị loại 4 và 635 đô thị loại 5 ([1]) (đạt tỷ lệ đô thị hoá xấp xỉ 27%). Tỷ lệ dân số đô thị hiện nay dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 tỷ lệ đó sẽ đạt 56-60%, đến năm 2020 là 80%. Bộ Xây dựng dự báo tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân. Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người. Nếu đạt tỉ lệ 100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000 ha đất đô thị nhưng hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ đạt quy mô 105.000 ha. Với tốc độ phát triển đô thị và dân số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh từ quá trình đô thị hóa. 2. Các vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị dẫn đến mật độ dân số ở thành thị tăng cao: Quá trình đô thị hoá nhanh cùng với sự thay đổi điều kiện sống đã làm cho một bộ phận dân cư ở nông thôn di cư mạnh ra các đô thị. Số dân cư sống ở thành thị tăng đột biến với mật độ dân cư dày đặc gây mất cân đối giữa thành thị và nông thôn, đồng thời đặt ra những vấn đề nan giải về giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ven đô ngày càng thêm phức tạp. Theo thống kê của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), người di cư nông thôn chiếm tới 1/3 dân số của TP Hồ Chí Minh và 1/10 dân số của Hà Nội và làn sóng này vẫn đang tiếp tục không ngừng chảy. Dự kiến dân số đô thị của Hà Nội đến năm 2010 sẽ là 3,9 - 4,2 triệu người, năm 2020 là 7,9 - 8,5 triệu người; còn với TP Hồ Chí Minh năm 2010 là 10 triệu người, đến 2025 là 16-17 triệu người ([2]). Tình trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo: Trong quá trình hội nhập và phát triển, người dân đô thị cần có trình độ văn hoá tay nghề cao để tiếp cận với khoa học kỹ thuật – công nghệ và đáp ứng với nhu cầu tuyển dụng lao động. Song thực tế cho thấy ở các đô thị và các vùng ven đô vẫn còn một bộ phận không nhỏ những người thất nghiệp, trình độ học vấn không cao. Đây chủ yếu là những lao động giản đơn di cư từ khu vực nông thôn lên thành thị để kiếm việc làm. Phần lớn trong số họ chỉ tìm được công việc giản đơn trong các khu công nghiệp, khu chế xuất ở gần thành thị, một số khác kém may mắn hơn phải lang thang tìm kiếm công việc không ổn định trong nội thị với thu nhập ít ỏi. Nhiều vấn đề phát sinh cũng bắt nguồn từ đây, khi thu nhập của người lao động không đủ tích lũy để gửi về gia đình như kỳ vọng trước đó. Điều tra gần đây của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong số lao động di cư, có tới 2/3 là lao động trẻ (15-19 tuổi); hơn 50% là di cư để tìm việc làm, 47% là để cải thiện điều kiện sống. Một điều tra khác của Viện Khoa học lao động và xã hội cũng cho thấy, trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỷ lệ lao động ngoại tỉnh chiếm tới 70%. Tính đến tháng 12/2007 cả nước có hơn 170 khu công nghiệp, khu chế xuất phân bổ ở 55 tỉnh, thành trên cả nước với khoảng trên 1 triệu người lao động đang làm việc, trong đó có 700.000 người lao động di cư từ các tỉnh khác hoặc huyện khác đến ([3]). Do chỉ được hưởng mức lương thấp, lại phải làm việc vất vả nên số lao động di cư này dễ nảy sinh những bất đồng và có những hành động thiếu kiềm chế. Đây là sự bất ổn đối với chủ trương phát triển một xã hội đô thị công bằng, ổn định và văn minh.

Vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị: Nhìn chung hầu hết ở các đô thị hiện nay đều xảy ra tình trạng thiếu nhà ở. Đặc biệt là dân nghèo đô thị và những người mới nhập cư vào thành phố. Thống kê của UNFPA cho thấy, hiện 25% cư dân thành thị Việt Nam không đủ tiền để mua nhà ở, 20% nhà ở thành thị bị xếp vào loại không đạt tiêu chuẩn, TP Hồ Chí Minh còn có 300 ngàn người đang sống trong các nhà ổ chuột, 30% dân số Hà Nội phải sống trong môi trường chật chội với diện tích ở không quá 3m2/người. Chính vì thế một số người đã bất chấp những quy định về quản lý đô thị, tự ý san lấp, lấn chiếm, sang nhượng đất để xây nhà một cách tạm bợ, tuỳ tiện không theo quy hoạch gây ảnh hưởng đến mỹ quan của các đô thị. Việc xây cất không theo quy hoạch làm xuất hiện tình trạng “nhà không số, phố không tên” chen lấn hỗn độn, tối tăm, chật chội. Điều này đã phần nào tạo điều kiện thuận lợi cho các tệ nạn xã hội, tội phạm lẩn trốn pháp luật, gây khó khăn cho công tác quản lý trật tự an toàn xã hội. Vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước: Tại các đô thị việc chiếm dụng đất công, san lấp mặt bằng, sông ngòi, lấn chiếm lòng đề đường để làm nhà và xậy dựng trái phép diễn ra hàng ngày làm cản trở đến việc tiêu, thoát nước và chất thải đô thị. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng không đáp ứng đủ, đường xá giao thông tắc nghẽn, nguồn nước ngầm và các dòng sông bị đe dọa nhiễm bẩn nghiêm trọng vì chất thải, không khí ngày càng ô nhiễm nặng nề vì bụi công trường, khói xe, khói nhà máy sản xuất công nghiệp. Nghiên cứu của UNFPA cho thấy, chất lượng không khí tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thuộc vào loại tồi nhất trong khu vực. Phần lớn hệ thống nước thải không được xử lý, khối lượng chất thải rắn đang gia tăng nhanh chóng, và chỉ có một phần nhỏ lượng chất thải công nghiệp nguy hại được xử lý an toàn. 3. Một số giải pháp cho các vấn đề đô thị hóa

Để khắc phục các vấn đề tồn tại trong quá trình đô thị hóa ở các đô thị, còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng trước mắt cần xem xét một số mặt sau đây: - Tăng cường công tác giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân. Song song với việc nâng cao dân trí là tiến hành quy hoạch phân bổ đồng đều các khu công nghiệp, khu đô thị tại các thành phố trên cả nước. - Tăng cường giáo dục nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới đối với cư dân đô thị, hạn chế những hành vi xấu làm ảnh hưởng đến lối sống văn mình lịch sự của cư dân đô thị. Hạn chế và quản lý tốt hơn đối với dân nhập cư, góp phần lập lại trật tự xã hội đảm bảo cho việc xây dựng xã hội đô thị ổn định, bền vững. - Cần có chiến lược, lộ trình quy hoạch đô thị đồng bộ. Hoàn thiện và phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông đường bộ thuận tiện, không ách tắc và ít gây ô nhiễm môi trường. - Tăng cường nâng cao nhận thức cho cộng đồng về tầm quan trọng của môi trường đối với sức khoẻ và chất lượng cuộc sống. Công khai các thông tin, số liệu liên quan đến tình hình ô nhiễm và các nguồn gây ô nhiễm môi trường trên các phương tiện truyền thông để nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường sống trong đô thị. Tích cực thực hiện các biện pháp tuyên truyền, khuyến khích cộng đồng sử dụng các nhiên liệu sạch trong sinh hoạt thay cho các loại nhiên liệu gây ô nhiễm không khí và nguồn nước sinh hoạt. - Ưu tiên phát triển giao thông công cộng, đặc biệt là các phương tiện giao thông công cộng hiện đại, không gây ô nhiễm. Cần xem việc phát triển phương tiện vận chuyển công cộng là giải pháp trọng tâm để giảm nguy cơ tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường đô thị. Các chiến lược, chính sách quy hoạch đô thị cần phải tiến hành ngay từ bây giờ với tầm nhìn chiến lược lâu dài 5, 10 năm và thậm chí có thể lên tới 50 hoặc 100 năm. Có như vậy, Việt Nam mới tránh được việc phải giải quyết hậu quả nặng nề từ những tác động xấu của quá trình đô thị hoá sau này./.

Di dân ngoại tỉnh vào thành phố Hà Nội - vấn đề đặt ra và giải pháp
15:36 | 09/10/2010

Xin giới thiệu bài tham luận của TS. Đinh Văn Thông Hội thảo “Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiế bình” về vấn đề "Di dân ngoại tỉnh vào thành phố Hà Nội - vấn đề đặt ra

Ảnh minh hoạ

Dòng người di cư từ nông thôn ra các thành phố lớn ngày càng mạnh mẽ, với tốc độ tăng nhanh, quy mô ngày một lớn, nó đã và đang mỗi gia đình và từng quốc gia. Đây cũng là vấn đề lớn mà chúng ta đang phải đối mặt, nhất là các đô thị lớn như Thủ đô Hà Nội và Thà

Ngày nay, đã có rất nhiều các lý thuyết nghiên cứu về hiện tượng di dân. Di dân, hiểu theo nghĩa rộng là sự dịch chuyển trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Hiểu theo nghĩa h chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một khôn định. Về các nguyên nhân của hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị có thể đưa ra hai nguyên nhân cơ bản sau: T nhân kinh tế: hầu hết các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học đều nhất trí cho rằng hiện tượng di dân từ nông thôn ra thàn thích chủ yếu bằng nguyên nhân kinh tế. Những nhân tố này bao gồm không chỉ bởi lực đẩy quen thuộc từ nơi xuất cư nh thiếu việc làm, thu nhập thấp… mà còn bởi lực hút từ những nơi nhập cư: cơ hội việc làm có tính ổn định, thu nhập cao h Các nghiên cứu đều cho thấy: tiền lương, thu nhập, việc làm, mức độ thất nghiệp… đều ảnh hưởng đến việc đưa ra người dân. Thứ hai, là nguyên nhân phi kinh tế, như: vấn đề chất lượng cuộc sống, những người di dân muốn có cuộc số cuộc sống ở thành thị, nơi có ánh đèn rực rỡ của thành phố, nơi đó có các phương tiện giao thông, phương tiện thông hiện đại hóa, nơi có hệ thống giáo dục, y tế, dịch vụ phát triển; vấn đề về phong tục tập quán và các nhân tố xã hội khác c tới quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị, ví dụ như những người di dân muốn thoát khỏi những ràng buộc truyền thố tập quán cổ hủ, lạc hậu ở nông thôn; vấn đề đi học của con cái và đoàn tụ gia đình cũng là những lực hút của dòng d thành thị.

Đối với thành phố Hà Nội, sở dĩ người dân thường đổ về Hà Nội (cũng như các thành phố lớn khác) vì những nguyên nh nông nghiệp nước ta có những bước phát triển vượt bậc trong việc tăng năng suất và sản lượng, dẫn tới “dư thừa” lao dân lâu dài và 90% di dân mùa vụ di chuyển đến các thành phố lớn vì nguyên nhân này. Đặc biệt là vùng đồng bằng người đông”, thời gian dư thừa lao động chiếm tới 30%-40%, đồng thời mặt độ dân số đông, diện tích canh tác thì có hạn đến việc một bộ phận người lao động phải ra đi tìm việc ở các thành phố lớn nhằm tăng thêm thu nhập. Sự khác biệt về ti giữa các vùng, đặc biêt giữa nông thôn và thành thị là yếu tố thúc đẩy quá trình di dân tới đô thị. Họ chấp nhận những côn vả để mưu sinh và để có tiền gửi về cho gia đình. Thứ hai, Hà Nội (cũng như thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn k của nhiều người về môi trường giáo dục và đào tạo, có điều kiện y tế và chăm sóc sức khỏe, có đời sống văn hóa tinh phương tiện thông tin đại chúng và các dịch vụ tiện ích khác… Họ đến đây để học tập, làm việc, mưu cầu một cuộc sống lại kéo theo gia đình, người thân nhập cư để đoàn tụ.

Hà Nội, Thủ đô của nước CHXHCN Việt Nam, là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa lớn của cả nước, với những đặc đi kiện tự nhiên và về kinh tế xã hội, thực sự đã trở thành lực hút của dòng di dân ngoại tỉnh về Hà Nội. Về đặc điểm tự nhiê 2 nằm ở đồng bằng Bắc Bộ trù phú (diện tích Hà Nội mở rộng lên tới 3.324, 92 km ). Hà Nội nằm ở phía hưũ ngạn sông Đ và chi lưu các sông. Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội còn có các sông: Đuống, Cầu, Nhuệ… Hồ đầm ở Hà N nổi tiếng ở Hà Nội như hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Hoàn Kiếm… hàng chục hồ, đầm thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim Liê Vân Trì… và những hồ thuộc địa phận Hà Tây cũ: Ngải Sơn, Đồng Mô, Suối Hai. Phía Bắc Hà Nội giáp với các tỉnh Vĩn phía Nam giáp Hà Nam; phía Tây giáp Hòa Bình; phía Đông giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên. Với vị trí và địa thế đ

là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học lớn; là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước.

Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, m mưa ít. Do nằm trong vùng nhiệt đới nên Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào (nhiệt độ tr 0 23,6 C), độ ẩm trung bình hàng năm là 79%, lượng mưa trung bình hàng năm là 1800 mm.

Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi. Địa hình đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và mộ 3 của Hà Tây cũ, chiếm khoảng /4 diện tích tự nhiên. Phần lớn địa hình đồi núi thuộc địa phận các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Q

Về đặc điểm kinh tế - xã hội: Hà Nội là một thành phố lớn và đông dân, có mặt độ dân số cao. Theo số liệu thống kê 1/4 vào khoảng 6.448.837 người (chiếm khoảng 7,5% dân số cả nước). Từ năm 2001 đến năm 2009, tại Hà Nội trung bình c ra đời, tỷ lệ nhập cư về Hà Nội trung bình khoảng 100.000 người/năm. Như vậy, mỗi năm quy mô dân số Hà Nội dự k 2 đương một dân số huyện lớn. Năm 2009, mặt độ dân số trung bình của Hà Nội là 1926 người/km , cao gấp 7,4 lần so v trung tâm kinh tế, văn hóa, giao thông, du lịch, giáo dục, chính trị lớn của cả nước. Hà Nội hiện có trên 4000 di tích và dan hạng quốc gia trên 900 di tích và danh thắng. Với hàng trăm đền, chùa, công trình kiến trúc, danh thắng nổi tiếng, nhiề ngon, các làng nghề truyền thống, Hà Nội trở thành một trung tâm du lịch lớn, du khách có dịp khám phá nhiều công trìn nghệ thuật được xây dựng qua nhiều thế hệ trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Hà Nội là trung tâm và đầu m nước. Từ Hà Nội, ta có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng bất cứ phương tiện nào. Đường bộ có giao thông công cộ khắp thành phố, giao thông cá nhân (xe máy, ô tô). Đặc biệt ở Hà Nội có loại hình xích lô thường dùng để phục vụ khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, nước ngầm, Mỹ Đình tỏa đi khắp mọi miền đất nướ xuyên Bắc – Nam, quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang; quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; qu Quảng Ninh; quốc lộ 6 đi Hòa Bình, Sơn La. Ngoài ra, Hà Nội cũng là đầu mối của tuyến giao thông đường sắt xuyên Việ Hà Nội cũng là trung tâm đường không với cảng hàng không sân bay Nội Bài. Hà Nội cũng có hệ thống sông ngòi chằ con sông lớn là sông Hồng và sông Đà, tạo thuận lợi cho việc vận tải bằng đường sông. Hà Nội hiện có 5 cây cầu bắc Thăng Long, cầu Long Biên, cầu Chương Dương, cầu Thanh Trì và cầu Vĩnh Tuy để phục vụ cho việc giao thông của t sông Hồng, nối liền thành phố với các tỉnh phía Bắc và phía Đông Bắc của Tổ quốc.

Thành phố Hà Nội có khoảng 70 trường Đại học, 20 trường Cao đăng, 60 trường Trung cấp, dạy nghề, nhiều trung tâ ngoài. Hàng năm có rất nhiều học sinh, sinh viên đổ về học tập.

Hà Nội là Thủ đô và cũng là Thành phố có diện tích lớn nhất đông dân thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội là một tế của cả nước, với các ngành dịch vụ, du lịch và bảo hiểm giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố nghiệp, Hà Nội đã xây dựng hoàn chỉnh 9 khu công nghiệp và 11 cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều sản phẩm công ng số sản phẩm mới của ngành công nghiệp điện tử, công nghiệp phần mềm, chế tạo khuôn mẫu… đã đứng vững trên thị Hà Nội sẽ tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, phát triển các ngàn phẩm công nghệ cao… Với những đặc điểm và lợi thế đó, Hà Nội thực sự là mảnh đất hấp dẫn dân nhập cư. Vậy thực trạng di dân ngoại tỉnh vào thành phố Hà Nội diễn ra như thế nào? Số liệu thống kê về tỷ lệ và số lượng người gian qua được tổng kết qua bảng số liệu sau: Bảng: Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội qua các năm Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 (*) 1.55

Tỷ lệ tăng dân số cơ học (%) 0.59

0.66

0.68

0.73

0.81

1.08

1.36

1.31

1.43

Số người

16,985 19,570 20,768 22,964 26,245 35,218 46,240 44,540 48,620 52,588 Nguồn: Số liệu Nội qua các năm

(*) là số dự báo

Từ bảng số liệu ta có thể thấy, quy mô và tốc độ của lượng người di dân vào Hà Nội qua các năm ngày càng tăng, chẳ người di cư vào Hà Nội là 16,985 người thì đến năm 2007 là 46,240 người và con số đó đã là 52,588 người vào năm 2 chung trong những năm tới là số lượng người lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội vẫn tăng lên một cách nhanh chóng. Hiện t có sự quản lý, điều tiết sẽ gây ra những vấn đề phức tạp trong đời sống kinh tế xã hội cho thủ đô trong những năm tới.

Phân tích về cơ cấu dân cư và lao động di cư tới Hà Nội, thực tế đã cho thấy rằng, khoảng 85% người di dân là vào độ t biệt cao nhất là ở độ tuổi từ 20-24 tuổi chiếm 37,14% và độ tuổi từ 15-19 tuổi chiếm 28,27% tiếp theo là độ tuổi 25-29 tuổ vậy, di dân chủ yếu là người trong độ tuổi lao động trẻ, khỏe, rất ít người trên 50 tuổi. Hiện tượng này có thể là do yêu c cư, tính cạnh tranh trên thị trường lao động và một phần tâm lý người trẻ thường thích sống ở các thành phố. Nhìn về tổ hướng di cư nhiều hơn đôi chút so với nữ. Tuy nhiên, nhìn vào từng nhóm tuổi thì nữ chiếm ưu thế hơn ở các nhóm tu nhóm tuổi dưới 30 số di dân nam nhiều hơn số di dân nữ. Sự gia tăng tỷ lệ nữ so với nam giới ở độ tuổi trên 30 trong quan tới việc đoàn tụ gia đình cũng như sự phát triển nhanh chóng của các loại hình kinh tế dịch vụ…Qua đó, thu hút nh về tìm việc làm và lập nghiệp ở Hà Nội. Về trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật thì có thể thấy rằng: trình độ học vấn dài tương đối khá, không hề thua kém với dân sở tại. Còn trình độ của nhóm di dân mùa vụ thì thấp hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ có trình độ học vấn phổ thông cũng chiếm tới hơn 70%; chất lượng của dân số không những được đánh giá qua trình đ mà còn qua các cấp đào tạo về chuyên môn, số người di cư ra Hà Nội có một bộ phận khá lớn là không có trình độ chu làm việc theo thời vụ hoặc không có nghề nghiệp cố định. Đây cũng là một vấn đề đòi hỏi các nhà quản lý phải quan tâ thấy lao động giản đơn vào Hà Nội chiếm một tỷ lệ khá cao và họ làm đủ các nghề: nghề xây dựng và sản xuất thủ công Honda ôm, nghề thu gom phế liệu, nghề dịch vụ trong các nhà hàng…Những người lao động này thường tập trung chờ v người ta quen gọi là các chợ lao động, họ có thể thuê nhà trọ hoặc có nhiều người nghỉ qua đêm ngay trên vỉa hè, lề đườ Họ làm thuê bất cứ nghề gì, kể cả việc nặng nhọc với tiền công thấp. Số lao động buôn bán rau, hoa quả, bán gạo…Họ lương thực, thực phẩm từ các tỉnh ngoài vào Hà Nội. Họ thuê nhà trọ gần chợ để tiện buôn bán. Theo con số ước tính Đồng Xuân, số lao động này ở trọ quanh chợ có khoảng 500 người, họ từ nông thôn ở một số tỉnh ở sát Hà Nội như Hà Hải Dương…Thu nhập của họ sau khi trừ đi các khoản ăn uống và chi phí thiết yếu khác, hàng tháng họ còn tiết kiệm đ nghìn đồng.

Qua thực trạng trên, vậy chúng ta có thể đánh giá được gì về tình trạng di dân tự do đến Hà Nội. Di dân ngoại tỉnh đến H tích cực của nó, nhưng mặt khác nó cũng đặt ra những vấn đề khó khăn và phức tạp trong quá trình phát triển kinh tế - x tác động tích cực của nó, chúng ta có thể thấy: ở mức độ nhất định, di dân vào Hà Nội góp phần thúc đẩy sự phát trỉên vực và các ngành nghề, dịch vụ và có ý nghĩa đối với sự tăng trưởng kinh tế của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa di cư tới Hà Nội để tìm kiếm việc làm đã góp phần bổ sung nguồn lực lao động cho thành phố, đặc biệt là thúc đẩy phát tr vụ, ngoài ra họ tham gia vào phát triển khu vực phi kết cấu góp phần thỏa mãn nhu cầu về các ngành nghề như: mộc, nề mặt hàng lương thực và thực phẩm…Hơn nữa, họ cũng tham gia vào lĩnh vực hoạt động lao động phổ thông mà nhà được trong quá trình đô thị hóa như: xích lô, vận chuyển hàng hóa, chuyên chở hành khách và nhiều hình thức hoạt độn chung, tác động tích cực của di dân ngoại tỉnh vào Hà Nội tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô tuy không đo nhưng rõ ràng vai trò của nó là không thể phủ nhận. Người dân di cư ngoại tỉnh vào Hà Nội với mục đích tìm kiếm việc là vậy tính năng động trong việc tìm kiếm việc làm của họ rất cao, tùy thuộc vào trình độ chuyên môn, sức khỏe, khả năng sẫn sàng tham gia vào các lĩnh vực khác nhau. Do đó, những người lao động này đã bù đắp cho nguồn lực lao động ở Hà những công việc mang tính chất lao động giản đơn, hoặc lao động nặng nhọc nhưng rất cần thiết cho đời sống kinh tế xã lao động ngoại tỉnh làm việc có tính chất thời vụ vào Hà Nội tìm việc, họ có thể làm bất cứ công việc gì mà lao động ở th làm, những công việc nặng nhọc phải dùng sức cơ bắp mặc dù thu nhập của họ không cao lắm song vẫn hơn hẳn mức th

Bên cạnh những mặt tích cực, tình trạng di dân tự do tới Hà Nội tìm việc làm cũng đang đặt ra những vấn đề cấp bách triển kinh tế xã hội ở thành phố. Có thể đưa ra những vấn đề cấp bách nổi bật sau: thứ nhất, là vấn để gia tăng sức ép v Tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp ở Hà Nội thực tế đã tồn tại nay lại được bổ sung thêm do tình trạng di dân ngoại điều đó làm cho số người có nhu cầu giải quyết việc làm mỗi năm tăng nhanh, gây nên sức ép về việc làm tại thành phố thời đây cũng là nguyên nhân dẫn tới những mặt tiêu cực khác phát sinh, tạo ra gánh nặng về mặt kinh tế xã hội cho t

gây quá tải về sử dụng các công trình hạ tầng cơ sở: Những năm trở lại đây, Hà Nội tuy đã được Nhà nước chú ý đầu tư điều kiện nhà ở nhưng vẫn thiếu và không đồng bộ. Thực tế quỹ nhà ở, công trình công cộng mới xây dựng mặc dù tăng đáp ứng được nhu cầu đô thị hóa (trường học, chăm sóc sức khỏe, cấp thoát nước, điện sinh hoạt và vệ sinh môi trườn này càng trở nên trầm trọng hơn khi thêm vào đó khối lượng lớn người di cư ngoại tỉnh tới Hà Nội.
2

Về nhà ở, trong những năm gần đây, Hà Nội đã xây dựng mới hàng triệu m nhà để phục vụ nhu cầu của nhân dân. So nhanh đã làm giảm diện tích bình quân nhà ở. Bên cạnh đó, hiện nay nhiều khu nhà hư hỏng và xuống cấp, không an toà dụng. Người di dân tự do vào Hà Nội thì vấn đề nhà ở là vấn đề lo ngại nhất, một số người di dân mùa vụ do mục đích c nông nhàn, cùng với trình độ chuyên môn tay nghề thấp, họ không đủ tiền thuê nhà. Họ thường tập trung ở các vỉa hè ho rẻ tiền, điều kiện ăn ở rất khó khăn.

Về môi trường, quá trình đô thị hóa diến ra nhanh và điều đó cũng tất yếu dẫn tới mâu thuẫn giữa môi trường và sự gia mâu thuẫn đó đã tác động không tốt tới đời sống của người dân thành phố, ví dụ như:

- Chất thải sinh hoạt, mức gia tăng dân số quá nhanh hiện nay luôn gắn với việc ô nhiễm môi trường và gây bất lợi cho 3 mỗi ngày có khoảng gần 2.000 m rác thải, trong khi chỉ giải quyết được khoảng 50% số rác đó. Như vậy, dân số đông nhanh, trong khi khả năng xử lý rác thải chưa đáp ứng được đang đặt ra một vấn đề lớn về tình trạng ô nhiễm vệ sinh m phố.

- Nước sinh hoạt, mặc dù có những cải thiện về hệ thống cấp nước, nhưng lượng nước sạch bình quân đầu người của tăng vì dân số tăng nhanh. Hiện nay, một số mạch nước ngầm của thành phố cũng bị ô nhiễm do khai thác quá tải và khô công nghệ khai thác.

- Không khí và tiếng ồn, cùng với quá trình đô thị hóa, với sự phát triển của công nghiệp và giao thông vận tải đã làm tăn hại trong thành phố. Sự ô nhiễm trong các khu vực gần nhà máy và các trục giao thông chính vượt quá giới hạn cho ph chuẩn từ 4-10 lần, khí CO2, NO2 từ 2-4 lần, khí SO2 vượt từ 3-5 lần. Sự phát triển của dân số và các phương tiện giao t sự gia tăng tiếng ồn. Các khu công nghiệp và khu dân cư đông đúc bị chịu tiếng ồn đã vượt quá mức độ cho phép.

Sống trong những ngôi nhà tạm bợ, mà điển hình là các khu nhà ở ven chân cầu Long Biên là những người từ các tỉnh làm đủ các nghề như bán hàng rong, khuân vác, đánh giầy, Honda ôm… Hiện nay, Hà Nội đang phải chịu cảnh buôn bán vụ tự phát… Họ lấn chiếm lòng đường, hè phố, gây cản trở giao thông và mất trật tự đô thị. Ngoài ra, đã và đang xuất hiệ nạn xã hội từ tình trạng những người di dân ngoại tỉnh về Hà Nội.

Một vấn đề lớn thứ ba mà tình trạng di dân có nguy cơ gây ra cho thành phố là tình trạng gây mất trật tự công cộng và gia lý cho các cấp chính quyền. Các cuộc điều tra cho thấy, những người di chuyển về Hà Nội có những hạn chế nhất định nghề nên phần đông trong số họ phải làm đủ các loại công việc. Cuộc sống tạm bợ qua ngày của những người lang than thành nên các tụ điểm chợ lao động như: cầu Mai Động, Ngã tư Sở, dốc Minh Khai… gây mất trật tự công cộng và mỹ qu làm việc căng thẳng và mệt mỏi, người lao động thường tập trung qua đêm ở các xóm lao động và nhà trọ bình dân rẻ tiề và sinh sống trong các khu vực này không được đảm bảo. Do tính chất công việc, hàng ngày họ phải tiếp xúc với nhiều họ dễ dàng tiếp thu cả cái tốt và cái xấu. Vì vậy, ở họ rất dễ mắc các tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng cho vấn đề an ninh tr các nhà quản lý.

Bên trên là những vấn đề cấp bách đặt ra do tình trạng di dân tự do vào Hà Nội để kiếm việc làm. Vậy, giải pháp cho vấn quản lý tình trạng di dân ngoại tỉnh đến Hà Nội được đặt ra như thế nào? Về quan điểm chúng ta phải thấy rằng, di dâ thành phố lớn nói chung và vào Hà Nội nói riêng là một xu thế tất yếu. Hiện tượng di dân xuất phát từ sự chênh lệch mức và thành thị. Ngoài những nguyên nhân kinh tế, còn có những nguyên nhân phi kinh tế khác mà chúng ta đã thấy ở nghiên cứu, các nhà quản lý cần phải nắm bắt tính quy luật nội tại của hiện tượng di dân để vận dụng vào việc hoạch địn biện pháp điều tiết nó vì mục tiêu phát triển. Quan điểm ở đây là không để quá trình di dân ngoại tỉnh (mà đặc biệt là di dâ vụ) vào Hà Nội trở thành một quá trình tự phát, nhưng đồng thời cũng không nên duy ý chí, quản lý quá trình này bằng m một cách cứng nhắc. Chúng ta không thể cưỡng chế nó bằng các biện pháp hành chính, nhưng cũng không khuyến hoặc từ chối nó một cách buông xuôi, tự phát. Vấn đề quản lý và điều tiết hiện tượng di dân ngoại tỉnh vào Hà Nội liên q nhiều lĩnh vực và các cấp quản lý. Do đó các giải pháp phải có tính đồng bộ cao. Các giải pháp quản lý và điều tiết tình t

vào Hà Nội phải mang tính hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội, cả về trước mắt cũng như lâu dài. Ở đây, chúng ta có t nhóm giải pháp cơ bản sau:

- Thứ nhất, là nhóm giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực của di dân ngoại tỉnh vào Hà Nội. Vấn đề này cầ bản và là trách nhiệm của cả các cấp chính quyền trung ương và địa phương, bao gồm những vấn đề sau:

+ Cần phải có chiến lược quy hoạch mở rộng thành phố Hà Nội, phát triển các khu đô thị vệ tinh, thông qua đó để giảm á dân số quá mức ở khu vực nội thành, đồng thời tạo thế phát triển về kinh tế và xã hội cho thủ đô trong tương lai.

+ Chủ động thu hút và quản lý luồng di dân vào các ngành nghề phù hợp. Di dân ngoại tỉnh vào các đô thị lớn cũng như hướng tất yếu trong quá trình phát triển của đất nước. Do vậy cần có những biện pháp chủ động nhằm tổ chức thu hút lực nhu cầu của thị trường thay vì hạn chế bằng các rào cản hành chính. Là một trong những trung tâm kinh tế lớn của trưởng kinh tế của Hà Nội trong những năm qua là khá cao (trên 10%). Bên cạnh khu vực công nghiệp hiện đại, thì các sống như các công việc nội trợ, chăm sóc trẻ em, vận tải nhỏ, buôn bán nhỏ… là các hoạt động mang tính truyền thốn những giải pháp vừa mang tính chất cấp bách, vừa mang tính chất lâu dài là phải hình thành và phát triển các loại hình dị nhu cầu kể trên. Việc phát triển các loại hình dịch vụ có tổ chức thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm, các trung tâm môi giới việc làm, các loại hình doanh nghiệp… sẽ tạo điều kiện thu hút và quản lý có hiệu quả hơn tình trạng di dân tránh được tình trạng tự phát như hiện nay.

+ Hoàn thiện chính sách quản lý nhân khẩu, hộ khẩu. Trước kia, trong cơ chế tập trung bao cấp, việc nhập khẩu vào Hà N chẽ không chỉ vì lý do an ninh mà còn vì lý do kinh tế như chế độ phân phối lương thực – thực phẩm… Nay chuyển sang việc lưu chuyển lao động cũng linh hoạt và đa dạng hơn. Nhu cầu về các loại lao động đa dạng hơn. Do đó, việc quản không phải chỉ là việc thực hiện các thủ tục hành chính, mà còn cần lưu ý đến các yếu tố kinh tế xã hội khác: đó là nhu cầ bảo đời sống – quyền cơ bản của người dân.

- Thứ hai, là nhóm giải pháp nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của tình trạng di dân ngoại tỉnh vào Hà Nội. Ở đây có th pháp cụ thể sau:

+ Cần phải có quy hoạch nơi ở và nơi giao dịch việc làm cho người di dân theo mùa vụ. Đối với người di cư mùa vụ làm đề thông tin việc làm đóng một vai trò quan trọng. Tuy nhiên vấn đề nhà ở là một vấn đê khó khăn đối với họ. Do vậy, việ người di cư, ví dụ như: dịch vụ cho thuê phòng trọ giá rẻ, quy hoạch khu trọ cho người di dân và nơi giao dịch việc làm thực cho người di dân, đồng thời đem lại hiệu quả tốt hơn cho nhà quản lý.

+ Xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội. Việc xây dựng các chính sách xã hội và đưa chúng vào thực tế đối với ng một yêu cầu thiết yếu hiện nay. Các chính sách đó bao gồm một loạt các vấn đề như: hỗ trợ việc làm, trợ cấp thất nghiệp bảo hiểm y tế… Việc thực hiện các chính sách này cũng rất cần thiết đối với người di dân tự do, nó giúp cho người lao đ hiện các quyền cơ bản của công dân, tạo điều kiện cho họ tham gia tốt hơn vào thị trường lao động.

+ Giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức cộng đồng, xây dựng nếp sống văn minh đô thị cho người di cư. Một hoạt động của người dân di cư theo mùa vụ là ý thức cộng đồng cũng như những hành động tự phát của họ làm mất mỹ Vì vậy, cần phải có các chương trình tuyên truyền nếp sống văn minh thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. B có những chế tài, những hình thức xử phạt hành chính để nhắc nhở họ, qua đó để xây dựng nếp sống văn minh đô thị ng

+ Thành lập các trung tâm hỗ trợ việc làm cho người di dân. Đây là một giải pháp nhằm tạo điều kiện giúp người di d đồng thời nhằm tăng cường quản lý người di dân vào làm việc tại Hà Nội. Đây có thể là những tổ chức tư vẫn về việc làm những ngành nghề phù hợp với năng lực của họ. Đồng thời, từng bước hình thành nên thị trường lao động có thể quản l quản lý thực hiện tốt chức năng của mình.

Tóm lại, tình trạng di dân các tỉnh ngoại thành vào Hà Nội là một tất yếu khách quan. Phân tích thực trạng này chúng ta nguyên nhân cơ bản của nó, những vấn đề cấp bách về mặt kinh tế xã hội mà vấn đề này đang đặt ra. Qua đó, chúng pháp hữu hiệu nhằm quản lý tình trạng trên để đảm bảo thủ đô Hà Nội phát triển một cách bền vững, sao cho xưng đáng

văn hiến

Quá trình đô thị hóa gần đây của Hà Nội Trong thế kỷ thứ 20, và nhất là trong thời kỳ Đổi Mới, Hà Nội có ảnh hưởng lớn đến quá trình đô thị hóa quanh đô thị vùng ven, sau một thời gian quá trình này bị chững lại. Nghiên cứu của chúng tôi về sự phát triển của các vùng ven Hà Nội đã cho thấy trong hai thập kỷ gần đây, xung quanh Hà Nội đã hình thành 3 vành đai : - Vành đai 1 : gồm các làng gần sát Hà Nội và đang chờ đô thị hóa. Trong vành đai này, người nông dân làm nông nghiệp để giữ quyền sử dụng đất của mình. Đầu cơ đất là hoạt động kinh tế chính tại đây. - Vành đai 2 : gồm các làng ở xa thành phố hơn, chưa có điều kiện đô thị hóa, đang phát triển nhanh, có hoạt động phi nông nghiệp ở các làng nghề truyền thống hoặc mới thành lập. Nhiều làng nghề kết hợp với các làng lân cận lập thành các cụm ngành nghề nhằm tạo việc làm, cải thiện thu nhập của người dân và giữ người nông dân ở lại với nông thôn. Những cụm ngành nghề này đang bị đô thị hóa tự phát mà không có quy hoạch cũng như hỗ trợ của nhà nước, tạo nên quá trình đô thị hóa phi tập trung ở vùng ven Hà Nội với vành đai cụm công nghiệp và nông nghiệp rất năng động tạo thành một hệ thống mới như ở các nước Đông Á. Quá trình này đã dẫn đến nhưng thay đổi về cơ cấu trong vùng dựa trên nội lực. - Vành đai 3 : gồm các làng ở xa thủ đô, không có mối quan hệ kinh tế trực tiếp với thủ đô. Hoạt động chính ở đây là nông nghiệp và thu nhập của người dân rất thấp. Đàn ông và phụ nữ trẻ rời bỏ làng để lên thành phố tìm việc, giao việc làm nông lại cho phụ nữ đứng tuổi và người già. Nền nông nghiệp ở đây mang tính quãng canh và không có chăn nuôi. Điều này dẫn đến có nguy cơ mất an ninh lương thực. Ngoài ra ở quanh Hà Nội đang xảy ra quá trình đô thị hóa tự phát. Nhiều làng nghề năng động cần xây dựng khu công nghiệp để phát triển nghề đã được chính quyền địa phương cho phép tự đô thị hóa không cần quy hoạch và hỗ trợ của nhà nước. Các làng này đã trở thành các thị trấn cung cấp dịch vụ cho cả vùng, tạo ra các cụm công nghiệp, giải quyết việc làm cho các làng xung quanh, tự giải quyết các vấn đề mà nhà nước không làm được. Đây là cách làm chủ yếu để giảm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giảm sự di dân ra các thành phố, bỏ nghề nông nghiệp và đe dọa an ninh lương thực. Hiện nay trong phát triển kinh tế chúng ta vẫn lấy mục tiêu là năm 2020 nước ta sẽ bắt đầu trở thành một nước công nghiệp. Chúng tôi đã thử xây dựng một mô hình dự báo sự phát triển đến 2020. Kết quả của mô hình này cho thấy nếu tăng trưởng của Sản phẩm trong nước (GDP) sẽ là trên 8 % năm như một vài năm qua thì đến 2020 nước ta sẽ chỉ còn phần của nông nghiệp trong GDP khoảng gần 10 %, như vậy có thể coi là bắt đầu trở thành một nước công nghiệp. Tuy vậy vào lúc bấy giờ tỷ lệ đô thị hoá của nước ta chưa đén 50 % (theo Bộ xây dựng là 45 %). Như vậy là tốc độ đô thị hoá của nước ta sẽ chậm hơn công nghiệp hoá như các nước đang phát triển khác vì tỷ lệ sinh đẻ trong thời kỳ công nghiệp hoá còn cao (trên 2% năm), tạo ra một số lao động thừa ngày càng cao. Vì vậy lúc đã trở thành một nước công nghiệp, tỷ lệ nông thôn và đi đôi với nó là nông nghiệp vẫn còn quan trọng. Đây là một điều mà nhiều người ít biết đến vì tưởng rằng vai trò của nông nghiệp sẽ giảm đi trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá. Ở Trung quốc theo dự báo năm 2020 nông nghiệp trong GDP còn khoảng 5 % nhưng dân số nông thôn vẫn còn 45 %. Trong thời gian tới trong tình trạng kinh tế thế giới suy thoái, năm 2020 nước ta sẽ không thể trở thành một nước công nghiệp vì tăng trưởng không thể đạt trên 8 % năm như đã mong đợi. Theo dự báo của IMF và WB suất tăng trưởng của nước ta trong thời gian tới chỉ có thể đạt cao nhất khoảng 5-6 % năm.

Dự báo của chúng tôi cho thấy nếu tăng trưởng 5 % năm thì đến sau 2030 tỷ lệ NN trong GDP vẫn còn 13 %. Trước tình hình này phải giảm tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá xuống phù hợp với khả năng công nghiệp hoá và đô thị hoá thực tế. Việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị hoá quá sớm sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng mới. Việc điều chỉnh lại tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá là biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết các khó khăn trong mmâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trong vấn đề đất đai và lao động. Hiện nay ở nước ngoài người ta đang cho rằng nông nghiệp sẽ cứu các nước ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế. Nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày sẽ càng tăng nhanh dù có có khủng hoảng kinh tế hay không. Theo dự báo về tăng dân số, dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người, vào năm 2050 sẽ là 9,1 tỷ người và nhu cầu thực phẩm sẽ tăng gấp đôi hiện nay. Nếu chưa tìm được một cách phát triển mới thì không thể công nghiệp hoá và đô thị hoá được. Châu thổ sông Hồng, Hà nội là trung tâm của châu thổ sông Hồng, một châu thổ đã có một quá trình phát triển lâu đời và độc đáo. Chính dân cư của các làng nghề, làng buôn của châu thổ đã xây dựng nên Thăng Long Kẻ chợ. Hệ thống làng nghề năng động đang phát triển thành các cụm công nghiệp và cụm nông nghiệp có thể phát triển thành hệ thống đổi mới quốc gia xây dựng được ưu thế cạnh tranh cho sự phát triển thực hiện được mô hình này. Công nghiệp hoá dựa vào nông nghiệp cũng là một mô hình có ưu thế cạnh tranh ở Việt Nam, tạo được một sự phát triển bền vững, Phải công nghiệp hoá bằng việc phát triển công nghiệp chế biến để tăng giá trị gia tăng. Đừng quên rằng Hà Tây là một vùng có một nền nông nghệp mạnh, cần phải tiếp tục phát triển thế mạnh ấy đừng để mất đi thì rất dáng tiêc. Du lịch nông thôn là một biện pháp có thể kết hợp với sự phát triển kinh tế nông thôn. Kinh nghiệm các nước cho thấy du lịch nông thôn có thể làm tăng gấp đôi thu nhập của nông dân, tạo việc làm và thúc đẩy sự nâng cao chất lượng của nông nghiệp. Hà Nội phải xây dựng được một hệ thống dịch vụ phục vụ cho nông thôn châu thổ sông Hồng đây là một kho việc làm rất phong phú có thể giải quyết được việc làm cho nông dân mất đất. Công việc chủ yếu của hệ thống dịch vụ này là nông nghiệp sạch và công nghiệp chế biến thực phẩm. Hình thức đào tạo nghề cho nông dân thích hợp nhất là vườn ươm xí nghiệp dang được áp dụng rộng rãi ở các nước và thí điểm ở nước ta.

Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân bị mất đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãn dân…

THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Trong thế kỷ XX, sự gia tăng dân số quá nhanh và không kiểm soát được xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Theo các chuyên gia Liên Hợp Quốc, đến năm 2030 dân số thế giới sẽ vượt qua ngưỡng 8 tỷ. Phần lớn nguyên nhân của đô thị hoá nảy sinh do khát vọng phát triển cấu trúc không gian của đô thị. Cùng với sự xuất hiện các khu đô thị mới, khu công nghiệp và những thành phố chính là sự thay đổi của các đô thị có sẵn về lượng một cách rõ ràng nhất. Đó là một hiện tượng tất yếu trên con đường phát triển của loài người nhưng nếu chúng ta không đi đúng hướng sẽ rất có hại cho môi trường và cho sức khỏe của con người. Khi thành phố ngày càng được mở rộng thì những vấn đề liên quan đến đi lại, nghỉ ngơi, tiếp xúc với thiên nhiên... của cư dân trong các đô thị ngày càng cao. Đô thị càng phát triển và càng lớn thì cường độ di chuyển của người dân càng nhiều. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra những khó khăn trong các đô thị hiện đại (ô nhiễm môi trường do các chất thải từ các phương tiện giao thông cơ giới, tai nạn giao thông…). Ngoài ra còn có những “kẻ thù” hết sức nguy hiểm cho xã hội và cho sức khoẻ của con người (cho cả cư dân bản địa và những người di cư hay vãng lai) do sự tập trung một khối lượng lớn người trên một diện tích có hạn của thành phố. Đó chính là các loại tệ nạn xã hội (nghiện hút, mại dâm, trộm cắp, lừa đảo…) và những loại bệnh tật vô phương cứu chữa của nền văn minh hiện đại (ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp...). Sức “hấp dẫn” của cuộc sống đô thị và của các vùng đã được đô thị hoá là nguyên nhân chính lôi cuốn một khối lượng khổng lồ cư dân nông thôn đi tìm miền “đất hứa”. Mặt khác những thành phố lớn ngày càng hấp dẫn và lôi cuốn cư dân từ các đô thị nhỏ hơn cũng như từ các vùng nông thôn nên càng làm cho tình hình thêm phức tạp (hạ tầng kỹ thuật quá tải; cây xanh, mặt nước, không gian trống hiếm hoi…).

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful