GÓC NHÌN MỚI VỀ SỰ GIỐNG NHAU ĐỊNH LƯỢNG CỦA SÓNG ELLIOT Robert R.Prechter Jr.

, CMT Giới thiệu: Mẫu hình sóng Elliott fractal Fractal là một hình thức tƣơng tự nhau hoặc tự giống nhau. Tức là nó là chính nó khi xem xét ở các mức độ khác nhau mà không tính đến thang đo kích thƣớc khi quan sát chúng. Năm 1930, Ralph Nelson Elliott khám phá ra rằng dữ liệu giá chính là fractal. Quan trọng hơn, ông đã chứng minh rằng có một fractal đặc trƣng với hình dạng nhất định mặc cho sự khác biệt về mặt định lƣợng. Hình A cho chúng ta thấy một vài sự lặp lại của sóng Elliott lí tƣởng.

Các mẫu hình giá thị trƣờng tài chính dƣờng nhƣ là một dạng fractal đặc biệt đƣợc tìm thấy trong nhiều hình thức của cuộc sống, đa dạng (nhƣ trong hệ thống cuống phổi, tim và mạch máu, thần kinh) hoặc điều chỉnh (nhƣ mẫu hình tăng trƣởng). Tôi xem nó đơn giản để chỉ rõ fractal có cả chất lƣợng hình thức cố định, giống dạng fractal tự giống nhau nhƣ hình vuông tổ chim, cũng nhƣ có khía cạnh định lƣợng thay đổi, nhƣ fractal không xác định chẳng hạn nhƣ đám mây, bờ biển…. Dãy Fionacci và Nguyên lí sóng Dãy Fibonacci là 1,1,2,3,5,8,13,21,34,55 ….. Nó bắt đầu bằng số 1 và mỗi con số tiếp theo bằng tổng hai con số trƣớc đó. Tỉ số giữa hai con số kề nhau là 0.618034… một con số vô tỉ gọi à “golden mean” và “divine proportion” nhƣng trong thế kỉ này cô đọng hơn “phi” Φ. Dãy Fibonacci và hệ số Fibonacci hiện diện ở khắp mọi nơi trong cuộc sống từ cấu trúc hình học chuỗi phân tử DNA cho đến sinh lí học. “Golden section” là đƣờng phân cách theo Fibonacci, xem hình B. Vài golden section xuất hiện trong bài này.

giải thích rằng quá trình sóng có nền tảng toán học giống nhƣ các hiện tƣợng khác trong cuộc sống. Cycle và Supercycle. Sau khi nghiên cứu vấn đề này ở quy mô nhỏ ở một thời điểm. từ những mức giá nhỏ nhất có thể xác định đƣợc trên mẫu hình 1 giờ cho đến cấp độ lớn nhất ông ta có thể giả định tồn tại từ các dữ liệu thu thập có sẵn. quan sát thấy rằng Nguyên lí sóng có chứa dãy Fibonacci. Chuỗi này tiếp tục kéo dài mãi. Mặc dù bài nghiên cứu này không đặt tên cho các sóng nhỏ. 5 và 8. xếp theo kích thƣớc gọi là Primary. Elliott đã đƣa ra kết luận thống nhất cuối cùng của lí thuyết của mình năm 1940. Một chu kì hoàn chỉnh gồm 2 đƣờng. Collins ghi chú rằng dãy Fibonacci chi phối số lƣợng sóng hình thành sự chuyển động giá cổ phiếu tổng thể trong sự mở rộng dựa trên mối quan hệ 5-3 cơ bản. sóng Supercycle đƣợc đặt theo số La mã trong ngoặc nhƣ (III). Ở mức độ phức tạp lớn hơn. Mức độ sóng đƣợc xác định dựa trên kích thƣớc và vị thế tƣơng đối với các sóng thành phần. . sóng Cycle đƣợc đặt theo chữ cái La mã chẳng hạn nhƣ III. Hình C cho ta thấy quá trình diễn tiến này. sóng Cycle hợp với nhau tạo thành sóng Supercycle và cứ thế tiếp tục. các sóng gần nó và các sóng chứa nó. Elliott đặt tên cho 9 cấp độ sóng.Sóng Primary đƣợc đặt tên theo chữ số trong hình tròn chẳng hạn nhƣ . các sóng Primary lại đƣợc chia thành sóng Intermediate. các con số sóng tƣơng ứng là 3. Sự diễn tả đơn giản nhất của 1 sóng hiệu chỉnh (đi ngƣợc xu hƣớng) là một đƣờng thẳng dốc xuống. Ghi chú và thuật ngữ Sóng đƣợc chia thành nhiều cấp độ. Còn sóng xung lực là một đƣờng thẳng đi lên. nhà tƣ vấn đầu tƣ nổi tiếng Charles Collins. Bài nghiên cứu này đặt tên cho 3 loại cấp độ sóng.Nhà xuất bản của Elliott. Sóng Primary liên kết với nhau tạo thành sóng Cycle. rồi chia tiếp thành sóng Minor….

(IV). Trƣớc khi biết chuỗi giá còn lại là gì.618 hay bất kì phân số nào đƣợc tạo thành từ 2 số Fibonacci liền kề. . Đây là khuôn mẫu để chúng ta khám phá 2 sóng của cùng con số (thứ 5) và cấp độ (Cycle). Những sóng này đƣợc in đậm trong đồ thị. Chỉ có 2 sóng thứ 5 ở cấp độ này có dữ liệu giá hàng ngày và trong ngày. nhƣ chỉ số DJIA 1921-1929 xu hƣớng tăng. sóng V của (III) và 1974-2000 xu hƣớng tăng. Để thảo luận sâu hơn về chi tiết của Nguyên lí sóng và dãy Fibonacci. II. Nó đƣợc chia thành 5 sóng nhỏ hơn tạo thành cấp Supercycle đƣợc đánh dấu là (I). III. sóng V của (V). V. Φ2 là 0. Phần 1: SỰ GIỐNG NHAU ĐỐI XỨNG GIỮA HAI CÁCH DIỄN BIẾN SÓNG 5 CỦA SÓNG ELLIOTT FRACTAL.4 của Nguyên lí sóng Elliott và chƣơng 1-3 Nguyên lí sóng của hành vi xã hội con ngƣời.618 hay bất kì phân số nào đƣợc tạo thành từ 2 số Fibonacci xen kẽ. hãy xem chƣơng 1 .Trong bài này Φ tƣợng trƣng cho 0. (III). (II). HÌNH 1-1: MỐI TƢƠNG QUAN HẤP DẪN Hình 1-1 cho thấy 2 chuỗi giá.382 hay 2. Một trong số chúng là chỉ số Dow Jones trong 1 năm. IV.618 hay nghịch đảo của nó 2. bạn có thấy là chúng rất tƣơng quan với nhau hay không? HÌNH 1-2: HỌ HÀNG Hình 1-2 biểu diễn cấp độ sóng Grand-Supercycle với xu hƣớng tăng trên thị trƣờng chứng khoán Mỹ bắt đầu khoảng năm 1784. (V) rồi sau đó lại tiếp tục chia thành cấp sóng Cycle đƣợc đánh dấu là I.

có nhiều hơn sự giống nhau nhƣ thế.1 năm) và quy mô (tăng 596. gồm 2 xu hƣớng giảm. nhƣng vào những năm 1920 thị trƣờng giá tăng đƣợc mô tả theo hàng tuần do đó tần số dữ liệu của 2 đồ thị giá khá trùng nhau. Hình 1-3: SỰ GIỐNG NHAU CÂN ĐỐI CỦA 2 SÓNG THỨ 5 TRONG CẤP ĐỘ SÓNG CYCLE Hình 1-3 biểu diễn cho cùng mẫu dữ liệu. 1 dài và 1 ngắn. . sự khác biệt không đáng kể trong mẫu hình-đại diện cho sự phát triển của tâm lí học-tƣơng tự nhau một cách ấn tƣợng.5% hoặc tăng 1929. Từ điểm đó. chúng chiếm khoảng không giống nhau trên trang giấy. Những ghi chú trên đồ thị cho thấy sự giống nhau trong hình dạng giữa 2 sóng thứ 5 cấp Cycle nhƣ sau: Sóng Sóng Sóng Sóng tăng dốc. đƣợc theo sau bởi một sự sụt giá sâu rồi chạm đáy chỉ hơn cao hơn đáy sóng và sự kiểm tra của nó liên quan tới suy thoái kinh tế. gia tăng dốc.1 năm và 25. Mặc dù 2 sóng khác biệt nhau về mặt định lƣợng khi xét về mặt thời gian (8. .Xem lại hình 1-1 chúng ta nhận thấy rằng cả hai đƣờng giá đều là DJIA. Trong khi 2 thị trƣờng giá tăng chia thành 5 sóng Primary (đánh dấu theo số trong hình tròn). sóng Sóng bắt đầu bằng một vụ sụp đổ. Thực ra. chúng là phần đƣợc in đậm trong hình 1-2.6%).

5%=3. viễn cảnh thế giới hòa bình và chính sách chính trị ôn hòa. Những kết quả xã hội của quá trình tâm lí học logic thì cũng khá giống nhau. hai chuỗi dữ liệu sẽ là hồ sơ kinh nghiệm cần thiết. kết thúc trên đáy vụ sụp đổ. Nếu thời gian không liên quan tới con ngƣời (xét về mặt tạo ra các hình thái xã hội. Chúng xuất hiện gần nhƣ cùng lúc. tăng chậm rồi tăng tốc. gồm một sự hiệu chỉnh liên tục cho sóng . Trong trƣờng hợp đơn giản của sự giống nhau khăng khít giữa hai sóng cùng số và cấp độ có thể sẽ không đủ để khái quát hóa. Vài sóng và các điểm gãy có cùng độ dài.1 lần theo thời gian.Sóng Sóng gồm các điểm cao mới trong suốt thời gian./8.2%. Cả hai giai đoạn này cùng có khía cạnh xã hội giống nhau. Phần sóng theo sau sự kiểm định lại đáy sóng dƣờng nhƣ đƣợc kéo dài tăng thêm so với các sóng xung lực khác. điều này đƣa ra kết quả tƣơng tự trong hành động xã hội. Thậm chí nhiều khía cạnh định lƣợng của hai sóng này là tƣơng tự nhau. sự cấm thuốc. mặc dù Cục nghiên cứu kinh tế đã tuyên bố cuộc suy thoái chính thức kết thúc năm 1991. Nhìn chung xu hƣớng tăng 19742000 gấp 3. Tức là. sự đặt cọc trƣớc.1 yrs. Mỹ là quốc gia nông nghiệp trong những năm 1920. bùng nổ bất động sản. chúng tôi có thể ít nhất bắt đầu nghi ngờ rằng sóng thứ năm của cấp sóng Cycle cùng đóng góp khía cạnh hình thức định lƣợng nhất định.1). nó có thể nhƣ thế). 25. Còn . Hai giai đoạn này khác biệt đáng kể trong lĩnh vực công nghệ. Những sự giống nhau khá nhiều kể trên thì không phải là ngẫu nhiên. Quan sát trong mỗi trƣờng hợp. chiều cao hay/ hoặc độ rộng. Nhớ lại đầu những năm 1990. chẳng hạn nhƣ sự hấp dẫn chứng khoán. Điểm cuối của sóng Sóng Sóng đƣợc kéo dài. sự hiệu chỉnh của sóng và sóng đã gây ra suy thoái. truyền thông.1 yrs. Hình thức đặc biệt này có thể là sự diễn đạt quá trình tâm lí học trong sóng thứ năm cấp Cycle có sóng 5 đƣợc kéo dài.=3. sự kiện thế giới và tình hình chính trị. sự sa thải lớn và sụp đổ lớn nhất trong thu nhập của S&P kể từ khi đầu những năm 1940 đã gây khó khăn cho nền kinh tế cho đến 1993.2 lần tính theo phần trăm sự gia tăng 1921-1929 và gấp 3. bắt đầu suy thoái kinh tế. tín dụng dễ dãi. với sự hiệu chỉnh thấp khác thƣờng. Một sự hợp nhất diễn ra trƣớc điểm cao cuối cùng.6%/596. xu hƣớng tăng theo phần trăm không tính kép của hai thị trƣờng giá tăng theo thời gian về cơ bản là giống nhau. (1929.

chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách bao gồm một sóng năm chính khác biểu diễn sự kéo dài sóng năm. xem truyền hình vệ tinh những năm 1990. chúng chia sẻ các khía cạnh định lƣợng nhất định. Để nhìn thấy những sóng này tạo thành xu hƣớng tăng cấp Grand Supercyle từ 1784. . Sự dự đoán đôi này là khả thi theo Nguyên lí sóng. đƣợc biểu diễn ở phía trên hình 2-1. ở giữa đồ thị. Mức độ phổ biến của công nghệ thì không liên quan tới quá trình này. Ngƣời dân đọc báo giấy những năm 1920. đƣợc biểu diễn để che lấp khoảng trống trên trang giấy giống nhƣ hai sóng khác. chẳng hạn nhƣ những điều đƣợc ghi chú trong hình 1-3. quan trọng về mặt khoa học. trƣớc tiên một ngƣời phải dự đoán một thị trƣờng giá tăng mạnh. Một nghiên cứu chi tiết về thị trƣờng chứng khoán theo Nguyên lí sóng và Fibonacci là sự bắt đầu để gợi ý rằng các khía cạnh định lƣợng của sóng có vài thang đo cân đối. đƣợc biểu diễn bằng đƣờng gạch chấm trong hình 2-1. Phần II: Sự Giống Nhau Về Định Lượng Trong Ba Quá Trình Sóng Thứ Năm Của Sóng Elliott Fractal Elliott đã mô tả căn bản các khía cạnh định tính lặp lại của cấu trúc giá thị trƣờng tài chính. Hình 2-1: Các Vị Trí Giống Nhau Của Điểm Kết Thúc Sóng Ba Và Bốn Để tìm hiểu khía cạnh này của sóng Elliott. Nƣớc Mỹ nổi lên từ sự biệt lập chính trị những năm 1920 và những năm 1990 nó có sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới.những năm 1990 nó là trung tâm tài chính. 1920 SỰ TRỞ VỀ Thật đáng kinh ngạc khi sự gia tăng giá 1974-2000 phản ánh giống nhƣ giai đoạn 19211929. Hãy xem kĩ hơn. Sự bổ sung. hãy xem hình 1-2. Trong cả ba trƣờng hợp. sóng này đã kết thúc đồng thời với thành phần cuối của cấp sóng nhỏ hơn. Mọi ngƣời giao tiếp thông qua telegram và thƣ năm 1929. những ngƣời tin vào Nguyên lí sóng đã dự đoán sự giống nhau này. là sóng (V) cấp Supercycle từ 1993-2000. trong khi sóng V cấp Cycle lại là sóng thứ năm của sóng thứ năm của cấp Supercycle. những sóng này xuất hiện ở cuối ở gần nhƣ cùng mức giá và thời gian với chiều dài toàn bộ sóng. Mặc dù ba sóng này khác biệt đáng kể về mặt phần trăm và thời gian. Điều không thể bác bỏ trong cùng hai giai đoạn này là quá trình tâm lí trong xã hội. đƣợc thể hiện thông qua sóng Elliott trên thị trƣờng chứng khoán. sóng V. bằng email và điện thoại năm 2000. Dĩ nhiên.” Quan sát để dự đoán sự giống nhau thị trƣờng giá lên cho tới những năm 1920. dự đoán “một giai đoạn có nền kinh tế ổn định và giá chứng khoán tăng” bởi vì “thị trƣờng giá lên những năm 1920 nằm là sóng thứ năm nằm trong sóng thứ ba của cấp Supercycle. Khía cạnh nổi bật nhất là sự sắp xếp gần nhƣ giống nhau của sóng ba và bốn.

Hình 2-2 sóng ba như vách ngăn thời gian bằng nhau (tính theo năm) Tháng 2/2000. The Elliott Wave Theorist ghi chú rằng sự kết thúc đồng thời của sóng và sóng V đƣợc tính toán thời gian do đó đỉnh sóng và sóng III tƣơng ứng chia tách sóng V và (V) thành 2 phần có thời gian tuân theo Fibonacci bằng nhau. . Hình 2-2 cho thấy đỉnh sóng những năm 1920 diễn ra ở cùng vị thế tƣơng đối.

ở giữa hình là 10 trong 26 năm (5/13). có mối quan hệ trong mỗi trƣờng hợp. Giai đoạn trƣớc điểm cuối sóng bốn che lấp 5 trong 8 năm (5/8). và thời gian của sóng năm là lần toàn bộ thời gian. nhƣng lần này. sóng bốn. diễn ra ở cùng lúc liên quan tới chiều dài của mỗi sóng. và 13 và 21 năm (13/21) ở cuối hình. 8 trong 13 năm (8/13) và 21 trong 34 năm (21/34). sóng che lấp 3/8 năm. cũng tồn tại mối quan hệ mỗi trƣờng hợp. mối quan hệ trong mỗi trƣờng hợp. tƣơng ứng. sự phân cách tạo ra khu vực Fibonacci. 10 và 16 năm (5/8) ở giữa hình. Đặc biệt là ở phần phía trên đồ thị. Trong mỗi trƣờng hợp. trong .Hình 2-3: Sóng Bốn Như Là Vách Ngăn Thời Gian Fibonacci (Theo Năm) Nhƣ bạn nhìn thấy trong hình 2-3. ở cuối hình sóng V che lấp 26 trong 68 năm (13/34). giống nhƣ sóng ba. thời gian đạt đến điểm thấp của sóng bốn là gian. thời gian của sóng năm là lần toàn bộ thời lần thời gian đạt đến điểm thấp của sóng bốn. Hai giai đoạn tới phía bên phải và bên trái của điểm cuối sóng bốn kéo dài 3 và 5 năm (3/5) ở phía trên hình.

sự phân cách hầu nhƣ giống nhau ở mức 0.762-4.202 thuộc dãy log 1.563. ở điểm phân cách 0.998 thuộc dãy log 1.069. ở điểm phân cách 0. Quan sát thấy rằng 2 sóng ở cùng mức độ. sóng V cấp Cycle (ở phần cuối và giữa hình).435 thuộc dãy log 2. Khi đó điểm cuối mỗi sóng ba là dấu hiệu chia cách toàn bộ sóng xung lực thành 2 phần ở gần nhƣ cùng một điểm theo log giá.581.513 0. Giữa: sóng Cuối: sóng kết thúc ở mức 3. kết thúc ở mức 2.002.806-2. ở điểm phân cách 0.Hình 2-4: Sóng Ba Như Là Dấu Hiệu Giá Sóng ba không chỉ là dấu hiệu thời gian mà còn là dấu hiệu giá. Theo thang đo logarit. khoảng cách giá tính từ điểm bắt đầu mỗi sóng đến đỉnh ở cuối sóng ba thì gần nhƣ giống nhƣ trong cả ba trƣờng hợp. Đây là những thƣớc đo: Đầu: sóng III kết thúc ở mức 2. xem hình 2-4.511.615-4. .069.515.

ở điểm phân cách 0.4672. Nhƣ trong hình 2-5. 0. tính theo log giá. Nhƣ trong hình 2-4 và hình 2-5.069.4614.615-4.5 % tức 11.895. Theo thang đo log. Giữa: sóng Cuối: sóng kết thúc ở mức 3. Mặc dù vậy.762 thuộc dãy log 1. Có nghĩa là điểm kết thúc của mỗi sóng bốn chia tách mỗi sóng xung lực thành 2 phần có chiều dài tƣơng đối giống nhau. tƣơng ứng là 0. Khi đó nó xảy ra rằng khoảng cách giá của sóng năm thì cũng gần nhƣ giống nhau trong cả ba trƣờng hợp. trong trƣờng hợp này.163 thuộc dãy log 1.Hình 2-5: Sóng Bốn Như Là Dấu Hiệu Giá Sóng bốn đóng vai trò còn hơn chỉ là dấu hiệu thời gian. mà còn là dấu hiệu giá.4660 nếu chỉ số Dow đạt đỉnh cao hơn 1. Các điểm phân cách ở sóng IV năm 1974 và sóng năm 1990 (nhìn phần phía trên của hai đồ thị) thì rất gần với nhau.374 thuộc dãy log 2. điểm phân cách 50% lần nào cũng xảy ra trong sóng bốn. Sau đây là thƣớc đo: Đầu: sóng IV kết thúc ở mức 2.581. Chúng lẽ ra phải giống nhau ở mức 0.5%. khoảng cách giá từ điểm bắt đầu mỗi sóng đến điểm thấp ở cuối sóng bốn thì hầu nhƣ giống nhau ở cả ba trƣờng hợp. ở điểm phân cách 0. điểm bắt đầu và điểm kết thúc của sóng bốn đều không đánh dấu chính xác điểm phân cách 50% tính theo log giá. điểm ở mức 46. . sóng bốn đứng giữa điểm giữa sóng năm với sóng năm kéo dài.4. Chúng ta có thể có hƣớng dẫn mới cho sự phát triển của sóng.4683.806-2. ở điểm phân cách 0.4683.069. kết thúc ở mức 2.4672 và 0.762-4. khi đó tính theo log giá.

Các điểm phân cách tƣơng ứng là 49. Sự giống nhau thƣờng đề cập tới không chỉ các hình thức đa dạng của một vật thể fractal mà còn đề cập tơi sự giống nhau của cùng một vật thể ở cấp độ thành phần khác nhau. chúng tôi nhận thấy rằng sóng ba vẫn chia tổng thời gian của mỗi sóng theo tỉ số khoảng 0.65% và 52.với sóng V là thành phần của sóng (V). 63.631. Ấn tƣợng nhất là vị trí giá và thời gian của điểm cuối sóng bốn trong cấp Supercycle (V) và thành phần của nó-sóng V cấp Cycle.35% tính từ phía trên biểu đồ hình 2-2. sóng bốn chia thành những sóng bốn ở mức rất gần nhau là 0. tạo ra gần nhƣ là một khu vực Fibonacci ở mức 0. Phần III và IV sẽ tập trung nhiều hơn nữa mối quan hệ Fibonacci giữa hai sóng này.Lời khuyên về sự giống nhau chính xác hơn giữa sóng V và sóng (V) xét theo giá và thời gian Khi tính toán tỉ số thời gian theo ngày.75%.50. (V) và V. Xét theo thời gian. Xét theo giá.82%. gần với số 0. .63.635 0.628-0. sóng bốn chia thành những sóng bốn ở mức 0.628 và 0.007.642 so với tổng thể là 0. 50.468.19%.12% và 64. Còn đối với hình 2-3. các điểm thấp của sóng bốn chia tổng thời gian ngày tƣơng ứng ở mức 62.467 và 0.

Hình 3-2 theo Nguyên tắc sóng Elliott cho thấy một con sóng lí tƣởng với sóng thỏa mãn hƣớng dẫn đƣợc liên quan bằng mức 0. dù bất kì lí do nào. sử dụng toàn bộ các con số để tạo ra hệ số Fibonacci. Tâm lí đa số đằng sau thị trƣờng chứng khoán. Bằng các nghiên cứu sau đó.Ellliott ghi chú hai trƣờng hợp mà sóng thứ năm kéo dài có mối quan hệ Fibonacci với toàn bộ khoảng cách tính từ sóng thứ nhất tới sóng thứ ba. mối quan hệ này đúng trong những năm thị trƣờng giá tăng 1930 và thị trƣờng giá tăng 1920 tới đỉnh là năm 1928.Phần III: Mối Quan Hệ Giá Giữa Sóng (V) Và Sóng V Mối quan hệ giá đáng tin cậy Sự thật rằng sóng V cấp Cycle là sóng thứ năm thì quan trọng bởi vì có vài hƣớng dẫn của sự phát triển sóng chỉ ra quy mô mà sóng thứ năm có khả năng trở thành. Năm 1940 R. trích trong sách của ông ấy năm 1946. lệch khỏi 0.618 giữa phần trăm hay bội số. hạt giống và sự sắp xếp thân cây. Sự biểu diễn thập phân cho phân số Fibonacci liền kề và xen kẽ nhƣ sau: . có thể phản ánh số phi. nhƣng những hình thái khác nhƣ bông hoa. đều liên quan tới phân số Fibonacci.618 với sóng Nhiều sóng thường liên quan với phân số Fibonacci Nhiều mối quan hệ mà các hình thái thị trƣờng thƣờng hơi khác biệt với hệ số 0.618.N. Vài hình thái tự nhiên nhƣ vỏ ốc xoắn. tôi đề nghị khái quát hóa rằng chiều dài sóng năm thỉnh thoảng có liên quan với tỉ số Fibonacci từ khoảng cách từ sóng 1 và sóng 3. nhƣ bạn nhìn thấy bằng ghi chú đƣợc khoanh tròn trong hình 3-1 . Trên thang đo cấp số cộng.

Sự gấp đôi giá có thể đƣợc xem nhƣ bội số của 2 hay có giá trị kết thúc bằng 200% . chúng phải đƣợc phát biểu là bội số hay điểm phần trăm để biểu diễn kết quả liên quan.Bội số giá Việc so sanh các thành phần sóng chính theo cấp số cộng (số điểm) thƣờng không có ý nghĩa.

67 là nghịch đảo của 0.00.95. vài sóng trong những nghiên cứu này có nhiều điểm gãy bội số. ( Trong bài minh họa. “m” đại diện cho “bội số”).6 là nghịch đảo của 0. Nhớ rằng 2/3 và 3/2 diễn tả cùng một mối quan hệ giữa hai con số.92. Đây là mối quan hệ gần đáng kể cho một sóng kéo dài phần lớn thế kỉ 20. Chúng ta có thể đánh giá cao hơn nữa những con số này gần nhau thế nào bằng cách hiểu rằng sự thay đổi DJIA từng phần nhỏ nhất có thể rằng 1 cổ phiếu tính theo trung bình có thể tạo ra lúc thời gian . Chúng ta cũng có thể biểu diễn phạm vi nhƣ là sự gia tăng 100%. Đối với những bài nghiên cứu này. Trong sự mô tả của bài báo cáo này. các biểu đồ và các tính toán liên quan tới giá xem quy mô sóng nhƣ là bội số của điểm bắt đầu. biểu tƣợng Φ đại diện cho bất kì giá trị nào đạt đƣợc hoặc gần bằng tỉ số giữa các con số Fibonacci liền kề. Ngày này tƣơng thích với mẫu hình sóng chấp nhận đƣợc trong chỉ số Dow và trùng hợp với chỉ số Value Line và chỉ số Dow Jones Transport đƣợc tiếp cận và bị vƣợt qua các đáy 1987.625. Sự gia tăng của mức giá đóng cửa hàng ngày đã tạo ra bội số hơn 24 lần. chúng ta sẽ có 11. khi bạn nhìn thấy thập phân trên 1. Tức là sóng V tạo ra 5/8 bội số của sóng I-III nhƣ trong hình 3-3. Sóng V 1982-2000 tạo ra bội số hơn 15 lần. chúng đơn giản chỉ là nghịch đảo của tỉ số nhỏ hơn. Bội số gần giống với sự gia tăng điểm phần trăm cho bƣớc dịch chuyển giá lớn.giá trị bắt đầu.1424 và nhân nó với 5/8 hoặc 0. sự gia tăng 1900% là bội số của 20 ….625. Sự khác biệt luôn là 100% hay bội số của 1. Nếu chúng ta lấy ra bội số của sóng I bỏ qua sóng III ra bốn số thập phân hay nhiều hơn thế ở mức 24. Chú ý rằng mối quan hệ này là 8 tới 5. Ví dụ nhƣ sự gia tăng 900% là bội số của 10. ví dụ 1. Phần còn lại của bài nghiên cứu. Tƣơng tự nhƣ vậy.722. mỗi chúng đƣợc nhận dạng trong những khoảng thời gian nhƣ thế. sóng I-III diễn ra từ năm 1932 tới 1966. Sóng V có hai điểm bắt đầu: năm 1974 và 1982.4 Hình 3-3: Mối Quan Hệ Fibonacci Trong Cấp Supercycle Trong sóng (V) cấp Supercycle. cũng nhƣ 3/5 và 5/3 ….98. và lên kế hoạch cho mục tiêu tăng giá từ điểm bắt đầu 776. Bằng chứng về mối quan hệ giá và thời gian chỉ ra rằng thị trƣờng chứng khoán xem tất cả các điểm gãy thì quan trọng. Hóa ra tỉ số giữa thƣớc đo sự dịch chuyển giá trong cấp Supercycle là hoàn hảo hoặc gần nhƣ vậy khi liên quan chúng theo bội số. Sự biểu diễn đa dạng trong sóng V Ngƣợc với tiêu chuẩn. Mối quan hệ này là chính xác. Điểm cao đóng cửa trong suốt khoảng thời gian vào 14 tháng 1 năm 2000 là 11. điểm kết thúc sóng thì đƣợc đánh dấu ở đỉnh “chính thức” (điểm cuối mẫu hình sóng) vào 6/4/987 và điểm cuối sóng thì đƣợc đánh dấu vào 11/10/1990 hơn là ở thái cực giá của chúng.722. Sóng kết thúc trong hai ngày là 14 tháng 1 năm 2000 đối với chỉ số Dow và vào 24 tháng ba năm 2000 đối với chỉ số S&P.60 và 1.

Tức là những con số rất gần nhau chi phối mối quan hệ mục tiêu còn lại cho sóng thứ năm và sóng cuối trong 2 cấp Cycle và Supercycle.46. khác với điểm cao thực là 6.6000 cho bội số của đơn vị đo lƣờng lên kế hoạch một mục tiêu tăng giá 11.98 vào 14 tháng 1 năm 2000. hình 3-3. đƣợc đánh dấu là Hình 3-4: mối quan hệ ngược trong sóng V cấp Cycle Khi đặt tên cho điểm cuối sóng IV năm 1982.là 0. Việc áp dụng 8/5 hay 1. Tỉ số này rất gần trong sóng V cấp Cycle. .716.52. gấp 10 lần sự khác biệt giữa hai con số. Sự thật là nó phản ánh mối quan hệ Fibonacci đặc trƣng đƣợc nhân hóa trong sự mô tả lí tƣởng hóa đƣợc thêm vào Nguyên tắc sóng Elliott một vài năm trƣớc. Do đó sóng V từ năm 1982 thỏa mãn quan sát mục tiêu của Elliott 60 năm trƣớc bằng cách thực hiện mối quan hệ Fibonacci chính xác với sự gia tăng ròng của hai sóng xung lực trƣớc đó. Rõ ràng là chỉ số DJIA có chứa 5/8 hay 8/5 khi nó đạt điểm cao cuối ở mức 11.31 Dow. Nó đòi hỏi sự cộng tác phức tạp giữa các kết quả Dow để đạt đƣợc lời lý giải cần thiết về phân số Fibonacci hoàn hảo. chúng tôi nhận thấy rằng các thành phần tƣơng ứng của sóng V cũng chia thành 8/5. xem hình 3-2.722.

Do đó.Để ý thấy trong hình 3-4 sóng và sóng IV có các mức giá cao hơn đỉnh sóng và sóng III và kết thúc ở điểm thấp “chính thức” cao hơn điểm thấp giá. . có những sự tƣơng tự giữa những sóng này theo hình thức và tỉ số.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful