Học tập theo phương pháp P.O.W.E.

R cho sinh viên năm thứ nhất
Từ "Power" ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một phương pháp học tập ở bậc đại học do GS Robert Feldman (ĐH Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn SV, đặc biệt là SV năm 1, cách học tập có hiệu quả nhất. Phương pháp POWER bao gồm 5 yếu tố cơ bản là chữ viết tắt ghép thành POWER: Prepare , Organize, Work, Evaluate, Rethink 1. Prepare (chuẩn bị sửa soạn) Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi SV nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn cùng học. Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi SV chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm tài liệu có liên quan. Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này, SV có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có hệ thống. Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà SV có được không phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn do chính SV tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức. Nói “học là quá trình hợp tác giữa người dạy và người học” có nghĩa là như vậy. 2. Organize (tổ chức) Sự chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi SV bước vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn người SV biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập của mình một cách có mục đích và hệ thống. 3. Work (làm việc) Một trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra khỏi làm việc. Trong khi làm việc chính là một quá trình học tập có hiệu quả nhất. Trong giai đoạn này SV phải biết cách làm việc một cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm, thực hành. Các hình thức làm việc trong môi trường đại học rất đa dạng,

phong phú: Lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặc thảo luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí nghiệm... tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả. 4. Evaluate (đánh giá) Ngoài hệ thống đánh giá của nhà trường, SV còn phải biết tự đánh giá chính bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập. Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực,SV mới biết mình đang đứng ở vị trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao trình độ và ý thức học tập. 5. Rethink (suy nghĩ lại - luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác) Khả năng suy nghĩ lại này giúp SV luôn biết cách cải thiện điều kiện, phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học không phải là một thứ tư duy đơn tuyến, một chiều mà đó chính là hình thức tư duy đa tuyến, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập đến. Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo) và tái tạo quá trình học tập trên căn bản nhận thức mới đối với vấn đề và kết quả đã đặt ra. Cuối cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là Recreate (giải lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so với các hoạt động học tập chính khóa. Ở đây cần nhớ rằng: Ai không biết cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển thì người đó cũng không biết cách học tập hoặc học tập không có kết quả cao.

PHƯƠNG PHÁP SQ3R
S = Survey: Khảo sát Q = Question: đặt câu hỏi Read = đọc Review = đọc lại Recite = ghi nhớ
     

3 R's:

Trước khi đọc, khảo sát bài đọc Survey

Tiêu đề, đề mục chính và phụ Chú thích dưới hình ảnh, và đồ thị Xem lại câu hỏi, hoặc các hướng dẫn đọc của giáo viên Xem đoạn đầu và cuối Xem phần tóm tắt.

Khi đang khảo sát, hãy đặt những câu hỏi sau: Question

Biến tiêu đề thành câu hỏi  Đọc các câu hỏi ở cuối bài  Nhớ lại những gì giáo sư nói khi giao bài cho bạn  Mình đã biết gì về vấn đề này rồi? Lưu ý: Nếu cần hãy viết ra và suy ngẫm. Phương pháp này gọi là SQW3R Tìm câu trả lời cho các câu hỏi đã nêu Trả lời các câu hỏi đầu và cuối chương  Đọc lại chú thích dưới tiêu đề, biểu đồ, hình minh hoạ…  Chú ý tất cả các từ in đậm hay in nghiêng  Học các hướng dẫn về biểu đồ  Đọc chậm lại khi gặp đoạn khó  Dừng lại để đọc kĩ những chỗ khó hiểu  Đọc từng phần một và ghi nhớ khi kết thúc một phần.
 

Khi bắt đầu đọc Read

Ghi nhớ sau khi đọc hết một phần Review

Chỉ đặt câu hỏi về những gì mới đọc. Hoặc tóm tắt bằng lời của riêng mình .  Ghi chú thông tin từ bài đọc, nhưng diễn đạt thông tin đó bằng lời của mình.  Gạch dưới ý quan trọng  Dùng phương pháp học thuộc hiệu quả nhất cho mình. Mẹo: bạn càng dùng nhiều giác quan khi học, thì càng nhớ nhanh và nhớ lâu. Học công hiệu gấp ba: Nhìn, nói, nghe Học công hiệu gấp tư: Nhìn, nói, nghe, viết

Dò lại bài, một quá trình lâu dài Recite

Ngày 1: Đặt ra những câu hỏi cho ý chính bạn đã ghi chú  Ngày 2: Đọc lại để "kết thân" với những khái niệm quan trọng. Che phần thông tin, đọc câu hỏi và cố trả lời từ trí nhớ của mình. Dùng các biện pháp ghi nhớ hữu dụng. Làm những thẻ nhớ (flashcard), hoặc các công cụ học bài tương tự.  Ngày 3, 4, 5: Luân phiên học bằng flashcard, và từ những bài ghi chú  Cuối tuần: Dùng sách học, làm một bản biểu nội dung, trong đó liệt kê toàn bộ tiêu đề, đề mục chính phụ. Làm một bản đồ thông tin. Tập nhớ lại và nói to bài học trong lúc nhìn vào bản đồ thông tin.  Thường xuyên lặp lại các bước trên. Được vậy, bạn sẽ không cần nhồi nhét khi kỳ thi đến.

Tài liệu lấy của Robinson, Francis Pleasant, (1961, 1970) Học hiệu quả (xuất bản lần thứ 4.), Harper & Row, New York, NY.

PHƯƠNG PHÁP PRESP ĐỌC SÁCH TOÁN VÀ KHOA HỌC
(để trở thành người đọc năng động và hiệu quả) Người đọc năng động đọc với bút, giấy, đặt ra những câu hỏi, sắp xếp thông tin và làm bài tập Phương pháp đọc PRESP Xem qua chương - Preview the Chapter Đọc lời giới thiệu của chương Nhìn qua tiêu đề chính và liếc qua các hình vẽ Đọc qua các câu hỏi và các từ khóa, tóm tắt ở cuối chương Đọc qua các bài tập về nhà Dự định chỗ để ghi nhớ thông tin Đưa các câu hỏi để tạo ra sự chú ý của mình và ý thức được những gì là quan trọng Đặt kế hoạch học tập. Chia chương thành 2 hay 3 khối A, B, C (có thể nhiều hơn (ND)). Đọc Phần A - Read Chunk A Xác định các định luật, định nghĩa, định lý lớn; ghi chú chúng ở bên lề sách Sử dụng giấy nháp để ghi lại các định nghĩa, định luật, và phương trình Đối với các phương trình và các định luật, xét các trường hợp đặc biệt, chẳng hạn, x  0, x   . Xử lý ví dụ - Examples. Làm hầu hết các ví dụ mẫu Đóng khung các lời giải và thực hành cách giải của bạn Cần sử dụng giấy nháp Kiểm tra cách giải của bạn với sách giáo khoa Đảm bảo chắc chắn rằng bạn có thể làm được các ví dụ đó rồi mới tiếp tục. Lập tóm tắt - Summarize Bắt đầu một trang tóm tắt có nhiều khối –tầng, gồm các định luật, định nghĩa, định lý; cũng như bất cứ điều gì quan trọng vào 1 tờ giấy nháp. Giải bài tập – Problems. Làm bài tập về nhà liên quan đến phần A Dùng tờ tóm tắt của bạn trước khi xem sách Dùng cách giải của bạn, đọc lại sách khi cần thiết Tìm những định nghĩa, chi tiết mới, thêm chúng và bản tóm tắt Nếu bạn bị tắc ở một bài tập nào đó, hãy đặt thời gian tối đa cho nó Lặp lại như thế với mỗi đoạn, nhìn qua một chút, đọc, giải bài tập, tóm tắt, và giải bài tập. Lập một bản tóm tắt nhiều khối – tầng mới với chương hiện thời. Thường xuyên xem lại. Đánh dấu vào sách thế nào Đừng phủ lên hay gạch dưới những điểm chính khi bạn đọc. Rất nhiều SV đánh dấu quá nhiếu. Chờ đến khi bạn kết thúc một đoạn, một phần, hay một bài rồi hãy đánh dấu. Đánh dấu vào văn bản và vào lề để phác thảo cấu trúc của chương. Đối với mỗi khái niệm, định luật hay phương trình chính, chỉ ra nó đến từ đâu, các chứng cứ, các ví dụ, các bước, chứng minh, mối liên hệ với các điểm, định nghĩa khác Người dịch: T V B cũng như với những điều của riêng bạn. … Người dịch: TVB

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE

2012, Vol. 57, No. 5, pp. 32-38

HƯỚNG DẪN SINH VIÊN ĐỌC TÀI LIỆU TOÁN VÀ KHOA HỌC

Tô Văn Ban
Học viện Kĩ thuật Quân sự Email: tvban_hvkt@yahoo.com.vn
Tóm tắt. Hướng dẫn đọc sách có hiệu quả đang được kêu gọi như là một sứ mệnh cực kỳ quan trọng của ngành giáo dục. Một quy trình hướng dẫn đọc sách đúc rút từ những kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi có đối chiếu, so sánh với các phương pháp tiên tiến trên thế giới và tính đến những điều kiện cụ thể của sinh viên (SV) trong nước được giới thiệu. Từ khóa: Tài liệu toán, hướng dẫn, sinh viên, khoa học.

1.

Đặt vấn đề

Dung lượng cao của môn toán cũng như các môn tự nhiên khác, kiến thức tiếp nhận không hề giảm là những khó khăn chính đầu tiên cho SV. Schell (trong Reehm & Long, 1996) nêu lên rằng, bài giảng về toán có thể chứa nhiều khái niệm trong một dòng, trong một câu và một đoạn hơn bất kì bài giảng nào khác. Theo Holliday (1991), một học phần về hóa học cao cấp có thể chứa tới 3000 thuật ngữ mới, nhiều hơn lượng SV học được trong một khóa ngoại ngữ. Hơn nữa, việc đọc sách toán và khoa học đòi hỏi SV những kỹ năng đặc biệt, có thể không sử dụng khi đọc các lĩnh vực khác. Cùng với đọc hiểu đoạn dẫn, SV cần giải mã và hiểu sâu rất nhiều dấu, chỉ số, ký hiệu, đồ thị,... SV cũng cần đọc và miêu tả thông tin biểu diễn dưới những dạng không quen thuộc, chẳng những từ trái qua phải, mà còn từ phải qua trái, trên xuống dưới và ngược lại, và thậm chí là chéo... SV phải học bài giảng được bố trí khác kiểu so với các môn khác; chẳng hạn, đôi khi bài giảng bắt đầu bằng những khái niệm, định nghĩa rất trừu tượng, tổng quát, rồi kết thúc bằng vài tính chất liên quan. SV trưởng thành từ học sinh phổ thông hấp thu một nền giáo dục thi cử chú trọng vào làm bài tập, học và đọc các cuốn sách luyện thi, mà ít được rèn luyện kĩ năng đọc sách. Việc đọc báo cũng coi như một công việc tuỳ thích, chưa có hướng dẫn, gây khó khăn cho việc đọc sách sau này của họ. Nhiều SV các năm học đầu phải vật lộn với các trang giáo trình; kí hiệu, thuật ngữ không hiểu ngày một chất chồng, dẫn đến nhanh chóng giảm tinh thần học tập ban đầu. Người ta chỉ làm tốt, có hiệu quả những công việc yêu thích. Chính vì thế, hiện tượng "mù chữ chức năng" (đọc nhưng không hiểu gì mình đọc) ở các mức độ khác nhau vẫn xảy ra với một tỷ lệ khá cao ở cả các SV năm cuối. 32

Hướng dẫn sinh viên đọc tài liệu Toán và Khoa học

Gần đây, xuất hiện nhiều bài viết liên quan đến đọc sách cho SV [1,3,4,5,6,9] nhất là sách toán và khoa học [7,8,12,13]. Dạy cho SV biết cách đọc sách có hiệu quả là bổn phận của giảng viên (GV). Theo chúng tôi, tự học của SV, trước hết là tự đọc, là khâu đột phá để giải quyết nhu cầu vượt qua những khó khăn của học hành. "Trách nhiệm cơ bản nhất của nhà trường là dạy cho SV đọc" [10].

2.
2.1.

Nội dung nghiên cứu
Vai trò của GV trong việc hướng dẫn SV đọc tài liệu toán và khoa học

Phương pháp đọc chỉ có thể hình thành và phát triển trên cơ sở sự tìm tòi, nỗ lực, rút kinh nghiệm của bản thân ngay trong quá trình đọc. Không đọc thì không bao giờ có phương pháp cả. Tuy nhiên, GV hoàn toàn có thể can thiệp vào quá trình này để người học nhanh chóng hoàn thiện kĩ năng đọc của mình. Sau đây là một số biện pháp mà các GV có thể dùng để giúp SV trở thành người yêu thích giáo trình cũng như các tài liệu khoa học khác. a. Kích hoạt những kiến thức liên quan. Vacca, R.T. và Vacca, J.L. (1999) nhận xét rằng kiến thức liên quan khơi nguồn của SV là đầu vào quan trọng nhất để học bài giảng mới. Đọc và học là một quá trình suy diễn: Mỗi người học đào xới trong kiến thức cũ của mình để sáng tạo ra thông tin mới. Càng nhiều kiến thức và kĩ năng mà SV được khêu gợi lúc vào bài, họ sẽ học được và nhớ được càng tốt hơn. Kiến thức sẵn có của những SV năng động tạo cho họ những mối liên kết logic, suy diễn thành kết luận và tiếp thu những ý tưởng mới. b. Cùng đọc sách với SV. Ta phân tích sâu hơn về hướng dẫn đọc kĩ, đọc thấu hiểu. Vào giai đoạn đầu của việc đọc, GV có thể đề nghị SV ghép cặp hoặc chia họ thành nhóm nhỏ [13]. Với giáo trình của mỗi người học, GV nên chọn ra những đoạn ngắn, nội dung có tính then chốt, khó tự đọc để cùng đọc với cả lớp. Đó là những định nghĩa, đôi khi là chứng minh định lí, có thể là chú ý..., nơi mỗi chi tiết, thuật ngữ, kí hiệu đều quan trọng và cần tư duy ở mức sâu sắc. Khi GV chưa thạo việc hướng dẫn đọc thì chỉ nên dành hai lần trong một học phần. Khi thuần thục, GV có thể hơn hướng dẫn đọc nhiều hơn. Mỗi lần GVdành ra khoảng 5 - 10 phút cùng đọc. Cần xác định tư tưởng thật tốt cho người học: Những điều thầy dạy cho là hữu hạn, nếu biết tự đọc, kiến thức trở thành vô tận [2]. GV thường căng thẳng trong những phút cùng tự đọc với SV. Phải bắt nhịp: “Đến đoạn A”, “Kết thúc đoạn A, chuyển sang công thức (b)”, “Tại sao lại thế này?”, “Tại sao có dấu bằng ở công thức (c)?”... Khi cùng đọc trong lớp, thày có thể gắn kết với các thủ thuật sư phạm khác như: lí giải những chỗ dùng phép tương tự, tổng quát hóa; bình luận hình vẽ đẹp, trình bày hay, dễ hiểu; chỉ ra những khiếm khuyết, thậm chí là sai lầm của tác giả... 33

Tô Văn Ban

Cần dừng lại tại những chỗ định trước, có thể là tại cuối đoạn hay cuối trang, để hỏi SV một ký hiệu hay thuật ngữ "lạ" (đã xuất hiện ở trước hay ở học phần khác) có ý nghĩa gì. Phát hiện được càng nhiều những điểm giống, khác nhau so với các kiến thức cũ thì càng tốt. Tại điểm dừng, mỗi thành viên của nhóm cần "nói gì đó" (Short Harste, 1996) với những thành viên còn lại. GV nên giảng lại sau một, hai lần cùng đọc đầu. Khi đọc có thể bỏ qua một từ, một cụm từ, thậm chí một đoạn quá khó hiểu. Sa lầy vào đọc mọi từ hay cố gắng hiểu hết mọi điểm có thể ảnh hưởng xấu đến hiểu thấu đáo. Cố gắng thu nhận mọi thứ có thể tạo ra tình trạng mà người đọc thực tế không hiểu gì. Việc bỏ qua đôi khi làm người đọc dễ hiểu hơn trong lần đọc lại và làm tăng đáng kể tốc độ đọc. Luôn khích lệ SV để họ đọc với tốc độ cao hơn năng lực họ có. Đôi khi có thể yêu cầu SV phát biểu bằng lời một công thức nào đó. Chẳng hạn sau khi yêu cầu SV dùng lời để diễn đạt công thức V ar(aX) = a2 V ar(X), đưa ra diễn đạt khác: "Có thể đưa hằng số nhân ra ngoài dấu phương sai nhưng phải bình phương nó lên!". Phát biểu này làm cho không khí lớp học bớt căng thẳng và SV nhớ dễ dàng. Chỉ rõ cho các em mọi sách đều chứa những phần, đoạn không mang thông tin cốt yếu, có tính chất câu dẫn, hiểu mức nào cũng được. c. Nắm bắt thuật ngữ. Tài liệu toán và khoa học chứa đựng nhiều thuật ngữ trừu tượng. Tra từ điển và nhớ định nghĩa của chúng không giúp người học hiểu biết thỏa đáng các khái niệm mới này. GV cần tạo ra ý niệm để giúp SV nắm bắt được những khái niệm. Ví như khi dạy tích phân mặt thì mặt định hướng là cái gì, liên quan gì đến mặt, mặt liên tục, mặt trơn, mặt trơn từng mảnh mà họ đã biết từ trước. Vì nhiều lí do khác nhau, tác giả các sách khoa học và toán học có thể không tuân thủ nguyên tắc viết như SV ngành ngôn ngữ vẫn học. Chẳng hạn, trong ngành ngôn ngữ, SV được học rằng, ý tưởng chính của tác giả thường xuất hiện ở đoạn giới thiệu hoặc câu đầu của đoạn. Với môn toán, ý chính có thể không xuất hiện ở phần đầu của bài giảng. Một lí do khác làm cho SV không hứng thú với toán và khoa học là các tác giả suy diễn mà không giải thích thứ tự và mối tương tác giữa các ý tưởng, đưa ra một lúc quá nhiều khái niệm và kiến thức mới liên hệ mờ nhạt với kiến thức sẵn có của người đọc, với thực tiễn. Một số tác giả khác lại dùng từ ám hiệu và các cụm từ như "thứ nhất", "cách khác", "chẳng hạn như", "và hơn nữa"... để chỉ ra mối liên kết. Một khó khăn SV hay gặp là với cùng một khái niệm lại có nhiều kí hiệu, thuật ngữ thể hiện rất khác nhau ở những tài liệu khác nhau. Chẳng hạn, để kí hiệu kỳ vọng người ta dùng MX, EX, E(X), E[X], với phương sai thì dùng DX, V ar(X), V [X] thậm chí σ 2 . Tiêu chuẩn D’Alembert, tiêu chuẩn Cauchy về sự hội tụ của chuỗi số dương ở tài liệu này thì ở tài liệu khác lại dùng là tiêu chuẩn tỉ số, tiêu chuẩn căn. Chỉ có một cách để ứng xử với tình trạng này là chấp nhận nó. GV nên cung cấp càng nhiều sự khác biệt cho SV càng tốt (tất nhiên, cần dùng thống nhất kí hiệu, thuật ngữ chính trong một khóa học, một giáo trình). 34

Hướng dẫn sinh viên đọc tài liệu Toán và Khoa học

Tự viết lại những điều đã biết trước đó làm cho khái niệm trừu tượng mới trở nên dễ dàng hơn, học những hậu tố mà các thuật ngữ dựa vào. Ví dụ có thể liên hệ: đơn liên, nhị liên (liên - đường, đơn - một, nhị - hai), tích phân (gộp các phần nhỏ lại), định hướng từng mảnh (mỗi mảnh của mặt là định hướng được, phải “khớp với nhau”) ... Nhiều sách cung cấp thông tin này cạnh những từ mới. Nhiều từ khoa học khó phát âm vì nó thường dựa vào tiếng Hy lạp và La tinh cổ hay tiếng Hán Việt ... Nếu ta biết một chút về từ hậu tố sẽ dễ hiểu hơn nhiều. Phát âm mỗi từ và viết ra định nghĩa của nó để liên kết với các từ cũ. Theo nghĩa này, việc học từ như là học ngoại ngữ [13]. d. Nghiên cứu khái niệm. Dù là bất cứ lĩnh vực nào, hiểu biết khoa học thấu đáo đòi hỏi sự tưởng tượng tốt. Chúng ta có thể sử dụng ý tưởng về sự nhận thức thông qua hình ảnh một hiện tượng để học một khái niệm mới. Ví dụ với khoa học môi trường, để hiểu khái niệm nhiễm bẩn không khí có thể vẽ nhiều cách để chỉ chất ô nhiễm thâm nhập vào không khí và chúng tác động thế nào đến con người, thực vật và động vật; viết ra tên của các khái niệm, rồi vẽ mũi tên liền kề khái niệm liên quan đến nó. Dùng hình vẽ có thể hiểu cấu trúc của những phân tử phức tạp như axit axetic. Chẳng hạn, sơ đồ với quả cầu đen biểu diễn hydro, quả cầu vàng biểu diễn carbon, gạch nối nhỏ biểu diễn mối liên kết giữa các nguyên tử có thể làm phân tử trở nên dễ hiểu hơn. Sự miêu tả phi ngôn ngữ cũng giúp SV hình thành ý niệm, làm sâu sắc hiểu biết của họ, và gợi lại những kiến thức để dùng sau này (Marzano, Pickering, & Pollock, 2001). Ví dụ, thông lượng được ví như lượng vật chất (chất lỏng, điện, từ, nhiệt...) truyền qua (chảy qua) một mặt định hướng trong một đơn vị thời gian; mật độ xác suất có thể hình dung như là "độ đậm đặc" của khả năng xuất hiện của biến ngẫu nhiên tại điểm quan tâm. Vì thế, các khái niệm này có thể mô tả bằng hình ảnh cho ngôn ngữ theo những cách khác nhau. e. Đọc trước nội dung bài học tới. Chuẩn bị trước bài thày sẽ giảng cho buổi học sau là cần thiết, giúp SV dễ dàng hình dung và tiếp thu tốt bài giảng. Bản thân điều đó cũng là cách rèn luyện tốt cho kĩ năng tự đọc sách. Tuy nhiên, một số tác giả [9] lại rất khắt khe về việc chuẩn bị bài trước: Họ yêu cầu SV thường xuyên phải đọc cẩn thận bài khóa, trả lời một số câu hỏi, các câu trả lời phải nộp mỗi khi lên lớp hoặc qua email và được chấm điểm dạng 0, 1 hay dạng -1, 0, 1. Theo chúng tôi, buộc SV chuẩn bị kĩ thường xuyên như trên trở nên nặng nề, dễ làm họ chán nản, chưa phù hợp với SV chúng ta hiện nay. Một học kì chỉ nên dành ra một đến hai lần chuẩn bị kĩ như vậy.

2.2.

Quy trình hướng dẫn đọc sách

Dựa vào những phân tích trên và một số cách đọc sách khác [11,12], chúng tôi đưa ra quy trình hướng dẫn SV đọc sách toán và khoa học sau đây. Chúng tôi đang tiến hành 35

Tô Văn Ban

những kiểm chứng khách quan để hoàn thiện quy trình này. Cần chú ý trong mỗi trường hợp, hoàn cảnh cụ thể cần có những biện pháp, cách thức tương ứng. Do vậy quy trình đề nghị sau đây phải vận dụng rất linh hoạt, không cứng nhắc. Ở các lớp có trình độ tiếp thu tốt (ví dụ lớp tiên tiến) GV có thể thường xuyên cùng đọc sách với các em. Phải cân nhắc với các lớp khác có trình độ tiếp thu thấp hơn. Tần số sử dụng phương pháp cũng phụ thuộc vào mức độ thuần thục của GV. Bước 1: Tìm hiểu qua về cuốn sách. Hướng dẫn cho SV: Đọc qua các trang đầu để biết tên sách, tác giả, năm xuất bản, lần xuất bản, nhà xuất bản, số trang xấp xỉ. Giới thiệu các sách cùng loại. Đọc mục lục để biết bố cục của cuốn sách, qua đó biết có phần phụ lục, có phần chỉ dẫn thuật ngữ, có tài liệu tham khảo hay không. Lướt qua lời giới thiệu, nêu lên những điểm chính yếu nhất, khác biệt trong phần lời giới thiệu của nhà xuất bản hay của tác giả để có ý niệm về sách, một số cách sử dụng sách có hiệu quả. Xem lướt qua các chương: Có bao nhiêu chương chính, tên khái quát của chúng. Giới thiệu những chương sẽ học, không học trong học phần. Bước 2: Xem qua chương. - Hướng dẫn cho SV: - Đọc giới thiệu chương nếu có; - Nhìn qua tiêu đề các bài chính và xem qua các hình vẽ; - Đọc qua các câu hỏi, từ khóa và tóm tắt ở cuối chương; - Định ra nội dung chứa đựng những thông tin đáng nhớ. Bước 3: Giảng các bài trong chương như thường lệ. Bước 4: Hướng dẫn đọc một đoạn chủ chốt. Khi tới một đoạn chủ chốt định sẵn (định lí hay các khái niệm then chốt) bắt đầu cùng đọc sách với SV. Chuẩn bị tư tưởng: Lợi ích của tự đọc, yêu cầu, khó khăn của công việc ta đang tiến hành... Kĩ năng đọc sách là hành trang quý giá mở cánh cửa vào trí thức và có ích suốt đời. Yêu cầu SV tự đọc thầm đoạn xác định trong vòng 5 - 7 phút. Bắt nhịp cho cả lớp: đến đoạn A, đến đoạn B, đến công thức C... Yêu cầu SV tập trung cao độ nhất để có thể hiểu được các khái niệm, suy diễn, các đẳng thức, kí hiệu trong đoạn, chưa cần nhớ. Yêu cầu đọc lại đoạn, nhắc nhở thời gian còn lại (1 phút chẳng hạn). Dừng đọc, nghỉ ngơi một chút. Một số việc sau đọc: Nói đôi điều để giảm căng thẳng; đề nghị một vài SV diễn đạt 36

Hướng dẫn sinh viên đọc tài liệu Toán và Khoa học

điều họ hiểu được. Thuật ngữ nào là then chốt nhất, kí hiệu nào khó hiểu nhất, tại sao có dấu đẳng thức ở suy diễn này, kia?... Giảng lại đoạn trên (cần thiết ở một hai lần đầu). Đề nghị SV cho biết trước lúc nghe giảng (chỉ mới tự nghiên cứu) họ chưa để ý đến điều gì, chưa hiểu điều gì, hiểu sai điều gì. Rút kinh nghiệm cho lần đọc sau. Hướng dẫn cách nhớ đơn giản. Yêu cầu chủ yếu của lần cùng đọc đầu tiên là hiểu được nội dung căn bản của đoạn dẫn. Bước 5: Hướng dẫn đọc ở các lần tiếp theo. Tiến hành như lần đầu với một số thay đổi. Vì SV đã quen hơn với cách đọc mới, một số công đoạn như chuẩn bị tư tưởng, bắt nhịp... có thể không cần thiết nữa. Nên so sánh những điểm giống, khác nhau với các bài học, kiến thức cũ. Duy trì tốc độ cao hơn năng lực chung của cả lớp. Ở những lần sau có thể để SV hoàn toàn tự đọc. Thậm chí chỉ cần yêu cầu họ tự đọc ở nhà. Cần để ý đến các thủ thuật sư phạm khác: dùng phương pháp so sánh, tương tự, tổng quát; bình luận nội dung sách, cách trình bày... Đưa ra những câu hỏi để điều chỉnh tốc độ đọc, nội dung đọc, và phương pháp nói chung. Rút kinh nghiệm, điều chỉnh phương pháp. Bước 6: Yêu cầu SV chuẩn bị bài tới trước khi đến lớp. Chuẩn bị trước bài tới ở nhà là yêu cầu thường xuyên. Trong một học kì, SV phải chuẩn bị cẩn thận trước một đến hai lần. Kiểm tra điều đó theo hình thức thích hợp như trả lời một số câu hỏi trắc nghiệm ngắn với mức khó trung bình, viết những hiểu biết liên quan...

3.

Kết luận

Đối với lớp khá hơn, quy trình hướng dẫn đọc đã nêu ở trên tỏ ra có hiệu quả. Nửa sau của học kì, khả năng tự đọc của SV đã được cải thiện đáng kể, các em đọc được dài và nhanh hơn, có thể tự đọc tốt nhiều đoạn ở nhà. Ở các lớp thử nghiệm (lớp DKNN 45, DKNN 46, hai lớp khoá 46, lớp DSTS7K11 tại HVKTQS, mỗi lớp thực hiện một học phần 75 tiết), ngay từ học kì đầu tiên chúng tôi cùng các SV tự đọc hơn 10 đoạn (lần), các em tiếp thu tốt. Các SV đã tự đọc rất kĩ tài liệu của mình. Kết quả thi khả quan (hai lớp đầu tỉ lệ giỏi rất cao: 66% và 48%, có 1 SV không đạt, hai lớp sau 30% giỏi, lớp sau cùng thấp hơn). Tự học trước hết là tự đọc. Bài viết đưa ra quy trình nhiều hứa hẹn về hướng dẫn SV tự đọc. Ưu điểm của quy trình này là dễ áp dụng cho GV và SV, không tốn kém, không mất nhiều thời gian của SV, không gây hại, tác dụng tích cực trước mắt và lâu dài đến suốt cuộc đời học tập của họ. GV phải tích cực, không đề ra mục đích truyền thụ nhiều kiến thức, mà phải dạy cách học, cách đọc, cách giải quyết vấn đề để từ đó SV có thể tự mình 37

Tô Văn Ban

học được nhiều hơn và học được suốt đời. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Phạm Thị Kim Anh, 2010. Dạy cách đọc sách cho sinh viên đại học. Dạy & Học ngày nay. [2] Tô Văn Ban, 2011. Phương pháp tổng hợp trong giảng dạy cao học, vấn đề tự đọc và định hướng thực tiễn. Kỷ yếu hội thảo khoa học Đổi mới phương pháp giảng dạy, HVKTQS, pp.147-152. [3] Xuân Chi, 2011. Cải thiện giáo dục bằng cách nâng cao kỹ năng đọc (theo Infosurhoy.com). Báo Giáo dục online Tp Hồ Chí Minh. [4] Đậu Thị Hòa, 2010. Phương pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên địa lý trong dạy học phần Địa lý Tự nhiên Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 4 (39). [5] Đỗ Tiến Sỹ, 2010. Sinh viên tự học và đổi mới phương pháp dạy học. Giáo dục và thời đại online. [6] Anderson, J. & Gunderson, L. You don’t read a science book, you study it. [7] Barton M.L., Heidema C. and Jordan D, 2002. Teaching Reading in Mathematics and Science. Educational leadership, Vol. 60, No. 3, pp. 24-28. [8] Bradford L. Walker and Richard A. Huber. Helping Students Read Science Textbooks. [9] Friedman J., Myers P. and Wright J. Teaching, 2001. Encouraging Meaningful Reading of Mathematics Texts. Electronic Proceedings of the Fourteenth Annual International Conference on Technology in Collegiate Mathematics, pp. 1-4. [10] Louisa C. Moats, 1999. Teaching Reading Is Rocket Science. [11] PRESP method of reading science and math textbooks. Method of Reading Science and Math Textbooks. [12] Somer Taylor. How to Read Science Textbooks. [13] Tina A. Grotzer. Teaching for Depth in Math and Science. ABSTRACT How to guide students read math and science textbooks Teaching a student how to read a book effectively is important.. This article presents a way to teach students how to read math and science books. This way of teaching is derived from our teaching experience at the Le Quy Don Technical University and information about foreign teaching methods.

38

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful