You are on page 1of 18

Thuyết bất khả tri Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Thuyết bất khả tri (Tiếng Anh

: agnosticism) là quan điểm triết học cho rằng tính đúng hay sai của một số tuyên bố nhất định - đặc biệt là các tuyên bố thần học về sự tồn tại của Chúa Trời hay các vị thần - là chưa biết và không thể biết được hay không mạch lạc. Một số người theo thuyết bất khả tri suy diễn từ đó rằng các tuyên bố đó không liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống. Có lẽ nhà tư tưởng bất khả tri (hay hoài nghi) đầu tiên là Sanjaya Belatthiputta (Samjayin Vairatiputra), một người cùng thời với Phật Thích Ca Mâu Ni, như đã được ghi trong kinh Phật. Người ta kể rằng khi được hỏi có cuộc sống sau cái chết hay không ông đã trả lời là có thể có và có thể không, và từ chối phỏng đoán xa hơn. Thuật ngữ "bất khả tri" (agnosticism) được đưa ra năm 1869 bởi Thomas Henry Huxley (18251895), một nhà tự nhiên học người Anh, người đã lấy cảm hứng từ các tư tưởng của David Hume và Emmanuel Kant. Thuật ngữ này còn được dùng để miêu tả những người chưa bị thuyết phục hay cố tình chưa đưa ra quan điểm về sự tồn tại của các vị thần thánh cũng như các vấn đề tôn giáo khác. Thuyết bất khả tri, khi tập trung vào những gì có thể biết, là một luận điểm nhận thức luận về bản chất và giới hạn của kiến thức con người; trong khi thuyết vô thần và thuyết hữu thần là các quan điểm bản thể học (một nhánh của siêu hình học nghiên cứu về các loại thực thể tồn tại). Không nên lẫn lộn thuyết bất khả tri với một cách nhìn đối lập với học thuyết về sự ngộ đạo và thuyết ngộ đạo - đây là các khái niệm tôn giáo nói chung không liên quan đến thuyết bất khả tri. Những người theo thuyết bất khả tri có thể tuyên bố rằng không thể có tri thức tinh thần "tuyệt đối" hay "chắc chắn" hay, nói cách khác, rằng tuy những sự chắc chắn đó là có thể có nhưng cá nhân họ không có tri thức đó. Trong cả hai trường hợp, thuyết bất khả tri bao hàm một hình thức của chủ nghĩa hoài nghi đối với các khẳng định tôn giáo. Điều này khác với sự phi tín ngưỡng (irreligion) đơn giản của những người không suy nghĩ về chủ đề này. Thuyết bất khả tri khác với thuyết vô thần mạnh (còn gọi là "vô thần tích cực" - "positive atheism" hay "vô thần giáo điều" - "dogmatic atheism"). Thuyết này phủ nhận sự tồn tại của bất cứ thần thánh nào. Tuy nhiên, dạng vô thần phổ biến hơn - thuyết vô thần yếu - chỉ là sự không có mặt của đức tin vào thánh thần, không tương đương nhưng có tương thích với thuyết bất khả tri. Chủ nghĩa vô thần phê phán (critical atheism) khẳng định rằng "Chúa Trời" hay "các vị thần" là các khái niệm có ý nghĩa, nhưng ta không có bằng chứng cho các khái niệm đó, do đó, trong khi chờ đợi, ta phải chọn lập trường mặc định là không tin vào các khái niệm đó

1. nhà triết học nổi tiếng người Pháp.Với . Đây làquan điểm của một số nhà triết học trong việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học: ý thức và vật chất thì cái nào có trước. Vào thời kì cận đại ở Tây Âu René Descartes. Thế kỷ 18-đầu thế kỷ 19. Điều này dẫn đến sai lầm vì duy tâm được hình thành trước duy vật một thời gian rất dài có nhiều điều mà chủ nghĩa duy vật chưa thể giải quyết được nên làm cho những nhà nghiên cứu thuyết nhị nguyện bị hơi hướng sang chủ nghĩa duy tâm. Họ muốn dung hoà hai trường phái trên để dẫn đến một trường phái duy nhất đó là cùng tồn tại. nhà triết học cổ điển người Đức. Trong suốt thời gian dài tìm lời giải đáp cho sứ mệnh của mình thuyết nhị nguyên đã có những thay đổi mang tính cách mạng sẽ được trình bày ngay sau đây. đã đứng trên lập trường nhị nguyên luận khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.Thuyết nhị nguyên. Thay đổi vị thế . Một mặt ông thừa nhận sự tồn tại của thế giới các "vật tự nó" ở bên ngoài con người. Nhưng điểm quan trọng trong thuyết nhị nguyên đó là dung hòa được sự đối lập của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. cái nào có sau. hay nhị nguyên luận. [sửa]Những hạn chế Hạn chế lớn nhất trong các học thuyết nhị nguyên của các nhà triết học là sự không thể khẳng định vật chất có trước hay ý thức có trước. Nhận thức của Kant có tính chất duy tâm. một trong số đó là thuyết nhị nguyên về triết học xem vật chất và ý thức (hay tinh thần). Ông thừa nhận có hai thực thể vật chất và tinh thần tồn tại độc lập với nhau. nhận xét rồi trình bày một cách khách quan. cái nào quyết định cái nào. Quan điểm của họ đa phần là hoài nghi vì thế mà khi giả quyết tiếp mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học họ đã rơi vào thuyết bất khả tri và dần dần triết học của họ chuyển sang duy tâm[cần dẫn nguồn]. đặc biệt là ở Ấn Độ cổ trung đại. đã trình bày những quan điểm biện chứng của mình về tự nhiên. trong nhận thức cần hạn chế phạm vi của lí tính để dành cho đức tin. ông cũng nói. Các học thuyết triết học này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần. Triết học cổ trung đại Ấn Độ quan tâm giải quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng "hướng nội". ở quan điểm này Kant là nhà duy vật. Cuối cùng triết học của Kant đã đi đến thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết)[cần dẫn nguồn]. [sửa]Sự hình thành của thuyết nhị nguyên hiện đại Cùng với những sai lầm và hạn chế trên thuyết nhị nguyên dần bị các nhà nghiên cứu triết học lãng quên.Những nhà triết học nghiên cứu thuyết nhị nguyên từ trước đến này luôn đặt mình vị thế của người đứng giữa 2 bên duy tâm và duy vật và đưa ra đánh giá. [sửa]Hình thành và phát triển Thuyết nhị nguyên được hình thành từ rất sớm ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Immanuel Kant. . Ông cố gắng đứng trên cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm để giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. không phán xét được gì về sự vật như chúng tự tồn tại. Thế giới có thể tác động tới các giác quan của chúng ta. Có nghĩa là ông thừa nhận nhận thức của con người chỉ biết được hiện tượng bề ngoài mà không thâm nhập vào bản chất đích thực của sự vật. là người đã đứng giữa ranh giới của chủ nghĩa duy vật và duy tâm. Nhưng mặt khác ông lại cho rằng thế giới các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại không liên quan gì đến các gọi là "thế giới vật tự nó". từ ít nhiều duy vật đến nhị nguyên hay duy tâm. Có nhiều dạng nhị nguyên. tạo thành hai nguồn gốc của thế giới. là một học thuyết triết học thừa nhận sự tồn tại độc lập của hai thực thể. giữa tư duy và tồn tại song cuối cùng đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm vì ông thừa nhận còn một thực thể thứ ba đó là Thượng đế quyết định đến vật chất và tinh thần[cần dẫn nguồn].

Sự tiến hóa của loài người cùng với sự hình thành của các tôn giáo . các học thuyết đã cho các nhà nghiên cứu nhìn thấy rõ hơn sự hình thành của vật chất và ý thức.cách nghiên cứu mới độc lập hơn những nhà nghiên cứu thuyết nhị nguyên đã có thể đưa ra những nhận định chính xác về vật chất. ý thức thay đổi hay ý thức thay đổi. 2. vật chất thay đổi? . Thành công . ý thức và thế giới quan. Vật chất thay đổi.

Học thuyết triết học. theo nghĩa rộng là quan điểm cho rằng cần có nhiều lực lượng chính trị. nhiều đảng phái trong một quốc gia (chống lại vai trò độc quyền lãnh đạo của một đảng). đảng của giai cấp công nhân không chia sẻ quyền lãnh đạo với các giai cấp khác để bảo đảm thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước. Học thuyết quy thế giới về bản nguyên đa vật chất là ĐNL vật chất. . ĐNL đối lập với nhất nguyên luận. 2. hoặc với tư cách là sự giải quyết chiết trung trong những mâu thuẫn của chủ nghĩa nhất nguyên duy tâm. Tính chất đa nguyên chính trị ở những nước này thể hiện ở chỗ các đảng phái chính trị đều chấp nhận và tham gia vào cuộc đấu tranh bằng mọi cách nhằm thực hiện đường lối chính trị của mình. thế giới được hợp thành bởi nhiều bản nguyên. khi giai cấp tư sản cầm quyền và đảng của nó chưa độc quyền lãnh đạo thì các phe phái chính trị có những cuộc đấu tranh để giành quyền lực. nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và đua tranh với nhau không có thành phần kinh tế chủ đạo. học thuyết quy thế giới thành nhiều loại bản nguyên tinh thần là ĐNL duy tâm. độc lập với nhau trong thế giới. Về mặt lịch sử. chỉ thừa nhận sự tồn tại của nhiều nguyên thể khác biệt. Ở các nước xã hội chủ nghĩa. Đa nguyên chính trị. ĐNL được lấy làm định đề nhiều nguyên tắc khác nhau để cắt nghĩa sự cấu tạo của thế giới hay là một trật tự của các hiện tượng.Thuyết Đa nguyên (triết). Mặt khác. nó xuất hiện với tư cách là sự biến thái của nhị nguyên luận. Ở nhiều nước tư sản. kinh tế). Trái lại. Đảng vẫn mở rộng dân chủ trong nội bộ và trong nhân dân để lắng nghe những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối chung của sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 1. (chính trị. Xt.

thuyết huyền bí. Siêu hình học (tiếng Anh: Metaphysics bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp: μετά (meta) = "sau". Aristotle được xem như là "cha đẻ" của siêu hình học. đã đặt những cuốn sách về triết học đầu tiên ngay sau một tác phẩm khác có tên "Physics" và đã gọi những quyển sách này là τὰ μετὰ τὰ φυσικά βιβλια (ta meta ta physika biblia) hay là "những quyển sách . mà còn về tâm linh. Gần đây hơn. "Một cửa hàng bán sách siêu hình" không chỉ bán sách về bản thể học. Những nhà nghiên cứu siêu hình học cũng cố gắng làm rõ những ý niệm mà con người hiểu được thế giới. thực thể. Nó quan tâm đến các câu hỏi như: Bản chất của sự thậtlà gì? Đâu là vị trí đầu tiên của con người trong vũ trụ? Màu sắc là chủ quan hay khách quan? Liệu thế giới có xuất hiện bên ngoài trí óc của chúng ta hay không? Bản chất của vật thể. Trước khi có sự phát triển của khoa học hiện đại. Tuy nhiên. Đây là một môn học về sự tồn tại hoặc sự thật. Ví dụ.φυσικά (phisiká) = "lý thuyết vật chất.Siêu hình học Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Plato và Aristotle (phải). những thắc mắc khoa học đã được giải quyết bằng Siêu hình học trong nhánh triết học tự nhiên. bao gồm sự tồn tại. Triết học tự nhiên và khoa học vẫn có thể còn được xem như là những chủ đề của siêu hình học. kể từ thế kỉ 19 trở về sau. từ này có nghĩa là "Sau Vật lý"). tùy vào việc có hay không những giải thích qua trải nghiệm của những định nghĩa của thuật ngữ đó. thông suốt qua cả thế kỉ 18 (thuật ngữ "khoa học" chỉ có ý nghĩa là "kiến thức" vào trước thế kỉ 19). [sửa]Lịch sử của siêu hình học Được đề cập đến như là chủ đề của "triết học đầu tiên". thuyết nhân quả. cấu hình. Người biên tập những tài liệu này. Lưu ý. Do đó. thuật ngữ "siêu hình học" đã được dùng để nói đến những "đề tài vượt quá thế giới vật chất". từ đó thay đổi định nghĩa của siêu hình học để chủ yếu có thể bao gồm những đề tài vượt quá thế giới vật chất. Việc làm này đã tiếp diễn mãi cho đến thời Isaac Newton (bản thân ông này cũng là một nhà triết học). nơi chốn là gì? Một nhánh trung tâm của siêu hình học là bản thể học. sự khảo sát về những phạm trù của vật chất ở trên thế giới và những quan hệ của chúng với nhau. sự kiện. không gian. thời gian. và xác suất. triết học tự nhiên trở thành khoa học. và những thứ tương tự như vậy. sức mạnh tinh thể. từ "Vật lý" ở đây ám chỉ những công trình nghiên cứu vật chất của Aristotle trong thời cổ đại[1]) là một nhánh triết học quan tâm đến việc giải thích bản chất của thế giới. sự xoa dịu niềm tin. Roma). Andronicus của Rhodes. thuật ngữ "metaphysics" (siêu hình học trong tiếng Anh) được tin là đã bắt nguồn từ những công trình của Aristotle. hay Vật lý". minh họa bởiRaphael (Stanza della Segnatura.

từ "metaphysics" đến từ ngôn ngữ Latin Trung Cổ metaphysica hoặc dạng số nhiều. Hegel Martin Heidegger Ernest Holmes Immanuel Kant Mahmoud Khatami Jaegwon Kim Saul Kripke Emmanuel Lévinas Gottfried Leibniz   Aristotle David Malet    John Locke Thomas Malthus George Edward            Ayn Rand Nicholas Rescher Bertrand Russell Jean-Paul Sartre Arthur Schopenhauer John Duns Scotus Wilfrid Sellars J. ^ a b Douglas Harper. Smart Baruch Spinoza Paul Tillich Armstrong           Thomas Aquinas Thánh Augustine Avicenna (Ibn Sina) George Berkeley Boethius David Chalmers Patricia Churchland Paul Churchland Donald Davidson Moore         Thomas Nagel Sir Isaac Newton Andrés Ortíz-Osés Alvin Plantinga Plato Plotinus Hilary Putnam Alfred N. O. 2006. và cái mà chúng ta gọi là 1. đôi lúc còn sớm hơn (năm 1387). Tuy nhiên. những nhà bình giải Latin đã hiểu nhầm điều này thành "môn khoa học siêu nhiên. C. 2006. là những bài viết xuất hiện sau những nhận định của ông ta về bản chất. 2. nhiều tự điển cho rằng sự xuất hiện đầu tiên của nó trong tiếng Anh bắt nguồn vào giữa thế kỷ XVI. Vì vậy.[2][3] [sửa]Những nhà siêu hình nổi tiếng             René Descartes Errol Eustace Harris Georg W.đặt sau sách "Physics". F. Truy cập August 29. J.[2] Trong khi cho nguồn gốc Latin và Hy Lạp của từ này khá rõ ràng.". giống trung trong tiếng Hy Lạp Trung Cổmetaphysika.. Quine Gilles Deleuze [sửa]Chú thích và tham khảo ^ Đó là. “Tự điển từ nguyên trực tuyến (Anh ngữ)”.0. Whitehead David Lewis Willard V.1) . 3. Trong Anh ngữ.com đầy đủ (phiên bản 1. Truy cập August 29. vì những công trình về "triết học cơ bản" xuất hiện sau những nghiên cứu vật lý. ^ “Dictionary. những thứ được gọi là vật lý. và đề tài của chúng được gọi là "siêu hình học". những bài viết về cái mà Aristotle gọi là "triết học cơ bản". .Dựa theo tự điển Random House (đầy đủ)”. siêu hình học sau này.

1 Phái duy thực 4. Lênin đã viết rằng:[1] Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng. những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định. Mục lục [ẩn] • • • • o o • • 1 Mối quan hệ 2 Sự tồn tại của Cái chung và cái riêng 3 Ý nghĩa phương pháp luận 4 Các quan điểm phi Mác-xít 4. một khía cạnh. Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung. những thuộc tính không những có ở một kết cấu vật chất nhất định. cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan. mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật. Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẽ. hay một bản chất] của cái riêng. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung Cụ thể là: . giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau. mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật.2 Phái duy danh 5 Tham khảo 6 Xem thêm [sửa]Mối quan hệ Phép biện chứng duy vật của Triết học Marx-Lenin cho rằng cái riêng. Bất cứ cái chung nào cũng là [một bộ phận. hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác. một quá trình nhất định với Cái chung tức phạm trù chỉ những mặt. một hiện tượng. phạm trù cái riêng được dùng để chỉ một sự vật. hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác. Bất cứ cái riêng [nào cũng] là cái chung.Cái chung và cái riêng Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Cái chung và cái riêng là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa Cái riêng tức phạm trù chỉ về một sự vật. còn phạm trù cái chung được dùng để chỉ những mặt. thông qua cái riêng. Trong tác phẩm Bút ký Triết học. một quá trình riêng lẻ nhất định. một hiện tượng.

nhưng về sau do không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần đi và trở thành cái đơn nhất.  Cái riêng là cái toàn bộ. Cái chung chỉ tồn tại và biểu hiện thông qua cái riêng. kết cấu vật chất khác. thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình. không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng. trở thành cái chung. cái chung tồn tại thực sự. một kết cấu vật chất. những mối liên hệ ổn định. Cái đơn nhất là phạm trù để chỉ những nét. cái phổ biến. Trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay. cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ. Không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập. Nói chung việc giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng không hề đơn giản. hiện tượng riêng nào cũng bao hàm cái chung.. cái lỗi thời bị phủ định. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng. không có liên hệ với cái chung. tất nhiên. Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài những đặc điểm chung. cái chung là cái bộ phận. Ngược lại cái cũ lúc đầu là cái chung. những thuộc tính. Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ.. lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại. quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng. ” —Lênin . phong phú hơn cái chung. hiện tượng.  Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. cái phổ biến. cái riêng còn có cái đơn nhất. mà không lặp lại ở sự vật. nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng. Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính.  Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Lênin đã cho rằng: “ Con người bị rối lên chính là ở trong phép biện chứng của cái riêng và cái chung. Về sau theo quy luật. sự vật. Ngược lại sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ. Do vậy cái chung là cái gắn liền với cái bản chất. nhưng sâu sắc hơn cái riêng. những mặt. mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất. chỉ có ở một sự vật.

tức là cái tinh thần đang tư duy thì nhất định nó lại phải. tái sinh ra cái tinh thần ấy ở một nơi nào khác và trong một thời gian khác. “ "Chúng ta cũng tin chắc rằng. rằng không bao giờ một thuộc tính của nó lại có thể mất đi. vậy thì cái chung có tồn tại vĩnh viễn. hiện tượng riêng lẻ. vật chất vẫn cứ vĩnh viễn như thế. mà nó vẫn còn tồn tại ở nhiều cái riêng khác. qua tất cả mọi sự chuyển hóa của nó. và vì thế.  Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng. nếu như một ngày kia nó phải hủy diệt mất đóa hoa rực rỡ nhất của nó trên trái đất. Triết học Mác-Lênin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy. ” —F. cái riêng là cái không lặp lại... cụ thể là:  Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng. từ những sự vật.[sửa]Sự tồn tại của Cái chung và cái riêng Ăngghen người đã phát biểu quan điểm về sự tồn tại của cái chung và cái riêng Triết học Mác-Lênin đặt ra và giải quyết câu hỏi: Cái riêng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian có hạn. Enghen [sửa]Ý nghĩa phương pháp luận Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng. khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi. thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình. vô hạn trong thời gian không?  Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao giờ xuất hiện lại. . xuất phát từ cái riêng. nên chỉ . không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng.

còn cái chung là những tên gọi trống rỗng. Cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cái riêng chỉ có tính chất tạm thời. sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm. đó là phái duy thực và phát duy danh. hoặc ngược lại. trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơn nhất”. cả quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung. nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”. phủ nhận cái chung. sẽ không sao tránh khỏi những vấp váp những vấn đề chung một cách không tự giác.  Trong quá trình phát triển của sự vật. Ví dụ: Con người là một khái niệm chung và chỉ có khái niệm con người mới tồn tại mãi mãi. tuyệt đối hóa cái riêng. thì kẻ đó. theo phái này thì "cái riêng" chỉ tồn tại tạm thời. chỉ có cái riêng tồn tại thực sự. do con người đặt ra. nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng. Những khái niệm cụ thể đôi khi không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con . mù quáng. Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết lý luận). Triết học Mác-Lenin cho rằng. Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm. Cái chung là cái sâu sắc. Lênin viết[2]: Người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết vấn đề chung. chỉ có "cái chung" mới tồn tại vĩnh viễn. mà còn sinh ra "cái riêng". Trong Bút ký Triết học. cái bản chất chi phối cái riêng. không phải là cái tồn tại vĩnh viễn. thật sự độc lập với ý thức của con người. [sửa]Các quan điểm phi Mác-xít Những nhà nghiên cứu triết học Mác-Lenin đề cập đến có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa “cái riêng” và “cái chung”. còn những con người cụ thể là khái niệm tạm thời vì những con người cụ thể (cá nhân) này có thể mất đi (chết đi) [sửa]Phái duy danh Phái duy danh cho rằng. Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng. "Cái chung" không phụ thuộc vào "cái riêng". trên mỗi bước đi. [sửa]Phái duy thực Phái duy thực là trường phái triết học có ý kiến về mối quan hệ giữa "cái chung" và "cái riêng". Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng có nghĩa là đưa ra những chính sách của mình đến chỗ có những sự giao động tồi tệ nhất và mất đi hẵn tính nguyên tắc. không phản ánh cái gì trong hiện thực. cái riêng do cái chung sinh ra. thoáng qua.

năm 1980. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Hà Nội. Nhà xuất bản Trẻ. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. năm 1994 (xuất bản lần thứ ba)  Triết học Mác – Lênin (tập II). Vụ Công tác Chính trị .Sự thật. 437 ^ VI. người dịch: Nguyễn Hà.Lê nin: Toàn tập: tập 23. [sửa]Tham khảo  Giáo trình Triết học Mác . Rius (Eduardo del Rio). Nhà xuất bản Tiến bộ. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia . năm 2006  Một số vấn đề Triết học Mác – Lênin: Lý luận và thực tiễn (tái bản có bổ sung). nắm bắt một "con người" chung chung mà "con người" chỉ có thể được nhận thấy. Mat1xcova. Hà Nội. năm 2003  Triết học Mác – Lênin (tập II). năm 2004 (tái bản có bổ sung. Nhà xuất bản Tiến bộ.Lê nin: Toàn tập: tập 23.Sự thật. Hà Nội. Ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa. chỉ là những từ trống rỗng.Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin. 381 ^ VI. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. năm 2006  Giáo trình Triết học Mác – Lê nin. năm 1994 (xuất bản lần thứ ba)  Triết học Mác – Lênin (tập III). trang . thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia . Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hà Nội. Hà Nội. Hà Nội.Lê nin. Tư tưởng Hồ Chí Minh. Lê Doãn Tá.người. hiệu đính: Bùi Văn Nam Sơn. Hà Nội. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia . nắm bắt qua những con người thực thể cụ thể. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Chủ biên: Lê Thế Lạng. trang 2. sửa chữa) 1. không cần thiết phải bận tâm tìm hiểu. năm 1980. Mat1xcova. năm 2004  Nhập môn Marx.Sự thật. năm 1996  Chính trị. thông qua các cá nhân cụ thể. Ví dụ: Không thể nhận thấy.

những nguyên lý đầu tiên và phổ quát nhất của thực tại. Ví dụ. đang khi những người khác lại cho rằng vũ trụ đến từ hai hoặc nhiều nguồn. Việc nghiên cứu những căn nguyên nói trên thuộc về những khoa học đặc thù. Vì đương nhiên có sự khác biệt giữa một bên là người tin rằng mọi sự – kể cả chính anh ta – phát sinh từ vật chất ù lì và quay về với vật chất – và bên kia là người tin rằng mình được Thiên Chúa tạo dựng. BẢN CHẤT SIÊU HÌNH HỌC Con người luôn ngạc nhiên về nguồn gốc vũ trụ. toán học nghiên cứu những khía cạnh lượng tính của sự vật. tư tưởng hay chuyển động. Một số trường phái coi nền tảng cơ bản của thực tại chính là một yếu tố đặc thù gắn liền với thực tại đó. sinh vật học nghiên cứu thế giới các sinh thể. Qua dòng lịch sử. hay ước muốn của một con người đi tìm hạnh phúc đối với toàn thể hoạt động nhân linh của anh ta. các tế bào hoạt động như những nguyên lý cho cơ thể. b. những căn nguyên tối hậu có ảnh hưởng trên một khung cảnh. hoặc bao trùm tất cả. 2. Một số nhà tư tưởng lại đề cập đến sự hiện diện của một nguồn gốc vũ trụ. nên hiển nhiên Ngài cũng là chủ đề chính yếu của Siêu hình học. trái lại. đi tìm một sự giải thích về vũ trụ – một thứ giải thích gọi được là tối hậu và phổ quát. ví dụ như một nhà lãnh đạo chính trị ảnh hưởng lên toàn thể đất nước của ông. đã khai sinh nhiều trường phái. 1. và như vậy cũng có nghĩa rằng mọi sự trong vũ trụ đều nảy sinh từ yếu tố đó. nơi các sinh thể. Chẳng hạn. Khởi đầu. Trái lại. Siêu hình học cũng nghiên cứu những nguyên lý đầu tiên và phổ quát nhất của thực tại. . KHÁI NIỆM SIÊU HÌNH HỌC Ta có thể định nghĩa Siêu hình học là việc nghiên cứu căn nguyên tối hậu. vốn làm nên vũ trụ mà không phải là thành phần của vũ trụ. tức là những nguyên lý mà về cơ bản tạo nên mọi sự. ví dụ vật chất. chúng ảnh hưởng rất nhiều lên đời sống con người. Bất cứ ai xét một điều gì như nguyên lý nội tại đầu tiên của mọi sự. còn có những yếu tố nội tại nơi chính các hiệu quả. tinh thần. việc nghiên cứu những vấn đề trên tạo nên một bộ tri thức gọi là triết lý. Ngài đưa anh ta từ hư vô sang hiện hữu. nghiên cứu về bản chất và hoạt động của căn nguyên nói trên. Con người làm việc liên tục. Nhưng Siêu hình học đi tìm những nguyên lý đầu tiên và phổ quát nhất. Căn nguyên tối hậu khác biệt với những căn nguyên gần. a. SIÊU HÌNH HỌC NHƯ KHOA HỌC VỀ HỮU THỂ XÉT NHƯ HỮU THỂ Mỗi khoa học đều có đối tượng nghiên cứu riêng vốn là một khía cạnh của thực tại mà nó lưu ý đến. để tránh lẫn lộn với nhiều khoa học đặc thù khác. kiến tạo nên chúng và ảnh hưởng đến cách thức hiện hữu và hoạt động của chúng. khoa học nói trên được gọi là Siêu hình học. Các yếu tố đó thường được gọi là các nguyên lý. và vì Thiên Chúa là căn nguyên tối hậu của mọi sự. Số khác lại thừa nhận sự hiện hữu của một Nguyên Lý siêu việt. minh triết.DẪN NHẬP: I. Sau này. chẳng hạn. Nó cố gắng tìm ra căn nguyên đó. Những vấn đề trên không thuần túy là suy lý. quả tim là cơ quan khiến cho máu lưu thông. việc tăng áp suất không khí là căn nguyên cho việc thay đổi khí hậu. những nguyên tử là các nguyên lý nhất định cho phân tử. người đó đã đề cập đến lãnh vực siêu hình. hoặc khoa học. xác định bản chất và những đặc điểm của các phân tử. Bên cạnh những căn nguyên ảnh hưởng lên những hiệu quả của chúng ở bên ngoài. Khoa Siêu hình học xét đến căn nguyên tối hậu tuyệt đối của vũ trụ.

mà chỉ như một loại hữu thể đặc thù nào đó. thì Siêu hình học dẫn chúng ta đến căn nguyên việc hiện hữu nơi mọi sự vật – tức là Thượng Đế. cần có một khoa học nào khác nghiên cứu toàn bộ thực tại bằng cách chú trọng đến khía cạnh chung nhất của mọi sự: đó là. cũng như những khía cạnh không thuộc về hữu thể xét như hữu thể (chẳng hạn “vật chất” hay bảnchất vật thể). vì mọi sự vật. ngọn lửa hay thứ gì tương tự1.t – Being). giống như một con chim. Đang khi môn vật lý nghiên cứu kết quả của những đặc điểm vật lý nơi vật thể. Vậy công việc của Siêu hình học cũng còn là khám phá những khía cạnh của hữu thể xét nguyên nó là thế (being as such) (ví dụ. L.Ta cần phân biệt đối tượng chất liệu (material object) với đối tượng hình thế (formal object) của một khoa học. đang khi điều sau là khía cạnh của đối tượng chất liệu mà khoa học chú ý đến. mỗi khoa học phải nghiên cứu những đặc tính của đối tượng và tất cả những gì liên quan tới đối tượng bất cứ cách nào. chúng không nghiên cứu hữu thể xét như hữu thể. nhưng đối tượng hình thế của nó là cơ thể con người trong mức độ đó là chủ thể của sức khỏe hoặc bệnh tật. Chẳng hạn khi một nhà thực vật học nghiên cứu và xếp loại các loài. Ta cần giải thích việc đó như sau: i) Hữu thể: đây là một thuật ngữ siêu hình tương đương với điều được gọi là “sự vật” (thing) trong ngôn ngữ thông thường. nó là “thực”. bất cứ khoa học nào cũng đều nghiên cứu một loại các sự vật riêng biệt và những căn nguyên riêng của chúng. ông ta biết rằng “có những cây”. đối tượng hình thế (đối tượng riêng) của nó là “hữu thể xét như hữu thể” (being as being) hoặc “hữu thể xét nguyên nó là thế” (being as such). đối tượng chất liệu của y học là cơ thể con người. nhưng đối tượng hình thế của nó lại giới hạn đối tượng nghiên cứu. vì tri thức không thể hoàn bị trừ phi nắm bắt được những căn nguyên. vốn liên hệ đến những hữu thể đặc thù. xét như Đấng Tạo Hóa. Cũng như y khoa nghiên cứu những căn nguyên về sức khỏe thể lý (ví dụ việc dinh dưỡng. Chẳng hạn đối tượng chất liệu của sinh học là tất cả mọi sinh thể. Một cây là một hữu thể. ví dụ. một viên kim cương đều là hữu thể. Thánh Thomas Aquinas đã nói: “Những khoa học khác. Vì thế. điều trước được coi là “chủ đề” của một khoa học vì nó là tổng số những gì được nghiên cứu. nhưng đang khi từ ngữ “con chim” nói đến một bản chất đặc thù hay một cách thức hiện hữu. đồng thời cũng được các khoa học khác giả thiết – đó là sự hiện hữu của các sự vật. vì khoa học này chỉ diễn tiến việc nghiên cứu từ khởi điểm là sự sống. thì hữu thể lại diễn tả sự kiện là có con chim (Ens. vệ sinh). Đó cũng không phải là sự tổng hợp mọi khoa học đặc thù (như chủ trương của một số triết gia phái thực chứng luận) (positivist philosophers). cũng xét đến hữu thể (vì mọi đối tượng nghiên cứu của các khoa học cũng đều là hữu thể). thì Siêu hình học nghiên cứu những đặc điểm của hữu thể theo mức độ chúng là những hữu thể. mộtngười. không có nghĩa rằng Siêu hình học là tổng số các khoa học đặc thù khác biệt nhau. có thể nói rằng đối tượng chất liệu (đối tượng chung) của Siêu hình học là thực tại trong toàn tính của nó. vì nó nghiên cứu một khía cạnh đặc thù của thực tại phù hợp với Siêu hình học. bất kể bản tính ra sao – đều là hữu thể. Hơn nữa. hay một điều gì đó có việc hiện hữu (hiện thế hiện hữu = act of being). ii) Xét như hữu thể: trong cuốn giải thích sách Siêu hình học của Aristotle. con số hay hàng kẻ. khí hậu. iii) Đặc điểm và căn nguyên của hữu thể: Khi chọn đối tượng nghiên cứu. khái niệm hữu thể hiện đến trước bất cứ khái niệm về một loài thực vật nào. Siêu hình học nghiên cứu hữu thể xét như hữu thể. Tương tự thế. . Khía cạnh chung đó được giả thiết bởi bất cứ loại tri giác đặc thù nào. Tuy nhiên. tuy nhiên. Nói rằng đối tượng chất liệu của Siêu hình học bao gồm tất cả thực tại. chẳng hạn như khối lượng hoặc năng lượng của chúng. Siêu hình học là một khoa học riêng biệt. “chân lý”). Do đó Siêu hình học phải nghiên cứu căn nguyên của mọi hữu thể trong mức độ chúng là hữu thể: điều này là một trong những phạm vi chính của Siêu hình học khi nghiên cứu đối tượng riêng của mình. Mặt khác. mọi sự đều “hiện hữu”. Hữu thể ám chỉ “thứ gì có”. biết rằng chúng là “những hữu thể”. những đặc điểm và căn nguyên của hữu thể Các khoa học đặc thù có đối tượng nghiên cứu là một số khía cạnh chuyên biệt của thực tại.

Aristotle gọi đó là Đệ nhất Triết học. thủ đắc nhờ ánh sáng lý trí tự nhiên. “thuyết duy sử” (historicism) lại coi đó là tiến bộ của lịch sử. Tuy nhiên. vì nó được xếp sau cuốn sách của Aristotle về vật lý. tùy theo những khía cạnh mà người ta muốn nhấn mạnh. “thuyết duy tâm” (idealism) coi đó là tư tưởng con người. Tuy nhiên.3).Một khi đã tiến bộ trong việc hiểu biết những vấn đề siêu hình khác nhau. Danh xưng bên ngôn ngữ Tây phương “Metaphysics” (mà cứ chữ có nghĩa là “vượt quá Vật lý (Physics)” đã được Andronicus người xứ Rhodes ghép vào để nói đến những tác phẩm của Aristotle về “Đệ nhất Triết học”. Một vài trường phái tư tưởng triết học đã chọn những khía cạnh khác của thực tại như đối tượng của Siêu hình học. Ông nói: “hữu thể thì hiện hữu và vô thể thì không hiện hữu. các triết gia về sau lại chú ý đến những khía cạnh triết lý khác. và nó cũng khiến cho Siêu hình học khác biệt với những ngành tri thức khác mà Aristotle gọi là Đệ nhị Triết học. vì nó vượt qua khung cảnh thực tại vật chất được nghiên cứu trong khoa vật lý. trước khi là một điều gì. Hơn thế nữa. điều họ làm là giới hạn hữu thể vào một đối tượng đặc thù và hạn chế nào đó. 3. Vì Siêu hình học là khoa học đi tìm yếu tố căn bản nhất của thực tại. khi Aristotle vào cuộc. Tuy không hoàn toàn coi thường học thuyết của Parmenides. Danh xưng này diễn tả xác đáng địa vị trung tâm của Siêu hình học trong triết học. Đây là điều kiện sơ yếu mà mọi vật đều phải lệ thuộc vào. thì trước hết phải hiện hữu đã. đó là cách thức thuyết phục (vì nó đi theo Chân Lý)” (Fr. Danh xưng đó đã diễn tả đúng mức bản chất của khoa học này. Họ có một tri thức nào đó về bản chất con người. SIÊU HÌNH HỌC VÀ TRI THỨC NHÂN LOẠI Siêu hình học và tri thức tự phát Mọi người đều có một tri thức tổng quát về thực tại. mọi người còn . cho đến khi Parmenides lần đầu tiên nói đến hữu thể như khía cạnh nền tảng của thực tại. Kant chủ trương các điều kiện của tri thức khoa học như đối tượng triết học của ông (“criticism”). “chân lý”. nên nhất thiết nó phải nhắm đến việc hiện hữu như đối tượng nghiên cứu nền tảng của mình. Christian Wolff gọi môn học này là Ontology (Hữu thể luận). Tuy nhiên. Việc hiện hữu là đặc điểm nền tảng nhất của mọi sự vật. Nó là đệ nhất bởi vì có tính ưu tiên đương nhiên trong triết học xét như toàn khối. Các triết gia duy lý ưa dùng thuật ngữ “Hữu thể luận” thay vì “Siêu hình học”. vì nó nghiên cứu những căn nguyên và nguyên lý đầu tiên của thực tại. II. Họ biết mình muốn nói gì khi đề cập đến “hữu thể”. khoa học về hữu thể được hiểu như một tri thức phổ quát có mục tiêu là khám phá những yếu tố sơ yếu (primary elements) của thực tại. một thuật ngữ phát nguyên từ tiếng Hy lạp có nghĩa là “việc nghiên cứu về hữu thể”. khí hoặc nước…). và trong tương quan với những khoa học khác. “Hữu thể luận” cũng diễn tả cùng một đối tượng của Siêu hình học. tất cả những triết gia này không bao giờ tránh khỏi được việc nghiên cứu về hữu thể. chúng ta sẽ càng thấy rõ là những đặc điểm cơ bản nhất của thế giới thực tế lệ thuộc vào chân lý nền tảng này là mọi vật đều hiện hữu: rằng chúng là những hữu thể. Sang thế kỷ XVII. Những danh hiệu gán cho khoa Siêu hình học Siêu hình học được gán nhiều danh xưng. “thuyết duy sinh” (vitalism) coi sự sống là đối tượng. yếu tố này luôn được đồng hóa với một yếu tố vật chất nào đó (như lửa. “thuyết hiện sinh” (existentialism) lại coi đó là cuộc hiện sinh của con người. Nguồn gốc lịch sử của khoa học về hữu thể Kể từ thời các triết gia đầu tiên. hay “thiện hảo”. V. Chẳng hạn. Dẫu sao. Siêu hình học là “đệ nhất” không phải vì nó có sớm về mặt biên niên. vì mọi hoàn bị hay đặc tính của chúng. và về khác biệt giữa những thực tại “bản thể” và “phụ thể”. thì hữu thể đã ưu tiên trở thành đối tượng của khoa Siêu hình học.

dù không hiển nhiên được chúng khám phá. về vai trò của mình trong vũ trụ. vì con người tự nhiên có khuynh hướng tìm hiểu về vũ trụ. và vì đối tượng nghiên cứu của nó bao trùm lên toàn thể thực tại. Trong nỗ lực tìm hiểu thấu đáo đối tượng nghiên cứu của mình. De Broglie. do đó rơi vào thái độ hoài nghi trước chân lý. cũng liên quan tới những đề tài được nghiên cứu bởi Siêu hình học. Điều này không có gì phải ngạc nhiên. và một số khái niệm nền tảng khác về thực tại cũng được phản ảnh cách nào đó trong khu vực nghiên cứu chuyên biệt của một khoa học đặc thù. hướng dẫn tri thức nhân loại đến mục tiêu siêu nhiên của con người. Do đó ta không ngạc nhiên khi thấy một số nhà vật lý đương đại. thuyết vô tri. Như vậy có thể thấy rằng Siêu hình học giữ một vai trò dẫn dắt so với các khoa học đặc thù khác. Rốt cuộc. những đặc điểm của hữu thể. Đấng gìn giữ và hướng dẫn vạn sự đi đến cùng đích. vì khôn ngoan (wisdom) có vai trò riêng là điều khiển tri thức và hoạt động của con người nhờ vào những nguyên lý đầu tiên và mục đích tối hậu của con người. bởi nhiều lý do: vì tri thức tự phát thì thường không hoàn bị và thiếu chính xác. cần ghi nhận rằng những xác tín luân lý của mỗi con người đều có ảnh hưởng quyết định đến tri thức của người đó về các vấn đề Siêu hình học. họ bị dẫn đến thuyết vô tri liên quan đến tri thức mà người ta có về Thượng Đế. còn có một thứ tri thức thuộc lãnh vực siêu nhiên. và thuyết duy tâm: những thuyết trên đều là những cơ cấu lý thuyết xây dựng trên một số thái độ cơ bản sai lạc đối với cuộc sống con người. thì họ cũng mất luôn những xác tín trí thức nền tảng. Chúng ta gọi loại tri thức này là tri thức tự phát. với tất cả những hàm ý của nguyên lý đó. Vai trò này được gọi đúng đắn là minh triết (sapiential). Tri thức này phát sinh từ Mặc Khải của Thiên Chúa. Planck. Những nguyên lý đó được các khoa học đặc thù tiếp nhận và. 4. . vì nó hoàn bị hóa mọi tri thức của nhân loại. các nhà khoa học thực nghiệm thường quay về với các vấn đề triết học. Chính vì thế mà những nguyên lý siêu hình. sau cùng. Ngoài ra. đều tùy thuộc vào Siêu hình học. vì có lẽ nó không đủ chắc chắn và sáng tỏ trong một số khía cạnh. SIÊU HÌNH HỌC LIÊN QUAN THẾ NÀO ĐẾN ĐỨC TIN VÀ THẦN HỌC Vượt ra ngoài và bên trên tri thức tự phát cũng như tri thức khoa học. Einstein. chẳng hạn thuyết Mác xít. Vai trò dẫn dắt của Siêu hình học đối với các khoa học khác Vì Siêu hình học bàn đến những vấn đề hết sức nền tảng của tri thức nhân loại. Đây chính là lý do tiềm ẩn đằng sau một số hệ thống triết học đối nghịch triệt để với chân lý. Vì là một khoa học. và bị dẫn đến thuyết tương đối liên quan đến những đòi hỏi của luật luân lý. nên đương nhiên các khoa học đặc thù. Đây là loại tri thức cao siêu. một cách nào đó. Đối tượng nghiên cứu của mỗi khoa học đặc thù là một loại hữu thể đặc thù. Toan tính của những khoa học đặc thù muốn đạt sự độc lập tuyệt đối khỏi bất cứ tri thức siêu hình nào (đây là hậu quả của thuyết thực chứng) sẽ không bao giờ đạt được hoàn toàn.có thể nhận biết Thượng Đế là Đệ nhất Căn nguyên của vũ trụ. Siêu hình học phần nào chịu ảnh hưởng bởi đời sống luân lý của các triết gia trong cuộc. con người tự tôn mình như trung tâm của toàn thể vũ trụ. một khi những cá nhân mất đi sự chín chắn về mặt luân lý. vẫn được các khoa học đó sử dụng khi cần thiết. Bohr. vì nó là đỉnh điểm của tri thức nhân loại trong lãnh vực tự nhiên. họ đã sử dụng đến nguyên lý nhân quả. vì nó chịu ảnh hưởng bởi các ý thức hệ ưu thắng trong một số khung cảnh văn hóa. Ví dụ. khi các nhà vật lý tiến hành thí nghiệm về năng lực của vật thể trong hoạt động lý hóa của chúng. và Schrodinger. hoặc được nhiều người chấp nhận. cũng đã viết những thiên khảo luận về các đề tài Siêu hình học. nguồn gốc vũ trụ vv… Do đó. Chẳng hạn. như Heisenberg. Ảnh hưởng này càng rõ ràng trong những điểm chính mà các vấn đề kỹ thuật chuyên môn hơn tùy thuộc vào. Kinh nghiệm cho thấy rằng. điều này không xóa bỏ nhu cầu về một khoa Siêu hình học được khai triển thành một khoa học. Tuy nhiên. ta cũng dễ hiểu tại sao loại tri thức này được gọi là Siêu hình học tự phát hoặc Siêu hình học tự nhiên của trí tuệ con người2.

nhưng đúng hơn là vì nó đã được khai triển dưới sự khởi hứng và dẫn dắt của đức tin Kitô giáo3. và nhận được sự bồi dưỡng trí thức nhờ các chân lý đó. khi nói rằng Đức Giêsu Kitô là “người thật”. tri thức của ta về khái niệm bản tính và ngôi vị là điều kiện cần thiết. nhưng còn trong lối hiểu triết học về những chân lý tự nhiên đã được mặc khải. đau khổ của con người. Bên cạnh việc bày tỏ những mầu nhiệm siêu nhiên cho con người. bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại). đối với việc nghiên cứu Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm Nhập Thể. và sự thiện hảo của thế giới. Những tìm tòi của trí tuệ liên quan đến cái xấu. a) Tri thức thuộc lãnh vực siêu nhiên giả thiết tri thức thuộc lãnh vực tự nhiên. đặc biệt là ý chí và những đam mê. thật khó mà có được một tri thức đúng mức về những chân lý được Thiên Chúa mặc khải. đòi ta phải biết rằng linh hồn con người là thiêng liêng. (Nơi Thiên Chúa. b) Một khi coi nhẹ tri thức siêu hình. Sự khai triển này về sau được gọi là Triết học Kitô giáo: gọi là “Kitô giáo” không phải nhờ vào nội dung nội tại của nó cũng như cách thức chứng minh hợp lý vốn nằm ẩn trong phạm vi tự nhiên. sự hiện hữu và bản chất của một Thiên Chúa chân thật. Sự kiện các chân lý tự nhiên mà Siêu hình học nghiên cứu. đã có tiến bộ không chỉ trong Thần học Kitô giáo. và về chính Thiên Chúa – những chân lý kiến tạo nên đối tượng nghiên cứu của Siêu hình học. Đức Giêsu Kitô là một Ngôi Vị – Ngôi Vị Thiên Chúa trong hai bản tính. Sau cùng. và phải có một tri thức đúng mức về bản chất điều thiện hảo và cái xấu. về con người. Một tri thức chỉ được coi là có tính khoa học khi nội dung của nó được . Hơn nữa. đã có được những câu trả lời đầy đủ và triệt để nhờ đức tin Kitô giáo. còn hơn cả những triết gia Hy lạp. thì nó lại trở thành một công cụ có giá trị để có thể hiểu tốt hơn nữa những mầu nhiệm siêu nhiên kiến tạo nên nội dung của khoa Thần học. vẫn được Thiên Chúa mặc khải. độc nhất vô nhị trong lịch sử tư tưởng loài người. Lý do là vì ân sủng không thay thế tự nhiên. ta cần phải biết đến những năng lực của con người. Thần học sẽ không đạt đến tầm mức một khoa học. luật luân lý và mục đích vĩnh cửu của con người. Với sự trợ giúp của Mặc Khải. Nếu hiểu tội lỗi về mặt thần học. Trong Kitô học. đã được mặc khải. mặc khải của Thiên Chúa cũng còn cho con người nhận biết được những chân lý chủ lực tối hậu về vũ trụ. vì Thiên Chúa mặc khải các chân lý đó cốt để cho con người khám phá chúng sâu xa hơn nữa nhờ trí tuệ con người. Vì thế. Đấng là cùng đích của con người. Siêu hình học có được cú nhảy vọt ngoại thường. không hề khiến cho Siêu hình học là dư thừa trong tư cách một khoa học.Đức tin hỗ trợ Triết học Một số chân lý siêu hình. Triết học phục vụ Đức tin Như Lý trí phục vụ Đức tin. cho dù có thể được con người nhận biết cách tự nhiên. ý nghĩa cuộc sống. tự yếu tính là tự do và hướng về Thiên Chúa. Chẳng hạn chính việc nghiên cứu ân sủng và những nhân đức phú bẩm. Trái lại. nhưng nâng cao tự nhiên. Một khi Siêu hình học đã được hoàn bị hóa nhờ sự hướng dẫn bởi Đức tin. và thậm chí cả danh xưng riêng biệt của Thiên Chúa như Đấng Hằng Hữu (God as the Subsisting Act of Being: “I am who am”). thì Siêu hình học cũng được dùng như một công cụ khoa học của Thần học. Vì mắc tội nguyên tổ. và rơi vào sai lầm cũng như hàm hồ. có ba ngôi vị Thiên Chúa với một bản tính Thiên Chúa. Thiên Chúa quan phòng. tính thiêng liêng và bất tử của linh hồn con người. tự do. thì cũng đòi ta phải hiểu cho đúng thế nào là bản chất con người. Nhờ những công trình của các Giáo phụ và Tiến sĩ Giáo hội. Thiên Chúa đã mặc khải cho con người những chân lý như : tạo dựng mọi sự từ hư vô (ex nihilo). con người thật khó mà biết được những chân lý trên là hết sức cần thiết cho đời sống luân lý – với một sự chắc chắn tuyệt đối. không chút sai lầm. sự chết. nếu như trước đó không có một tri thức tự nhiên sâu sắc. Các Kitô hữu thời đầu thường ngạc nhiên trước sự kiện này là ngay một đứa trẻ học hỏi về những chân lý đức tin cách sơ sài cũng có được những câu trả lời sâu sắc và xác đáng trước những vấn đề lớn thách đố tâm trí con người. điều đó càng thôi thúc Siêu hình học nhận biết sâu sắc hơn các chân lý đó.

Do đó. chúng tôi ước mong rằng mọi giáo sư triết học và thần học nên cảnh giác rằng nếu không đi theo bước đường của thánh Thomas. căn cơ và chính xác. không thể nào bỏ qua những gì có được nhờ nỗ lực trên. “ngôi hiệp” (hypostatic union). chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng những kinh Tin Kính sử dụng rất nhiều thuật ngữ chính xác. Thánh Giáo hoàng Piô X. Do đó. những thuật ngữ như “biến đổi bản thể” (transubstantiation). chính là Siêu hình học. . ắt sẽ gây ra những thiệt hại nặng nề”. mà trong trường hợp này.diễn tả một cách có trật tự. Siêu hình học là cần thiết để hiểu được những lối diễn tả tín điều được huấn quyền Giáo hội đề nghị. nhất là trong những vấn đề siêu hình. mà lại không gặp nguy cơ rơi vào cũng những sai lầm trước đó. Sau cùng. vì chúng diễn tả rõ ràng ý nghĩa xác thực của Đức tin. Vì phải sử dụng đến tri thức tự nhiên về thực tại. Hơn nữa. nhờ đó mà có thể tránh được những sai lầm về mặt Đức tin. và “chất liệu và hình thế của bí tích” (matter and form of the sacraments). thì không thể được thay thế dễ dàng. thì nhất thiết dẫn đến hậu quả là những ai nghiên cứu các thánh khoa sẽ khó nắm bắt được ý nghĩa những ngôn từ đã được huấn quyền Giáo hội sử dụng để diễn tả những tín điều đã được Thiên Chúa mặc khải. Siêu hình học đem lại một sự chính xác cần thiết để hiểu được ý nghĩa những thuật ngữ đến từ tri thức tự phát. điều đó tạo nên một toàn khối gắn bó. Ví dụ. Ngoài ra. trong thông điệp Doctoris Angelici (ngày 29 tháng 6 năm 1914) đã nói: “Nếu những nguyên lý đó (khoa Siêu hình học của thánh Thomas Aquinas) mà bị loại bỏ hay bị méo mó. những lối giải thích sai lầm về tín điều trong dòng lịch sử đã buộc Thần học phải đi tìm sự chính xác về thuật ngữ và khái niệm từ quan điểm Siêu hình học. nên Thần học trở nên một khoa học một khi tri thức đó tiên vàn được phong phú hóa bởi một khoa học dụng cụ. những thuật ngữ đó chỉ có thể hiểu được tốt hơn nhờ sự trợ giúp của tri thức Siêu hình học xét như dụng cu4ï.

Hơn nữa. mà còn bởi những nhà thám hiểm. con người và đồ vật ở trên đó sẽ có xu hướng rơi hay bay vào vũ trụ. Một câu trả lời cho những vấn đề đó đòi hỏi con người phải có hiểu biết sâu hơn về vật lý. Tuy nhiên. ở hình thức thích hợp với những quan sát thực tế thời đó. một vật thể rơi xuống từ trên tháp sẽ chạm đất ở đằng tây xa phía sau tháp bởi vì tháp đã quay đi cùng Trái Đất. như Hicetas vàHeraclides Ponticus (Copernicus tất nhiên cũng biết điều này). có lẽ Copernicus đã lấy ý tưởng từ trong các công trình của nhà thiên văn học người Ấn Độ là Aryabhata cho về thuyết nhật tâm của mình. nhưng không cho xuất bản tới tận khi ông sắp qua đời. Không chỉ vì những văn bảntiếng Ả Rập ngày càng được dịch nhiều sang tiếng Latin sau thế kỷ 11 (nhờ ngày càng có nhiều sự tiếp xúc với thế giới Ả Rập/Hồi giáo do những chiến binhthập tự chinh mang lại). Copernicus đã bắt đầu viết nó năm 1506 và hoàn thành năm 1530. thuyết nhật tâm có một vấn đề lớn và dễ nhận thấy: theo trực giác thông thường. Và tất nhiên các học giả biết rõ về những cuộc tranh luận của Aristarchus và Philolaus. Vấn đề này cũng đã được giải quyết trong hệ thống địa tâm củaTycho. hay không được biết tới ở Châu Âu là sai lầm. Trong khi phát triển các lý thuyết của mình về chuyển động hành tinh. Dù ông có danh tiếng tốt với nhà thờ và đã đề tặng cuốn sách cho Giáo hoàng Paul III. Mu'ayyad al-Din al-'Urdi và ibn alShatir để giải quyết các vấn đề quan trọng trong hệ thống Ptolemy. lý thuyết nhật tâm được Nicolaus Copernicus làm sống lại. nếu Trái Đất quay quanh trục và chuyển động quanh Mặt Trời. giống như khi ta vượt qua một chiếc xe thì ta có cảm giác chiếc xe đó đang chuyển động lùi về phía chân trời. ở thế kỷ 16. trong khi tìm cách bỏ đi các ngoại luân ông vẫn giữ lại và coi chuyển động tiến lùi của các hành tinh là chuyển động thực tế. chứ không phải chuyển động thực tế: đó là một hiệu ứng thị sai. tuy nhiên. cuốn sách được in ra vẫn có phần lời nói đầu không ký tên của Osiander cho rằng hệ thống này chỉ đơn giản là một cách thức toán học và không có ý định phủ định cho thực tế. chuyển động này được Kepler cho rằng có đặc điểm giống một "hình xoắn". Dù có những vấn đề như vậy. đối với đa số các học giả ở giai đoạn này. Có lẽ vì phần lời nói đầu này. và các nhà khoa học/thiên văn học Hồi giáo Nasir al-Din Tusi. Nicolaus Copernicus đã xuất bản cuốn De Revolutionibus mang ý nghĩa quyết định về hệ thống của ông năm 1543. các thương gia xuất hiện nhiều hơn ở Châu Âu (có điều kiện thuận lợi hơn nhờ Pax Mongolica) khiến phương Tây biết được về truyền thống ủng hộ thuyết nhật tâm ở Ấn Độ với chi tiết như được trình bày ở trên. Lý thuyết này đã giải quyết các vấn đề về chuyển động lùi của hành tinh bằng cách lập luận rằng chuyển động đó chỉ là cái quan sát thấy bên ngoài và là chuyển động biểu kiến. một số nhà tư tưởng Châu Âu cũng đã tranh luận về thuyết nhật tâm từ thời Trung Cổ: ví dụ Nicolas Oresme và Nicholas of Cusa. . cũng như việc nhiều nhà tư tưởng cổ đại khác đã đề xuất (hay được cho là đã đề xuất) mô hình nhật tâm hay các quan điểm gần thuyết nhật tâm. tác phẩm của Copernicus gây ra ít cuộc tranh luận về việc nó có phải là một cuốn sách dị giáo hay không trong 60 năm sau đó.Thuyết nhật tâm Cần lưu ý quan niệm thông thường ở phương Tây cho rằng trước Copernicus khái niệm hệ nhật tâm chưa bao giờ xuất hiện. và các ví dụ tương tự.