You are on page 1of 8

Vai trò của các nguyên tố vi lượng Các nguyên tố vi lượng bao gồm: Đồng (Cu), Kẽm (Zn), Bo (B), Mangan (Mn), Molipden

(Mo), Sắt (Fe), Clo (Cl). - Vai trò của Đồng (Cu): Đồng cần thiết cho sự hình thành Diệp lục và làm xúc tác cho một số phản ứng khác trong cây, nhưng thường không tham gia vào thành phần của chúng. Những cây hòa thảo thiếu Đồng có thể không trổ hoa hoặc không hình thành được hạt. Nhiều loại cây rau biểu hiện thiếu Đồng với lá thiếu sức trương, rủ xuống và có mầu xanh, chuyển sang quầng mầu da trời tối trước khi trở nên bạc lá, biến cong và cây không ra hoa được. - Vai trò của Bo (B): Hiện tượng thiếu Bo là rất phổ biến trên thế giới. Rất nhiều loại cây ăn quả, cây rau, và các hoa màu khác có biểu hiện thiếu Bo. Cây cọ dầu đặc biệt mẫn cảm với hiện tượng thiếu Bo. Các loại đậu lấy hạt có yêu cầu cao về Bo. Bo cần thiết cho sự nẩy mầm của hạt phấn, sự tăng trưởng của ống phấn, cần thiết cho sự hình thành của thành tế bào và hạt giống. Bo cũng hình thành nên các phức chất đường/borat có liên quan tới sự vận chuyển đường và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành protein. Thiếu Bo thường làm cây sinh trưởng còi cọc, và trước hết làm đình trệ đỉnh sinh trưởng và các lá non. - Vai trò của Sắt (Fe): Sắt là chất xúc tác để hình thành nên Diệp Lục và hoạt động như là một chất mang Oxy. Nó cũng giúp hình thành nên một số hệ thống men hô hấp. Thiếu Sắt gây ra hiện tượng mầu xanh lá cây nhợt nhạt (bạc lá) với sự phân biệt rõ ràng giữa những gân lá mầu xanh và khoảng giữa mầu vàng. Vì Sắt không được vận chuyển giữa các bộ phận trong cây nên biểu hiện thiếu trước tiên xuất hiện ở các lá non gần đỉnh sinh trưởng của cây. Thiếu sắt nặng có thể chuyển toàn bộ cây thành màu vàng tới trắng lợt. Sự thiếu sắt có thể xảy ra do sự thiếu cân bằng với các kim loại khác như Molipden, Đồng hay Mangan. Một số yếu tố khác cũng có thể gây thiếu sắt như quá thừa Lân trong đất; do pH cao kết hợp với giầu Canxi, đất lạnh và hàm lượng Carbonat cao; thiếu sắt do di truyền của cây; thiếu do hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp. - Vai trò của Mangan (Mn): Mangan là thành phần của các hệ thống men (enzyme) trong cây. Nó hoạt hóa một số phản ứng trao đổi chất quan trọng trong cây và có vai trò trực tiếp trong quang hợp, bằng cách hỗ trợ sự tổng hợp Diệp lục. Mangan tăng cường sự chín và sự nẩy mầm của hạt khi nó làm tăng sự hữu dụng của Lân và Canxi. Cũng như sắt, Mangan không được tái sử dụng trong cây nên hiện tượng thiếu sẽ bắt đầu từ những lá non, với mầu vàng giữa những gân lá, và đôi khi xuất hiện nhiều đốm nâu đen. Ơû những cây hòa thảo xuất hiện những vùng mầu xám ở gần cuống lá non. Hiện tượng thiếu Mangan thường xảy ra ở những chân đất giầu hữu cơ, hay trên những đất trung tính hoặc hơi kiềm và có hàm lượng Mangan thấp. Mặc dù hiện tượng thiếu Mangan thường đi với đất có pH cao, nhưng nó cũng có thể gây ra bởi sự mất cân bằng với các dinh dưỡng khác như Canxi, Magie và Sắt. Hiện tượng thiếu thường xảy ra rõ nét khi điều kiện thời tiết lạnh, trên chân đất giầu hữu cơ, úng nước. Triệu chứng sẽ mất đi khi thời tiết ấm trở lại và đất khô ráo. - Vai trò của Molipden (Mo): Molipden cần cho sự tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat. Loại men này khử Nitrat thành Ammonium trong cây. Molipden có vai trò sống còn trong việc tổng hợp đạm cộng sinh bởi vi khuẩn Rhizobia trong nốt sần cây

Đất nhẹ thường dễ bị thiếu Mo hơn so với đất nặng. mangan. Lá bắp có thể phát triển những dải vàng rộng (bạc lá) trên một mặt hoặc cả 2 mặt sát đường gân trung tâm. đặc biệt đối với cây Cọ dầu và cây Dừa.Vai trò của Kẽm (Zn): Kẽm được coi như là một trong các nguyên tố vi lượng đầu tiên cần thiết cho cây trồng.com. Clo tham gia vào các phản ứng năng lượng trong cây. Nó cần thiết cho việc sản xuất ra chất Diệp lục và các Hydratcarbon. . Một số triệu chứng khác như lá lúa mầu đồng. vì vi sinh vật đất phải có Molipden để cố định Nitơ từ không khí. Tuy nó chỉ được sử dụng với liều lượng rất nhỏ nhưng để có năng suất cao không thể không có nó. rời. do đó kiểm soát được sự bốc thoát hơi nước v. Nó thường là một nguyên tố hạn chế năng suất cây trồng.v.Vai trò của Clo (Cl): Clo là nguyên tố vi lượng sống còn cho cây trồng. Phèn xanh là những tinh thể màu xanh. Phèn xanh cũng có thể dùng để xử lý hạt giống với dung dịch có nồng độ 0. điều đó ngược lại với đa số vi lượng khác.phanbonmiennam. điều hòa hoạt động của những tế bào bảo vệ khí khổng. Nó cũng tham gia vào quá trình vận chuyển một số cation như Canxi. Phèn xanh (CuS04.05%. thúc đẩy quá trình hình thành vitamin A trong cây. Phèn xanh được sủ dụng để bón vào đất với lượng 10 – 25kg/ha. Sự thiếu hụt Kẽm đã được thừa nhận ở hầu hết đất trồng lúa của các nước trên thế giới. Sự thiếu hụt Clo xảy ra phổ biến đối với dừa ở Philippin và nam Sumatra của Indonesia.02 – 0. Hiện tượng thiếu Molipden có biểu hiện chung như vàng lá và đình trệ sinh tưởng. .9% Cu. Kẽm cũng không được vận chuyển sử dụng lại trong cây nên biểu hiện thiếu thường xảy ra ở những lá non và bộ phân khác của cây. chuyển hoá chất dinh dưỡng. cỏ alfalfa. loại vitamin rất cần cho sự phát triển bình thường của hạt. Trong phèn xanh có 25. Sự thiếu hụt Molipden có thể gây ra triệu chứng thiếu Đạm trong các cây họ đậu như đậu tương. Sự thiếu Kẽm ở cây bắp gọi là bệnh "đọt trắng" vì rằng lá non chuyển sang trắng hoặc vàng sáng. dễ hoà tan trong nước. tơi. Magie.7H20) có thể sử dụng làm phân bón có đồng. Lê Xuân Đính http://www.vn/?param=res&sub=&lang=vie&stt=1&id=16 ******************************** Phân đồng (Cu): Đồng tham gia vào thành phần cấu tạo enzim thúc đẩy chức năng hô hấp. Molipden trở nên hữu dụng nhiều khi pH tăng. Kali ở trong cây. Kẽm hỗ trợ cho sự tổng hợp các chất sinh trưởng và các hệ thống men và cần thiết cho sự tăng cường một số phản ứng trao đổi chất trong cây. Bo. Molipden cũng cần thiết cho việc chuyển hóa Lân từ dạng vô cơ sang hữu cơ trong cây.01 – 0.. Cụ thể là nó tham gia vào sự bẻ gẫy phân tử nước với sự hiện hữu của ánh sáng mặt trời và hoạt hóa một số hệ thống men.họ đậu. Chính vì điều này nên hiện tượng thiếu thường xảy ra ở đất chua.02% hoặc phun lên cây với nồng độ 0. bệnh "lá nhỏ" ở cây ăn trái hay đình trệ sinh trưởng ở cây bắp và cây đậu. TS. . Đồng làm tăng hiệu lực của kẽm.

Bo tăng cường việc hút Ca của cây. chịu hạn và chống lại sự xâm nhập của sâu bệnh hại. dùng để phun lên lá. đảm bảo cân đối tỷ lệ K:Ca trong cây. sunphat araôn sắt. phun lên lá với nồng độ 0. Bón bo cho cây vào thời kỳ chuẩn bị ra hoa sẽ làm tăng tỷ lệ đậu hoa. để bổ sung sắt cho đất thường người ta tăng cường bón phân chuồng. cácbonat sắt. Thiếu sắt nặng làm cho cây chết.8% Zn.03 – 0. nhiều lân cũng thường xảy ra trường hợp thiếu kẽm. Trong nông nghiệp. phân thường ở trong trạng thái tơi rời.05%.10H20) có hàm lượng B trong phân là 11. chứa 1.Phân sắt (Fe): Có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp của cây.1%. Phân được sử dụng để bón vào đất hoặc phun lên lá. làm tăng tính chịu nóng. dễ sử dụng để bón cho cây.3%. phân xanh. Cây trồng có những dấu hiệu thiếu sắt. Phân bo (B): Đây là chất đảm bảo cho hoạt động bình thường của mô phân sinh ngọn cây. Đất kiềm.4% B và 19% Mg. bón cho những nơi có hàm lượng B dễ tiêu dưới 0. Bo thúc đẩy quá trình tổng hợp các prôtit. đất trung tính cũng thường hay thiếu kẽm. Người ta sử dụng loại phân này để phun lên lá với nồng độ 0. thúc đẩy việc sử dụng và chuyển hóa đạm trong cây.05%. lignin. các axit nucleic. Cây thiếu sắt không có khả năng tổng hợp được chất diệp lục. xử lý hạt giống. Phân chứa 22. Trong quá trình chăm sóc. Phân axit boiric (H2Bo3) chứa 17. Sunphat kẽm (ZnSO4. nếu bón quá nhiều vôi. Triệu chứng đầu tiên của tình trạng thiếu sắt là lá chuyển sang màu vàng. đậu tương. Kẽm làm tăng khả năng tổng hợp prôtit. dễ tan trong nước.2mg/100g đất. lá bị hủy hoại. . Phân borat magiê.7H20): Phân có dạng tinh thể màu trắng. có dạng tinh thể màu trắng. Phân vi lượng này được sử dụng đề xử lý hạt giống với nồng độ 0. các loại rau… Phân kẽm (Zn): Đây là chất tham gia vào việc thúc đẩy quá trình hình thành các hoocmôn trong cây. quít. Những loại cây có yêu cầu về sắt nhiều như cam. Cây thiếu kẽm giảm năng suất rõ rệt. thúc đẩy quá trình phân chia tế bào.5% B.02-0. nhưng gân lá vẫn giữ màu xanh. các tinh thể phân tan trong nước. nho. xử lý hạt giống. lạc. Nó còn tham gia vào việc chuyển hoá các hydrat cacbon. người ta thường dùng một số hợp chất có chứa sắt như sunphat sắt. lignin sunfonat sắt để phun lên cây nồng độ 1 – 3%. Phân Borat natri (Na2B407. quả.

lá nhỏ. 2H20) chứa 39% Mo. bón vào đất. ************ Vai trò sinh học Vai trò quan trọng nhất của các nguyên tử molypden trong các sinh vật sống là các nguyên tử dị-kim loại trong khu vực hoạt hóa của một số enzym nhất định. Molipdat natri (NaMoO4. ngưòi ta thường bón phân vi lượng này lên trên các đồng cỏ. Molipdat Amôn (NH4)2. giúp cho gia súc tiêu hoá thức ăn. trên nhiều loại đất khác nhau. Mangan có tác dụng tăng hiệu lực phân lân. phun lên lá với nồng độ 0. Tháng Ba năm 2008. Hai loại phân vi lượng này có dạng tinh thể dùng để bón cho nhiều loại cây trồng khác nhau. Co rất thích hợp với các loài cây có nhiều vitamin B12. phun lên lá. dùng để xử lý hạt giống. các nhà nghiên cứu đã thông báo rằng họ tìm thấy chứng cứ mạnh cho giả thiết rằng sự khan hiếm molypden trong lòng đại dương của Trái Đất thời kỳ đầu đã là yếu tố hạn chế sự tiến hóa tiếp theo của sinh vật nhân chuẩn (bao gồm toàn bộ động và thực vật) do các sinh vật nhân chuẩn không thể cố định nitơ và phải thu nhận nó từ các vi khuẩn nhân sơ.4H2O) chứa 54% Mo. Người ta thường sử dụng phân vi lượng này để xử lý hạt giống. cây ra hoa kết quả nhiều.6% mangan. có màu nhạt. Co làm tăng khả năng hút lân của cây. Mo làm tăng hiệu quả của việc bón vôi và phân lân. Bởi vậy. Trong cố định nitơ ở một số loài vi khuẩn. hạt chắc mẩy.Mo7O3. thúc đẩy quá trình hô hấp trong cây. Trường hợp đất chua. Mo rất cần cho vi sinh vật cố định đạm cộng sinh ở rễ cây và giúp cho sự phát triển nhiều nốt sần ở rễ cây họ đậu. Phân sunphat mangan (MnSO4.Nhìn chung cây bị thiếu B khả năng sinh trưởng kém. cây đâm chồi lách nhiều. Nó còn làm tăng chất lượng thức ăn gia súc. enzym nitrogenaza tham gia vào bước cuối cùng để khử phân tử nitơ thường chứa molypden trong khu vực hoạt hóa (mặc dù thay thế Mo bằng sắt hay vanadi cũng có). Mo làm tăng hiệu lực của phân lân.10%.06 – 0. rễ phát triển kém… Phân côban (Co): Loại phân vi lượng này rất cần cho quá trình cố định đạm không khí của vi sinh vật.5H20) chứa 24.[16][17] Sự khan hiếm molypden tạo ra do sự . Đây là loại phân vi lượng ít tan trong nước. Mo giúp cây hấp thụ được nhiều N và giúp cho quá trình cố định đạm. Phân mangan (Mn): Tham gia vào việc thúc đẩy cây nảy mầm sớm. xúc tiến quá trình oxy hoá các hyđrat cacbon tạo thành CO2 và H2O và tăng hoạt tính của men trong quá trình tổng hợp chất diệp lục. Nên bón phân vào giai đoạn cây đang ra hoa. làm cho hệ rễ khoẻ. làm tăng số lượng hồng cầu trong máu gia súc. Phân molipđen (Mo): Đây là loại phân vi lượng có vai trò quan trọng trong việc làm tăng khả năng quang hợp của cây và tổng hợp vitamin C trong cây.

cừu và bê chứa khoảng 1. được xúc tác bằng xanthin oxidaza. nồng độ cực cao của molypden lại đảo ngược xu hướng này và có thể tác động như là tác nhân ức chế cả dị hóa purin lẫn các quy trình khác. bằng sự ngăn chặn các protein của huyết tương trong việc liên kết đồng cũng như gia tăng lượng đồng bị bài tiết theo đường nước tiểu. một enzym chứa molypden. cho nên có tác dụng giải độc cho cây.[4] Ở một số động vật. Trong tế bào. như là một phần của sự điều chỉnh các chu trình nitơ.05 mg/ngày. Ca hoạt hoá các enzim làm trung hoà các axit hữu cơ trong cây. như các cacbohyđrat vàaxít amin. giảm chua cho đất. canxi ở dưới dạng pectat – canxi. giải độc. Canxi đảm bảo sự bền vững của cấu trúc thể nhiễm sắc.[4] Thiếu hụt molypden.[4] có thể gây ra còi cọc.[10] ***** * Phân canxi (Ca): Trong cây. hạt hướng dương. bao gồm anđehyt oxidaza.[10] Molypden cũng tồn tại trong men răng của người và có thể hỗ trợ việc ngăn ngừa sâu răng. sulfit oxidaza.3 mg molypden. Nồng độ molypden cũng ảnh hưởng tới tổng hợp protein. Ở người nặng 70 kg có khoảng 9. Ca giúp cho màng tế bào vững chắc. Ca đảm bảo cho quá trình phân chia tế bào được diễn ra bình thường. trao đổi chất. một quá trình dị hóa purin.[4] Nhu cầu hấp thụ trung bình mỗi ngày đối với molypden là khoảng 0.[22] Tình trạng này có thể trầm trọng thêm nếu dư thừa cả lưu huỳnh.[10] [sửa]Đối kháng đồng-molypden Một lượng lớn molypden có thể gây cản trở sự hấp thụ đồng của cơ thể. giảm ngon miệng và giảm khả năng sinh sản. Tuy nhiên. xanthin oxidaza. Ôxy hòa tan trong nước biển là cơ chế chính để hòa tan molypden từ các chất khoáng dưới đáy biển. . chiếm 0. Các động vật nhai lại nếu tiêu thụ lượng lớn molypden sẽ phát sinh các triệu chứng như tiêu chảy. Vonfram trong thức ăn làm giảm nồng độ molypden trong các mô của cơ thể. còi cọc. gây ra do hấp thụ dưới 0. còn cung cấp lượng canxi cần thiết cho cây. Các triệu chứng này có thể giảm đi bằng cách chỉ định thêm đồng vào khẩu phần ăn cũng như bằng cách tiêm.00001% trọng lượng cơ thể. bột mì. trứng.5 phần triệu molypden.[18] Molypden có mặt trong khoảng 20 enzym ở động vật. Phân lân NPK Văn Điển chứa 13 – 14% CaO.[20]Gan lợn. đậu lăng và một vài loại lương thực khác. Hoạt động của xanthin oxidaza tỷ lệ thuận với khối lượng molypden trong cơ thể.thiếu hụt tương đối của ôxy trong đại dương thời kỳ đầu. nhưng nó được vận chuyển trong cơ thể người dưới dạng MoO42-. Các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy bón vôi có tác động tốt trong việc cải tạo đất. Hấp thụ trên 0.[19] Nó có nồng độ cao hơn ở gan và thận còn nồng độ thấp hơn ở xương sống. lưu huỳnh và cacbon.3 mg.[18]Các enzym này ở thực vật và động vật xúc tác phản ứng của ôxy trong các phân tử nhỏ. Các loại phân chứa lượng canxi lớn là: Phân lân nung chảy Văn Điển chứa 28 – 32% Ca. Ca là thành phần của tế bào. Mặc dù molypden tạo ra một số hợp chất với một số phân tử hữu cơ. sự ôxi hóa xanthin thành axít uric.[21] Tungstat natri là tác nhân kìm hãm và ức chế molypden.4 mg có thể gây ngộ độc. và sự phát triển. Các nguồn dinh dưỡng khác chứa đáng kể molypden là đậu xanh. bệnh thiếu máu và mất sắc tố ở lông. Ngoài ra.

lignin. molipđen (Mo). thường hay bị thiếu các nguyên tố vi lượng. Chúng góp phần nâng cao chất lượng nông sản. dễ sử dụng để bón cho cây. trong xác các động vật.v. Phân borat magiê chứa 19% Mg. dùng để nhúng rễ. nhưng vai trò của chúng đối với cây cần thiết không kém gì phân đa lượng. Phân vi lượng: Tuy cây cần các nguyên tố vi lượng với lượng rất ít. Bo xúc tiến quá trình tổng hợp các prôtit. thạch cao chứa một lượng canxi lớn.10H2O): . trong phụ phẩm nông nghiệp. tổng hợp các axit nucleic. nhúng hom trước khi trồng. không hút nước.Phân supe lân chứa 22 – 23% CaO. Phân sunphat kali – magiê chứa 5 – 7% Mg. . Cây thiếu nguyên tố vi lượng không những phát triển mất cân đối mà còn có thể có ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ của người và gia súc khi sử dụng nông sản hoặc cây đó làm thức ăn. Axit boric bón thích hợp cho cây họ đậu.5% Bo. vì lượng bón chỉ cần rất ít. * Phân Magiê (Mg): Cây cần Mg để tiến hành quang hợp vì Mg là thành phần của các chất diệp lục. rời. Phân vi lượng có thể sử dụng để bón vào đất.2 ng/100 g đất. Các loại phân đa lượng có chứa hàm lượng Mg cao là: Phân lân Văn Điển chứa 17 – 20% Mg.Phân borat natri (Na2B4O7. Phân có dạng tinh thể màu trắng. Bo đẩy mạnh việc hút Ca của cây. bón phân vi lượng thường mang lại hiệu quả kinh tế cao. bón cho những nơi đất có hàm lượng Bo dễ tiêu dưới 0. phân vi lượng dùng thừa dễ gây độc hại cho cây..05%. Bo xúc tiến việc chuyển hoá các hydrat cacbon. Vôi. Tuy nhiên. vì vậy sử dụng phân vi lượng để bón rất tốt. Bón Bo vào thời kỳ cây sắp ra hoa làm tăng tỷ lệ đậu hoa. Chúng cũng thường có trong tàn dư cây. tăng cường hút Ca cho cây và đảm bảo cân đối tỷ lệ K:Ca trong cây. ngậm hạt giống. Mg thúc đẩy quá trình chuyển hoá và hấp thụ đường của cây. thường ở trong trạng thái tơi. kẽm (Zn). phun lên lá cây. Các nguyên tố vi lượng có vai trò rất lớn đối với sinh trưởng và phát triển của cây. Bo (B). trộn với các loại phân khác để bón. có thể tan hết trong nước. Cần chú ý là những ruộng sử dụng ít phân hữu cơ để bón.0. thúc đẩy quá trình phân chia tế bào. quả. đồng (Cu). Phân axit boric được sử dụng để phun lên lá với nồng độ 0. Đối với cây. . v. Mg kết gắn các khâu trong quá trình chuyển hoá hidrat cácbon. Phân còn được dùng để xử lý hạt giống. có 6 nguyên tố vi lượng được xem là thiết yếu: sắt (Fe). đay. * Phân Bo: Bo đảm bảo cho hoạt động bình thường của mô phân sinh ngọn cây. Các nguyên tố vi lượng thường có sẵn trong các loại phân đa lượng.Phân axit boric (H2Bo3): Phân này có chứa 17. trong phân chuồng.03% . phân trộn ủ… Ngoài ra trong một số trường hợp người ta cũng sản xuất phân vi lượng để bón cho cây. Thiếu Mg cây có gân lá bị vàng úa. Cây bị thiếu một trong các nguyên tố vi lượng sẽ không phát triển được và sinh trưởng cũng trở nên không bình thường. mangan (Mn).

5 – 1.Phân sunphat mangan (MnSO4. Phèn xanh được sử dụng để bón vào đất với lượng 10 – 25 kg/ha. đất đồng lầy. * Phân đồng: Nguyên tố đồng (Cu) tham gia vào thành phần cấu tạo của enzim thúc đẩy chức năng hô hấp. hoặc phun lên lá với lượng 200 mg/ha hoạt chất (0.02% hoặc phun lên cây với nồng độ 0. ngũ cốc. Ở nước ta có một số loại đất thường thiếu đồng là: đất bạc màu. phun lên lá. Phân được sử dụng để xử lý hạt giống. xúc tiến quá trình oxy hoá các hydrat cacbon tạo thành CO2 và H2O. thân cây thường bị nứt nẻ.4% Bo và 19% Mg. Mo rất cần cho tổng hợp vitamin C trong cây.Hàm lượng Bo trong phân là 11. Phèn xanh bón cho cây trồng trên đất có hàm lượng đồng dễ tiêu dưới 1 mg/kg đất.3%. lá nhỏ. bón vào đất.02 – 0.1 – 0. loại vitamin rất cần cho sự phát triển bình thường của hạt. clorua mangan (MnCl2.5H2O) Phân có chứa 24. tơi. Mo giúp cây hấp thụ được nhiều N và giúp cho quá trình cố định N. . xử lý hạt giống. làm cho rễ to khoẻ. Cu thúc đẩy quá trình hình thành vitamin A trong cây.9% Cu. Mn thúc đẩy quá trình hô hấp trong cây. Các loại cây ngũ cốc nếu thiếu đồng thì hạt khó hình thành. Lượng phân bón vào đất thay đổi tuỳ theo hàm lượng Mn trong đất. Pecmanganat kali thường được dùng để phun lên lá với nồng độ 0. Phân được dùng để bón vào đất với lượng 0. mangan. kích thích cây hút nhiều lân. có tác dụng làm tăng năng suất khoai tây. Borat natri còn được dùng để trộn với phân đa lượng với mục đích sản xuất ra phân hỗn hợp có chứa Bo. cây ra hoa kết quả nhiều.1%.05%. có màu nhạt.6% mangan. hướng dương. . Mn có tác dụng làm tăng hiệu lực phân lân. Phèn xanh cũng có thể dùng để xử lý hạt giống với dung dịch có nồng độ 0. chuyển hoá của cây.3 kg/ha).5 – 0. rễ phát triển kém.01 – 0. rời. * Phân Molipđen: Molipđen (Mo) có vai trò tích cực trong việc làm tăng khả năng quang hợp của cây. Phèn xanh là những tinh thể màu xanh.7H2O) có thể sử dụng làm phân bón có đồng. Sunphat mangan ít tan trong nước. củ cải đường. lúa trổ bông đều. Mo rất cần cho vi sinh vật cố định đạm cộng sinh ở rễ cây và giúp cho sự phát triển nhiều nốt sần ở rễ cây họ đậu. cây đâm chồi nách nhiều. Trong phèn xanh có 25. Ngoài sunphat mangan. Mn làm tăng hoạt tính của men trong quá trình tổng hợp chất diệp lục. Đồng làm tăng hiệu lực của kẽm.5 kg/ha. tỷ lệ hạt lép rất cao. Thường được bón 5 – 20 kg/ha.4H2O) và pecmanganat kali (KMnO4) cũng được sử dụng như các loại phân có mangan. Bo. Phân này được dùng để phun lên lá. Ở các loại đất có hàm lượng Mn dưới 1 mg/100 g đất cần được bón mangan. Mo có tác dụng làm tăng hiệu quả sử dụng lân của cây và phát huy tác dụng tích cực . Cây bị thiếu Bo sinh trưởng kém. * Phân mangan: Mangan (Mn) thúc đẩy cây nảy mầm sớm. ít hút nước nhưng hoà tan trong nước. Bón mangan tốt nhất vào giai đoạn cây đang ra hoa.Borat magiê: Phân này chứa 1. Phèn xanh (CuSO4.

Đất giàu chất hữu cơ thường ít khi thiếu sắt. quýt. Phân có thể sử dụng để xử lý hạt giống. người ta dùng một số hợp chất có sắt như sunphat sắt. Các loại phân này có dạng tinh thể màu trắng. * Phân sắt: Sắt (Fe) có vai trò quan trọng trong quang hợp của cây. Thiếu sắt cây không tổng hợp được chất diệp lục. Phân kẽm phát huy tác dụng tốt khi bón cho các loại cây: táo. phun lên lá với nồng độ 0. Zn thúc đẩy việc sử dụng và chuyển hoá đạm trong cây.Sunphat kẽm (ZnSO4. Dùng để phun lên lá với nồng độ 0. cam. Mo làm tăng hiệu quả của việc bón vôi và lân.05%. Phân có chứa 22. Co làm tăng chất lượng thức ăn gia súc. Trong trường hợp cây có biểu hiện thiếu sắt.10%. nhiều lân cũng rất dễ bị thiếu kẽm. Để bổ sung sắt cho đất thường người ta tăng cường bón phân chuồng. nho. Khi dùng để bón vào đất. Phân này có thể dùng cho nhiều loại cây trồng khác nhau: bông. đất trung tính thường hay thiếu kẽm. lignin sunphonat sắt để phun lên cây ở nồng độ 1 – 3%. làm tăng đặc tính chống chịu bệnh của cây. lúc cây ra nụ và nở hoa.Molipdat amôn (NH4)2Mo7O2. Co làm tăng khả năng hút lân của cây. cây họ đậu. thúc đẩy tăng trọng đại gia súc lấy thịt. lạc.06 – 0. cần đảm bảo lượng phân dưới 0. giúp cho gia súc tiêu hoá thức ăn. * Phân coban (Co): Coban rất cần cho quá trình cố định đạm không khí của vi sinh vật. nhưng gân lá vẫn giữ màu xanh.2H2O) chứa 39% Mo.15 mg/kg đất. sunphat amôn sắt. Các loại đất kiềm. Đồng cỏ được bón coban đầy đủ làm tăng sản lượng sữa bò.8% Zn. mặc dù cây không có biểu hiện ra triệu chứng bên ngoài. Ở các chân đất được bón quá nhiều vôi. Ngoài sunphat kẽm. Thiếu sắt nặng làm cho cây chết.02 – 0. Các tinh thể phân tan trong nước. * Phân kẽm: Kẽm (Zn) thúc đẩy quá trình hình thành các hoocmôn trong cây.Molipdat natri (NaMoO4. lê. đậu tương. . Phân được dùng để xử lý hạt giống với nồng độ 0. Các loại cây không cần nhiều sắt là: cam. người ta còn dùng clorua kẽm (ZnCl2) để bón cho cây. Đất kiềm thương hay thiếu sắt hơn đất chua. . phân xanh. . Phân coban được sử dụng để phun lên cây vào thời kỳ phát triển mạnh nhất của bộ lá. các axit nucleic. cácbon sắt. . bón vào đất với lượng 3 – 5 kg/ha. chanh. Sunphat kẽm được dùng để xử lý hạt giống hoặc phun lên lá.của các loại phân lân. lá bị huỷ hoại.1%.4H2O chứa 54% Mo. Cây bị thiếu kẽm có thể bị giảm 50% năng suất. năng suất bị giảm. rau… Trong trường hợp đất chua. rau. Kẽm làm tăng khả năng tổng hợp prôtit. Co thích hợp với các loài cây có nhiều vitamin B12.7H2O). làm tăng số lượng hồng cầu trong máu gia súc. Phân có khả năng tan hết trong nước. Triệu chứng đầu tiên của tình trạng thiếu sắt là lá chuyển sang màu vàng. Phân có dạng tinh thể màu trắng. chịu hạn của cây. Có thể sử dụng phân này để bón vào đất khi đất có hàm lượng Zn dễ tiêu dưới 1 mg/kg. Zn làm tăng tính chịu nóng.