ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BỘ MÔN LAO VÀ BỆNH PHỔI

--------------------

LAO HẠCH

Nhóm thuyết trình: Huỳnh Ngọc Phước Leak Sophearak Nguyễn Bình Thành* Nguyễn Bích Thuỷ Trương Nhật Vi

2

Seminar lao hạch – Bộ môn Lao và Bệnh Phổi – Tổ 15 Mục tiêu:
1. Định nghĩa lao hạch 2. Dịch tễ học của lao hạch 3. Đặc điểm giải phẫu bệnh và sinh bệnh học của lao hạch 4. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 5. Chẩn đoán lao hạch 6. Điều trị và diễn tiến

Hình trên là một buổi chữa bệnh lao hạch cổ (scrofula) của vua Henry IV (Pháp), chỉ có hoàng thân và quý tộc mới được đặc ân này. Phương pháp này rất phổ biến ở các hoàng gia Anh và Pháp. Tất nhiên là chúng ta biết hiệu quả của những buổi “chữa bệnh” ở trên. Vua Henry thường “chữa bệnh” cho trên 1500 người trong mỗi buổi như thế này. Giả sử chúng ta không biết gì về cuộc đời của vua Henry, vậy thì: Liệu Henry IV có chết vì bệnh lao hay không?

Seminar lao hạch – Bộ môn Lao và Bệnh Phổi – Tổ 15

3

I.

Định nghĩa lao hạch
Lao hạch là bệnh lao ở hạch lympho do vi trùng lao tấn công tạo phản ứng viêm đặc hiệu, sau đó hình thành nang lao trên giải phẫu bệnh.

II.

Dịch tễ học:
Lao hạch là thể lao ngoài phổi thường gặp nhất (chiếm 25% các trường hợp lao ngoài phổi). Bệnh đặc biệt phổ biến ở những bệnh nhân HIV. Trẻ em và phụ nữ được xem là đặc biệt nhạy cảm. Vi trí hạch theo armanet, nghiên cứu trên 1000 trường hợp:
 Cổ: 89% Bên phải: 39% Bên trái: 40% Hai bên: 10%  Nách: 3%  Bẹn: 2,6%  Nhiều chỗ: 5,4%

III.

Giải phẫu bệnh:

Hạch lympho là những tổ chức nhỏ hình tròn hoặc bầu dục chứa các lympho bào trong một thân lưới. Các hạch lympho thường tập trung thành từng đám, phân bố thành các vùng nhất định. Hạch lympho chứa các tế bào dạng lympho, phân bố chủ yếu thành 2 vùng:

4

Seminar lao hạch – Bộ môn Lao và Bệnh Phổi – Tổ 15 Vùng vỏ nông: có các tế bào lympho nằm sát nhau và tạo ra các hang dạng lympho, các nang lympho bao gồm chủ yếu là các lympho bào B. Vùng vỏ sâu: có các đĩa lympho. Đó là nơi tạm trú của các lympho trên đường di chuyển từ máu vào hệ lympho. Vùng này bao gồm chủ yếu là các lympho T và rất ít lympho bào B. Khi có một kháng nguyên di chuyển theo dòng máu, nó sẽ bị bẫy hạch tăng sinh các lympho bào tại chỗ và sẽ tạo ra các phản ứng miễn dịch. Hạch lympho chính là một trong những nơi diễn ra đáp ứng miễn dịch chống lại một kháng nguyên nhất định xâm nhập cơ thể. Nang lao là phản ứng đề kháng của hệ lympho đặc biệt để chống lại các loại Mycobacterium. Các nang lao này ngoài cùng là vùng lympho rồi tới các tế bào dạng biểu bì (épithéloides) xếp dạng củ hành bao quanh một vùng trung tâm có tế bào khổng lồ Langhans. Vùng trung tâm này có tế bào khi đã bã đậu hóa và chứa vi trùng lao. Các nang lao thường khu trú ở vùng vỏ hạch. Ngoài nang lao, nếu hạch bị bội nhiễm bởi các vi trùng khác ta còn thấy nhiều tế bào viêm đủ loại như: Histocytes, Plasmocytes, Neutrophiles.

IV.

Sinh bệnh học:
Vi trùng lao Cơ thể TT tại chỗ (U hạt)

Hạch vùng Tự khỏi Hạch khác Lao hạch Hạch viêm phù nề chèn ép
Hiện tượng hoại tử bã đậu ăn mòn vỡ hạch Hiện tượng tạo lỗ dò và lành sẹo

Seminar lao hạch – Bộ môn Lao và Bệnh Phổi – Tổ 15 Cũng giống như các hạch viêm thường, hạch lao do viêm phát sinh từ một cửa vào tức là một tổn thương trong vùng đảm trách của mạng lưới mạch bạch huyết. Hay nói cách khác, lao của hạch lympho thường là bệnh đi kèm với bệnh lao của bộ phận khác. Chẳng hạn: Lao của hạch trung thất trong lao phổi. Lao của hạch mạc treo ruột trong lao ruột. Lao của hạch cổ trong lao amidan. Tổn thương này có thể rõ hoặc không. Do đó, khi khám thấy có hạch cũng nên tìm tổn thương đầu mối (khám tai mũi họng, răng, vết thương ở tay).

5

V.

Triệu chứng
 Lâm sàng: Dưới 20% lao hạch có hội chứng nhiễm lao chung. 90% lao hạch nông được tìm thấy ở đầu và cổ, thứ tự thường gặp là: cổ trước, cổ sau, hạch thượng đòn, hạch dưới hàm, hạch nách, hạch bẹn và những nơi khác. Thường hạch không đau và phát triển lớn chậm. Lao hạch hai bên thường xảy ra ở trẻ con. Triệu chứng lâm sàng tùy thuộc vị trí và kích thước của hạch, có thể không có triệu chứng lâm sàng trong thời gian dài, chỉ khi hạch phì đại mới gây sự chú ý cho bệnh nhân. 5 giai đoạn tiến triển của hạch: Giai đoạn 1: hạch lớn, chắc, di động, những hạch nhỏ có phản ứng phì đại không đặc trưng. Giai đoạn 2: hạch chắc, đàn hồi, dính, viêm. Giai đoạn 3: hóa mềm ở trung tâm hạch dò, sự hoại tử thành lập. Giai đoạn 4: hạch tạo áp xe ở trung tâm. Giai đoạn 5: hạch lan rộng, tạo đường dò từ trung tâm hạch. Ở bệnh nhân HIV, triệu chứng toàn thân thường không rõ và có thể có bệnh viêm phổi đi kèm

6

Seminar lao hạch – Bộ môn Lao và Bệnh Phổi – Tổ 15  Cận lâm sàng IDR dương tính mạnh, nhất là trong lao hạch đơn thuần. VS tăng CTM có thể bình thường hoặc hơi tăng nhẹ, chủ yếu là lympho bào. FNA: làm tế bào học và cấy. Kết quả tế bào học xác định u hạt, khoảng 80% trường hợp lao hạch do MT, AFB dương tính chỉ 30%, cấy dương tính chỉ 20%. Sinh thiết hạch: nang lao thường đủ để chẩn đoán xác định lao hạch.

VI.

Chẩn đoán:
 Chẩn đoán xác định dựa vào: 1. Dịch tễ học lao 2. IDR dương tính mạnh 3. Hình thái hạch 4. AFB trong mủ lấy từ hạch 5. Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) 6. Sinh thiết AFB được tìm thấy trong hơn 50% các trường hợp, nuôi cấy dương tính chiếm 70% đến 80% và những xét nghiệm mô học cho thấy những tổn thương dạng hạt. Trên bệnh nhân HIV, u hạt thường không có.  Chẩn đoán phân biệt 1. Các u, lỗ dò khác, nhất là ở vùng cổ. 2. Viêm hạch mủ 3. U hạch 4. Hạch viêm do virus

Seminar lao hạch – Bộ môn Lao và Bệnh Phổi – Tổ 15

7

VII.

Điều trị và diễn tiến
 Điều trị Nội khoa: Nguyên tắc: phối hợp thuốc, đủ liều, liên tục, đủ thời gian. Theo phác đồ chống lao Người lớn: 2RHZ/6HE Trẻ em: 2RHZ/4RH Ngoại khoa  Diễn tiến Không điều trị Nổi hạch mãn tính Hạch lao ngày càng lớn ra từ từ Xuất hiện thêm các hạch phì đại khác, hoặc tổn thương lao ở các cơ quan khác. Thường nhất là hạch mềm đỏ xì mủ, lỗ dò có thể lành nhưng để lại sẹo xấu Đáp ứng điều trị tốt Hạch tan đi không để lại dấu vết Có thể còn để lại vài hạch di chứng không còn nang lao Đáp ứng điều trị không tốt Hạch lớn thêm, xuất hiện hạch lao mới, sang thương lao ở các cơ quan khác, hạch xì mủ hình thành lỗ dò lâu lành, bội nhiễm vi trùng khác… Các bất lợi trên xuất hiện trong vòng 6 tháng sau khi ngưng điều trị lao.

VIII.

Câu hỏi khởi đầu

Đại thể của lao hạch cổ (scrofula)

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful